100 TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM HAY NHẤT (phần II) - Thái Đắc Xuân tuyển chọn và giới thiệu

Leave a Comment
(Thái Đắc Xuân là một trong các bút danh của Chủ bút Trang Đặng Xuân Xuyến
Sách do Công ty Văn Hóa Bảo Thắng liên kết xuất bản)
100 TRUYỆN CỔ TÍCH
VIỆT NAM HAY NHẤT
Công ty Văn Hóa Bảo Thắng giới thiệu
* *
56. CHÀNG KIM NÀNG GIAO
Ngày ấy, có đôi trai gái yêu nhau tha thiết lắm. Người con trai tên là Kim, người con gái tên là Giao. Cả hai gia đình đều rất nghèo túng. Quanh năm làm thuê, làm mướn. Hai bên bố mẹ Kim và Giao rất ưng thuận làm thông gia với nhau. Kim và Giao đã từng thề thốt kết bạn trăm năm. Nếu không lấy được nhau thì họ sẽ ở vậy chứ nhất định không lấy một ai khác ở trên thế gian này. Mối tình của họ trong như suối, sáng như trăng rằm.
Bỗng nhiên đất nước có nạn ngoại xâm. Lũ giặc tràn từ phương Bắc sang, chiếm đóng khắp nơi, quân dân vô cùng cơ cực. Bọn giặc ngoại xâm và bọn quan lại địa phương câu kết với nhau thoả sức vơ vét cướp phá. Khắp nơi nhân dân đã nổi lên chống lại. Tất cả trai tráng đều ra nhập nghĩa quân. Kim cũng xin vào đội ngũ những người yêu nước. Anh đánh giặc rất dũng cảm. Trước ngày cưới mấy hôm thì anh bị sa vào tay kẻ thù. Chúng đày anh lên một vùng rừng núi hoang vu mạn ngược (cứ như bây giờ vùng ấy thuộc rừng Cúc Phương, huyện Hoàng Long) và giao cho một quan lang cai quản.
Kim bị quan lang giam cầm tra tấn rất thậm tệ. Hàng ngày chúng bắt anh vào rừng đốn gỗ phá núi, lấy đá về xây nhà cho quan lang. Từ ngày xa người yêu, chàng đau khô vô cùng, không lúc nào không nhớ về quê nhà. Sau một thời gian lâm bệnh, người con trai ấy qua đời. Bạn tù và dân địa phương đã chôn cất anh ngay giữa rừng, bên một dòng suối.
Lại nói về chuyện cô gái. Sau khi người yêu bị giặc bắt và đày lên rừng, cô rất buồn và thương nhớ người yêu. Vì cô còn trẻ đẹp nên lý trưởng trong làng đã nhiều lần đến gạ gẫm làm vợ lẽ hắn. Nhưng cô gái nhất quyết cự tuyệt. Vì thương nhớ người yêu nên nàng đã bỏ làng ra đi đến rừng tìm anh. Nói đến việc nàng đi tìm người yêu ai nghe cũng cảm động.
Thân gái một mình, đường sá xa xôi, núi rừng hiểm trở. Có nhiều đêm nàng phải ngủ trên cây để tránh thú dữ. Bấy giờ dọc đường rất lắm trộm cướp, nàng phải đóng giả người ăn mày để chúng khỏi để ý. Đi bộ ngày này qua ngày khác, thế rồi nàng cũng tìm được đến nơi chúng giam người yêu. Khi đến nơi, người yêu không còn nữa. Tin sét đánh làm nàng như đứt từng khúc ruột. Nàng ôm lấy mộ người yêu, nước mắt như mưa. Sau đó nàng hoá điên và chết ngay ở bên suối. Nhân dân địa phương đem chôn nàng ở bên cạnh người con trai. Hai nấm mộ nằm sóng đôi giữa khu rừng vắng.
Sau đó, giữa hai nấm mộ mọc lên một cái cây rất thẳng. Thứ cây rất lạ, chưa ai thấy bao giờ. Lá cây phía trên có màu xanh thẫm rất bóng, phía dưới màu trắng bạc. Cây toả mùi hương thơm ngan ngát như mùi trầm. Đêm đêm từ cây ấy vọng ra một thứ tiếng trầm trầm như người hát, ai oán rất buồn.
Quan lang thấy vậy tưởng cây có ma, hắn rất hoảng sợ liền đem dao ra chặt đi, nhựa cây bắn vào mắt hắn, tự nhiên hai mắt hắn bị mù tịt. Còn vợ con trong nhà thì sinh ốm đau thập tử nhất sinh.Cái cây sau khi bị quan lang chặt, lại bật chồi lên, chẳng bao lâu cây lại xanh tốt như cũ. Từ ấy trở đi không ai dám chặt cây nữa.
Nhân dân trong vùng rất yêu quý giống cây ấy. Nhiều người bị cảm bứt một nắm đem bỏ vào nấu nước xông sẽ khỏi, nhưng điều kỳ lạ nhất của giống cây này là gỗ của nó đem vót làm đũa ăn cơm, khi nhúng vào thức ăn có thuốc độc, đũa sẽ sủi ngay lên một thứ bọt đen báo cho người ta biết. Vì thứ gỗ quý ấy đã cứu được bao nhiêu người khỏi chết oan.
Nhân dân gọi tên giống cây lạ ấy là cây Kim Giao.

57. CÁI ANG VÀNG
Ngày xưa, có một cặp vợ chồng nghèo đến nỗi vợ chồng, con cái phải nằm chung nhau một manh chiếu. Đồ dùng trong nhà từ cái bát, cái xanh, cái ang đựng nước cũng sứt mẻ, nhưng họ ăn ở với nhau rất thuận hoà. 
Một hôm bỗng nhiên từ bốn phía mây đen kéo tới. Rồi một cơn mưa ầm ầm đổ xuống. Đường làng lầy lội, nước tràn lênh láng khắp nơi. Sau trận mưa ghê gớm ấy, có một cụ già lưng còng, tay chống gậy trúc và cứ đi được vài bước lại ngã lăn xuống đất ho khù khụ, đờm nhỏ thành bãi. Ai nhìn thấy cũng phải bịt mũi rồi quay mặt đi. Cụ đi qua người nào, họ cũng phải bịt mũi vì mùi hôi thối khó chịu từ mình cụ xông ra. 
Ông cụ đi suốt từ đầu làng đến cuối làng để xin ngủ nhờ mà chẳng nhà nào dám nhận. Họ sợ bẩn và bệnh tật của cụ lây sang nhà họ. Nhưng tệ hơn là mấy nhà lang đã không cho cụ ngủ, còn xua chó ra đuổi theo và cắn ông cụ. Cụ già đi mãi, đến cái nhà chật hẹp cuối làng, cụ không còn biết vào nhà ai nữa đành vào đó, thúc thúc cái gậy vào phên cho cả nhà thức rồi van nài xin ngủ. Trời tạnh rồi, nhưng cơn mưa trước đã làm cụ ướt hết quần áo. Chân tay cụ run cầm cập, miệng nói không ra tiếng. 
Nghe tiếng đập cửa, chị vợ ra mở cửa, một mùi hôi thối xông lên, chị nhắm mắt lại quay vào gọi: Anh à! Có người xin ngủ nhờ! Anh chồng chui khỏi ổ lá khô, chạy ra mở cửa rồi dắt tay ông cụ vào nhà, anh bảo: Đi đốt củi cho cụ sưởi rồi dọn chỗ cho cụ nằm. Ngồi bếp vừa ấm tay chân, thì chị vợ đã dọn xong chỗ nằm cho cụ và cả gia đình. Manh chiếu rách độc nhất nhường cho cụ, còn gia đình thì trải lá ra quanh bếp để ngủ.  Cả nhà vừa chợp mắt thì ông cụ lại thều thào gọi: Tôi già, sức yếu lại bị hen nên thường phải khạc luôn. Nhà có cái gì đựng được cho tôi mượn với, không lại khạc bẩn ra nhà.  Chiều ý cụ, chị vợ đi lấy cái ang đựng nước đem lên nhà cho cụ khạc đờm vào đó. 
Sáng dậy, không thấy ông cụ đâu nữa, cả nhà ngạc nhiên. Chị vợ lại chỗ cụ nằm, đem ang đờm đầy ra vườn để đổ, thì ôi! Một ang vàng lóng lánh, những thoi vàng dài đến gang tay và vuông vắn như người vót. Sung sướng quá, chị gọi chồng và các con ra nhìn. Họ ngồi quây quanh đống vàng một lúc rồi mỗi người một tay bốc vàng đem lên nhà cất kỹ. Từ đó gia đình sống đỡ chật vật hơn. 
Tin vợ chồng nhà nghèo được vàng, truyền đi rất nhanh. Tiếng thơm bay vào tai mấy nhà lang, làm chúng ăn không ngon bụng, ngủ không yên mắt. 
Hôm sau, ông cụ rách rưới ấy trở lại. Cụ vừa bước vào đầu làng thì một tên lang Đạo ác như con cọp dữ trông thấy. Nó đang định đi sang nhà bên uống rượu, nhưng thấy ông cụ vào thẳng ngõ nhà nó, làm nó mừng quýnh lên, quên cả mâm cỗ đang đợi chờ. Nó vội sửa lại khăn áo, rồi hấp tấp chạy xuống cầu thang, tên lang Đạo chắp tay cúi xuống chào mời xuýt xoa: Dạ! Chào cụ. Mời cụ lên nhà nghỉ chơi với chúng con. Mời cụ lên nhà, nhưng cái mùi hôi thối khó chịu làm tên lang Đạo không chịu nổi. Một tay nó dắt ông cụ lên sập ngồi, nhưng một tay nó lại bịt mũi, bịt mồm. Đặt ông cụ xuống sập, nó vội chạy vào nhà thở hồng hộc như một người chết ngạt mới sống lại. Nó sai người ở nấu nước nóng để vợ chồng nó bưng ra cho ông cụ rửa mặt, rửa chân tay, còn mấy người ở khác thì mau làm cơm mời cụ ăn. 
Lát sau, mâm cỗ được bưng ra giữa sập. Tên lang Đạo mời mọc ông cụ rối rít, chẳng chờ tên lang Đạo mời, ông cụ cầm đũa ăn một mạch hết gọn mâm cỗ rồi xin phép đi ngủ. Chờ người ở dọn mâm xong đâu vào đấy, vợ chồng lang Đạo đi quét sập, trải chiếu mới, chăn mới, rồi mời cụ đi nằm. 
Cụ vừa đứng dậy thì bệnh ho ầm ầm kéo đến. Cụ nằm lả xuống sàn ho một cơn đến dập bã trầu mới ngồi dậy được. Ho xong cụ mượn một cái ống để nhổ đờm cho khỏi bẩn nhà. Đã chuẩn bị sẵn, vợ tên lang Đạo vội vã chạy vào nhà cùng ba người ở khiêng một cái xanh tám, bốn quai ra đặt ở đầu sập. 
Đêm đó ông cụ ho luôn mồm, khạc đầy xanh, cụ lấy chăn bịt kín miệng xanh lại, còn cả nhà tên lang Đạo không ai ngủ được. Nhất là vợ chồng lang Đạo, khi nghe tiếng khạc nhổ thì hí hửng mong cho trời mau sáng để lấy vàng. Hôm sau ông cụ dậy sớm lắm. Nhưng vợ chồng tên lang Đạo còn dậy sớm hơn, chúng sai người đi làm cơm, nấu nước chờ cụ dậy. Khi cụ dậy, chúng bưng nước ra mời súc miệng rửa mặt rồi bưng cơm ra. 
Ăn cơm xong thì trời vừa sáng tỏ, cụ xin phép vợ chồng tên lang Đạo ra đi. Ông cụ vừa bước chân khỏi cầu thang thì vợ chồng tên lang Đạo tranh nhau mở xanh "vàng". Vừa giằng được cái chăn khỏi miệng xanh thì nào ong, nào rắn xông ra đốt, cắn tứ tung vào vợ chồng tên lang Đạo làm chúng lăn ra chết. 
Từ đó, bọn nhà giàu vùng này, thấy người già, kẻ khó không dám khinh thường và làm điều ác nữa.

58. AN DƯƠNG VƯƠNG XÂY THÀNH CỔ LOA
Khi đã chiếm được đất Văn Lang, An Dương Vương đổi lên là nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Đông Anh, Hà Nội). Khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi đất rắn như đá. Đám đông người hì hục đào đất, khuân đất hết ngày này sang ngày kia, toà thành cao dần. An Dương Vương cùng các lạc tướng đến xem lấy làm hả hê, cho là một toà thành có thể đứng vững muôn đời, sấm sét không lay chuyển được, mưa bão không làm sạt được và quân giặc cũng không thể phá nổi. 
Nhưng một đêm cả bức tường thành quanh co đều đổ sập xuống như đất bằng. An Dương Vương đến xem thì rất lấy làm tức giận. Hỏi nhân dân ở gần họ nói: Ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập ở khắp các ngả kéo đến, những tiếng xì xào có thể như là ma quỷ, người đâu mà dám hé phên nhìn ra. Rồi họ lại nghe thấy những tiếng huỳnh huỵch, tiếp đến, những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy. 
An Dương Vương sai các tướng đốc thúc đắp lại thành cho kỳ được. Đám người hăng hái đắp lại không ngừng. Tường thành mỗi lúc một cao dần và lại cao như cũ. Nhưng rồi một đêm cả tường thành lại sập xuống như đất bằng. An Dương Vương sai người đi hỏi nhân dân ở gần thì họ lại nói như trước. Ban đêm, họ cũng nghe tháy những bước chân rầm rập như thiên binh vạn mã trẩy qua rồi lại những tiếng huỳnh huỵch, tiếp đến những tiếng đổ ầm ầm như sấm động. 
An Dương Vương lại xem chỗ thành đổ, cầu trời phù hộ mình đắp cho xong toà thành. Vua vừa đi vòng quanh chân tường vừa suy nghĩ. Thốt nhiên, vua thấy một ông già râu tóc bạc từ phía xa đi lại. Đến gần An Dương Vương ông già tự xưng mình là thổ thần, nói với vua rằng:  - Nhà vua đừng lo, sáng mai nhà vua ra đợi ở bờ sông, sẽ có sứ giả Thanh Giang đến giúp nhà vua đắp thành. Nói xong ông già biến mất. 
Hôm sau, mới tờ mờ sáng, An Dương Vương đã ra tận bờ sông để đợi Giang Sứ. Vừa bắt đầu tan sương thì có một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt sông từ phía Đông bơi vào bờ đến gần nhà vua, rùa tự xưng mình là thần Kim Quy, sứ giả của vua Thuỷ Tề. An Dương Vương sai đặt Giang Sứ lên một chiếc mâm vàng và khiêng vào cung. 
Vua hỏi kế đắp thành, thần Kim Quy bảo rằng: - ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh, có phép biến hoá khôn lường. Nó thường hãm hại khách qua đường và khách ngủ ở các quán trọ trong vùng này. Các vua thời trước cùng bọn nhạc công chết đi đều chôn ở núi Thất Diệu, những u hồn ấy từ lâu không tan, cứ luẩn quẩn trong khe đá, trong hang sâu. Những u hồn ấy có thù với nhà vua nên đêm đêm thanh vắng họp thành từng lũ đến xúi giục con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua. Con tinh gà trắng đã dẫn những u hồn ấy đến chân thành dùng phép ma phá đổ tường thành, rồi gần sáng lại bay về núi, con tinh gà trắng có tiền duyên với con gái lão chủ quán gần chân núi nên hay hiện hình làm khách bộ hành ghé vào nhà lão, khi thì nhập vào con gái lão, khi thì nhập vào con gà trắng của lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ khử cho tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng của lão chủ quán đó. Nghe lời thần mách bảo, vua sai mấy viên tướng đem quân vào rừng mai phục rồi vua cải trang cùng thần Kim Quy giả làm khách bộ hành đến quán xin ngủ trọ. Chủ quán từ chối lấy cớ trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách đường. Nhưng An Dương Vương và thần Kim Quy nhất định xin ở, chủ quán phải chiều ý hai người. 
Đêm đêm An Dương Vương nghe thấy những bước chân rầm rập ở ngoài, những bước chân từ khắp các ngả đi lại rộn ràng rồi đột nhiên có bàn tay rất mạnh đập vào cái phên nhà lão chủ quán, tiếp đến là tiếng gọi của người con gái lão. Thần Kim Quy lên tiếng nạt nộ, tiếng ngoài im ngay. Những tiếng bước chân cũng xa dần. Gần sáng lại có những tiếng chân rầm rập ở ngoài, thần Kim Quy bảo An Dương Vương mở cửa phên ra gọi quân mai phục đuổi theo đám yêu tinh đang rút lui về Thất Diệu, quân lính vừa đuổi vừa giương nỏ bắn theo. Cứ một loạt tên bay đi là lại nổi lên những tiếng ma quỷ kêu khóc rùng rợn. Tiếng rên rỉ khóc than mỗi lúc một thưa dần. Đến khi mặt trời mọc thì yêu khí tan. Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cô trong các hang núi họ chất thành từng đồng cao đốt đi, tro than đổ xuống suốt cho tan hẳn oan hồn. 
An Dương Vương và thần Kim Quy trở về quán trọ bảo chủ quán hiến cho mình con gà trắng để tạ ơn trời đất. Gà vừa bị cắt tiết thì con gái chủ quán cũng lăn ra chết. Giữa lúc ấy có một con chim từ trong nhà bay vụt ra, thần Kim Quy biết đó là con yêu tinh đã tìm đường chạy trốn liền tung phép giết chết. 
Yêu ma đã trừ xong, thần Kim Quy lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn, Thần rút một cái móng của mình trao cho An Dương Vương, dặn rằng: - Nhà vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ, khi có giặc thì đem ra bắn, một phát có thể giết chết được hàng ngàn quân giặc. Nói xong, thần biến mất. Nhờ có thần Kim Quy trừ hết yêu ma, An Dương Vương ra lệnh cho quân lính và nhân dân xây lại thành. Chẳng bao lâu tòa thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng, vừa dài vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành.

59. CHIẾC THOI VÀNG
Ngày xửa ngày xưa có hai chị em, con một gia đình làm nghề dệt vải. Sau khi cha mẹ chết sớm người chị trở nên lười biếng. Nhưng cậy thế làm chị nên chiếm hết của cải của cha mẹ để lại và bắt người em dệt vải cho mình. Ngày ngày, trừ những lúc đi gánh nước hoặc vào rừng kiếm củi, còn từ sáng tới tối, người em không có lúc nào được rời khung cửi. Dệt được bao nhiêu vải thì người chị mang ra chợ bán lấy tiền bỏ túi. Vì thế người chị ngày càng trở nên giầu có, ăn sang mặc đẹp, còn người em ngày một rách rưới, nước chàm nhuộm vải bám vào tay, bắn lên mặt, làm nước da cô đen thui và xấu xí. 
Một hôm, như thường lệ, người em dậy sớm nhuộm vải, không hiểu sao hôm ấy cô ngồi vào khung cửi đưa thoi, thoi chạm vào sợi thấy sợi đứt, cô gài thoi vào thắt lưng nối lại từng sợi. Lần thứ hai thoi chạm mạnh hơn, sợi bị đứt nhiều hơn, lần thứ ba thoi lao đi làm đứt một quãng sợi. Nhưng cô không nản lòng, lại gài thoi vào thắt lưng, chăm chú nối lại từng sợi một. Cô mải miết nối sợi dệt vải, nên mặt trời lên tới đỉnh nóc nhà lúc nào không biết. Người chị ngủ dậy, không thấy có nước nóng để rửa mặt, không có cơm canh để bày sẵn, liền quát mắng em. Cô em hốt hoảng, vội vàng rời khung cửi, ra cửa lấy đòn xâu mấy chiếc ống ra giếng gánh nước. 
Ra đến giếng, cô cúi xuống múc nước, chẳng may chiếc thoi gài ở thắt lưng rơi xuống giếng. Cô sợ hãi về nói với người chị. Vừa nghe tin người chị đã xỉa xói, mắng chửi như tát nước vào mặt người em và bắt em phải đi tìm con thoi về ngay. Người em lủi thủi trở lại giếng, khóc nức nở hồi lâu rồi lội xuống giếng tìm con thoi. Nước mỗi lúc một sâu, khi ngập đầu thì bỗng nhiên người em thấy hiện ra một cái hang, cô lần ra vách hang tìm kỹ lưỡng từng vách đá, bới từng ngọn cỏ lá cây, nhưng không tìm thấy chiếc thoi đâu cả. Càng đi, hang càng rộng, bỗng cô tìm thấy trước mặt một ngôi nhà nhỏ xíu giống như chiếc lều cạnh nương. Một bà lão tóc bạc phơ hiện ra đi lại phía cô và nói: Con ở đâu đến đây, tìm kiếm gì mà đi bới từng ngọn cỏ, lá cây, hốc đá? Cô gái kể hết từ đầu câu chuyện, bà lão cầm tay cô gái, hỏi: Con không tìm thấy chiếc thoi của con nữa đâu. Thoi rơi xuống đây, bọn trẻ chăn trâu đã đem cho vào bếp. Cô gái oà lên khóc: Con không tìm được thoi, về chị gái sẽ đem con ra chợ bán như bán một tấm vải chàm rách nát. - Đừng khóc con ạ, con hãy đi vào nhà với già, già sẽ tìm cho con chiếc thoi khác. 
Cô gái thôi khóc và bước theo bà lão. Nhà bà lão rất nghèo, giường nằm là một hòn đá to mặt phẳng rải lá khô, nồi cơm là những ống bương to, chậu rửa mặt là mảng vại vỡ. Cô ở với bà lão, sớm sớm cô dậy quét nhà, gánh nước thổi cơm rồi đi nương. Cô chăm chỉ làm việc, bà lão được nghỉ chân, nghỉ tay, càng thương yêu cô gái. Ngược lại, cô gái từ ngày ở với bà cụ không còn bị chửi mắng dày vò, nên lúc nào cũng vui tươi. Nhưng đến ngày thứ chín cô tiếp tục nhớ đến con thoi và người chị ở nhà, lòng buồn rười rượi. Bà lão biết ý mới gọi cô lại và bảo: Già đã đi tìm được thoi cho con rồi đây, mai già sẽ đưa con về. Nói xong, bà lão đưa cho cô gái một cái thoi rất đẹp. Sáng hôm sau cô gái dậy thổi cơm, đun nước, nhưng khi dọn cơm lên, cô không chịu ăn, nước mắt cứ rơi lã chã. Bà lão hỏi cô sao không về lại khóc, cô trả lời: Con về, nhớ và thương già quá, già ơi! Bà lão tiễn cô gái một đoạn và dặn: Trên đường về, qua rừng cây thấy quả xanh con chớ hái, quả chín chớ hái. Con hãy nhặt lấy một quả rụng dưới gốc đem về. 
Nói xong, bà lão biến mất. Bỗng nhiên có một trận mưa rào, nước mưa làm cô ướt từ đầu đến cuối, nhưng rồi lại khô ngay. Cô cảm thấy trong mình nhẹ nhõm lạ thường. Trước mắt cô hiện ra con đường rộng thênh thang, hai bên đường là những lùm cây sum suê, lá lấp lánh, quả long lanh như ngọc. Cô cứ thẳng theo con đường mà đi, nhớ lời bà lão dặn, đi hết rừng cây cô nhặt lấy một quả rụng bỏ vào túi. Ra khỏi hang, bước lên bờ giếng, cô gái bỗng trở thành một nàng tiên đẹp, bộ quần áo cô mặc toàn là lụa lấp lánh, nước da trong trẻo. Con thoi của cô là con thoi vàng, và quả rụng của cô nhặt biến thành một hũ bạc. 
Về đến nhà, thấy sự lạ, người chị đon đả hỏi dò la cho ra nhẽ, người em thật thà kể hết đầu đuôi câu chuyện. Vốn có lòng tham, người chị sau khi đoạt thoi vàng và hũ bạc của người em, vẫn chưa đủ, lại tìm cách xuống hang lấy nữa. Hôm sau người chị ra giếng gánh nước, vứt thoi xuống giếng rồi giả vờ khóc. 
Một lúc sau, người chị cũng lội xuống giếng và vào hang rồi cũng được gặp bà lão tóc bạc. Nhưng quen thói lười biếng, hôm đầu người chị còn dạy sớm một chút, từ hôm thứ hai trở đi, hôm nào cũng vậy, bà lão đi nương về cũng thổi cơm chín mà người chị chưa dậy. Chưa hết bảy ngày cô ta đã nằng nặc đòi về, vì cô ta nóng lòng muốn được tắm nước tiên để trở thành nàng tiên đẹp và hái được nhiều quả vàng, quả bạc. Bà lão đồng ý, tiễn cô ta về. Lúc chia tay bà lão dặn dò cô như lần trước dặn dò em gái. Bà lão biến mất và tiếp theo là một trận mưa rào xối xả. Người chị ướt sũng từ đầu đến cuối, nhầy nhụa, nhớp nháp. Một rừng cây rậm rạp hiện ra và giữa rừng có một con đường nhỏ chạy heo hút. Người chị vơ lấy vơ để cả những quả xanh trên cành và cả những quả chín rụng dưới gốc cây. 
Và đến nhà mọi người lấy làm lạ, người chị nước da đen thui như vải nhuộm chàm. Một túi đầy những quả mà cô ta nhặt được biến thành những cục đá đen thui. Người chị lẩn trốn vào phòng, lấy nước tắm rửa mãi vẫn không thể nào sạch được, xấu hổ quá không dám ra ngoài nữa, ngồi trong buồng đến chết. 
Từ đó người em vốn đã chăm chỉ làm ăn, lại có vàng bạc nên ngày càng giàu có, hạnh phúc.

60. CHUYỆN TỪ ĐẠO HẠNH
Vào thời nhà Lý có một ông sư quê ở làng Láng gần kinh đô, tên là Từ Vinh. Từ Vinh học được phép tàng hình. Không những thế, hắn còn biết cả phép biến mình thành bất cứ một con vật hay bất cứ người nào. Khi học được phép lạ, hắn không nghĩ đến lợi dụng phép thuật để giúp đỡ người nguy kẻ khó, mà chỉ nghĩ cách tìm khoái lạc cho bản thân. Cho nên, hắn đi khắp mọi vùng làm bộ giảng đạo nhưng kỳ thực là để gần gũi những người đàn bà mà hắn ưa thích. Hắn đã có phép, lại không kém khôn ngoan, nên chả một ai hay biết. Từ lúc Từ Vinh thi đậu khoa thi Bạch liên, được vua phong chức Tăng quan đô sát, một chức quan lớn trong triều đình, thì hắn lén lút tìm gái ở vùng kinh kỳ. 
Bấy giờ, ở kinh đô có một nhà quý tộc tên là Diên Thành hầu có phủ đệ đẹp đẽ trên bờ sông Cót gần làng Từ Vinh. Diên Thành hầu có một đám vợ và nàng hầu, trong đó có một nàng trẻ tuổi, nhan sắc xinh đẹp dễ thường trên đời khó ai sánh kịp. Từ Vinh chú ý đến nàng. Phủ đệ Diên Thành hầu canh gác rất nghiêm ngặt, nhưng đối với Từ Vinh thì chẳng mùi gì. Nhè những đêm Diên Thành hầu vắng mặt, Từ Vinh tàng hình lọt vào buồng của nàng, rồi biến thành chồng nàng lên giường giao hoan. Sáng dậy, y lại tàng hình đi ra cổng trước mắt bọn gác. Vì thế, chẳng những cả nhà Diên Thành hầu không một ai biết mà chính người đàn bà nọ cũng không ngờ là ngoài chồng mình ra còn có một người đàn ông thứ hai nữa.
Một hôm, giữa lúc Từ Vinh tàng hình bước ra khỏi buồng người đàn bà, thì chính lúc Diên Thành hầu vào với vợ. Người đàn bà vội kêu lên: Sao phu quân vừa ra đã lại trở vào? Nghe nói thế Diên Thành hầu hiểu ngay nông nỗi và sau khi gạn hỏi vợ, hắn mới biết gian phu không phải là người tầm thường, nếu không có một pháp sư cao tay thì đừng hòng trị nổi. Diên Thành hầu căm tức vô cùng, sau một lúc lâu suy nghĩ, hắn sực nhớ đến nhà sư Đại Điên phép thuật cao cường nhất trong nước, từng được vua ban tước quốc sư và đã trổ tài mấy phen trị tà bắt quỷ.
Khi nghe Diên Thành hầu kể lại câu chuyện, Đại Điên đưa cho một sợi chỉ ngũ sắc và dặn: Hầu về đưa sợi chỉ này cho bà ấy, chờ lúc gian tế đến, lẳng lặng buộc vào ngang lưng. Một mặt, cho rắc một lớp tro mỏng trước cửa buồng, cho người nấp chỗ kín canh gác. Đợi lúc nào có dấu chân dẫm lên tro thì đóng ngay cửa lại, dán lá bùa này vào rồi cho người tức tốc đến đây báo tin  cho bần đạo. Bần đạo sẽ vì Hầu trị con dâm quỷ. Diên Thành hầu về, làm đúng như lời dặn. Quả nhiên, một đêm nọ Từ Vinh tàng hình mò tới. Hai tên nô chầu trực đêm ngày ở cửa, bỗng thấy có những dấu chân tiến vào buồng mà không thấy có người, vội dán lá bùa lên cánh cửa rồi phi báo cho chủ biết. Đêm ấy, Từ Vinh vô tình, không ngờ có cạm bẫy đang giương ra chờ mình, nên chỉ một lúc sau người vợ Diên Thành hầu đã buộc được sợi chỉ ngũ sắc vòng quanh lưng mà không hay biết. 
Nghe có tiếng động, Từ Vinh vội niệm chú biến thành một con gián. Nhưng khi bay đến cửa, hắn mới biết rằng khắp mọi nơi đều có phép thần kín mít như bưng, không một khe hở nào chui lọt. Giữa lúc đó thì Đại Điên đã cầm đuốc tiến vào buồng. Gián ta hoảng hồn bò vào một khe vách nằm im tại đó. Cuộc tìm tòi của Đại Điên đã tưởng trở lên vô hiệu. Mãi về sau, vì có sợi chỉ ngũ sắc buộc quanh người thò ra ngoài vách, nên Đại Điên lôi được ngay gián ra. Trong tay thần của Đại Điên, Từ Vinh hết phương trốn tránh, đành kêu lên xin tha mạng. Đại Điên hỏi: Mày là ai ? Kẻ phạm tội trả lời: Tôi là Từ Vinh, xin hoà thượng nghĩ đến tình đồng triều, đồng đạo, tha cho tội chết. Nghe kẻ phạm tội xưng tên, Đại Điên nghĩ bụng:"Phép thuật của hắn có tiếng là cao cường không kém gì ta. Nếu không sa cơ vì mấy lá bùa chưa chắc hắn đã chịu kêu van như thế này đâu. Tha cho hắn sẽ nguy hiểm cho ta. Tất phải trừ đi để khỏi hậu hoạ". Nghĩ vậy sư ta cười gằn bảo Từ Vinh: Mày là kẻ tu hành, lại được triều đình trọng dụng mà cố tình phá giới, phạm tội chồng chất như thế này ư? Tha cho mày sao được! Thôi ta hoá kiếp cho mày để lo tu tỉnh về sau. Từ Vinh chưa kịp kêu thì bị bàn tay Đại Điên bóp nát vụn. Xác con gián vừa rơi xuống đất thì đã hiện nguyên hình thành Từ Vinh. Đại Điên đá vào cái thây nói: Kiếp này đã vụng đường tu, Nhớ rằng tội lỗi đền bù kiếp sau. Đoạn, ngài bảo Diên Thành hầu: Thế là trừ được một con dâm quỷ. Hầu cứ bảo người nhà vứt thây nó xuống sông. Diên Thành hầu hết lời cảm tạ và sai người mang mười lạng vàng tống tiễn quốc sư về chùa. Nhưng sáng hôm sau, giữa lúc Đại Điên đang tụng kinh thì một tên nô của nhà Diên Thành hầu đã hốt hoảng chạy tới báo tin: Bạch sư cụ, cái thây hôm qua không chịu trôi. Nó cứ đứng sững giữa sông Cót trên mặt nước, tay chỉ vào nhà hầu tôi, mắt nhìn trừng trừng rất dữ tợn. Hầu tôi kính mời sư cụ tới trị ngay cho! Nghe nói, Đại Điên đến, chỉ tay vào thây Từ Vinh, đọc một câu phù quyết: Sống chết là giấc chiêm bao, dẫu giận thế nào không thể cách đêm. Tự nhiên cái thây chìm xuống và trôi đi mất.
Lại nói chuyện Từ Vinh có một người con tên là Từ Đạo Hạnh. Chàng mới hai mươi lăm tuổi, rất chăm học và rất có hiếu. Cái đêm cha bị giết, Từ Đạo Hạnh được cha báo mộng cho biết sự tình và nhắc đi nhắc lại tên Đại Điên, dặn phải trả thù cho bằng được. Tỉnh dậy, chàng hốt hoảng đi tìm cha và xiết bao đau đớn khi thấy thây cha nổi trên mặt nước. Nóng lòng vì muốn báo thù, chàng đuổi theo kẻ thù toan phang cho một côn trên cái đầu trọc. Nhưng vừa định vung côn, chàng bỗng nghe văng vẳng bên tai có tiếng can của cha mình:-"Chớ! Chớ nóng nảy. Muốn bóc vỏ quýt dày cần có móng tay nhọn đã". Vì thế Từ Đạo Hạnh thu côn vào nách, nuốt giận trở về. Chàng tính chỉ có cách tìm thầy học phép mới trừ được kẻ thù lợi hại kia. Nghĩ vậy, chàng bỏ nhà đi khắp mọi nơi tìm thầy, thề quyết bao giờ "đắc đạo" mới chịu trở về.
Hồi ấy ở về miền ven biển phía Nam có hai người bạn tâm giao: Một người là Nguyễn Minh Không và một người là Dương Không Lộ. Cả hai đều làm nghề chài lưới nhưng rồi rủ nhau cắt tóc đi tu. Sau bao nhiêu năm đọc kinh gõ mõ vẫn chưa được đắc đạo, một hôm Nguyễn Minh Không nói với bạn: Tôi nghe muốn nhìn được xa thì phải trèo lên núi cao, muốn uống nước ngọt thì phải tìm đến tận nguồn. Vậy muốn đắc đạo trừ phi tìm đến quê hương của Như Lai còn không có cách nào khác. Dương Không Lộ đáp: Tôi sẵn lòng đi với bạn, dù có gặp núi cao biển rộng, khó khăn đếu đâu cũng không quản ngại. Thấy hai chú tiểu cùng phát thệ đi đến đất Phật, một vị sư bác trong chùa cũng hăm hở đòi đi theo. Nhưng hồi ấy đường sang đến Thiên Trúc thật là muôn ngàn nguy hiểm và vô cùng gian khổ, cho nên sau khi đi được mấy ngày, vị sư bác thấy chùn chân, đành cáo bệnh trở về chùa cũ. Chỉ có hai người bạn trẻ vững lòng nhằm hướng Tây tiến bước.
 Một hôm, họ đến một vùng núi cao. Hai người chui vào một ngôi miếu cổ bên đường để ẩn mưa, bỗng gặp một người trẻ tuổi đang ngồi đốt lửa sưởi ở trong đó. Họ bắt đầu làm quen và biết rằng đấy là Từ Đạo Hạnh cũng lặn lội đi tìm thầy học phép để trả thù cha. Sau một đêm chuyện trò, ba người kết bạn với nhau. Từ Đạo Hạnh nhiều tuổi hơn được tôn làm anh cả, Dương Không Lộ thứ hai và Nguyễn Minh Không em út.
Cuộc hành trình vất vả kéo dài mấy năm trời. Họ đã trèo qua bao nhiêu là núi rừng, lội qua bao nhiêu là sông suối, chung sống với bao nhiêu là người dị chủng. Mặc cho ốm đau, đói khát, rách rưới, họ vẫn không chịu nản.
Một hôm, vừa qua sứ Mán Răng Vàng, họ bỗng gặp một ông cụ chở thuyền độc mộc ở giữa dòng sông. Họ gọi lại hỏi đường. Ông cụ cho biết là theo con đường sông này sang quê hương Phật tổ thì không còn bao xa nữa. Ông cụ còn sẵn lòng chở họ đến nơi. Mừng quá, cả ba người xuống thuyền và thuyền đi nhanh vùn vụt, chả mấy chốc đã đến đất Phật. Ông cụ lái đò chính là đức Phật Như Lai. Nghe tin có người thành khẩn mộ đạo đến nỗi không quản gian lao nguy hiểm, nên đức Phật hiện xuống, dùng phép thần thông đưa họ đi. Nhưng khi nghe nói mục đích học đạo của Từ Đạo Hạnh thì đức Phật không bằng lòng. Cho nên khi đến nơi, ông cụ lái đò bảo Từ Đạo Hạnh ở lại trông thuyền cho hai anh em lên thăm dò trước đã rồi có gì sẽ lại báo sau. Thế rồi đức Phật đưa Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ về độ cho thành chính quả và truyền cho tất cả các thuật biến hoá huyền diệu. Sau khi đắc đạo, Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ cúi đầu lạy tạ đức Phật rồi lên đường về nước.
Nói chuyện Từ Đạo Hạnh ngồi chờ mãi không thấy hai em trở lại, trong bụng lấy làm lo lắng, chưa biết nên tính cách gì. Bỗng gặp một bà cụ già từ trên bờ đi xuống bến xin sang sông. Chàng vui lòng chống đò giúp bà cụ. Luôn tiện chàng hỏi thăm: Cụ có thấy một ông già và hai chàng đi về ngả ấy không? Bà cụ đáp: Có. Họ đã gặp đức Phật và đắc đạo rồi !
Nghe nói thế, Từ Đạo Hạnh đoán chắc bà cụ này không phải là người phàm trần, vội sụp lạy kêu nài: Xin cụ rủ lòng thương cho, kẻ đệ tử này có mối thù cha trong lòng canh cánh không lúc nào nguôi. Bà cụ vốn là một vị Bồ Tát được đức Phật sai đến đây, bèn trả lời: Chính vì tìm đến cõi Phật với một điều ác trong lòng nên không được độ. Chàng mếu máo bày tỏ lời thề của mình trước linh sàng của cha cho bà cụ nghe và lạy lục vật nài đến kỳ cùng. Bà cụ bảo: Nếu lấy oán báo oán sẽ không tránh khỏi nghiệp báo. Nhưng vì người có lòng thành khẩn nên ta cũng truyền cho. Đoạn dạy cho Từ Đạo Hạnh mọi thuật biến hoá màu nhiệm và để cho chàng có thể đối địch với kẻ thù, nên Bồ Tát còn dạy cho phép hô thần tróc quỷ bằng cách tụng chú Đà la ni...
Thế là từ đó Từ Đạo Hạnh cũng biết một số phép thần thông. Cho nên, lúc Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không từ đất Phật trở về thì chàng đã đoán biết được trước, mới định tâm đùa một mẻ để cho hai bạn hoảng sợ chơi. Khi họ sắp sửa đến bến đò phải đi qua một khu rừng rậm, Từ đã hoá thành một con hổ lớn từ trong bụi xông ra định vồ, nhưng chàng trai không ngờ rằng hai bạn mình đều đoán ra ngay đó là Từ. Họ đồng cười lên, Nguyễn Minh Không đi đầu, nói: Thôi đừng đùa cợt chi nhau, muốn làm kiếp ấy rồi sau được làm. Nghe thế, Từ Đạo Hạnh giật mình tỉnh ngộ. Nhờ phép thần, chàng thấy được kết quả của tội lỗi mình ở kiếp sau. Chàng bèn niệm chú hiện lại nguyên hình rồi cười đỡ thẹn: Anh chỉ định tâm thử chơi, không ngờ mua cười với hai em. Phép thuật của hai em như thế đủ biết không phải tầm thường. Anh chỉ mong hai em đến lúc đó sẽ giúp anh qua khỏi nghiệp chướng. Thế rồi ba anh em lên đường về nước. Lần này, họ đi vùn vụt như tên, chả mấy chốc mà trước mắt họ đã thấy sông Lô núi Tản. Ba người chia tay nhau. Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ trở về quê hương. Còn Từ Đạo Hạnh thì không về nhà. Chàng nghĩ bụng: "Ta phải tìm một nơi nào yên tĩnh để tu luyện thêm cho đến chừng hơn hẳn kẻ địch, lúc bấy giờ sẽ gọi hắn đến đương trường tỉ thí chứ không thèm đánh nhau lén lút". Bèn tìm đến Thạch Thất, vào một hang đá xếp bằng tu theo lối trường định. Theo như lời dặn, hàng ngày chàng niệm chú Đà la ni một vạn tám nghìn lần.
 Sau ba tháng mười ngày khổ luyện, tự nhiên một hôm chàng vừa đọc câu chú, bỗng có một vị thần mặt xanh mỏ đỏ hiện ra trước mặt rồi nói: -"Từ Đạo Hạnh, anh cần sai bảo gì, tôi xin tuân lệnh". Từ biết là đạo pháp của mình đã đến ngày thông được với thần, mừng quá vội nói: -"Ta cần trả được thù cha. Lập tức đưa ngay ta về kinh thành". Thốt nhiên chỉ trong nháy mắt, Từ Đạo Hạnh đã xuất hiện ở phía Bắc Hoàng cung. Chàng bước lần đến ngã ba sông Cót, ném xích trượng xuống nước. Giữa dòng nước chảy xuôi, gậy cứ lừ lừ trôi ngược. Chàng đuổi theo cây gậy bấy giờ đã lướt sóng như một con rồng cho đến cầu Tây Dương thì dừng lại. Chàng vội tàng hình bước vào nhà Đại Điên. Bấy giờ Đại Điên đang ngồi nói chuyện trước một số đông quan khách. Chàng tiến đến trước mặt, hiện lại nguyên hình và bảo Đại Điên: Đại Điên! Mày có biết tao là ai không? Tao là Từ Đạo Hạnh con Từ Vinh, ác giả ác báo. Mày giết chết cha tao, tao phải giết mày! Thôi cho mày sửa soạn đi! Biết là gặp đối thủ không vừa. Đại Điên khởi thế công ngay. Nhưng phép thuật của hắn không thể nào đương nổi chiếc gậy của Từ Đạo Hạnh. Vì thế, cuộc chiến đấu diễn ra không lâu. Chỉ một gậy của Từ giáng xuống, hắn ngã vật chết ngay, chỉ kịp nói được mấy tiếng: Hỡi Từ Đạo Hạnh, tao sẽ giết mày!
Nói chuyện vua nhà Lý, hồi ấy tuổi đã già mà không có con. Bao nhiêu hoàng hậu và phi tần trong hậu cung chưa từng có một người nào chửa đẻ. Nhà vua hết cầu trời khấn Phật đến tìm thầy chạy thuốc, nhưng chẳng ích gì. Những bùa phép thuốc men của các pháp sư, các lang y chả có một thứ nào ra hồn. Người ta đều nói vì mẹ vua ác nghiệt nên bị trời phạt như thế, mà trời phạt thì đừng hòng cưỡng lại.
Thất vọng, nhà vua dự định nuôi con nuôi. Một hôm, viên chuyển vận xứ Thanh Hoá về Kinh chầu vua có báo một tin rất lạ: Một nhà dân chài ở biển có sinh một đứa trẻ thần dị. Lên ba tuổi nó đã biết nói và tự xưng là Giác Hoàng. Nó biết tất cả các việc trên trời dưới đất và tất cả các việc trong triều, ngoài nội. Và điều này mới đáng để ý, là Hoàng thượng làm gì nó cũng biết cả. Nó tự xưng là con của Hoàng thượng. Nghe nói thế, vua liền cho đứa bé về cung. Thấy mặt mũi nó sáng sủa, hỏi đâu biết đấy, nhà vua đem lòng yêu dấu, muốn nuôi làm con để một ngày kia trăm tuổi sẽ truyền cho ngôi báu. Có mấy vị đại thần khi nghe vua dò ý tứ thì vội can ngay: Tâu Bệ hạ, Bệ hạ làm thế sợ lòng dân không phục. Nếu có linh dị như thế, sao không thác sinh vào cung để mang lấy dòng máu của Hoàng đế, lại đi làm kiếp con nhà bần tiện. Nhà vua mang lời tâu ấy kể lại cho đứa trẻ nghe. Giác Hoàng xin vua dựng cho một cái đàn tràng, mời thầy làm lễ trong bảy đêm ngày, nó sẽ có cách đầu thai được. Vua mừng lắm, vội sai các quan làm y lời nó dặn.
Tin ấy truyền đi khắp mọi nơi đến tai Từ Đạo Hạnh. Biết đó là kẻ thù của mình, chàng bèn tìm đến nhà chị ruột đưa cho chị bốn lá bùa, nhờ về Kinh tìm đến đàn tràng giắt lên mái, mỗi lá giắt về một phương. Quả nhiên, sau đó ba ngày Giác Hoàng bỗng bị bệnh, bệnh nguy kịch. Gặp vua, hắn tâu: Tâu Bệ hạ, bây giờ thì khắp mọi nơi đâu đâu cũng có lưới sắt vây kín không thể nào thác sinh được. Hạ thần chỉ còn chờ chết. Mong Bệ hạ trị tội Từ Đạo Hạnh, vì chính hắn đã âm mưu giết hại thần và phá hoại cơ nghiệp lâu dài của Bệ hạ. Nói xong thì chết.
Thấy Giác Hoàng chết, vua nổi cơn thịnh nộ, lập tức sai người đi tra xét, bắt quả tang được mấy lá bùa có pháp ấn Từ Đạo Hạnh. Vua vội sai mấy đội vệ sĩ đi bắt Từ về Kinh trảm quyết. Bị quân lính giải đi, Từ Đạo Hạnh không dám trái lệnh. Qua Phủ đệ Sùng Hiền hầu ở phía Tây Kinh thành, chàng cố nài bọn họ cho mình vào yết kiến. Sùng Hiền hầu nguyên là em ruột vua, và cũng như vua, hắn không có con trai, Từ Đạo Hạnh chợt nghĩ ra một kế cho nên khi gặp hắn, chàng cố nài tâu giúp để vua tha tội cho mình. Đổi lại, chàng sẽ tìm cách đầu thai làm con hắn và chắc chắn thế nào cũng được. Sùng Hiền hầu nghe bùi tai, liền đi vào hoàng cung bênh vực cho Từ: Tâu Bệ hạ, không nên nghe lời của một đứa trẻ để giết hại một nhà tu hành. Nếu Từ Đạo Hạnh mà diệt được Giác Hoàng thì phép thuật của Giác Hoàng sao ví được với Từ Đạo Hạnh. Bệ hạ nên lưu ý lại để dùng khi quốc gia hữu sự...Nhân đấy, Từ Đạo Hạnh cũng tâu thêm: Tâu Bệ hạ, nó là tà ma ngoại đạo hiện ra hãm hại mọi người. Bần tăng không thể ngồi yên mà nhìn, để cho tà ma làm loạn cả chính pháp, nên vượt phép Bệ hạ trừ bỏ nó đi. Nay việc đã xong, bần tăng xin cúi đầu chịu tội. Nghe mấy lời nói có lý, nhà vua dần dần nguôi giận, tha bổng cho Từ.
Hôm đó về đến nhà Sùng Hiền hầu, Từ Đạo Hạnh xin phép vào gặp vợ hắn, người nhà cho biết là phu nhân đang bận tắm. Từ Đạo Hạnh bảo: Thế thì lại càng hay. Xin cho đưa vào ngay! Bấy giờ người vợ Sùng Hiền hầu đang giội nước trong buồng tắm, bỗng thấy có một vị hoà thượng xô cửa bước vào. Trong lúc hoảng hồn chưa kịp kêu la thì đã thoáng thấy ở trong bồn nước có một đứa trẻ. Người đàn bà ấy chưa hiểu ra thế nào cả thì Từ Đạo Hạnh đã bước ra khỏi nhà tắm. Gặp lại Sùng Hiền hầu, Từ dặn: Bao giờ phu nhân sắp sửa ở cữ, xin cho người hoả tốc báo tin cho biết ngay. Dặn xong đoạn lại trở về Thạch Thất.
Từ hôm ấy, Sùng Hiền hầu trông trông mừng mừng.
Một đêm nọ thấy vợ chuyển bụng, hắn theo đúng lời dặn, vội sai gia nhân phi ngựa lên Thạch Thất báo tin. Hôm đó, Từ Đạo Hạnh đang ngồi trước hang đá thuyết pháp cho học trò, có đến nghìn người vây xung quanh cửa hang. Bỗng có tin người nhà Sùng Hiền hầu xin ra mắt hoà thượng. Từ Đạo Hạnh bảo các môn đồ: Thời đã đến rồi vậy! Ta sắp sửa đi đây! Nói xong đọc mấy câu kệ dặn dò, rồi ngồi xếp bằng lại mà hóa.
Giữa lúc Từ Đạo Hạnh chết thì ở Thăng Long người vợ Sùng Hiền hầu sinh hạ một đứa con trai đặt tên là Dương Hoán. Năm mười lăm tuổi, Dương Hoán được vua nuôi làm con và sau đó lấy làm đẹp lòng vì tính nết có thể giữ được ngôi báu dòng họ Lý, nhà vua phong cho làm Hoàng thái tử. Năm hai mươi tuổi, Dương Hoán đã lên ngai vàng kế vị cha nuôi, trị vì thiên hạ tức là Lý Thần Tông. Nhưng sau khi lên ngôi báu được ba năm thì Lý Thần Tông bị bệnh lạ lùng. Thoạt tiên, nhà vua thấy ngứa ngáy khắp mình mẩy. Càng gãi bao nhiêu thì lông càng mọc bấy nhiêu. Mãi về sau toàn thân mọc đầy thứ lông màu vàng có vằn đen như da hổ, miệng thỉnh thoảng gầm lên những tiếng dễ sợ. Nhà vua suốt ngày ngồi lù lù trong góc buồng, áo quần mặc vào bao nhiêu xé rách bấy nhiêu. Tất cả các viên ngự y đều lắc đầu và bó tay, không biết bệnh gì mà chữa. Bọn nội thị kháo nhau: "Có lẽ Hoàng đế hoá thành chúa sơn lâm thì phải". Triều đình và nội cung vì việc vua đau cuống quýt cả lên. Ngoài những vị lương y còn có cả những pháp sư phù thuỷ được triệu về để phù phép, nhưng bệnh của vua ngày một tăng chứ không có giảm. Hoàng Thái hậu lo sợ quá, sai yết bảng rao: "Nếu ai chữa được lành bệnh của vua sẽ chia cho nửa nước".
Một hôm có vị đại thần đi ra ngoài cửa ô bỗng nghe thấy đám trẻ chăn trâu hát lên mấy câu: Tập tầm vông! Có ông Nguyễn Minh Không, chữa cho vua khỏi hoá. Tập tầm vá! Muốn chữa cho vua khỏi hoá, phải đón Nguyễn Minh Không! Viên đại thần vừa ngạc nhiên vừa mừng, vội về triều báo tin cho Hoàng gia biết. Lập tức triều đình phái một võ tướng mang năm trăm quân sĩ xuống mười chiếc thuyền lớn, xuôi đến miền biển triệu Nguyễn Minh Không về triều chữa bệnh cho vua.
Lại nói chuyện từ khi chia tay hai bạn, Nguyễn Minh Không vào Ninh Bình trụ trì ở một ngôi chùa nhỏ, lấy hiệu là Giác Hải. Trong những cuộc đi chơi, chàng đã dùng pháp thuật của mình để giúp đỡ mọi người. Một lần đi qua xã An Vệ, thấy người dân ở đây đang khổ vì đại hạn: lúa héo khắp cả cánh đồng, chàng bảo người làng đan gấp cho mình một cái giỏ bằng tre thật lớn, ngoài phết giấy. Đoạn đưa ra sông cả múc nước, một mình đội về giội xuống ruộng, nước chảy lênh láng cả cánh đồng, chỗ nước giội xuống này hoá thành cừ. Nhờ thế mà lúa lại mọc khoẻ, dân làng lại được mùa.
Khi quân sĩ tìm được đến chùa thì Nguyễn Minh Không đang tụng kinh buổi trưa. Viên võ tướng mang quốc thư lên trình. Chàng đọc xong, quay lại nói với bọn họ: "Bây giờ đã quá trưa, các vị đi đường chắc là đói bụng. Nhà chùa thanh đạm chẳng có gì nhưng cũng mời tất cả các vị dùng cơm chay một bữa rồi hẵng nhổ sào cũng chưa muộn." Nói đoạn, chàng giục một chú tiểu bắc nồi thổi cơm và làm thức ăn. Nhìn thấy chú tiểu bắc một chiếc nồi tí tẹo lên bếp, lại thấy hoà thượng giết thịt một con chim sẻ thì viên võ tướng không nhịn được cười: "Bạch hoà thượng, chúng tôi đi đến đây có đến năm trăm quân sĩ. Nay hoà thượng cho ăn như thế chỉ sợ một người vẫn chưa thể nào hết thòm thèm, huống hồ là năm trăm người. Hiện nay lương thực còn ở dưới thuyền, xin để chúng tôi về tự lo lấy cái ăn, khỏi phải làm phiền đến cửa Phật." Nguyễn Minh Không đáp: "Các vị chớ ngại, nhà chùa tuy nghèo nhưng không để các vị phải đói đâu." Nói xong, quay ra đun nấu một tý rồi bảo quân sĩ sắp hàng theo từng đội ngũ, lần lượt vào nhận phần cơm. Quân sĩ lũ lượt từng người đến trước hai cái nồi đất tý hon xới cơm và gắp thịt chim sẻ vào bát. Không ai không ngạc nhiên vì từ hai cái nồi mầu nhiệm ấy bới hết bao nhiêu lại đầy ùn lên bấy nhiêu. Nguyễn Minh Không luôn luôn giục họ bới cho thật đầy để ăn cho rõ no. Và rồi chỉ trong một lúc, năm trăm quân sĩ dự xong bữa tiệc của nhà chùa thết.
Ăn xong, chàng bảo họ ai về thuyền nấy nghỉ ngơi trước khi nhổ sào tiến kinh. Cả tướng lẫn quân quay ra làm một giấc ngủ ngon lành. Nhưng khi tỉnh dậy, tất cả mọi người đều sửng sốt vì họ thấy mình đã đến bến Ngự từ lúc nào rồi. Nguyễn Minh Không theo viên tướng vào hoàng cung. Bấy giờ các pháp sư ngồi đầy cả điện Thái Hoà. Họ đang túm năm tụm ba vẽ bùa thử phép rì rầm khắp nơi. Thấy một nhà sư có vẻ quê mùa bước vào, họ liền bĩu môi: Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre. Chàng không nói gì, cúi đầu chào mọi người rồi rút trong tà áo ra lấy một cái đinh dài đóng sâu vào cột chừng một tấc, đoạn ngoảnh lại nói to lên, bảo mọi người rằng: Ai tay không nhổ được cái đinh này thì người ấy sẽ chữa lành bệnh cho Thiên tử. Nghe nói thế, các pháp sư đều chạy đến thử rút cây đinh nhưng chả một ai lắc nổi. Cuối cùng Nguyễn Minh Không bước lại dùng hai ngón tay khẽ rút ra như bỡn trước con mắt kính phục của mọi người. Thế rồi chàng đi thẳng vào nội điện, đến trước Long sàng. Lý Thần Tông bấy giờ đang nằm ngửa, xung quanh có đến hàng chục nội thị đang giữ lấy tay chân. Thỉnh thoảng bệnh nhân lại gầm lên và cố sức giãy giụa. Nguyễn Minh Không nhìn trừng trừng vào mắt bệnh nhân và nói lớn: "Còn nhớ cố nhân nữa không? Được làm con trời giàu có bốn biển mà cũng không thoát khỏi nghiệp báo ư?" Nghe nói, nhà vua bắt đầu có vẻ sợ hãi, nằm im thin thít. Chàng sai đặt trước sân điện một cái vạc lớn đổ thuốc và dầu vào, bắc nấu sôi lên sùng sục. Đoạn chàng xắn tay áo, thò tay vào vạc dầu quấy đều lên. Chàng ra lệnh vực vua lại gần rồi tự tay cầm gáo múc dầu trong vạc tắm cho vua. Dầu chảy đến đâu lông lá trôi đến đấy, da thịt nhà vua lại trắng trẻo như xưa.
Khi vua lành bệnh, triều đình không ngớt lời khen ngợi phép thần diệu của Nguyễn Minh Không. Họ y ước cắt đất phong thưởng, nhưng chàng không nhận, nói: Bần tăng vì một lời hứa với người bạn cũ chứ không phải vì phú quý. Đoạn bỏ về chùa cũ.

61. CHUYỆN ÔNG THÁNH GIÓNG
Thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một thân một mình. Một sáng, bà đi thăm nương, nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kinh ngạc kêu lên: Ồ! Bàn chân ai mà to thế này! Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Từ đó bà có mang. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lật, cũng không biết nói, cười gì cả. 
Ngày ấy có giặc Ân kéo sang cướp nước ta. Giặc Ân rất hung hăng tàn ác, cầm đầu là một tên tướng tên gọi là Ân Vương, hình dạng cổ quái dữ tợn. Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi. Vua Hùng lấy làm lo lắng, vội phái sứ giả đi khắp mọi nơi trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước. 
Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng: Con ơi! Con của mẹ chậm đi, chậm nói làm vậy thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây. Tự nhiên Gióng nhìn mẹ bật lên thành tiếng: Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con! Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người đổ tới, ai nấy cho là một sự lạ, sau cùng mọi người nói: Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì. Khi sứ giả của nhà vua bước vào thì nhìn thấy chú bé Gióng, liền nói rằng: Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây làm gì? Gióng trả lời rất chững chạc: Về bảo với vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt, và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!
Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn xong, nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách chở đến cho chú bé Gióng. 
Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con: Con ơi! Việc nhà vua không phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi, biết làm thế nào bây giờ? Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói: Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Mẹ hãy nấu cơm cho con ăn. Gióng ăn rất khoẻ, cơm nấu lên được nồi nào thì Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên khoẻ mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa, quả, bánh trái đến đầy sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu, mà Gióng vẫn đòi ăn không nghỉ. 
Sau đó, Gióng lại bảo: Mẹ kiếm vải cho con mặc. Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may quần áo cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt một cách kỳ lạ, áo quần may xong đã thấy chật, thấy ngắn lại phải mang lụa tới để chắp nối thêm, không mấy chốc đầu Gióng đã chạm nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc ấy quân sĩ đã hì hục khiêng đưa ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà, vươn vai một cái, bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét một tiếng như tiếng sấm:- Ta là tướng nhà trời!
Thế rồi Gióng mặc áo giáp, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng nhẩy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào, rung chuyển cả trời đất. Chỉ trong chớp mắt ngựa đã xông lên đồn trại giặc bấy giờ đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc tiến ra chừng nào chết từng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dẫy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Khói bụi mù mịt, tiếng la thét kêu khóc như ri. Nhưng tướng giặc Ân Vương vẫn cố gào thét hô quân xông tới, Gióng càng đánh càng khoẻ, thây giặc nằm ngổn ngang đầy rừng. Bỗng chốc gươm gãy, không bối rối, Gióng thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng nhào tới theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán khắp nơi. Ân Vương bị quật ngã tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng, quân đội của Hùng Vương cũng như dân làng chỉ còn việc xông ra trói nghiến chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn nước. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. 
Nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng Vương sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng Thiên Vương. 
Ngày nay chúng ta còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang tên làng Cháy, những cây tre mà Gióng nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi tre là ngà (hay đằng ngà).

62. ANH CHỒNG NGỐC
Xưa kia, trong một ngôi làng nhỏ tỉnh Bắc Ninh, có một người con gái nhà nghèo, đẹp, thông minh và đảm đang. Cha mẹ nàng làm quần quật quanh năm suốt tháng mà vẫn không đủ ăn, nợ mỗi ngày một chồng chất. Không còn cách nào khác, cha mẹ nàng phải gả nàng cho con trai phú ông trong làng để trừ nợ. Cưới rồi, hai vợ chồng ra ở riêng, ăn ở với nhau ba bốn năm, nàng hai lần đẻ chỉ nuôi được một. Tuy bận con mọn, nhưng công việc trong nhà từ lớn đến nhỏ, đều do nàng quán xuyến. Từ làm ăn, cày cấy, đến con lợn, con gà, không việc nào mà nàng không để mắt. Chồng nàng đần độn hết chỗ nói, ngày ngày chỉ biết ăn, rồi sai vợ đâu làm đấy. 
Một hôm đứa con nhỏ bị ốm, nàng phải ở nhà trông nom, nên chồng phải mang chó đi chợ bán. Anh ta không hiểu mua bán ra sao, nhưng chẳng có ai làm thay nên miễn cưỡng phải đi. Biết rõ chồng mình, nàng dặn đi dặn lại: Đến chợ, hễ ai người ta trả tám quan tiền ngay, quan tư tiền chịu thì bán. Nếu không được giá thì chịu khó dắt về, còn nếu được hơn thì càng hay. 
Phiên chợ ấy, có một cụ đồ ở trong vùng cũng đi. Vừa đến chợ, thấy một anh con trai bán chó, ai hỏi bao nhiêu tiền, cũng đều nói: "Quan tám tiền ngay, quan tư tiền chịu". Cụ nghĩ: "Anh này bán chó mà còn muốn cho họ mua chịu để nhân dịp đi đòi tiền mà thăm nó lần nữa, thật quả là người có nghĩa". Cụ liền dừng lại mua và bảo anh ta: Được, anh bán cho tôi. Ba hôm nữa anh đến nhà tôi mà lấy tiền. Làng tôi ở phía Bắc cái chợ này. Đầu làng là nơi "hữu thuỷ vô ngư, hữu ngư vô thuỷ". Đến đầu làng thì anh đi vào, thấy cái nhà nào ở gần đình mà "hữu kim vô chỉ, hữu chỉ vô kim", thì anh cứ vào. Đấy là nhà tôi. Theo đúng như lời vợ dặn, bán xong chó, anh ta về. Sợ quên mất lời ông cụ dặn, về nhà không biết cách nào nói với vợ, anh vừa đi vừa nhẩm: "hữu thuỷ vô ngư, hữu ngư vô thủy". 
Ba ngày sau, đứa con vẫn còn ốm, người vợ lại phải để chồng đi đòi tiền chó. Hôm ấy, anh không còn nhớ ông đồ nói sao và cũng không biết làm thế nào để tìm được nhà ông ta. Cơm nước xong người vợ lại phải trình bày cách cho chồng đi lấy tiền: Anh đi đến chợ, rồi đi theo con đường cái ở phía Bắc. Cứ đi mãi đến một làng, đầu làng có cái điếm canh treo một cái mõ bằng gỗ hình con cá, ngay bên cạnh, anh thấy có một cái giếng đá, thì cứ đi vào. Đến giữa làng, anh thấy cái nhà nào ở bên đình có bờ rào găng và có bụi tơ hồng thì đấy đúng là nhà ông cụ. Theo lời vợ dặn, anh ta tìm đến được nhà ông đồ. Thấy anh đến, ông đồ tấm tắc khen là thông minh, gọi người nhà làm cơm thết đãi, trong bữa ăn trò chuyện lân la, ông đồ mới biết rõ chuyện về gia đình anh, biết cả đầu đuôi việc đi bán chó và việc đi đòi tiền. Cơm rượu xong, ông đồ trả tiền cho anh đầy đủ và gửi anh một món quà mang về cho vợ.
Ở nhà, người vợ đang suốt ruột, thấy chồng về tiền nong đầy đủ, lại có cả quà nữa, nàng mừng khôn xiết. Mở gói quà và cắt ra ăn, nàng thấy một nắm cơm gạo tám thơm trắng tinh giữa có mấy quả cà ủng, nàng hiểu ngay cơm gạo tám xoan ăn với cà thiu thì thật đúng là tình cảnh của mình: "Tiếc thay hạt gạo tám xoan, thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà". 
Đêm ấy, nàng trằn trọc không sao ngủ được. Nghĩ tủi phận mình, nàng quyết định rời khỏi nhà, khỏi làng. Mờ sáng hôm sau, một tay bế con, một tay cắp gói quần áo, nàng ra đi. Ra bến sông, nàng không làm sao sang bờ bên kia được, vì chiếc cầu tre vẫn bắc qua sông mọi ngày ai đã kéo để trên bờ, thấy một cụ già cứ lom khom lội bì bõm dưới bến như đang tìm cái gì, nàng hỏi:- Cụ ơi! Cụ đang tìm cái gì đấy? Cụ làm ơn bắc giúp cái cầu cho cháu qua sông một tí?- Ông cụ trả lời:- Tôi đang bận tìm cái kim - Nàng vội nói:- Tưởng cái gì chứ cái kim mà cụ phải mất công mất việc đi tìm như vậy cơ à! Thôi cụ giúp cháu đi! Ông lão ngẩng đầu, nói giọng chân thành:- Cái kim này của bà nhà tôi để lại, khi mất bà nói dặn là đừng có đánh mất. Nó chẳng đáng là bao, nhưng lại rất quý. Vợ chồng ăn ở với nhau đã có con sống con chết thì phải chung thuỷ với nhau cho đến cùng chứ? Nghe cụ già nói, nàng đứng tần ngần hồi lâu, rồi thấy mình không thể đi được nữa, nàng lại quay về với chồng và từ đó nàng cố gắng khuyên răn chồng trở thành người khá giả.

63. NỮ HÀNH GIÀNH BẠC
Ngày xưa, vợ chồng một phú hộ giàu có nhất trong vùng, sinh được một người con trai lúc mười lăm tuổi cho theo học nơi nhà một ông đồ nho ở đầy làng. Tuy cha mẹ giàu có, nhưng anh chàng này bản tính ngu độn, thích chơi bời lêu lổng, học hành dốt nát, ai cũng chê. Vì nể tình gửi gắm của phú ông, cụ đồ gắng rèn luyện thế nào anh chàng kia cũng không khá lên được.
Lúc lên mười tám tuổi, tuy vẫn còn theo học nhưng vợ chồng phú ông muốn cưới vợ cho con để có người nối dòng. Vợ chàng là con gái một nhà nho, nhan sắc rất xinh đẹp, đã hay chữ mà tính nết lại đoan trang. Tuy biết người chồng học hành biếng nhác nhưng vì cha mẹ nàng thấy vợ chồng phú ông giàu có, muốn gả nàng cho con trai phú ông để có tương lai về sau. Do đó nàng rất buồn, gần đến ngày vu quy nhưng tâm hồn nàng rũ rượi. Chị em, bạn bè của nàng khuyên nàng nên làm vui lòng cha mẹ, sau đó sẽ khuyên chồng cố gắng học hành cho toại chí làm trai. Cuối cùng, cô gái quyết định lấy anh chàng dốt, nhưng sẽ tìm cách bắt chồng phải chăm học.
Sau lễ vu quy, nàng xin với cha mẹ chồng cho hai vợ chồng mình ở riêng một gian nhà nhỏ, rồi nàng đóng chặt cửa lại, bảo chồng phải chăm chỉ học hành cho kịp chúng bạn thì mới cho chung chăn chung gối. Người chồng tức tối bảo vợ: "Tôi học có kém ai đâu mà nàng lại bảo tôi phải theo kịp chúng bạn?" Người vợ nói: "Lâu nay mọi người đều nói chàng là kẻ biếng nhác, không chịu học hành, kém thua chúng bạn. Bây giờ muốn nên người phải đổi tính." Người chồng cự nự:"Tiếng thiên hạ lấy gì làm chắc mà nàng lại tin như vậy?" Người vợ nói:"Thôi được! Để thiếp ra một câu đối, nếu chàng đối được thì thiếp mở cửa mời vào chung nhau ân ái." Người chồng thúi giục:"Hãy ra câu đối mau đi! Ta không kiên nhẫn được nữa đâu." Người vợ ứng khẩu đọc:"Chồng phương Đông, vợ phương Tây, nín lặng cho hay, chớ lòng Nam Bắc". Sức học của người chồng làm sao có thể đối được loại câu đối như thế. Nhưng hắn làm bộ nghĩ ngợi, hẹn lại đêm sau sẽ ứng đối.
Đêm đó, hắn đành chịu ngủ riêng một mình ở nhà trên.
Sáng hôm sau, chàng đến trường rất sớm, kể lại nỗi lòng và hoàn cảnh của mình nhờ cụ đồ mách giúp. Cụ đồ chờ cho học trò về nhà hết, mới gọi chàng đến bảo: - Con cứ đối lại như thế này: "Trai phận Càn, gái phận Tốn, không nên cãi lộn trái đạo Càn Khôn". Chẳng may, lúc đó còn sót lại một người học trò vì bận chép bài nên vẫn chưa về. Hắn nghe lỏm được câu chuyện của bạn và câu đối mách giúp của thầy, liền học thuộc lẻn ra về. Hắn còn biết bạn mình ngu dốt, muốn học thuộc câu đối đó cũng phải mất một ngày.
Thật vậy, hôm đó cho đến lúc trời đã xẩm tối mà anh chồng vẫn cứ lẩm bẩm mãi vế đối thầy bày, lộn tới lộn lui, vẫn chưa nằm lòng. Vì vậy, chưa dám trở về nhà để thực hiện lời hứa với vợ đêm qua. Người bạn của chàng lại nhanh chân hơn, đợi lúc trời tối, lẻn đến nhà chàng, giả tiếng chàng nói:" Hôm nay thì ta đã nghĩ ra câu đối của tối qua rồi! Nàng nghe ta đối đây." Tiếp đó, hắn đọc rất rõ ràng. Quả nhiên, cô gái nghe câu đối tấm tắc khen hay và giữ đúng lời hứa, mở cửa cho người mà nàng lầm tưởng là chồng nàng vào buồng. Vì vợ chồng mới cưới, đâu đã quen hơi bén tiếng, nên nàng để cho hắn nước trước bẻ hoa. Mãi cho đến khuya, khi ong bướm đã no say, hắn tìm cách ra ngoài, rồi lẻn đi một mạch về nhà.
Đêm ấy, chồng nàng cho đến quá nửa đêm mới học thuộc câu đối, hí hửng trở về nhà, đứng trước cửa buồng vợ, gọi vợ ra nghe chàng đối. Người vợ kinh ngạc, hỏi:"Còn câu đối nào nữa vậy?" Người chồng đọc lại câu đối chàng vừa học thuộc. Người vợ nói:"Câu đối đó lúc chập tối đã đọc xong, sao bây giờ đọc nữa làm gì?" Nghe chồng nói từ đầu đến giờ chưa hề đến đây, lại nghe giọng nói hai lần khác nhau, nàng mới biết là mình bị mắc mưu một kẻ nào đó, tự cho là ô nhục, buồn bã khóc lóc suốt mấy ngày đêm rồi hổ thẹn thắt cổ tự vẫn. Chồng thấy vợ chết, không hiểu thế nào, vội đem kể lại câu chuyện cho cụ đồ nghe. Cụ đồ không khỏi kinh ngạc, đặt ra nhiều nghi vấn rồi tìm cách truy cho ra thủ phạm.
Ngày hôm sau, giữa lúc các môn sinh tề tựu đông đủ, cụ đồ tươi cười bảo các môn sinh: "Thầy vừa nghĩ ra một câu đối cũng vừa sức học của các con, nếu ai ứng khẩu đối được ngay, thầy sẽ trọng thưởng". Rồi cụ đọc luôn vế đối của cô gái nọ đã ra cho chồng. Trong khi những học trò khác còn đang nghĩ ngợi thì đứa bất lương phản bạn kia đã hí hửng đứng lên đọc nguyên văn câu đối mà hắn nghe lỏm được chiều qua. Lập tức, cụ đồ thét môn đệ bắt hắn trói lại, vạch tội hắn cho môn đồ biết. 
Cuối cùng, anh chàng phản bạn kia phải cúi đầu nhận tội. Trong khi tại nhà người phú ông đưa đám người dâu bạc mệnh, thì ở bên này người ta giải đứa học trò gian ác lên cửa quan. Lẽ ra đứa gian ác phải bị tội trảm quyết, nhưng nhờ cụ đồ xin khoan giảm nên chỉ chịu án chung thân và đền cho khổ chủ một giành bạc. Từ đó, trong dân gian có câu: "Nữ hành giành bạc".

64. CÁ BỐNG THẦN
Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em mồ côi, tính tình trái ngược nhau hoàn toàn. Người em chăm chỉ, hiền lành, thật thà còn người anh gian ngoan lại tham lam độc ác. Anh ta vơ vét hết tất cả những gì bố mẹ để lại, chẳng cho người em bất cứ thứ gì. Hàng ngày, người em phải vào rừng dùng que đào củ mài, củ nâu, xuống khe bắt tôm, bắt tép để ăn. Đêm, anh lại  trở về nhà người anh ngủ cùng với trâu với lợn.
Một hôm, người anh rủ người em ra sông tát cá. Người anh bắt người em be bờ, đắp đập, tát nước, còn mình thì bắt hết cá, chẳng để sót lại một con nào. Người em vừa mệt, vừa buồn. Bỗng có một con cá bống nhỏ, bơi dưới chân người em và cất tiếng nói: - Anh hãy bắt tôi đem về nuôi đi. Người em mừng rỡ vớt con cá bống lên, đem về nhà bỏ vào bát nuôi, nâng niu như trẻ nhỏ. Cá bống lớn rất nhanh. Qua ngày đầu tiên nó đã to chật cả cái bát, người em phải thả nó vào chậu. Ngày hôm sau nó đã lớn chật chậu. Người em phải đắp cái vũng to bằng nửa cái sân nhà cho cá vùng vẫy. Hai ngày sau cá lớn chật vũng. Người em đắp luôn một đoạn khe ở chỗ khuất và thả cá xuống. Chỉ vài ngày sau, cá lớn chật khe, to như một con trâu đực. Lúc này nó nói: - Tôi đã lớn rồi, tôi với anh hãy kết tình anh em đi. Chúng ta đi xuôi dòng kênh này một chuyến cho vui. Người em bằng lòng, thịt gà, thổi cơm trắng mang đi. Cứ đến bữa ăn, người em xé thịt và cơm trắng cho cá ăn, còn mình thì chỉ ăn xương gà với cơm cháy.
Một hôm, trời nổi mây to gió lớn, người em vô cùng lo sợ. Cá nói: Không sao đâu, trời sẽ không mưa. Anh hãy leo lên cây cao. Nếu thấy mây kéo ùn phía dưới, anh quay mặt về phía đó giả buồn rầu. Nếu mây ùn về phía trên nước, anh cười thật to là được. Người em nghe theo, trèo mãi lên ngọn cây cao. Khi mây ùn ùn phía dưới ngọn nước, người em mặt ủ rũ buồn rầu. Lúc thấy mây ùn ùn phía trên, anh cười vang. Tiếng cười dội vào vách núi vang như sấm. Bỗng anh nghe thấy tiếng gầm rú dưới khe. Quay lại nhìn thấy cá bống đã giết chết con thuồng luồng khổng lồ. Cá gọi: Người anh em ơi, xuống mổ bụng con thuồng luồng mà lấy của cải đem về. Người em làm theo và lấy được rất nhiều vàng bạc của cải. Về đến nhà, người em kể lại câu chuyện cho anh nghe và chia đôi số của cải lấy được cho anh. Lòng tham nổi lên, người anh không nhận số của cải mà người em cho, hắn đòi đi một chuyến cùng với cá. Người em miễn cưỡng cho anh mượn cá và dặn không được để cá chết.
Thế là người anh tham lam ra đi. Anh ta cũng được cá bống cho đi dọc khe chơi. Nhưng anh ta tham lam, ăn hết thịt gà và cho cá ăn xương, ăn lòng. Đến một khúc khe, trời cũng nổi cơn giông. Anh ta mừng quá, hỏi cá nên làm gì. Cá dặn anh ta như đã dặn người em. Nhưng vì mừng quá, nghe vội nghe vàng nên anh ta không nhớ rõ lời cá dặn. Đáng lẽ phải buồn ủ rũ thì hắn lại cười to, khi cần cười to thì hắn lại buồn ủ rũ. Con thuồng luồng vùng lên mà cá chưa kịp chuẩn bị. Thế là nó cắn chết cá bống. Người anh vô cùng tức giận đập vào đầu cá, trở về nhà. 
Về đến nhà, người em mừng rỡ chạy ra hỏi anh có lấy được nhiều của cải không, người anh cau mặt quát: - Mày nói láo. Cá của máy chết ngoài khe kia kìa. Người em nghe tin cá chết vội chạy một mạch ra ngoài khe. Đến nơi thấy xác cá cứng đờ, người em than khóc mãi. Hồn cá bống hiện về nói thoảng qua tai anh: - Người anh em đừng khóc nữa. Hãy chặt đầu tôi mang về chôn giữa sân, tôi sẽ có cách giúp được anh. Người em liền chặt đầu cá đem về chôn ở sân như lời cá dặn. Mấy ngày sau ở chỗ đó mọc lên cây tre rất cao. Người em ra gốc tre, nói: Tre định giúp ta cái gì thì nói đi. Cây tre nói: Khi nào nghe gió trên về, hãy nói: "áo sống ta đâu?", sẽ có áo đẹp. Khi nào thấy gió dưới thì kêu: "Bạc nén, nồi đồng của ta đâu?". Lúc đó sẽ có nhiều bạc nén, nồi đồng. Người em làm theo lời cá dặn nên được rất nhiều vàng bạc, áo quần. Người anh nổi máu tham chạy ra gốc tre. Thấy gió trên thổi hắn nói: Áo sống của ta đâu? Tức thì bao nhiêu rẻ rách trên trời rơi xuống. Thấy gió dưới nổi lên hắn thét: Bạc nén, nồi đồng của ta đâu? Trên ngọn tre bao nhiêu sọ người, xương bò rơi xuống đầu người anh tham lam, làm anh ta đau điếng. Tức giận, anh ta chặt luôn cây tre và về nhà mắng người em: Mày nói láo. Cây tre của mày là tre ma tre quỷ, tao chặt rồi. Người em chạy ra chỗ cây tre than khóc. Gốc tre nói với anh: Anh hãy đốt tôi rồi lấy tro đi vào rừng. Thấy vết chân con thú nào anh hãy rải tro lên và đi theo, con thú sẽ chết, anh tha hồ có thịt ăn. Người em làm theo và mang về rất nhiều thịt thú rừng. Người anh tham lam nghe tin, giật số tro còn lại của người em đem ra rẫy. Hắn rải tro khắp nới, thấy dấu chân chuột hắn cũng rải. Thấy dấu chân người hắn cũng rải vì nghi có kẻ trộm vào rẫy. Rải xong hắn hý hửng về nhà toan quét dọn nhà cửa để đi nhặt cọp, heo về. Về đến nhà, hắn thấy vợ và đàn con lăn ra chết giữa nhà. Hoảng hốt, hắn chạy ra rẫy. Té ra, những dấu chân hắn nghi là trộm lại chính là dấu chân của vợ con hắn. Hắn như điên như dại lấy nốt số tro còn lại rải lung tung, rải lên cả dấu chân của mình. Thế là chưa kịp về đến nhà hắn đã lăn ra chết. Người em nghe tin anh chết, vẫn lo lắng ma chay cho anh cho trọn tình trọn nghĩa. Từ đó người em sống yên ổn làm ăn cùng bà con xóm giềng.

65. CHIẾC ĐÈN DƯỚI HANG SÂU
Gia đình kia có chồng mất sớm, để lại cho người vợ goá đứa con trai tên là Páo cùng một túp lều xiêu vẹo giữa rừng sâu, sát chân núi đá đen cao ngất hiếm vết chân người. Ngày ngày hai mẹ con phải đi kiếm củi bán lấy tiền nuôi thân lần hồi. Páo leo trèo rất tài giỏi, nhanh như con khỉ, núi cao mấy anh cũng đã tới, hang sâu mấy anh cũng đã lần xuống. Những buổi kiếm củi xong còn sớm trời, chàng đi hái quả rừng, đi bắt chim, bẫy thú, tìm thức ăn thêm cho mẹ. Hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sống. 
Sớm ấy, như thường lệ, hai mẹ con Páo đi rừng, lần tới trái núi phía Tây thì gặp người đàn ông to lớn, cằm to bành, râu quai nón rậm rì, đôi mắt đang soi mói như muốn tìm vật gì. Thấy hai mẹ con Páo, người lạ mặt giữ lại, niềm nở đưa thuốc mời hút, mở túi đeo lưng lấy xôi thịt ra mời ăn. Người đàn ông nhìn Páo, ngắm thân hình cường tráng của chàng trai hồi lâu rồi hỏi:- Cháu có thương mẹ cháu không? Câu hỏi đột ngột, nhưng Páo đáp như lòng mình vẫn nghĩ:- Có chứ! Có mẹ phải thương mẹ, có bố phải thương bố! Người lạ mặt gật gù chỉ tay phía trước bảo Páo nhìn vào khoảng lưng chừng trái núi đá trắng rồi tiếp:- Ở đó có cái hang rất sâu. Chắc cháu chưa xuống lần nào, ta đã đi qua đấy, lỡ tay đánh rơi chiếc đèn thờ xuống đó. Đó là cái đèn quý, là vật của người già để lại nên ta rất tiếc. Ta già rồi, không còn sức lực leo trèo nữa nên cháu xuống lấy lên được thì đòi bao nhiêu tiền ta cũng không tiếc. Ông ta nói một hồi, rồi lại kéo hơi thuốc dài.- Có thế thôi à! Xuống hang có gì là khó. Páo thản nhiên nói.- Ta đi ngay chứ? Người đàn ông hỏi đôi mắt sáng ngời. Páo gật đầu, chàng bảo mẹ đeo củi về trước, Páo cắt dây rừng thành cuộn lớn vác đi. Suốt đường dài leo núi, người đàn ông luôn miệng kể cho Páo nghe các chuyện lạ trên trời, dưới đất, trong thiên hạ, Páo quên cả dốc núi cao. Chẳng mấy chốc hai người đã tới miệng hang. Páo buộc một đầu dây vào bụng mình, một đầu để người đàn ông cầm và đứng trên miệng hang. 
Hang sâu thăm thẳm, càng xuống càng như đi vào đêm tối, mắt không nhìn thấy được mà phải sờ tay lần các đá, chân cũng dò dẫm từng bước khá vất vả. Càng xuống càng lạnh, thành đá ẩm ướt nhiều. Páo vẫn lần mò, hang sâu quá, anh đã hơi ngại lại rờn rợn. Nhưng mỗi lần nghĩ đến cảnh mẹ già vẫn còn lưng đeo củi, chân tay run rẩy, Páo thương mẹ, anh lại cố gắng lần bước. Anh dò dẫm bước, lối đi hẹp dần, đường rất trơn, mỗi lúc càng khó đi hơn. Bỗng trước mặt Páo le lói một đốm lửa vàng nhỏ, Páo dụi mắt xem thực hay giả, đúng là ngọn đèn còn đang sáng. Nhìn kỹ, Páo thấy gần ngọn đèn là một hình thù lù lù như đang động đậy. Một con thú rừng đang hướng vào ánh sáng. Páo rút dao rừng, len lén bước tới. Thì ra hình thù không phải là con vật khổng lồ nguy hiểm nào cả mà chỉ là ông già gầy guộc đang nằm nghỉ. Đốm lửa vàng nhỏ là một ngọn đèn nhỏ. 
Páo đằng hắng, khẽ chào rồi ngồi xuống trước mặt ông cụ hỏi chuyện. Người già hơi bỡ ngỡ, nhưng rồi nét mặt ông bừng lên rạng rỡ. Cụ ở đây cô độc đã lâu năm, lâu lắm cụ chẳng được nghe tiếng người, chẳng có ai trò chuyện đỡ đần thân già. Ông cụ muốn Páo ở làm con nuôi. Trong hang ông cụ cái gì cũng có sẵn, gạo, thịt, bắp, vải, chỉ thiếu bạn. Trước cảnh ấy, Páo bằng lòng ở giúp cụ và nhận làm bố nuôi. Thế là từ đấy trong hang thăm thẳm, có hai con người biết thương nhau nên cuộc sống cũng gọi là vui. Páo vẫn giữ tính nết của mình. Chàng chăm chỉ làm lụng, không kể một việc gì. Bố nuôi ngày càng quý chàng trai nghèo có nhiều đức tính tốt. 
Thấm thoát đã bốn năm. Páo thấy nhớ mẹ, nhớ quê, xin về mặt đất. Bố nuôi gọi con tới bên giường bảo:- Bốn năm qua con giúp ta thật nhiều việc, nay con về lấy gì bố cho. Páo nghĩ tới cái đèn, anh ngờ rằng đèn không phải là của người lạ mặt đánh rơi. Đèn không bị méo bẹp, vậy tại sao mà người đàn ông đó lại thích chiếc đèn đó. Hẳn không phải đèn thường, anh ngỏ ý xin cái đèn nhỏ. Ông cụ cười đáp:- Tưởng con cần cái gì. Cái đèn là vật tầm thường đối với ta. Nhưng có nó thì đời con sẽ đỡ khổ đấy. Con phải biết cách giữ mới được. Páo giắt đèn vào thắt lưng, chào bố nuôi, lòng khấp khởi ra về. Đến chỗ sáng, nhìn lên thấy bầu trời, anh biết là đã tới chỗ hẹn xưa. Đoạn dây thừng vẫn treo lơ lửng. Anh cầm dây dứt dứt mãi. Người lạ mặt tin rằng Páo gặp tai nạn nên đã bỏ đi từ lâu. Páo vòng đi vòng lại tìm đường lên, tìm mãi mới về được khu rừng cũ với mẹ.  Páo kể cho mẹ nghe biết bao nhiêu chuyện lạ. Mẹ mừng con đã khôn lớn. Con mừng mẹ vẫn còn sống bình yên. 
Cầm đèn, anh ước một toà nhà đẹp. Tức khắc, trên mảnh đất hai mẹ con đang đứng, đã sừng sững một toà nhà lớn. Ngôi nhà sang trọng, đồ đạc chẳng thiếu thứ gì. Nhìn chỗ này thức ăn đầy chảo, nhìn chỗ kia chum rượu bốc men thơm. Tới góc này, chăn màn đầy đủ, tới góc kia guồng sợi sẵn sàng. 
Nghỉ ngơi, ăn uống vài ngày cho lại sức, mẹ con Páo bàn chuyện tương lai. Páo đã lớn, cần lập gia đình. Mẹ tìm cho con cô gái đẹp người đẹp nết. Con ưng ý, thế là nhà thêm nàng dâu. Páo có thêm một người bạn nữa mà anh ước từ lâu nay. Đó là một chiếc khèn. Đã là trai H'Mông thì phải biết múa khèn. Đó là tiếng hát của người già để lại cho con cháu. Tiếng khèn bay xa, bay gần, êm ru như cuộc đời tươi đẹp của gia đình Páo. Nhưng một hôm người đàn ông lạ mặt, dáng điệu hung dữ năm xưa đi qua khu rừng cũ. Thấy toà nhà đồ sộ hắn nghi ngờ. Hắn vờ rẽ vào xin nước uống và hút thuốc để xem mặt chủ nhà. Thì ra chủ nhà không phải người xa lạ. Hắn biết Páo đã chiếm được cây đèn thần. Nhưng mẹ con Páo không nhận ra hắn được vì hắn đã giả trang trong bộ quần áo rách rưới và bộ mặt lem luốc như người vừa đốt than ra. Từ hôm đó, cứ bộ mặt và quần áo ấy, hàng ngày hắn vào nhà, khi thì xin nước, khi thì ngồi hút thuốc, khi thì ngả lưng nghỉ ngơi chốc lát trò chuyện thân mật như người trong nhà. 
Hắn nghe ngóng dò la, dịp may đã đến. 
Đúng hôm Páo cưỡi ngựa đi dự đám ma xa nhà thì người đàn ông lạ mặt giả làm lái buôn, buôn đèn cũ. Vợ Páo biết chuyện ngạc nhiên lắm. Chị tưởng mình nghe nhầm. Hỏi lại cho rõ, chị vào đầu giường mang cây đèn cũ ra đổi lấy đèn mới sáng hơn, đẹp hơn mà chẳng mất gì. Người lạ mặt cầm cây đèn cũ vừa bước ra khỏi nhà thì giông bão chợt nổi lên ầm ầm. Cây cối bật rễ đổ ngổn ngang. Bà cụ kinh hãi chạy ra cửa xem trời, bị ngay một nhánh cây cổ thụ gãy đè chết, mây đen kéo đến ùn ùn. Đang lúc mù mịt, toà nhà đẹp đẽ của Páo bay biến mất, trở lại cái nền không, người lạ mặt ép vợ Páo lấy hắn. 
Mấy ngày sau Páo về, anh tưởng mình lạc lối, anh cưỡi ngựa quanh co mãi cũng chỉ luẩn quẩn với rừng cây và núi đá. Anh biết rằng chiếc đèn quý đã mất. Mẹ đâu? Vợ đâu? Không ai biết, không còn cách nào khác, ngày ngày anh lại kiếm củi sinh sống. Đốn cây, anh tìm thấy xác mẹ. Lòng đầy oán hận kẻ bạc ác, anh nuốt nước mắt chôn cất mẹ, nhưng vợ anh có còn sống hay đã chết cũng bi thảm như mẹ?
Củi mỗi ngày một rẻ, đem đổi không đủ bắp ăn. Páo rời nơi hoang vắng đi qua ngọn núi, tới xóm kia tìm nhà giàu nhất vào xin làm thuê. Nhà này thật lắm của và sang trọng chưa từng thấy. Đó là một khu nhà hẳn hoi. Chủ nhà ở riêng trên tầng gác, người làm thuê ở riêng túp lều bé nhỏ góc vườn. Chuồng bò, chuồng ngựa, chuồng dê, đều dựng cách biệt ở một nơi. Lúc nào Páo cũng có việc: Đi lấy củi, lấy rau, vác nước, lên nương, quét sân, đuổi bò, cắt cỏ ngựa. Người ở và chủ nhà không bao giờ gặp mặt nhau. Ngay cả hôm đến xin làm cũng chỉ có một người coi cơ ngơi thuê Páo. Ba năm liền trôi qua như thế. 
Hôm ấy ông chủ đi vắng. Đang dịp giáp hạt. Bắp ở kho dưới nhà đã hết, phải lên kho trên gác chuyển xuống. Páo gặp bà chủ nhà mà không biết. Bà nhìn Páo không rời mắt, bà nhận ra người chồng cũ quý mến của mình, Páo ngờ ngợ mãi sau mới nhận ra đúng là vợ mình. Vì ăn uống sung sướng cô béo đẹp ra, mặc áo váy mới trông cô lộng lẫy khác hẳn người trong xóm bản. Vợ chồng Páo mừng mừng tủi tủi, vội kể cho nhau nghe câu chuyện từ khi xa cách. Chiếc đèn thần cũ kỹ lão chủ giấu kín lắm, không sao tìm được. Nhà có nhiều buồng, chùm chìa khoá không lúc nào rời tay lão. Chỉ còn cách lấy được chùm chìa khoá đó mới xong. Vợ chồng thương nhau không dám khóc, không dám ngồi lâu, phải bàn mưu tính kế. Người vợ chợt nhớ ra lão có bình rượu quý chôn đã hai năm trong vườn, rượu ấy lão quản lý cũng không biết, ngoài vợ chồng chủ nhà. 
Xẩm tối, Páo ra vườn đào bới chỗ vợ dặn, lấy được bình rượu, anh buộc vào đầu dây cho vợ kéo lên gác. Đêm ấy, lão chủ đi xa về, vợ Páo mổ gà, rót rượu quý ngọt ngào mời lão uống. Rượu thơm, đi xa về mệt, ngọt giọng lão chủ cứ uống liên hồi. Nhưng chỉ lát sau đĩa thịt gà chưa vơi, lão bỗng ngã lăn ra, mép sùi bọt, giẫy lên chết tức khắc vì rượu đã pha thuốc độc. 
Vợ chồng Páo dò chìa khoá mở được cửa chiếc buồng con góc nhà. Chiếc phòng từ trước đến nay không ai được đến gần ngoài lão già. Lão gian ngoan đã giấu chiếc đèn ước trong đó. Cầm lại đèn, Páo bèn ước nhà cửa của cải bay về quê cũ, chốn rừng xanh núi đá tai mèo mình vẫn ở từ nhỏ với người mẹ đáng thương đáng quý nay không còn nữa, vì lòng tham của lão già lạ mặt. Từ ấy vợ chồng Páo yên hưởng hạnh phúc.

66. CÔ BÉ CHĂN VỊT
  Xưa có một tên vua rất tàn bạo, rất sợ người ta tranh mất ngôi báu của mình, vì thế ngày đêm chỉ lo tìm giết những bậc anh hùng tài giỏi để ngừa hậu hoạ. Mùa nào, vua cũng bày ra những cuộc đấu kiếm, đấu quyền để tìm ra những trang anh hùng hảo hán có võ nghệ cao cường nhất đem về triều, giả bộ phong chức cao quyền trọng, nhưng một ngày nào đó vua nhằm bỏ thuốc độc cho chết đi. Không những nhà vua rất sợ những anh hùng hào kiệt, mà còn sợ cả những người phụ nữ tài giỏi. 
Một hôm, một nhà tiên tri vào chầu nói rằng sao nữ tinh xuất hiện ở phương Nam, sẽ có một nữ tướng tài giỏi chuẩn bị lên trị vì thiên hạ. Nghe thế, vua lấy làm sợ hãi, liền sai người đi về phương Nam tìm cho ra người trong đám phụ nữ để ám hại. 
Nhà vua có ba người con trai. Hai hoàng tử đều đã có gia đình. Hoàng tử ba là người có đức, nhưng còn đang kén vợ. Nhà vua bèn dùng hai nàng dâu của mình đảm nhiệm việc đi tìm người tài còn lẩn khuất trong dân gian, nói là để phong thưởng. Hai nàng dâu nhận lời, họ cải trang đi khắp chợ búa làng xóm, nhưng đã mất nhiều công sức mà vẫn chưa thấy ai là người xứng đáng. Một hôm, nhân ngày phiên của một chợ lớn phương Nam, hai nàng dâu lại khăn gói ra đi. Sắp lên đường, nhà vua đã chủ ý sẵn, gọi họ lại dặn mua cho mình hai món hàng, một thứ là "Xoòng lắp hà", và một thứ là "Hà lắp xoòng". Hai chị em không hiểu là cái gì, nhưng ngại không dám hỏi lại, vì sợ vua cho là dốt nát. Hai nàng quay về hỏi chồng. Hai hoàng tử cũng ngơ ngác lắc đầu, họ đành ra chợ để tìm hỏi những người mình gặp. 
Trên đường đi chợ, hai chị em suy nghĩ mãi, hết đoán ra cái này lại đoán ra cái kia, nhưng không sao đoán đúng. Ra đến chợ, hai nàng lần lượt hỏi tất cả những người bán, những người mua, hỏi đến cả những người đi chợ, mà không ai biết là cái gì. Chợ tan, hai nàng rất lo về mà không mua được hàng cho vua cha thì có khi mất đầu. Hai chị em bèn quyết định đi nữa để hỏi được mới dám trở về gặp lại vua cha. Vì thế khi ra khỏi chợ hai người lần theo con đường dẫn về một làng nọ ở một nơi hẻo lánh. Dọc đường, gặp người nào, hai nàng cũng đem cái "Xoòng lắp hà" và cái "Hà lắp xoòng" ra hỏi. Nhưng tất cả những người gặp trên đường chưa có ai giải đáp được. 
Một hôm, đi qua một cánh đồng, hai nàng gặp một cô chăn vịt. Cô bé tuy ăn mặc rách rưới, nhưng mặt mũi trông dễ ưa. Hai chị em dâu đến gần lân la hỏi chuyện. Cô bé niềm nở mời hai vị khách lạ về nhà tiếp đãi tử tế. Hai nàng tuy thấy cô bé mới mười sáu, mười bảy tuổi, nhưng nói năng rất hoạt bát, xử sự lễ độ, nên cũng đem lòng yêu mến. 
Qua câu chuyện, hai nàng nhắc đến việc đi mua cái "Xoòng lắp hà" và cái "Hà lắp xoòng" mà chẳng ai biết là cái gì. Nghe nói, cô bé mỉm cười:- Chỉ có thế thôi sao không ai biết cả nhỉ. Có khó gì đâu. Hai chị em dâu như người đi đêm gặp ánh lửa, liền mở túi đặt vào tay cô bé chăn vịt hai mươi lạng bạc, nói: - Cô bé biết món hàng ấy ư? Ồ quý hoá quá! Nếu cô em biết, cô em làm ơn giúp chúng ta mua hai thứ đó. Ơn ấy chúng tôi không quên. Bây giờ xin biếu cô em chút bạc này.
Cô bé rụt tay lại và nói: - Chỗ chị em ta, bây giờ em giúp hai chị, khi có hoạn nạn thì hai chị lại giúp em, có làm sao đâu, còn tiền bạc thì em không lấy. Bây giờ xin chỉ cho hai chị biết hai thứ hàng mà hai chị cần mua, một thứ "Xoòng lắp hà" là thứ chụp từ trên xuống, đó là cái mũ đội đầu, có phải mũ thì chụp từ trên xuống không. Một thứ là "Hà lắp xoòng" là chụp ở dưới lên, đó là đôi giày, có phải giày chụp từ dưới lên không? Hai chị em dâu nghe nói như chợt tỉnh giấc mê cùng "Ồ" lên một tiếng reo vui. Đoạn nói với cô bé: - Cô em thật là thông minh và tốt bụng. Nếu sau này cô em cần gì, hay có gặp hoạn nạn gì, chúng tôi sẽ hết lòng giúp đỡ. Nói rồi hai nàng từ biệt cô bé chăn vịt trở lại chợ, mỗi người mua một thứ hàng về cho vua cha. Vua rất ngạc nhiên, không ngờ rằng hai con dâu của mình cũng là bậc anh tài. Nhưng vua cũng tỏ ra nghi ngờ. Một lúc lâu vua hỏi: - Hai con mua được hai thứ đúng ý ta. Chẳng hay hai con làm thế nào mà biết được. Hai chị em trước định giấu nhưng thấy vua cha hỏi với đôi mắt khác thường, nên không dám quanh co nữa, đành kể lại câu chuyện cô bé chăn vịt cho vua nghe. Nghe rõ ngọn ngành, nhà vua liền sai quân lính đi cùng hai nàng dâu đón cô bé chăn vịt về làm dâu thứ ba. 
Bỗng nhiên được người vợ giỏi giang, hoàng tử rất vui mừng. Hai vợ chồng yêu nhau rất thắm thiết. Thực ra việc vua cho đón cô bé chăn vịt về làm dâu không phải là thật bụng, mà là chỉ âm mưu. Vua muốn tạm giam giữ nàng ở trong cung để xem thử có phải là nữ tướng ứng với nữ tinh xuất hiện không, nếu thực thì sẽ ra tay ám hại. Nhà vua không bao giờ quên lời nhà tiên tri: "Ngôi sao nữ tinh chiếu rọi ở phương Nam, sớm muộn có vị nữ tướng lên trị vì thiên hạ", như vậy ngôi báu sẽ không còn. Tất cả mọi người, kể cả hai chị dâu đều không ai thấy rõ cái bụng dạ nham hiểm của nhà vua. 
Thấy cô bé chăn vịt được chọn vào cung, hai chị dâu vui mừng. Ba người đi lại chơi bời với nhau rất đằm thắm. Từ khi cưới về, hàng ngày vua bắt nàng dâu ba phải luôn luôn túc trực bên hoàng hậu, cấm không được đi lại giao thiệp với các vợ quan, vì vua rất sợ nàng biết những chuyện xằng bậy của mình. Về phần cô bé chăn vịt, từ ngày về làm dâu, đã nhiều lần tỏ ra khôn ngoan hơn người. Vì vậy nhà vua lại càng gờm. 
Một lần, biết vua sai viên quan hầu cận bỏ thuốc độc cho hai chục tráng sĩ bị giam trong ngục tối, nàng liền đến can ngăn: - Nước muốn mạnh thì triều đình phải có nhiều người tài. Ngôi vua muốn được giữ vững thì phải có nhiều anh hùng phò tá. Con nghe nói hai mươi tráng sĩ nọ là bậc hiền tài hơn đời, cớ sao vua cha lại định giết hại người ta? Nghe nàng dâu nói vậy, vua không những không chịu nghe lời, mà còn nổi giận quát mắng om sòm. Nàng dâu ba thấy vậy, liền đem chuyện ấy ra nói với một số quan trong triều. Các quan cũng đồng thanh tâu lên vua nên từ bỏ cái việc ngầm giết hại người hiền. 
Đến đây, nhà vua không nén nổi lòng giận nữa. Vua bèn ra lệnh cho đem nàng dâu ba ra hành hình. Hoàng tử ba biết tin vội vàng quỳ lạy xin vua cha mở rộng lòng thương, tha tội cho vợ mình. Nhưng vua mặt đỏ như gấc chín, mắt long sòng sọc vẫn không nguôi cơn thịnh nộ. 
Giữa lúc ấy, hai nàng dâu chị về tới cung. Nghe tin, hai nàng vội vàng dập đầu xin vua tha tội cho em dâu. Nhưng vua vẫn khăng khăng không chịu rút lệnh. Hai nàng dâu chị nói: - Nếu vua cha giết em chúng con thì chúng con cũng xin thắt cổ chết theo. Trước thái độ kiên quyết của hai nàng dâu, nhà vua đành nhượng bộ rút lệnh về. Vua sợ hai nàng dâu chị chết thì sẽ mất hai người giúp việc riêng cho mình. Vua cũng sợ các quan triều thần nên không sai bỏ thuốc độc giết hại hai chục tráng sĩ nữa. Tuy vậy, không nguôi giận, nhà vua rắp tâm định giết lén lút nàng dâu ba cho khỏi hoạ về sau. 
Một năm, trong nước có nạn giả chan (tiếng Tày: Yêu tinh ăn thịt người), một đoàn gần năm chục giả chan kéo về kinh thành, ngày đêm rình bắt trẻ con đem đi ăn thịt, lùng bắt người già đem đi hút máu. Nhân dân trong kinh thành vô cùng sợ hãi, nhà vua sai các tướng giỏi mang quân đi đánh. Nhưng đã hơn một tháng, các tướng vẫn chưa dẹp được đoàn yêu tinh ghê gớm ấy, mỗi khi bị kiếm sắc chém vào người, nó liền thè lưỡi ra liếm làm lành ngay vết thương. Các quan văn võ đành bó tay, đoàn giả chan càng được thể ra sức tung hoành. Trăm họ ngày càng chết nhiều, phố xá vắng dần người qua lại. 
Đoàn giả chan đã bắt đầu xông đến cửa cung doạ dẫm. Các triều thần văn võ, các tôn thất, từ hoàng hậu cho đến các cung phi, mỹ nữ đều run cầm cập. Họ trách vua đã giết chết nhiều bậc anh tài có phép thuật để đến nỗi bây giờ không có ai đương nổi giả chan. Quân quan chết như rạ. Tin cấp báo bay về từng giờ, từng phút, yêu cầu nhà vua cho các tướng tài ra dẹp loạn. Ai nấy đều lấm lét nhìn nhau, mặt xanh như tàu lá. 
Thấy nguy cấp, nhà vua vội sai khua chiêng gọi các quan hội họp. Trước đông đủ mọi người, vua phán: - Nay giặc đã đến kinh thành, không lẽ ngồi mà chịu chết. Một lần nữa ta ra lệnh có ai dám vì nước mà ra dẹp loạn giả chan không? Ai dẹp được sẽ được phong tể tướng đầu triều, tước cao, lộc hậu. Các quan phần nhiều là nịnh thần, không một ai dám hé miệng nói nửa lời. Chờ một lúc lâu, không thấy ai, nhà vua lại phán: - Nay các tướng võ, các quan văn đều chịu bó tay. Vậy trong ba cung sáu viện của ta có ai dám vì ta cứu nguy cho xã tắc không? Ai dẹp được giặc, dù là phụ nữ ta cũng phong thưởng như trên. Nghe nói thế, nàng dâu ba lập tức đứng dậy xin đi. Nhà vua và các triều thần hết sức mừng rỡ, ca ngợi nàng như một vị anh hùng. Vua hỏi: - Cần bao nhiêu quân? Nàng đáp: - Con chỉ xin vua cha thả hai chục tráng sĩ còn bị giam đi theo con. Ngoài ra không cần gì nữa. Tối hôm ấy, nhà vua sai người dọn tiệc thết đãi nàng dâu ba và hai chục tráng sĩ trước ngày ra trận. 
Bữa tiệc kéo dài tới nửa đêm. 
Khi nàng dâu ba đi ngủ, chợt trông thấy một ông cụ già, đầu tóc bạc phơ, chống chiếc gậy trúc, tay cầm một thanh bảo kiếm, lách cửa tiến vào cạnh giường nàng. Ông cụ nói:- Ta nghe tin ngày mai con và các tráng sĩ ra trận dẹp loạn cho muôn dân. Ta tặng con thanh kiếm này để diệt trừ yêu quái. Nói xong, ông già đặt thanh kiếm lên đầu giường nàng rồi biến mất. Nàng dâu ba tỉnh dậy cầm thanh kiếm lên mân mê một lúc, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. 
Sáng hôm sau, nàng ba dậy sớm. Nàng nai nịt gọn gàng, rồi cầm thanh kiếm dẫn đầu hai chục tráng sĩ, gươm giáo chỉnh tề ra đi. Họ vừa ra khỏi cửa cung thì đã thấy đoàn giả chan đang lố nhố đi đến, nàng chỉ thanh kiếm thét gọi: - Này lũ yêu quái kia! Muốn sống hãy mau quay gót về rừng! Lũ quân giả chan nhìn thấy nàng dâu ba cầm thanh kiếm trong tay, không đứa nào dám ra nghênh chiến. Thừa dịp hai chục tráng sĩ xông ra tiêu diệt chúng. Võ nghệ của họ đã làm cho bọn yêu tinh tan xương, nát thịt, không kịp thè lưỡi để liếm cho sống lại. 
Thấy quân của mình đã chết hầu hết, chúa yêu tinh lồng lộn. Hắn gầm thét. Tiếng gầm thét của hắn làm vang động cả trời đất. Rồi hắn thò tay rút ở trong áo ra một chiếc gậy ngắn, một đầu đỏ một đầu vằn. Hắn chỉ đầu đỏ vào lũ giả chan, lũ giả chan lần lượt sống lại. Các tráng sĩ lại xông tới quần nhau với chúng. Trận đánh trở lên quyết liệt. Giả chan chúa chỉ đầu gậy vào tráng sĩ nào, tráng sĩ ấy lăn ra chết giấc. Thấy thế nguy, nàng ba nhanh tay xả ngay cho hắn một nhát kiếm, hắn bị xẻ làm đôi. Đoạn nàng đến gần xác hắn nhặt lấy cây gậy rồi chỉ vào các tráng sĩ làm họ sống lại. Còn lũ giả chan chưa chết thì kéo nhau bỏ chạy. Các tráng sĩ đuổi theo tiêu diệt gần hết. 
Chỉ trong một buổi chiều, nàng đã cứu sống được hàng ngàn quân và dân bị giả chan đánh chết. Phố xá trở lại đông đúc. Dân chúng ai nấy đều cảm ơn nàng đã cứu sống họ ra khỏi cơn nước lửa, họ reo vang rội, rủ nhau làm kiệu rước nàng vào cung. 
Thấy nàng dâu ba thắng trận trở về, lại được trăm họ tung hô, nhà vua sợ nàng báo thù, lo lắng hộc máu chết tươi. Triều thần bèn tôn nàng lên làm vua trị vì trăm họ. 
Từ đó thiên hạ trở lại yên vui, nước nhà trở nên thái bình.

67. VIÊN NGỌC THẦN
Ngày xưa, có một người tính tình thật thà, ngay thẳng, thấy ai bị hà hiếp, dù thiệt mình anh vẫn cố sức bênh vực. Ai thế yếu cô đơn, anh đều sẵn lòng giúp đỡ. Vì vậy, bọn nhà giàu trong vùng rất ghét anh. Chúng tìm cách lấn át, chèn ép. Anh phải bỏ nhà vào núi ở, lấy nghề săn bắn thú làm vui. Tuy tình cảnh khốn đốn, anh không bao giờ giết những con thú chửa hay đang nuôi con, thà vác ná về không, chứ anh không bắn bất cứ con gì nhất là lúc con cái và con đực đi sóng đôi. 
Đi săn nhiều năm, anh thuộc núi rừng như thuộc ngõ ngách trong làng, nhận ra những con hươu con nai thường gặp. Trong những con vật anh thường trông thấy, có hai vợ chồng con rắn. Hai con rắn to như cây chuối, da đen như than. Dài đến mấy sải, cùng ở chung trong một hang đá rất sâu. Sáng nào vợ chồng nó cũng đưa nhau đi kiếm ăn. Mỗi khi con rắn cái thay da, con rắn đực tha mồi về tận hang. Mùa đông năm đó, đến lượt con rắn đực thay da, nằm yên một chỗ. Bỗng con cái thay lòng đổi dạ. Nhân con rắn chồng ốm yếu, con rắn cái theo con đực khác, rồi định đưa con rắn đực ấy về hang cắn chồng. 
Thấy hai con rắn kia xấu xa, anh thợ săn căm ghét, đến ngồi rình trước hang, định giết cả hai con. Nhưng khi chúng nó đến anh chỉ kịp bắn con cái. Con rắn đực chạy thoát vào rừng. Chờ đến bữa ăn, không thấy vợ tha mồi về, con đực thay da bò ra cửa hang đón. Trông thấy vợ chết, mắt bị một mũi tên xuyên qua, con rắn đực biết người thợ săn vẫn gặp hàng ngày bắn vợ mình, nên chờ dịp báo thù. Khi đã thay da xong, nó bò đến cửa nhà anh thợ săn nằm chờ. Cũng tối hôm đó, anh thợ săn ngủ không ngon giấc. Mới nửa đêm đã tỉnh, nằm mãi không ngủ được, anh đánh thức vợ dậy, kể chuyện con rắn cái "ăn ở hai lòng" và đã bắn chết nó để cứu con rắn đực đang thay da. 
Con rắn đực nằm ngoài cửa nghe rõ mọi điều. Bây giờ nó mới hiểu được anh thợ săn cứu nó thoát nạn, nếu anh không bắn chết vợ nó thì nó đã bị vợ cùng với con rắn đực kia cắn chết rồi. Từ mắc oán sang mang ơn, con rắn cúi đầu, lách mình chui qua khe cửa nhà anh thợ săn, nghe động, anh thợ săn choàng dậy, vớ cái ná. Trông thấy con rắn anh giương ná lên toan bắn. Nhưng con rắn đang thu mình, nằm co đầu cúi xuống, không lè lưỡi. Nó gật đầu mấy cái liền, thả ra một viên ngọc, rồi lặng lẽ chui ra. Anh thợ săn nhận ra con rắn vẫn gặp thường ngày liền đến nhặt viên ngọc lên xem. Người thợ săn rất đỗi ngạc nhiên, cầm viên ngọc, anh nghe tiếng của lũ muỗi nói trong đêm tối, tiếng của lũ kiến đang giục nhau đào hang, và xa xa tiếng lũ chim đêm gọi nhau sợ lạc đàn. Rồi anh nghe rõ cả tiếng con rắn đực nói "đền ơn cứu sống, trả nghĩa công bằng". 
Một hôm, anh bắn được con bò rừng rất to, vợ chồng đang ra tay xẻ thịt phơi khô thì một đàn quạ bay đến sà xuống cướp. Anh gào rát cả cổ mà lũ quạ cứ sấn vào. Phát cáu, anh lấy ná lắp tên, bắn một phát. Chẳng may mũi tên trúng đầu con quạ chúa. Đàn quạ cắp xác chúa và mũi tên bay qua khắp làng mạc thôn xóm, vẫn chưa tìm được cớ để báo thù người thợ săn. Khi bay qua sông, thấy xác một người chết đuối trôi tấp vào bờ, lũ quạ đem mũi tên cắm vào xác người chết ấy. Họ hàng người này tìm được đem cả người và mũi tên đến cung vua để kiện. Vua truyền khắp nước, ai có ná, có tên phải mang vào chầu. Những người có ná, có tên từ vùng cao, đến các làng hẻo lánh đều y lệnh vua. Anh thợ săn cũng vào chầu, mang theo cả viên ngọc. Vua truyền mọi người đem tên của mình ra so với tên ghim ở trên xác chết. Mỗi người đều so mấy lượt. Chỉ có mũi tên của anh thợ săn có viên ngọc là giống. Vua bắt anh cùm lại, chờ ngày xử tội. 
Vạ giữa đàng mang vào cổ, anh thợ săn nói thế nào vua cũng không nghe. Bọn nhà giàu làng anh lại được dịp nói thêm nói bớt không ngớt lời. Anh thợ săn đang phải chờ đền mạng người chết đuối. ở trong tù lâu, nhớ vợ, nhớ nhà, nhớ rừng núi, anh không thể nào ngủ được. Mới nửa đêm, nhờ có viên ngọc mang theo, anh nghe đàn kiến bò trên tường giục nhau:- Trời sắp lụt to rồi, phải vào kho nhà vua tha thóc để dành ăn, nếu chậm thì đói to. Sáng hôm sau, anh lại nghe chim sẻ, chim cu mách nhau:- Chỉ có vào kho vua mới được nhiều. Trong kho vua lắm thóc lắm. Đàn chuột quá mải chơi, sợ hết phần nên gắt gỏng om sòm:- Thóc trong kho nhà vua, chim sẻ, chim cu và kiến tha gần hết rồi. Không vào tranh nhau với chúng thì chết đói đấy. Lụt rất lớn và rất lâu ngày. Chim cu, kiến, chuột nói, anh thợ săn nghe rõ cả. Đến buổi, người lính canh đem cơm vào, anh thợ săn nhắn:- Nói cho vua hay, trời sắp lụt bão to, thóc gạo trong kho chim chuột đã tha để ăn chạy lụt cả rồi. Bảo vua chạy đi kẻo chết. Người lính vào tâu với vua. Vua cười mỉa:- Chó lại còn dạy hổ nhảy cao, nếu có giỏi, nó chẳng xin ta cho làm quan thiên văn, địa lý, chứ dại gì đi cướp của giết người. Nó muốn tìm mưu chạy trốn đấy. Hãy đóng chặt thêm chiếc gông lại.
Người thợ săn bị quân lính cùm chặt hơn. Hôm vợ vào thăm, anh cho vợ biết trời sắp lụt và bảo vợ về làng cũ nói với xóm làng. Tin lời vợ chồng anh thợ săn, mọi người lo gặt sớm để lúa lên chòi cao, làm bè, làm thuyền, nắm cơm, rang gạo để sẵn. Chỉ có bọn nhà giàu nói dèm việc làm của vợ anh thợ săn, rồi lại đi mách vua. Vua lại kết tội vợ chồng anh thông đồng làm loạn, sai quân lính đến bắt trói chân, trói tay khiêng về chờ ngày chém. 
Ngày xử án đã đến, vợ chồng anh thợ săn bị đưa ra pháp trường. Hai người vừa bị trói đứng vào hai cột thì bỗng nhiên có gió thổi mạnh, mây lởn vởn trên đầu, trời sập tối, rồi đổ mưa. Vợ chồng anh thợ săn bị trói cách xa nhau mấy bước mà không trông thấy nhau được, nước đã ngập đến đùi, rồi đến ngực. Lũ quan và quân lính rủ nhau chạy mất cả. Hai cây cột trói vợ chồng anh cũng bị chốc gốc, anh tự cởi trói cho mình rồi đến cởi trói cho vợ. 
Nước đã ngập đến cổ, hai người đang bì bõm lội giữa vùng nước ngập mênh mông thì có một chiếc bè chuối ghé đến. Người trên bè nắm tay hai vợ chồng anh thợ săn kéo lên. Khi tỉnh dậy, vợ anh thợ săn nhận ra người đưa bè chuối đến cứu vợ chồng mình chính là người được chị đưa tin báo trời lụt trước nhất. Mưa vẫn kéo dài, gió thổi mạnh, cả triều đình vua chúa đều chỉm nghỉm dưới nước. Chiếc bè chuối của người hàng xóm tốt bụng chở vợ chồng anh thợ săn về làng cũ. Bọn nhà giàu và bọn điêu ngoa thóc mách đều bị chết trôi. Chỉ có những người nghèo, nghe lời vợ anh thợ săn là còn sống trên những chiếc bè, trên các ngọn cây cao.

68. CHÀNG LƯỜI
Xưa ở vùng Nam Tây Nguyên có một bà cụ nghèo, goá bụa, có một người con trai siêng ăn biếng làm, dân làng quen gọi là chàng Lười. Lười có thể nằm ngủ suốt ngày, chỉ cần mở mắt dậy ăn một bát cơm, xong lại nhắm mắt lại ngủ tiếp. Mẹ nói không được. Có hôm, mẹ bưng cơm canh đến tận buồng mà Lười vẫn không chịu thức dậy. Từ nhỏ đến lớn Lười chưa biết nắng thiêu, lửa đốt, khó nhọc là gì.
Một hôm Lười nghe người ta đồn ngoài sông Hinh (tỉnh Đăk Lăk) có nhiều cá, quờ tay xuống là bắt được cá. Lười lấy chiếc cần câu cũ của người cha để lại, đem ra câu. Hắn nằm ngửa, buộc cần câu vào cổ chân, chờ cá động mới giật. Từng đàn cá thấy mồi, bơi lượn xung quanh, không có con nào đớp cả. Mãi tới chiều, Lười mới giật được một con cá nhỏ. Cá lên bờ rồi Lười cũng không thèm bắt, cứ để cho nó nhảy tanh tách dưới gốc sung. Vừa lúc ấy, một con quạ khoang bay qua, trông thấy cá liền sà xuống cắp mất. Lười đưa mắt nhìn theo một cách tiếc rẻ. Chàng ngáp dài, ngáp ngắn, thả cần câu cho trôi theo dòng nước rồi đi về. Lười lên cầu thang, bước vào sân ngồi phịch xuống, bốc cơm ăn một mạch. Ăn no lại ngủ ngay đến tối mịt. 
Tin đồn gần xa, con gái xinh đẹp của Pơ-Tao giàu có nhất vùng không chồng mà đẻ con trai. Thằng bé lớn lên, nước da hơi đen, nhưng có khuôn mặt rất thông minh, kháu khỉnh. Pơ-Tao gạn hỏi mãi con gái nhưng nàng chỉ một mực nói "Con chẳng đi lại với ai cả". Tức quá, Pơ-Tao cho tôi tớ cưỡi ngựa đi loan báo khắp vùng: "Con gái Pơ-Tao sinh được một con trai, ai là cha em bé đến nhà mà nhận con sẽ được thưởng một ngàn con voi và mấy căn nhà dài chứa đầy choé ba, choé túc (ché quý bằng đất nung)".
Thanh niên trong vùng nghe tin ấy, mặc những chiếc áo thêu đẹp nhất, những chiếc khố dài viền nẹp đỏ, lũ lượt kéo đến nhà Pơ-Tao. Cô con gái Pơ-Tao cõng con chỉ từng thanh niên bảo: "Đây là cha mày! Đây là cha mày!". Nhưng em bé cứ khóc giãy nảy lên. Đám trai tráng này kéo về, đám trai khác kéo đến, nhưng chẳng có người nào được làm cha cậu bé. 
Giữa lúc chàng Lười vẫn còn hết giấc này đến giấc khác. Pơ-Tao sai người đi từng làng xem còn sót ai không. Chỉ còn sót mỗi chàng Lười. Bọn tôi tớ Pơ-Tao xúm nhau lại đánh thức chàng dậy nhưng không được. Tức mình, họ nấu chì cho chảy ra, rồi đổ vào vành tai Lười. Nóng quá, Lười mới chịu dậy, ngồi vào bành voi cho họ chở tới nhà Pơ-Tao. Nghe tôi tớ kể lại, Pơ-Tao cười: "Thằng nhác này, có bước đến nhà ai mà đi lại với con gái ta, nhưng cũng cứ cho hắn gặp thử". Được tin, người con gái cõng con trên lưng, bước xuống cầu thang. Vừa thấy chàng Lười, thốt nhiên thằng bé reo lên: "Cha! Cha!" làm mọi người hết sức kinh ngạc. Pơ-Tao thấy con gái mình xinh đẹp lại giàu có mà lại đi lại với thằng lười nhác xấu xí như vậy, nổi giận đuổi con gái lên núi cao. Lười cũng đi theo, họ thành vợ chồng. Hai vợ chồng cõng theo hai gùi gạo to. Nhưng chứng nào vẫn tật ấy, có vợ đẹp, con khôn rồi mà Lười vẫn chẳng thay đổi tâm tính. Chàng vẫn ăn rồi ngủ. Chị vợ không nói gì, một bữa, Lười đang cơn ngủ say, người vợ bỗng chạy vào, giọng hối hả, lo âu, lay mạnh người Lười dậy và bảo: "Anh ơi, chúng ta sắp chết đói rồi, em có cục vàng làm ra cơm gạo, thấy con gà ăn thóc, em cầm xua gà, chẳng may sảy tay, vàng chạy đâu mất. Em tìm từ sáng đến bây giờ mà chẳng thấy đâu!" Nghe vợ nói mất cục vàng làm ra cơm gạo, hoảng quá, Lười vác rựa đi phát rừng tìm kiếm. Chàng ra tay phát miết. Mồ hôi tuôn chảy ra đầm đìa như tắm, cây ngã rạp dưới chân. Người vợ theo sau, lấy cây nhọn đào lỗ tra lúa. 
Mặt trời lên, Lười phát cây phát bụi. Mặt trời lặn, Lười vẫn phát cây phát bụi. Lười cặm cụi phát mãi, khi ngoảnh cổ lại, chàng thấy cả hai quả đồi lúa mọc xanh rờn. Lười bảo vợ: - Em ơi! Anh vẫn không tìm thấy vàng em ạ! Vợ lấy tay quệt mồ hôi chảy lấm tấm trên má, chỉ rẫy lúa xanh mơn mởn bảo chồng: - Vàng đấy, lúa là vàng, chàng không biết à? Chàng Lười bấy giờ mới hiểu ý vợ. Từ hôm ấy, hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn và ngày một giàu có. Một hôm, hai vợ chồng nằm chung bên bếp lửa ấm, nhìn đứa con đang ngủ say, nàng nói nhỏ với chồng:- Anh này, em không phải là con Pơ-Tao đâu. Em là con của Ben-En (tiên). Mẹ em thấy anh lười quá, chẳng chịu làm ăn gì cả nên mẹ em sai em xuống làm con gái Pơ-Tao. Em đã ăn con cá của anh câu, do con quạ trời tha tới, ăn xong con cá ấy em có mang sinh được thằng bé này, để rồi cùng anh kết duyên lành. Bây giờ anh đã biết làm ăn để nuôi con, nuôi mẹ rồi, em được lệnh phải về trời. Anh ở lại làm ăn cho giỏi, cứ bốn mùa, em lại xin phép xuống chăm con, thăm anh một lần. 
Nói xong, nàng cúi đầu xuống hôn con, từ biệt chồng và bay về trời. Chàng Lười nhìn theo vợ cho đến khi khuất bóng. Từ đó, ngày ngày hai buổi, càng thương vợ, Lười càng ra sức phát nương, dọn rẫy. Chẳng bao lâu chàng trở nên giàu có nhất vùng.

69. VUA LỢN
Ngày xưa, có một cô gái con vua đã nhiều tuổi mà vẫn chưa có chồng. Một lần đi vào rừng chơi, thấy chân lợn vàng in trên hòn đá to, cô ướm thử, sau đó cô có mang và sinh ra được một đứa bé trai hình hài như người nhưng đầu lại là lợn. Vua thấy vậy giận lắm, muốn đem giết cả hai mẹ con cô gái đi. Nhưng cô gái vẫn một mực van xin cho mình sống để nuôi con đầu lợn. Sau này nó sẽ nuôi lại mẹ nó. Vua thương tình mới tha cho và đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà. 
Mẹ con Đầu Lợn ở một cái lều nhỏ, ngày ngày người mẹ đi làm kiếm tiền nuôi Đầu Lợn, chẳng bao lâu Đầu Lợn lớn lên và điều gì cũng biết. Một hôm, Đầu Lợn nói với mẹ:- Mẹ ơi! Con muốn đi học chữ để sau này nuôi mẹ. Người mẹ khuyên là Lợn không thể học chung với người. Lợn không nghe, cứ năn nỉ mẹ cho đi học bằng được. Mẹ đành phải cho Đầu Lợn đi học. Đầu Lợn học rất thông minh, mới ba năm đã học hết các sách và nói với mẹ xin cho đi chăn trâu thuê cho vua để nuôi mẹ. Mẹ ngạc nhiên lắm, Lợn nói có thể chăn được hàng ngàn vạn con. Mẹ về hỏi vua. Vua bảo:- Nó muốn chăn thì cứ để cho nó chăn. Không chăn được tao sẽ chém đầu. Vua giao đàn trâu cho Đầu Lợn. Đàn trâu đông không đếm xuể. Ngày ngày Đầu Lợn cưỡi con trâu trắng to nhất đàn ra ngoài đồng cỏ. Trưa nào cũng vậy, cứ một lần Đầu Lợn nhảy xuống ao tắm thì có một con trâu trắng dưới ao nhảy lên húc với trâu trắng trên bờ. Đầu Lợn lên bờ thì trâu trắng lại nhảy xuống nước lặn mất. Đầu Lợn không nói cho ai biết, dọc đường về nó nghĩ xem rằng ai có con trâu trắng để lần sau thử lặn xuống xem nó ở đâu. 
Hôm sau, Đầu Lợn đuổi đàn trâu ra bãi rồi một mình tới ao, lặn xuống tìm trâu trắng. Nó nhìn xuống đáy ao thấy con trâu trắng nằm im, hai tai ve vẩy. Đầu Lợn lại gần xoa vào bụng con trâu và cầm hai cái sừng lắc lắc. Trâu hiền quá, hai cái sừng này húc nhau thì khoẻ lắm đấy. Đầu Lợn nghĩ vậy. Trâu chỉ ve vẩy cái tai, Đầu Lợn nghịch chán rồi lên bờ lùa đàn trâu của mình về. 
Cách mấy hôm sau, có một ông thầy địa lý đi qua cái ao, thấy Đầu Lợn tắm ở đấy mới gọi lên hỏi:- Đầu Lợn, ngày ngày mày xuống ao tắm thấy có gì không? Đầu Lợn nói hết cho thầy địa lý. Thầy địa lý đi bảo với vua. Hôm sau vua sai đầy tớ đi đào mả bố của vua, lấy xương cho vào một cái túi, bảo Đầu Lợn lặn xuống ấn vào mồm con trâu trắng, để trâu trắng nuốt đi và mong được giàu sang, danh vọng lâu dài. Đầu Lợn cầm cái túi về hỏi mẹ:- Mẹ ơi, mả bố để ở đâu? Mẹ nói:- Mày có bố đâu mà có mả! Đầu Lợn cãi lại:- Sao không có bố lại có con? Người mẹ buồn bã trả lời:- Bố mày là con lợn, người ta ăn thịt vứt xương ở cạnh chuồng kia kìa. 
Đầu Lợn ra chuồng lợn bới nhặt những khúc xương đem xay thành bột, rồi bảo mẹ trộn với nếp, thổi xôi, nắm cho một nắm. Xong, Đầu Lợn cầm túi xương của vua đưa và nắm xôi của mình đi ra ao. Đầu Lợn lặn xuống ao tới chỗ trâu trắng nằm, rồi cầm cả túi xương của vua cho vào mồm trâu. Trâu vừa nuốt cái túi đã lại chui ra đằng đít. Đầu Lợn cầm nắm xôi của mình cho vào mồm trâu thì trâu nuốt ực vào trong bụng. Còn lại túi xương của vua, Đầu Lợn không biết để vào đâu, bèn mắc lên sừng trâu. Bỗng dưng bầu trời sầm lại, sấm chớp ầm ầm, rung chuyển đất trời. Các muông thú cho đến loài châu chấu cũng cất tiếng kêu lên như người: "Đầu Lợn thiên chủ vạn niên niên, làm vua làm quan chuyên giữ nước". Đầu Lợn thấy trời đất rung chuyển thì hoảng sợ, chạy vội về nhà nói với mẹ. Mẹ nói:- Thế là điều hay con ạ! Không những là "Vạn niên niên" làm vua tám năm cũng tốt lắm rồi. 
Từ đấy bàn dân thiên hạ nghe tin vua mới sắp ra, mới bảo nhau làm một cái chòi cao ở giữa bãi rộng, chung quanh cắm cờ treo đèn hoa để đón vua. Dân làng khắp nơi kéo đến, chen chúc nhau đông như cỏ gianh. Họ đứng ba ngày mà chẳng thấy vua mới đâu. Đầu Lợn thấy thiên hạ nô nức đi xem vua, nó cũng đi xem. Đến nơi, Đầu Lợn người thấp lủn củn, nghển mãi cổ cũng không thấy gì cả. Nó mới len lỏi và bước được lên chòi. Nó trèo lên để nhìn. Mọi người thấy trên chòi có một người đứng, mới vỗ tay reo hò vang trời: - Vua về rồi ! Vua về rồi!
Họ xô nhau đến chòi đón Đầu Lợn xuống, đặt kiệu rước về tôn lên làm vua. Vua cũ thấy dân thích Đầu Lợn, tức giận, nhưng nghĩ mình già cả, nên đành nhường ngôi cho Đầu Lợn. Từ khi Đầu Lợn lên làm vua, dân bản sống một cuộc sống ấm no.

70. CỨU VẬT, VẬT TRẢ ÂN
Ngày xưa, có một anh chàng nghèo khó, không nghề nghiệp, nhưng được cái có tính hiền từ, lương thiện, rộng thương mọi người. Khốn khó hơn nữa, vợ anh lại chết sớm, bỏ lại anh ta một mình không biết làm cách nào để nuôi thân. 
Có dạo anh ta ngửa tay đi ăn xin, nhưng việc làm này cũng chỉ đủ sống qua ngày, mà lại thấy hèn hạ nữa. Anh ta xoay qua nghề làm thuê, nhưng bản chất vụng về, không ai chịu thuê mướn anh cả. Bất đắc dĩ, anh dành dụm được ba mươi đồng tiền, mua được một cái cần câu và xoay sang nghề câu cá. Suốt ngày, anh ngồi nơi bờ sông thả câu, nhưng có bữa không bắt được con cá nào, đành phải nhịn đói.
Một hôm, anh vừa móc mồi buông câu thì thấy phao chìm xuống, anh giật lên té ra không phải cá mà là một con rắn nước. Lấy làm bực mình, anh gỡ con rắn ra rồi ném trả xuống sông. Lần thứ hai, anh giật lên, cần câu nặng trĩu, thì lại chính là con rắn nước lúc nãy. Anh than thở: - Rắn ơi! Tao nghèo lắm, tao chỉ có ba mươi đồng mua sắm cái cần câu này, mày đừng hại tao, làm hết cả mồi tao lấy gì kiếm ăn. Anh chàng lại ném con rắn xuống nước. Lần thứ ba, lại cũng con rắn đó mắc vào lưỡi câu. Lần này anh ta giận lắm, không thả rắn xuống nước nữa mà định bắt rắn đem về giết thịt. Khi anh ta đi qua cửa đền bà thần Khai Khẩu, tự nhiên con rắn nước nói: - Đừng giết tôi! Tôi là con vua thuỷ phủ, vì muốn kết bạn với anh nên tôi mới cắn câu nhiều lần như thế. Hãy cho tôi theo anh để giúp anh vượt qua cảnh nghèo khó. Anh chàng câu cá vốn sẵn tính nhân từ, nghe nói bỗng cảm tình, cho rắn theo mình, ngày đêm ở bên nhau như một người bạn thân. Từ đó, anh câu được rất nhiều cá, thứ ăn, thứ bán, cuộc sống rất dễ chịu.
Một hôm, rắn lội xuống sông tìm mồi, qua một lúc trở về nói: - Trong ba ngày nữa, sẽ có trận bão lụt rất lớn xưa nay chưa từng có, nếu không đề phòng sẽ bị chết trôi. Anh ta nghe lời rắn, chặt cây đóng một chiếc bè bằng nứa để đề phòng tai nạn. Anh lại loan báo cho mọi người xung quanh biết, nhưng không một ai nghe. Quả nhiên, ba ngày sau, gió bão nổi lên ầm ầm, trời mưa như trút nước, người, vật, đồ đạc và mùa màng nước dâng lên, trôi ra biển cả. Mãi cho đến lúc cơn bão tạnh, anh chàng mới chống bè tìm về chỗ cũ.
Trên đường đi, anh thấy một ổ kiến đang lênh đênh trên mặt nước, anh định lấy sào đẩy ra xa, nhưng con rắn bảo: - Hãy cứu chúng. Anh ta nói:- Cứu làm gì bầy kiến, chúng sẽ bò khắp bè thêm khổ. Rắn bảo:- Không! Anh hãy nghe tôi, rồi chúng sẽ trả ơn anh. Tuy không thiết tha đến việc kiến đền ơn, nhưng anh ta vì có lương tâm nên nghe lời rắn, vớt ổ kiến bỏ lên bè. Đi được một đoạn, anh ta lại gặp một con chuột đang lội bì bõm, sắp chết đuối. Rắn nói: - Hãy mau vớt lấy nó. Anh đáp: - Con chuột thì cứ để nó chết chứ cứu làm gì? Rắn nói: - Không! Anh hãy nghe tôi đi. Rồi nó sẽ trả ơn anh. Nghe lời rắn, anh ta lại vớt con chuột lên bè. Đến một chỗ khác, chàng lại gặp một con trăn đang nằm cuộn tròn trên một ngọn cây giữa dòng nước đợi chết. Rắn cũng giục anh giúp con trăn thoát nạn. Anh chàng lẩm bẩm: - Con trăn là thứ súc vật hung dữ, cứu nó làm gì? Rắn nói:- Không! Anh nên nghe lời tôi. Rồi nó sẽ trả ơn anh. Nghe lời rắn, anh ta lại giúp cho trăn lên bờ. Sau cùng, chàng gặp một người đàn ông đang bám vào một khúc gỗ trôi giữa dòng nước. Anh ta không đợi rắn bảo ghé bè lại để cứu. Rắn cản lại:- Anh đừng vớt nó lên làm gì. Nó sẽ làm hại anh đấy. Anh ta đáp:- Người ta thường nói cứu một người dân gian bằng một ngàn người âm phủ. Sao lại quý mạng con vật hơn con người. Rồi mặc kệ con rắn ngăn cản, anh ta vớt người sắp chết đuối đó lên bè, cho ăn uống tử tế.
Sau mấy ngày rút nước, anh ta thả tất cả những con vật lên bờ, con người nọ vì nhà cửa tiêu tan, nên anh cho ở lại với mình cùng câu cá nuôi nhau, coi như anh em ruột. Được một thời gian ngắn, con rắn muốn trở về Thuỷ phủ, lại rủ anh chàng đi theo để biết giang sơn của cha mình. Anh bằng lòng đi chơi. Dọc đường, rắn bảo bạn: - Cha tôi là vua thuỷ phủ, không thiếu gì châu báu, anh là bạn của tôi, thế nào cũng được trọng đãi. Nếu cha tôi có cho gì anh đừng nhận, chỉ xin cho một chiếc đàn thất huyền mà thôi. Chiếc đàn ấy rất màu nhiệm, có thể làm cho giặc phải tan. Đúng như lời của rắn nói, vua thuỷ phủ thấy bạn của con mình đến chơi, rất quý trọng, định cho nhiều báu vật, nhưng anh ta chỉ xin mỗi một cây đàn. Vua thủy phủ thuận tình, trao chiếc đàn cho anh và đưa tiễn lên cõi đất. Anh trở về rất quý trọng cây đàn, nhưng một hôm, có việc phải đi xa, anh cất chiếc đàn nơi bồ lúa, dặn người bạn chớ nên lục lạo ở nơi đó. Người bạn ngờ là anh cất giấu của cải nên đợi anh đi xa rồi lập tức bới bồ lúa lấy cây đàn ra. Hắn cũng đã được nghe anh nói về sự màu nhiệm của chiếc đàn này nên vội vàng mang vào cung vua để lập công danh.
Bấy giờ gặp lúc quân đội nhà vua bị quân nước láng giềng đến quấy phá, hắn tâu với vua xin cho đi dẹp loạn. Nhờ có chiếc đàn thần, hắn đã làm cho quân địch tan tác, phải rút về nước. Dẹp yên được giặc, nhà vua khen ngợi và phong hắn làm đại tướng, ban bổng lộc rất hậu. Được giàu sang, hắn không nghĩ gì đến ơn người đã cứu mạng mình nữa. Nhà vua lại toan gả công chúa cho hắn thì bỗng dưng công chúa bị mắc một căn bệnh không nói được nên lễ hôn nhân đình lại để tìm thầy thuốc chữa bệnh.
Nhắc lại anh chàng câu cá, lúc trở về nhà không thấy người bạn đâu, lại mất luôn cây đàn thì vội vàng đi tìm. Vào đến kinh đô, anh gặp được người bạn mình đã cứu giúp, hắn bây giờ ngồi trên kiệu sơn, có quân lính theo hầu hạ, quần áo toàn là nhung gấm rất sang trọng. Anh chàng câu cá đón kiệu lại, cất tiếng hỏi thăm bạn cũ. Nhưng người kia vừa gặp ân nhân của mình vội hét lính bắt trói và để khỏi lộ chuyện, hắn vu cho anh chàng câu cá là giặc, sai nhốt vào ngục tối, không cho ăn chờ ngày đưa ra pháp trường xử trảm.
Nằm trong ngục tối, anh câu cá than thở, oán hận con người phản phúc, đột nhiên lũ kiến xuất hiện cất tiếng hỏi:- Sao ông lại bị giam ở đây? Anh chàng câu cá ngơ ngác, không biết ai hỏi nên hỏi lại: - Ai đó! Tại sao chỉ nghe tiếng nói mà không nhìn thấy người. Bầy kiến đáp: - Chúng tôi là bầy kiến đã được ông cứu thoát nạn ngày xưa, hiện đang ở dưới chân ông đây. Anh chàng câu cá kể lại đầu đuôi câu chuyện cho bầy kiến nghe. Bầy kiến nghe xong nói:- Chúng tôi không thể làm gì để cứu ông được nhưng có thể đi tìm con chuột, may ra có cách gì giúp ông. Bầy kiến bèn chia nhau đi tìm chuột và báo tin cho bầy chuột hay tình trạng không may của người ân nhân. Chuột bảo: - Bây giờ chắc ông ấy đang đói lắm, nhưng tôi chỉ có thể mang thức ăn vào ngục để cứu ông ấy thôi, rồi ta đi tìm con trăn ngày xưa, may ra có cách gì chăng. Lũ chuột liền tha thức ăn lấy trộm được ở nhà bếp mang vào ngục cho anh ăn. Sau đó, cả gia đình chuột cùng bầy kiến đi tìm trăn. Cả bầy chuột đều sợ trăn ăn thịt nên không dám ra mặt, chỉ có con chuột già liều mạng leo lên cây, gọi con trăn, nói: - Bác trăn ơi! Người ơn của ta trước kia nay bị nạn rồi! Tiếp đó, chuột kể lại đầu đuôi câu chuyện cho trăn nghe. Trăn liền nhả ra một viên ngọc, bảo chuột đem về trao cho ân nhân và dặn: - Viên ngọc này mài ra có thể trị được bệnh câm của công chúa. Ân nhân của chúng ta có thể nhờ đó mà thoát nạn.
Khi được ngọc, anh chàng câu cá gọi người cai ngục lại bảo tâu với vua là mình có thuốc chữa được bệnh câm của công chúa. Quả nhiên, sau khi công chúa uống nước viên ngọc mài ra thì nói được câu đầu tiên là sẽ lấy người cứu mình làm chồng. Nhà vua mừng rỡ, hỏi anh ta vì sao mà có thứ thuốc thần diệu như vậy. Anh chàng câu cá kể rõ câu chuyện từ đầu đến cuối, từ lúc câu được rắn nước, cứu các con vật trong trận bão lụt đến lúc cứu được người thì bị người phản bội, còn các con vật thì trả ơn, trong đó con trăn cho viên ngọc để cứu công chúa.
Nhà vua nghe xong, nói: - Thật là bụng dạ hắn nguy hiểm hơn cả những con vật nguy hiểm. Lập tức vua sai lính bắt tên đại tướng bất nhân, bất nghĩa kia giam vào ngục để chờ ngày xét xử. Còn anh chàng câu cá thì được vua phong quan tước và gả công chúa cho.

71.  CÁI KIẾN MÀ KIỆN CỦ KHOAI
Ngày xưa, có một anh chàng sinh trưởng trong một gia đình giàu có, ruộng  vườn, ao cá, trâu bò, cái gì cũng nhiều hơn kẻ khác. Trong làng, có một cô gái tuy nghèo nhưng nhan sắc mặn mà, tính nết thuỳ mị, trai làng ai cũng ước mơ. Hằng ngày, cô gái đi làm thuê làm mướn, nhưng gió sương không thể làm hỏng sắc đẹp của nàng. Càng dấn thân trong khổ cực, nét kiều diễm càng biểu lộ một cách quyến rũ.
Anh chàng nhà giàu cũng không tránh khỏi ước mơ được nàng kết tóc se duyên nên tìm một người đàn bà làm mối. Qua một thời gian thăm dò, trao đổi, cô gái xinh đẹp kia được anh chàng thề non hẹn biển, suốt đời nguyện một lòng chung thuỷ không bao giờ thay đổi. Cô gái đẹp nghe anh chàng cám dỗ, cuối cùng cũng đồng ý, hiến thân cho chàng không hối tiếc. Nhưng người làm mối lại là một người đàn bà chỉ ham tiền, coi nhẹ nhân nghĩa, khi được tiền của anh nhà giàu thì cố gắng tác thành, nhưng khi đã thành công thì lại vòi vĩnh, không thỏa mãn trước cái nghèo xơ xác của cô gái đẹp kia, thành thử tỏ ra bực dọc.
Cũng gần vùng đó, có một cô gái nhà giàu ế chồng. Người đàn bà làm mối bèn đến tỉ tê với cô gái nọ, bảo nếu cho mình nhiều tiền, mình sẽ đánh tiếng nàng cho anh chàng giàu có kia, cưới làm vợ. Cô gái nhà giàu nghe nói mừng lắm, đút tiền để mụ ta lo liệu tác thành cho. Từ đó, mụ mối luôn buông lời gièm pha cô gái nhà nghèo! Mụ ta nói: "Con này tuy đẹp, nhưng tính nết không đoan chính. Đã nhiều lần tôi bắt gặp nó tằng tịu với Đồ Vân. Đồ Vân học giỏi, nay mai sẽ đỗ đạt." 
Thế rồi, ngày một ngày hai, mụ ta nhen nhóm lòng ghen tuông và tức giận của anh chàng nhà giàu, đồng thời nói tốt cho cô gái nhà giàu ế chồng, mà mụ ta bòn rút tiền bạc quanh năm. Mụ nói: "Nếu là một cô gái đoan chính thì bọn trai tơ làm gì dám đến chọc ghẹo? Cô gái nhà giàu này sở dĩ không ai dám trêu chọc chỉ vì cô ta là người đoan chính mà thôi!" Cuối cùng, mưu kế của mụ ta có hiệu quả. Anh chàng nhà giàu từ lúc say mê cô gái đẹp nhà nghèo đi đến ghen tức và chán ghét. Anh chàng cho người đưa trầu cau đến hỏi cô gái nhà giàu kia làm vợ.
Ngày cưới của hai bên, cô gái nhà nghèo nọ bị tình phụ, lòng đau như cắt. Trong một phút hờn duyên tủi phận, nàng nhảy xuống sông tự tử. Cái chết của cô gái đẹp nhà nghèo đã làm cho cặp vợ chồng mới trở nên hối hận và lo sợ. Nhất là mụ mối thì như sét đánh ngang tai. Chỉ một thời gian, cả mấy người đó đều lần lượt chết xuống âm phủ. Diêm Vương đã hiểu rõ nỗi oan uổng cũng như tội trạng của từng người, và bắt họ phải trở lại dương thế đầu thai để báo oán một cách xứng đáng.
Bấy giờ mụ mối được đầu thai làm con gái một nhà phú ông. Còn chàng phụ tình được đầu thai làm một anh học trò nghèo, không một tấc đất cắm dùi. Còn người bạc mệnh thì ở lại âm phủ để theo dõi mà báo thù.
Cô Kiến, con gái của phú ông do mụ mối đầu thai rất đẹp và thông minh, nhưng cha nàng bản tính tham lam, chỉ biết tiền và danh vọng, còn ngoài ra, ông ta không coi ai ra gì cả. Còn chàng thư sinh thì rất khôi ngô, học giỏi, nhưng nghèo khó vô cùng. Chàng đã nhiều lần vác lều chõng đi thi nhưng lần nào cũng gặp rủi ro, lúc thì đau bụng, lúc thì phạm trường qui do âm hồn người bạc mệnh quả báo, không cho thi đậu. Mỗi lần thi không đỗ là mỗi lần anh ta buồn bực, đau khổ, dằn vặt suốt cả tháng. Thế nhưng anh chàng vẫn lọt mắt xanh của cô Kiến.
Cô gái của phú ông vẫn hy vọng người học trò đó sẽ làm nên. Nàng ao ước sẽ được sánh duyên cùng chàng. Hai người đã gặp nhau, thề nguyền giữ một lòng son sắt.
Khi nghĩ đến cha mình, cô gái con phú ông rất buồn, vì biết tính cha nàng không đời nào chịu gả con gái mình cho anh học trò nghèo kiết xác. Nghĩ thế, nàng lập mưu trộm tiền bạc của cha, mua vàng đúc thành một khối hình củ khoai, rồi nhắn người yêu bảo giả làm ăn mày đến nàng xin ăn, nàng sẽ tận tay trao cho củ khoai bằng vàng để làm sính lễ. Anh chàng quả nhiên cải trang, mang bị gậy đến nhà phú ông ăn xin. Tức thì cô Kiến, con gái của phú ông mang khoai ra cho, trong đó có giấu củ khoai bằng vàng. Sau đó, người mối của chàng xin dạm ngõ cô Kiến. Phú ông nghe nói sính lễ là một củ khoai bằng vàng thì ngạc nhiên, nhưng sau đó ông cũng nhận lời. Đến ngày cưới, khi họ nhà trai bưng sính lễ đến. Họ nhà gái đổ xô ra xem để biết chàng rể của phú ông giàu có ngấm ngầm đến bực nào.
Củ khoai vàng được gói bằng ba bốn lớp vải điều, nhưng khi mở ra xem thì chỉ thấy một củ khoai lang luộc thực sự. Oan hồn cô gái dưới âm ty cố ý làm như vậy cho bõ ghét. Cả hai họ bật cười. Phú ông tức giận chửi mắng om xòm, rồi để chế nhạo chàng rể, ông cắt khoai biếu mỗi người một miếng.
Chàng học trò không ngờ có sự lạ lùng ấy vừa buồn, vừa xấu hổ, đi luôn một mạch không trở về nữa. Còn cô Kiến tưởng người yêu của mình là tên lưu manh, đại bợm, đã lấy mất vàng lại bày trò diễu cợt, nên tức tối thành bệnh mà chết. Lúc xuống âm phủ lần này, nàng kiện với Diêm Vương về việc củ khoai, Diêm Vương giở sổ ra cho nàng biết những chuyện tiền kiếp và ân oán. Vì thế mới có câu: Con Kiến mà kiện củ khoai.

72. TRINH PHỤ HAI CHỒNG
Ngày xưa, gia đình nọ có một người con gái rất đẹp, rất mực nết na, mọi người xung quanh đều khen ngợi. Lúc nàng lớn lên có một người học trò nghèo họ Đỗ đã đưa trầu cau đến hỏi làm vợ. Người học trò này tính nết hiền lành, văn hay chữ tốt, đúng là một nho sinh lý tưởng. Thấy vậy, người cha vui lòng gả con gái mình cho anh ta. Cô gái lấy làm sung sướng được người chồng xứng đôi vừa lứa. Nhưng lễ cưới vừa xong thì cha nàng lâm bệnh qua đời. 
Cô gái về nhà chồng một lòng trinh thuận, còn anh chồng, là một người mồ côi cả cha lẫn mẹ, gia tài chỉ có một khu vườn nhỏ với mấy quyển sách ăn học. Tuy nhiên, hai vợ chồng rất đầm ấm, yêu thương nhau. Hàng ngày, chồng đọc sách, vợ quay tơ, hưởng thú gia đình của đôi vợ chồng son trẻ.
Đột nhiên, ít lâu sau, người chồng bỗng bị mắc bệnh hủi, người vợ lo lắng tìm thầy thuốc chữa trị, nàng bán hết cả nữ trang của mình để lo thuốc men nhưng bệnh mỗi ngày một nặng, chân tay lở loét, không một ai dám đến gần. Duy chỉ có người vợ ngày đêm chăm sóc cho chồng không quản ngại khó khăn. Thấy thế, người chồng quá thương vợ, chàng nói với vợ cứ để mặc mình với số mệnh, nhưng nàng nhất định không nghe. Nàng nói: - Vợ chồng là nghĩa lâu dài, còn bệnh tật của chàng chẳng qua là sự không may. Thiếp xin chung số phận với chàng, không đi đâu cả.
Bệnh của người chồng mỗi ngày một đáng sợ hơn, người chồng luôn luôn khuyên vợ trở về nhà mẹ đẻ để khỏi khổ vì mình. Một hôm, người chồng lẻn bỏ ra đi, để lại một phong thư nói mình không bao giờ trở về nhà nữa và cho phép vợ được tự do tìm một cuộc sống đỡ khổ hơn. Sau khi chồng bỏ đi, người vợ chảy không biết bao nhiêu nước mắt. Mẹ đẻ của nàng khuyên nàng đi lấy chồng khác, để thoát cảnh cô đơn nhưng nàng nhất quyết ở vậy.
Ba năm trôi qua, tin tức của chồng vẫn vắng biệt, nhiều người đoán rằng anh chàng đã quyên sinh để khỏi gây đau khổ cho vợ. Sau đó, người vợ trả lại nhà cửa cho họ hàng bên chồng rồi về nhà mẹ để nương thân, lập bàn thờ để tang chồng. Mẹ nàng luôn khuyên con: Con thủ tiết với chồng như thế cũng đã đủ rồi, con không nên bỏ phí xuân xanh một đời. 
Thấy nàng vừa xinh đẹp, vừa có đức hạnh, nhiều người muốn cưới nàng về làm vợ, trong số đó có người học trò họ Nguyễn, học giỏi, thông minh và rất nhân hậu. Tin qua, mối lại lâu ngày, nàng không còn tự chủ được, hơn nữa mẹ nàng luôn nài ép, bà con thân thích đều hết lời khuyên nhủ, nàng đành nhận lời đi bước nữa và làm vợ anh học trò họ Nguyễn.
Về ở với người chồng mới được ba năm, nàng sinh được hai đứa con trai rất đẹp. Hai vợ chồng rất tâm đắc. Người học trò họ Nguyễn sau đó thi đậu tiến sĩ được bổ làm quan án sát ở Sơn Tây. Năm ấy Sơn tây và các trấn lân cận bị lụt lội, mất mùa, giá lúa lên cao vút, khắp nơi đều có người chết, đường sá, chợ búa đầy những người ăn xin, nhà vua ra lệnh cho quan án đi phát chẩn cho dân đói trong vùng.
Nhắc lại, anh chàng họ Đỗ từ khi trốn vợ ra đi, nhất quyết không trở về quê hương nữa, chàng không muốn vì mình mà làm khổ cuộc đời người đàn bà đáng yêu đó. Chàng cứ đi lang thang nay đây mai đó để xin ăn. Hôm ấy, nghe tin có cuộc phát chẩn, chàng lần mò tìm tới, nhập vào đoàn người đói khổ để lĩnh phần. Quân lính lần lượt phát gạo hết người này đến người khác. Khi đến gần chàng, mọi người nghe có tiếng than thở: - Tôi là học trò yếu đuối, tàn tật, không đem theo đồ đựng gạo, vậy tôi muốn xin một ít tiền cho tiện. Nghe tiếng kêu, quan án gọi đến hỏi, biết anh ta là anh học trò họ Đỗ, hỏi mấy câu về văn chương, quả nhiên anh ta đối đáp rất trôi chảy và làm thơ rất hay. Quan án sẵn có tính yêu thương người nên lấy tiền ra cho rất hậu. Khi về dinh, quan án thuật lại chuyện vừa rồi cho vợ nghe và tả hình dáng người thư sinh bệnh hoạn ấy.
Người vợ nghe qua biết ngay là người chồng cũ của mình, vội cải trang ra chợ, tìm cách đứng núp để xem mặt. Quả nhiên, đúng là chồng cũ của mình. Tự nhiên, lòng thương chồng trào dâng, nàng nuốt thầm những nước mắt vì mình đang ở vào một tình thế rất khó. Suy đi nghĩ lại, cuối cùng nàng cũng khuyên được người chồng mới đưa người học trò khổ sở về dinh, cho ở một gian lều sau trại. Như thế vừa làm được một việc có nghĩa, vừa có người làm bạn văn chương. Được chồng mới ưng thuận, nàng sung sướng vô cùng. Từ đó, nàng ngầm sai người hầu chu cấp, chăm nom cho người chồng cũ rất tử tế.
Một hôm, vào khoảng đêm khuya, người chồng cũ một mình trong lều đau bụng đi tả, nhân lúc khát nước quá, anh ta lân la đến một cái chum nước ở gần trại lấy nước uống. Khi uống xong, anh ta phát hiện trong lu nước có một con rắn màu trắng nằm chết từ lúc nào. Nhưng thật bất ngờ, nhờ uống thứ nước đó mà cách một thời gian sau bệnh hủi của anh lành hẳn. Các vết lở lành trơn, da thịt trở lại như ngày nào. Sau đó, chàng ôn lại kinh sử và được sự giúp đỡ tận tình của quan án, chàng lại lều chõng đi thi. Tất cả những việc đó xảy ra làm cho người vợ vừa mừng vừa đau khổ. Nàng không thể chịu đựng âm thầm như thế mãi được. Khi nghe tin chồng cũ đậu tiến sĩ, sắp sửa vinh quy, nàng viết một bức thư rất dài, kể hết nỗi lòng của mình của chồng mới biết. Nàng xin chồng tha lỗi về sự giấu giếm của mình từ bấy lâu nay. Có hai đứa con, nàng xin một đứa cho làm con nuôi ông nghè mới. Đoạn nàng trốn chồng con đi biệt tích.

73. VÀNG LẤY CON VUA
Ngày xửa ngày xưa có một em bé tên là Vàng. Vàng mới lên tám tuổi thì bố chết, nhà nghèo, em phải theo mẹ đi làm thuê khắp đó đây nhưng quần quật suốt ngày mà mẹ con vẫn không đủ ăn. Những hôm mưa rét thấu xương cũng không được nghỉ. Nhiều bữa Vàng chỉ uống nước đi ngủ, dành cơm nguội cho mẹ. Bà mẹ càng thương xót đứa con tội nghiệp của mình. 
Ngày tháng qua đi, năm ấy Vàng đã lớn và mẹ Vàng cũng đã già yếu. Vàng vẫn một thân nuôi mẹ và nuôi mình. Thỉnh thoảng Vàng còn giúp cả những người hàng xóm. Tuy công việc nặng nhọc, bụng đói nhưng ai nhờ việc gì Vàng cố hết sức làm đâu ra đấy, nét mặt lúc nào cũng vui vẻ. Vì vậy láng giềng ai cũng quý mến Vàng. 
Tiếng lành đồn xa, nhà vua biết tin Vàng làm ăn khéo lại giỏi. Một hôm, bèn cho lính gọi Vàng về lợp nhà cho mình. Vàng đến và trèo lên nhà ngay. Trong khi dỡ mái xuống, chàng trông thấy phía dưới sân nhà một cô gái đang ngồi dệt vải. Vàng muốn biết mặt cô gái, mới giả vờ ho mấy tiếng, hoạ chăng cô gái ngửa cổ nhìn lên, nhưng cô vẫn cúi mặt xuống tấm vải, tay đưa thoi. Vàng nghĩ ra một kế khác, lấy sợi lạt cứa vào tay mình cho chảy máu xuống tấm vải. Nhưng uổng công, cô gái vẫn cứ thản nhiên đưa thoi. Vàng thấy không xong, càng nóng lòng bèn đánh bạo gọi:- Cô ơi! Cho tôi xin miếng giẻ buộc chỗ đứt tay cho khỏi chảy máu. 
Lần này cô gái đứng dậy đi tìm cái gậy và buộc miếng vải vào đầu gậy rồi từ từ giơ lên nóc nhà, nhưng vẫn không hề nhìn Vàng. Thấy đầu gậy đã sát tay mình mà cô nàng vẫn không ngửng mặt lên, Vàng lại giả vờ gọi: - Cô ơi! Chưa tới . . . chỗ này cơ mà! Cô gái tưởng mình giơ lệch chỗ, mới ngửa mặt nhìn lên, Vàng thấy khuôn mặt xinh đẹp của cô gái hiện ra. Tối hôm đó, Vàng về nhà nói với mẹ:- Mẹ ơi! Hôm nay con đi lợp nhà cho vua thấy con gái vua xinh đẹp lắm. Mẹ đi hỏi cho con cô ấy về làm vợ. Bà mẹ nghe thấy con nói không khỏi ngạc nhiên. Một lát bà thở dài:- Mẹ con ta nghèo, vua nào gả con gái cho con. Nhưng Vàng cứ một mực van nài mẹ. Cuối cùng để chiều con trai, bà đi hỏi vua. Bà chưa nói hết lời, nhà vua đã nổi cơn thịnh nộ mắng vào mặt:- Con mụ già nghèo khổ này láo thật! Dám đi hỏi con gái ta cho thằng khố rách áo ôm nhà mày ư? Lính đâu, đem mụ già bỏ vào cối giã. Bọn lính răm rắp theo lời vua. Mẹ Vàng bị một trận nhừ tử, bà van lạy mãi nhà vua mới bằng lòng tha cho. Chờ mẹ về, Vàng ở nhà đứng ngồi không yên, bụng như có lửa đốt. Vàng hết ra trông lại vào ngóng. Thoáng thấy mẹ về, Vàng đã vội hỏi ngay:- Mẹ ơi! Được chứ? Nhà vua có đồng ý không? Mẹ Vàng thở không ra hơi:- Vợ con gì! Chưa nói hết lời mẹ đã bị vua sai lính bỏ vào cối giã, lại còn chửi mắng. Con muốn lấy thì đi mà hỏi. 
Ít lâu sau, Vàng lại đòi mẹ đi hỏi con gái vua cho mình lần nữa. Thương con, mẹ Vàng lại đánh liều đi hỏi lần nữa. Khi bà già tới, nhà vua lần này không chửi mắng mà sai lính bỏ luôn vào cối giã như lần trước, rồi mới nói với mẹ Vàng:- Bà muốn có con gái tôi làm con dâu thì bà bảo con trai bà tìm cho tôi một chum bọ chó và một chĩnh dái gà đen tới đây nộp thì tôi mới gả con cho. Mẹ Vàng đi về nhà thuật lại cho con nghe. Vàng lập tức đi tìm khắp chốn, khắp nơi, nhưng không sao kiếm được một chum bọ chó và một chĩnh dái gà. Chàng buồn rầu khóc bên bờ suối. Bỗng một cụ già râu tóc bạc phơ hiện lên bảo:- Làm sao con khóc? Vàng thưa:- Mẹ cháu đi hỏi con gái vua cho cháu, vua bảo phải tìm đủ một chum bọ chó và một chĩnh dái gà thì vua mới gả. Cháu tìm khắp chốn khắp nơi không được, cháu buồn quá. Cụ già nói:- Không lo, cháu về trồng thật nhiều vừng đen và khoai sọ. Đợi khi vừng chín, khoai sọ mập củ, cháu gặt vừng đập lấy hột cho vào chum, rồi bắt mấy con bọ chó rắc lên trên, bịt kín miệng chum lại. Sau đó, cháu đào khoai sọ đem cạo vỏ luộc chín đổ vào chĩnh rồi bắt mấy con gà sống mổ thịt lấy dái nó để lên chĩnh khoai và bịt kín lại đem đi nộp vua.” Y lời, Vàng về nhà làm theo lời cụ dặn.  Mấy tháng sau, vừng đã chín, khoai sọ cũng mập củ, Vàng làm đúng lời cụ già và mang tới cho nhà vua. 
Vua nhận được đồ lễ bèn mở ngay chum bọ chó nếm thử. Vua khen: "Úi chao! Khu há ô. Thơm như vừng". Rồi vua lại mở chĩnh dái gà ăn mấy miếng tấm tắc: - "Tuyệt! Tuyệt! Bùi như khoai sọ". Nhưng ăn hết chum bọ chó và chĩnh dái gà, nhà vua trở mặt: - Mày muốn làm con rể tao à? Chưa đủ đâu! Mày phải đi kiếm đôi gà tiên, một trống, một mái đem về nộp cho tao thì lúc đó mới nói đến chuyện vợ con. Vàng tức lắm, nhưng đành phải đi tìm gà tiên. Được ba ngày, đi mỏi rời chân mà không thấy gà tiên đâu cả, Vàng ôm mặt khóc. Cụ già lần trước lại hiện ra hỏi:- Làm sao cháu khóc? Vàng đáp:- Thưa cụ, vua bảo cháu phải đi tìm đôi gà tiên, một trống, một mái tới nộp cho vua thì mới gả con gái cho. Cháu đi được ba ngày mà chẳng được. Nói xong, Vàng lại ôm mặt khóc. Cụ già bảo:- Thôi, không khóc nữa. Vùng nhà cháu có cái hang đá, bên trong có vợ chồng gà tiên. Hàng ngày cứ đến giờ Ngọ, vợ chồng gà mới ra cửa hang, gà trống đứng một bên gáy, gà mái đứng một bên nghe, cháu đến rình mà bắt. Gà trống bệ vệ vươn cổ gáy tiếng thứ nhất, chúng xê lại với nhau, cháu đừng bắt. Đến tiếng thứ ba, chúng sát lại bên nhau, cháu lại bắt cả đôi sẽ có gà tiên nộp cho vua. 
Hôm sau, Vàng tìm đến hang đá ngồi rình, đúng giờ Ngọ bỗng cửa hang từ từ mở. Gà trống tiên, gà mái tiên đi ra, mỗi con đứng một bên ở cửa hang. Gà trống bệ vệ vươn cổ gáy tiếng thứ nhất, chúng xê lại với nhau. Vàng vẫn ngồi yên. Gáy tiếng thứ hai, đôi gà xích lại vào nhau tí nữa. Vàng vẫn không nhúc nhích. Gáy tiếng thứ ba, gà trống và gà mái sát lại với nhau. Lúc đó Vàng mới xông lại chộp lấy đôi gà. Nhưng lạ thay, gà khoẻ vô cùng, chúng kéo tay Vàng vào trong hang, tức thì cửa đóng sập lại. Tay Vàng bị kẹp, đau quá, cố rút ra, nhưng càng rút càng đau. 
Qua một đêm, bà mẹ ở nhà không thấy con về sốt ruột quá bèn đi tìm, đi mãi tới hang đá bà thấy con nằm lăn ở cửa hang, bèn hỏi:- Sao thế! Sao lại bị kẹp tay thế hả con? Vàng mếu máo đáp:- Con tìm được gà tiên rồi, nó lôi con vào, con vẫn túm chặt chân nó, bị kẹp... Mẹ cứu con với! Mẹ Vàng vừa thương vừa bực, trách con:- Đấy mẹ đã bảo! Mình là con nhà nghèo mà đòi lấy con vua. Lần trước vua đã bắt con nộp bọ chó và dái gà, lần này bắt con nộp gà tiên đến nỗi mắc nạn khó thế này. Nói xong bà túm lấy tay con kéo ra ngoài. Nhưng kéo đến thế nào cũng không ra. Bà tức quá nói tục một câu. Hang thần nghe không nhịn được, phì cười, cửa hang mở toang chốc lát. Vàng rút được tay, kéo cả đôi gà trở về nộp vua. 
Đến gặp nhà vua, Vàng hỏi:- Vua bảo con đi tìm bọ chó, dái gà và gà tiên con đã tìm đủ rồi, bây giờ vua cho con được đón con gái vua về với mẹ con con. Vua lại bảo:- Đồ lễ cưới mày nộp đủ rồi. Bây giờ mày muốn đón vợ thì phải có nhà ở. Trong vùng này có ông Thạch Long nhà to nhất, đẹp nhất, mày về làm được như thế thì hãy đến đây tao mới cho đón. Vàng lại quay về, tới nhà Thạch Long, chàng lấy gậy đập chung quanh nhà để đánh tiếng, Thạch Long nghe có tiếng người đập vào nhà mình, bèn chạy ra hỏi:- Ai đập gì nhà tôi đấy? Vàng đáp:- Vua bảo tôi làm nhà to đẹp như nhà ông thì mới gả con gái cho. Tôi đến đo thử. Thạch Long nói: - Cái hạng mày mà lấy được con vua thì tao nhường cho cái nhà này cho mày ở. Vàng dừng tay hỏi: - Ông nói thật hay nói dối? Thạch Long vênh mặt đáp: - Tao nói dối với cái ngữ mày làm gì? Vàng lấy cái đinh đóng vào cột rồi bảo Thạch Long: "Tu mi nam tử, nói thì phải như cây đinh đóng cột. Tôi đóng cái đinh này để làm chứng". Vàng đi đến nhà vua xin đón vợ về nhà mới. Hàng xóm láng giềng rậm rịch theo sau, thổi kèn, đánh trống, chuyện trò vui vẻ. Tới nhà Thạch Long, Vàng gọi Thạch Long và bảo:- Tôi đón dâu về rồi, ông dọn nhà đi nơi khác cho vợ chồng tôi ở. Thạch Long mắng:- Nhà của tao tại sao mày lại đuổi tao đi? Vàng vặn lại: - Hôm nọ ông nói gì với tôi. Đinh đóng cột còn kia. Ông nhổ được thì ông ở cái nhà này. Không nhổ được thì đi nơi khác. Thạch Long cố hết sức nhổ nhưng không được, phải đi nơi khác. Vàng đưa vợ về nhà Thạch Long, rồi cả hai vợ chồng cùng đi đón mẹ, khi vợ Vàng tới, mẹ Vàng hỏi:- Cô là ai mà đến đây đón tôi? Vợ Vàng thưa: - Con là con dâu của mẹ, vợ chồng con đón mẹ về ở với chúng con. Mẹ Vàng trông thấy Vàng mới tin, bèn theo hai con đi ở nhà mới. 
Năm sau, có giặc nước bên sang cướp. Vàng được vua cha sai đi dẹp giặc. Chàng bàn với quân lính lấy rơm bện thành hàng ngàn, hàng vạn người giả cắm khắp ngả đường chờ giặc. Giặc đến, thấy bên Vàng quân sĩ hăng hái, lại đông hàng ngàn, hàng vạn quân bèn rút lui. Nhà vua thấy con rể tài giỏi, làm giặc lui không phải đánh, liền nhường ngôi cho. Từ đó dân bản yên ổn làm ăn. Vợ chồng Vàng sống hạnh phúc bên nhau. 

74. LƯƠN THẦN VÀ CẬU BÉ NGHÈO KHỔ
Ở một buôn nọ có một cậu bé mồ côi sống với bà. Hai bà cháu sống rất nghèo khổ, cơm không đủ ăn, mền không có mà đắp, nhà dột nát tứ tung. Cậu bé có một ông cậu rất giàu có, lúa bắp đầy kho, chiêng ché đầy nhà nhưng keo kiệt, tham lam độc ác. Chẳng bao giờ cậu cho cháu một thứ gì, lại còn tỏ ra khinh bỉ. 
Có một lần, bà của cậu bé ốm nặng, không kiếm được cái gì ăn, cậu bé nói với bà: - Cháu phải sang nhà cậu vay tạm một gùi lúa vậy. Bà cụ đã biết tiếng ông cậu nên khuyên cháu đừng đi, nhưng vì thương bà nên cậu bé vẫn cứ đi. Đến nhà cậu, ông cậu ngồi trên nhà uống rượu, thấy cháu đến biết là cháu đi vay lúa, liền cho chó ra cắn. Cậu bé gọi thật to: - Cậu ơi! cậu cho cháu vay một gùi lúa. Ông cậu chẳng buồn đứng dậy, cứ ngồi trong nhà mà nói vọng ra: - Mày tưởng nhà tao giàu lắm sao? Lúa nhà tao đã hết, một giỏ cũng chẳng còn. Ngô nhà tao cũng hết, một túm cũng chẳng có. Rồi lão lại tiếp tục uống rượu, chẳng để ý gì đến cháu nữa. Cậu bé đành mang gùi về không. 
Về đến nhà, cậu bé liền mang rổ ra suối xúc cá, cậu xúc mãi, vẫn chẳng được con nào. Bỗng cậu xúc được một con lươn nhỏ xíu. Cậu toan vứt đi, nhưng lại nghĩ bụng: Ta cứ đem về nuôi, rồi nó sẽ lớn. Cậu đem lươn về nhà, thả vào một vũng nước và hôm ấy hai bà cháu đành nhịn đói. Sáng hôm sau, cậu bé chạy ra vũng nước xem. Lạ quá, con lươn nhỏ xíu hôm qua, nay đã to bằng cột nhà. Lươn đã tự đào cho mình một cái ao lớn. Ngày hôm sau nữa, cậu bé lại ra thăm lươn, cậu hoảng sợ, lươn đã trở thành to lớn lạ thường. Lươn to như một cây cổ thụ trong rừng. Cậu bé toan bỏ chạy thì lươn nói: - Đừng sợ, cậu bé cứ trèo lên lưng tôi, cùng tôi bơi ra biển. Cậu bé sẽ có nhiều quần áo đẹp, nhiều đồ vật quý. Cậu bé hết sợ, trèo lên lưng lươn. Lươn dặn: - Cậu không được nói gì hết nhé! Rồi lươn bơi theo suối ra sông, rồi ra biển rộng. Lươn bơi đến một vùng giàu có, tấp nập người qua lại. Đây là chợ của người Prum chuyên bán quần áo, chiêng ché. Lươn bơi vào bờ, nằm ven biển, như một hòn đá rất lớn. Ánh sáng mặt trời chiếu vào mình lươn sáng lấp lánh rất đẹp.  Đến trưa, những chiếc thuyền buôn từ ngoài biển về cập bến, người ta tưởng lươn là một hòn đá lớn liền tranh nhau bày lên lưng lươn những chiếc mền đẹp, những quần áo sặc sỡ và những chiếc chiêng ché để bán. Bất ngờ lươn cựa mình. Cả toán người hoảng sợ chạy toán loạn. Lươn bơi ra biển, rồi lại đưa cậu bé trở về nhà mang theo nhiều quần áo đẹp và nhiều đồ quý. Về đến khúc suối gần nhà, lươn bảo cậu bé: - Bao giờ cậu cần gì cứ gọi tôi ra, tôi sẽ nổi lên giúp đỡ cậu. Cậu bé về nhà, từ đó hai bà cháu sống sung túc hơn trước. 
Một hôm, ông cậu keo kiệt có việc đi qua nhà cháu, hắn ngạc nhiên thấy ngôi nhà lành lặn hơn trước, nhìn vào trong nhà hắn thấy nhiều đồ vật quý, hắn leo lên nhà, vội vã đến nỗi suýt lộn cổ xuống đất. Hắn hỏi cậu bé: - Này, mày ăn cắp ở đâu những chiếc ché, những chiếc chiêng này, những mền, những áo mới này? Cậu bé kể hết chuyện gặp lươn thần cho nghe. Nghe xong, ông cậu nổi máu tham. Hắn dỗ dành cậu bé: - Cháu ạ! Cháu đừng nói với ai chuyện này nhé! Bây giờ cháu bảo lươn đưa cậu đi có được không? Cậu bé dẫn hắn ra suối. Cậu bé gọi lươn, lươn liền nổi lên ngay. Lươn cũng đưa hắn ra sông, ra biển, đến chợ người Prum. Người ta cũng tưởng lươn là hòn đá to, tranh nhau bày những đồ vật quý lên lưng lươn để bán. Ông cậu chờ lâu quá, đâm nóng ruột, hắn không thấy người ta đem đến nhiều của cải như hắn nghĩ. Ông cậu gào to lên: - Này, cựa quậy đi chứ. Lươn nghe ông cậu gào lên, phát hoảng, vội vã bơi ra biển làm những đồ vật quý rơi hết xuống biển. Ông cậu bị ngã xuống nước và bị uống một bụng nước đầy. 
Về đến nhà, hắn ra sức chửi rủa lươn và cậu bé. Hắn cho rằng lươn và cậu bé cố tình chơi xỏ mình. Vừa giận, vừa tiếc của, ông cậu lấy xà gạc chém đứt đầu lươn rồi bỏ về. Cậu bé chôn xác lươn ở ven suối. Vô cùng thương xót, ngày hôm sau, ra suối, cậu ngạc nhiên thấy chỗ mồ lươn đã mọc lên một cây tre vàng óng ả, cao vút lên trời. Đến trưa, gió thổi mạnh, cây tre nghiêng ngả bốn bề, cây ngả mãi xuống vùng biển. Những nhà giàu thấy cây tre đẹp, tranh nhau phơi mền, phơi áo. Gió ngừng thổi, cây tre liền đứng thẳng dậy. Thế là những đồ vật quý lại rơi xuống gốc cây cho cậu bé. 
Một hôm, ông cậu lại đến nhà cháu, hắn tròn mắt nhìn những quần áo đẹp. Máu tham nổi lên, ông cậu dỗ dành: - Này cháu! Cháu lại mới xúc được con lươn, con cá nào có phép lạ phải không? Cháu cho cậu đi lấy của cải với nhé. Cậu bé thật thà kể lại. Ông cậu liền chạy ngay ra bờ suối. Cây tre đẹp vẫn đứng cao vút lên trời. Gió chưa thổi, ông cậu đã vội trèo lên cây tre vít cho ngả xuống. Hắn trèo lên, trèo mãi, làm cho cây cũng ngả dần xuống. Tre ngả xuống vùng biển, những nhà giàu cùng tranh nhau phơi mền, phơi áo lên cây. Ông cậu đợi lâu quá, kêu lên: - Tre ơi! Lâu quá! Lâu quá! Ông cậu vừa nói dứt lời, cây tre liền đứng thẳng ngay dậy, ông cậu bị rơi trên ngọn tre xuống, rơi vào những đám gai tre. Hắn quằn quại rống lên đau đớn rồi chết.
 Từ đó, hai bà cháu cậu bé sống yên ấm mãi mãi.

75. HAI ANH EM VÀ CON CHÓ ĐÁ
Ngày xưa có hai anh em ruột, người nào cũng có vợ và ở riêng. Vợ chồng người anh, của ăn của để nhưng keo kiệt thì không ai bằng. Trái lại, vợ chồng người em tuy không tấc đất cắm dùi nhưng lại tốt bụng, tuy họ phải đi làm thuê làm mướn nuôi thân, nhưng gặp ai nghèo đói, vẫn sẵn lòng giúp đỡ. 
Một hôm, có một lão ăn mày rách rưới lần vào ngõ nhà người anh để ăn xin. Nhưng vợ chồng người này vừa trông thấy lão thì mặt mày đã rắn lại như đá cuội. Chúng đã không thí cho lão chút gì lại còn thả chó dữ ra khiến cho lão phải nhanh chân lùi bước. Khi lão lọt vào cổng của người em thì vợ chồng nhà này đã ăn cháo buổi chiều. Trông thấy ông già có vẻ đói lả, người chồng liền ra dắt tay ông đưa vào cạnh mâm ngồi. Anh bảo vợ múc cháo thêm ra bát và nói: - Mời cụ ngồi ăn bát cháo với chúng tôi cho đỡ đói rồi hãy đi nhà khác. Ông lão ăn xong một bát, lại xin thêm bát nữa, rồi bát nữa. Tuy cháo không nhiều, hại vợ chồng vẫn múc không ngần ngại. Ăn xong, ông lão chống gậy đứng lên rồi đột nhiên bảo hai vợ chồng: - Các con nghèo mà lại thảo, thật là đáng quý. Ta biết có một chỗ có nhiều vàng bạc. Vậy hãy theo ta lên núi, ta chỉ cho. Cả hai vợ chồng nhìn nhau ngơ ngác. Thấy ông lão thúc giục đôi ba lần mới tin là ông không đánh lừa bèn đánh bạo đi theo lên núi. Trèo lên hòn núi cao hai vợ chồng nhìn thấy một nền gạch có mấy bậc thềm. Vào sâu một đoạn nữa thấy có hai con chó đá đang chầu trước một cái bệ. Ông lão bước lại gần sẵn gậy trúc ở tay, ông cầm gõ vào đầu chó ba cái. Bỗng nhiên chó đá há miệng thật to. Ông lão bảo: - Đấy, các con muốn lấy bao nhiêu vàng bạc thì lấy. Hai vợ chồng đang rụt rè thì bỗng chốc ông lão đã biến đi đâu mất. Chồng đánh bạo thò tay vào miệng chó khoắng thì quả nhiên lấy ra được những thỏi vàng sáng lấp lánh. Hai vợ chồng lấy mỗi người mấy thỏi giắt lưng đem về. Từ đó họ trở nên giàu có, cuộc sống sung sướng.
Vợ chồng người anh thấy em nghèo xơ xác bỗng chốc tậu ruộng, làm nhà, mua trâu, thuê người… thì hết sức ngạc nhiên bèn tìm đến nhà em để xem tại sao lại có chuyện lạ lùng như vậy. Vợ chồng người em vốn thật thà, tốt bụng, vui lòng kể lại toàn bộ câu chuyện từ gặp một ông già ăn xin đến chuyện chó đá cho anh chị nghe. Nghe xong, người anh vội nói: - Tưởng là ai chứ ông lão ấy thì hôm nọ có đến ăn xin ở bên nhà. Rõ tiếc chửa. Thế mà chúng ta lại không biết. 
Từ đó, hai vợ chồng người anh thường để ý tìm ông lão ăn xin, hy vọng được của như em. Họ cất công đi các chợ búa, làng mạc. Họ còn thuê người đến các nơi xa để tìm nhưng chẳng thấy bóng dáng ông lão đâu. Một hôm, vừa ra khỏi cổng người anh đã bắt gặp ông lão ngồi bên vệ đường, vẫn chiếc áo rách, cây gậy trúc và bộ râu trắng xoá không thể lầm vào đâu được. Hắn bèn chạy đến ngay, cung kính chào hỏi và khác với lần trước, hắn cố chèo kéo ông lão về nhà mình cho bằng dược. Khi ông lão đã ngồi yên vị đâu đấy hắn quát người nhà giết gà làm cỗ mời ông lão ăn. Đợi cho ông lão ăn xong, hai vợ chồng mới đến gần, quỳ xuống nói: - Hôm nọ tiên ông giúp cho nhà chú nó được vàng, được bạc, thật là quý hoá quá. Chúng tôi với chú nó là chỗ ruột rà, vậy xin tiên ông rủ lòng thương cho cả hai anh em được đội ơn luôn thể. Vợ chồng chúng tôi không bao giờ quên. Ông lão nghe xong, gật gù nói: - Cũng được, vậy thì hãy theo lão.
Hai vợ chồng hý hửng mang theo quang gánh, lật đật chạy theo. Đi đến nơi, ông lão cũng dùng gậy trúc gõ vào đầu một con chó đá. Chó vừa nhả miệng thì chồng đã nhanh tay thò vào. Nhưng tay hắn chưa kịp rút ra thì chó đã ngậm miệng lại. Hắn ta cuống cuồng cầu cứu tiên ông thì tiên ông đã biến mất từ lúc nào. Vợ chồng cố kéo tay ra khỏi miệng chó nhưng miệng chó đã ngậm chặt, không thể gỡ nổi. Vợ nói: - Thôi đích là tiên ông trừng phạt về tội tham lam của chúng ta. Nói xong, hai vợ chồng nhìn nhau khóc lóc, than thở. Cuối cùng chồng bảo vợ: - Nay chết thì không chết, mà rút cũng không được. Bây giờ chiều nàng hãy về kiếm cơm cháo hằng ngày đưa lên cho tôi với, để may ra kéo dài được cuộc sống. Từ đó, hằng ngày vợ lo cơm nước đưa nên núi cho chồng ăn. Khi chồng ăn xong, vợ lại về để chuẩn bị cho ngày mai. Cứ như thế, trong ba năm đi đi, về về không biết mệt mỏi, người vợ đã bán gần hết ruộng vườn, nhà cửa để nuôi dưỡng chồng.
Một hôm, sau khi ăn xong, chồng bảo vợ: - Ta vì tham của nên mới ra nông nỗi này. Nay tài sản đã bị khánh kiệt chắc không thể nào kéo dài cuộc sống như thế này được mãi. Thôi, sẵn hôm nay vắng vẻ, nàng hãy xích lại đây cho ta được vui đùa một lúc kẻo chết là hết. Thấy chồng van nài vợ cũng thương hại bèn chiều chồng, xích lại một bên. Nhưng khi vợ vừa cởi áo xống thì chó đá há miệng ra cười. Chồng vội vàng rút tay ra rồi cả hai chẳng nghĩ đến sửa soạn áo sống cứ thế thế cắm cổ chạy một mạch xuống núi, không dám ngoái cổ lại.

76. KIỆN CÀNH ĐA
Ngày xưa, có hai vợ chồng người lái buôn, lấy nhau đã lâu mà không có con cái gì cả. Người vợ có sắc đẹp, người chồng lo việc buôn bán xa nhà, thỉnh thoảng mới về. Thời gian chồng đi vắng, trong làng có tên xã trưởng mê sắc đẹp, đến ve vãn vợ chàng. Dựa vào quyền thế, xã trưởng ép nàng phải thuận tình. Tên xã trưởng này rất khôn ngoan, để khỏi mang tiếng, hắn mượn cớ đi tuần, đến nhà người đàn bà dan díu nhiều lần. 
Một hôm, người lái buôn trúng mối, kiếm được rất nhiều tiền, lại gần đến ngày giỗ cha nên thu vén trở về sớm hơn mọi hôm. Nhưng lúc về làng thì trời đã tối, anh nghĩ đến số tiền kiếm được khá lớn, nếu mang về thì sẽ có nhiều người nhòm ngó nên gói vào một chiếc khăn, treo lên cây đa đầu làng, giấu vào một gốc cây. Anh ta khấn: "Tôi là dân làng này, làm ăn dành dụm được chừng ấy, tôi gởi cho thần cây giữ hộ." Vợ thấy chồng về, lăng xăng làm cơm đón tiếp. Nhưng khi nhìn thấy chồng trở về với hai bàn tay không liền trách móc: "Bỏ nhà biệt biệt đi buôn, trở về không có chút tiền nong nuôi vợ. Sao mà tệ thế?" Thấy vợ vẫn mong nhớ mình và tỏ ra ân cần thương yêu, người lái buôn yên tâm nên chỉ đêm ấy khi lên giường nằm anh ta tỉ tê kể hết việc làm ăn khấm khá và cất giấu tiền ở hốc cây đa đầu làng cho vợ nghe. Không ngờ đêm ấy tên xã trưởng theo thói quen lần mò đến. Vì đã quen thuộc nên chó nhà ra mừng mà không sủa. Khi đến bên buồng nhà người đàn bà ấy thấy có vẻ khác thường, hắn dừng lại nghe ngóng.
Biết chồng nàng đã về và người lái buôn giấu bạc ở hốc cây đa đầu làng, hắn mừng quá vội lủi trở ra, đến hốc cây lấy gói bạc một cách ngon lành, không một ai biết cả. Sáng ngày hôm sau, người lái buôn ra hốc cây đa lấy gói bạc thì gói bạc đã không cánh mà bay từ lúc nào. Xót lòng vì mất nhiều của, không biết kêu oan với ai, anh ta đấm ngực kêu trời thảm thiết.
Mãi về sau, anh ta nghe quan huyện là một người xử kiện rất giỏi, mọi việc oan ức đều được minh oan anh ta bèn tới tố cáo. Nhưng anh ta lại không biết tố cáo ai liền bẻ một cành đa mang đến trình quan huyện, xem cành đa là một tội nhân. Tuy thấy sự việc éo le nhưng quan huyện vẫn nhận lấy cành đa rồi bảo chàng trở về, sáng mai lại đến. Lập tức quan huyện sai quân hầu rào xung quanh gốc đa không cho một ai đến gần rồi bí mật sai đào một cái hố ở dưới gốc cây, cho người xuống núp dưới đó.
Hôm sau, quan huyện đến đóng dinh ở gần gốc cây đa, triệu tập dân chúng trong làng đến đông đủ, rồi bắt nguyên cáo và bị cáo đến đối chất. Quan huyện hỏi gốc đa: - Ngươi có nhận giữ gói bạc của người lái buôn gửi không? Người núp dưới gốc đa nói có nhận gói bạc nhưng không biết ai đã lấy cắp, hỏi mãi cây vẫn không khai được điều gì. Bọn quan hầu của quan huyện được lệnh tra khảo, đánh vào gốc đa túi bụi. Mọi người đứng trước dinh quan huyện nghe dưới gốc cây có tiếng khóc ríu rít. Mãi cho đến ngày thứ tư bị cáo mới cho biết mặt mũi người ăn trộm nhưng chỉ nói riêng cho quan huyện nghe mà thôi.
Liền đó, quan huyện cho người lái buôn về làng ba ngày sau sẽ về bắt tên trộm, hoàn lại số tiền cho khổ chủ. Tiếp đó, quan huyện làm một bữa tiệc tạ ơn thần cây đa tại nhà vợ chồng lái buôn và dặn nhỏ người lái buôn: - Nhà có nhiều chó dữ cứ thả hết ra trong khi quan khách đến. Người lái buôn vâng lời, về nhà mổ trâu thết tiệc bà con trong làng. Mỗi người đến ăn cỗ lại làm cho mấy con chó một phen sủa hết hơi, duy chỉ có tên xã trưởng vì lui tới nhiều lần chó đã quen hơi, đã không sủa lại còn mừng rỡ. Quan huyện liền ra lệnh quân hầu bắt tên xã trưởng giải đi. Trước mặt quan huyện ban đầu tên xã trưởng còn chối lấy chối để nhưng sau thấy quan huyện vạch tội hắn một cách rành rẽ và cho thêm là cây đa đã khai rõ mặt mũi của tên trộm như thế nào. Tên xã trưởng đành phải nhận tội...

77. CÁI GẬY THẦN
Ngày xưa ở bến sông, có một chàng Mồ Côi, không cha mẹ, anh em, không người thân thích. Chàng ở một mình trong một túp lều nhỏ vừa kê được một cái giường và đặt được ba cái râu làm bếp. Chàng sinh sống bằng nghề câu cá. Ngày nào người ta cũng thấy Mồ Côi ngồi câu ở bờ sông. Chiều, chàng lại xách giỏ cá vào bán đổi lấy gạo. Tuy nghèo khổ nhưng Mồ Côi rất tốt bụng. Thấy ai có khó khăn chàng cũng thường hay giúp đỡ. Vì vậy dân làng đều có lòng yêu. 
Một hôm trời mưa lạnh buốt đến tận xương, người không dám ra đồng, chó không buồn xuống gác mà Mồ Côi thì vẫn có mặt ngoài bờ sông. Nhưng hôm ấy thả câu từ sáng đến chiều mà không được một con nào. Mặt trời đã gác núi, chàng toan sửa soạn để về bỗng thấy dây câu rất nặng. Nhấc lên thì chỉ thấy một cái gậy dài bằng gang tay phủ kín rêu xanh lớp nhớp mắc ở lưỡi câu. Toan cầm gậy vứt xuống nước, bỗng nghe có tiếng nói ở bên tai. - Gậy thần cứu được người chết sống lại đấy. Con hãy đem về để cứu giúp thiên hạ. Chàng lấy làm lạ, ngoảnh bên phải, ngoảnh bên trái, quay sau lưng xem có ai đang nói với mình nhưng không thấy gì. Chàng đoán là lời thần mách, bèn cầm gậy trở về. 
Bước chân vào tới sân, chàng nhìn thấy một con chuột chết ở sân, bèn đem gậy gõ thử vào chân con chuột. Quả nhiên con chuột cựa quậy rồi sống lại. Chàng đốt lửa đem chuột vào lò sưởi. Chuột ngỏ lời cảm ơn và hứa sẽ báo đền. Ngay tối hôm ấy, chuột đi tha gạo về cho Mồ Côi nấu cơm, từ đó chuột luôn luôn quấn quít ở bên cạnh người. 
Sáng hôm sau, Mồ Côi dậy sớm định đi câu cá. Vừa ra tới sân thì có người đến báo trên bản có người chết đêm qua và gọi chàng lên giúp đóng áo quan. Nhớ tới gậy thần, Mồ Côi vội vã mang đến nhà có người chết, ngỏ ý thử cứu xem sao. Vợ người chết buồn rầu nói: - Nhà tôi chết lạnh từ nửa đêm rồi, chưa chắc còn chữa sống được. Nhưng nếu anh cứu được thì chúng tôi chẳng bao giờ quên ơn. Mồ Côi gõ nhẹ đầu gậy vào xác chết. Tự nhiên người chết cử động rồi cựa mình ngồi dậy. Mọi người xúm lại hỏi han tíu tít, ca ngợi Mồ Côi hết lời. 
Chợt có tin báo công chúa vừa chết hôm qua. Nhà vua cho loan báo khắp thiên hạ ai cứu sống được công chúa thì sẽ được kén làm phò mã và sẽ được chia cho nửa giang sơn. 
Nghe tin tất cả mọi người đều giục Mồ Côi mau mau đi cứu công chúa, Mồ Côi gật đầu, tiến kinh. Con chuột vẫn theo chàng không rời. Đi được một lúc thì gặp một con ếch chết khô ở dọc đường. Sẵn gậy thần trong tay, Mồ Côi cứu ếch sống lại. ếch hết lời cảm tạ Mồ Côi và cũng xin đi theo. Đến trưa, Mồ Côi lại thấy một con chim chích choè chết lăn ở cạnh đường. Gậy thần gõ xuống, chim rùng mình, rũ lông rồi sống lại. Chim cảm tạ Mồ Côi rồi cũng xin đi theo. Cuối cùng trên đường đi, chàng lại cứu sống được một người đàn ông chết về bệnh dịch. Hỏi họ tên quê quán, người kia tự xưng là Thượng Sơn Đại Vương đến đây lâm bệnh và bị bọn lâu la bỏ lại. Đại Vương hết lời cảm tạ Mồ Côi đã cải tử hoàn sinh cho mình và nguyện đi theo hầu hạ chàng suốt đời. Thấy Mồ Côi bỏ gậy vào trong cái bao phục, hắn liền đeo giúp cái bao để nhẹ cho ân nhân. Mồ Côi không ngờ lòng tham của hắn, liền thật thà giao cho bao phục. Cùng ếch, chim, chuột và Đại Vương, Mồ Côi lại lên đường. Bọn họ đi tới một bản thì trời tối. Đại Vương bảo Mồ Côi: - Anh hãy tạm nghỉ đầu làng đây một lúc để tôi vào hỏi nhà trú chân đêm nay. Khi nào tôi ra đón thì anh hãy vào, vì đây là làng của bọn cướp. Tin lời, Mồ Côi cùng ếch, chuột chim nghỉ ở đầu bản, không ngờ đến lòng tráo trở của Đại Vương. 
Đeo cái bao phục, hắn rảo bước đến kinh thành ra mắt nhà vua xin cứu công chúa. Vua và hoàng hậu hối hả dẫn hắn vào phòng công chúa. Cây gậy thần một khi gõ xuống, lập tức công chúa dần dần hồi tỉnh rồi ngồi nhỏm dậy. Vua và hoàng hậu vô cùng mừng vui, hỏi han tíu tít, rồi chỉ Đại Vương nói với con gái: - Đây là vị ân nhân của con. Chàng vừa cứu sống con đó. Theo lời cha mẹ đã hứa, chàng sẽ là phò mã. Con hãy lạy chàng cho phải đạo. Đại Vương há hốc cái miệng rộng toang toác như cái hang ra cười chào công chúa. Công chúa đứng lên cúi đầu đáp lễ. Nhưng tự nhiên nàng ú ớ không nói nên lời và lại nằm vật xuống. 
Thấy con bị câm, vua và hoàng hậu tạm hoãn ngày cưới, chờ công chúa khỏi sẽ cho làm lễ thành hôn. Đại Vương nóng lòng lắm, nhưng nghe nhà vua nói như vậy đành phải vâng lời. Hắn được nhà vua cho lên ở tầng gác thứ ba của cung điện và được tiếp đãi rất hậu. 
Hắn mừng thầm sẽ được làm chồng một nàng công chúa mặt hoa da phấn xinh đẹp như tiên và sẽ được làm vua nửa vương quốc. Nhưng hắn lại lo sợ rằng Mồ Côi tìm thấy và tố giác tà tâm của hắn. Vì vậy hàng ngày hắn đứng trên lầu nhìn về phía đường cái nơi mà Mồ Côi sẽ đi qua. 
Lại nói đến Mồ Côi, thật thà nghe lời Đại Vương ngồi chờ mãi ở đầu làng mà không thấy Đại Vương lại đón. Biết hắn lừa mình đoạt cái gậy thần, chàng lên đường tìm vào kinh để tố cáo với nhà vua. Chiều hôm sau, lúc mặt trời xế bóng thì Mồ Côi tới kinh thành. Thấy Mồ Côi đang đi cùng ếch, chuột, chim, Đại Vương liền chạy xuống tâu với vua xin cho bắt giam ngay con yêu quái biết mê hoặc, chuột, ếch, chim kia lại. Nhà vua đang tin Đại Vương, nên nghe nói như vậy bèn sai lính bắt Mồ Côi bỏ ngục và đuổi chim, chuột, ếch đi. Nhà vua ngầm bảo lính cai ngục không cho Mồ Côi ăn uống gì để cho Mồ Côi chết đói. Nhưng đêm nào chuột và ếch cũng vào nhà giam tha cơm chuyển nước vào cho chủ còn chích choè thì bay đi bay lại dò la tình hình rồi báo tin lại cho Mồ Côi. 
Từ khi Mồ Côi vào nhà giam, Đại Vương hết lo lắng. Hắn nắm chắc trong tay nàng công chúa trẻ đẹp và cái ngôi báu. Hắn lại đút lót các quan ngự y ở trong triều. Được hối lộ lão thầy thuốc vào cung tâu với nhà vua: Nhà vua và hoàng hậu gả chồng sớm cho công chúa thì công chúa sẽ nói được. Nghe thầy thuốc nói, nhà vua và hoàng hậu cho là phải, liền hội các quan triều thần lại định ngày hôm sau sẽ làm lễ cưới cho công chúa. 
Sáng hôm sau, nhà vua sai mổ bò, mổ lợn, giã gạo, gói bánh để sửa lễ cưới. Đại Vương cầm cây gậy thần vênh vang đi lại khắp nơi. Công chúa thì mặt ủ mày chau, ngồi câm như hến trong buồng kín. 
Trong khi Đại Vương dương dương tự đắc trước sự tôn kính của mọi người thì tự dưng có con chích choè bay đến đậu lên vai. Đại Vương lại được thể huênh hoang nói:- Đấy các người coi! Ta là bậc đại nhân đại đức, đến cả loài chim cũng mến ta, bay về với ta. Không ngờ chích choè mổ luôn vào mắt hắn làm cho hắn tối tăm mặt mũi. Hắn phát khùng định túm lấy chim, quật cho chết. Nhưng chim đã bay lên, nó bay từ từ đến phía nhà giam qua trước cái đại đao của nhà vua. Đại Vương chạy đuổi theo chim. Hắn vô ý chạm phải cái đại đao làm cho lưỡi đao sập xuống, chém cụt mất đầu. Cái gậy thần ở trong người hắn văng ra. Chích choè quay lại tha ngay gậy thần vào trại giam cho Mồ Côi. 
Dùng gậy thần, Mồ Côi phá trại giam, đi thẳng vào cung vua có chuột, ếch, chim đi theo. Mồ Côi ra mắt hoàng hậu và xin vào chữa bệnh cho công chúa. Khi Mồ Côi vừa bước vào phòng tự nhiên công chúa nói được. Nàng tươi cười nói với hoàng hậu: - Người này mới chính là chồng con.  Hoàng hậu vô cùng sung sướng chạy ra tâu với nhà vua. Giữa lúc ấy nhà vua cũng mới được người ta cho biết Đại Vương vừa bị chém vì đại đao. 
Trước mặt mọi người Mồ Côi kể lại chuyện được cho gậy thần ra sao và bị lọt vào tay Đại Vương như thế nào. Mọi người đều nói: - Đồ gian ác! Bị chết chém là phải! Nhà vua liền sai mổ thêm bò thêm lợn, tiến hành lễ cưới thật linh đình. Triều đình tâu vua chia ngay đất cho phò mã. Vua và hoàng hậu đem sổ sách ra định trao cho chàng rể. Nhưng chàng không nhận, nói: - Hiện nay thiên hạ chưa yên. Bệnh dịch đang lan tràn khắp nơi. Người chết dịch ngày một nhiều. Sau ngày thành hôn ta sẽ cùng công chúa đi đây đi đó để cứu chữa muôn dân thoát khỏi dịch, trở về sẽ bàn chuyện đất đai sau. Bá quan, chư tướng càng cảm phục lòng nhân từ của phò mã. Nhà vua và hoàng hậu càng quý mến rể hiền. Sau ngày cưới, phò mã và công chúa lên đường: chuột, chim, ếch lại theo không rời một bước. Đi đến đâu phò mã, công chúa cũng cứu người chết, hỏi thăm người nghèo khổ. Hơn hai năm trời, chu du khắp nước, phò mã và công chúa đã cứu hàng vạn người chết được sống lại.
Thiên hạ thanh bình. Muôn dân sung sướng. Đi đến đâu người ta cũng ca tụng phò mã và công chúa. 
Một buổi sáng, bá quan văn võ tung hô vạn tuế rồi tôn phò mã lên ngôi, thay vua trị vì thiên hạ và công chúa được làm hoàng hậu nội cung.

78. CÔ GÁI LẤY CHỒNG TRĂN
Ngày xửa, ngày xưa, ở một làng nọ có một bà già nghèo nhưng chăm chỉ làm ăn. Bà goá chồng từ thuở còn trẻ, nhưng ở vậy nuôi hai mụn con gái. Năm qua tháng lại, các con bà đã trở nên khôn lớn. Cả cô chị lẫn cô em đều xinh đẹp, tươi tắn, y hệt mặt trăng những ngày sáng tỏ. Trai làng đã lắm kẻ lân la, manh mối. Nhưng các cô vẫn chưa kén được người nào ưng bụng. 
Một hôm, bà mẹ mang rổ ra suối múc cá. Xúc được gần đầy rổ bà toan về, nhưng vừa định bước lên bờ, thì một con trăn lớn lao đến quấn chặt lấy hai chân bà. Bà già hốt hoảng nằm vật ra, ngất đi. Lúc tỉnh dậy thì bà thấy hai chân vẫn bị trăn quấn cứng lấy. Bà hết lời van xin trăn cho bà sống để bà về với hai đứa con gái non trẻ của bà. Nghe bà già van vỉ, trăn bèn nói: “Tôi sẽ tha cho bà nhưng bà hứa sẽ gả con gái cho tôi!". Vừa lúc ấy có người đi ngang qua, bà lão liền nhắn người đó về gọi hai đứa con. 
Được tin cả hai cô con gái đều tức tưởi chạy đến. Thấy mẹ bị trăn quấn, hai cô hoảng hốt khóc thét lên. Bà già bảo hai con đừng khóc nữa, ai thương mẹ thì hãy nhận lấy trăn làm chồng. Bà hỏi cô chị, cô chị cả trả lời: “Con thương mẹ lắm, thương nhiều như lá rừng, nước suối, nhưng con không thể lấy trăn dữ làm chồng!". Nói rồi cô lại oà khóc nức nở. Bà lão lại hỏi cô em. Cô em khẽ cúi đầu, nước mắt giàn giụa, nói cùng mẹ: “Thôi mẹ ơi, con đành nhận lời làm vợ con ác thú để cứu mẹ! Mẹ và chị hãy về đi!". Thấy cô em ưng ý lấy mình làm chồng, trăn lập tức thả bà già ra. Cô chị thở phào, vội vã dắt mẹ ra về. Bà mẹ ngoái lại nhìn cô gái bé nhỏ nước mắt đầm đìa, chân chẳng muốn rời. 
Đêm đó, cô gái nhỏ theo trăn về hang làm vợ nó. Nàng sợ sệt và buồn khổ. Lúc trời vừa sáng khi đã thiếp đi, nàng bỗng thấy có một bàn tay ai thật mát, đặt nhẹ lên trán và cả hơi thở ấm nồng. Nàng choàng mắt hốt hoảng tỉnh dậy, thì trước mặt nàng là một chàng trai khoẻ mạnh, tuấn tú. Chàng trai dịu dàng nói với nàng: “Em ạ! Đừng sợ! Ta là chồng em đây, ta chính là chàng trăn!". Cô gái bàng hoàng tưởng như còn đang mơ màng, nàng dụi mắt lại, vẫn là chàng trai trẻ đẹp, xinh xắn. Còn bộ da mốc meo thì nằm ở góc hang. Nàng sung sướng vô kể. Sáng hôm sau hai vợ chồng vào rừng kiếm tre, gỗ dựng một túp nhà sàn bên cạnh một con suối. Từ ấy, vợ chồng cô gái út sống với nhau rất hạnh phúc. Sáng sáng, vợ lên rừng hái măng, nhặt củi, chồng khoác tấm da trăn xuống suối bắt cá, mò cua, tối về bên bếp lửa, chồng trút bỏ áo da trăn đi, cùng vợ ăn uống, chuyện trò. Cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ thật êm đềm, thanh thản. Xóm trên làng dưới ai cũng khen ngợi và vui mừng cho hai vợ chồng trẻ đó. 
Tiếng đồn như gió bay đi. Chuyện vợ chồng trăn giờ đang sống hạnh phúc đã đến tai cô chị. Nhưng cô chị chẳng tin điều lạ lùng ấy. Một đêm nọ, cô chị đã luồn vào rừng trốn mẹ ra đi đến thẳng nhà cô em rình đón. Qua ánh bếp bập bùng, cô chị nhìn thấy đôi vợ chồng cô em đang chuyện trò đầm ấm. Chàng trai chồng của cô em thật là khoẻ đẹp. Nhìn cảnh đó, cô chị tiếc rẻ và tự trách mình sao dại dột đã không nghe lời mẹ lấy chồng trăn? Lòng tham nổi lên, cô trốn mẹ, đi vào rừng tìm trăn. Đi mãi, đi mãi nhưng cô chị gặp toàn hùm, beo, rắn rết. Một ngày kia cô chị gặp một con trăn già đang ngủ dưới gốc cây. Cô bước đến và cất tiếng hỏi: “Này ông trăn, ông coi tôi xinh xắn thế này, ông có ưng bụng lấy tôi làm vợ không?". Con trăn thấy động, tỉnh dậy. Nó mở căng đôi mắt ti hí nhìn người con gái. Đã mấy ngày nay nó bị đói mồi, nên ngọt ngào: “Ồ, thế thì thích quá, cô hãy về nhà tôi đi ". Cô chị liền theo con trăn già về hang của nó, bụng chắc mẩm sẽ được may mắn như cô em út. Nhưng cô chị vừa bước vào cửa hang thì trăn già đã lấy đá chèn cửa hang lại. Mặc cho cô gái la hét, trăn già vẫn xô tới dùng đuôi quật chết cứng cô gái rồi vươn cổ nuốt chửng. 
Thấy con gái đi lâu không về, bà mẹ vô cùng lo lắng. Bà lật đật hỏi đường đi đến nhà cô út hỏi han sự tình. Nhưng cô út chẳng rõ gì cả. Bà già ôm cô út khóc lóc thảm thiết. Đến khuya, khi chàng rể trăn về bảo bà đi theo chàng vào rừng. Chàng đến hang trăn già hỏi. Trăn già đang nằm phểnh bụng ra thở. Biết cô chị bị trăn già nuốt, chàng rể trăn liền xô lại bóp cổ trăn già đến chết, rồi mổ bụng trăn già ra cứu cô chị sống lại. 
Từ ngày đó cô chị làm ăn chăm chỉ, thương mẹ và quý mến em gái vô cùng.

79. CHÀNG TRAI NGHÈO VÀ VIÊN NGỌC QUÝ
Ngày xưa ở một buôn nọ, có một chàng trai mồ côi nghèo khổ. Quần quật suốt ngày trên rẫy, ngoài rừng năm này qua năm khác mà khổ vẫn hoàn khổ. Chàng chẳng có của gì ngoài một cây rựa cùn, một con dao quắm đã mẻ, dăm ba quả bầu đựng nước và một chiếc khố ngắn ngủn, rách bươm. Vì nghèo quá, nên chàng trai chẳng được cô gái nào để ý. Hơn ba chục mùa cây rừng đổi lá, hơn ba chục lần dân làng ăn tết cơm mới rồi mà chàng vẫn là kẻ không vợ, không con, thui thủi một mình. Nhiều đêm trằn trọc mà không thể nào ngủ được, chàng thương thân phận mình. Một lần ngủ thiếp đi chàng mơ thấy một con chim vàng. Chim vàng đậu trên vai chàng và hót những tiếng hót thánh thót. Chim vàng hỏi han về cuộc đời chàng và chàng đã kể tường tận cho chim nghe. Chim vàng thương chàng rồi cũng nỉ non khóc. Chim khuyên chàng hãy đi tìm Giàng để hỏi nguyên cớ, rồi chim bay đi mất. Chàng trai nghèo tỉnh dậy, ngỡ ngàng nhìn đống củi đang cháy giữa nhà. Ngay đêm đó, chàng quyết định lên đường đi tìm Giàng. Chàng mang theo một bầu nước, một cái rìu cùn và một dải khố ngắn.
Chàng ngược dòng sông Lô-cô mà đi mãi. Núi non cao vút, trập trùng, rừng cây càng um tùm rập rạp, khí núi lạnh lẽo bốc lên nghi ngút. Đi không biết bao đêm bao ngày, một buổi tối, chàng thấy một làng nhỏ ven đường và xin vào một nhà ngủ nhờ qua đêm. Bà lão chủ nhà lùi sắn, ngô cho chàng ăn, bèn hỏi han công việc của chàng. Chàng trả lời là chàng đi tìm Giàng để hỏi xem vì sao chàng nghèo khổ. Bà lão nghe vậy lấy làm mừng rỡ, bè nhờ chàng hỏi hộ xem, vì sao cái gốc bầu ngoài rẫy của bà dây lá tốt tươi như vậy mà không hề trổ hoa, kết quả được.
Chàng nhà nghèo nhận lời, và sáng hôm sau lại ra đi. Chàng cứ ngược theo dòng sông mà đi. Cứ nhắm hướng núi cao mà leo tới. Đi được mấy ngày, chàng bỗng gặp một làng nhỏ, có lơ thơ năm ba nóc nhà. Mệt quá, chàng ghé vào làng xin ngủ trọ. Chủ nhà là một cô gái đã lớn tuổi, không chồng con, nổi tiếng nết na chăm chỉ trong làng. Thấy chàng trai có vẻ mệt mỏi, cô gái hỏi chàng đi đâu. Chàng trả lời đi gặp Giàng để hỏi xem vì sao đời chàng khổ thế. Cô gái liền nhờ chàng hỏi hộ xem vì sao cô chưa có chồng. Chàng trai nhận lời. Sáng hôm sau, khi đã ăn cơm, uống rượu xong xuôi, chàng trai lại hăm hở lên đường. Lần này chàng thấy người khỏe mạnh, đi nhanh hơn mặc dù đường rừng khó khăn trắc trở...
Chàng trai nghèo đi gần một mùa trăng thì tới một dòng sông rộng chắn ngang trước mặt. Mặt sông vắng vẻ, không bóng thuyền. Chàng trai buồn bã, tần ngần nhìn dòng sông rộng, bối rối không biết tìm cách nào qua được. Chàng phân vân định quay lại nhưng nghĩ đến lời hứa với bà già và cô gái nên lại quyết tâm đi nữa. Chàng định bụng vào rừng chặt tre lồ ô, ghép bè để vượt sông. Lúc sắp sửa đi thì chàng bỗng nghe có tiếng gọi lại. ở mé sông có một con cá sấu khổng lồ, đầy vây cứng, mốc meo và hàm răng tua tủa chông sắc. Chàng giật mình nhưng chỉ thoáng sau chàng đã cầm chắc rìu, sẵn sàng đối phó.
Cá sấu thấy vậy, bèn lên tiếng nói với chàng trai nghèo rằng ý nó muốn giúp chàng qua sông chứ không phải muốn ăn thịt chàng. Chàng trai mừng rỡ bèn cưỡi lên lưng cá sấu. Đến giữa sông, cá sấu hỏi chàng đi đâu. Chàng nói cho cá sấu biết là chàng đi gặp Giàng để hỏi xem vì sao chàng nghèo khổ, vì sao cây bầu của một bà lão không trổ hoa, kết quả được và vì sao cô gái nọ lại muộn chồng. Cá sấu nghe vậy cũng nài chàng hỏi giùm xem vì sao nó không được hóa kiếp khác, mặc dù đã sống ở khúc sông này hàng trăm năm.
Chàng hứa sẽ hỏi việc đó cho cá sấu, rồi lại tiếp tục lên đường. Chàng lại trèo núi vạch rừng, rẽ mây mà đi. Thêm một tuần trăng sáng, hết một mùa ve kêu thì chàng đến một đỉnh núi cao chất ngất, mây phủ mù mịt. Mệt quá chàng ngồi nghỉ dưới một gốc cây giơ-ai và ngủ thiếp đi. Bỗng chàng mơ thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, chống gậy đi tới. Chàng biết đó là Giàng. Thấy chàng, Giàng bèn hỏi: “Con đi đâu mà mặt mày phờ phạc, thân hình tiều tụy  thế?” Chàng trả lời là chàng đi tìm gặp Giàng để hỏi về số phận... Giàng cười vang, và bảo: “Con hãy nói mau đi, trời sắp sáng mất rồi! Ta còn bận đi việc khác!” Chàng trai nghèo vội vã hỏi Giàng rằng tại sao cây bầu của bà lão không trổ hoa, đơm trái, rằng cô gái kia cớ sao mà chưa có chồng, và con cá sấu già bên kia sông tại sao không được hoá thân làm kiếp khác?... Chàng trai mới hỏi được đến đó thì Giàng khoái tay ra hiệu cho chàng ngưng nói: “Con hãy đào gốc cây bầu lên cho bào lão, hãy lấy cô gái nọ làm vợ, và bảo con cá sấu già hãy khạc hòn ngọc quý ra khỏi miệng nó!” Nói vậy, rồi Giàng biến mất. Chàng trai nghèo tỉnh dậy và chợt nhớ ra rằng chàng chưa kịp hỏi Giàng điều chủ yếu nhất là tại sao chàng nghèo khổ. Chàng tiếc ngẩn ngơ, và tần ngần bỏ ra về. Đến bến sông nọ, cá sấu già ra đón chàng và đưa chàng qua sông. Chàng nói với cá sấu điều mà Giàng đã dặn. Cá sấu bèn khạc ra một viên ngọc rồi biếu luôn chàng. Đoạn cá sấu quẫy mạnh và trở thành một con cá sấu trẻ đủ sức đi khỏi bến sông vắng lặng này. Chàng trai nghèo mang viên ngọc quý ra về. Trên đường về chàng gặp cô gái muộn chồng. Cô gái hỏi chàng về câu trả lời của Giàng. Chàng nói với cô gái lời Giàng bảo. Cô gái ngượng ngùng nhưng bằng lòng ở với chàng. Hai vợ chồng tiếp tục lên đường.
Trên đường về, vợ chồng chàng nghèo khổ ghé thăm nhà bà lão. Bà lão thui gà, mời vợ chồng chàng ăn rồi hỏi chuyện chàng đã gặp Giàng. Được biết Giàng bảo phải đào gốc bầu lên, bà lão liền sai người đi đào gốc bầu. Một lát sau, người ta mang về cho bà lão hai gùi đầy rìu, rựa, cuốc, thuổng... sáng loáng. Bà lão vô cùng mừng rỡ. Bà cho vợ chồng chàng nghèo một gùi. Vợ chồng chàng nghèo cảm tạ bà lão rồi mang gùi rìu, rựa... ra về.
Có rìu, rựa mới, vợ chồng chàng nghèo làm ăn ngày càng khấm khá. Chẳng bao lâu, họ đã có những đám rẫy đầy lúa, ngô, bầu bí. Mùa đến, vợ chồng chàng trỉa lúa, bẻ ngô, hái bầu chia cho dân làng cùng ăn. Dân làng vui vẻ giúp vợ chồng chàng cất lại căn nhà cho rộng rãi, cao ráo hơn, chờ đón đứa con nhỏ của vợ chồng chàng sắp sửa ra đời.

80. CON QUỶ VÀ CÔNG CHÚA
Trên ngọn núi cao nọ, có một cái hang lớn. Trong hang có một con quỷ dữ. Ngày nào con quỷ cũng kiếm bò, bắt ngựa lấy máu làm rượu uống, lấy thịt làm thức nhắm. Khi hết ngựa, hết bò, nó lại xuống các bản quanh vùng, bắt trâu bò ngựa về ăn. Dân bản quanh vùng căm tức con quỷ lắm, nhưng không ai dám chống lại. Thấy hắn, mọi người đều bỏ chạy.
Một hôm, một nàng công chúa con độc của vua Mèo vào rừng chơi. Cô đang mải mê hái bông hoa đẹp thì quỷ dữ đã đến sau lưng. Hắn nheo mắt ngắm nàng và cười khà khà: - Nàng đẹp lắm! Ta sẽ bắt nàng về làm người hầu ta. Nói xong, hắn liền tung tà áo. Tà áo hắn như có cánh, bay vù đến nàng công chúa và chụp lấy nàng. Quỷ thổi phù một cái, áo cuốn nàng công chúa bay về hang... Lúc tỉnh dậy, nàng đã thấy mình ở hang quỷ. Chợt nhìn xuống chân, nàng thấy sợi dây buộc cổ chân từ lúc nào rồi. Quỷ bắt công chúa hầu hạ nó. Ngày ngày, nàng phải xuống suối dưới chân núi vác nước về cho quỷ tắm rửa. Nàng buồn rầu và nhớ nhà lắm, nhưng không làm cách nào trốn được, vì hễ động nhạnh một cái là sợi dây thần lại báo cho quỷ biết ngay.
Một buổi sáng kia, nàng xuống suối vác nước, thấy một con cá đẹp đang lội tung tăng trước mặt. Thỉnh thoáng, cá lại ngoi lên mặt nước, nhìn nàng bằng đôi mắt óng ánh. Công chúa nhìn con cá tung tăng vui sướng, nghĩ phận mình cực khổ, nàng cất tiếng than: Cá buồn cá lội tung tăng Ta buồn ta biết ngỏ cùng ai đây? Quanh ta trời thắm đất dầy, Tấm thân tù tội biết ngày nào vui!... Nghe lời than của nàng, con cá bỗng nổi lên và hoá thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú. Chàng trai bước lên bờ, đến bên nàng và nói: - Ta là con trai vua Thuỷ Tề. Nghe tin nàng bị quỷ dữ bắt giam, ta vội lên đây để cứu nàng.
Chàng trai vội cõng công chúa trên lưng và băng rừng chạy trốn. Trong lúc vội vã, nàng quên mất sợi dây thần đang buộc chân. Thấy động, sợi dây báo cho quỷ biết. Quỷ tức giận, gầm lên vang động như sấm rền và lấy kính thần ra soi. Chàng trai cõng công chúa đi một lúc thì bị sợi dây thần níu lại. Biết không thể đi xa được trong lúc này, chàng liền phù phép biến nàng thành một bông hoa, còn chàng thành cành lá che chở cho nàng. Biết mưu kế của chàng trai, quỷ liền hoá phép thành một đàn ong ào ào bay tới đốt. Cành lá bị ong châm, lá rụng, biến lại thành chàng trai, còn hoa bị ong châm biến lại thành nàng công chúa. Quỷ nắm dây thần lôi công chúa về. May chàng trốn được. Chàng đi lang thang, lòng buồn rầu. Tiên ông hiện đến cho chàng một con dao, một chiếc lá, rồi ân cần dặn chàng: - Khi nào con muốn nói gì với vợ con, con hãy để chiếc lá này vào miệng mà nói, vợ của con sẽ nghe tiếng. Tiên ông lại hiện đến chỗ nàng công chúa cho nàng chiếc lá và bảo: - Khi nào con muốn nói gì với chồng con, con cứ để chiếc lá này vào miệng mà nói, chồng con sẽ nghe thấy.
Nói rồi, tiên ông biến mất. Công chúa có chiếc lá nên nàng đã nói với chàng tất cả nỗi đau khổ của nàng và mong chàng mau trở lại cứu nàng.
Lần này, hai người lại hẹn gặp nhau ở bờ suối. Nhờ có dao của tiên ông cho, chàng chém đứt dây thần và cõng nàng chạy trốn. Dây thần bị đứt, báo ngay với quỷ. Quỷ liền đuổi theo. Hai người vừa chạy đến bờ con sông lớn thì đã thấy bóng con quỷ thấp thoáng đằng sau. Thấy vậy, chàng liền quay ra bờ sông, lấy tay vỗ nước và gọi: - Hỡi đàn cá lớn cá nhỏ! Hỡi cá chép và cá chầy! Hãy đưa ta qua sông! Vừa dứt lời, chàng đã thấy một con cá lớn rẽ sóng lội vào và đưa hai người qua sông. Quỷ đuổi đến bờ sông liền cởi áo khoác tung lên trời. Tấm áo bay, đưa quỷ vượt qua sông rộng. Hai người đến một ngọn núi rất cao thì tiên ông đã cho một con chim lớn bay đến đưa hai người vượt qua ngọn núi. Quỷ đuổi đến ngọn núi cũng tung áo lên và áo đưa quỷ qua núi. Khi đuổi gần kịp hai người, quỷ liền dừng lại, thổi phù một cái. Tấm áo bay vù vù và chụp luôn lên đầu hai người và cuốn chặt lấy. Bắt được rồi, quỷ đánh chàng trai chết và bắt công chúa về. Cái chết oan trái của chàng đến tai tiên ông. Tiên ông liền phù phép cho chàng sống lại, và cho chàng một thanh kiếm, một chiếc nỏ, rồi bảo chàng: - Lần này, con hãy cõng vợ chạy vào rừng chuối kia..
Chàng liền để chiếc lá vào mồm và hẹn vợ ra suối để cùng trốn. Yên trí chàng đã chết, quỷ lại cho nàng đi vác nước dưới suối. Chàng liền dùng kiếm cắt dây thần và cõng nàng chạy vào rừng chuối. Quỷ biết, đuổi theo. Chàng vừa chạy vừa chặt chuối chặn đường quỷ. Vướng chuối, quỷ trượt chân, ngã. Nó liền hoá ra sấm chớp, thổi mây đên tối mịt để không cho chàng chạy. Chàng liền giương nỏ bắn tan những đám mây. Quỷ liền hoá ra lửa đốt hai người. Chàng liền phun nước dập tắt. Cuối cùng, quỷ tung áo lên để bắt chàng. Thấy áo quỷ đang bay, chàng giương nỏ bắn rách nát áo. Quỷ hết phép. Chàng kết liễu đời nó bằng một nhát kiếm.
Chàng đưa vợ về cung vua. Vua cho thấy thế mừng rỡ, làm lễ cưới cho hai người và phong chàng làm phò mã.
Từ đó, mỗi khi vui chơi, chàng lại mang chiếc kèn môi ra thổi, để nhớ lại những kỷ niệm xưa. Dân bản Mèo cảm phục gương anh dũng của chàng nên cũng làm kèn môi để thổi. Và cứ mỗi đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, họ lại dùng kèn môi. Tiếng kèn môi thủ thỉ tâm tình.

81. HAI CÂY KHẾ
  Có hai anh em mồ côi mẹ, ở với cha từ nhỏ, người cha vì phải làm lụng vất vả nên thường đau yếu luôn, không đủ sức làm lụng được mấy. Nhà lại nghèo, không có gì ngoài hai cây khế và cái sân nhỏ bằng chiếc chiếu của ông bà để lại. Người anh cả thì rất lười biếng, suốt ngày hết ăn lại ngủ, hết ngủ lại ngồi bó gối nhìn trời đất. Mọi việc dồn lên đôi vai của người em út. 
Năm ấy, người cha lâm bệnh nặng, người em phải cày thuê, cuốc mướn đầu tắt mặt tối suốt ngày mà vẫn không đủ gạo nuôi cha và người anh lười biếng. Thấy cha già lâm bệnh càng lúc càng nguy kịch, người em đánh bạo chờ đến đêm ra đồng cắt lúa trộm, đào khoai trộm đem về bán lấy tiền chạy thuốc thang cho cha. Nhưng rồi một hôm, người cha sắp khỏi bệnh thì người em út bị bắt quả tang vì trộm lúa phải đi tù. Người anh ở nhà túng kế, mặc cha già yếu, bỏ nhà đi lang thang đây đó ăn xin. Chừng nửa năm sau, anh ta đến kinh thành và xin được một chân lính hầu ở hoàng cung. Rồi một năm sau nhờ có tài nịnh hót, anh được vua cho làm quan ở huyện nọ. Tuy được làm quan, có của ăn của để nhưng người anh cả chẳng bao giờ về thăm nom gia đình mà vì nó em gã phải lâm vào cảnh tù tội. 
Người cha già ở quê nhờ bà con chăm sóc bữa khoai, bữa cháo kéo dài cuộc đời khốn khổ được hai năm thì chết. Nghe tin cha chết, người em vật vã khóc than nài nỉ người cai ngục cho về quê làm lễ hoả táng cha ba ngày rồi xin trở lại tù tiếp. Trên đường đi, nghe tin anh mình làm quan huyện gần đây, bèn ghé vào thăm anh định bụng báo cho anh biết tin cha chết cho anh hay. Nhưng khi vào định gặp anh thì người anh bất nghĩa sợ em đến nhờ vả, không nhận em và sai quân hầu quát tháo đuổi đi. 
Bị anh xua đuổi, người em giận lắm, lầm lũi đi nhanh về quê để an táng cha. Nghĩ đến tình cảm của người chăm sóc đã qua đời, còn người anh cả bội bạc, người em không cầm được nước mắt. Chàng ôm mặt khóc suốt ngày, người cha thương đứa con mồ côi, hiếu thảo, hiện hồn về bảo: - Con ơi! Thôi đừng buồn tủi nữa, khi mãn hạn tù trở về, con nhớ chăm sóc hai cây khế trước nhà. Con nhớ đừng quên lời cha dặn. Mãn hạn tù người em trở về quê. Ngày ngày chàng vào rừng đốn củi, gánh ra chợ bán kiếm sống qua ngày. Chiều chiều, nhớ lời cha dặn, chàng bắt sâu, vun gốc, ra ao gánh nước và tưới cho cây khế. Đến mùa, hai cây khế đơm bông kết trái đầy cành. 
Một hôm, vợ của Chúa đất quạ trắng lâm bệnh nặng. Chúa quạ trắng thấy vợ đau nặng, sai lũ quạ bay đi khắp nơi tìm thầy chạy chữa thuốc thang đủ mọi cách mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Có một thầy thuốc, sau khi thăm bệnh cho vợ Chúa quạ trắng xong, bèn bảo Chúa quạ trắng phải tìm cho được quả khế về cho vợ ăn, thì sẽ khỏi bệnh. Nghe lời thầy thuốc, Chúa quạ trắng liền sai lũ quạ chia nhau bay khắp bốn phương tìm cho được khế đem về chữa trị cho vợ. Một đàn quạ bay về hướng Bắc, thấy hai cây khế của người em nghèo khổ nọ trái chín đầy cành, liền sà xuống, người em thấy quạ sà xuống định vặt khế của mình liền vác sào đuổi quạ. Đàn quạ sợ quá bay tứ tung, không sao hái được khế. Một con quạ đầu đàn mới nài nỉ: -Anh ơi! chúng tôi xin khế về làm thuốc cứu vợ quạ Chúa của chúng tôi đang hấp hối. Rồi Chúa quạ chúng tôi sẽ đền ơn anh. Người em nghe quạ xin khế về cứu vợ quạ Chúa bị bệnh nặng liền bảo lũ quạ tha hồ xuống mà lấy. 
Đàn quạ sà xuống mỗi con cắp một quả khế bay về. 
Quả như lời thầy thuốc bảo, vợ Chúa quạ trắng ăn khế vào liền khỏi bệnh. Chúa quạ trắng thấy vợ khoẻ mạnh trở lại vui mừng khôn xiết. Khi nghe lũ quạ kể lại chuyện người chủ cây khế tốt bụng, Chúa quạ trắng bèn bay đến chở người em ra một đảo hoang giữa biển lấy vàng để trả ơn. Đường đi rất xa xôi, phải qua bảy cửa sông lớn và vượt một biển rộng mới ra đến đảo. Khi qua những cửa sông lớn, giữa dòng nước không có chỗ đậu nghỉ cánh, Chúa quạ trắng phải ráng hết sức mới bay được từ bờ này sang bờ kia. Đến đảo, người em nhìn thấy dưới một vực sâu đầy những cục vàng óng ánh. Khi quạ hạ cánh, người em cởi áo túm một gói vàng, rồi leo lên lưng chúa quạ trở về. 
Từ đó, người em trở nên giàu có, chàng dựng nhà, mua đất làm ăn. Chẳng bao lâu chàng trở nên khá giả. Một hôm gần đến ngày giỗ cha, chàng đến dinh quan huyện, mời anh về ăn cỗ. Người anh về nhà thấy nhà cửa khang trang, rộng rãi, thấy em mình giàu có bèn mưu đoạt gia tài của người em. Gã ra mặt quát hỏi: - Mày lại đi ăn trộm của người ta nữa chứ gì? Mày không làm mà tại sao mày giàu có thế hả? Tội mày đáng chết thật. Người em nghe anh nói vậy, sợ bị vu oan nên thật thà kể lại việc mình được Chúa quạ trắng chở đi lấy vàng ngoài đảo. Nghe em thuật lại chuyện, người anh không dằn được lòng tham nói: - Hai cây khế của cha để lại là tài sản của phần tao. Mày là em không có quyền được hưởng. Nghe anh bảo vậy, người em đành nhường hai cây khế của mình đã tốn công chăm sóc bấy lâu nay. 
Năm sau, vợ Chúa quạ trắng lại phát bệnh cũ. Chúa quạ lại sai lũ quạ đi lấy khế. Người anh thấy lũ quạ bay đến liền nói: - Khế của tao đấy! Bọn bay cứ tha hồ ăn nhưng phải nhớ bảo chúa quạ chở tao đi lấy vàng đấy! Khi vợ lành bệnh, Chúa quạ trắng giữ lời hứa, đến chở người anh ra đảo lấy vàng. Ra đến đảo, người anh thấy vàng hoa mắt vội vàng bỏ đầy túi to, lại còn nhét đầy cả vào xà rông rồi mới chịu lên lưng quạ trở về. 
Chúa quạ trắng chở vàng quá nặng, cố bay qua được sáu cửa sông. Đến cửa cuối cùng quạ bảo người anh bỏ bớt vàng cho nhẹ để có thể bay qua cửa sông. Nhưng vốn tính tham lam, tiếc của, hắn chỉ ầm ừ cho qua chuyện mà vẫn không bỏ bớt một cục vàng nào. Đến giữa dòng, nặng quá, Chúa quạ trắng lảo đảo làm người anh mất thăng bằng rơi tõm xuống nước chìm ngỉm. Thế là hết đời người anh tham lam và bất nghĩa.

82. CÁI CÂN THUỶ NGÂN
Xưa có một nhà làm nghề buôn bán, âm mưu chế ra một cái cân rỗng, trong đổ thuỷ ngân, hai đầu bịt đồng mà không ai biết. Khi cân hàng bán cho người ta thì dốc cái cân vào đằng móc. Khi cân hàng mua của ai thì lại dốc cái cân vào đằng quả. Như vậy một cái cân vừa nặng, vừa nhẹ thì phần được bao giờ cũng về mình. Vì buôn bán điên đảo như thế, nên không bao lâu nhà ấy trở nên giàu có. Trời cho lại sinh ra được hai đứa con giai, mặt mũi khôi ngô, học hành thông thạo. Thiên hạ ai nấy đều khen nhà có đại phúc. 
Một hôm hai vợ chồng ngồi bàn với nhau rằng: - Nhà ta bây giờ giàu có hơn người nhiều, lại sinh được hai đứa con khôn ngoan, "một mặt người bằng mười mặt của", thôi thì bây giờ ta đem cái cân điên đảo kia chẻ đi, để dành cái đức lại cho con về sau. Bàn xong, hai vợ chồng thuận tình sửa cái lễ sám hối, trên thì cúng Phật, dưới thì cúng các ông bà ông vải. Rồi đem cái cân ra chẻ. Nhưng khi chẻ, thật ghê thay, lại thấy trong cái cân có đọng một cục máu đỏ hon hỏn. 
Từ đó hai vợ chồng bảo nhau ăn ở tu nhân tích đức, tránh điều dữ, làm điều lành. Nhưng cách đó vài năm, bỗng một hôm, một đứa con lăn ra chết. Và chẳng bao lâu, đứa kia cũng lăn ra chết nốt. Hai vợ chồng kêu gào khóc lóc rất thảm thiết, nghĩ rằng mình đã có bụng cải ác vì thiện mà trời không chứng quả. Hai vợ chồng rầu rĩ, khổ sở cứ ngồi than dài thở vắn trong mấy tháng trời, không buồn động đến việc gì nữa. 
Một đêm, hai vợ chồng cùng nhau nằm mơ thấy có một ông bụt đến bảo rằng: - Hai vợ chồng mày hãy nên lo toan làm ăn tu tỉnh lại. Chớ vội trách trời không có mắt! Trời thương chúng mày lắm đấy! Trước trời thấy chúng mày buôn bán lọc lừa, trời đã sai hai con quỷ xuống đầu thai làm con để phá tan hết những của phi nghĩa chúng mày chắt bóp nhặt nhạnh bao nhiêu năm nay. May mà chúng mày sớm biết hối hận cải tà quy chính, tránh dữ làm lành. Trời mới sai bắt hai con quỷ ấy về. Đừng thương tiếc chúng nó làm chi nữa. Chúng mày cứ ăn ở ngay lành rồi trời lại đền cho hai đứa con khác để ngày sau mà nhờ
Hai vợ chồng biết thế, không thương khóc con nữa, lại làm ăn như cũ, và lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm cố gắng làm bao điều từ thiện tích đức.
Quả nhiên, sau sinh được hai đứa con giai khác. Hai đứa cũng hiền lành, tử tế, văn hay chữ tốt, và sau lớn lên làm cho cha mẹ được vẻ vang, vui sướng cái cảnh về già.

83. HAI VỢ CHỒNG VÀ ANH LÁI BUÔN
Xưa có hai vợ chồng trẻ chưa kịp có con. Họ chăm chỉ làm ăn nhưng cuộc sống cũng chỉ tạm đủ ăn đủ mặc như cảnh chung của một bản nhỏ người Thái thời đó. Người vợ thì xinh xắn hẳn lên sau khi lấy chồng như người ta nói "gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó". Thấy thế anh chồng càng thương yêu vợ và chăm lo làm ăn hơn trước. 
Một hôm, anh chồng phải phiên đi làm"việc mường" nên xa nhà chừng mười ngày. Đúng dịp đó, có anh chàng lái buôn qua bản, đến nhà này xin ngủ qua đêm. Vừa lên nhà, nhác thấy chủ nhà xinh đẹp ở nhà có một mình, anh ta nói nịnh: - Xin chào người con gái xinh đẹp! Xin cho người nhỡ độ đường nghỉ trọ qua đêm được chăng? Hắn tươi cười cởi mở, cử chỉ lại hào hoa phong nhã. Người đàn bà này chưa bao giờ thấy người giàu sang phong nhã như thế nói chuyện với mình, mà lại gọi mình là "cô gái xinh đẹp". Hình như nàng phật ý nên đáp: - Chẳng nhẽ ông không thấy tôi búi tóc đỉnh đầu rồi sao mà gọi là con gái? Người khách vẻ dạn dĩ, tủm tỉm cười: - Thì chắc cũng chỉ mới lấy chồng, chưa con, chẳng khác con gái là bao nhiêu. Mà người đẹp thế, có chồng rồi còn đẹp hơn cả các cô gái nữa kia, bằng lòng cho ta nghỉ tạm chứ? Người ta nói "đã ngủ độ, chẳng nhờ củi thì cũng là nhờ nước". Nhưng đây không để nàng thiệt đâu! Nàng nói: - Chẳng chê nhà em nghèo thì xin tuỳ ý! 
Người lái buôn như đã trúng ý, dọn đồ đạc lên nhà đã cố ý khoe trương sự giàu sang của mình. Như lệ thường, khách hay biếu gói thuốc lào cho chủ nhà để cho chồng, và cuộn chỉ màu cho các cô gái. Anh ta còn xỉa những đồng tiền trắng loáng nhờ chủ nhà mua con gà trống thiến làm cơm và mời chủ nhà cùng ăn, chẳng có gì gọi là tốn kém cho chủ nhà. Tối hôm đó, chủ nhà rủ một em gái nhỏ hàng xóm ngủ cùng. Nằm ở buồng khách, người lái buôn nghĩ cô chủ này hay đấy, xinh đẹp mà dễ bắt chuyện. Nhà này xa hàng xóm, với lại con bé mới mười tuổi chưa ngủ đã say...  Hắn đã có ý tòm tem, nhưng nghĩ còn hơi sớm. Định bụng chỉ nghỉ qua đêm, tới sáng ra hắn nghĩ "thôi nghỉ thêm một đêm nữa vội gì", và hắn ở lại. 
Ngủ dậy, hắn đã thấy cô chủ giã gạo xong, ra bến gánh nước. Hôm đó nắng to, khi cô chủ gánh nước trở về nhà thấy cô ta mặc váy thắt cao quá ngực, còn áo thì thắt qua vai thòng hai ống tay che vú rồi thắt dải lưng chèn lên, như các cô gái Thái hay làm sau mỗi lần tắm xong. Anh lái buôn càng mê mẩn nước da trắng nõn, đôi cánh tay tròn lẳn của cô ta. Hắn vụt chạy đon đả rồi vội đưa ra hai mét vải lụa và một mét vải hoa đến bên cô chủ nhà: - Ối chà, định chỉ nghỉ nhờ một đêm nhưng đã mấy hôm chưa được nghỉ, quá mệt, muốn để ngựa nghỉ sức một ngày nữa. À mà có mấy vuông vải, xin cô nhận làm quà. Người đẹp trắng nõn nà thế này mà mặc thứ vải này thì hợp lắm!  Chủ nhà có vẻ thích thú: - Ôi! Em làm gì có tiền trả ông. Gã buôn vội nói: - Có đáng là bao! Lần sau qua đây còn làm phiền nhau nhiều chứ. Cầm lấy đi, có ai bảo phải trả tiền đâu nào. Cô gái ướm vải, mắt sáng hẳn lên, tỏ lời cảm ơn. 
Cơm trưa xong, nhìn cô gái ăn mặc nghiêm chỉnh nhưng chưa có đồ trang sức gì nên hắn tấn công: - Ôi, đôi bàn tay này có đôi vòng ngọc, đôi tai có đôi khuyên vàng, cái búi tóc có chiếc trâm bạc thì tuyệt biết bao! Thế là hắn lại tặng cô các thứ ấy. 
Cô ả tự dưng thấy mình lại có nhiều thứ quá, hơi chột dạ, nhưng thấy vẻ mặt thật tâm của anh ta, cô ả nói: - Cảm ơn ông, ông cho em nhiều quá thế này. Gã buôn cười cười nói nói: - Đừng ngại, tôi còn qua đây nhiều, còn phải nghỉ trọ nhờ nhau nhiều! Thấy người đẹp cần phải có nhiều của quí mới xứng với đời nên có chút quà mọn thôi! Người con gái bình dân ấy, ngay trong ao ước cũng không dám nghĩ đến các vật quí đó. Nhưng khi có được một cách rõ ràng thế, lại nghĩ rằng"Ừ, mà mình cũng đẹp thật, ai cũng nói thế. Mà đẹp vậy có váy thô ty hôi, cái vòng tay bằng đồng xoắn do chồng tặng lúc còn là con gái, thì cũng phí hoài cả đời đẹp". Người khách lạ này giàu sang thật mà người lại đẹp trai, lịch thiệp hào phóng thế! Cho đến tối hắn còn thả nhiều mồi, và dường như cá đã cắn câu. 
Dân bản thấy người khách ở lâu chưa đi mà cô chủ cũng quên không rủ em bé gái sang ngủ cùng như mọi bận. Chàng lái buôn si tình thoạt đầu nghĩ lợi dụng chơi bời, ai ngờ hắn say tít. Thế là hai người sống với nhau như vợ chồng. 
Vài ngày sau người chồng trở về thấy vợ mình xúng xính váy lụa, trang sức, chàng uất ức muốn đâm chết cả hai người nhưng anh kịp nghĩ: Có lẽ ta có lỗi vì ta nghèo không kiếm được những đồ sang trọng để vợ ta dùng. Người đẹp vì lụa âu cũng là phải! Người vợ tựa như cũng ăn năn nhưng những bộ đồ cũ quen thuộc ngày nào không đủ sức giúp cô rũ bỏ bộ đồ sang trọng trên mình. Anh chồng đành tìm đến cửa quan. Tình ngay lí gian, trước những lý lẽ của tên lái buôn, chàng không biết lí giải làm sao, chỉ ôm mặt khóc. Quan xử án nghĩ có gì uẩn khúc đây nên nói: - Các người đều không có bằng chứng mà dám đến cửa quan sao? Tội đó đáng phạt. Cho các ngươi chịu phạt xong, ta sẽ nói tiếp! Quan ra lệnh: - Đem cái trống to ra đây! Bây giờ anh áo chàm và cô gái kia hãy khiêng cái trống này đi vòng qua năm quả đồi kia rồi qua đây chờ lệnh. 
Hai vợ chồng khiêng chiếc trống đi, dọc đường người chồng gợi lại tình nghĩa vợ chồng nhưng người vợ lặng thinh không nói. Hết buổi sáng họ mới đi vòng hết năm quả đồi. Vừa về đến nơi, quan lại phán: - Bây giờ anh chàng giàu sang kia cùng cô này lại tiếp tục khiêng trống đi như vừa nãy. 
Dọc đường đi, anh lái buôn hết lời dụ dỗ hứa sẽ cho hết cả cơ ngơi của hắn nếu cô chịu bỏ chồng bằng không sẽ lột hết các thứ đã cho cô. Khiêng đã hai lần nên cô gái thấm mệt, lại thêm gã lái buôn thúc ép, cô thấy cực thân và thấy xấu hổ, nói như mắng: - Người ta đang sống yên lành, đem của đến làm khổ người ta. Bây giờ lại doạ nạt người ta. Ôi! Tôi nhục nhã thế này! Tôi còn mặt mũi nào quay lại với chồng tôi đây! Hai người về đến cửa quan, vừa đặt cái trống xuống thì một người đã đội mặt trống chui ra và nói: - Bẩm quan, anh mặc áo chàm mới đích thực là chồng của ả kia.
Quan bắt gã lái buôn nộp hết của cải cho anh nông dân, rồi đánh trăm roi đuổi đi. Người vợ xấu hổ, hoá điên bỏ chạy. Người chồng chạy theo níu giữ những họ có về sống với nhau hay không nhiều người cũng không biết.

84. NGƯỜI VỢ MÙ
Xưa kia, ở một bản Mèo, có một nhà khá giả ấy sinh được hai anh em. Anh trai trắng, đẹp, khoẻ mạnh. Em gái đen, xấu gầy còm. Nàng không may bị loà thuở lọt lòng. Cả nhà, ai cũng rất yêu thương nàng, nhất là người anh.
Nàng Loà càng lớn càng ngoan nết, siêng làm. Nhưng vẫn chẳng chàng trai nào muốn lấy nàng làm vợ. Nàng cũng không tủi phận, yên tâm sống với gia đình. Bỗng nhiên mẹ, cha nàng theo nhau về trời. Anh nàng phải lấy vợ để có người trông coi nhà cửa. Nhà nàng Loà lại có một con gnựa cũng mù từ khi mới đẻ cùng ngày với nàng. Nàng thương con ngựa cùng cảnh ngộ, luôn chăm sóc, vuốt ve, an ủi nó. Thấy vậy, tuy con ngựa vô dụng, cũng chẳng ai muốn thịt hoặc bán nó đi.
Chị dâu nàng là con người “bụng xanh mặt trắng”. Mụ ghét nàng lắm, không muốn nuôi nàng tàn tật như vậy. Đã nhiều phen mụ xui chồng đuổi em đi, nhưng người chồng vẫn thương yêu em gái, không nghe nên mụ tìm cách hại em chồng.
Một bữa, mụ nói dối là đưa em chồng đến một thầy thuốc giỏi để chữa mắt. Anh em nàng loà đều vui bụng tin theo. Nhưng đi nửa đường, mụ đẩy em chồng xuống vực sâu, đoạn về bảo chồng là cô em phải ở lại nhà thầy thuốc khá lâu mới chữa khỏi mắt. Người chồng không nghi ngờ gì. Nhưng con ngựa mù, từ lúc mụ chị dâu nham hiểm về, cứ hí vang đau thương và uất ức. Nó đạp phá tàu ngựa dữ dội. Người anh vỗ về sao cũng cũng chẳng chịu im. Cuối cùng nó xổng ra, phóng chạy như bay tới bên bờ vực, chỗ nàng Loà bị đẩy xuống và cứ đứng đấy giậm vó hí vang trời. Tiếng hí thảm thiết của nó vang xa khắp nơi nơi, vang tới tận đáy vực sâu.
Nàng Loà bị đẩy xuống vực may sao chưa chết. Nghe tiếng hí, nàng biết ngay đấy là con ngựa mù nhà mình. Nàng nói vọng lên: - Ngựa à, thương ta thì hí mãi cho người nghe thấy tới cứu ta. Con ngựa như hiểu lời chủ, mỗi lúc càng hí to thêm.
Bên kia bờ vực có một chàng mồ côi, chàng bị thông manh từ thuở lọt lòng. Chàng sống lần hồi bằng trứng các loài chim rừng và thịt thú. Bữa nay, chàng đang lần mò kiếm ăn, bỗng nghe tiếng ngựa hí khác thường. Chàng bèn dò dẫm tới gần và nghe tiếng người kêu cứu dưới vực. Không quản khó khăn, nguy hiểm, chàng thong manh tụt theo vách đá mép vực, tìm cách cứu người bị nạn. Vất vả lắm, chàng mới cứu được nàng loà lên. Nàng Loà kể lại chuyện mình và trở ơn chàng cứu sống, nàng ngỏ ý muốn theo chàng. Chàng thông manh cảm động nói: - Tôi đã khổ, nàng còn khổ hơn. Ơn nàng thương yêu, nhưng chúng ta nhà cửa ruộng nương chẳng có lại cùng mù loà, lấy nhau, làm gì nên ăn! Nàng an ủi: - Ta không có mắt sáng nhưng có sức khoẻ biết thương yêu, bảo nhau làm khắc đủ ăn. Thấy nàng kiên quyết, chàng nhận lời. Hai người bèn dắt nhau về hang. Con ngựa mù cũng lẽo đẽo theo chủ, không rời nửa bước. Từ ấy, hang đá bên vực thẳm ấm thêm hơi người, hơi lửa. Cặp vợ chồng tàn tật nghèo khổ lần lữa cũng qua ngày. Con ngựa mù cũng vậy, nó tự tìm kiếm lấy mà ăn.
May sao, từ khi thành vợ chồng, mắt hai người tự nhiên ngày một sáng ra dần. Nhờ vậy, vợ chồng kiếm sống đỡ vất vả hơn. Ngựa cũng như người, không còn mù tịt như xưa. Và mắt nó càng sáng, sức nó càng khoẻ lại. Nó giúp vợ chồng nàng Loà được nhiều việc hơn.
Một bữa, nàng vào sâu trong hang vẫn ở. Nàng ngạc nhiên khi thấy trong hang đầy những thỏi to thỏi nhỏ cầm nặng tay, nhìn loá mắt. Nàng cầm vài thỏi mang ra ngoài xem kỹ. Mặc dù mắt chưa được tinh tường, nàng cũng biết đó là vàng bạc. Chồng nàng chưa biết đó là của quý, nói: - Ừ, đá này là đá gì, nhiều lắm, mình nhặt ném đống trong hang, nhiều khi ném cả xuống vực để được nghe tiếng nước động, cá chạy cho đỡ buồn đấy! Bây giờ, nàng mới bảo cho chồng biết đấy là vàng bạc của quý. Vợ chồng bèn mang về bản, xuống chợ đổi lấy đồ ăn thức dùng. Tuy đã giàu, nhưng vợ chồng nàng vẫn chăm chỉ làm ăn. Chẳng bao lâu, vợ chồng đã làm được nhà cao cửa rộng, “gian giữa dán giấy vàng, gian bên dán giấy bạc”. Trâu bò, gà lợn đầy sân.
Khi đã đầy đủ, nàng bỗng nhớ tới người anh ngay thẳng, tốt bụng, vẫn thương yêu nàng từ tấm bé. Và nàng bàn với chồng, nhắn tin mời anh chị sang chơi. Người anh, trước giờ vẫn đinh ninh em gái ở nhà thầy thuốc chữa mắt, nay được tin nhắn, mừng lắm. Anh sửa soạn để đi. - Anh định xuống “long phủ” thăm em gái à? Nó chết lâu rồi! Vợ anh bảo anh vậy. Anh ngạc nhiên, không tin. Anh cứ lên đường, cưỡi con ngựa ô chạy nhanh như gió. Chẳng mấy lúc, anh đã tới nhà vợ chồng cô em gái mà anh phải xa từ rất lâu.
Vợ chồng nàng Loà tiếp đãi anh trai hết sức thân thiết, sang trọng. Người anh trai cũng vô cùng vui sướng khi thấy em gái, em rể giàu có, yên vui.
Anh em ăn thịt uóng rượu vui chơi ba ngày ba đêm không chán. Khi anh trai đòi về, vợ chồng Loà gủi theo nhiều vải nhiễu, nhiều bạc vàng làm quà, chất lên lưng ngựa một thồ nặng. Người anh trai về tới nhà, kể chuyện lại cho vợ nghe. Mụ tưởng vợ chồng cô em không biết hoặc đã quên chuyện cũ; máu tham lại nổi lên, mụ tức tốc sang để xem thật giả, và hỏi cách làm giàu. Mụ được vợ chồng nàng Loà tiếp đãi tử tế, và dẫn cho đi xem của cải. Mụ ngốn của, lại nảy ý hại em chồng để chiếm đoạt gia tài. Mụ bèn giả bộ tử tế, khẩn khoản mời vợ chồng em về chơi. Vợ chồng nàng Loà vốn ngay thật nên vui vẻ về theo.
Nhưng được nửa đường, tới chỗ vực sâu, nhân khi tối trời, mụ lại đẩy cả hai vợ chồng em xuống chỗ hẻm sâu nhất. Mụ yên trí hai người không thoát chết. Về nhà, mụ vờ khóc lóc, nói là cả hai em về chơi, đi dọc đường đều bị hổ vồ. Và sáng sớm hôm sau, mụ thúc chồng phải sang ngay nhà em, kẻo lát nửa người ngoài sẽ tới khuân hết của.
Mụ không thể ngờ con ngựa nọ không khi nào chịu xa chủ. Nó biết chủ bị ám hại. Nó đã nhảy xuống vực, tìm cách cứu vợ chồng chủ thoát chết. Và cũng đúng sáng sớm hôm sau, nó đã để chủ cưỡi, đưa chủ về nhà.
Mụ chị dâu đang thu dọn của cải thấy vậy, tưởng vợ chồng cô em chồng về báo oan. Mụ hốt hoảng bỏ chạy. Người anh trai chẳng hiểu sao cũng bỏ chạy. Mụ chị dâu chạy theo đường cũ. Sương mù khiến mụ lạc đường hụt bước, ngã xuống vực sâu. Mụ chết đuối không ai biết. Người anh về nhà, đợi mãi không thấy vợ về, hôm sau bèn đi tìm. Tới bên vực, thấy xác vợ nổi chương phềnh, anh thương xót nhảy xuống vớt. Nhưng anh không biết bơi, bị sóng nước xô đi.
Vợ chồng nàng Loà, lúc này đang cùng nhau ngồi uống rượu ăn mừng. Mừng thoát chết, mừng thoát cảnh tối tăm đêm trước, vợ chồng cùng nằm mơ gặp tiên và tiên chữa khỏi hẳn mắt, chữa cho cả ngựa nữa. Sáng dậy, quả nhiên mắt người, mắt ngựa đều tinh tường. Đang uống rượu thì vợ chồng nghe tiếng quạ kêu đầy trời. Ra xem và theo bóng quạ dẫn tới bờ vực, vợ chồng thấy có người sắp chết đuối. Vợ chồng vội cứu lên, thì đấy chính là anh trai mình. Người anh trai thoát chết, bèn cùng hai em vớt xác vợ lên chôn.
Từ đó, ba anh em lại chung sống với nhau, cùng hưởng chung của cải, sung sướng hết đời. Chỉ mỗi mình mụ chị dâu gian tham là thiệt phận, đáng kiếp.

85. MỤ DÌ GHẺ ĐỘC ÁC
Ngày xưa, có một người đàn ông goá vợ lấy một người đàn bà goá chồng. Mỗi người cũng có một con trai riêng. Đứa con trai của người chồng lên mười tuổi, còn cậu con trai của người vợ lên chín. Người vợ kế chỉ thương con mình nên có miếng gì ngon đều dành cho con riêng, còn với con của chồng thì mắng mỏ thậm tệ, bắt làm đủ mọi việc. Vì vậy, tuy hai đứa xấp xỉ tuổi nhau nhưng đứa con của vợ mỗi ngày một lớn, còn đứa con của chồng mỗi ngày một gầy quắt đi. Chồng biết vợ tệ bạc với con mình nhưng không thể làm gì được.
Một hôm chồng vào rừng săn bắn, vợ ở nhà rán bánh dày. Hai mẹ con ăn, còn đứa con chồng chỉ đứng chực nhìn mồm. Trời về chiều, đứa con mẹ kế trông thấy bố dượng vác một con hoẵng về đến cổng mới chạy vào nhà bảo với mẹ: - Mẹ ơi! Bố đi săn được một con hoẵng đang vác về kia kìa. Mẹ ghẻ vội vàng cầm chiếc bánh dày rán xoa vào mồm đứa con chồng rồi véo cho nó một miếng và bảo ăn. Lúc ấy người bố cũng vào đến trong nhà. Thấy con cầm bánh bèn nói: - Bố đang đói quá. Con đưa cho bố miếng bánh bố ăn tạm. Đứa con ngoan ngoãn đưa miếng bánh cho bố. Bố ăn xong thấy ngứa đầu, gọi con lại bắt chấy cho mình. Bố ngồi, đứa con đứng đằng sau đưa hai tay vạch tóc ra tìm chấy. Bỗng có một giọt nước nhỏ xuống đầu người bố. Người bố thấy có nước nhỏ vào đầu, bụng nghĩ "Trời hôm nay không mưa sao nhà lại dột?". Bố quay đầu lại nhìn thấy đứa con nước mắt lưng tròng mới hỏi: - Sao con lại khóc? Đứa con nức nở: - Bố ơi! Bố không biết, bố đi vắng dì ở nhà rán bánh chỉ cho con của dì ăn, còn con thì phải nhịn. Khi bố về đến ngoài kia dì mới lấy bánh xoa vào mồm con chỉ có mỡ không và véo cho con một tẹo, con đã nhường cho bố ăn rồi. Con đói lắm!
Bố nghe con nói thương tâm lắm, ông nghĩ thầm: "Con ta ở với dì ghẻ thế nào cũng bị đói mà chết mất. Chi bằng cho nó theo ta đi săn vào rừng sâu rồi ta trốn về, nó không biết lối, muốn theo ai thì theo, còn hơn là phải tận mắt trông thấy con chết, chỉ càng thêm đau lòng". Nghĩ thế, hôm sau người bố gọi con lại bảo: - Con ơi! ở với dì khổ lắm. Cơm không được ăn, áo không được mặc lại làm bao nhiêu là việc. Ngày mai con theo bố vào rừng săn hổ to đem về bán lấy tiền mua gạo ăn cho đỡ khổ. Con trèo lên gác nhà lấy gạo nếp nấu cơm đem đi ăn đường. Đứa con làm theo lời bố. 
Sớm sau, hai cha con vào rừng. Đến khu rừng đầu tiên thấy có nhiều vết chân hổ to bằng miệng chén, bố hỏi: - Ở đây săn được chưa con? Con đáp: - Hổ này bé, chưa được đâu! Đi đến khu rừng thứ hai, vết chân hổ to bằng miệng bát, bố lại hỏi: - Nơi này săn được chưa con? Con lại nói: - Hổ này nhỡ chưa được đâu! Đến khu rừng thứ ba thấy có vết chân hổ to bằng cái đĩa, bố lại hỏi con: - Chỗ này săn được chưa con? Con nói: - Hổ này to lắm, được rồi! Ở lại săn thôi! Hai bố con giở gói cơm nếp, cơm tẻ ra ăn một bữa no nê rồi cùng làm lán ngồi rình hổ. Trời về khuya, bố bảo con: - Bây giờ con ngủ trước để bố canh cho. Khi nào có tiếng động bố sẽ gọi con dậy. Đứa con được một bữa no bụng, vừa nằm xuống đã ngủ liền. Bố thấy con ngủ say mới trở về nhà.
Nửa đêm hôm ấy, có một con hổ to từ trong hốc đá đi ra thấy đứa bé đang ngủ bèn nằm ngay bên cạnh. Đứa bé rét, sờ phải đầu hổ nằm bên, tưởng là bố mình nên cứ rúc vào nách hổ ngủ. Lúc sau hổ gầm lên một tiếng, hỏi đứa bé: - Có sợ ta không? Đứa bé đáp: - Không sợ đâu, chỉ sợ bố thôi! Nói rồi, đứa bé lại rúc đầu vào nách hổ ngủ tiếp. Một lát lại nghe tiếng có người nói ồn ào, tiếng chặt cây chan chát, đứa bé vẫn nhắm nghiền mắt, nói vọng ra: - Ai chặt cây thì chặt cây to còn cây bé thì để lại. Sáng hôm sau tỉnh, dậy đứa bé không thấy bố đâu mà chỉ thấy có một ông cụ già ngồi bên cạnh và bảo nó đi rửa mặt, ăn cơm. Nó theo ông cụ ra suối thì nhìn khắp bốn phía chỗ nào cũng có nhà cửa, người đi lại đông vui, cây cối tươi tốt, trâu bò thi nhau gặm cỏ. Đứa bé không tìm được lối về mới xin ở lại sống làm ăn ở đó.
Người bố sau khi bỏ con trong rừng đi về thì đinh ninh rằng đứa con tội nghiệp của mình khó có thể sống nổi. Mới đầu ông còn nghĩ đến con, lâu dần cũng quên đi. Một lần ông đang ngồi trong bếp, nghe tiếng chim kêu ngoài vườn nhưng lại giống như tiếng người vợ cũ của ông nói: - Bện thừng trâu, thừng ngựa đi cho con buộc ngựa buộc trâu. Người bố thấy chim kêu mới gọi người vợ kế ra. Người bố hỏi vợ kế: - Tại sao chim kêu thế, hay con tôi còn sống? Người vợ kế nói: - Sống cái gì! Nó kêu: "Chôn đi thôi! Chôn đi thôi!".
Bố không tin mới bện một cuộn dây thừng đi tìm con. Khi vào khu rừng ngày xưa ông bỏ con thì khu rừng đó đã biến thành làng bản đông vui. Đứa con bây giờ đã trở thành một chàng trai khoẻ mạnh có vòng vàng, vòng bạc đầy tay, đầy cổ. Người bố mừng lắm. Bố hỏi tại sao con còn sống, và khi đó người con trai kể hết sự tình câu chuyện cho bố nghe. Bố nghe xong trong lòng lấy làm hổ thẹn lắm. Được vài hôm, cha con chia tay nhau. Về đến nhà, người bố kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mẹ con vợ kế nghe. Người vợ kế sẵn thói tham lam mới gọi con trai đến bảo ngày mai đi theo mình vào rừng.
Cũng như lần trước đứa con chồng đã làm, lần này đứa con mẹ kế cũng nấu cơm nếp mang theo ăn đường. Tới một khu rừng, thấy có một phiến đá rộng, mẹ bảo con nằm nghỉ lưng trên đó rồi lẻn về nhà. Một chốc, một con hổ vằn từ trong rừng sâu đi ra thấy có người nằm ngủ giữa rừng hổ vồ lấy và nhai ngấu nghiến.
Người mẹ ghẻ về nhà chỉ chờ có tiếng chim kêu là đi ngay. Bỗng một con chim bay đậu trên nóc nhà hót rằng: - Con chết, chôn đi! Con chết, chôn đi! Chồng thấy chim kêu, bảo vợ: - Sao chim lại kêu: "Con chết, chôn đi! Con chết, chôn đi!". Vợ kế cãi: - Nó kêu: "Bện thừng trâu, thừng ngựa đi cho con buộc ngựa buộc trâu chứ!" Ông nghe không rõ thôi! Người vợ kế bện một cuộn thừng thật dài và đi vào chỗ đứa con nằm ngủ. Vừa đến nơi mụ trông thấy con hổ to lù lù nằm ngủ ở giữa bụi cỏ gianh, mồm há hốc, răng nào cũng vàng và to như quả chuối chín. Mụ tưởng là chuối chín và nói: - Con trai ta giấu chuối ở bụi cỏ gianh này đây. Ta thử nếm xem nào.
Mụ vừa thò bàn tay vào răng hổ thì tức khắc hổ chồm dậy xé xác mụ dì ghẻ độc ác.

86. CHUYỆN TÌNH NÀNG THỊ NHI
Ngày xưa có hai vợ chồng tên là Trọng Cao và Thị Nhi. Hai người lấy nhau mà không có con. Thị Nhi rất yêu chồng, nhưng chán về nỗi tính tình của chồng ngày một bạo ngược, hay gây chuyện đánh đập vợ. Một hôm, không may xảy ra một việc nhỏ Trọng Cao vác gậy đuổi vợ, Thị Nhi đau khổ đành dứt áo ra đi.
Đến một xứ khác, Thị Nhi lấy một người chồng mới tên là Phạm Lang. Cuộc ân ái này rất đằm thắm. Phạm Lang chiều vợ rất mực. Hai vợ chồng hoà thuận, chăm lo cày cấy, cửa nhà ngày một khá giả. Tuy nhiên Thị Nhi vẫn không quên được người chồng cũ. Nhiều đêm nàng ngồi một mình thổn thức nhớ Trọng Cao.
Trọng Cao từ ngày đuổi vợ đi, trong lòng hối hận, chàng đau xót về lỗi lầm của mình. Chàng ước được gặp ngay Thị Nhi để nhận tội cùng nàng. Và rồi một buổi chiều, không chịu nổi sự giày vò của lòng mình, chàng bỏ nhà ra đi tìm Thị Nhi. Chàng lần mò đi, đi mãi cho đến ngày hết lương, chàng phải đi xin ăn để độ đường. Song ý chàng đã quyết, chàng vẫn đi.
Một hôm, tình cờ Trọng Cao đến gõ cửa nhà Phạm Lang. Lúc đó Phạm Lang đi vắng chỉ có một mình Thị Nhi ở nhà, Thị Nhi vừa nhìn mặt đã biết ngay là chồng cũ. Nhưng Trọng Cao thì trái lại không nhận ra vợ mình.
Đói khát lâu ngày, không ngờ được Thị Nhi đãi cơm rượu, Trọng Cao ăn uống mặc sức. Ăn xong, say quá chàng lăn ra ngủ. Thị Nhi không muốn cho chồng mới biết chuyện, bèn vực Trọng Cao giấu vào đống rơm ở góc vườn rồi phủ rơm lại cho ngủ yên.
Chiều hôm ấy, Phạm Lang đi làm về, trước khi đi ngủ chàng đốt đống rạ ở góc vườn để lấy tro ngày mai bón ruộng. Ngọn lửa bén sang cả đống rơm nơi Trọng Cao đang ngủ say. Đến khi Thị Nhi biết thì Trọng Cao đã bị chết cháy. Nàng đau đớn quá mà không thổ lộ được. Bèn nhảy ngay vào đống lửa đang bốc cháy ngùn ngụt. Phạm Lang không biết gì về câu chuyện xảy ra. Chàng chỉ một lòng thương vợ, cuối cùng cũng gieo mình chết ngay bên cạnh Thị Nhi.
Việc đó, Ngọc Hoàng ngồi trên soi kính, thấy hết được nỗi lòng của ba người. Cảm nhận mối chân tình của họ, và thấy cần phải làm cho bộ ba ấy được sống gần nhau mãi mãi. Ngọc Hoàng còn phong cho ba người hoá thành ba đầu rau. Nhân thể Ngọc Hoàng còn phong luôn cho họ chức Táo quân, trông nom việc bếp nước đến việc làng giữ trong gia đình. Và hàng năm cứ đến ngày hai ba tháng chạp lại được triệu về trời báo cáo.

87. CHÀNG LÍA
Ngày xưa có một nhà nông phu nghèo ở Gò Sặt, tỉnh Bình Định có một đứa con trai tên là Lía. Từ thuở lọt lòng, Lía đã mồ côi cha mẹ nhưng chóng lớn và khoẻ mạnh. Năm lên bảy, một mình Lía có thể hạ bọn trẻ cùng lứa tuổi trong những keo vật. Một vài năm sau, tất cả những đứa trẻ trong vùng đều sợ Lía.
Một hôm, Lía đấu võ với một đứa lớn tuổi. Lía dồn địch thủ vào một thế rất nguy hiểm, làm cho nó phải van lên: - Tôi lạy anh, anh tha cho tôi, tôi xin gọi anh là vua! Từ đó cái tên "Vua Lía" được bọn trẻ hay dùng. Chúng nó ngày ngày làm kiệu khênh Lía đi chơi khắp nơi. Một người hàng xóm mách tin đó cho mẹ Lía biết và nói: - Chao ôi! Bà liệu chừng cái đầu của mẹ con bà đó! Mẹ Lía hốt hoảng: - Chết tôi! Lạy trời cho nó đừng sinh nguy. Người hàng xóm nói: - Bà cho nó đi học đi! Đem gửi nó cho ông đồ, ông ấy kèm cho. Từ đó Lía phải đi học. Ông đồ tuy dữ đòn nhưng Lía không sợ. Chàng thích học võ hơn là học chữ. Chàng thường lén thầy ra vườn, đi những bài quyền học lỏm được của người khác. Mấy luống rau của ông đồ chả còn một cây nào mọc được. Một hôm, giữa lúc bị thầy nọc cổ xuống đánh, Lía giật lấy roi bẻ vụn ra từng khúc. Ông đồ nhìn Lía tặc lưỡi. Ngay hôm sau ông đồ dắt đứa học trò cứng đầu ấy đến trả cho mẹ nó.
Lía khoái chí vì ngày ngày khỏi phải ê a chán ngắt. Chàng lại cầm đầu bọn trẻ đùa nghịch như xưa. Một hôm, Lía chọn mấy đứa lớn khoẻ cùng mình lên núi vắng đón những người lạ mặt đi chợ về cướp lấy gồng gánh tay nải. Được những thứ gì Lía thường chia cho bọn trẻ cùng hưởng. Người ta lại mách cho mẹ Lía biết. Lần này mẹ Lía hết đánh con đến van vái con. Lía thề xin chừa. Chàng rất thương mẹ, không muốn để mẹ cực khổ về mình. Nhưng rồi chứng nào vẫn giữ tật ấy. Cuối cùng mẹ Lía bắt Lía đi ở chăn trâu cho một nhà giàu ở một làng khác thật xa.
Ở đấy Lía lại có bạn mới. Mỗi ngày chàng và các bạn phải lùa đàn trâu lên núi cao cho ăn. Sau những cuộc đua chọi bằng đánh cù, đánh vật, bọn trẻ ở đây tôn Lía làm đàn anh. Dần dần chàng lại cùng bọn trẻ cũng đón đường cướp giật tay nải của những người bộ hành đi lẻ tẻ trên đường vắng.
Một hôm, Lía hứa với các bạn ngày mai sẽ đãi tiệc. Chúng chỉ phải chuẩn bị dao nồi và mắm muối. Hôm sau, khi chúng tập hợp đầy đủ, Lía bảo: - Chúng mình làm thịt nghé ăn chơi! Chúng nói: - Không sợ chủ nó bắt đền à? Lía bảo: - Cứ ăn ngay con nghé của chủ tao, tội vạ tao chịu. Nói rồi giết ngay con nghé tơ xẻ thịt nấu ăn. Chàng bảo chúng: - Về nhà cứ nói hộ tao rằng cọp tha mất nghé là đủ.
Lần đó quả có "động rừng" cho nên mưu kế ấy thành công. Người nhà tìm nghé mãi không được, tin là hổ vồ nên không căn vặn gì lắm. Được ăn quen mùi, chúng giở mưu đó làm đi làm lại hết đàn nghé nhà chủ này đến đàn bò nhà chủ khác. Cuối cùng bọn chủ biết được. Chúng bắt đền cha mẹ bọn trẻ. Mọi người hay chuyện, ai cũng giận Lía, toan bắt giải quân quan. Nghe tin không hay Lía bỏ trốn biệt.
Khi bước về nhà, Lía thấy mẹ đang nằm trên giường bệnh rên hừ hừ. Chàng lại dùng lối cướp giật kiếm tiền mua thuốc. Được của ngon vật lạ Lía đều đưa cho mẹ ăn. Mẹ hỏi: - Mày lấy ở đâu ra thế? Lía nhất định không nói, chỉ năn nỉ mẹ ăn cho là đủ.
Sau khi mẹ chết, Lía không còn kiêng nể một ai nữa. Đói thì đi cướp giật để ăn, siêng thì ra đồng luyện võ nghệ. Một hôm Lía giật cái thúng trong đó có mấy quan tiền của một người qua đường. Thấy người đó oà khóc, chàng gạn hỏi và sau đó mới biết là anh ta vừa bị một tên chánh tổng cướp đoạt gia sản nay bị đuổi ra khỏi nhà, lưng vốn chỉ còn bấy nhiêu. Nghe kể chuyện, Lía bừng bừng nổi giận, mặc dầu bụng đói, chàng trả tiền cho người đó rồi dò hỏi tìm đến đánh vỡ đầu tên chánh tổng. Quan trên vì việc ấy sai một toán lính về bắt Lía. Nhưng khi về đến làng, bạn của chàng đã tin trước cho chàng trốn đi.
Lía không có họ hàng thân thích nên khi bỏ nhà ra đi, chàng không có chỗ ở nhất định. Tối lại ngủ chùa ngủ đình, đói ở đâu thì cướp ở đó. Một hôm đi qua truông Mây, Lía gặp một bọn cướp chặn đường đòi tiền mãi lộ. Chàng vờ sợ hãi đưa tay nải ra. Nhưng khi bọn cướp xông lại thì chàng cho mỗi đứa một đá văng ra xa. Cả bọn cướp ở trên núi xuống bổ vây nhưng bị Lía nhổ cây làm gậy đánh cho thất điên bát đảo. Chủ trại thấy chàng võ nghệ tuyệt trần thì mời chàng nhập bọn. Lía vui lòng ở lại để chấm dứt cuộc đời lang thang.
Ba người chủ trại tên là Hồ, Nhẫn và Chân có tiếng võ nghệ cao cường không ai địch nổi. Trong mấy năm họ đóng ở truông Mây, mọi người đều sợ. Cả đến quan tỉnh, quan huyện cũng đều kiềng mặt. Người ta gọi tôn là "cha Hồ, chú Nhẫn, mẹ Chân". Từ lúc Lía nhập bọn, bọn cướp truông Mây càng thêm vây cánh và càng lộng hành hơn trước.
Một hôm bọn họ kéo nhau ra Bồng Sơn cướp một tiệm buôn lấy được của cải và hàng hoá bộn bề. Trở về trại, bọn họ mở tiệc ăn mừng. Khi chia của cải cướp được, bọn cha Hồ toan chiếm lấy phần nhất. Nhưng Lía nhất định không chịu: - Nếu không có tôi, thì các chú đã dám vào nhà chưa? Chàng nói. Rồi Lía đòi ba chủ trại hãy ra sân cùng mình tỉ thí. Khi ra đấu võ thì sức khoẻ và võ nghệ của Lía mười phần, bọn cha Hồ không được một. Thấy Lía toàn tài, cả trại đồng thanh tôn chàng làm chủ.
Từ ngày Lía làm tướng, hành động của bọn cướp truông Mây có phần thay đổi. Lía cấm lâu la không được cướp của những người qua lại, không được cướp của những người nghèo: - Đã cướp, chúng ta phải làm những mẻ to cho bõ, gõ vào đầu bọn trọc phú, cần gì đi vét hầu bao của những người nghèo. Lía tuyên bố. Thường khi cướp được nhiều của, Lía bắt trích một nửa phân phát cho những người nghèo trong vùng. Chẳng những thế, mỗi lần trong tỉnh xảy ra việc gì mà Lía cho là trái lẽ, chàng liền kéo bọn truông Mây đến can thiệp.
Từ đó, cái tên truông Mây, cái tên Lía được dân nghèo ca tụng. Trái lại, bọn quan lại, bọn nhà giàu trong tỉnh thì sợ mất mật. Quan tỉnh nhiều phen phái quân đến tiễu trừ nhưng mỗi lần xuất quân đều bị họ đánh cho tan tác. Bọn quan tỉnh không làm thế nào được, muốn báo về triều đình nhưng lại sợ tội trút lên đầu nên đành để mặc Lía và thủ hạ tung hoành.
Ít lâu sau, nghe tin nhà vua mở khoa thi võ, Lía có ý muốn trổ tài với thiên hạ, lập chút công danh. Bọn cha Hồ không cản được đành ở lại giữ trại cho Lía cải trang ra đi.
Khoa ấy ở trường Bình Định có một viên chánh chủ khảo ăn tiền như rác. Thí sinh ai có lo lót ít nhiều hắn mới chịu nhận đơn. Thấy Lía nạp đơn không có "vi thiềng", chánh chủ khảo đập bàn quát: - Mày là thằng nào mà không biết tiền lệ trường thi. Đơn từ làm dốt nát thế này. Lính đâu, đuổi cổ thằng này không cho thi nữa. Nghe mấy lời đó, Lía căm tức vô hạn nhưng giữa nơi quân lính đông đảo, gươm giáo sáng loè chàng đành nuốt giận không ra tay. Chàng đi gấp về sơn trại, kể việc đó cho bọn cha Hồ nghe và nhất định đem lâu la xuống núi rửa hận. Cả bọn cải trang rất khéo và hoạt động rất bí mật. Chỉ đến khoảng nửa đêm quân của Lía đã vào đến thành và phục sẵn ở đó. Chánh chủ khảo đang ngon giấc với nàng hầu thì bị một nhát dao vào cổ, vợ hắn chỉ còn biết van xin rối rít. Thấy nàng đẹp, Lía bắt luôn đưa về sơn trại làm vợ.
Bọn Lía rút êm lẹ, nên mãi đến gần sáng quan quân mới biết. Suốt tỉnh náo động. Sau cùng, dò la mãi người ta mới biết rằng bọn cướp truông Mây gây ra việc đó. Lần này không thể giấu được triều đình, bọn quan tỉnh phải làm sớ tâu vua và xin thêm quân để tảo trừ.
Bên phía quân truông Mây cũng lo đắp đồn, luyện quân để phòng thủ sơn trại. Vì thế quân đội triều đình mấy lần xông vào đều bị thất trận. Các quan đều lấy làm lo lắm. Nếu không lập mưu giết Lía thì bọn họ không thể nào ngồi ấm chỗ được. Nghĩ rằng nếu dỗ được vợ Lía làm nội ứng thì rất có lợi, bọn họ mới sai ba tên lính giả làm lái buôn lụa để dò hỏi. Ba tên này nhờ lo lót với bọn canh cửa nên lọt được vào truông Mây bán hàng cho vợ Lía để dò la. Giữa khi giở các súc gấm cho vợ Lía xem, bọn chúng cố ý để lộ cho nàng thấy một chiếc nhẫn của chánh chủ khảo để lại. Người đàn bà hiểu ý, sai đuổi kẻ hầu ra ngoài. Bọn chúng đưa mắt nhìn nàng và nói nhỏ: - Chúng tôi lặn lội lên đây là vì mối thù của bà lớn. Đoạn chúng móc trong tầng quần trong, đưa ra một phong thư của quan tỉnh hứa với nàng: nếu làm nội ứng trừ được giặc sẽ có trọng thưởng. Vợ Lía trả lời bằng lòng và hẹn ngày thi hành kế độc.
Đến ngày ấy, vợ Lía sắm sửa một bữa tiệc rượu linh đình, mời tất cả bọn cha Hồ, chú Nhẫn, mẹ Chân đến dự và nói là ăn giỗ mẹ. Nàng ăn mặc rất đẹp, liếc mắt đưa tình và chuốc chén mời mọi người. Bọn Lía không ngờ kế độc, cứ uống tràn. Rượu đã có tẩm thuốc mê nên chưa tan tiệc mà bốn chủ trại đã say khướt không còn biết gì trời đất. Vợ Lía cho bọn lâu la hạ tiệc xuống ra sân trại ăn uống cùng nhau. Còn lại một mình, bà ta lấy thừng lớn trói bọn cha Hồ lại với nhau. Về phần Lía, bà ta biết Lía có một sức khoẻ phi thường nên dùng mười lớp dây thừng buộc chặt chàng vào tấm phản. Xong đâu đấy, bà ta cho người tâm phúc ra khỏi sơn trại báo tin.
Nghe báo, quân triều đình lập tức tiến công. Quân truông Mây không có tướng nên tan vỡ rất nhanh chóng. Quân triều đình kéo ùa vào trại như vào chỗ không người. Bấy giờ Lía đã hơi tỉnh, thấy nguy biến, chàng định vùng dậy chạy ra nhưng toàn thân mắc cứng vào tấm phản. Biết là mắc kế độc, Lía bèn dùng hết sức bình sinh giãy đứt dây buộc chân rồi đứng dậy mang cả tấm phản sau lưng. Chàng húc mấy cái vào cột nhưng dây buộc chặt quá không thể làm gì được. Thấy gấp gáp quá, Lía cứ để vậy chạy ra phía cửa trại phá vòng vây xông ra. Tấm phản là một chướng ngại lớn cho chàng, nhưng cũng là tấm mộc rất tốt. Mấy tên lính, đứa thì bị cái đá của Lía, đứa thì bị tấm phản húc vào đầu nên khiếp đảm không dám đuổi, chúng đành trở vào bắt bọn cha Hồ, chú Nhẫn, mẹ Chân giải nạp.
Thoát vây, Lía cứ rừng già chạy một mạch. Mãi đến xế chiều, bụng quá đói, sức quá mệt chàng mới dừng lại nghỉ bên bụi cây. Gặp một ông già gánh củi từ rừng sâu xăm xăm bước tới. Lía nhờ ông cởi trói giúp. Sau đó ông già còn rút mo cơm ra cho Lía ăn. Đang mệt và đói Lía không từ chối đón lấy ăn ngay. Ăn xong chàng vái ông già và nói: - Tôi là thằng Lía lâu nay vẫn vùng vẫy một cõi không ai làm chi nổi, nay mắc mưu một đứa nữ nhi, thân thế phải đến nông nỗi này, sống làm chi cho thêm nhơ nhuốc. Lía nhờ được ông cởi trói lại được một bữa ăn, ơn này không biết lấy gì mà trả. Vậy xin dâng vật này, ông hãy mang xuống nạp quan mà lĩnh thưởng.
Cụ già vừa nghe dứt lời thì đã thấy thủ cấp của Lía nằm dưới chân ông. Ông cụ vốn rất hâm mộ Lía, ông toan giúp Lía đi trốn để khôi phục cơ đồ nhưng không ngờ Lía quá nóng nảy tự huỷ tấm thân. Than khóc hồi lâu ông đem thi thể của chàng chôn cất một nơi kín đáo không ai biết.
Ngày nay vẫn có câu ca dao:
Chiều chiều én liệng truông Mây, cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

88. NGƯU LANG - CHỨC NỮ
Chức Nữ (hay còn gọi nàng Chức, ả Chức) là con gái út của Ngọc Hoàng thượng đế. Xinh đẹp nết na, lại khéo tay, chăm làm. Nàng thích nhảy múa, ca hát, lại cũng thích cùng chị cùng em và bầu bạn đi thăm thú khắp nơi. Trên trời, dưới đất - những nơi cảnh đẹp thần tiên, chỗ nào cũng có dấu chân nàng. Mỗi khi đường xa mệt nhọc hoặc trời nóng oi bức các nàng tiên lại rủ nhau đi tắm. Thường là ở những hồ nước lớn, nhưng đôi khi cũng xuống một hồ nước nhỏ, thật mát, thật trong, do từ nhiều khe suối chảy về, trong một thung lũng cây cỏ, hoa lá phủ đầy...
Thuở ấy, có một chàng trai khôi ngô, tuấn tú và hào hoa hay đi chăn thả đàn gia súc đông đúc của nhà mình. Tên chàng là Ngưu Lang. Hàng ngày Ngưu Lang cưỡi trên lưng con trâu đầu đàn có cặp sừng hình cái cung và khoác bên mình chiếc sáo trúc. Giữa cảnh trời đất bao la, chàng thường dùng tiếng sáo để diễn tả nỗi niềm sâu kín của lòng mình. Ngày tháng êm ả trôi qua...
Đôi khi đàn gia súc kéo nhau vào sâu mãi trong thung lũng. Những lúc như thế, chàng Ngưu Lang thường ngồi trên một phiến đá phẳng vừa để trông coi gia súc lại vừa ngắm nhìn hồ nước trong xanh ở phía xa xa. Giữa cảnh núi non trùng điệp, nhiều khi chàng cảm thấy cô đơn và mang sáo ra thổi để thổ lộ nỗi niềm. Tiếng sáo có lúc vút cao lên trên chín tầng trời, lại có lúc chùng xuống như thấm sâu vào trong lòng đất. Chẳng biết có phải vì thế không mà thỉnh thoảng các nàng tiên cũng giáng thế xuống nơi này. Chỉ biết có một lần, chàng Ngưu vừa ngồi trên phiến đá và mang sáo ra thổi thì ở phía bên trên hồ nước bỗng thấy một đàn thiên nga bay lượn. Cảnh tượng thật là diệu kỳ khiến chàng phải dừng lại để quan sát. Chàng thấy một lúc lâu sau cả bầy thiên nga cùng đỗ xuống bên mép nước. Lạ thay, khi trút bỏ những bộ cánh trắng muốt thì bầy thiên nga lại hoá ra bầy tiên nữ. Rồi các nàng tiên nữ cùng ùa xuống tắm ở dưới hồ.
Từ trên phiến đá, chàng Ngưu vẫn để mắt theo dõi và lần đầu tiên trong đời, chàng kinh ngạc nhận ra các tiên nữ cũng chẳng khác với người thường nhưng điều đặc biệt là tất cả các nàng đều xinh đẹp tuyệt vời.
Một nỗi ước ao chưa từng thấy bỗng nhiên dâng lên trong lòng chàng. Từ ngày còn tấm bé chàng đã từng được nghe ông bà cha mẹ kể về thần tiên và các nàng tiên nữ. Thì đây, ngay bây giờ các nàng tiên đang ở trước mắt chàng, chẳng phải là trong mơ. Chàng tự nhủ: "Phải lấy được một nàng làm vợ". Ngay lập tức chàng nhảy xuống phiến đá, gài chiếc sáo lại rồi lách qua những bụi cây rậm rạp tiến về phía hồ nước. Trước mắt chàng hiện ra la liệt những bộ xiêm áo trắng muốt mang hình dáng đôi cánh, đang vắt trên các lùm cây. Thấy các nàng tiên còn mải mê bơi lội, chàng lách đến một bụi cây gần vừa bị che khuất, gỡ lấy bộ xiêm áo đang mắc ở phía trên và cuộn lại. Xong chàng lách trở lại, qua những lùm cây theo lối tắt chạy thẳng về nhà.
Chàng gấp vội bộ xiêm áo, gói kín lại rồi nhét xuống đáy bồ thóc giống. Ra ngoài hiên, vơ vội bộ quần áo của em gái đang treo, vo tròn lại rồi chàng chạy ngược về phía hồ nước. Lúc ấy các nàng tiên vẫn đang nô đùa, té nước nhau. Yên trí, chàng đặt bộ quần áo của nhà mình lại bên trên lùm cây lần trước rồi nhanh chóng lách trở về, ngồi trên phiến đá, mang sáo ra vừa thổi vừa quan sát.
Sau khi tắm xong, các nàng tiên ùa nhau lên bờ, ai nấy mặc xiêm áo của mình vào rồi ngay lập tức cùng nâng bổng người lên, bay liệng một vòng quanh hồ, đoạn nhỏ dần, rồi biến mất trên nền trời rộng. Chàng Ngưu bàng hoàng không còn tin ở mắt mình, ngoảnh lại chàng thấy ở bên hồ một nàng tiên còn mải mê tìm xiêm áo. Nàng tiên ấy chính là Chức Nữ, con gái út của Ngọc Hoàng thượng đế. Sau một hồi tìm kiếm không được, cuối cùng nàng đành phải mặc vào mình bộ quần áo trần gian và ngồi ở dưới lùm cây bên mép nước, thỉnh thoảng lại ngước lên trời.
Lúc ấy ở phía tây mặt trời đã gác núi cũng là lúc Ngưu Lang phải đưa đàn gia súc về nhà. Chàng lùa chúng đến bên hồ uống nước. Khi đến trước mặt nàng Chức Nữ, chàng dừng lại làm ra bộ sửng sốt, hỏi nàng: - Ô hay, trời sắp tối rồi, nàng còn chờ ai mà ngồi mãi ở đấy? Chức Nữ ngẩng mặt nhìn chàng rồi đáp: - Thiếp là người trời, đang ngồi chờ các chị đem xiêm áo tới. Chàng giả vờ hỏi chuyện: - Thế lúc trước nàng xuống đây bằng cách nào? Chắc là xiêm áo đã lẫn ở đâu đó, để tôi đi tìm cho. Nói rồi, chàng tiến về phía các bụi cây, vạch lá để tìm xiêm áo thật. Chức Nữ cũng đứng dậy, đi tìm cùng với chàng. Nhưng sau hàng giờ tìm kiếm, tuyệt nhiên vẫn chẳng thấy xiêm áo đâu. Trời lúc ấy đã chạng vạng tối, không còn nhìn thấy dấu vết nào của một cánh thiên nga. Chức Nữ nước mắt đầm đìa nhưng Ngưu Lang thì trong bụng lại khấp khởi mừng thầm. Chàng bảo Chức Nữ: - Thôi, trời đã tối rồi, có tìm nữa cùng chẳng nhìn thấy gì cả. Chi bằng mời nàng hãy về nhà tôi tạm nghỉ. Sáng mai chúng ta lại ra đây tìm kiếm. Thấy chẳng còn cách nào khác, cuối cùng Chức Nữ đành phải cùng Ngưu Lang dồn đàn gia súc về nhà.
Tối hôm ấy, thấy Ngưu Lang về cùng một cô gái mọi người trong nhà lúc đầu còn ngạc nhiên nhưng sau đều vui mừng ra mặt. Ngưu Lang thuật lại chuyện cho cả nhà nghe nhưng đoạn đánh tráo xiêm áo thì tuyệt nhiên chàng chẳng hề đả động tới. Em gái Ngưu Lang nhìn thấy Chức Nữ đang mặc trên người quần áo của mình, hiểu ý anh nên không nói gì cả, hơn nữa lại còn mừng thầm cho anh trai mình. Còn Chức Nữ khi mới đến nhà Ngưu Lang nàng thấy lạ lùng, nhưng sau thấy mọi người vui vẻ, thân mật nên nàng cũng bớt đi vẻ ngại ngùng. Trong lòng nàng bắt đầu có cảm tình với chàng Ngưu Lang. Đây không phải lần đầu nàng xuống trần, cũng không phải lần đầu tiếp xúc với người trần nhưng việc có cảm tình với một người thì đấy mới chỉ là lần thứ nhất. Nàng nhớ lại khi ở trên trời nhiều vị thiên lôi, thần tướng cũng từng theo đuổi nàng nhưng tuyệt nhiên nàng chưa có cảm tình với một ai. Tuy là người trời nhưng họ làm sao sánh được với chàng Ngưu Lang - một người vừa đẹp trai, vừa biết thổi sáo, lại ăn nói đối xử dịu dàng như thế.
Ngưu Lang quan sát, hiểu rất rõ tâm trạng của nàng. Chàng điềm tĩnh nói: - Ngày mai chúng ta lại đi tìm xiêm áo cùng nàng. Nhưng chỉ sợ lúc thấy xiêm áo rồi nàng không trở lại đây nữa. Chức Nữ đáp: - Chàng đừng lo, nhất định tôi sẽ quay lại. Hôm sau chàng lại cùng Chức Nữ ra phía hồ nước để tìm xiêm áo cho nàng nhưng tìm suốt cả buổi mà chẳng tìm ra được một dấu vết gì. Ngày thứ hai, thứ ba cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Sang ngày thứ ba tuy vẫn tìm nhưng tuyệt nhiên xiêm áo vẫn chẳng thấy đâu, Chức Nữ nản lòng. Thấy vậy, Ngưu Lang tìm cách động viên, khuyến khích nàng. Cuối cùng, khi thấy Chức Nữ vui vẻ, như có điều gì đó thực sự quyến luyến với cõi trần thì Ngưu Lang mới nói: - Âu đây cũng là duyên trời, liệu chúng ta có thể nên vợ nên chồng được chăng? Chức Nữ cúi đầu một hồi lâu không đáp, nhưng khi ngẩng mặt lên, mắt nàng nhìn chàng chan chứa tình yêu rồi lặng lẽ gật đầu.
Mấy ngày sau, đám cưới giữa Ngưu Lang và Chức Nữ được cử hành, đông vui như mở hội. Cau trầu, rượu thịt bày ra, anh em họ hàng, làng xóm tất cả đều cùng tham dự.
Sau lễ cưới, gia đình Ngưu Lang sống với nhau những ngày thật hoà thuận, đầm ấm. Một năm sau, nàng sinh cho Ngưu Lang một con trai vừa giống chàng lại vừa giống nàng - nghĩa là một chú bé thật xinh đẹp và kháu khỉnh. Tuy thế, nỗi nhớ cha mẹ, anh chị em và bầu bạn nơi tiên giới thỉnh thoảng cũng đến xâm chiếm cõi lòng nàng. Chàng Ngưu vẫn đi chăn thả đàn gia súc như ngày trước. Còn nàng ở nhà, vừa trông con, vừa đảm đang quán xuyến công việc trong nhà. Mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu, chị dâu - em chồng trong nhà thảy đều rất tốt đẹp...
Thường thì Ngưu Lang chiều tối nào cũng về nhưng khi chăn thả xa chàng phải ngủ lại ở ngoài lán trại, có khi đến hai, ba ngày liền. Vào một lần như thế, trời nắng ráo lại sắp đến kỳ gieo mạ nên hai mẹ con nàng ở nhà xúc thóc ra phơi. Nào ngờ, vừa gần đến lớp đáy, bỗng một gói nhỏ hiện ra. Ngạc nhiên, nàng mở ra xem thì thấy lại bộ xiêm áo cũ của mình. Thật khó mà nói hết tâm trạng của Chức Nữ lúc này. Một mặt nỗi nhớ tiên giới bỗng chốc trở nên da diết đối với nàng. Mặt khác, nàng cũng giận chàng Ngưu Lang bấy lâu nay sao không nói thật cùng nàng. Và thế là trong lúc không kìm nổi lòng mình, nàng mặc bộ xiêm áo vào rồi bay bổng lên trời.
Khi chàng Ngưu lùa đàn gia súc về đến nhà, thấy bồ thóc đang phơi dở và thấy đứa con nhỏ đang bơ vơ một mình thì chàng hiểu ngay rằng điều tai hại nhất đã xảy ra: Chức Nữ đã bay về trời rồi. Chàng vội đi vào phòng thấy còn chiếc trâm để ở trên bàn. Nỗi hối hận ngày đêm vò xé tâm can chàng. Chàng không nhẫn tâm đến mức đốt bỏ bộ xiêm áo ấy nhưng rõ ràng chàng đã lần lữa để rồi cuối cùng chàng phải chuốc lấy cơ sự này. Chàng chẳng thiết ăn uống cũng chẳng thiết làm lụng gì nữa, đêm ngày chỉ thui thủi cùng đứa con thơ. Mấy ngày sau chàng trao lại đàn gia súc cho gia đình rồi dắt con đi tha thẩn khắp nơi, mong rằng tìm lại được dấu vết của vợ.
Nhớ lại kỷ niệm xưa, chàng cùng con đến bên hồ nước. Hồ nước vẫn như xưa, những đám mây trắng bay ngang qua gợi nhớ những cánh thiên nga thuở nào càng làm cho chàng thêm tủi sầu. Và chàng đem cây sáo ra thổi cho vợi nỗi cô đơn, cô quạnh trong lòng. Cứ thế, nỗi buồn làm chàng không còn thấy thiết sống nữa... Thế rồi đến một hôm trên trời cao có một cánh thiên nga xuất hiện, cánh thiên nga mỗi lúc một gần và cuối cùng đậu xuống trước mắt chàng là một nàng tiên quẩy đôi thùng gánh nước. Khi nàng tiên múc nước xong quay lên bờ thì chàng Ngưu đã dắt con chạy tới trước mặt. Chàng hỏi xem nàng có biết Chức Nữ, con gái út của Ngọc Hoàng hiện có mặt trên thượng giới hay không? Nàng tiên lắng nghe đoạn lặng lẽ gật đầu. Ngưu Lang bèn kể lại sự tình đầu đuôi rồi trao cho nàng chiếc trâm của Chức Nữ khi trước. Nàng tiên ấy chính là một thị nữ, hàng ngày vẫn ở bên nàng Chức Nữ. Khi tiếng sáo của chàng Ngưu thấu đến cõi thiên cung thì nàng Chức cầm lòng chẳng được, bèn tâu với mẫu hậu bí mật cho thị nữ của mình xuống trần.
Khi trở về cõi trời, Chức Nữ chỉ vui vẻ được mấy ngày. Sau ba năm xa cách, nay gặp lại cha mẹ, anh chị em và bầu bạn thì có nỗi mừng nào hơn nhưng rồi niềm vui qua đi để thay vào đó là nỗi niềm nhớ chồng và con tha thiết. Hình ảnh chàng Ngưu cùng đứa con thơ chẳng lúc nào rời khỏi tâm trí nàng.  Từ khi biết chuyện nàng xuống trần rồi để mất xiêm áo Ngọc Hoàng tức giận, đã ra lệnh từ nay cấm chỉ các nàng tiên dong chơi xuống trần và lệnh ấy được các vị thiên lôi, tướng thần thi hành nghiêm chỉnh. Đến khi Ngưu Lang dắt con đến bên hồ nước cất lên tiếng sáo ai oán, não nùng vọng tới Thiên đình thì Chức Nữ tưởng trái tim mình đang bị xé rách từng mảng. Nàng năn nỉ xin với mẫu hậu trộm phép vua cha cho thị nữ của mình xuống trần để dò tin tức của chồng và con. Khi trở về thị nữ thuật lại đầu đuôi câu chuyện gặp chàng Ngưu Lang bên hồ và chàng đưa lại chiếc trâm... Chức Nữ đau buồn khóc lên những hồi thảm thiết. Thương con gái út bé nhỏ tội nghiệp, mẫu hậu cũng rầu rĩ đứng ngồi không yên. Cuối cùng bà đành làm trái lệnh Ngọc Hoàng. Bà sai thị nữ đưa hai cha con Ngưu Lang lên gặp Chức Nữ.
Gặp lại được nhau, họ mừng mừng tủi tủi, buồn vui không tả xiết. Giữa lúc đang diễn ra cuộc đoàn viên thì có mấy vị thiên lôi đi canh gác ngang qua. Các vị nạt nộ một hồi khiến mọi người sợ đến hết hồn. Sợ chuyện đến tai Ngọc Hoàng, mẫu hậu đành phải thu xếp để cha con Ngưu Lang nhanh chóng trở lại cõi trần.  Vì hai cha con Ngưu Lang là người cõi trần nên Chức Nữ phải xin mẫu hậu một chiếc mảng có dây rất dài để dòng xuống. Lại xin một chiếc trống con để khi chạm đất, Ngưu Lang gõ vào làm tín hiệu ở trên Chức Nữ còn biết. Đường từ cõi tiên xuống trần thật xa xôi muôn dặm. Nếu có quần áo tiên thì chỉ bay trong chốc lát nhưng vì hai cha con là người trần nên thật chậm chạp và nhọc nhằn. Khi gần xuống đến nơi, vô tình những con chim thấy lạ nên bay đến mổ vào mặt trống khiến cho Chức Nữ tưởng hai cha con đã chạm mặt đất nên nàng cắt dây. Thế là hai cha con chàng Ngưu Lang cùng chiếc trống, chiếc mảng rơi tòm xuống biển. 
Từ hôm chia tay chồng và con, Chức Nữ ngày đêm buồn rầu đau khổ. Ngọc Hoàng đã hiểu sự tình, rất thương con nên ngài đã gật đầu công nhận, rồi ngài phán quyết: "Ngưu Lang - Chức Nữ từ nay vĩnh viễn được nên vợ nên chồng nhưng do đã phạm vào giới luật thiên đình nên gia đình không được thường xuyên đoàn tụ. Ngưu Lang không phải trở về cõi trần mà ở lại trông coi đàn gia súc của thiên đình, còn Chức Nữ từ nay phải suốt ngày quay tơ dệt vải...
Ngưu Lang và Chức Nữ sẽ ở bên bờ của sông Ngân Hà hàng năm chỉ được đoàn tụ trong năm ngày (từ mồng ba đến mồng bảy tháng bảy tính theo năm âm lịch ở hạ giới). Trong những ngày này lũ chim làm đứt dây nên phải lấy đầu ra làm cầu bắc qua sông Ngân cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau, đứa con được theo cha. Và Ngọc Hoàng ra lệnh: - Sao Khiên Ngưu là biểu tượng của chàng Ngưu, ở bên tả sông Ngân, có một ngôi sao nhỏ đi kèm là biểu tượng của đứa bé. Sao Chức Nữ là biểu tượng của nàng Chức ở bên hữu của sông Ngân. Hàng năm, từ mồng ba đến mồng bảy tháng bảy hai ngôi sao Ngưu Lang và Chức Nữ sẽ về "đóng" tại hai bên bờ sông Ngân, ở giữa là một dãy sao nhỏ biểu tượng của đàn chim.
Từ đó, cứ từ mồng ba đến mồng bảy tháng bảy âm lịch thường có những đợt mưa ngắn - ấy là nước mắt của vợ chồng chàng Ngưu và đứa con trong ngày đoàn tụ mừng mừng tủi tủi. Còn từ mồng tám trở đi, có khi đến hết trung tuần tháng bảy có những đợt mưa kéo dài hơn, ấy là nước mắt của họ trong cảnh chia ly bắt buộc. Trong những ngày này nàng Chức vừa khóc vừa quay tơ kéo sợi - những sợi tơ rối trắng ngần hoà lẫn cùng nước mắt, rải đều xuống khắp các miền của cõi nhân gian.

89. CHUYỆN NÀNG TÔ THỊ
Ngày xưa, ở thị trấn Kinh Bắc có một người đàn bà goá chồng từ sớm, ngày ngày đi mò cua bắt ốc để nuôi hai con một trai và một gái. Trong khi mẹ chúng ra đồng, Tô Văn, đứa con trai độ mười tuổi và Tô Thị, đứa con chừng tám tuổi, ở nhà tha hồ đùa nghịch với nhau, không ai ngăn nổi.
Một hôm, Tô Văn chơi ném đá rồi không biết ném thế nào trúng ngay vào đầu em. Tô Thị ngã vật xuống đất, ngất đi, máu ra lênh láng. Tô Văn thấy thế sợ quá, chạy một mạch ra đường, không dám ngoái cổ lại. May sao, sau khi xảy ra tai nạn, một bà hàng xóm chạy sang lấy lá thuốc dịt cho Tô Thị, cầm ngay được máu. Đến khi người mẹ đi mò cua về thì thấy con gái đã ngồi dậy được. Nhưng còn Tô Văn thì biệt tăm, mgày một ngày hai cũng không thấy thằng bé trở về, tìm khắp nơi cũng không thấy. Người mẹ nhớ con, sinh ra buồn phiền, ngày một héo hon, chẳng bao lâu ốm nặng rồi chết, bỏ lại Tô Thị một mình. Đứa con gái được mấy người láng giềng cho ăn trong ít ngày, rồi hai vợ chồng người chủ hàng cơm đem đứa bé về nuôi để sai vặt. Sau đó, hai vợ chồng người chủ hàng cơm lên xứ Lạng mở hàng nem, đem Tô Thị đi theo. 
Lớn lên, Tô Thị xinh đẹp, lại nết na, siêng năng, nên rất được nhiều người để ý. Dành dụm được ít vốn, nàng nghĩ cách tự làm ăn. Bấy giờ hai vợ chồng người chủ hàng cơm đã có con cái đỡ đần, nên khi nàng xin ra ở riêng, bố mẹ nuôi ưng thuận ngay.
Đã học được nghề làm nem Tô Thị liền mở cửa hàng nem ở Háng Cưa (bây giờ là phố Đầu Cầu) tại Kỳ Lừa. Nàng làm nem rất khéo. Cửa hàng của nàng mỗi ngày một đông khách. Người ta đến để thưởng thức nem ngon, cũng có người vừa thích nem vừa mê bóng mê gió cô chủ. Chiều khách thì thật là khéo chiều, nhưng cô hàng rất đứng đắn, làm cho mọi người vị nể.
Thấm thoắt, Tô Thị đã hai mươi tuổi, tuy có nhiều mối manh, nhưng nàng chưa thuận nơi nào.
Một hôm, có một anh thanh niên tuổi ngoài hai mươi, vẻ người tuấn tú, đem thuốc từ Cao Bằng về Lạng Sơn bán. Nghe nói ở Háng Cưa tại Kỳ Lừa có hàng nem ngon, lại có chỗ trọ rộng rãi, chàng liền tìm đến. Biết cửa hàng một lần, hai lần, rồi cứ mỗi lần mang thuốc về Lạng Sơn bán, chàng lại tìm đến hàng nem. Chàng thanh niên và Tô Thị trở nên thân thiết, trước còn mến, sau yêu nhau...
Hai người lấy nhau được hơn một năm thì Tô Thị có mang, sinh được một gái. Hai người yêu nhau rất mực, lại được thêm mụn con, mối tình càng khăng khít.
Một hôm, người chồng về nhà, thấy vợ đang gội đầu ở ngoài hiên. Chàng bế con ngồi trên bậc cửa xem vợ gội đầu, kể đôi câu chuyện vặt cho vợ nghe. Chợt thấy đầu vợ có cái sẹo to, chàng hỏi: - Đầu mình có cái sẹo to, thế mà bây giờ tôi mới biết. - Bây giờ chàng mới biết à, chàng cho là xấu lắm phải không? - Tô Thị hỏi. - Có xấu gì đâu, tóc che đi, có ma mà biết! Khi còn con gái, mình đau nhọt hay sao mà lại có cái sẹo to như thế? Thấy chồng hỏi một cách ân cần, nhân vui chuyện, Tô Thị kể tỉ mỉ cho chồng nghe những chuyện xảy ra hồi nàng còn bé. Câu chuyện càng đi sâu, người chồng càng lộ vẻ buồn. Chốn Kinh Bắc, nơi quê cũ người anh đi mất tích, mẹ chết, theo vợ chồng người chủ quán lên xứ Lạng, rồi ở luôn đây cho đến bây giờ.
Biết bao đau thương, buồn thảm. Chàng tự nhủ mình: "Sao mình lại không phải là kẻ khác mà lại là Tô Văn! Thôi mình đã lấy lầm em ruột mình rồi..."Chàng hồi nhớ lại những ngày xa xăm, cái ngày chàng lỡ tay ném đá vào đầu em, tưởng em chết nên chạy trốn, đi lang thang không dám về nhà, rồi được một người Trung Quốc buôn thuốc bắc đem về nuôi ở Trùng Khánh, thuộc tỉnh Cao Bằng. Lớn lên, Văn theo họ bố nuôi là họ Lý, chàng thường đem thuốc xuống Lạng Sơn bán và chỉ ở đây một vài ngày là hết hàng. Ngoài con đường Lạng Sơn - Cao Bằng, Cao Bằng - Lạng Sơn, chàng cũng không biết đi đến đâu cả. Hơn mười năm qua, chàng yên chí gia đình mình ở miền xuôi không còn một ai nữa, quê cũ đối với chàng như trong sương mù, không còn tưởng nhớ đến làm gì...
Văn nghĩ ngợi, rầu rĩ, nhưng Tô Thị mải chải đầu, quấn tóc, không để ý đến. Nàng vẫn vui vẻ, hồn nhiên không biết chồng mình đang ở vào những phút buồn phiền ghê gớm. Thấy Tô Thị ngây thơ, vui vẻ thế, Tô Văn càng không muốn để nàng biết sự thực. Ai lại để cho người em gái mình còn non trẻ như thế kia biết một việc loạn luân như thế bao giờ ! Một việc loạn luân không do ý hai người định, nhưng chàng quyết tâm gỡ mối cho xong. Thôi, hay là lại đi biệt chuyến nữa, em mình trẻ trung, xinh đẹp dường ấy, làm gì chả lấy được chồng khác, Văn nghĩ thế, rồi chàng nghĩ cách để đi.
Giữa lúc tâm trạng Văn như thế thì có việc bắt lính thú, anh xin đăng lính, không bàn với vợ nửa lời. Mãi đến lúc sắp lên đường, chàng mới nói: - Anh đi đăng lính rồi, em ạ. Sớm mai thì lên đường, đi chuyến này có khi sáu năm mới về và cũng có khi lâu hơn... Mình ở nhà nuôi con, còn về phần mình, mình cứ tự định liệu, nếu nhỡ ra... Tô Thị nghe chồng nói như sét đánh ngang tai, không hiểu sao đang sống yên vui mà chồng lại bỏ đi một cách kỳ lạ như thế. Nàng khóc ấm ức, không nói nửa lời. Còn Văn chỉ những bứt rứt âm thầm, cho như vậy là giải thoát.
Từ ngày chồng đi, Tô Thị chẳng thiết gì đến việc bán hàng. Ngày ngày bế con lên chùa Tam Thanh cầu cho chồng được tai qua nạn khỏi, chóng được trở về cùng nhau xum họp. Nhưng ba năm, bốn năm, nàng cũng chẳng thấy chồng về. Có mấy kẻ phao tin là chồng nàng chết, muốn hỏi lấy nàng làm vợ, nhưng nhất định nàng từ chối. Có một tên kỳ hào tiếng là hống hách trong vùng muốn hỏi nàng làm vợ kế. Hắn có thế lực và rất tàn nhẫn. Nàng thương con còn thơ dại, không dám từ chối ngay, sợ rước vạ vào thân, chỉ tìm cách khất lần. Nhưng khất mãi cũng không được, nên cuối cùng nàng đành hẹn với hắn một kỳ hạn để sau tìm kế khác. "Biết đâu đến ngày ấy, chồng mình lại trở về" - Nàng nghĩ thế.
Rồi kỳ hạn cũng hết, nàng trông đợi chồng đỏ cả mắt mà chàng vẫn không về. Nàng ôm con lên chùa Tam Thanh kêu cầu. Hôm ấy, trời nổi cơn dông, nàng nhớ chồng, thương thân, bế con ra ngoài chùa, trèo lên một mỏm đá cao chót vót, nhìn về hướng chồng đi. Mây đen kéo đầy trời. Gió rít từng hồi qua kẽ lá. Mưa như trút nước, chớp loè khắp núi. Nàng vẫn bế con đứng trơ trơ, đăm đăm nhìn về hướng chồng đi. Toàn thân quả núi rung chuyển dưới những luồng sét dọc ngang. Mưa mỗi lúc một to, Tô Thị vẫn bế con đứng trơ trơ trên mỏm đá cao.
Sáng hôm sau, mưa tạnh, gió yên, mặt trời toả ánh sáng xuống núi rừng. Nàng Tô Thị bế con đã hoá đá tự bao giờ (tục truyền tảng đá này rất lớn và cao, trông rõ ra hình một phụ nữ bế con, đăm đăm nhìn về hướng Bắc. Ngày xưa các cụ thường kể lại rằng : Đá vọng phu (tức nàng Tô Thị) đã bị sét đánh đổ trong một cơn giông xuống vực sâu vào cuối thế kỷ XIX, làm rung chuyển cả tỉnh Lạng Sơn) Ngày nay, còn truyền lại câu ca:
 Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

90. TIẾN SĨ GIẤY
Ngày xưa, có một anh thanh niên, con một gia đình khá giả vì được nuông chiều nên ngay từ thuở nhỏ đã rất hư hỏng. Muốn cho con có một ít chữ để nên người, cha mẹ anh ta mời một ông thầy đồ về dạy học, nhưng anh không chịu học hành mà chỉ chơi bời lêu lổng suốt ngày. Lớn lên, học không hay, cày không biết, sẵn có tiền của cha mẹ, anh chỉ chuyên cờ bạc, rượu chè ngày này qua ngày khác. Chẳng bao lâu cha mẹ anh lần lượt qua đời. Khi cha mẹ mất thì của chìm của nổi trong nhà cũng lần lượt tiêu tan. Từ đó, không chịu làm lụng, chỉ biết ăn chơi nên anh ta trở thành một người nghèo túng nhất làng. Tài sản trong nhà ngoài túp lều để trú thân khi mưa nắng và một cái chổi cùn, rế rách anh ta chẳng có đồ vật gì khác. Đói nghèo, anh ta bắt đầu học cày, học cuốc. 
Một hôm, phải cày thửa ruộng ven đường cái rất xa làng, mặt trời lên gần một con sào rồi anh mới lững thững vác cày dắt trâu đi. Ra đến đồng thì đã nửa ngày. Anh lội xuống, vừa mới cày được hai ba đường thì chân tay đã rã rời, anh vội lên bờ ngồi nghỉ. Anh vừa ngồi dưới bóng cây thì có mấy anh học trò đi trên đường cũng dừng lại nghỉ chân, hút nhờ thuốc. Hai bên làm quen nhau. Anh thanh niên lân la hỏi: - Các thầy khoá đi có công việc hay đi chơi đâu đấy? Một anh học trò trả lời: - Chúng tôi lên kinh đô để thi đây. Mấy năm trời nhà vua mới mở một khoa thi, học hành tốn kém, không biết khoa này có đạt được kết quả như ý muốn hay không? Anh lại hỏi tiếp: - Chắc các thầy tài cao học rộng, văn hay chữ tốt mới đi thi chứ! Đã vậy lo gì mà chẳng đỗ. Một anh học trò khác khiêm tốn nói: - Đâu dám khoe mình là nhiều chữ. Anh em chúng tôi cũng mới biết đôi ba chữ thôi.
Khi mấy anh khoá đi rồi, anh tự nghĩ: Ngày xưa bố mẹ cũng cho mình học được ít chữ. Họ thi được có lẽ mình cũng thi được. Hay mình cứ thử đi một chuyến xem sao. Thế rồi anh vội tháo cày, dắt trâu về, sửa soạn đi thi.
Đường lên kinh đô phải qua một con sông, các anh đồ nho lên kinh dự thi đều phải qua đây. Vùng này có một cô gái con quan, từ bé đã được học hành, làm thơ, làm phú, lớn lên có nhan sắc, lại thông minh. Năm ấy, cô muốn kén một người chồng xứng đáng nên ra chở đò ngang ở bến này. Cô ra một câu đối, nếu ai đối được sẽ lấy người đó làm chồng. Nhiều nho sĩ đã qua đây nhưng chẳng ai làm cô vừa ý. Hôm ấy, trên một chuyến đò, cô thấy có một anh không có dáng nho sĩ mà lại có vẻ đi thi, cô liền hỏi: - Anh cũng lên kinh đô thi à? Anh thanh niên trả lời: - Vâng! Cô gái nói tiếp: - Thầy khoá đi thi chắc học rộng, biết nhiều, tôi xin ra một câu đối: "Long hữu túc, hà long bất tẩu". Thầy mà đối được tôi xin theo thầy làm người nâng khăn sửa túi. Anh nghĩ mãi, không tìm được câu đối lại, bèn tìm cách thoái thác: - Bây giờ tôi đang nghĩ đến văn bài, còn tâm trí nào mà nghĩ đến việc khác. Khi trở về, thế nào tôi cũng phải qua đây, tôi xin khất cô đến lúc tôi trở về tôi sẽ đối. 
Qua đò, anh hối hả đi. Vì nghèo túng, vừa đi vừa phải lo ăn nên khi đến kinh đô thì trường đã tan. Không biết làm thế nào, anh đánh bạo hỏi thăm nhà quan giám khảo, xin vào gặp quan. Lúc ấy quan giám khảo đang bực nên nghe có một tên dân xin vào hầu thì nhất định không cho. Thấy thế vợ ông liền nói: - Cứ cho hắn vào xem hắn kêu ca điều gì, có mất gì đâu mà không cho hắn vào. Vốn là người sợ vợ, ông liền bảo lính cho anh vào.
Đi trong dinh nhà quan nhìn thấy toà ngang dãy dọc uy nghi, anh rất lo sợ nhưng rồi lại tự nhủ: Đã trót thì phải trét, thôi cứ liều. Nhìn thấy anh, quan giám khảo hỏi: - Anh đến có việc gì? Anh chàng liền kêu: - Dạ! bẩm quan lớn, con là hàn sĩ, phải chạy ăn từng bữa một nhưng vì hiếu học con cũng cố tìm cách theo đòi nghiên bút. Trên đường đến kinh đô dự thi con vừa đi vừa phải tìm cách sinh sống nên đến nơi trường thi đã tan. Ba năm triều đình mới mở một khoa thi, đợi đến khoa sau thì con không làm sao theo đuổi được. Vì vậy con đến xin quan rủ lòng thương giúp đỡ cho con! Nghe anh kêu xin, quan giám khảo trừng mắt nói: - Phép nhà vua đã định, việc thi cử nghiêm minh lắm, có phải chuyện thường đâu! Bài vở đã chấm xong cả rồi, bây giờ không còn cách nào nữa.
Bà quan ngồi nghe động lòng thương, thấy chồng nói thế, liền bảo: - Ông không thương người một chút nào cả, người ta gặp phải tình cảnh như vậy mới đến kêu cầu, chứ không thì ai đến làm gì! Làm ơn thì sau này người ta sẽ trả ơn. Nghe vợ nói, ông đành phải nghe theo. Ông bảo anh thanh niên: - Thôi được! Ta sẽ làm ơn cho anh, khoa này còn đang thiếu một tiến sĩ. Bây giờ ta ra cho anh một câu đối, nếu anh đối được ta sẽ cho đỗ.
Nhìn quanh trong nhà, chợt thấy bức trướng thêu mấy con phượng mà ông rất thích, ông liền đọc: - "Phượng hữu dực, hà phượng vô phi". Rồi ông nói: Đấy anh đối đi! Anh thanh niên nghĩ mãi, không tìm ra được vế đối lại. Anh lo quá, lo quan quở trách, lại lo lúc trở về cô lái đò giễu cợt. Thốt nhiên, anh nghĩ đến câu đối của cô lái đò, anh mừng quá, liền thưa với quan: - Bẩm quan lớn, con xin mạn phép đối thế này: "Long hữu túc, hà long bất tẩu", có gì sai sót xin quan lớn tha thứ cho! Anh vừa đọc xong thì quan giám khảo reo lên: - Hay lắm! Anh quả là một người có học rộng tài cao. Ta sẽ cho anh đỗ tiến sĩ.
Được đỗ tiến sĩ, anh thanh niên mừng lắm, trên đường vinh quy về làng, qua bến đò, anh mời cô lái đò lên và nói: - Khi vào kinh qua đây, cô có ra cho tôi vế đối câu: "Long hữu túc, hà long bất tẩu" nếu đối được cô sẽ nguyện làm bạn trăm năm. Lúc ấy, vì lo thi cử nên tôi khất cô đến khi về. Bây giờ công thành danh toại rồi tôi xin đối lại: "Phượng hữu dực, hà phượng vô phi", không biết như thế cô đã cho là chỉnh chưa?
Cô gái tấm tắc khen hay và ưng thuận làm vợ anh như lời cô đã hứa. Về sau những người trong xóm biết chuyện ấy, họ gọi anh là "Ông tiến sĩ giấy".

91. CÔ GÁI ĐẸP VÀ HẠT GẠO
Làng nọ có một cô gái rất xinh đẹp tên là Hơ-bia, da trắng hơn cả hoa ê pang, môi đỏ hơn hoa vông, mắt sáng như mắt chim phí, ngực nở như ức chim nhông ngón tay thon hình lá hành, tiếng nói cười của cô tựa nước "đùa trong ống", làm cho chàng trai nào cũng mê mẩn trước sắc đẹp của cô. Mỗi lần cô bước chân ra bến tắm thì cỏ cây hoa lá đều được sắc đẹp của cô làm cho óng ả rạng ngời lên. Nhưng cô gái ấy lại không được đồ đạc trong nhà quý mến bao giờ, chỉ bởi vì cô ta hợm hĩnh, kiêu căng quá! Cái gì cô cũng chê là đen đủi, nhơ bẩn. Nồi niêu, hũ, lọ, cuốc, rựa, cả đến gạo thơm, bông trắng cô cũng trề môi cho là xấu xí, đáng bỏ đi, không xứng ở gần cô.
Một hôm cô đang ngồi chải tóc, cơm nguội ở trong nồi hỏi: - Cô đẹp là nhờ ở cơm ở gạo, sao cô lại chửi bới, khinh rẻ lũ tôi thế? Hơ-bia nghe nói, mặt cau có bực bội, trề môi mắng: - Tao đẹp là do công mẹ công cha ta sinh ra, chớ tao thèm nhờ vào mặt lũ chúng bay à? Những hạt gạo cũng lên tiếng vặn cô: - Thế không có lũ tôi thì mẹ cô làm gì có sữa cho cô bú để cô lớn, cô đẹp? Nghe gạo tra vấn mãi, nén không được cơn giận dữ, Hơ-bia lấy cả cục cơm nguội ở trong nồi ném bịch xuống đất và nói: - Bây giờ lũ mày muốn đi đâu thì đi, đừng ở nhà tao nữa.
Thấy tính tình cô gái như vậy, một hôm nhân lúc cô ngủ say, tất cả đồ đạc bàn với nhau, không có đồ vật nào là không tỏ ra căm ghét, tức giận cô, muốn bỏ cô mà đi tức khắc. Nhưng rồi chúng thấy dù mình có bỏ đi thì cô gái hợm hĩnh vẫn cứ chứng nào tật ấy. Riêng gạo nói: - Các bạn cứ để em đi cho mà xem, em đi thì cô ta sẽ chết đói. Đói một bữa, hai bữa cô ta còn chịu được, chớ đói đến bảy bữa, chín bữa thì cô ta phải ra rừng đào củ mài, củ chuối, hái rau dại để ăn... dãi nắng dầm mưa mãi thì da dẻ cô sẽ đen đủi, tóc cô sẽ khô cứng không còn óng mượt. Lúc đó nhất định cô không dám khinh bỉ, chửi bới lũ mình nữa. Nghe ra, tất cả đều phục lý lẽ của gạo. Khuya, chúng xúm lại lật cầu thang (Người Ê đê khi ngủ thường rút cầu thang lên, lật mặt tròn nhẵn ra ngoài đề phòng thú dữ, kẻ xấu leo lên sàn nhà) để dòng họ nhà gạo lăn ra rừng sâu ở.
Sáng hôm sau, trời vừa rạng đông, chim chóc thức dậy hót vang, sương đeo cườm cho ngọn cỏ trốn nắng, cô gái đẹp cũng thức dậy. Đói bụng, cô vào buồng xách bầu gạo ra nấu cơm nhưng bầu gạo đầy ắp hôm qua nay không còn một hột. Cô rướn tay sờ vào bầu thóc, bầu thóc cũng rỗng. Mặt trên càng lên cao, bụng cô càng đói cồn cào, cô ra chòi định lấy thóc về nhưng chòi cũng rỗng không. Buồn quá, cô về nhà ngồi khóc, gọi hồn thần lúa... Khóc chán cô lại ra rừng tìm thóc, tìm gạo nhưng rừng sâu thăm thẳm, gai góc ngập đầu gối, tìm mãi vẫn không thấy bóng dáng một cây lúa nào. 
Một ngày, hai ngày rồi ba ngày, cô gái đẹp lần đến các nhà hàng xóm vay gạo nhưng không ai muốn cho cô gái lười biếng hợm mình đó vay mượn. Ngày thứ năm, thứ sáu, thứ bảy... cô phải vác cuốc vào rừng đào củ mài, đeo giỏ xuống suối nhặt ốc, bắt cá... Phần vì đói khổ, phần vì mưa nắng dãi dầu, chẳng bao lâu da mặt sạm nắng đã thay thế cho má hồng, cặp mắt long lanh khi xưa nay chỉ còn là đôi con mắt ngơ ngác, chân tay xương xẩu và lấm láp. Ban ngày lên rẫy, đêm về cô ngồi thui thủi một mình, chẳng ai qua lại, chơi bời với cô cả. Củi không nổ lách tách reo vui, nước cũng làm thinh chẳng thích nghịch đùa trong ống, nồi đồng đỏ, đồng thau không kêu lên những tiếng "leng keng" ấm áp, rộn rã nữa... Buồn quá, cô ngả mình bên bếp rồi thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc ngủ cô mơ thấy một nàng tiên mặt trắng hơn nước, tay chân dịu dàng, mặc áo lụa vàng tươi màu nắng đến bảo cô: - Em là một cô gái xinh đẹp nhưng bởi em lười nhác lại còn khinh rẻ tất cả đồ đạc ở quanh em, khinh cả gạo, cả lúa là những thứ làm cho làn da của em trắng, tóc của em dài, nên chúng đã bỏ đi cả. Ta là thần Lúa, thấy em bỏ được nhiều thói xấu nên ta đã nhờ mẹ ta bảo với cha ta khiến gạo lại trở về, nhưng em phải yêu quý mọi thứ trong nhà thì chúng mới chịu ở. Từ nay nếu em chịu khó đi làm với chị em thì em sẽ được sung sướng. Hơ-bia rất lấy làm sung sướng. Cô mở mắt ra thì trời đã rạng đông. Bước ra đầu sàn, cô vừa lật chiếc cầu thang lên thì hàng đàn gạo, thóc tất tưởi kéo trở về.
Thấy gạo về, cô mừng rơi nước mắt. Từ đó cô yêu quý mọi thứ trong nhà. Nồi nhọ nhem cô đem ra suối đánh sáng loáng, hũ mốc meo cô lau chùi cho sạch bụi, hạt gạo còn dính cám chưa trắng cô dậy sớm giã cho trắng hơn. Ngày ngày cô theo chị theo em ra rừng hái rau, xuống suối bắt cá, lên rẫy làm cỏ, chăm bón đồi chàm cho xanh tốt.
Thấy Hơ-bia đã thay đổi tính nết, đồ đạc trong nhà luôn tìm cách giúp đỡ cô. Cái chổi tự bò đi quét nhà, chiếc bầu, ống nước tự lăn ra suối múc đầy nước, cây lúa, cây ngô nhắc nhau ăn sương, ăn đất cho nhiều để càng trổ bông nhanh, nở hạt chín vàng. Chẳng bao lâu Hơ-bia trở nên giàu có nhất làng và còn rất xinh đẹp nữa. Từ đó sao sáng, cá neng, chim phí, chim nhông, choé túc, choé ba... cái gì là đẹp nhất, quý nhất cũng không thể sánh với sắc đẹp và tính nết dịu hiền, chịu khó của cô.

92. BA ANH EM
Có ba anh em nhà nọ mồ côi cha mẹ. Họ ăn riêng, ở riêng. Người con lớn và người thứ hai ham ăn chơi lại nhác làm nên không bao lâu trở nên nghèo túng. Còn người em út thì chăm chỉ làm ăn, nhanh chóng trở nên giàu có. Hai người anh xấu bụng, thấy em có nhiều của cải, trâu bò bèn lập mưu kế giết em để cướp đoạt. Một hôm hai anh rủ em chung vốn đi buôn. Người em nhận lời bỏ ra một số vốn lớn để ba anh em cùng kiếm lãi.
Một buổi sáng, ba anh em xuống chợ, họ mua được rất nhiều hàng và thồ ngựa chở về. Lên đến đỉnh đèo, bốn bề vắng ngắt, hai người anh vật em xuống, đâm thủng mắt rồi bỏ em giữa rừng, hí hửng dẫn ngựa thồ về bản. Chàng út đau đớn, mò mẫm tìm đường về nhưng chẳng may bị sa xuống một hố sâu, nằm mê man bất tỉnh. Đêm khuya, trời dịu mát, chàng út dần tỉnh lại và vô tình anh nghe tiếng rì rầm và tiếng chân lạo sạo trên lá khô. Chàng lắng tai nghe, thì ra đó là một con hổ và một con khỉ đang nói chuyện với nhau. Hổ mách với khỉ: - Chú khỉ này, trên kia có một thứ lá rất quý, hễ ai mù cứ hái vài lá cho vào mồm nhai nát, rồi đắp vào mắt là mắt lại sáng lại. Khỉ cũng nói cho hổ biết: - Thế bác có trông thấy cái thung lũng ở trước mặt kia không? Ở đó có nhiều người, ruộng nương và đất đai rất tốt, nhưng không có nước nên họ khổ cực lắm. Nếu tôi là người, tôi sẽ đào bật cái cây trám khô ở trên núi kia đi, vừa được nước mạch để tưới nương rẫy, vừa được thêm vàng để làm giàu. Nói chuyện xong, khỉ rủ hổ: - Bác hổ ơi, đói bụng rồi, đi kiếm cái gì  ăn thôi!
Chờ hai con vật kéo nhau đi xa, chàng út cố tìm cách ra khỏi hố. Chàng sờ soạng bứt mấy lá cây thuốc quý mà hổ vừa nói, nhai đắp vào mắt, tự nhiên mắt sáng trở lại. út mừng rỡ vô cùng. út lại đi tìm cây trám cản mạch nước để lấy nước cứu hạn. Chàng đi mãi, tìm mãi, đến quá trưa mới thấy cây trám. út kề vai, dùng hết sức mình đẩy cây trám. Một làn khói đen như mực phun ra, bay thẳng lên trời. Cây trám bật gốc, đổ ầm xuống đất. Quả như lời khỉ nói, dưới gốc trám hiện ra một hũ vàng sáng rực, út bưng hũ vàng lên, nước mạch phụt mạnh theo, chảy ra thành một con suối lớn. Nước suối mát rượi chảy đến đâu là đất khô, trở nên mịn màng đến đấy, lúa héo hon trở nên mượt mà, óng ả, má các cô gái trở nên hồng hào, gót chân trẻ nhỏ thêm thon.
Cứu hạn, giúp dân xong, chàng út trở về làng, tìm đến nhà hai anh. Hai người anh tưởng hồn hiện về báo thù mình, nên hoảng sợ chạy trốn. Nghĩ tình ruột thịt, chàng út tha thứ cho hai anh và còn kể chuyện mình bị sa xuống hố sâu, chuyện lấy được lá quý, lấy được vàng...
Đến đêm, hai người anh rủ nhau đến chỗ đèo mà khi trước họ đã đâm mù mắt em, họ cũng lấy que tự đâm mù mắt và tuột xuống hố nằm chờ. Trời khuya, khỉ và hổ lại đến. Hai người khấp khởi mừng thầm, lắng nghe, nhưng lần này khỉ và hổ lại bàn bạc với nhau về chuyện khác. Khỉ nói: - Bác hổ này, câu chuyện tôi nói với bác hôm nọ, chẳng biết đứa nào nghe lỏm được, nó lấy mất hũ vàng rồi! Hổ tức giận: - Tao mà tìm được nó, tao sẽ xé xác nó ra ngay tức khắc. Một lát sau, hai con vật rủ nhau đi tìm mồi. Thấy nguy, hai chàng liền gọi: - Ông hổ ơi, ông khỉ ơi, sao ông không mách cho chúng tôi kiếm chác một tí nào? Nghe tiếng người, hổ lồng lộn gầm thét: - A! quân tham lam, quân ăn cắp vàng đây rồi! Nói xong, hổ nhảy tới xé xác hai gã tham lam, độc ác kia ra thành từng mảnh.

93. CON BÁNG
Bun mồ côi cha mẹ từ hồi tám tuổi. Bà con anh em không có, phìa tạo không thuê, vì chưa làm được việc gì. Bun phải lang thang đi xin ăn. Xin mãi không ai cho nữa, đành phải đi câu. Bun cứ kéo dài cuộc đời đi câu như thế năm này qua năm khác.
Một hôm, Bun câu gần hết buổi sáng mà không được gì. Chán nản, Bun sắp ra về thì nghe nằng nặng tay, liền giật lên, tưởng là gì, hoá ra một con ốc. Vứt con ốc đi, Bun tiếp tục câu. Lần thứ hai, thứ ba, thứ tư cũng vẫn thế. Cuối cùng Bun nghĩ "Chắc là then cho". Nghĩ vậy, Bun cầm con ốc về, cất lên xà nhà. 
Sáng hôm sau, Bun phải nhịn đói đi câu. Đến lúc về nhà, anh ngạc nhiên quá: một mâm đầy thịt cá để giữa nhà. Cứ mấy hôm liền, lần nào đi câu về cũng đều thấy cơm, thịt dọn sẵn. Độ mấy tháng sau, một hôm đi câu về, Bun lại thấy nhà cửa đổi khác. Cái lều tranh cũ đã biến thành một toà nhà rộng lớn. Bun sung sướng quá, đi sờ khắp lượt từ cây cột cho đến tấm liếp. Sờ đến cái xà, anh đụng phải con ốc. Cầm xem thì chỉ thấy cái vỏ ốc thôi. Anh lẩm bẩm: - Tội chưa! Lâu nay mình không nhớ đến nó, để đến nỗi chuột khoét mất cả ruột! Nói rồi, anh vứt vỏ ốc đi. Vỏ ốc rơi xuống sàn vỡ ra từng mảnh. Bỗng đâu, một người con gái ở trong buồng chạy ra, nắm lấy tay Bun: - Thế là anh làm vỡ mất áo em rồi, em bắt đền anh đấy! Bun ngơ ngác không hiểu đầu đuôi ra sao. Người con gái nói tiếp: - Ở đây mấy tháng, em đã biết rõ anh nghèo và rất trong sạch. Từ nay chúng ta là vợ chồng. Cơm đây là của chúng ta, nhà đây là của chúng ta.
Từ đó, hai người sống với nhau rất hạnh phúc.
Chẳng bao lâu, tiếng tăm nàng tiên ốc bay đến tai con Báng ở vùng đó. Hồi ấy, Báng là chúa tể muôn loài trong rừng. Nó gọi bọn tay chân lại, sai đi bắt hồn nàng tiên ốc về cho nó. Trước hết, nó sai ma Cang-cói đi. Cang-cói đến nhà Bun thấy mâm cơm sang trọng để sẵn đấy, sà ngay vào ăn, quên cả công việc Báng giao cho. Đến lúc vợ chồng Bun đi làm về, thấy không còn cơm liền đặt bẫy để bắt kẻ ăn vụng. Cang-cói quen thói cũ, chui đầu vào chạn định ăn, không ngờ bẫy sập, bị mắc cứng lại đành nằm chờ chết. Bun về, thấy Cang-cói mắc bẫy, rút dao ra định chém. Cang-cói van lạy: - Xin anh tha chết cho tôi, tôi sẽ hết lòng giúp anh. Vợ chồng Bun thương tình tha cho. Cảm tấm lòng tốt của hai người, Cang-cói bảo cho họ biết âm mưu của Báng. Báng chờ Cang-cói mãi ở trong rừng không thấy trở về, bèn sai rết đi. Cang-cói dò biết, bảo với vợ chồng Bun: - Anh chị đêm nay đừng ngủ ở chỗ cũ, phải rình mà giết con rết. Đêm ấy, hai vợ chồng đi nơi khác ngủ. Đến khuya người chồng cầm sẵn cung tên lại chỗ nằm cũ, lật gối lên thì một con rết to bằng bắp chân nhảy ra. Bun giương cung bắn chết nó.
Báng không thấy rết về lại sai rắn hổ mang đi. Rắn phục trên xà nhà định sẽ cắn chết nàng tiên ốc. Cang-cói lại báo tin cho vợ chồng Bun. Họ lại giết được rắn. Báng không chịu thua, tiếp tục sai thuồng luồng chờ ở chỗ nàng tiên ốc thường đến tắm. Lần này, Cang-cói cũng báo cho biết trước, nên Bun lại giết được thuồng luồng. Cuối cùng, Báng thân đi bắt hồn vợ Bun. Hắn lên ngọn núi cao gần nhà Bun ngồi rình. Cang-cói báo cho Bun biết, nhưng núi quá cao, tên bắn không tới nên không trừ được Báng. Báng chờ lúc vợ chồng Bun ngủ say, cất tiếng kêu: Báng ngò, Báng... ngò... Hồn nàng tiên ốc nghe tiếng kêu, bỏ xác bay đi. Báng bắt hồn nàng về làm vợ. Bun vẫn không biết gì cả, đến khi tỉnh dậy, sờ thấy vợ đã chết cứng từ bao giờ. Anh khóc lóc thảm thiết. Cang-cói đến hỏi thăm và dặn: - Anh cứ để xác chị nằm đó, đừng chôn, tôi sẽ tìm cách giúp anh.
Cang-cói bảo Bun đan một cái giỏ bằng thứ tre cứng nhất rừng và làm một cái hom giỏ thật chắc, vót thật nhọn. Bun đan suốt mấy ngày mới được một cái giỏ cứng như cũi sắt. Cang-cói cầm giỏ đến hang của Báng, chờ lúc Báng ngủ say, Cang-cói gọi nàng tiên ốc ra hỏi: - Chị có thương nhớ anh ấy không? Nàng tiên ốc khóc: - Tôi khổ lắm, nhớ chồng mà không biết làm thế nào để về được. Cang-cói nói: - Nếu chị muốn về thì tối nay chị tìm cách chuốc rượu cho Báng. Bao giờ nó say bí tỉ, chị gõ mấy tiếng vào sàn báo cho tôi biết. Đêm hôm ấy, nàng tiên ốc ép Báng uống thật nhiều rượu. Một lúc sau, nó lăn ra ngủ như chết. Nàng gõ sàn báo hiệu cho Cang-cói vào trói Báng lại, bỏ vào giỏ kéo về nhà Bun. Chờ lúc Báng tỉnh rượu, Bun kề dao vào cổ Báng quát: - Mày có trả hồn cho vợ tao không? Báng run sợ thưa: - Tôi xin trả, nhưng xin ông đừng giết tôi. Bun bằng lòng. Báng lại cất tiếng kêu: "Báng... ngò... Báng ngò" hồn nàng tiên ốc nghe tiếng trở về nhập xác. Nàng dần dần mở mắt và tỉnh lại. Hai vợ chồng vui mừng khôn xiết. Vì đã hứa với Báng rồi nên Bun không giết nó. Nhưng muốn nó khỏi làm hại loài người, anh kéo lưỡi nó ra cắt đi năm vằn, chỉ còn bảy vằn nên tiếng kêu của nó không quyến rũ được hồn người nữa.

94. BÁNH CHƯNG, BÁNH DÀY
Hùng Vương thứ sáu lúc về già, muốn truyền ngôi. Nhưng nhà vua có những hai mươi người con trai, biết chọn ai cho xứng đáng? Giặc ngoài đã dẹp yên, nhưng giặc trong phải đề phòng, dân ấm no ngai vàng mới vững. Nhà vua bèn gọi các con lại, nói: - Tổ tiên ta từ khi dựng nước đã truyền được sáu đời. Giặc Ân nhiều lần xâm lấn bờ cõi, nhờ phúc ấm tiên vương, ta đều đánh đuổi được, thiên hạ được hưởng thái bình. Nhưng ta già rồi, không sống mãi ở đời, người nối ngôi ta phải biết nối trí ta, không nhất thiết phải là con trưởng. Năm nay, nhân lễ Tiên Vương chứng giám. Các ông Lang ai cũng muốn ngôi báu về mình nên ai cũng cố làm vừa ý vua cha. Nhưng ý vua cha như thế nào, không ai đoán được. Họ chỉ biết đua nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon đem tiến lễ Tiên Vương.
Người buồn nhất là Lang Liêu, ông là con thứ mười tám, mẹ ông trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm mà chết. So với anh em, ông thiệt thòi nhất. Anh em tả hữu nhiều, khắp trên núi, dưới biển, đâu có của quí sai người đi tìm. Còn ông neo đơn, biết lấy gì lễ Tiên Vương cho vừa ý vua cha? Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai, bây giờ nhìn quanh quẩn trong nhà, cũng chỉ khoai, lúa là nhiều. Nhưng khoai lúa tầm thường quá!
Một đêm ông nằm mộng thấy thần nhân đến bảo: -Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo, chỉ gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ thấy chán. Các thứ khác, tuy ngon nhưng hiếm, mà người không làm ra được. Còn lúa gạo thì tự ta trồng lấy, hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương! Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng thầm. Ngẫm nghĩ bao nhiêu, ông càng thấy lời thần nhân nói đúng bấy nhiêu. Ông bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, hạt nào hạt ấy tròn mẩy, đem vo thật sạch lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn đùm lại thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu cũng thứ gạo nếp ấy ông đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn.
Đến ngày lễ Tiên Vương, các ông Lang mang sơn hào hải vị, nem công, chả phượng tới, chẳng thiếu thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần nhân ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu, rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất, cúng Tiên Vương.
Lễ xong, vua đem bánh ra ăn cùng với quần thần. Ai cũng tấm tắc khen ngon. Vua họp mọi người nói: - Bánh hình tròn là tượng Trời, đặt tên là Bánh dày. Bánh hình vuông là tượng Đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ, muôn loài đặt tên là Bánh chưng. Lá gói ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên Vương chứng giám.
Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi, và mới có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh dày. Thiếu bánh chưng, bánh dày là thiếu hẳn hương vị Tết.

95. QUẢ BẦU KỲ LẠ
Mẹ con Tờ Chú nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng con để đào củ mài. Tờ Chú phải đi ở cho chủ làng để lấy cơm gạo nuôi thân, nuôi mẹ.
Nhà chủ giàu lắm, trâu hàng đàn, voi hàng lũ, ruộng chim bay mỏi cánh, muông thú chạy chồn chân không hết. Tờ Chú không dám ao ước gì hơn ngoài mảnh ruộng, đám nương để cấy lúa, trồng ngô nuôi mẹ. Một hôm, Tờ Chú nói với chủ làng: - Tôi không muốn ở thuê cho chủ làng mãi, tôi muốn có một mảnh ruộng, một đám nương. Chủ làng có thể cho tôi một khoảng rừng để tôi phát nương, vỡ ruộng không? Chủ làng nghe chàng trai nói vậy, lần chần không trả lời và chỉ nói Tờ Chú hãy làm việc đi.
Nhiều lần Tờ Chú hỏi xin, nhưng không lần nào chủ làng trả lời cả. Một hôm, chủ làng đang uống rượu, Tờ Chú lại vào xin, hắn bực mình chỉ lên dãy núi xanh xanh phía chân trời và nói: - Thôi được, mày đã muốn thì tao cũng chẳng tiếc nữa. Nếu mày có đủ sức thì cả dãy núi kia tha hồ cho mày phát. Nghe chủ làng nói thế, Tờ Chú sung sướng quá vội chạy về báo tin cho mẹ biết. Mẹ khuyên: - Con chớ nên đi, dãy núi hoang kia là chỗ ở của hùm beo, rắn rết. Con lên đấy sẽ bị chết mất xác. Rồi đây, ai thay con nuôi nấng, chăm sóc mẹ. Tờ Chú an ủi: - Mẹ không lo. Hùm beo con chẳng sợ, rắn rết con chẳng kinh. Chủ làng đã cho đất, nhất định con sẽ phát được nương, vỡ được ruộng.
Thấy con quả quyết, người mẹ không ngăn cản nữa. Sáng hôm sau, Tờ Chú từ biệt mẹ lên đường. Chàng cứ nhằm hướng dãy núi xanh trước mặt mà đi. Đi mãi, suốt chín ngày, chín đêm liền không nghỉ, ngày thứ mười Tờ Chú đến chân núi. Đó là một khu rừng rộng bạt ngàn, cây to cây nhỏ chen nhau kín mặt đất. Chàng dùng tay không bẻ gãy cây cỏ, lấy đá đập đổ cây to. Qua chín ngày, chín đêm nữa Tờ Chú đã khai phá được một khu đất rộng. Đến ngày thứ mười, anh bỗng thấy một con chim gõ kiến bay đến nói: - Nghỉ tay một tý đã Tờ Chú. Tôi có một câu chuyện muốn nói với anh. Hãy để cho loài chim chúng tôi ít cây để làm tổ. Rẫy của anh đã dài hơn rẫy của chủ làng rồi đó. Tôi đã bay rã cả cánh ra rồi mà không hết đám rẫy anh vừa phát.
Nghe chim gõ kiến nói, Tờ Chú ngừng tay không phát theo chiều dọc nữa. Chàng quay sang phát theo chiều ngang. Cũng đến ngày thứ mười thì thấy có một con nai vàng trong rừng chạy ra nói: - Rẫy của anh gấp đôi rẫy của chủ làng rồi. Tôi chạy đã mỏi cả gối mà vẫn không hết. Anh hãy dành chỗ đất còn lại cho loài thú chúng tôi.
Tờ Chú nghe lời nai, ngừng tay. Đúng là rẫy của chàng bề dài hơn rẫy chủ làng, bề ngang rộng hơn rẫy chủ làng. Từ nay gia đình chàng sẽ có ngô, lúa. Tờ Chú đập đá lấy lửa đốt rẫy. Xong việc chàng về bản lấy thóc giống lên gieo. Nhưng khi về đến nhà, bao nhiêu là thóc giống mẹ chàng đã ăn hết cả rồi. Chàng hỏi vay các nhà trong bản nhưng chẳng ai còn thóc giống cho chàng vay. Cùng kế, Tờ Chú phải đến nhà chủ làng để vay thóc giống. Tên chủ làng nham hiểm cho chàng vay thóc đã luộc chín rồi. Tờ Chú không biết cứ mang lên rẫy gieo. Không thấy lúa mọc, chàng lại đến nhà chủ làng vay lần nữa. Chủ làng nói: - Giàng không cho mày sướng đâu Tờ Chú ạ. Mày đừng có phí công vô ích. Nếu lần này mày gieo không mọc thì đúng là cái số mày như vậy. Mày lại ở thuê cho tao thôi. 
Đúng như chủ làng nói, lần thứ hai Tờ Chú gieo lúa vẫn không mọc. Nhìn cả đám rẫy cỏ cây đã bắt đầu mọc, Tờ Chú buồn quá ngồi khóc. Chắc là Giàng không muốn cho mẹ con chàng có cơm, có nương rẫy. Một buổi sáng, Tờ Chú ra suối rửa mặt, bỗng thấy một quả bầu khô từ đâu trôi đến đụng vào chân chàng. Hai ba lần như vậy, Tờ Chú nghĩ: "Hay là mình trồng bầu ăn vậy. Bầu ăn cũng nuôi sống được người. Nếu không, mình chỉ còn cách là lại đi làm thuê cho chủ làng". Nghĩ vậy chàng vớt quả bầu lên rồi về nhà từ biệt mẹ lên rẫy trồng bầu. Đến nơi chàng ghè quả bầu vào đá và lấy hạt rắc khắp rẫy.
Hôm sau ra xem rẫy, Tờ Chú hết sức kinh ngạc vì đám rẫy của chàng đã là một rừng bầu. Hôm sau nữa bầu ra hoa và ngày thứ ba, rẫy lố nhố những quả. Tờ Chú mừng quá, hái một quả về nướng ăn thì thấy rất thơm và ngon, sung sướng quá chàng reo lên: - Sống rồi. Ta sẽ mang bầu về cho mẹ, chắc mẹ mừng lắm. Nhưng khi đến rẫy định hái bầu về cho mẹ thì cả rẫy bầu đã úa vàng. Quả bầu mới hôm qua còn xanh mởn, hôm nay đã khô đét. Tờ Chú buồn quá, nghĩ Giàng không muốn cho mẹ con chàng sung sướng thật rồi. Tờ Chú đi đi lại lại khắp rẫy, nhìn những quả bầu khô, nước mắt cứ trào ra, chàng nghĩ: "Giàng không cho ăn bầu tươi thì lấy hạt bầu về cho mẹ ăn cầm hơi vậy". Chàng liền hái một quả ghè vào đá. Quả bầu vỡ đôi, tung ra không biết cơ man nào là hạt bầu mà là thứ hạt nhỏ, vỏ cứng. Tờ Chú nhìn kỹ thì đúng hơn là hạt thóc. Thóc cứ chảy rào rào như thác nước. Kinh ngạc quá chàng đập quả thứ hai, rồi quả thứ ba, quả nào cũng đầy những thóc là thóc. Tờ Chú mừng quá vội đi hái bầu, chất từng đống vào chòi rồi gùi thóc về nhà cho mẹ.
Đến nhà, thấy mẹ đang nằm co quắp bên đống lửa tàn, da bọc lấy xương vì đói, Tờ Chú hốt hoảng lay gọi mẹ: - Mẹ ơi, có lúa có gạo rồi mẹ ạ. Con đem về đây, mẹ dậy mà ăn. Người mẹ mở mắt, trông thấy con nước mắt cứ trào ra. Đến khi nhìn thấy gùi thóc bên bếp, bà lại nhắm mắt lại và nói: - Con đem bán thóc trả cho người ta con ạ. Mẹ không nỡ ăn cơm gạo không phải do sức của mẹ con ta làm ra. Thà mẹ chết còn hơn phải ăn của ăn trộm, ăn cắp. Tờ Chú vội nói: - Mẹ ơi, thóc của nhà ta đấy mà. Người mẹ lắc đầu: - Con đi gieo lúa, lúa không mọc. Con đi gieo bầu, bầu ăn được thì Giàng lại làm cho héo đi. Thế mà con bảo là thóc của rẫy nhà ta thì mẹ tin làm sao được. Tờ Chú vội thanh minh với mẹ: - Nếu mẹ không tin thì để con cõng mẹ lên rẫy xem mẹ sẽ rõ. Không đợi mẹ trả lời Tờ Chú nâng mẹ dậy, xốc bà cụ lên lưng cõng đi. Chàng đi như bay, phút chốc đã đến chòi giữa rẫy. Chàng đặt mẹ nằm bên bếp lửa rồi lấy một quả bầu ghè vào đá. Thóc từ trong quả bầu rào rào chảy ra như thác nước. Người mẹ thấy vậy mắt sáng lên: - Giàng giúp mẹ con ta thật rồi, con ơi. Từ ngày có rẫy bầu kỳ lạ, mẹ con Tờ Chú trở nên no đủ. Dân dưới bản bị đói kéo nhau lên rẫy đào củ được mẹ con chàng cho thóc, nhờ vậy đã qua được nạn đói.
Chủ làng nghe tin Tờ Chú nhờ phát rẫy trên núi trồng bầu mà lại có dư lúa gạo bèn tìm cách đòi nợ. Tờ Chú trả rất sòng phẳng hàng chục quả bầu, chủ làng hí hửng mang bầu về, chắc mẩm phen này sẽ suốt đời dư thóc gạo. Nhưng khi đập bầu ra thì toàn là sỏi cát. Chủ làng tức giận nhưng không làm gì được. Còn mẹ con Tờ Chú từ đó trở đi không bao giờ bị đói như xưa nữa.

96. CỦA TRỜI TRỜI LẠI LẤY ĐI
Ngày xưa, có một người đàn ông rất nghèo khổ. Ngày ngày ông ra bãi biển cố sức mò cua bắt ốc để đổi lấy miếng ăn nhưng không bao giờ đủ. Thấy người ta sung sướng giàu có, ông ước ao được như họ. Luôn luôn ông cầu trời khấn Phật xin cho đỡ khổ một ít, dù có giảm tuổi thọ đi bao nhiêu cũng được. Ông cầu khấn như thế trong ba năm liền. Tuy không thấy thân phận khá hơn chút nào nhưng ông vẫn kêu xin không mỏi.
Một hôm, trong khi đào cua ở một cái hang, ông bắt được một thỏi gì vuông vuông, nằng nặng và sáng chói. Vừa lạ vừa mừng, ông mang về hỏi hàng xóm. Người hàng xóm cho biết đó là vàng. Mừng quá, ông lại cố công đào tìm thêm nữa. Kế quả được cả thảy mười thoi vàng. Ông hết lời cảm ơn Trời Phật. Ông định giấu kỹ rồi về quê tậu ruộng, làm nhà và lấy một người vợ. Không ngờ người hàng xóm không giữ kín miệng, nên tin đồn ông được vàng lan đi rất nhanh. Một tên trọc phú gần đó vừa nghe thế vội tìm đến làm quen. Hắn dùng lời đường mật gạ đổi ruộng đất của hắn để lấy vàng. Thấy ông chưa có vợ, hắn gả em gái cho. Nghe bùi tai, ông vui lòng kết thân với hắn. Từ đó, ông làm ăn ngày một khấm khá: có vợ đẹp, có ruộng cày, có nhà cửa, cuộc sống rất dễ chịu. Nhưng do mưu mô xảo quyệt của tên trọc phú, cuối cùng mười thỏi vàng lần lượt về tay hắn cả.
Tuy vậy, tên trọc phú nuốt số vàng không trôi. Tin đồn "một người bắt được cua vàng" đồng thời bay đến tai mọi người và đến tai viên quan huyện. Nghe nói vàng về cả tay tên trọc phú, viên quan huyện không kìm được lòng ham muốn. Hắn gọi gã trọc phú đến và gạ chia cho mình một nửa. Nhưng lão trọc phú đời nào lại chịu mất không như thế. Viên quan đành giận để bụng. Nhân bắt được một đám cướp lớn, hắn liền bảo chúng khai vu cho tên trọc phú và hắn khép y vào tội "thông phỉ". Trọc phú bị kìm kẹp đánh đập rất khổ cực. Hắn đành phải bỏ của ra để mua lấy sự yên thân. Cuối cùng không những mười thỏi vàng lọt vào tay tên quan huyện mà nhiều tiền gạo của hắn cũng đội nón ra đi để đấm mõm bọn hương lý, sai nha...
Lại nói chuyện viên quan huyện chỉ dùng một mẹo nhỏ mà chiếm được số vàng lớn thì mừng lắm. Hắn sai con cùng với một người lão bộc bí mật đem số vàng đó về quê tậu thêm ruộng đất. Nhưng đứa con của hắn là một tay máu mê cờ bạc, Trong khi đi thuyền thấy có một canh bạc to, hắn định đem một số ít vàng của bố để mong "dậy hoá". Mặc dầu người lão bộc can gián hết lời, hắn vẫn không nghe. Quả nhiên trong một đêm hắn thua hết cả chẳng còn một đồng dính túi nào. Thế là bao nhiêu vàng của tên quan huyện tự nhiên lọt vào tay một lão lái buôn. Nhờ ngón cờ gian lận, lão lái buôn và một tên đồng đảng đã vét sạch bàn. Và qua ngày hôm sau, hai người hí hửng mang số tiền chiếm được, trong đó có mười thoi vàng của con quan huyện về nhà, mặc kệ kẻ mất của kêu trời khóc đất. Không ngờ hôm ấy có bốn tên cướp lảng vảng ở gần khu rừng gần đấy. Thấy có hai người bộ hành mang tay nải nặng đi qua, chúng bèn bám theo không rời một bước. Khi hai con mồi đến chỗ vắng, chúng nhảy xổ ra giết chết và cướp lấy tay nải. Nhìn thấy những thoi vàng sáng choé, chúng mừng rú lên, vội chia nhau cứ hai đứa năm thoi, số còn lại tiền lẻ bạc vụn thì giao cho hai đứa trong số bốn đứa đi mua rượu thịt về chén một bữa.
Lại nói chuyện hai tên cướp được cử đi chợ tự nhiên sinh lòng tham, muốn chiếm lấy tất cả số vàng để chia nhau mỗi đứa năm thoi, chả cần phải cắt phải chặt, cân đi lường lại mất công. Chúng bỗng nảy ra một kế là mua thuốc độc bỏ vào rượu cho hai tên kia uống. Thế là hai đứa vào chợ ăn uống no say, đoạn mua bún lòng và rượu có pha thuốc độc mang về. Trong khi đó thì hai đứa ở nhà cũng bàn mưu tính kế độc chiếm số vàng. Cuối cùng chúng quyết định chờ cho hai tên kia về đến nơi, bất thình lình mỗi đứa cầm dao hạ thủ một tên. Và rồi chúng làm y như lời chúng đã bàn. Vừa đi chợ về đến nợ, hai đứa kia đã bị mỗi đứa một nhát dao vào lưng. Xong việc, hai tên còn lại mới giở thịt ra đánh chén. Nhưng chỉ một lát sau rượu ngấm, chúng cũng vật ngã và nằm xuống chết luôn bên cạnh.
Mười thoi vàng bỗng trở nên vô chủ, nhưng chỉ nội ngày hôm đó, một người thương gia tình cờ đi qua chỗ nọ đã nhanh tay chiếm lấy làm của mình. Được món của lớn bên cạnh những xác chết, hắn vội vã tìm về thuyền và mặc dầu chưa cất được hết hàng, hắn đã sai nhổ neo để tránh mọi lôi thôi xảy ra. Thuyền đi ra biển đến ngày thứ hai thì tự nhiên có một cơn bão nổi lên rất dữ dội. Cột buồm bị gãy và thân thuyền bị sóng đánh vỡ làm nhiều mảnh. Tất cả mọi thứ đều chìm xuống đáy biển hoặc lọt vào bụng cá.

97. THIỀU HOA CÔNG CHÚA
Thời thuộc Hán,ở động Lăng Xương thuộc huyện Thanh Châu bên bờ sông Đà có hai ông bà Hoàng Phụ và Đào Thị Côn sinh được người con gái xinh đẹp, mỹ miều, bèn đặt tên là Thiều Hoa. Nguyên trước khi sinh, bà Côn mộng thấy một nàng thiếu nữ xinh đẹp, tự xưng là con gái thần Tản Viên, xin được đầu thai, nên đối với Thiều Hoa, hai ông bà hết mực nâng niu, chiều chuộng. Đến khi Thiều Hoa 16 tuổi thì cha mẹ già yếu lần lượt qua đời. Thiều Hoa lo liệu đám tang và an táng cho cha mẹ xong thì tìm đến một ngôi chùa trong vùng, xin xuống tóc đi tu. Đó là chùa Phúc Khánh ở Song Quan, nay là xã Thiều Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú..
Nhà sư trụ trì vốn là người có chí lớn, bấy lâu nay vẫn nung nấu ý chí đánh đuổi giặc ngoại xâm nên đã thu nạp nhiều đệ tử, ngày thì hương hoa thờ cúng Phật, nhưng đến đêm lại chuyên cần luyện tập binh pháp, cung kiếm để mong một ngỳ nào đó đánh đuổi lũ ngoại xâm. Thấy Thiều Hoa là người nhanh nhẹn, thông tuệ khác thường nên nhà sư rất đỗi yêu mến, coi nàng là đệ tử  tin cậy nhất, truyền cho tất cả các bí quyết và thuật pháp cao cường cùng các cách thức bày binh bố trận  biến hoá khôn lường.
Khi các đệ tử trưởng thành cũng là lúc hai chị em bà Trưng dấy binh khởi nghĩa. Nhà sư bèn giao toàn bộ để tử của mình cho Thiều Hoa thống lĩnh, rồi căn dặn các đệ tử nhằm hướng Mê Linh thẳng tiến, đem hết sức mình phụng sự hai bà Trưng, đánh đuổi quân Hán, đem lại hoà bình, ấm no cho đất nước.
Khi gặp mặt gái trai tài ba tuấn tú của miền sông Đà, sông Thao, hai bà Trưng rất đỗi vui mừng. Lại thử tài, thấy Thiều Hoa chẳng những giỏi võ nghệ, còn tinh thông cả binh pháp nên bà Trưng phong cho Thiều Hoa làm Đông cung tướng quân, tước hiệu công chúa, thống soái một đội quân lớn, cùng Bát Nàn công chúa đi tiên phong đánh thành Luy Lâu.
Trong chiến trận, Thiều Hoa công chúa đã lập được nhiều chiến công, đi tới đâu quân giặc phải tan tác tới đó. Thành Luy Lâu và nhiều thành trì khác lần lượt bị hạ. Đất nước thanh bình, hai bà Trưng xưng Vương. Thiều Hoa công chúa đem quân bản hộ trở về quê hương. Lúc bấy giờ nhà sư do tuổi cao đã viên tịch. Thiều Hoa công chúa vừa trụ trì, vừa cùng dân chúng xây dựng mở mang trang ấp thành một nơi trù phú, tươi đẹp.
Một hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, Thiều Hoa công chúa đang đi tản bộ dạo chơi ở ven cánh đồng làng. Tự nhiên một cơn giông bão nổi lên bất ngờ. Trời đất bỗng tối sầm, sấm sét nổi lên đùng đùng, trời mưa như thác lũ.
Một hồi sau, cơn giông chấm dứt, trời đất bỗng sáng bừng trở lại, mọi người không nhìn thấy Thiều Hoa công chúa đâu.. Ngước nhìn lên bầu trời, mọi người thấy lờ mờ hình bóng bà đang bay đi vùn vụt rồi mất hút trên tầng không.
Dân chúng vô cùng cảm kích, bèn lập miếu thờ Bà ở ngay chính nơi Bà đã hoá. Đó là khu đất vuông, mà các nhà phong thuỷ đời sau bảo đó là hình quốc ấn. 

98. BÁN TÓC ĐÃI BẠN
Ngày xưa, có ba người học trò là Hoà, Phụng và Loan quê ở ba miền khác nhau nhưng lại học chung một lớp, một thầy. Cha mẹ của ba người đều nghèo khổ nhưng họ cũng cố thắt lưng buộc bụng lo cho con đi học. Ba chàng có hoàn cảnh giống nhau nên dễ thông cảm và chả mấy chốc họ kết tình thân thiết. Họ ước hẹn với nhau rằng nếu sau này người nào làm ăn khấm khá thì sẽ không quên những người bạn ở trong thuở hàn vi và cố gắng giúp nhau khỏi cảnh bần hàn. Thế rồi, do hoàn cảnh đưa đẩy, mỗi người đi một ngả tìm cuộc sống riêng.
Trong số ba người thì Hoà là người may mắn nhất, sẵn có đầu óc thông minh, lại chịu thương chịu khó, anh cố theo đuổi nghiệp đèn sách. Vì nghèo nên anh theo hầu một cụ đồ để vừa được ăn vừa được học. Thấy anh thông minh, sáng dạ lại chăm chỉ nên cụ đồ hết lòng dạy dỗ, coi như con đẻ. Trải qua mấy năm nhọc nhằn sôi kinh nấu sử, cuối cùng anh cũng đỗ tú tài và được bổ làm quan ở kinh đô. Từ đó cuộc sống của Hoà như diều gặp gió, mọi người đều mừng cho anh.
Được sống trong cảnh giàu sang phú quý, song Hoà vẫn không quên được những người bạn cũ, không quên lời hẹn ước ngày xưa. Một hôm, Hoà cải trang thành một dân thường để đi tìm các bạn. Qua mấy ngày tìm kiếm, hỏi thăm Hoà đã tìm được Phụng, một trong hai người bạn thân trước đây.
Từ ngày thôi học, Phụng đi kiếm việc làm. Anh đến một làng nọ làm thuê cho nhà phú ông, thấy anh đẹp trai lại có chút học vấn nên phú ông gả con gái cho. Từ đó, Phụng được thừa hưởng gia sản của cha mẹ vợ để lại và trở thành người giàu có. Rồi với tài xoay sở nên chỉ vài năm Phụng đã có cuộc sống sung túc, an nhàn. Nhưng Phụng tính khí biển lận, tuy giàu có nhưng hắn không muốn mất cho ai một đồng nào. Cũng chính vì thế hắn quên mất cả những lời hứa hẹn với mấy người bạn nối khố ngày xưa. Phụng nghĩ: "Vẽ chuyện, tìm làm gì cho mất công, các ông ấy cũng chả nhớ gì đến bạn nữa là ta". Nghĩ vậy, Phụng chẳng bận tâm gì đến việc ấy nữa. Khi gặp Phụng, thấy bạn giàu có, Hoà thấy mừng cho bạn. Để thử lòng bạn cũ, Hoà không nói đến sự nghiệp công danh của mình mà chỉ bảo rằng nhớ bạn mà tìm đến chơi. Thấy bề ngoài của Hoà, Phụng đoán là may mắn lắm Hoà làm cũng chỉ đủ ăn, nay tìm đến nhà không khéo lại lợi dụng tình bạn ngày xưa để vay mượn cũng nên. Nghĩ vậy, sau khi chào hỏi Hoà, Phụng cũng làm ra vẻ nghèo khó: "Thú thực với anh, nếu không bị mấy vụ buôn bán thua lỗ thì tôi đâu có nghèo khó thế này. Mấy lần trước tôi cũng định đi tìm anh, nhưng nay thì không thể đi được vì phải chạy ăn hàng ngày".
Phụng còn kể lể dài dòng con cà con kê mãi, chủ tâm của Phụng là để khoá mồm Hoà nếu Hoà có ý định vay mượn. Và để tỏ mình nghèo khó nên Phụng chỉ tiếp bạn theo mức bình thường toàn cơm với rau muối. Buổi sáng, người vợ rỉ tai chồng là chăng một mẻ lưới ở dưới ao kiếm vài con cá đãi khách, Phụng liền nhăn mặt bảo vợ: - Bà lại khéo vẽ. Giờ đây không nên xuống ao. Bà không nhớ câu ngạn ngữ ấy ư? Bà định làm cho nhà mình sạt nghiệp hay sao mà lại đòi bắt cá vào giờ này. Vợ Phụng chẳng biết nói sao, lẳng lặng lui ra. Đến chiều, khi gà đã vào chuồng, vợ Phụng bảo người nhà bắt một con để giết thịt. Nhưng khi đưa gà ra để cắt tiết, Phụng đã chạy vội xuống bếp bảo: - Ồ! Giờ dậu không nên giết già. Bạn cũ tâm giao ăn gì mà chả được.
Chơi được hai ngày, Hoà lại tìm đến nhà người bạn thứ hai là Loan chơi. Hoà vẫn khoác bộ cánh một người nghèo như lúc đến nhà Phụng và Hoà vẫn giữ kín không cho Loan biết hoàn cảnh thực của mình. Loan từ lúc thôi học trở về gặp cảnh éo le, anh cố sức chèo chống nhưng không gặp thời. Anh làm ăn thua lỗ, vợ yếu con đau, có mấy sào ruộng tổ nghiệp để lại thì phải bán để chạy thuốc cho con. Cuối cùng, hai vợ chồng phải làm thuê cho một nhà giàu ở đầu làng. Cuộc sống tuy khó khăn nhưng hai người không chút phàn nàn. Thấy Hoà đến chơi, Loan mừng rỡ vô cùng. Loan giới thiệu bạn với vợ: - Đây là người bạn thân nhất ngày còn đi học trên tỉnh. Từ đó đến giờ đã ngót mười năm mới gặp lại nhau. Mình nhớ kiếm cái gì để đãi anh ấy nhé.
Người vợ vâng lời cắp rổ đi chợ. Trưa, chị vợ đội một rổ thức ăn về, đầu lại trùm một chiếc khăn, mặc dù giờ đang giữa trưa hè. Lúc đầu Hoà không để ý, nhưng lúc anh đi thơ thẩn ở ngoài hè thì thấy Loan và vợ kéo nhau vào buồng rì rầm to nhỏ. Ghé trông vào, một điều kinh ngạc đập vào mắt anh: Lúc này, vợ Loan bỏ chiếc khăn trùm đầu ra thì mái tóc xanh trên đầu không còn nữa. Vì vậy, khi vợ chồng Loan bước ra khỏi buồng Hoà vội hỏi lý do vì sao nàng lại cắt tóc. Biết không giấu được, vợ Loan thú thật: - Lúc sáng ra đi không có tiền, tôi mượn mấy người quen nhưng họ cũng không có. Nhân có hàng tóc muốn mua, sẵn có mái tóc dài, tôi liền bán đi. Một đời một kiếp bạn mới đến nhà, chẳng lẽ lại nhìn nhau suông. Anh đừng ngại, tóc cắt đi rồi nó lại mọc, lo gì. Hoà hết sức xúc động về hành động của vợ Loan. Anh bèn nói thật cho bạn biết chuyện mình thi đỗ làm quan, chuyện tìm bạn đến nhà Phụng được y đối đãi ra sao. Nói xong, Hoà lục túi lấy ra một chiếc trâm vàng đưa cho vợ Loan và nói: - Cái răng cái tóc là góc con người. Tôi rất ân hận là không biết trước để ngăn chị lại không cho bán mái tóc quý giá ấy. Nhưng cũng nhờ đấy mà tôi mới biết được tấm lòng vàng của chị. Bây giờ xin tặng chị vật này, chị cứ bán đi mà tiêu, sau này tóc dài lại sẽ tìm cách làm ăn. Sau khi trở về được ít lâu, Hoà lại cho người đưa tiền đến cho Loan để Loan đi học nghề may. Khi thành nghề, Hoà còn giúp Loan mở một xưởng may tại làng. Công việc làm ăn của họ ngày càng phát đạt. Loan còn dạy nghề cho bao nhiêu người để họ có kế mà sinh nhai.
Còn Phụng mãi về sau, biết tin Hoà làm quan ở kinh thành thì lấy làm tiếc. Kế đó lại nghe tin Loan nhờ Hoà mà làm ăn khấm khá. Phụng tiếc rẻ: "Phải chi ngày ấy ta tiếp bạn ta tử tế, biết đâu lại chẳng nhờ bạn lo cho được một chút phẩm hàm". Thế rồi, hắn vội vã khăn gói lần lượt tìm đến nhà hai người bạn thăm hỏi. Song đến nhà nào cũng không ai coi hắn là bạn nữa, không ai chấp nhận một người bạn "tham vàng bỏ ngãi".

99. CÁI ỐNG THIÊNG
Xưa có một chàng tên là Khọn rất khoẻ mạnh và khéo tay. Anh làm việc gì cũng giỏi. Trai tráng trong vùng chẳng sánh kịp. Khọn mồ côi cả cha lẫn mẹ, ruộng vườn không có phải đi làm mướn để kiếm sống. Thấy Khọn làm việc giỏi, một lão nhà giàu gọi anh đến và gả con gái cho. 
Suốt mấy năm ở rể Khọn làm việc rất hăng, chẳmg bao lâu bố vợ của anh giàu to nhưng lão chẳng cho vợ chồng Khọn một tí gì cả. Đã thế lão lại còn hay kiếm chuyện chửi bới Khọn. Vợ Khọn cũng cậy thế cha, coi Khọn chẳng ra gì. Khổ nhục quá, Khọn đòi ra ở riêng. Lúc đầu lão nhà giàu không chịu, sau thấy Khọn cứ một mực đòi, lão đành phải ưng thuận nhưng lão chỉ cho vợ chồng Khọn độc một con trâu già. Được ra ở riêng, Khọn rất mừng nhưng vợ anh thì cứ mè nheo anh mãi.
Một buổi sáng, vợ anh gây sự cãi lộn với anh, chửi bới anh không tiếc lời. Cố nén giận, anh xuống nhà dắt trâu ra bãi cỏ. Vì buồn bực, khi ra đến bãi anh thả cho trâu muốn đi đâu thì đi. Con trâu rộng cẳng, bon ngay vào rừng. Trong lúc ấy, Khọn đến ngồi bên bờ suối. Ngắm hoa ngắm bướm chán anh lại đến chỗ cái cọn nước xem cọn nước quay. Thấy những ống cọn hết múc lại đổ, hết đổ lại múc anh thấy lòng vui vui. Một tên trộm theo rình thấy anh không chú ý đến trâu liền dắt trộm trâu đem đi. Chiều, sực nhớ đến trâu anh hốt hoảng đi tìm khắp nơi, tìm đến sẩm tối mà vẫn không thấy bóng trâu đâu cả.
Mất trâu, lo về nhà vợ sẽ gây sự, anh rất bực mình, rồi giận lây đến cả cái cọn nước. Quay trở lại chỗ cái cọn anh lấy dao lia một nhát. Một ống đứt dây, rơi xuống nước. Bỗng nghĩ ra cách về nói dối vợ, anh lội xuống suối vớt cái ống lên rửa sạch, lấy lá dong gói lại rồi lững thững về nhà.
Thấy anh về một mình, vợ anh hỏi: - Sao bây giờ mới về? Trâu đâu?- Anh vừa nói vừa giơ cái ống bọc lá dong ra: Trâu ấy à? Tôi đem đổi lấy cái này rồi. Thấy cái ống bọc lá, vợ tưởng cái gì quý lắm liền giằng lấy giở ra xem. Khi thấy chỉ là một cái ống cọn đã ngâm nước đen thui và thối hoắc, mụ ta vứt ngay xuống sàn rồi lồng lên chửi. Khọn không nói nửa lời, anh lẳng lặng xuống sàn nhặt cái ống lên rồi gói lại vào lá dong như cũ. Thấy thế, vợ anh càng bực, mụ la om lên. Lúc này Khọn mới lấy tay bịt miệng mụ lại rồ gằn từng tiếng: - Đừng làm ầm lên. Tao không phải là người ngu. Đây là cái ống thiêng, có phép lạ đào ra bạc, ra vàng. Của cải, bạc vàng của bố mẹ mày giấu ở đâu nó cũng tìm thấy. Hãy câm mồm đi. Vợ anh vẫn chưa hết giận, mụ lầu bầu một lúc rồi ôm con về nhà bố mẹ, thuật lại chuyện cho bố mẹ nghe, Khọn lẻn đi theo dò xét.
Lão nhà giàu nghe con nói, nửa tin nửa ngờ. Suy nghĩ một lúc, lão bàn với vợ và con gái: "Ngày mai hãy thử xem cái ống thế nào đã, nếu đúng là cái ống cọn thì thách nó đến mà tìm của. Dù sao thì đêm nay cũng phải chôn lại mấy hũ vàng cho chắc chắn, sợ trong thời gian ở rể nó đã dò biết chăng". Ngay đêm hôm ấy Khọn trèo lên một ngọn cây ngồi rình và trông thấy chỗ cất giấu. Sáng hôm sau, lão nhà giàu đến nhà Khọn. Thấy anh đang cặm cụi lau cái ống, lão liền hỏi: - Khọn, mày đổi trâu lấy cái ống gì thế? Đưa tao xem nào.  Nhận ra đó chỉ là cái ống cọn, lão lắc đầu bảo: - Sao mày lại đổi trâu lấy cái ống bẩn thỉu này? Không có trâu mày lấy gì mà cày ruộng? Khọn thủng thẳng: - Bố đừng lo, có cái ống này tôi sẽ giàu hơn bố. Lão nhà giàu phá lên cười: - Tao thách mày đến tìm vàng ở nhà tao. Tìm được bao nhiêu tao cho mày bấy nhiêu, nhưng nếu không tìm thấy thì mày mất gì cho tao nào? Khọn thủng thẳng tiếp: - Tôi sẽ mất cho bố cái ống này. - Mất cho tao cái ống này à? Nhà tao còn chán củi! - Thế tôi đến ở cho bố vậy. Nghe thế, lão mừng quýnh nói với Khọn: - Thôi được, tao cũng đành liều với mày. Nào, mang cái ống thiêng sang nhà tao đi. Khọn đáp: - Mai kia cũng được, vội gì. Tôi sẽ đem ống đến nhà bố tìm của, tôi còn đây chứ đi đâu mà bố sợ. - Mai kia à, tao chả chơi để mày rình xem vàng chôn ở đâu chứ gì? Khọn vờ đứng thừ một lúc, rồi nói: - Nếu tôi thua thì tôi xin với bố một năm thôi, còn ở cả đời thì tôi chẳng ở đâu. Nói rồi Khọn vác ống đi theo bố vợ.
Sau khi chào cả nhà xong, Khọn vào bếp thắp một nén hương, huơ vào ống rồi lấy chiếc đũa gõ long cong, long cong, vừa gõ vừa đi khắp nhà. Thỉnh thoảng Khọn lại dừng lại những chỗ giấu vàng cũ. Thấy thế lão bố vợ có vẻ đắc ý lắm. Trong khi ấy, Khọn vẫn vừa đi vừa gõ ống: long cong, long cong. Đột nhiên, Khọn đứng dừng lại, ghé sát tai vào miệng ống, gật đầu rồi bảo vợ anh lấy chiếc thuổng và vác thuổng xuống thang đi thẳng đến cầu ao. Khi Khọn dừng lại bên hòn đá, chỗ lão giấu vàng, lão đã lo, nhưng rồi Khọn lại đi đến chuồng lợn ở gầm sàn. Yên trí là Khọn chẳng biết gì, lão cười khanh khách và gọi Khọn: - Khọn ơi, vào nghỉ lấy sức rồi mai đến làm việc cho tao. Cái ống bẩn thỉu ấy thì làm gì biết được chỗ tao giấu vàng. Lão nói dứt lời thì Khọn quay lại chỗ cầu ao. Anh lấy ống cọn gõ ba cái lên tảng đá rồi lấy thuổng nậy bật lên, bưng ra một hũ vàng đầy ắp.
Lão bố vợ hoảng sợ chạy đến ôm chầm lấy Khọn van xin Khọn: - Bố biết con tài, con giỏi rồi, thôi con để đấy cho bố. Vàng này là của chung của bố con ta đấy mà. Khọn đẩy lão ra: - Bố đã hứa, bố phải giữ lời. Tôi sẽ còn lấy một hũ bạc dưới chân cầu thang kia nữa. Thấy Khọn nói đúng chỗ chôn hũ bạc, mặt lão cắt không còn một hột máu, lão rối rít xin: - Bố xin con, thôi thì con giữ lấy hũ vàng này, còn hũ bạc để cho bố. Lão và vợ lão nài xin mãi Khọn mới bằng lòng. Từ đó Khọn trở lên giàu có. Cái tin Khọn có cái ống rất linh thiêng bay khắp thiên hạ. Người nghèo thì ao ước có cái ống thiêng cho cuộc đời đỡ khổ, kẻ giàu thì lo ngày lo đêm sợ Khọn đến lấy mất của cải nhà mình.

100. THẠCH SÙNG CÒN THIẾU MẺ KHO
Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo khó, tên là Thạch Sùng. Họ sống chui rúc trong một túp lều gần chợ, xin ăn qua ngày. Tuy sống vất vả, nhưng Thạch Sùng là người mạnh khoẻ, lại có chí kinh doanh lớn, có thủ đoạn làm giàu. Bởi vậy, từ lâu, tiền của vợ chồng xin được vẫn dành dụm chôn dưới đất, nơi góc nhà, không ai biết, bên ngoài vẫn là hai kẻ ăn xin. 
Một hôm, Thạch Sùng đi vào xóm ăn xin về trễ, thấy hai con trâu từ dưới nước nhảy lên bờ, húc nhau dữ dội. Lúc nhỏ, Thạch Sùng đã nghe người cha nói: "Hễ trâu húc nhau dưới nước là điềm trời sắp có lụt". Thạch Sùng nhớ lại lời nói ấy, liền về nhà bảo vợ, đào hết tiền dành dụm lên, đem đi mua gạo về dự trữ. Quả nhiên, mùa đông năm ấy trời làm một trận lụt kinh hồn, mùa màng, nhà cửa, súc vật đều trôi sạch, nạn đói khắp nơi, giá gạo từ một tăng gấp trăm lần mà mua không có. Thạch Sùng nhân cơ hội ấy, bán ra số gạo dự trữ, rồi đem tiền cho vay một vốn bốn lời. Ngoài việc bán gạo, cho vay Thạch Sùng cùng liên hệ với các thuyền buôn, mua những vật liệu ở địa phương cần dùng để bán lại cho dân chúng. Cứ như thế trong mười năm, tiền của, châu báu như núi non, không vật gì không có. Những tay bá hộ, thiên hộ xưa nay nổi tiếng trong vùng so với Thạch Sùng thì tài sản không bằng một móng tay.
Có tiền trong tay, Thạch Sùng muốn có địa vị, nên đem một số vật quý dâng cho nhà vua, được vua phong tước quận công. Từ đó, hắn ra kinh thành, xây dựng một dinh thự nguy nga không thua dinh thự của một ông hoàng bà chúa nào. Trong dinh thự của hắn có hơn một trăm nàng hầu, ăn mặc toàn lụa và gấm vóc. Vợ con hắn bây giờ sống một cách xa xỉ, phong lưu đến nỗi không một bậc tôn vương nào sánh kịp.
Hồi đó, nơi kinh thành có người em Hoàng hậu, họ Vương, trước đây nổi tiếng là giàu có nhất kinh thành, nay thấy Thạch Sùng và vợ con hắn ăn tiêu như vậy, có vẻ bị sỉ nhục. Một hôm người vợ họ Vương gặp Thạch Sùng trong bữa tiệc, có đủ các bậc vương công đại thần đến dự. Câu chuyện vui chơi dần dần chuyển đến một cuộc khoe của giữa hai người. Họ Vương nói:"Bọn nô tỳ nhà tôi đều mặc toàn tơ lụa. Chúng nó đông quá đến nỗi tết đến phải xuất hàng kho tơ lụa mới đủ." Thạch Sùng nói khích: "Bọn nô tỳ nhà tôi thì phải có lúa gạo của cải một huyện mới đủ cho chúng ăn." Họ Vương lại khoe:"Bếp nhà tôi phải dùng đường đốt thay củi." Thạch Sùng lại nói khích: "Nhà tôi mỗi mùa đông phải dùng mỗi ngày đến một hôm nến đốt lên mới đủ sưởi ấm." Thấy hai bên khoe khoang mãi, không ai chịu nhịn, có một vị quan khách xen vào, nói:"Hai người cứ cãi nhau mãi như thế không ích gì. Phải có những chứng cớ thực tế chúng tôi mới tin. Một hôm nào đó, hai ngài đem của cải ra cho chúng tôi thấy, bên nào thua thì phải nộp cho bên kia tất cả của cải đó. Chúng tôi sẽ làm chứng cho." Cả hai đều nhận lời: "Đến ngày đấu của, có mặt mấy vị đại thần đến làm chứng. Hai bên ký kết vào hiệp ước, giữ đúng cam kết."
Bấy giờ Hoàng hậu nghe được câu chuyện vội vã sai mấy tên nội giám có mưu kế đến giúp cho họ Vương. Đầu tiên, Vương sai lấy lụa căng làm màn trần trong tất cả dinh thự của mình. Đến lượt Thạch Sùng hắn sai lấy gấm căng che tất cả trần trướng trong nhà của hắn. Thấy vậy, Vương lại lấy thuỷ tinh thay ngói, lợp tất cả cửa, khiến cho dinh thự trở thành những tầng lầu sáng chói. Thạch Sùng đối lại bằng cách lấy ngọc thạch cho thợ lát ngoài sân ở trước nhà bóng lộn. Mọi người đều tấm tắc khen Thạch Sùng, làm cho họ Vương cau mặt.
Cuộc đấu lại tiếp diễn, Thạch Sùng hỏi họ Vương: "Nhà ngài có san hô, mã não chăng?" Chàng họ Vương đưa ra một cây san hô cao mấy thước, và hỏi lại: "Nhà ngươi có tê giác không?" Thạch Sùng bĩu môi ra hiệu cho người hầu đem ra một bộ trà bằng sừng tê giác có nạm ngọc. Cả hai người còn khoe khoang nhiều của cải quý nữa, chưa ai chịu thua ai. Đến lượt họ bắt đầu khoe vật kỳ lạ. Thạch Sùng nói:"Tôi có con thiên lý mã mua từ bên Thiên Trúc về, mỗi ngày chạy hơn ngàn dặm." Người ta xúm nhau xem và tán tụng con ngựa quý. Nhưng chàng họ Vương lại mời mọi người đến vườn hoa của mình xem con hươu hai cái đầu. Lần này Thạch Sùng yên lặng khá lâu. Tiếng xôn xao vang ra khắp nơi, ai cũng tưởng Thạch Sùng đã hết cả vật quý. Nhưng bất ngờ, Thạch Sùng rút trong túi ra một viên ngọc và nói:"Tôi có một viên ngọc, mùa nóng đeo vào thì mát, mùa lạnh đeo vào thì ấm. Tôi chắc trong thiên hạ không ai có được."
Họ Vương thấy thế bắt đầu bối rói, hắn toan sai người đến mượn Hoàng hậu viên ngọc như ý để địch lại, nhưng viên thái giám ngồi bên cạnh gỉ tai nói nhỏ một hồi. Thế rồi người ta thấy chàng họ Vương quay lại hỏi Thạch Sùng: "Nhà của ngài tuy rất giàu nhưng mà không đầy đủ. Tôi cho rằng thế nào nhà ngài cũng thiếu một đồ vật." Thạch Sùng đang cơn đắc ý nói: "Nhà tôi không thiếu một đồ vật gì cả. Nếu ngày chỉ ra được một đồ vật mà nhà tôi không có, tôi sẽ đền cho ngày mười thùng vàng và tất cả gia sản nữa. Trái lại, nếu tôi có đủ thì ngài cũng phải mất cho tôi y như vậy."
Ý thức kiêu căng giữa hai người đã lên đến tột độ. Thạch Sùng bắt chàng họ Vương cùng ký giao ước với mình. Khi ký xong, chàng họ Vương bảo Thạch Sùng: "Ngài hãy đưa ra cho các vị ở đâu xem mẻ kho của nhà ngài đi." Thạch Sùng nghe nói giật mình. Mẻ kho là thứ hắn đã biết. Đó là thứ nồi đất để nhà nào cực khổ mới đi lượm đem về kho nấu thức ăn. Ngày xưa còn hàn vi, Thạch Sùng bỏ mẻ kho đầy nhà, thứ này hắn nhặt ở các đống rác. Bây giờ nhà hắn đã quá giàu có, còn chứa những thứ ấy làm gì. Nhưng hắn cũng cố giục đày tớ đi tìm một ít mẻ kho. Mà tìm mãi khắp nơi vẫn không nhặt được, dù chỉ là một mảnh nồi vỡ. Qua một lúc lâu, những người làm chứng công nhận sự thắng cuộc về phía người em Hoàng hậu.
Thạch Sùng không ngờ mình bị thua một cách chua cay, đau đớn như thế. Hắn chỉ còn lại một mình, ngồi chắc lưỡi, tiếc cơ nghiệp tự tay mình xây dựng bấy lâu, nay trắng tay lại hoàn trắng tay. Sau đó Thạch Sùng chết, hoá ra con thằn lằn, cũng gọi là con Thạch Sùng, thỉnh thoảng lại chắc lưỡi, tiếc của kêu lên mấy tiếng: - Thạch! Thạch!
Ngày nay người ta còn câu tục ngữ: "Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho". Đó là câu ví với ý nghĩa đời người không ai hoàn toàn đầy đủ.


Xem thêm: http://dangxuanxuyen.blogspot.com/2017/02/100-truyen-co-tich-viet-nam-hay-nhat_7.html


0 nhận xét:

Đăng nhận xét