HỒN MA BÊN BỜ SÔNG DAKBLA
Tôi lên Kontum sau chiến cuộc “mùa hè đỏ lửa” năm 1972, phố xá
vẫn còn dấu vết đổ nát, hoang tàn chưa dọn dẹp, nhà cửa ở khu phố chính, một
vài căn vẫn còn trống hoác, trơ những mảng tường cháy đen còn ám khói. Ngoài
ven thị xã, đây đó trong sân nhà mấy hố bom cày còn đọng nước chưa ai lấp. Dọc
theo đường Nguyễn Huệ đi vòng lên phía Phương Nghĩa mọi người vẫn còn nhắc lại
mấy hôm đầu hồi cư về đây, xác súc vật lẫn xác người vẫn còn nằm rải rác ven
đường bốc lên mùi thúi rửa.
Đang còn phân vân không biết sẽ trú ngụ nơi đâu. Thường thì anh
em mới lên đáo nhận nhiệm sở hay mướn nhà ngoài phố ở chung với nhau cho tiện
việc đi làm hay ra phố chợ, còn những ai độc thân thì được cho biết có một căn
nhà gỗ hai tầng còn bỏ trống được gọi là “biệt điện” vì trước đây là nơi dừng chân nghỉ trưa của vua Bảo Đại khi đi
kinh lý vùng đất nầy, nhưng ít có ai chịu đến đây ở vì vắng vẻ và hơi sợ, nhất
là cư dân xung quanh hay đồn đại với nhau là khu nhà nầy có ma, ngay cả ngôi
biệt thự ngói đỏ khang trang nằm bên kia đường gọi là “công quán” cũng ít có
người chịu đến tạm trú dù chỉ một vài ngày.
Đây là một khu đất rộng, rậm rạp trồng nhiều cây vông (bã đậu)
cao vút giáp giới bờ tường, khu doanh trại của các cố vấn Mỹ, nằm gần sát dốc
cầu Dakbla về phía bên thị xã. Đứng trên thành lan can ngôi nhà biệt điện nầy,
ta có thể nhìn thấy cả một vùng trời nước bát ngát mênh mông bên bờ sông, cảnh
núi đồi xa xa thật hùng vỹ và thơ mộng, tôi rất thích nên xin dọn vào ở ngay.
Có thể mọi người lo sợ về an ninh, nhưng tôi nghĩ nhà nằm sát tường rào khu nhà
cố vấn Mỹ chắc cũng không đến nổi nào, hơn nữa dưới chân cầu Dakbla luôn luôn
có Nghĩa quân thuộc trung đội gác cầu ngày đêm nên có lẽ cũng không sao.
Thật đúng là ngôi nhà hoang từ lâu không có người ở, bếp núc
lạnh tanh, sau nhà có một cái giếng nước lâu ngày không ai “cảo” (vét) nên lá
cây đổ ngập lên đến gần bờ thành. Mọi người đồn rằng bộ đội miền Bắc chết không
kịp kéo đi đã bị quăng xác xuống giếng, nghe cũng hơi ớn, nhưng rồi tôi mướn
người xuống cảo giếng cũng chẳng thấy đâu và nước giếng ở vùng đất Kontum cát
trắng nầy, đặc biệt là ở nơi nào cũng vẫn mát ngọt như nhau, ngay cả giữa lòng
phố thị bên cạnh trường trung học Hoàng Đạo, phía sau dãy phố cổ đường Nguyễn
Huệ có một “Giọt nước” trũng, lộ thiên lâu đời, nước ngọt phún chảy ra quanh
năm và cư dân đông đúc ở xóm bên kia con dốc thường hay ra đây lấy nước về dùng
tự do.
Tôi sắp xếp dần, nhà cũng tươm tất và ấm cúng, trong nhà có bộ
sa lon bằng gỗ thông sơn véc ni bóng láng do Thiếu tá Phan, chỉ huy trưởng
Thiết đoàn 8 gởi tặng cùng với bộ giường ngũ dã chiến bằng sắt và một số vật
dụng cá nhân. Sinh hoạt ổn định, không khí trong lành, có người tới lui, thỉnh
thoảng tôi có rủ một số anh em đến chơi, có khi ngủ lại qua đêm trong căn nhà
tôn rất rộng ở bên hông biệt điện. Thật vui vẻ, có hôm các bạn còn hỏi với
nhau:
- Có ai thấy ma “nữ” nào không?
Thế là cả bọn cười vang và một số bạn có vẻ như muốn dọn về ở
đây, còn tôi suốt ngày làm việc ở dưới quận, trừ những hôm nào trực văn phòng,
chiều tối mới về đến nhà đậu chiếc xe jeep cũ sơn hai màu xanh, trắng trước
hiên nhà hướng ra bờ sông. Trong nhà có bếp điện nhưng chỉ để đun một ít nước
sôi pha trà, cà phê chứ không có nấu nướng, ăn uống trong nhà cho nên sinh hoạt
ngày thường ở đây cũng vẫn vắng vẻ như xưa.
Buổi tối ở Kontum trời rất lạnh, phố xá vắng vẻ chỉ trừ khu mua
bán quanh chợ đường Lê Thánh Tôn là có người đi lại mà đa phần là lính tráng,
hầu hết đều tập trung trong các quán cà phê, ngồi nghe nhạc xập xình ở dãy Hàng
Keo cũng làm thành một khu sinh hoạt sầm uất trong thị xã. Ngay tại các ngã tư
Lê Thánh Tôn đi về hướng đường Nguyễn Huệ từng cụm đèn dầu leo lét, vây quanh
bởi mấy bà ngồi xếp thành dãy, bày bán bắp nấu đựng trong các thúng bằng tre
đan, dở ra còn bốc khói, thơm lừng cả một góc phố.
Tôi thường hay ghé qua các ngã tư nầy, sau buổi cơm chiều để mua
vài trái bắp nấu trước khi lái xe về nhà. Thú vị nhất là những đêm trăng sáng
ngồi trước hiên nhà dưới ánh trăng, gặm bắp nếp Kontum còn nóng hổi rồi tự nghĩ
không có bắp nơi đâu ngon và dẽo bằng. Chỉ đơn giản như vậy thôi mà cảm thấy
gắn bó với xứ lạnh sương mù nầy nhiều hơn. Không những thế, dân tình ở dãy phố
cổ, đầu đường Nguyễn Huệ hết sức quý mến tôi, các gia đình nầy có họ hàng, ở
liền nhau mà ai cũng muốn mời tôi qua nhà chơi trong những tối rảnh rang đến
khuya mới về.
Có những buổi tối trời lạnh sương mù dày đặc, nhất là vào mùa
đông tôi thường hay qua nhà thầy Danh, hiệu trưởng trường Trung học Hoàng Đạo
vui chơi, có khi ăn uống tại nhà thầy cùng với gia đình. Lâu dần, tôi nghe gia
đình kể nhiều câu chuyện đời xưa ... ở Kontum và đến lúc nầy tôi mới để ý đến
cái miễu nhỏ nằm dưới bóng mát cây vông cạnh bờ sông, trước cửa nhà tôi độ
chừng 100 mét.
Kể rằng, khu vực nầy thời Pháp thuộc, các viên chức người Pháp
làm việc ở Kontum cư ngụ ở đường bờ sông, họ có cho xây một trụ xi măng dưới
sông Dakbla, cách bờ không xa, trên trụ là mặt phẳng hình bầu dục đường kính độ
chừng 4 mét giống như một hòn bi giữa dòng sông để mùa hè họ ra bơi lội trên
sông và tắm nắng trên “hòn bi”, đặc biệt nhất là họ tính toán sao cho mặt bằng
của trụ xi măng chỉ la đà cách trên mặt nước chừng nửa mét vào mùa hè để họ có
thể leo lên xuống tắm lội được, còn mùa nước lũ thì hòn bi mất hút dưới lòng
sông.
“Ngã kim nhật tại tọa
chi địa
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi”
(Vương Thục Phủ)
(Chỗ ta đang ngồi ngày nay, người xưa đã từng ngồi)
Đến khi người Mỹ qua, họ xây lại cũng ở chỗ cũ của người Pháp
một cơ ngơi nhà tiền chế theo kiểu Mỹ và biến nơi đây thành một khu vực rất
xinh tươi để ở và làm việc đẹp tuyệt vời, ngoài bậc thềm xuống bờ sông để lội
ra hòn bi, họ còn dành riêng một khoảng sân trống, rộng vừa đủ để đậu một chiếc
trực thăng và người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Kontum bằng trực thăng cũng chính
ở chỗ nầy.
Ban đầu chỉ có những người làm ở sở Mỹ cùng với người Mỹ mới tắm
lội ở nơi nầy, nhưng lâu dần sau đó không còn phân biệt hay dành riêng nữa mà
ai muốn đều có thể bơi ra hòn bi và tắm nắng ở đó. Thường thì năm, ba người tắm
lội chung với nhau, nhiều nhất là trẻ nhỏ 14, 15 tuổi, ít khi bơi lẻ tẻ một
mình vì lời đồn đại là gần hòn bi có “ma da” (thuồng luồng) ẩn náu.
Kể cũng lạ, từ ngày xây hòn bi cho đến nay chưa có một người
ngoại quốc nào chết đuối vì bơi lội quanh hòn bi, ngược lại người địa phương
năm nào cũng có nhiều người chết đuối trên sông gần hòn bi, ba ngày sau thi thể
trôi quấn quanh dưới chân cầu Dakbla hay dạt lên bãi cát phía bên Phương Hòa,
do đó dân chúng trong vùng đã tự đứng ra xây một cái miễu nhỏ thờ vong linh các
người chết trôi sông ở bên nầy bức tường ranh giới giữa khu vực của ngoại kiều
và khu biệt điện, gọi là miễu Hòn Bi.
Sau khi trú ngụ ở nhà biệt điện một thời gian, lúc bấy giờ chính
quyền mới xây thêm một dãy nhà làm Câu lạc bộ (CLB) Dakbla hướng ra phía ngã ba
đường cửa ngõ vào thị xã và cử người đến ở, vừa quản lý CLB vừa trông coi an
ninh, trật tự tại đây. Kể từ lúc đó, sinh hoạt trong khu vực nầy thêm phần sống
động và các đoàn thể, nhất là học sinh thường hay đến đây chơi bóng bàn hoặc
cắm trại ca hát, vui chơi trong khuôn viên chung quanh khu biệt điện. Tôi vui
mừng thầm vì ngày càng cảm thấy yên bình hơn và nổi lo sợ vẫn vơ do mọi người
đồn đại cũng dần biến mất.
Cho đến một buổi tối mùa đông tôi về trễ hơi mệt, chưa kịp thay
quần áo đã vội vàng lên giường ngủ vùi, đang say ngủ bổng nhiên tôi nghe có
tiếng lộp độp trên mái nhà, thường thì trái bã đậu rớt lẻ tẻ trên mái nhà nghe
đã quen, nhưng tối nay hơi lạ, tiếng lộp độp trên mái nhà rơi rất dồn dập nghe
như có người liệng liên tục trên mái không ngừng làm tôi thức giấc không ngủ
lại được rồi từ đó thỉnh thoảng lại nghe có tiếng gõ cửa nhè nhẹ ở phía trước
kèm theo tiếng gió rít như tiếng khúc khích khiến tôi hơi ớn lạnh người, tự
dưng cảm thấy sợ thật. Trước hết tưởng có người đùa giỡn nên tôi lên tiếng hỏi
“ai đó” và xin lỗi khuya rồi nên về nghỉ ngơi ... Nhưng sau đó càng lúc tiếng
gõ cửa càng lớn hơn và tiếng cười khúc khích lại rõ hơn. Thật điếng người.
Nhưng chỉ trong phút chốc, tôi lấy lại bình tĩnh vì nghĩ có thể
có người lạ hoặc kẻ xấu có âm mưu gì đây nên tôi rón rén đến góc phòng phía
trong lấy khẩu súng trường (carbin) bá xếp ra ngồi ở đầu giường ngủ, khoát tấm
chăn mỏng nhìn ra cửa ... mọi sự đều im ắng, không một tiếng gió hay tiếng lá
rơi. Tôi gác súng trên vách đầu giường và quấn mền thật chặt rồi ngủ thiếp đi.
Được một lát thì các tiếng động lại tiếp tục có phần dồn dập hơn, lần nầy tôi
nghe rõ tiếng người nói cười thật sự. Tôi đứng lên và hét to “Ai đó, tôi bắn.”
Tôi giơ súng lên cao hướng ra cửa và siết chặt cò súng ... nhưng
súng không nổ. Hoảng loạn tôi vứt súng chạy vô phòng phía trong chộp lấy túi
xách nhỏ trong có đựng một khẩu súng ngắn khoác lên vai rồi mở cửa sổ buồng tắm
nhảy ra ngoài chạy một mạch không còn biết gì nữa cả, băng qua đường cái men
theo vĩa hè chạy đến nhà anh LT Hổ ở cách đó chừng 5,6 trăm mét gõ cửa xin tá
túc qua đêm, anh còn say ngủ ra mở cửa, tưởng tôi say rượu không muốn về nhà ở
một mình đêm khuya nếu có sự gì xảy ra hơi bất tiện nên anh dọn chỗ cho tôi ngủ
qua đêm. Anh không hỏi han gì và tôi cũng thấm mệt và quá chấn động nên thiếp
đi cho đến sáng.
Hôm sau tôi nhờ anh Hổ báo tin xuống quận rằng tôi bị bệnh nên
xin nghỉ vài ngày. Tôi chưa nói gì với ai về sự việc xảy ra trong đêm qua. Khi
trở về nhà, quan sát chiếc xe jeep vẫn đậu nguyên tại chỗ, không có dấu hiệu gì
thay đổi hay xê dịch, mở cửa vô nhà, đèn vẫn còn để sáng, giường chiếu còn rối
tung và ở giữa phòng cây súng carbin vẫn còn nằm trơ trên sàn nhà. Tay hơi lạnh
tôi đến cầm cây súng lên, lật qua lật lại xem và thoáng hơi sững sờ một chút
khi phát hiện ra là cây súng vẫn còn cài khóa an toàn, thảo nào súng không nổ,
vì trong lúc hoảng loạn tôi chỉ biết siết cò thật chặt mà quên đi thao tác căn
bản là phải mở khóa an toàn trước khi bóp cò.
Đến chiều tối mới là gay go, không biết sự thể ra sao nhưng
trong lòng tôi hơi lo sợ không muốn ngủ ở nhà. Khi ra Kontum tôi sinh hoạt ăn
cơm chung với ba người bạn QGHC là anh Thi và anh Hổ tại nhà anh Hổ vì chỉ có
anh Hổ là có đem vợ con ra Kontum nên mướn nhà ở phố cho tiện sinh hoạt gia
đình.
Trong bữa cơm chiều hôm ấy tôi có kể cho anh Hổ và anh Thi diễn
tiến sự việc đêm qua ở nhà tôi, sau đó tôi chở hai anh đến nhà xem xét sự tình,
anh Hổ là người rất am tường nhiều việc ở nhà quê. Điều đầu tiên là anh đi
quanh nhà quan sát rồi kế đến anh đi ra bờ sông và chú ý đến gần miễu Hòn Bi,
anh nói miễu nhang tàn khói lạnh không ai quan tâm. Tôi nói thỉnh thoảng cũng
có vài người lính Nghĩa quân đi kiểm tra an ninh khu vực có đến dọn dẹp cho
sạch sẽ chứ không có đốt nhang.
Anh Hổ đề nghị giúp tôi liên lạc nhờ thầy ở chùa Bác Ái đến cầu
siêu vong linh tại miễu Hòn Bi. Khi gặp thầy thì được biết trong chùa có Ban
tụng niệm chuyên cầu siêu vong linh ớ các miễu hoang trong thị xã hoặc những
nơi có ghi dấu hay do người dân địa phương kể lại là có nhiều người chết mà
không có thân nhân cải táng.
Sau khi trình bày sự việc vừa mới xảy ra, thầy bảo là chuyện rất
thường ở những vùng có giao tranh, đôi bên chết nhiều, nhất là bộ đội miền Bắc
bỏ xác chôn tập thể tại chỗ. Riêng miễu Hòn Bi mỗi năm ban tụng niệm ở chùa đều
có đem nhang đèn đến cúng vái trong tháng 7 âm lịch. Sau đó, thầy xem ngày và
đến miễu Hòn Bi tụng niệm cùng với hoa quả, nhang đèn rất tươm tất. Xong xuôi
thầy nói với tôi là đã yên ổn, sinh hoạt bình thường không có gì phải lo lắng.
Thầy còn giải thích thêm nhiều điều khác nữa mà tôi còn nhớ đôi chút.
Rằng trong cõi u minh còn có nhiếu đời sống khác mà mình thường
không thấy bằng mắt trần, họa hoằn lắm có đôi khi mình mới nghe được thoang
thoáng như mơ mà thôi, còn trong cõi nhân gian ngoài tiếng người, tiếng thú
vật, còn có hằng hà sa số các âm thanh khác mà tai mình không nghe thấu mà có
nghe được cũng không hiểu. Tùy cơ duyên mỗi người mà lãnh hội, ví như có người
đọc, nghe kinh kệ lâu ngày, thẩm thấu có thể nghe biết được nhiều điều về kiếp
người, có thể gọi là giác ngộ, có người không. Giác linh là phần sâu thẳm nhất
của con người, nó dẫn dắt chúng ta đi trên con đường đời, may hay rủi đều do âm
đức mà ta đã tạo dựng nên.
Nếu đã biết, sống không được công bằng thì khi chết dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào chúng ta cũng nên đối xử cho công bằng, ít nhất là về phần
hương khói và cầu siêu. Thử nghĩ những người sống không toại nguyện, chết vất
vưởng không nơi thờ tự, nhang tàn khói lạnh thì thảm thương biết dường nào. Hơn
nữa, có khi “xác khôn, hồn dại”, phần hồn không được siêu thoát cứ quanh quẫn chốn dương gian
gây nhiều phiền nhiễu cho người còn tại thế, “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” là vậy.
Kể từ sau đó thật sự mọi việc đều yên ổn, tốt đẹp, tôi có nhờ
trung đội Nghĩa quân gác cầu đốt nhang đèn mỗi tối ở miễu Hòn Bi cho thêm phần
linh thiêng và ấm cúng. Lòng thành động đến “Thiên địa quỷ thần” và mùi trầm hương hòa
quyện với gió bờ sông cũng làm thành những buổi chiều thật êm ả, ngay cả khi
tôi không còn ở nhà biệt điện nữa mà chuyển sang ở trong công quán, bên kia
đường, bấy giờ đã trở thành tư thất của ông Phó.
Cũng nhờ mối duyên lành với khu biệt điện nầy mà trong những
ngày đầu Tháng Ba 1975, có người thuộc lực lượng Thám sát tỉnh có cho tôi biết
là trực thăng đã đáp khẩn cấp xuống nhà cố vấn Mỹ khiến tôi linh tính được việc
gì sắp xảy ra ở địa phương và rồi một may mắn nữa lại đến, có một phái đoàn hổn
hợp Việt-Mỹ ghé qua Kontum chỉ gợi ý là tỉnh nên cử một phái đoàn, sớm về Phủ
Phó Thủ tướng đặc trách Khẩn Hoang Lập Ấp để trình duyệt xét chương trình của
tỉnh.
Chiều ngày 8 Tháng Ba 1975 tôi đáp chuyến bay cuối cùng của hãng
hàng không dân dụng (Air Vietnam) rời Kontum về Sài Gòn. Qua khung kính cửa sổ
máy bay, tôi nhìn xuống dòng sông Dakbla mờ nhạt và dưới vòm cây xanh rì nằm
bên đầu cầu sắt là nơi tôi từng trải qua những tháng ngày tươi đẹp nhất ..., và
chợt nhớ tới lời truyền khẩu của người dân Kontum thường hay nhắc nhở nhau về
một lời nguyền của thần linh để sống sao cho tử tế và lương thiện “Cái gì của rừng núi sẽ trả về cho rừng núi ...”.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Kỷ niệm khó quên
thời là lính văn nghệl
- Tản mạn chuyện
giới tính của “sao”l
- Tản mạn chuyện
nghệ danh của các “sao” Việtl
- Hôn quân Lưu Tử
Nghiệp và vai diễn của Trương Dật Kiệtl
- Vài cảm nhận khi
xem phim BỐ GIÀ (web drama) của Trấn Thànhl
- Các bài viết về
Chuyện làng văn0
Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc
truyện ngắn PHÙ DU của Đặng Xuân Xuyến:
Trần Văn Tình giới thiệu
Tác giả: Trần Bạch Thu - Nguồn: bienxua
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét