.
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
(các bài viết mới, chưa ra sách)
*
ĐỘN LỤC NHÂM
(a: Sơ Độn)
*
Độn Lục Nhâm là gì? Là cách bấm độn để tìm (biết) xem giờ bắt đầu tiến hành một công việc nào đó thuộc giờ tốt hay giờ xấu, ảnh hưởng tới kết quả thế nào, do ông Lý Thuần Phong (602 - 670) người Trung quốc sáng chế. Ban đầu, Độn Lục Nhâm chỉ dùng cho việc xem xuất hành lành dữ ra sao, nhưng dần dà Độn Lục Nhâm được ứng dụng xem tất cả các việc trong cuộc sống, đời người.
Vậy Độn Lục Nhâm có đáng tin không?
Xin kể vài chuyện về “bấm độn” của nhà thơ, nhà ứng dụng kinh dịch Nguyễn Thanh Lâm để bạn đọc chiêm nghiệm.
Câu chuyện thứ nhất:
Năm 2003, một lần nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm đến thăm tôi ở Công ty Văn hóa Bảo Thắng. Trong lúc ngồi chờ, khi nghe tôi nói với khách hàng: - “Chị có cần ứng (tiền) trước không? Nếu cần, chị đợi nửa tiếng nữa, kế toán ở ngân hàng về, em bảo cô ấy viết phiếu tạm ứng.”, ông liền “bấm bấm bấm” rồi tủm tỉm cười, nói với khách hàng của tôi: - “Đặng Xuân Xuyến có ý tốt, muốn tạo thuận lợi cho chị nhưng theo tôi, chị ghi nhận lòng tốt của cậu ấy là đủ, còn tiền, có sớm thì cũng phải vài hôm nữa chị mới nhận được vì hôm nay, Đặng Xuân Xuyến không có tiền.”. Dù đã biết tài “dùng dịch để độn” của nhà thơ nhưng tôi vẫn “cười thầm” ông vì mấy hôm trước, mấy tỉnh điện về thông báo tiền đã chuyển về tài khoản Công ty Văn hóa Bảo Thắng nên chuyện “Đặng Xuân Xuyến không có tiền” là không thể. Có vẻ đọc được suy nghĩ của tôi, ông nheo mắt: - “Cậu không tin anh à? Kế toán về là cậu nhăn mặt ngay. Hết cả cười thầm anh.”. Ông vừa dứt lời, Trần Thị Thái Loan và Đặng Xuân Phương ở ngân hàng về, bước vào, cả 2 đều ỉu xìu mặt, lắc đầu: - “Tiền chưa về!”. Tôi điện cho khách và đều nhận được câu trả lời: - “Sáng nay mới ký lại lệnh chi vì mấy hôm trước ghi sai số tài khoản Công ty Văn hóa Bảo Thắng nên ngân hàng hồi lại.”
Câu chuyện thứ hai:
Năm 2007, cũng tại Công ty Văn hóa Bảo Thắng, cũng vô tình được nghe “chuyện tình” mà Trần Hải Sơn “nhăn nhó” với tôi, ông bấm độn rồi nói với Trần Hải Sơn: - “Cậu an tâm. Nhà gái sẽ tự xuống nước. Hôn lễ vẫn cử hành đúng như ý của gia đình nhà cậu”. Dù biết tài bấm độn của nhà thơ nhưng tôi vẫn nghi ngờ, không tin lời ông vì như lời của cậu em Trần Hải Sơn thì gia đình bên kia không chấp nhận chàng rể kém con gái họ nhiều như thế. Họ đã chọn được chàng rể tương lai “xuất chúng” hơn cậu em Trần Hải Sơn nhiều mặt. Họ cũng đã cho người tới “dằn mặt” Trần Hải Sơn vài trận, đã làm cho cậu có phần nhụt chí, buông xuôi.... nên cả tôi và Trần Hải Sơn đều nghĩ câu “Hôn lễ vẫn cử hành đúng như ý của gia đình nhà cậu” chỉ là lời động viên, an ủi...
Mười ngày sau, Trần Hải sơn điện cho tôi, hớn hở: - “Anh ơi nhà gái ô kê rồi. Bố mẹ vợ đã đánh tiếng mọi việc sẽ theo ý bên nhà trai quyết”.
Chuyện nhà thơ, nhà ứng dụng kinh dịch Nguyễn Thanh Lâm độn quẻ với độ chính xác cao (tôi may mắn được là người kiểm chứng) còn nhiều, nhưng trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ kể lại 2 câu chuyện trên để bạn đọc (gián tiếp) thêm “trải nghiệm” về phép độn quẻ, để tìm câu trả lời cho niềm tin vào phép độn quẻ.
Trở lại với nội dung chính của bài viết:
Phép tính Độn Lục Nhâm thế nào?
Theo phép Độn Lục Nhâm thì tính trên bàn tay trái và bàn tay được chia làm sáu cung, như hình vẽ: 
Phép Độn Lục Nhâm căn cứ vào tháng (nguyệt), ngày (nhật) và giờ (thì) dự định khởi sự công việc để bấm độn xem kết quả công việc sẽ như thế nào.
Muốn bấm độn, người ta lấy bàn tay trái, chia làm sáu cung như hình minh họa, cụ thể:
1. Đại An ở cung Dần thuộc Kim 
2. Lưu Niên ở cung Tỵ thuộc Thủy
3. Tốc Hỷ ở cung Ngọ thuộc Hỏa 
4. Xích Khẩu ở cung Mùi thuộc Kim 
5. Tiểu Cát ở cung Tý thuộc Mộc 
6. Không Vong ở cung Sửu thuộc Thổ 
Bắt đầu từ tháng Giêng khởi từ cung Dần (số 1), xuôi đến tháng Hai tại Tỵ (số 2), tiếp đến tháng Ba tại Ngọ (số 3), tháng Tư tại Mùi (số 4), tháng Năm tại Tý (số 5), tháng Sáu tại Sửu (số 6), rồi lại tiếp tục tháng Bảy trở lại cung Dần (số 1), tháng Tám tại Tỵ (số 2), tháng Chín tại Ngọ (số 3), cứ thế xuôi đi cho đến tháng mình độn quẻ (tháng định khởi ự công việc) ở cung nào thì bắt đầu từ cung ấy khởi tính ngày mồng một và tính xuôi qua sáu cung trên cho đến ngày mình độn quẻ (ngày dự định khởi sự công việc) ở cung nào thì dừng lại. Rồi từ cung đấy, khởi là giờ Tý, tính xuôi đến giờ độn quẻ (giờ dự định khởi sự công việc) là giờ gì và đóng ở cung nào tức là trúng quẻ ở cung ấy. 
Lưu ý: Tháng, ngày, giờ để độn quẻ đều tính theo tháng, ngày, giờ âm lịch.
Ví dụ: Một người đi xa, xuất hành vào giờ Tỵ (9-11), ngày 14 tháng 12 (Chạp). 
Cách tiến hành Độn Lục Nhâm như sau:
Bắt đầu từ tháng Giêng khởi từ cung Dần (số 1), thì tháng 12 (Chạp) ở cung Sửu, lại bắt đầu mồng một tại cung Sửu cho đến cung Dần là ngày 14. Lại khởi ngay giờ Tý tại cung Dần tính xuôi cho đến giờ Tỵ thì vào cung Sửu. Cung Sửu là quẻ Không Vong. 
Được quẻ rồi, thì căn cứ vào quẻ mà đoán cát hung. 
Ý nghĩa 6 quẻ trong phép Độn Lục Nhâm như sau:
Đại An: Mọi việc đều tốt đẹp. Nhà cửa yên lành, người xuất hành được bình yên. Gặp bạn hiền, được thết đãi ăn uống, có tiền. Có thể gặp quý nhân giúp đỡ. 
Lưu Niên: Triệu bất tường, tìm bạn không gặp lại thêm có sự cãi cọ, miệng tiếng, chia ly. Cầu tài, cầu quan nên hoãn lại vì mờ mịt, khó thành. Có nhiều cản trở trong việc làm nên hành sự thật cẩn thận, chắc chắn. 
Tốc Hỷ: Vạn sự may mắn, xuất hành được bình yên, cầu quan được hanh thông, thuận lợi. Có tài có lộc, cầu sao được vậy, gặp thầy, gặp bạn,... nhiều việc vui mừng. 
Xích Khẩu: Quẻ xấu, có khẩu thiệt, thị phi. Cẩn thận bị mất của hoặc bị thương tích. Vợ chồng có sự cãi cọ, chia rẽ. Đề phòng gặp chuyện đói kém, cãi cọ, lây bệnh...
Tiểu Cát: Có tài, có lộc, buôn bán có lời, mọi việc đều vui vẻ, hòa hợp, có bệnh cầu sẽ gặp thày gặp thuốc, sẽ khỏi, người nhà đều mạnh khỏe. Đây là quẻ may mắn, rất tốt.
Không Vong: Bệnh tật, khẩu thiệt, vợ con ốm đau, mất trộm mất cắp. Cầu tài không có lợi hay bị trái ý, xuất hành gặp hạn, việc quan phải đòn, gặp ma quỷ cúng lễ mới an. Quẻ này xấu nhất trong sáu quẻ. 
Cách tính giờ xuất hành tốt, xấu của Lý Thuần Phong
(Ngày âm + Tháng âm + Khắc định đi) trừ 2, rồi lấy kết quả chia cho 6 và sau đó căn cứ vào số dư để tra bảng dưới đây, ước đoán kết quả thế nào.
KHẮC ĐỊNH ĐI là thời gian (số giờ) ta chọn để xuất phát tiến hành công việc:
Từ  11g 00 đến 01 g00  Khắc 1
Từ  01g 00 đến 03 g00  Khắc 2
Từ  03g 00 đến 05 g00  Khắc 3
Từ  05g 00 đến 07 g00  Khắc 4
Từ  07g 00 đến 09 g00  Khắc 5
Từ  09g 00 đến 11 g00  Khắc 6
- Số dư 1 (Đại An): Mọi việc đều tốt đẹp. Nhà cửa yên lành, người xuất hành được bình yên. Gặp bạn hiền, được thết đãi ăn uống, có tiền. Có thể gặp quý nhân giúp đỡ. 
- Số dư 2 (Tốc Hỷ):. Vạn sự may mắn, xuất hành được bình yên, cầu quan được hanh thông, thuận lợi. Có tài có lộc, cầu sao được vậy, gặp thầy, gặp bạn,... nhiều việc vui mừng. 
- Số dư 3 (Lưu Niên): Triệu bất tường, tìm bạn không gặp lại thêm có sự cãi cọ, miệng tiếng, chia ly. Cầu tài, cầu quan nên hoãn lại vì mờ mịt, khó thành. Có nhiều cản trở trong việc làm nên hành sự thật cẩn thận, chắc chắn. 
- Số dư 4 (Xích Khẩu): Quẻ xấu, có khẩu thiệt, thị phi. Cẩn thận bị mất của hoặc bị thương tích; Vợ chồng có sự cãi cọ, chia rẽ. Đề phòng gặp chuyện đói kém, cãi cọ, lây bệnh...
- Số dư 5 (Tiểu Cát): Có tài, có lộc, buôn bán có lời, mọi việc đều vui vẻ, hòa hợp, có bệnh cầu sẽ gặp thày gặp thuốc, sẽ khỏi, người nhà đều mạnh khỏe. Đây là quẻ may mắn, rất tốt.
- Số dư 6 và 0 (Không Vong): Bệnh tật, khẩu thiệt, vợ con ốm đau, mất trộm mất cắp. Cầu tài không có lợi hay bị trái ý, xuất hành gặp hạn, việc quan phải đòn, gặp ma quỷ cúng lễ mới an. Quẻ này xấu nhất trong sáu quẻ. 
Ví dụ:
1. Quý vị định khởi sự (công việc) vào lúc 10 giờ sáng (hoặc tối) ngày 12 tháng 10 (âm lịch). Cách tính để biết giờ đó đi có được việc hay không như sau:
{(12 + 10 + 6) - 2} : 6 = ?
{(28) - 2} : 6 = ?
{26} : 6 = 4 dư 2
Tham chiếu với ước đoán của Lý Thuần Phong thì số dư 2 thuộc giờ Tốc Hỷ, cho kết quả: - Vạn sự may mắn, xuất hành được bình yên, cầu quan được hanh thông, thuận lợi. Có tài có lộc, cầu sao được vậy, gặp thầy, gặp bạn, gặp vợ (gặp chồng), nhiều việc vui mừng
2. Quý vị định khởi sự (công việc) vào lúc 12 giờ trưa (hoặc đêm) ngày 15 tháng 10 (âm lịch). Cách tính để biết giờ đó đi có được việc hay không như sau:
{(15 + 10 + 1) - 2} : 6 = ?
{(26) - 2} : 6 = ?
{24} : 6 = 4 dư 0
Tham chiếu với ước đoán của Lý Thuần Phong thì số dư 0 thuộc giờ Không Vong, cho kết quả: - Bệnh tật, khẩu thiệt, vợ con ốm đau, mất trộm mất cắp. Cầu tài không có lợi hay bị trái ý, xuất hành gặp hạn, việc quan phải đòn, gặp ma quỷ cúng lễ mới an.
&.
Thưa bạn!
Để độn quẻ đạt tới độ như nhà thơ, nhà ứng dụng Kinh Dịch số 1 đất Hà thành: Nguyễn Thanh Lâm, hoặc như soạn giả Lưu Xuân Thanh, phải là người có “tâm”, có “bản lĩnh” và đặc biệt phải là người có “cơ duyên” với Kinh Dịch mới “ngộ” được “Linh hồn Kinh Dịch là thời và Kinh Dịch là hóa sinh, biến thiên, bất biến và vô lượng biến dịch” (Nguyễn Thanh Lâm), thì độn quẻ mới giỏi, mới có độ chính xác cao.
Trong phép Độn Lục Nhâm có sơ độn, trung độn, đại độn... Bài viết này lược soạn phép Độn Lục Nhâm đơn giản nhất (sơ độn) cho chính người viết tự ứng dụng độn quẻ khi xuất hành, khởi sự công việc. Nếu bạn có hứng với việc tự độn quẻ khi chuẩn bị khởi sự công việc mà chưa biết Độn Lục Nhâm là gì thì bài ĐỘN LỤC NHÂM (sơ độn) này có thể coi là “cẩm nang sơ đẳng” để ứng dụng.
*.
Hà Nội, 23 tháng 11.2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CHỌN TUỔI XÔNG NHÀ ĐẦU NĂM
- VÀI LƯU Ý CẦN BIẾT
*
Tục chọn tuổi người xông đất đầu năm (sau giao thừa) đã có từ xa xưa, với niềm tin người đầu tiên xông nhà sẽ mang đến những may mắn, phúc lộc cho gia chủ, để mọi chuyện trong năm mới được hanh thông, vừa ý. Vì thế, cứ mỗi độ xuân về, chuẩn bị đón chào năm mới, người Việt ta thường rất cẩn trọng trong việc chọn tuổi người xông đất, để kỳ vọng một năm mới gia đình được đắc lộc, sai tài...
Thường thì người ta chọn con trai xông nhà, ít ai lại chọn phụ nữ xông nhà vào ngày tết (kể cả về nhà mới) vì người ta tín đàn ông là khí dương, khí thịnh, là mặt trời, là biểu tượng cho sự cương cường, dũng mãnh nên sẽ đem đến sự sung túc no đủ, sinh sôi cường thịnh về công danh, tài lộc... viên mãn trọn năm cho cả gia đình.
Câu ngạn ngữ “GÁI THẬP TAM NAM THẬP LỤC” ngoài việc phản ánh về độ tuổi sinh sản của từng giới (tính) cũng là quan niệm của dân gian về độ tuổi của người được tính sẽ “linh nghiệm” trong việc xông đất. Người xưa cho rằng dưới tuổi 13 nếu là con gái, dưới tuổi 16 nếu là con trai thì vẫn còn là trẻ con, chưa có khả năng sinh sản nên nếu xông đất sẽ không đem lại sự sinh sôi nảy nở về tài lộc cho gia chủ mà còn đem đến những phiền nhiễu, hao hụt, thay đổi do tính nhõng nhẽo, thất thường của con trẻ, vì thế, dân gian kiêng kỵ người xông nhà chưa đến độ tuổi sinh sản. Do không biết nên nhiều người thường bảo con mình hoặc nhờ đứa trẻ hàng xóm xông đất vì tin rằng đứa trẻ còn ngây thơ, trong sáng, đang độ tuổi phát triển sẽ đem đến những may mắn cho gia đình mà không biết rằng đó là độ tuổi không đẹp cho việc xông nhà mà dân gian kiêng kỵ.
Việc kén người (tuổi) xông nhà thường được chọn trong TAM HỢP TUỔI, ví dụ: Người tuổi Ngọ thì nhờ người tuổi Dần, tuổi Tuất (Dần - Ngọ - Tuất), người tuổi Tỵ thì nhờ người tuổi Dậu, tuổi Sửu (Tỵ - Dậu - Sửu), người tuổi Hợi thì nhờ người tuổi Mão, tuổi Mùi (Hợi - Mão - Mùi)... xông nhà sẽ đem lại những may mắn, cát hỷ theo sở cầu của gia chủ.
Theo tín ngưỡng dân gian thì những người trong tam hợp tuổi khi kết hợp với nhau thường đem lại những may mắn, lợi lộc... vượt trội cho nhau ở nhiều lĩnh vực như kết bạn, làm ăn, tình duyên, hôn nhân... chứ không riêng việc xông nhà và đây cũng là cách chọn tuổi (người) xông nhà đơn giản, dễ tìm mà “kết quả” lại dễ ưng ý.
Về cách chọn người xông nhà trong tam hợp tuổi, người viết lưu ý: không phải cứ trong tam hợp tuổi là năm nào xông nhà cũng đẹp mà phải tránh những năm thuộc TAM TAI, ví dụ:
- Người tuổi Dần - Ngọ - Tuất kỵ các năm Thân - Dậu - Tuất
- Người tuổi Tỵ - Dậu - Sửu kỵ các năm Hợi - Tý - Sửu
- Người tuổi Hợi - Mão - Mùi kỵ các năm Tỵ - Ngọ - Mùi
- Người tuổi Thân - Tý - Thìn kỵ các năm Dần - Mão - Thìn
Vì thế, những năm tam tai không nên nhờ người tam hợp tuổi xông nhà sẽ rước thêm họa hoạn, xui xẻo cho bản thân và gia đình.
Vì chưa thấy tài liệu nào đề cập đến việc tránh người tam hợp tuổi xông nhà vào những năm tam tai nên người viết thiển nghĩ, những năm thuộc tam tai vốn dĩ đã là năm xấu cho Mệnh chủ mà người xông nhà cũng có bản Mệnh không được tốt đẹp, cũng đen đủi như gia chủ thì việc kén người xông nhà trong tam hợp tuổi chẳng khác gì tự chuốc thêm sự rủi ro, đen đủi cho bản thân và gia đình, vì thế trong các năm tai tai nên chọn người thuộc nhị hợp hoặc người được tuổi xông nhà, nhất là người tuổi được sao Thái Dương chiếu hạn, tránh nhờ người tam hợp tuổi xông nhà để giảm thiểu vận xấu cho bản Mệnh. Cũng lưu ý bạn đọc: đây là quan điểm riêng của người viết, bạn đọc chỉ nên coi đó là gợi ý, tham khảo khi kén tuổi xông nhà cho ngày đầu năm mới.  
Ngoài việc chọn tuổi người xông nhà trong tam hợp tuổi, tín ngưỡng dân gian cũng chọn người có tuổi nhị hợp xông nhà cho nhau, ví dụ: Người tuổi Ngọ với người tuổi Mùi, người tuổi Tý với người tuổi Sửu, người tuổi Tỵ với người tuổi Thân, người tuổi Dần với người tuổi Hợi... Người ta tín rằng những người có tuổi nhị hợp xông nhà cho nhau thì công việc sẽ thuận buồm xuôi gió, hạnh phúc gia đạo sẽ được ấm êm, như ý… nên mọi người thường tự xem, tự nhờ người nhị hợp (tuổi) xông nhà mà không cần tìm đến tư vấn của các ông thầy, bà thầy hành nghề lý số. Tuy vậy, người viết cũng lưu ý bạn đọc nên tránh mượn tuổi người (tuổi) nhị hợp xông nhà vào các năm thuộc năm tam tai của họ để lộc tài được vẹn toàn hơn.
Bên cạnh việc nhờ người trong tam hợp tuổi hoặc nhị hợp tuổi xông nhà, dân gian còn chọn người có sao (hạn) Thái Dương chiếu bản Mệnh (năm mới), sau phút giao thừa là người đầu tiên bước chân vào nhà (đất) để tăng lộc, tiếp tài cho gia chủ thêm thịnh vượng. Đây là cách mà dân gian tín nhất vì ít có những điểm hạn chế, kiêng kỵ khi chọn là người xông đất. Những lưu ý, cần kiêng kỵ với người xông đất, người viết sẽ đề cập ở cuối bài.
Để chọn người có sao Thái Dương chiếu bản Mệnh trong năm, bạn đọc tra cứu theo bảng hạn sao Cửu Diệu sau:
Ngoài các cách chọn tuổi (người) xông nhà theo THẬP NHỊ CHI như người viết đã trình bày, dân gian còn nhiều cách chọn tuổi xông nhà, ví dụ như căn cứ vào các quy luật tương sinh, tương hòa của ngũ hành như Mệnh Kim với Mệnh Thủy, Mệnh Thủy với Mệnh Mộc, Mệnh Mộc với Mệnh Hỏa, Mệnh Hỏa với Mệnh Thổ, Mệnh Thổ với Mệnh Kim ... hoặc căn cứ vào mối quan hệ tương sinh của THẬP CAN để chọn người xông nhà, ví như Bính với Tân, Ất với Canh, Đinh với Nhâm, Mậu với Quý, Kỷ với Giáp... để chọn người xông nhà, cầu mong một năm mới được bình an, tăng tài phát lộc cho cả gia đình.
Dù chọn tuổi người xông nhà theo cách nào thì người xông nhà phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Tuổi không được xung khắc, tương hại hoặc hình phạt với tuổi của chủ nhà.
- Năm mới không thuộc năm tam tai của tuổi người xông nhà.
- Người xông nhà là người khỏe mạnh, may mắn, con cái đề huề, đặc biệt không đang trong thời gian vận áo xám.
Thực ra, tục chọn tuổi người xông đất chỉ giải quyết ý niệm tâm linh, cầu mong phúc lộc đến với bản thân và gia đình cho tinh thần được thoải mái vì thế cũng không nên quá câu nệ, cầu kỳ trong việc chọn tuổi người xông nhà, nếu chọn được tuổi người xông nhà ưng ý thì tốt còn nếu không chọn được tuổi người xông nhà như ý muốn hoặc người xông nhà đến ngẫu nhiên, tuổi không được đẹp cho việc xông nhà thì cũng đừng vì điều đó mà buồn bực, làm cho không khí ngày tết kém vui, kẻo lại như các cụ đã nói sẽ “giông cả năm” về niềm tin, tình cảm.
Thưa bạn!
Chỉ còn vài ngày nữa sẽ tiễn biệt năm Ất Mùi, chuẩn bị đón chào năm mới Bính Thân, xin gửi tới quý bạn đọc và gia quyến lời chúc một năm mới an khang thịnh vượng!
(- p/s: Bài viết này dùng cho các năm, không riêng cho năm Bính Thân.)
*.
Hà Nội, ngày 26 tháng Chạp năm Ất Mùi (2015)
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
MẠN ĐÀM VỀ CÂU:
TAM NAM BẤT PHÚ
*
Ngạn ngữ người Việt có câu:
Tam nam bất phú
Tứ nữ bất bần
Hiểu đơn giản:
Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.
Lý do:
Con trai thường hay lêu lổng, không chí thú làm ăn, cha mẹ lại phải chi phí những việc lớn cho các “quý tử” như: Học hành, cưới vợ, làm nhà... nên tốn hết tiền bạc của cha mẹ đã kiến tạo, vì thế mới nghèo.
Con gái thường chịu thương chịu khó, cha mẹ không phải chi phí các việc lớn như gia đình có con trai nên tiền của tích góp được mà trở nên giàu. (Ngày xưa con gái không được đi học, khi lấy chồng thì cơ bản gia đình chồng lo cho đám cưới (thông qua thách cưới của họ nhà gái)
Đấy là hiểu đơn giản là sinh nhiều (3) con trai sẽ nghèo nhưng theo thiển nghĩ của tôi thì cổ nhân chỉ mượn câu “tam nam bất phú” để ám chỉ điều “huyền bí và tối kỵ” của con số 3 huyền cơ trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nếu không đã không có câu “Tứ tử trình làng” để nói về sự vinh hoa phú quý của một gia đình khi sinh được bốn người con trai (?). Ngay trong câu “Tam nam bất phú / Tứ nữ bất bần” đã là một đôi câu đối hoàn chỉnh về sự huyền bí (sinh, tử, sang, hèn...) của các con số 3 và 4 trong tín điều của người Việt. Rất tiếc, tôi mò mẫm mà đoán vậy, chứ trình độ và sự hiểu biết của tôi chỉ a bờ tờ nên không thể hiểu để lý giải được ẩn ý của người xưa khi nhắc tới con số 3 trong “tam nam bất phú”, vì thế mới giãi bày lên đây để mong nhận được sự chỉ giáo quý báu của quý vị.
Trở lại với câu ngạn ngữ: Tam nam bất phú / Tứ nữ bât bần xem thực tế (chỉ có 3 trai hoặc 4 gái) có phải vậy không?
Thật sự rất khó đưa ra câu trả lời vì nếp sống bao đời của người Việt về đường con cái là phải “có nếp có tẻ”, phải có “thằng cu nối dõi” nên sẽ rất hiếm trường hợp nhà “chỉ có 3 thằng con trai” hoặc “chỉ có 4 đứa con gái”. Vì thế , “đối tượng” tra cứu cần được mở rộng: Nhà có 3 anh em trai + 1, 2 chị (em) gái và nhà có 4 chị em gái + 1, 2 anh (em) trai.
Vậy trong trường hợp: 3 TRAI + 1, 2 GÁI thì lời đúc kết của cổ nhân có đúng thế không?
Xin thưa: Không phải vậy! Thực tế, nhiều gia đình sinh 3 con trai mà kinh tế (bố mẹ) vẫn thuộc diện khá giả, có gia đình còn thuộc diện giàu “nứt đố đổ vách”, “tư sản hiện đại”. Sự giàu có đó còn kéo dài đến tận đời con, đời cháu sau này...
Vậy nên hiểu câu: “Tam nam bất phú” như thế nào? Theo thiển ý của người viết, chữ phú ở đây không nên hiểu theo nghĩa chỉ sự giàu có mà hiểu theo nghĩa chỉ sự phú quý thì mới thấy được “ẩn ý” mà cổ nhân đúc kết.
Qua kiểm chứng những gia đình có 3 anh em trai (chỉ 3 anh em trai rất hiếm gặp, mà cơ bản có thêm chị em gái) tôi thấy thường sảy ra (ít nhất là 2/3) các tình huống
- Bất hòa trong gia đình, kể cả sau này khi 3 anh em trai đã yên bề gia thất.
- Tai họa xảy ra cho 1 trong 3 người con trai: Nặng thì có người chết sớm (thường là chết trẻ, chưa có con cái), nhẹ thì bị tàn tật như thối tai, què chân hoặc những chứng bệnh nan y khó chữa..
- Đường hôn nhân của 1 trong 3 anh em trai gặp phải trắc trở, thiếu may mắn, không được trọn vẹn.
Có lẽ, đây mới là điều mà cổ nhân đúc kết: Nhà có 3 anh em trai thì khó có được sự phú quý, phúc thọ.
Tôi đã vào google để tra cứu những “liên quan” về câu ngạn ngữ TAM NAM BẤT PHÚ nhưng rất tiếc, kể cả làm thế nào để cải “tam nam bất phú” cũng không tìm được nên đành mạo muội đưa ra đề xuất như sau:
- Ba anh em trai nên sống xa nhau (về khoảng cách địa lý), càng xa càng tốt.
- Bố mẹ nên nhận một người con trai làm nghĩa tử, hoặc nếu bố mẹ khuất bóng rồi thì ba anh em cùng nhận thêm một anh hoặc em trai kết nghĩa.
- Nên làm con nuôi dòng họ khác (gia đình nghĩa phụ phải có con trai) để tránh cảnh huynh đệ tương tàn và đem lại may mắn cho bản thân.
- Lấy đức để cải số.
Vài dòng tản mạn về câu thành ngữ: TAM NAM BẤT PHÚ, hy vọng sẽ nhận được chỉ giáo của mọi người để câu thành ngữ TAM NAM BẤT PHÚ không còn là nỗi ám ảnh, hãi sợ của nhân gian...
*/
Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2012
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CƯỚI HỎI và
NHỮNG KIÊNG KỴ NÊN BIẾT
*
Hôn nhân là việc trọng đại của đời người, ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của gia đình và gia tộc, vì thể người Việt Nam ta rất cẩn trọng trong việc chọn thời gian (tuổi tác, ngày tháng năm...) tổ chức hôn lễ cho con cháu để tránh những rủi ro như hôn nhân tan vỡ, hiếm muộn con cái, sự nghiệp của vợ chồng bế tắc… 
Kiêng kỵ trong dân gian thì rất nhiều và có những kiêng kỵ chúng tôi thấy thật sự không cần thiết vì không phù hợp với lối sống hiện đại, vì thế, khi soạn bài CƯỚI HỎI VÀ NHỮNG KIÊNG KỴ NÊN BIẾT, chúng tôi chỉ giữ lại những kiêng kỵ mà theo thiển nghĩ của chúng tôi là “hợp lý”, phù hợp với niềm tin “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” của ông cha ta.
Hy vọng bài viết sẽ hữu ích với bạn đọc.
*
Cách tính tuổi Kim Lâu
Dân gian có câu:
“Một, ba, sáu, tám Kim Lâu
Dính vào sạt nghiệp vỡ đầu còn may”
Vì thế, nhiều người vẫn nghĩ tuổi Kim Lâu là tuổi âm lịch có con số đuôi là 1, 3, 6, 8. Ví như: 21, 23, 26, 28, 31, 33, 36, 38... nên cứ vào những năm đó là cấm tiệt những chuyện liên quan tới hỷ sự. Đó là cách hiểu không đúng về cách tính tuổi Kim Lâu.
Cách tính tuổi Kim Lâu được tính như sau:
Lấy tuổi nữ (tuổi âm lịch) trừ đi 9, hoặc chia cho 9, số dư cuối cùng nhỏ hơn 9, chẳng hạn: là 1; 3; 6; 8 thì những năm đó là năm Kim Lâu.

Hóa giải vận xấu khi buộc phải cưới hỏi vào năm Kim Lâu
Nếu vì lý do nào đó buộc phải cưới vào năm Kim Lâu thì dân gian có cách hóa giải vận xấu của tuổi Kim Lâu như sau:
1. Tổ chức cưới hỏi sau ngày Đông Chí:
Không chỉ riêng ngày cưới mà cả các ngày dạm ngõ, ăn hỏi... đều tiến hành sau ngày Đông Chí. Đây là cách hóa giải tốt nhất cho việc cưới hỏi phạm vào tuổi Kim Lâu. 
2. Tổ chức cưới hỏi sau ngày sinh nhật của cô dâu
Cách hóa giải này ít được dùng nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, không thể đợi đến ngày Đông Chí thì có thể tiến hành các việc dạm ngõ, ăn hỏi, cử hành hôn lễ sau ngày sinh nhật (tính theo ngày âm lịch) của cô dâu.

Năm tuổi của cưới xin là những năm nào?
Theo tín ngưỡng dân gian thì mỗi người sinh ra đều cầm tinh một con vật trong 12 con giáp. Và cứ sau 12 năm sẽ lại đến năm tuổi của mỗi người, ví dụ: Người tuổi Ngọ thì cứ đến năm Ngọ là năm tuổi; người tuổi Thân thì cứ đến năm Thân là năm tuổi... Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn nhân thì cách tính năm tuổi lại khác với thông lệ.
Cụ thể theo bảng sau:
TRAI
TUỔI
GÁI 
TUỔI
TRÁNH CƯỚI VÀO NĂM
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mão
Dần
Sửu
Hợi
Tuất
Dậu
Thân
Mùi
Ngọ
Tỵ
Thìn
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi

Muốn có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thuận lợi thì nên tránh kết hôn vào những năm “tuổi” đã liệt kê ở trên.

Mẹo hóa giải khi buộc phải cưới hỏi vào năm tuổi
Vì lý do nào đấy mà buộc phải kết hôn vào những năm tuổi thì dân gian có những cách hóa giải như sau:
1. Bán con cho Thần Thánh:
Khi hai vợ chồng sinh đứa con đầu lòng thì làm nghi lễ “bán con”, còn gọi là “bán cửa”, “bán khoán”, ra đình, chùa, miếu, phủ.
Thường thì người ta hay làm lễ “bán khoán” đứa trẻ cho Đức Ông, Mẫu hoặc Đức Thánh Trần vì dân gian tín các vị thần ấy không những bảo vệ cho đứa trẻ mà còn ban phước cho đứa trẻ và cho cả bố mẹ đứa trẻ được may mắn, an lành.
2. Cho con làm con nuôi người khác:
Khi đứa con mới sinh ra thì cho đi làm con nuôi (tất nhiên là đứa trẻ vẫn ở với cha mẹ để. Thủ tục cho làm con nuôi chỉ là hình thức) hoặc là làm theo cách “bỏ đường bỏ chợ”.
Thường thì người ta chọn những gia đình đông con, nhiều cháu, phúc đức nhiều đời, gửi làm con nuôi để đứa trẻ được hưởng “hồng phúc” của cha mẹ nuôi, đồng thời cũng hóa giải cho những vận hạn mà cha mẹ đứa trẻ có thể gặp phải.
.
Tìm tháng tốt - xấu cho con gái xuất giá
Tháng xuất giá cho con gái có 2 điều tốt là tháng Đại lợi hoặc tháng Tiểu lợi và có 4 điều xấu cần phải tránh là:
Phòng Phu chủ  - Kỵ với người chồng
Phòng Thê chủ  - Kỵ với người vợ
Phòng Công cô  - Kỵ với cha mẹ chồng
Phòng Nhạc thân- Kỵ với cha mẹ vợ
BẢNG XẤU - ĐẸP THÁNG XUẤT GIÁ (trang blog Đặng Xuân Xuyến)
Tuổi gái
xuất giá
Tháng Đại Lợi
Phòng Mai nhân
Phòng Công cô
Phòng Nhạc thân
Phòng Phu chủ
Phòng Thê chủ
Tý - Ngọ
6 - 12
1 - 7
2 - 8
3 - 9
4 - 10
5 - 11
Sửu - Mùi
5 - 11
4 - 10
3 - 9
2 - 8
1 - 7
6 - 12
Dần - Thân
2 - 8
3 - 9
4 - 10
5 - 11
6 - 12
1 - 7
Mão - Dậu
1 - 7
6 - 12
5 - 11
4 - 10
3 - 9
2 - 8
Thìn - Tuất
4 - 10
5 - 11
6 - 12
1 - 7
2 - 8
3 - 9
Tỵ - Hợi
3 - 9
2 - 8
1- 7
6 - 12
5 - 11
4 - 10

Theo bảng trên thì đẹp nhất là cưới vào tháng Đại Lợi, sau đến tháng Tiểu Lợi (là tháng Phòng Mai nhân) nhưng muốn dùng tháng Tiểu Lợi thì mối lương duyên đó phải không có do mai mối. Nếu trai, gái mồ côi thì có thể cưới hỏi vào các tháng Phòng Công cô hoặc Phòng Nhạc thân. Còn các tháng thuộc Phòng Phu chủ (người chồng), Phòng Thê chủ (người vợ) thì tuyệt đối không tiến hành các việc liên quan tới hỉ sự.

Cưới xin cần tránh những ngày nào?
Cưới xin kỵ tổ chức vào những ngày xấu như Nguyệt Kỵ, Vãng Vong, Hoang Vu, Không Phòng, Nguyệt Đối, Nguyệt Yểm, Tu La, Tam Nương... Cưới hỏi vào những ngày này, chủ việc cô đơn, hạnh phúc không bền, hôn nhân dễ gãy đổ.... 
Ngày Nguyệt Kỵ là những ngày: 05, 14 và 23.
Ngày Tam Nương là những ngày: 03, 07, 13, 18, 22, và 27 
Các ngày xấu khác được liệt kê theo các bảng sau:
Bảng 1: Các ngày xấu theo tháng (âm lịch)
THÁNG/
NGÀY
VÃNG VONG
NGUYỆT ĐỐI
NGUYỆT YỂM
TU
LA
Tháng 01
Dần
Thìn
Tuất
Thìn
Tháng 02
Tỵ
Mão
Dậu
Sửu
Tháng 03
Thân
Dần
Thân
Mùi
Tháng 04
Hợi
Sửu
Mùi
Tháng 05
Mão
Ngọ
Mão
Tháng 06
Ngọ
Hợi
Tỵ
Hợi
Tháng 07
Dậu
Tuất
Thìn
Tuất
Tháng 08
Dậu
Mão
Tỵ
Tháng 09
Thìn
Thân
Dần
Dần
Tháng 10
Mùi
Mùi
Sửu
Thân
Tháng 11
Tuất
Ngọ
Dậu
Tháng 12
Sửu
Tỵ
Hợi
Ngọ

Bảng 2: Các ngày xấu theo bốn mùa
MÙA
HOANG VU
KHÔNG PHÒNG
Xuân        Hạ             Thu               Đông
Thân
Dần               Thìn
Tỵ
Thìn - Tỵ - Tý       
Tuất - Hợi - Mùi           
Mão - Dần - Ngọ           
Thân - Dậu - Sửu

Trong những ngày xấu được liệt kê ở bảng 1, thì những ngày Tu La Cướp Giá có thể tiến hành hôn lễ được, tuy nhiên nên thật cẩn thận trên đường khi rước dâu về nhà trai.

Chọn ngày giờ Hoàng Đạo cho cưới xin như thế nào?
Cưới xin là việc trọng đại của đời người, ảnh hưởng tới sự hưng thịnh của gia đình, dòng tộc nên người Việt ta rất cẩn trọng trong việc chọn ngày, kén giờ cho các việc hỷ sự. Đó là những ngày Hoàng Đạo, giờ Hoàng Đạo, là khung thời gian (ngày, giờ) được các vị thần (các sao) tốt, thiện tâm chủ trực, thường ban phước lành, may mắn nên dân gian tín dùng cho các việc trọng đại, để cầu may, rước phúc.
Ngày Hoàng Đạo là các ngày Trực Trừ, Nguy, Định, Chấp, Thành, Khai, gồm các sao: Thanh Long, Minh Đường, Kim Đường, Ngọc Đường, Tư Mệnh, Kim Quỹ, Thiên Đức, Nguyệt Đức. Trong đó, các sao: Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Thiên Đức là những sao tốt, rất lợi cho hỷ sự.
Cách chọn ngày, giờ đẹp (Hoàng Đạo) cho cưới hỏi được tiến hành theo trình tự: Sau khi đã tìm được tháng tốt cho việc xuất giá, người ta sẽ căn cứ vào tháng dự định tổ chức lễ cưới để chọn các ngày Hoàng Đạo (bảng 3).
Bảng 3: Coi ngày xấu đẹp theo tháng (âm lịch)
THÁNG
NGÀY HOÀNG ĐẠO
NGÀY HẮC ĐẠO
Giêng, Bảy
Tý, Sửu, Tỵ, Mùi
Ngọ, Mão, Hợi, Dậu
Hai, Tám
Dần, Mão, Mùi, Dậu
Thân, Tỵ, Sửu, Hợi
Ba, Chín
Thìn, Tỵ, Dậu, Hợi
Tuất, Mùi, Mão, Sửu
Tư, Mười
Ngọ, Mùi, Hợi, Sửu
Tý, Dậu, Tỵ, Mão
Năm, Một
Thân, Dậu, Sửu, Mão
Dần, Hợi, Mùi, Tỵ
Sáu, Chạp
Tuất, Hợi, Mão, Tỵ
Thìn, Sửu, Dậu, Mùi

Từ kết quả đã chọn ở bảng 3, đối chiếu với bảng 1 và bảng 2 để loại bỏ những ngày không tốt cho cưới hỏi, rồi tra Lịch Vạn Niên xem đó là ngày Trực gì? có sao đẹp nào? Nếu là ngày Trực Định, Khai, Thành, có sao Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ thì đó là những ngày đẹp, rất tốt cho việc cưới hỏi. Ngày đã ấn định chọn làm ngày cưới hỏi, nếu thêm được sao Thiên Đức thì đẹp càng thêm đẹp. Cách tính ngày có sao Thiên Đức như sau: Bắt đầu là tháng Giêng, xuôi đến tháng Chạp là cuối cùng, theo thứ tự: Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi, Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi, Sửu, Mão.
Sau khi đã ấn định ngày cưới hỏi, người ta sẽ chọn giờ lành để tiến hành hỷ sự theo bảng 4: Các giờ Hoàng Đạo trong ngày, như sau:
12 GIỜ
NGÀY THEO ĐỊA CHI
TÝ - NGỌ
SỬU - MÙI
DẦN - THÂN
MÃO - DẬU
THÌN - TUẤT
TỴ - HỢI
Giờ Tý
(23-01)
KIM QUỸ
Thiên Hình
THANH LONG
TƯ MỆNH
Thiên Lao
Bạch Hổ
Giờ Sửu
 (01-03)
KIM ĐƯỜNG
Chu Tước
MINH ĐƯỜNG
Câu Trần
Nguyên Vũ
NGỌC ĐƯỜNG
Giờ Dần 
(03-05)
Bạch Hổ
KIM QUỸ
Thiên Hình
THANH LONG
TƯ MỆNH
Thiên Lao
Giờ Mão 
(05-07)
NGỌC ĐƯỜNG
KIM ĐƯỜNG
Chu Tước
MINH ĐƯỜNG
Câu Trần
Nguyên Vũ
Giờ Thìn
(07-09)
Thiên Lao
Bạch Hổ
KIM QUỸ
Thiên Hình
THANH LONG
TƯ MỆNH
Giờ Tỵ    
(09-11)
Nguyên Vũ
NGỌC ĐƯỜNG
KIM ĐƯỜNG
Chu Tước
MINH ĐƯỜNG
Câu Trần
Giờ Ngọ
(11-13)
TƯ MỆNH
Thiên Lao
Bạch Hổ
KIM QUỸ
Thiên Hình
THANH LONG
Giờ Mùi
(13-15)
Câu Trần
Nguyên Vũ
NGỌC ĐƯỜNG
KIM ĐƯỜNG
Chu Tước
MINH ĐƯỜNG
Giờ Thân
(15-17)
THANH LONG
TƯ MỆNH
Thiên Lao
Bạch Hổ
KIM QUỸ
Thiên Hình
Giờ Dậu
(17-19)
MINH ĐƯỜNG
Câu Trần
Nguyên Vũ
NGỌC ĐƯỜNG
KIM ĐƯỜNG
Chu Tước
Giờ Tuất
(19-21)
Thiên Hình
THANH LONG
TƯ MỆNH
Thiên Lao
Bạch Hổ
KIM QUỸ
Giờ Hợi
(21-23)
Chu Tước
MINH ĐƯỜNG
Câu Trần
Nguyên Vũ
NGỌC ĐƯỜNG
KIM ĐƯỜNG

(Lư­u ý: Những chữ in hoa là giờ Hoàng ðạo (TƯ­ MỆNH, THANH LONG...); những chữ in thư­ờng là giờ Hắc ðạo (Nguyên Vũ, Bạch Hổ, Câu Trần....).

Có nên cưới hỏi vào những ngày Bất Tương?
Một số trang web chuyên về văn hóa tâm linh cho rằng ngày Bất Tương là ngày đại kiết, dựng vợ gả chồng vào những ngày này thì thật tuyệt vời, sẽ chẳng phải lo lắng bất cứ điều gì. Các trang web trên đưa ra luận cứ rất trừu tượng, khiên cưỡng: “Âm Dương bất tương: Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-) thì tốt cho cả nam lẫn nữ.”, để khẳng định: Ngày Bất Tương là ngày đại kiết, tuyệt đẹp cho muôn việc, nhất là việc cưới hỏi.
Nếu đã dùng Âm Dương của Can Chi để lý giải thế nào là ngày Bất Tương thì phải căn cứ vào nguyên lý của Âm Dương là cùng dấu thì đẩy, trái dấu thì hút, để lý giải căn nguyên nào dẫn đến sự khác biệt giữa “Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-)” với “Can Âm (-) phối hợp Chi Dương (+)”, mà lại cho kết quả đối lập: tương hợp > < cụ tương (kỵ - khắc)? Và ngay trong nhiều trường hợp, ngày cũng thuộc “Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-)” nhưng tại sao những ngày như thế lại không xếp vào ngày Bất Tương như các trang web đã liệt kê? Các trang web đó không lý giải (được) điều đó, và cũng không chỉ ra: Phải căn cứ vào đặc tính và lý tính (Âm Dương Ngũ Hành) của ngày (Bất Tương) để xem ngày đó có phạm vào ngày kỵ cưới hỏi? có đẹp cho hỷ sự? có hợp với tuổi của cô dâu, chú rể?. Và nữa, sự bất nhất, sai lệch về các ngày Bất Tương giữa các trang web, giữa các bài ngay trong cùng một trang web thì độ “tin cậy” của những bài viết đó là con số không.
Chúng tôi tán đồng quan điểm của nhà ứng dụng kinh dịch Nguyễn Thanh Lâm, khi ông giải thích về ngày Bất Tương: “Bất Tương là không hợp nhau, không hội kiến được với nhau, Trời nói đằng Trời, Đất nói đằng Đất, chả bao giờ gặp nhau cả. Bất Tương về dịch thì trên dịch Càn dưới dịch Cấn của Độn là trốn, không thể hợp nhau được nên ngày này không thể tiến hành các việc trọng đại như làm nhà, cưới hỏi, khai trương.”.
Chúng tôi thì cho rằng: ngày Bất Tương có ngày đẹp, ngày xấu nên không thể tín ngày Bất Tương như một số trang web chuyên về văn hóa tâm linh đã khuyến cáo để tránh những xui xẻo, không may đến với đôi vợ chồng mới. Theo quan điểm của chúng tôi, khi chọn ngày cưới hỏi, cần gạt bỏ những ngày Bất Tương ra khỏi danh sách lựa chọn để việc chọn ngày được chuẩn tín hơn.

Kiêng cưới hỏi vào tháng 7 âm lịch
Theo tín ngưỡng của dân gian thì tháng 7 (âm lịch) gọi là tháng cô hồn vì tháng này Diêm Vương ra lệnh mở Quỷ Môn Quan cho các cô hồn, ma quỷ được thoát về dương thế và các cô hồn, ma quỷ đó buộc phải trở lại địa ngục trước 12 giờ đêm của ngày Rằm tháng 7. Vì thế, tháng 7 âm lịch, nhất là những ngày nửa đầu của tháng, âm khí rất mạnh, nếu tiến hành các việc lớn, hỷ sự như tậu nhà, khai trương, cưới hỏi... sẽ thu hút các vong hồn đến phá phách, gây bất lợi cho gia chủ.
Hơn nữa, theo truyền thuyết dân gian thì tháng 7 âm lịch là tháng Ngưu Lang - Chức Nữ (vợ chồng Ngâu), gắn với chuyện tình duyên trắc trở, bi ai của Ngưu Lang - Chức Nữ, khiến trời đất cảm thương, cũng âm u, mưa dầm rả rích suốt tháng. Cưới hỏi vào những ngày này không thuận về thời tiết còn e vận tình duyên bi ai của vợ chồng Ngâu vào Tân Lang - Tân Nương nên việc hỷ sự cần tránh tiến hành vào tháng “Ngâu” này.
Người ta kiêng cưới hỏi hoặc làm các việc hệ trọng vào tháng 7 âm lịch là vì những lý do như thế.

Kiêng cưới vào ngày Mùng 1 hoặc ngày Rằm
Theo tín ngưỡng dân gian thì ngày Mồng Một và ngày Rằm là ngày lễ của Phật, là ngày linh thiêng nên cần tránh mọi sự “uế tạp”. Nếu cưới vào những ngày này sẽ đem đến những xui xẻo về đường con cái, thậm chí giảm tuổi thọ của Tân Lang - Tân Nương vì đã phạm vào đại kỵ là làm “chuyện ấy” (tân hôn) vào những ngày cần phải giữ gìn sự thanh tịnh cả thể xác lẫn tâm hồn.
Một lý do nữa là theo sự đúc kết kinh nghiệm của cổ nhân thì vào những ngày trăng tròn (ngày Rằm), tâm sinh lý của con người có nhiều ức chế, xáo trộn, dễ dẫn đến những hành vi tiêu cực như trộm cắp, đánh nhau, tự tử… khiến cổ nhân phải than rằng: “Nguyệt viên nhân khuyết” (Trăng tròn người khuyết - khi trăng tròn thì con người rất dễ mất mạng). Vì thế mà tín ngưỡng dân gian đã đưa ra kiêng kỵ việc cưới hỏi vào những ngày này.

Kiêng kỵ với mẹ chồng
Theo nghi lễ cưới hỏi dân gian thì mẹ chồng chỉ được tới nhà cô dâu làm lễ xin dâu. Còn lúc đón dâu, mẹ chồng phải tránh mặt để mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu sau này không bị mâu thuẫn.
Khi đám rước dâu về đến đầu ngõ, mẹ chồng sẽ cầm bình vôi hoặc chùm chìa khóa lánh mặt đi chỗ khác. Dân gian tín rằng, bình vôi hoặc chùm chìa khóa là biểu tượng của tài sản trong nhà nên việc nắm bình vôi hoặc chùm chìa khóa là biểu tượng mẹ chồng tiếp tục nắm giữ tài sản, để tài lộc gia đình được sinh sôi nảy nở. Khi con dâu làm lễ gia tiên nhà chồng xong, hai họ đã yên vị thì mẹ chồng mới xuất hiện để đi chào và cảm ơn hai họ.
Người ta kiêng như thế để tránh mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu sau này bị mâu thuẫn.

Kiêng kỵ với cô dâu
Vào ngày cưới, cô dâu phải ngồi trong phòng kín, tuyệt đối không để họ hàng nhà trai thấy mặt trước khi chú rể vào đón. Khi theo chú rể về nhà chồng, cô dâu cũng tuyệt đối không được quay đầu lại hoặc tỏ ra quyến luyến, khóc lóc với mẹ đẻ. Người ta kiêng như vậy để tránh việc duyên lành bị gãy đổ, cô dâu không chu toàn với chồng, với gia đình nhà chồng.
Trong trường hợp, cô dâu đang mang bầu thì khi về đến nhà chồng phải đi vòng ra cửa sau để vào nhà, nếu nhà chồng không có cửa sau thì cô dâu phải trèo tường hoặc bước qua một chiếc chậu bồ kết nướng với than hồng, để xua đuổi điều xui xẻo, tuyệt đối không được đi vào từ cửa chính vì sẽ làm cho tài lộc nhà chồng bị ảnh hưởng.

Kiêng kỵ với mẹ cô dâu
Trong ngày cưới, người ta kiêng để mẹ cô dâu xuất hiện khi đoàn rước dâu chuẩn bị đưa dâu về nhà chồng vì sợ tình mẫu tử làm quyến luyến cô dâu, nước mắt của cô dâu hay của người mẹ trong ngày cưới cũng đều không tốt cho hạnh phúc đôi lứa nên khi đó, mẹ cô dâu phải lánh mặt.
Cũng có nơi kiêng cả việc bố cô dâu đưa con gái về nhà chồng vì quan niệm, con gái đã gả bán cho nhà chồng thì phúc phận của người con gái phục thuộc vào hồng phúc nhà chồng nên người bố tránh đưa con gái về nhà chồng để giữ cho hạnh phúc con cái không bị vía của gia đình bố mẹ đẻ ảnh hưởng.  

Kiêng kỵ với phòng tân hôn
Phòng tân hôn là phòng ngủ của đôi vợ chồng, là nơi quan trọng để hai vợ chồng bắt đầu một cuộc sống mới, vì vậy tránh trang trí các vật dụng sắc nhọn, các cây có gai dễ tạo ra “âm khí” làm hòa khí vợ chồng bị ảnh hưởng. Tuyệt đối không cho người “vía nặng” như: góa chồng, hôn nhân trục trặc, hiếm muộn con cái, đang có tang hoặc đang mang thai... bước vào phòng tân hôn, để giữ may mắn về tình yêu, về đường con cái cho đôi vợ chồng trẻ.
Giường cưới phải là giường mới, không dùng giường cũ, không cho người khác ngồi trên giường tân hôn để giữ lộc, giữ may mắn cho vợ chồng mới.
Người được chọn trải giường tân hôn phải là người phụ nữ đã có gia đình, con cái đuề huề, có “cả nếp, cả tẻ”, làm ăn phát đạt. Nếu mẹ chồng có đủ những tiêu chuẩn trên thì có thể trải giường cưới.
Trang trí xong giường cưới, người ta sẽ khép cửa phòng lại và không cho bất kỳ ai vào trong đó. Khi đoàn rước dâu về tới nhà, cô dâu chú rể sẽ là người đầu tiên vào phòng tân hôn, sau đó mới đến họ hàng, bè bạn.

Hình thức cưới chạy tang trong dân gian
Vận áo xám là vận rất xấu nên người ta kiêng kỵ rất kỹ trong nhiều việc, nhất là những việc hỷ sự như cưới hỏi, về nhà mới, khai trương cửa hàng... Thời gian cư tang là 3 năm nếu là con cái chịu tang bố mẹ, 1 năm nếu là cháu chịu tang ông bà,... Trong thời gian cư tang, người ta tránh mọi việc hỷ sự, nhất là việc cưới hỏi.
Hình thức cưới chạy tang xuất phát từ tục kiêng kỵ này: Khi nhà có người ốm sắp mất mà hai gia đình đã có cơi trầu dạm ngõ, hoặc đã có sự “qua lại thăm hỏi” thì nhà trai mang lễ vật sang nhà gái xin cưới. Đám cưới được tiến hành nhanh chóng, khách dự là người ruột thịt và bạn bè thật thân thiết của cô dâu chú rể.
Trường hợp ngày cưới đã được ấn định nhưng đột ngột có người nhà mất thì cũng dùng hình thức cưới chạy tang: gia đình không phát tang mà tiến hành gấp lễ xin dâu, rồi cưới nhanh. Cưới xong, mới được phát tang.
*
Như trên chúng tôi đã viết: Kiêng kỵ trong dân gian thì rất nhiều và có những kiêng kỵ chúng tôi thấy thật sự không cần thiết vì không phù hợp với lối sống hiện đại, vì thế, khi soạn bài CƯỚI HỎI VÀ NHỮNG KIÊNG KỴ NÊN BIẾT, chúng tôi chỉ giữ lại những kiêng kỵ mà theo thiển nghĩ của chúng tôi là “hợp lý”, phù hợp với niềm tin “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” của ông cha ta.
Nếu quý bạn đọc chưa “an tâm”, cần cẩn trọng hơn, có thể gõ google để tra tìm thêm những kiêng kỵ mà bài viết của chúng tôi không (chưa) đề cập đến.
 *.
Hà Nội, 27 tháng 08 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.





-----------------------------------
Đang cập nhật

.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét