ĐỐI THOẠI CÙNG KÝ TỰ
Tác giả Đặng Xuân Xuyến -
Cập nhật 09/04/2026
Giữ bản
quyền: Đặng Tuấn Hưng
Địa chỉ: nhà số 7 ngõ 61 Nguyễn
Văn Trỗi,
Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội
Phần 1: ĐỐI THOẠI
1. Vài
chuyện về comment trên facebook
2.
Chuyện vụn ngày đầu năm 2024
3. Chữ
tôi, chữ ta và cái tâm lành
4. Đọc
Đỗ Hoàng “cảm” Nguyễn Bình Phương
5.
Nguyễn Hoàng Đức qua mấy bài tôi đã đọc
6. Hồn
nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức
7. Paul
Nguyễn Hoàng Đức, gã hề mộng du trong vũng bùn hoang tưởng
8. Lại
chuyện về “Thói đời”
9. Đọc
“Đôi bờ sông Bến Hải”, vài lời với nhà thơ Nguyễn Hưng Hải
10. Chút
tản mạn ngày cuối tuần
11. Chút
tản mạn về nhà thơ Nguyễn Hưng Hải
12. Sự
“thật thà” của nhà văn Đông La
13.
Đông La: kẻ lưu manh tự luyến
14. Vài
lời về mấy bài viết gần đây của ông Nguyên Lạc
15. Nguyên
Lạc, kẻ trộm cắp trơ trẽn, bỉ ổi
16. Thơ
Trần Đức Tín, vài trao đổi với Vũ Thị Hương Mai
VÀI CHUYỆN VỀ COMMENT
TRÊN FACEBOOK
Mấy hôm
trước, đọc comment của nhà thơ Đồng Thị Chúc: "Có nhiều nhà thơ muốn cách tân thơ, muốn "cải tiến" thơ, có
người muốn cải tiến về nội dung, có người muốn cải tiến về sử dụng từ ngữ...
Điều tiếc là người đọc chưa thích ứng được với sự "cải tiến" đó nên
dần xa lánh thơ, họ không hào hứng khi nhìn những trang thơ trên báo hay sách
thơ trên quầy.", tôi chợt nhớ có lần cháu tôi, Đặng Quang Hiệp, viết
trên facebook thế này:
"Xác chữ rơi
Con mèo lười
Nhìn chuột ve vẩy đuôi bới chữ"
Lần
đấy, định comment trêu Đặng Quang Hiệp: - "Cháu bị như thế này lâu chưa? Bác sĩ kê đơn thuốc thế nào?" vì
biết vốn chữ nghĩa của cháu cũng chỉ đủ để dùng trong giao tiếp mưu sinh nhưng
đọc những bình luận của mấy nhà thơ có nhiều thơ đăng báo Trung ương, báo Văn
Nghệ của Hội Nhà văn (có nhà thơ tên Nguyễn L. ở xứ Huế, còn tranh thủ vồn vã
khoe: “Với 7 tập thơ của tôi đã in có 9 giải thưởng trong nước, 30 bài thơ được
các nhạc sỹ nổi tiếng phổ nhạc như cố nhạc sỹ bộ trưởng Văn hóa Thông tin Trần
Hoàn... và các nghệ sỹ nổi danh qua nhiều thế hệ từ năm 1979 đến nay hát như
Thu Hiền, Kiều Hưng, Trung Đức, Trọng Tấn... và có 7 bài báo đã viết về các tập
thơ của tôi - cũng đủ chứng minh thơ tôi thế nào rồi - chỉ vậy không cần ai
phải khen thêm nữa.”) ... hết lời khen ngợi: "Hay quá Đặng Quang Hiệp ơi!" "Đặng Quang Hiệp đúng là phù thủy của con chữ!". "Đặng Quang Hiệp độc nha! Tuyệt đỉnh tài sử
dụng câu chữ!" "Tứ mới, lạ
và độc lắm thi sĩ ạ!"... khiến tôi bối rối... rồi rụt rè e ngại nhắn
tin hỏi Hiệp: - "Cháu viết:
"Xác chữ rơi / Con mèo lười / Nhìn chuột ve vẩy đuôi bới chữ" có
nghĩa gì thế?".
Hiệp
điện thoại cho tôi, hô hố cười: - "Chú
lại trêu cháu. Chú thừa biết cháu viết linh tinh chứ có biết gì thơ văn đâu mà
ý với chả nghĩa... ".
Nghe
Hiệp nói vậy tôi thở phào vì may quá tôi chưa comment khen hay chê mấy câu “thơ” được phong là "Tuyệt đỉnh tài sử dụng câu chữ!"
của cháu. Bất giác tôi nhớ một “trạng thái”
khác cũng khá “đặc biệt” của Đặng Quang Hiệp: "Người đọc không hiểu tác giả viết gì. Tác giả cũng không biết mình viết
gì. Nhưng mọi người cứ khen nhau ngậu xị.". Ở statuts này, Đặng Quang
Hiệp cũng nhận được vô số lời ngợi khen của mấy nhà thơ nhà văn có tên trong
hội nhà văn Việt Nam là: "thấm lắm",
"Đặng Quang Hiệp thâm thúy kinh
khủng", "Nhà thơ sống ở thủ
đô có khác, câu chữ sang trọng và bao hàm những triết lý sống cao siêu"...
Có lẽ văn sĩ Thái Quốc Mưu đã đúng khi ông viết: “Hiện nay có nhiều người làm thơ cố tạo ra một vẻ mới lạ để gây sự chú ý
của người khác và họ gọi đó là thơ cách tân, thơ hậu hiện đại. Còn người khen
thơ, họ khen cũng để cho người khác nghĩ họ là kẻ biết thưởng thức thơ. Thực tế
họ chẳng biết gì cả.”.
Tôi rất
ít comment dưới status của bạn facebook vì ngại lỡ hiểu sai rồi comment sai
hoặc “bộc bạch” thẳng quá sẽ mất lòng bạn facebook. Đã mất khá nhiều bạn (cả
trên facebook và ngoài đời) vì tính thẳng ruột ngựa của mình nên tôi ý thức hạn
chế comment dưới status của bạn facebook nhưng không hiểu sao nhiều lúc cứ
comment thẳng tuột những suy nghĩ trong đầu. Ví dụ như khi đọc bài thơ "Bà
Van Ga" của nhà thơ, nhà báo Phạm Đức Mạnh, thấy mọi người khen
bài thơ những lời chất ngất: “Bài thơ
viết về nhà tiên tri Vanga thật tuyệt với ngôn ngữ thơ xuất thần”, “Nhà thơ Phạm Đức Mạnh hội đủ Tâm -
Đức - Tầm”, “Đọc bài thơ thăng
hoa tri thức!”,... Tôi ngạc nhiên: Sao người ta comment dễ dãi thế? Khen
như vậy khác gì là dối mình, dối bạn? Có khen xã giao, khen lấy lòng bạn
facebook thì cũng nên nghĩ tới phản ứng khi đọc của người khác chứ? Định lướt
sang bài khác thì đập vào mắt tôi dòng bình luận của nhà thơ Nguyễn Vũ S.: - “Thơ hay, đầy ẩn dụ về "những cái chết
đã được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu
Long...” thế là tôi comment phản hồi rất thật: - “Thôi thì thơ hay hay không không bàn vì còn phụ thuộc vào “cảm nhận”
của mỗi người hoặc khen hay vì xã giao, vì “áo thụng vái nhau” nhưng chỉ vì bài
thơ có 2 chữ “thiên tai” mà còm lấy được là “đầy ẩn dụ về "những cái chết
đã được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu
Long...” thì thật không nên chút nào.”. Sau bình luận đó, trên trang blog
cá nhân của tôi (Trang Đặng Xuân Xuyến) “được đón nhận” lời “góp ý” rất “đã
tai” của “bạn đọc” ẩn danh (đừng thích thể hiện): “Kinh nhỉ. Thích thể hiện thế nhỉ. Nhận xét cứ như đúng rồi ý:
"Thôi thì thơ hay hay không không bàn vì còn phụ thuộc vào “cảm nhận” của
mỗi người hoặc khen hay vì xã giao, vì “áo thụng vái nhau” nhưng chỉ vì bài thơ
có 2 chữ “thiên tai” mà còm lấy được là “đầy ẩn dụ về "những cái chết đã
được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu
Long...” thì thật không nên chút nào." Biết thì hãy nói còn không biết thì
dựa cột mà nghe đừng đã ngu còn cố tỏ ra nguy hiểm.”. Cũng sau bình luận
đó, danh sách bạn facebook của tôi hao hụt thêm mấy "bạn" tưởng như
đã là chí cốt.
Lại như
lần tình cờ đọc một status của nhà văn nọ từng làm Giám đốc một Nhà xuất bản,
thông báo một truyện ngắn của ông lọt vào danh sách 10 truyện ngắn được bạn đọc
yêu thích nhất năm.... trên trang web văn nghệ X, tôi đã vô tư comment: -“Chúc mừng anh! Nhờ statuts của anh, hôm nay
em mới biết tới trang web này.”. Thế là nhà văn nọ hủy kết bạn rồi “chặn”
nick facebook của tôi dù trước đó anh nhiều lần vồn vã trao đổi messenger với
tôi "những lời gan ruột" về
chuyện văn, chuyện đời.
Hay khi
đọc bài "Trải qua một cuộc bể dâu... Đọc Huyết Ngọc, tiểu thuyết của Tống Ngọc
Hân, Nhà xuất bản Phụ Nữ 2015" trên facebook Tống Ngọc Hân của tác
giả Bùi Việt Thắng (Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Hội Nhà văn Việt
Nam) có những câu viết rất vội, kiểu: "Nhân
vật là cốt lõi của tiểu thuyết, thiếu nó tác phẩm sẽ trở nên chống chếnh thậm
chí hụt hơi.". Tôi đã thẳng ruột ngựa comment: Trời! Không có nhân vật
thì sao gọi là tiểu thuyết, là tác phẩm văn học mà nhận định "thiếu nó tác phẩm sẽ trở nên chống chếnh
thậm chí hụt hơi"?! mà quên nghĩ tới phản ứng của nhà văn Tống Ngọc
Hân vì tác giả Bùi Việt Thắng là nhà phê bình văn học tên tuổi, đã "ưu
ái" viết giới thiệu tác phẩm của chị với bạn đọc. Có lẽ Tống Ngọc Hân đã
gỡ bỏ status đó hoặc xóa bình luận của tôi để tránh sự khó xử của chị với bạn
đọc, nhất là với tác giả Bùi Việt Thắng.
Thật
hiếm người như văn sĩ Trần Thị Hồng Châu lại tiếp nhận vui vẻ comment thẳng đến
khó nghe của tôi dưới status chị cảm nhận bài thơ “Gởi buồn cuối năm” của
nhà thơ Kha Tiệm Ly: “Tôi mới có duyên
đọc thơ của Kha Tiệm Ly được mấy bài và mấy bài đó tôi đều thích chất ngông mà
không nghênh, bi mà hùng tráng, đau mà hào sảng trong thơ của ông. Bài thơ này
cũng vậy, cũng những nét rất riêng của thơ Kha Tiệm Ly. Đọc bài viết của văn sĩ
Hong Tran, tôi thích cách cảm thơ văn mới lạ của chị nhưng có lẽ vì chị quá yêu
mến tài thơ của nhà thơ Kha Tiệm Ly nên chị múa bút đẹp quá. Bài thơ là tâm
trạng nhức nhối, đau đớn và tuyệt vọng của một đấng nam nhi trước hiện trạng
đau thương của đất nước. Chỉ vậy thôi, không là những dự cảm, tiên tri như văn
sĩ Hong Tran đã phóng bút. Vì yêu những trang viết của chị nên chia sẻ đôi dòng
trái ý, mong chị đừng giận.”. Sau bình luận đó, hình như mến tính thẳng
ruột ngựa của tôi nên chị năng ghé thăm trang facebook của tôi hơn và thường để
lại những comment cũng rất thẳng.
*.
Hà Nội,
01 tháng 11-2021
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
CHUYỆN VỤN NGÀY ĐẦU NĂM
2024
Sáng nay, nghe một bạn
thơ "tâm sự mấy lời gan ruột" về nhà thơ Lại Duy Bến tôi vào
facebook tìm nick Lại Duy Bến nhưng gõ mãi cũng không tìm được, mới vỡ lẽ thì
ra tôi đã "được" nhà thơ Lại Duy Bến ưu ái chặn nick, chắc lại vì mắc
tội "đã dốt nát còn thích bày đặt góp ý thơ văn với người khác".
Chuyện là thế này:
Một lần dạo facebook, gặp
bài thơ "Có bao điều chẳng để ý đúng sai" của nhà thơ
Lại Duy Bến sáng tác ngày 29 tháng 5 năm 2023:
"Nhớ
về nhau vết sâu
lúc
trời mưa nghịch nắng
.
Những
tung hô mờ nhòe
vết
chân chim cay đắng...
.
Tiến
hay lùi
khi dân
tộc háo danh?
.
Thế hệ
chúng tôi đi qua chiến tranh
từng
sợi tóc cũng trở mình thao thức
.
Máu
xương
lát
những con đường
đi và
đến những đâu..."
Đọc 2 câu thơ: "Tiến
hay lùi / khi dân tộc háo danh?", tôi lưỡng lự khá lâu mới comment: -
"Thật tiếc 2 câu: "Tiến hay lùi / khi dân tộc háo danh?"đã
phá hỏng bài thơ hay!".
Vì chỉ là "bạn"
mới quen trên facebook, tuổi tác ở 2 thế hệ, mà tôi lại nghe nhiều người nói
"cái tôi" của các nhà thơ nhà văn lớn lắm nên cứ đắn đo nhưng rồi vì
quý trọng tuổi tác của nhà thơ Lại Duy Bến tôi mới tặc lưỡi comment để ông cân
nhắc, tránh gặp phải phiền phức khi bạn đọc nào đó nhắm vào 2 câu "Tiến
hay lùi / khi dân tộc háo danh?" mà hạ bút luận bàn.
Thực ra bài thơ "Có
bao điều chẳng để ý đúng sai" chỉ ở mức bình thường, câu chữ chỉ
cố gò tạo dáng, ý tứ cũng không có gì đặc biệt nhưng trước những comment phóng
bút của nhà thơ Giang Đăng: -"Có những điều chưa biết đúng hay sai /
Nhưng hãy tin máu xương mình đã đổ / Dẫu câu thơ có buồn đau khốn khổ / Thì bút
thần cũng ngoáy tận trời xanh / Chúc mừng những câu thơ tuyệt hay và những bức
thư pháp tuyệt đỉnh của bạn." và nhà thơ, nhà điêu khắc Phạm Xuân
Trường: -"Câu nào cũng khiếp sợ / Lay động cả quỷ thần" nên
tôi thêm chữ "hay" vào cuối câu comment để tránh "lạc
lõng" giữa những lời khen chất ngất rồi lại bị la ó thế này thế nọ.
Có lẽ nhà thơ Lại Duy Bến
không hài lòng với comment của tôi nên ông phản hồi tức thì: - "Cũng là
một ý, nhưng mình lại không bỏ ý này. Cám ơn Đặng Xuân Xuyến.". Tôi thật
lòng trả lời: -"Vâng, thưa Chú! Không có Dân tộc nào háo danh trong
cuộc chiến này cả mà chỉ có "những kẻ" háo danh thôi ạ! Cháu nghĩ một
câu thơ xúc phạm cả Dân tộc không nên chút nào!". Một lúc sau nhà thơ
Lại Duy Bến thủng thẳng: -"Cám ơn nhé, đã sửa.". Tôi comment
trả lời: -"Vâng, thưa Chú!". Rồi đọc lại bài thơ "Có
bao điều chẳng để ý đúng sai", thấy nhà thơ Lại Duy Bến đã sửa 2
câu: "Tiến hay lùi / khi dân tộc háo danh?" thành: "Dân
tộc thịnh hay suy / khi những kẻ cầm quyền háo danh?", tôi định comment
nên bỏ 2 câu đó thì bài thơ sẽ gọn và hay hơn nhưng chợt nhớ tới chuyện có lần
nghe một nhà thơ tâm sự anh “phải ra thật nhiều tập thơ, phải tạo được “hiệu
ứng” thì mới được xét kết nạp vào Hội Nhà Văn. Có người phải mất hàng trăm
triệu mới được xét kết nạp vào Hội” nên anh phải thật cố gắng. Nghĩ tới
tuổi tác của anh, hoàn cảnh của anh (vợ ốm yếu, con nhỏ dại) mà nguồn thu nhập
chính của anh lại bấp bênh, nhiều yếu tố phụ thuộc vào sự may rủi, tôi không
ghìm được chua xót mà thật lòng: - “Sao phải khổ thế anh? Người ta cố chen
vào Hội để hưởng quyền lợi, bổng lộc của chế độ chứ anh vào chỉ để giải quyết
chuyện “con gà”, chuyện “một miếng giữa đàng” thì vào làm gì.”. Thế
là anh ấy giận tôi từ đó đến giờ, thậm chí còn hủy kết bạn facebook, chặn cả
nick facebook của tôi nên tôi thôi không comment thêm dưới bài thơ "Có
bao điều chẳng để ý đúng sai".
Tôi cũng lưỡng lự định
xóa mấy comment đã viết vì nhớ lần đọc comment của nhà văn Bùi Công Thuấn trên
trang facebook nhà thơ Phùng Hiệu: “Cần xác định thơ ca nào? Thơ phong trào
hay thơ chuyên nghiệp? Hiện nay thơ quần chúng tràn ngập mọi nẻo đường, liệu có
ích gì không hay chỉ làm cho đường đi của dân tộc ngập ngụa rác?” và
comment của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam: “thơ
quần chúng làm ra một đời sống tinh thần, còn các nhà thơ chuyên nghiệp thì
sáng tạo ra nghệ thuật thi ca và tư tưởng.“. Tôi đã phản hồi comment của 2
ông Bùi Công Thuấn và Nguyễn Quang Thiều là “hồ đồ và hợm hĩnh” thì ít
phút sau nhà thơ Phùng Hiệu xóa hết những comment đó rồi chặn nick Đặng Xuân
Xuyến. Và lần đọc statuts của nhà văn Y Ban, Phó Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội: "Trai
khôn dạy vợ / Gái ngoan dạy chồng. / Tao sẽ bầy cho các gái ngoan
cách dạy chồng như sau. / Chồng nốc rượu khố đái ra cò thì ta cũng nốc
rượu..khố đái ra bím. / Chồng đi chơi, ta cũng đi chơi. / Chồng
cờ bạc, ta cũng cờ bạc. / Chồng gái gú, ta cũng trai gái. / Nói
túm lại là ăn miếng trả miếng. / Nên nhớ miếng đáp lại kia phải hoành
hơn miếng của chồng. / Cho đến khi nào đéo còn giề phải giữ nữa thế là
xong. / Bởi sống ở đời này làm đéo gì có đứa nào dạy được đứa
nào.", tôi đã comment: -"Trời! Sao chị cợt nhả dễ dãi thế
này?!". Thế là nhà văn Y Ban liền xóa comment đó rồi chặn nick
facebook của tôi nên tôi đắn đo định xóa mấy comment dưới bài thơ "Có
bao điều chẳng để ý đúng sai" nhưng rồi nghĩ bình luận của tôi
chân tình và thiện chí, chắc nhà thơ Lại Duy Bến không hành xử giống mấy nhà
thơ nhà văn nọ nên tôi thôi không xóa.
Sáng nay, nghe những lời
tâm sự “cũng rất gan ruột" của bạn thơ mới thấy sự chân thành, tính
thẳng thắn lại không được chào đón trong nhiều trường hợp!
*.
Hà Nội,
sáng 02 tháng 01-2024
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
CHỮ TÔI, CHỮ TA
VÀ CÁI TÂM LÀNH
Chiều
qua, 12/09/2017, tôi nhận được thư (email) của nhà thơ Nguyễn Khôi gửi, cùng
tới 27 email khác, với những bức xúc:
“S.O.S. Tố cáo v.v. Xuyên tạc "Chân dung
Nhà văn...":
---------
Kính gửi: - Nhà thơ Phạm Đức Nhì (Hoa Kỳ)
-
Các Bạn thơ...
Sáng nay 12/09/2017. Nguyễn Khôi tôi nhận được
thư của anh Lê Vy (1938, bạn Sơn La cũ/ đồng hương "bà xã Nguyễn
Khôi" /Hải Phòng) từ thành phố Hồ Chí Minh, toàn văn Tiểu luận "Thơ
sẽ đi về đâu?" của Nhà thơ Phạm Đức Nhì... Phần cuối bài có:
"CHÚ THÍCH:
1. Mới đây nhà thơ Nguyễn Khôi đã khắc họa
“Chân Dung Nhà Thơ Việt Đương Đại” trong đó ông viết về nhà thơ Đinh Thị Thu
Vân - được đánh số thứ tự 71 - như sau:
Đinh Thu Vân tự bị lừa
Thơ gom đem dán chẳng vừa con tem.
Ông đã ngạo mạn và nhẫn tâm đạp cả một đời thơ
của Đinh Thị Thu Vân xuống tận bùn đen. Không biết ông dựa vào đâu để đưa ra
nhận định ấy. Nhưng dù dựa vào đâu chăng nữa nhận định như thế cũng hơi quá …
tự tin.”
Nguyễn Khôi tôi rất bất ngờ là "Chân dung
99 Nhà văn Việt Nam đương đại" mà Nguyễn Khôi đã công bố trên gần 30 trang
Web trong và ngoài nước, đã in/ tự xuất bản và gửi tặng trên 300 người
trong và ngoài nước... không hề có chân dung Đinh Thị Thu Vân, mà chỉ có:
*71 - BẢO SINH
Công tử không "bát phố"
Về nuôi chó...lừng tên
Hỗn danh “thơ Sinh chó"
Lên nóc tủ ngồi Thiền.
Thú thực là với Nguyễn Khôi tôi xưa nay chưa
hề biết Đinh Thị Thu Vân là ai và cũng chưa từng đọc thơ của chị này (vì
ở Việt Nam có hàng vạn Nhà thơ...)
Không hiểu vì động cơ gì mà Nhà Thơ Phạm
Đức Nhì đã "bịa" ra 2 câu thơ trên về Đinh Thị Thu Vân rồi gán cho
Nguyễn Khôi, rồi căn cứ vào đó mà phê phán hạ nhục, vu cáo / đặt điều về Nguyễn
Khôi một cách độc ác?”
Tìm
hiểu, thì ra nhà thơ Phạm Đức Nhì đã “gắp” 2 câu thơ của nhà thơ Đỗ Hoàng “nhét
vào tay” nhà thơ Nguyễn Khôi rồi thản nhiên: “Mới đây nhà thơ Nguyễn Khôi đã khắc họa “Chân Dung Nhà Thơ Việt Đương
Đại” trong đó ông viết về nhà thơ Đinh Thị Thu Vân - được đánh số thứ tự 71 -
như sau:
Đinh Thu Vân tự bị lừa
Thơ gom đem dán chẳng vừa con tem.
Ông đã ngạo mạn và nhẫn tâm đạp cả một đời thơ
của Đinh Thị Thu Vân xuống tận bùn đen. Không biết ông dựa vào đâu để đưa ra
nhận định ấy. Nhưng dù dựa vào đâu chăng nữa nhận định như thế cũng hơi quá …
tự tin.”
(THƠ SẼ
ĐI VỀ ĐÂU - Phạm Đức Nhì)
Và tôi
chợt nhớ tới những “va chạm” từ nhà thơ Phạm Đức Nhì với 2 tác gia được bạn đọc
trân quý: Nguyễn Bàng - Châu Thạch, mà thấy se lòng về cái tâm, cái tình của
người cầm bút.
Chuyện
chả có gì, cũng bình thường thôi khi theo tác gia Nguyễn Bàng thì “cách ứng xử”
của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Kiên với nhà thơ lão niên Nguyễn Khôi chưa “được đúng”
nên đã góp ý thẳng và rất thật. Người “trong cuộc” là ông Nguyễn Ngọc Kiên chưa
lên tiếng thì nhà thơ Phạm Đức Nhì (07/02/2017) đã “xông vào” chỉ trích,
“răn dạy” ông Nguyễn Bàng “đừng mang tuổi
già ra hù dọa lớp trẻ”. Trước đó, đầu năm 2016, ông Phạm Đức Nhì cũng “nhảy vào” “bình nhăng tán cuội” - (chữ dùng của nhà thơ Phạm Đức Nhì) bài
“Lan
man lần cuối về bình luận thơ văn” (Nguyễn Bàng) để “đả kích” cách cảm
thơ của tác giả Nguyễn Bàng. Tưởng 2 ông sẽ “cạch mặt nhau” nhưng thật mừng là
sau vụ đó, tình bạn thơ văn của 2 ông được bồi đắp. Cuối năm 2016, về thăm lại
Việt Nam, ông Phạm Đức Nhì và ông Nguyễn Bàng đã dùng cơm thân mặt cùng
thân hữu của ông Nguyễn Bàng tại Sài Gòn, vậy mà đầu năm 2017, “mượn” chuyện “Đầu
Xuân thì thầm với nhà thơ Nguyễn Khôi” (Nguyễn Ngọc Kiên), nhà thơ Phạm
Đức Nhì (sinh năm 1952) liên tiếp “tung chưởng” để “răn dạy” tác gia Nguyễn
Bàng (sinh năm 1938) bằng thái độ và lời văn khiến không ít bạn đọc phải lè
lưỡi, lắc đầu. Người Việt Nam ta, xưa nay đều trọng cái tình, cái nghĩa. Không
ruột già máu mủ, không hàng xóm láng giềng, chỉ quen biết nhau qua internet
nhưng đã ngồi cùng nhau nâng ly chúc cho tình bằng hữu thì cái tình ấy thật
trân quý. Vậy mà, cái tình ấy lại vô cớ bị rẻ rúng bởi chính người lẽ ra phải
nâng niu, gìn giữ.
Rồi đến
chuyện tác gia Châu Thạch. Cũng chỉ từ lời nhận xét của ông trên facebook về
bài viết “Show, Not Tell Trong Thơ” của ông Phạm Đức Nhì, mà theo lời ông
Phạm Đức Nhì thì lời nhận xét đó, đại ý: “Thơ
Việt Nam là thơ Khăn Đóng Áo Dài mà cứ lấy áo Vest trùm lên thì kỳ quá. Lại còn
đụng đến cả cụ Nguyễn Du nữa!” đã được chính ông Châu Thạch xóa đi sau
đó. Vậy mà ông Phạm Đức Nhì cho nằm lòng lời nhận xét không vừa ý để vài ngày
sau (10/08/2017), ông đăng đàn diễn thuyết bằng bài viết cả ngàn chữ để “giáo
huấn” cách cảm thụ văn thơ “có vấn đề”
của nhà phê bình văn học Châu Thạch. Đáp lại, ông Châu Thạch chỉ nhẹ nhàng như
bản tính vốn ôn hòa, điềm đạm xưa nay của ông: - “Tôi chỉ viết cảm nghĩ về những bài thơ mà mình yêu thích. Thấy đâu viết
đó cho vui đời mà thôi rồi gởi đến Ban Biên Tập các trang web giao cho họ định
đoạt bài mình. Thế thôi. Vậy cho nên đừng gọi tôi là nhà mà gọi tôi là
"lão già" thì tuyệt cú mèo.”. Vâng! Trước đấy, khoảng cuối
năm 2015 (tháng 10), ông Phạm Đức Nhì cũng “khúc mắc” với ông Châu Thạch về
chuyện bình thơ và cũng qua vụ việc đó tình bạn thơ văn của 2 nhà phê bình văn
học được vun đắp, mà như ở đâu đó ông Phạm Đức Nhì đã từng vài lần cất tiếng
ngợi ca đó là một tình bạn văn chương đẹp. Vâng! Lại “vậy mà”, cái “tình bạn văn chương đẹp của 2 nhà phê bình
văn học” đã bị chính người trong cuộc hất toẹt chỉ vì một lời nhận xét (sau
đó đã được xóa đi) trên facebook của “người bạn kia” không vừa ý “người bạn
này”. Ôi! “Tình bạn văn chương đẹp”
giá chỉ bèo vậy thôi sao?!
Tôi đắn
đo khi ngồi gõ bài này vì nhớ lời nhắc nhở của một người thầy chân kính, ông là
giảng viên ngữ văn ở một trường Đại học phía Nam: - “Xuyến à, mình có đọc những bài bình thơ của ông Nhì, ông này giỏi cảm
nhận và nắm vững một số lý thuyết, tuy nhiên không phải cái gì ông ấy cũng
biết. Chẳng hạn chê câu kết bài thơ Ngọn cỏ của Hoàng Bắc chứng tỏ
ông ấy chả hiểu gì về “hậu hiện đại” cả. Bài thơ đó phải Inra Sara bình mới hết
ý. Vậy chả nên tranh luận với ông ấy làm gì cho mất thì giờ, để chơi sướng hơn.”.
Và lời nhận xét hết sức dí dỏm của bạn Nguyễn Hùng Dũng: - “Tôi cũng đọc nhiều bài phê bình của bác Phạm
Đức Nhì, thú thiệt tôi không thích lối phê bình theo kiểu công thức gia chánh,
bao nhiêu muối, đường, tiêu, bột ngọt... Lại nữa, bài phê nào lời chê cũng đều
vượt quá lời khen, có bài bác ấy chê những 30 dòng, mà chỉ khen có 3,4 dòng.
Nhưng nếu xét trên một bình diện nào đó, thì bác ấy cũng từ tấm lòng thẳng
thắn, thành tâm của mình mà thôi. Và chắc chắn những bài thơ mà bác ấy chê
nhiều, đều là những bài thơ hay... Thì tại sao chúng ta không thấy cái
dụng ý của bác ấy là muốn giúp người làm thơ và cả người thưởng thức thơ thấy
được sự vi diệu tinh tế trong thi ca...”, trong cuộc tranh luận đầu
năm 2017 xoay quanh “Đầu Xuân thì thầm với nhà thơ Nguyễn Khôi”
của tác giả Nguyễn Ngọc Kiên nên tôi lần lữa, lần lữa. Nhưng rồi tôi lại nhớ,
hình như tôi cũng đã đọc được những lời ca ngợi nhà thơ Nguyễn Khôi của nhà thơ
Phạm Đức Nhì, ngỡ nhà thơ lão niên đã như bức tượng đài bất khả xâm phạm trong
sự tôn kính của nhà thơ Phạm Đức Nhì, vậy mà đùng cái, nhà thơ lão niên bị nhà
thơ Phạm Đức Nhì “nhét vào tay” 2 câu thơ của Đỗ Hoàng, khiến ông phải kêu cứu
tới bạn bè: - “Không hiểu vì động cơ gì
mà Nhà Thơ Phạm Đức Nhì đã "bịa" ra 2 câu thơ trên về Đinh Thị Thu
Vân rồi gán cho Nguyễn Khôi, rồi căn cứ vào đó mà phê phán hạ nhục, vu cáo /
đặt điều về Nguyễn Khôi một cách độc ác?” nên tôi chịu khó ngồi gõ lại
vài chuyện xoay quanh “tình bạn văn chương của nhà thơ Phạm Đức Nhì”, lấy đó
làm bài học để nhắc nhở bản thân: Cuộc đời chỉ tốt đẹp và có ý nghĩa hơn khi ta
sống bằng cái tâm lành.
Vâng!
Chữ TÔI, chữ TA chỉ đẹp lên và có ý nghĩa khi được trân quý bởi cái TÂM lành!
*.
Hà Nội,
chiều 13 tháng 09 năm 2017
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
ĐỌC ĐỖ HOÀNG “CẢM”
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG?
Nguyễn Bình Phương là nhà
thơ tên tuổi nhưng tôi chưa đọc thơ (văn) của ông, đơn giản vì không có nhu
cầu. Trang blog Đặng Xuân Xuyến cũng đã đăng mấy bài viết về ông, có trích dẫn
thơ ông một vài đoạn, một vài bài nhưng khi đưa bài lên trang, tôi chỉ đọc lõm
bõm cho việc dàn trang nên cũng mù tịt về thơ Nguyễn Bình Phương. Trong số 5
bài viết về thơ Nguyễn Bình Phương đã đăng trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến thì
có đến 4 bài của nhà thơ Đỗ Hoàng, bạn cùng khóa Viết Văn IV với ông.
Chả hiểu Đỗ Hoàng sao lại
ghét Nguyễn Bình Phương đến thế? Ngày học Đại học Văn Hóa, tôi biết Nguyễn Bình
Phương nhưng không giao tiếp, quan hệ. Thấy ông là người lành lành, kiệm lời,
có vẻ sống nội tâm, mà theo thiển nghĩ của tôi thì người sống nội tâm dứt khoát
không thể ứng xử xuề xòa, bốc đồng, dễ “gây
thù chuốc oán” với người khác (kinh nghiệm của tướng thuật (tướng tâm) cho
rằng: người sống nội tâm một khi đã thù ai thì thù thậm sâu, đã ra đòn với ai
thì đòn ấy thật hiểm). Còn Đỗ Hoàng, dù tiếp xúc ít nhưng với cá tính bộc trực,
ruột để ngoài da, tôi nghĩ sẽ khó có chuyện Đỗ Hoàng để bụng thù ai được lâu.
Vậy mà đọc 4 bài Đỗ Hoàng “cảm” thơ Nguyễn Bình Phương, tôi thấy lạ lắm. Việc
khen - chê khi cảm nhận thơ văn là chuyện bình thường nhưng cả 4 bài đều viết
theo lối áp đặt, bới lông tìm vết để chửi và chửi thì mối quan hệ của 2 ông
chắc có nhiều uẩn khúc? Nhiều lần muốn hỏi Đỗ Hoàng nhưng ngại Đỗ Hoàng cho là
người nhiều chuyện nên thôi, cứ để lửng lơ thắc mắc: dù gì thì cũng là đồng môn
đồng khóa, nỡ nào phang nhau đến cạn chữ tình?!
Nói thật, đọc Đỗ Hoàng “chửi”
Nguyễn Bình Phương tôi thấy Đỗ Hoàng ngoa ngôn lắm, nhiều khi ông “chửi” lấy
được:
“Nguyễn Bình Phương phải thực sự cầu thị đi học lại một cách nghiêm túc
chương trình tiếng Việt từ cấp một đến cấp 3 (phổ thông trung học), chương
trình lớp 2 cấp một trở lên có học âm Hán Việt, để khi nói khi viết, khi đặt
câu cho chính xác, tránh sơ suất như vừa nêu trên! Sau đó rồi hãy làm thơ. Vì
làm thơ không phải làm xiếc chữ viết tù mù hổ lốn uốn éo, kém học như vậy.”
(Dịch thơ Viêt ra thơ Việt - Dịch Vô lối Nguyễn Bình Phương)
Hay những câu miệt thị,
kiểu cả vú lấp miệng em:
“Tôi đồ rằng tác giả Buổi câu hờ hững có
thể bị tâm thần hoặc là bị chấn động thần kinh, tâm hồn bất
định. Nhiều bài viết rất thiểu năng trí tuệ, giả đò
(giả vờ): Buổi câu hờ hững, Phân chim, Chân dung khi trống trải,
Khoảng giữa, Nói với em từ nơi trống trải, Hỏi…”. (TỰ BẠCH THỜI BÌNH -
vô lối, nông cạn, hời hợt, kém học, phi văn chương)
Thậm chí, cả những câu
chợ búa ông cũng chẳng từ:
“Đọc bài vô lối ngu tối “Em và hoa” của Nguyễn Bình Phương có cảm giác
như khi đánh xi giày đi hội ra đường dính vào đống cứt chó. Một cảm giác tởm
lợm khó chịu, hôi hám, bẩn thỉu rủi khi mình bị vướng vào!”. (Em Và Hoa -
Vô lối ngu tối của Nguyễn Bình Phương).
Đọc 4 bài, thấy ít lắm
những câu Đỗ Hoàng dịu giọng một chút, ví như trích dẫn dưới đây:
“Nguyễn Bình Phương muốn mình tạo ra cách nghĩ, cách nói cho khác người,
chứng tỏ ta là loại siệu việt, loại nghìn năm mới có một nhân vật như ta (!).
Nói thật ra đó là cách nghĩ cách nói của một kẻ ngu độn, càng nghĩ càng nói
kiểu này bạn đọc hiểu biết họ cười vào mũi, họ sẽ phỉ nhổ không thương tiếc.
Chưa hết, tác giả cho “cuộn lên”: “Cuộn lên một cái cây chưa tỉnh
táo/ Cuộn lên những quả chuông vang reo trận mưa rào/ Ngân nga giọng của trăng
sao”. Tiếng nói của em có màu sắc mới cuộn lên như bão vậy. Tiếng nói mà cuộn
được những quả chuông reo vang trận mưa rào thì tiếng nói ấy phải hơn cả sói
tru, hổ gầm; bét thì cũng phải như Trương Phi gầm thét trên cầu Trường Bản làm
kẻ địch sợ mất vía vỡ mật mà chết! Người đẹp - em ấy sẽ là người
“lỗ mũi mười tám gánh lông” “bánh đúc em xới cả lò, rượu tăm em uống mười vò
không say(!). Thân thể em thì khủng long thời tiền sử cũng không so nổi(!)
Chưa hết, tác giả lại nhân cách hóa loài thỏa mộc “cuộn lên cái
cây chưa tỉnh táo”. Cái cây chưa tỉnh táo này ở đâu ra? Vì sao nó chưa tỉnh
táo? Nó uống nhiều rượu hay bị người đẹp bỏ rơi? Toàn là viết và nói ba lăng
nhăng, dớ dẩn, tối tăm hủ nút!”. (Em Và Hoa - Vô lối ngu tối của Nguyễn Bình
Phương).
Mà cũng lạ. Bị “chửi” như
vậy mà (hình như) Nguyễn Bình Phương cũng không lên tiếng. Không biết Nguyễn
Bình Phương ngại chuyện cãi cọ là mấy chuyện chỉ của cánh “đàn bà” nên chịu
trận hay Nguyễn Bình Phương nghĩ ông là bậc chính nhân quân tử nên ông “đếch”
thèm chấp “cái thằng” Đỗ (Chí) Hoàng? Hoặc trước kia ông có lỗi với Đỗ Hoàng
nên giờ “cái thằng” Đỗ (Chí) Hoàng “huyếnh lên” “chửi” quá cũng đành chịu...
Tôi chả tin vào mấy lý do
Đỗ Hoàng ghét Nguyễn Bình Phương như ông đã viết trong Em Và Hoa - Vô lối ngu
tối của Nguyễn Bình Phương:
“Không ai ghét gì người thiểu năng trí tuệ, người không thông minh,
không ai thù gì người thiếu năng lực, người văn hóa, học vấn thấp; người ta cảm
thương nữa là đằng khác. Nhưng phải căm ghét và thù hận những kẻ ngu dốt, vô
văn hóa, vô học ở trong cái cơ chế xin cho bằng mánh khóe luồn lách, lưu manh,
man trá, xảo trá, che đậy sự ngu dốt của mình bằng vỏ bọc chức quyền, tiền bạc,
lợi dụng truyền thông tung hứng lăng xê mình lên trời xanh, những kẻ ấy phải
lên án và vạch mặt chúng ra. Nguyễn Bình Phương, Hoàng Quang Thuận… là những
đứa như thế!
Nguyễn Bình Phương cứ viết điên loạn tù mù, vô học, vô văn hóa, in
hết bài này đến bài khác, báo này đến báo khác, giải thưởng này giải thướng
khác, luận văn thạc sỹ này đến thạc sỹ khác viết về thơ Nguyễn Bình Phương rồi
thăng trật chức này chức khác. Thử hỏi có nguy cho nhân quần không?”.
Vì những “nguy” đó đưa ra
rất gượng ép, chứa nhiều ấm ức cá nhân nên chả thuyết phục. Chẳng có lẽ quá
rảnh rỗi, Đỗ Hoàng “ngứa mồm” ngửa cổ “chửi” chơi Nguyễn Bình Phương cho vui?!
*.
Hà Nội,
22 tháng 11 năm 2017
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ
ĐỌC
1.
Trên
blog Trang Đặng Xuân Xuyến giới thiệu 2 bài viết về "chân dung": nhà
Thơ, nhà Văn, nhà Triết học "số 1 châu Á",... Nguyễn Hoàng Đức. Đó là
bài "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" của nhà văn
Sương Nguyệt Minh và bài "Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn
chương" của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Có lẽ, trong nhìn nhận của Đỗ
Minh Tuấn và Sương Nguyệt Minh thì Nguyễn Hoàng Đức chỉ là một "cậu bé"
to xác nhưng rất "ngây thơ", rất "đáng yêu" và cũng rất
“tội nghiệp” nên 2 nhà văn đều chọn cách viết hài hước để kẻ vẽ diện mạo, bồi
đắp chân dung cho thật rõ nhân diện "nhà Triết học (tự xưng) số 1 châu
Á" Nguyễn Hoàng Đức.
Đọc
"Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" thấy sự lém
lỉnh pha chút khinh khỉnh của Sương Nguyệt Minh sau những nụ cười thân mến thân
với "chàng" triết gia tự phong là số 1 châu Á.
Đọc
"Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" thấy nụ
cười mỉm của Đỗ Minh Tuấn trong những trang viết dí dỏm, hài hước nhưng vẫn đậm
chất văn chương và tính triết luận của nhà đạo diễn tài hoa về những bi kịch
cuộc đời của Paul Nguyễn Hoàng Đức căn nguyên từ ý thức tự tôn giáo hóa bản
thân: Bi kịch về số phận, bi kịch về đam mê, bi kịch về nhận thức... thì ít hay
nhiều, vẫn ấm cái tình người, cái chân, cái thiện của Đỗ Minh Tuấn trong bài
viết.
Tôi có
đọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng chỉ đọc lướt ít bài vì thế không để lại chút ấn
tượng nào về văn chương của ông cả. Nhưng thật oái oăm, những bài viết về
Nguyễn Hoàng Đức thì tôi lại nhớ rất lâu, có lẽ vì cách viết của các tác giả,
vì chân dung của ông được các tác giả tạc khéo quá, ấn tượng quá. Ví như nhà
văn Sương Nguyệt Minh viết về ông cứ như vừa xoa tai búng mũi Nguyễn Hoàng Đức,
vừa bông đùa trêu chọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng nhà văn vẫn rất ngạo nghễ ý thức
buông giọng ngôi trên. Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường"
tôi cứ tủm tỉm hình dung cảnh Sương Nguyệt Minh thi thoảng thơm trán Nguyễn
Hoàng Đức âu yếm nhẹ một cái rồi thuận tay đét hai, ba cái rõ mạnh vào mông
Nguyễn Hoàng Đức và chỉ chờ thế là cả Nguyễn Hoàng Đức, cả Sương Nguyệt Minh
cùng ngửa cổ cười ngặt nghẽo.
Đọc
Sương Nguyệt Minh vẽ Nguyễn Hoàng Đức mà thấy thương, thấy yêu, thấy tội tội
Nguyễn Hoàng Đức. Chữ danh làm con người ta đẹp lên, sang lên, thơm lên và chữ
danh cũng làm con người ta xấu đi, hèn mọn đi, nhơ bẩn đi. Nhưng với Nguyễn
Hoàng Đức thì lại khác, chữ danh khiến ông ngây thơ như một đứa trẻ, đạo mạo
như một quý bà...
Trong
số những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức tôi đã đọc, có lẽ bài viết của nhà văn
Sương Nguyệt Minh là hay nhất - Hay không phải vì Sương Nguyệt Minh viết kỹ,
viết sâu... về Nguyễn Hoàng Đức mà là khoảng lặng "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ
mộng du giữa đời thường" để lại trong lòng bạn đọc là khoảng lặng day dứt
về chữ TÌNH.
2.
Tôi
cũng đã theo dõi Nguyễn Hoàng Đức một quãng thời gian khá dài trên facebook để
hiểu thêm những gì mà đạo diễn Nguyễn Minh Tuấn và nhà văn Sương Nguyệt Minh
chưa viết nhưng tôi không tìm thêm được vì hai ông quá giỏi, đã kẻ vẽ Nguyễn
Hoàng Đức vừa đủ, không thừa, không thiếu những gì (cơ bản) thuộc về Nguyễn
Hoàng Đức.
Ngoài 2
bài viết về chân dung Nguyễn Hoàng Đức đã điểm qua ở trên thì trong số các bài
viết của nhà giáo Chu Mộng Long, nhà văn Nguyễn Thế Duyên.... phản bác lại bài
viết: "Thơ Và Truyện Kiều Phát Sinh Trong Giới Mù Chữ Và Ít Học"
của Paul Nguyễn Hoàng Đức (nhà giáo Chu Mộng Long hài hước gọi là Phao Lồ
Nguyễn Hoàng Đức) thì bài viết "Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn
Hoàng Đức...”, của nhà văn Nguyễn Thế Duyên gây nhiều ấn tượng với tôi.
Với bài
viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, nhà văn Nguyễn
Thế Duyên hừng hực nhảy vào cuộc bút chiến bằng tâm thế "bất chấp",
lôi cả chuyện đời tư của Nguyễn Hoàng Đức: “già
yếu, ốm đau, không gia đình, không có nguồn thu nhập ổn định, chỉ còn mỗi một
niềm vui là lên mạng tự sướng” để ăn thua, để hả hê... với Nguyễn Hoàng Đức
- Người đã được giới chữ nghĩa mặc định là “anh
hề Triết học”, là “kẻ mộng du giữa
đời thường.”.
Nửa
phần trên của bài viết, có lẽ còn sung sức, vốn chữ còn nhiều, tâm trí vẫn ổn
nên nhà văn Nguyễn Thế Duyên có những luận cứ hợp lý, thuyết phục khi ông dẫn
luận về truyện Kiều của Nguyễn Du để phản bác “những lập luận vô cùng xằng bậy” và “bịa đặt trắng trợn” của Nguyễn Hoàng Đức “muốn lật đổ truyện Kiều, một trong những áng văn thơ đỉnh cao hiếm hoi
của nền văn chương trung đại của dân tộc Việt” nhưng đến nửa phần sau bài
viết thì hình như sức ông đã đuối nên loạng choạng, có chút lảm nhảm, lôi cả số
like, số comment ra để làm vũ khí.... Thật tiếc, hành động này chứng tỏ tâm -
tầm của ông chưa thể là "đối thủ ngang cơ” với Nguyễn Hoàng Đức. Nói kiểu
“tưng tửng góp vui” thì với hành động đếm like, đếm comment làm vũ khí để hạ
gục “đối thủ”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên đã vô tình vào vai anh hề để tôn "anh hề" Nguyễn Hoàng Đức cao thêm
vài bậc hoang tưởng.
Chắc
nhà văn Nguyễn Thế Duyên cũng đã quá rõ ma mãnh trong tranh luận của Paul
Nguyễn Hoàng Đức là đánh vào niềm tin của người nghe, người đọc ở những con số
cụ thể, mà những con số cụ thể đó lại không có nguồn trích dẫn cụ thể, nó được "anh hề" bất chợt nghĩ ra để
"anh hề" "chơi"
kế sách "cả vú lấp miệng em",
ví như "anh hề" nói 60% nhà
thơ miền Nam là đạo thơ hay dân miền Trung thích thơ nhất vì nghèo đói. "Anh hề" cứ nói hú họa bừa như thế
mà "nhồi nhét vào đầu những người
lười suy nghĩ và ít chịu đọc những lập luận vô cùng xằng bậy" (Nguyễn
Thế Duyên). Lạ là cũng không ít người lại hùa theo ý thức tự tôn giáo hóa bản
thân của Nguyễn Hoàng Đức, rồi tán thưởng, tụng ca Nguyễn Hoàng Đức lên ngang
với thánh thần, coi Nguyễn Hoàng Đức như một tượng đài bất khả xâm phạm. Tôi
nghĩ, nếu nhà văn Nguyễn Thế Duyên xoáy sâu một chút về đặc trưng "chất
Chí Phèo" trong "phương pháp tranh luận" của Nguyễn Hoàng Đức:
Không giống Chí Phèo chỉ khi say bí tỉ, khi thiếu tỉnh táo để làm chủ nhận thức
mới chửi bất cứ ai, bất cứ thứ gì Chí Phèo bất chợt nghĩ đến, còn “anh hề Triết học” - “kẻ mộng du giữa đời thường” Nguyễn Hoàng
Đức chả cần thế, cứ không vừa ý là "anh hề Triết học" ỏm tỏi chửi,
chửi bất kỳ ai dù vô tình chạm vào sợi dây thần kinh tự ái của “kẻ mộng du giữa đời thường” theo kiểu “chửi bất chấp” không cần lĩnh vực đấy “anh hề” có biết hay không, cũng chẳng
cần chứng cứ mà “anh hề” chỉ cần lấy chửi để thắng người,.... mà “lựa chiêu ra đòn” thì bài viết “Lại
Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...” của ông rất đáng
đọc.
*.
Hà Nội,
ngày 17 tháng 12-2020
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
HỒN NHIÊN KIỂU
PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
Trong
một thế giới mà ai cũng cố gắng xây dựng hình ảnh của mình đẹp đẽ trên mạng xã
hội thì Paul Nguyễn Hoàng Đức lại chọn cách phơi bày mọi góc cạnh của bản thân,
từ sự khao khát được tung hô đến những ấm ức vụn vặt nhất trong các mối quan hệ
xã hội với vẻ bộc trực chân chất.
Các
chia sẻ của Paul Nguyễn Hoàng Đức lên mạng xã hội rất thật, thật đến hồn nhiên
như niềm tin ngây thơ của đứa trẻ. Anh thích được khen lắm. Anh không câu nệ
người ta khen anh thật, khen xã giao hay khen có dụng ý khác! Cứ thấy người ta
khen là anh sướng, sướng đến bần thần cả người, ví như khi cố nhà văn Vũ Minh
Nguyệt bình luận dưới bài viết của anh: "Nhà triết học mang gương mặt hoàng đế", thế là anh sướng điên
lên, viết ngay một status mới: [Nhà văn
Vũ Minh Nguyệt phong tước cho tôi: "Nhà triết học mang gương mặt hoàng
đế"], rồi cứ vài ngày anh lại chia sẻ lại trên trang facebook cá nhân
để ngồi tủm tỉm cười mà chưng ra khoe với thiên hạ. Ở điểm này nhà "triết học tự phong" Paul Nguyễn
Hoàng Đức hệt tính ngây thơ cả tin của nhà thơ Đỗ Hoàng khi dưới bài viết của
Đỗ Hoàng, nhà văn, dịch giả Trần Hậu comment giỡn vui: ["Tâm sự người lính"
được dịch ra tiếng Anh, đến tay Ban giám khảo Thụy Điển - Đỗ Hoàng đoạt giải
Nobel!"] hay nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến bông đùa giải trí: ["Tâm
sự người lính" tiếng nổ bom nguyên tử, "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh tiếng lựu đạn!"]
thì nhà thơ Đỗ Hoàng lập tức trang trọng đưa lên facebook cá nhân như những bảo
chứng cho tài năng văn chương kiệt xuất của mình. Suốt từ đầu năm 2024 đến giờ,
nhà thơ Đỗ Hoàng chia sẻ đi chia sẻ lại trên trang facebook cá nhân không biết
bao nhiêu lần. Thế nhưng, nhà thơ Đỗ Hoàng chỉ chia sẻ trên trang facebook cá
nhân của Đỗ Hoàng còn chàng "triết
gia tự phong” Paul Nguyễn Hoàng Đức thì ngất ngây hơn thế, anh lượn lờ khắp
làng facebook, ngó nhà này một tý, nhắm nhà kia một tẹo, hễ thấy có cơ hội là
anh nhảy tót vào chơi kế sách comment dạo để khoe!
(Viết
đến đây tôi chợt nhớ đến tác gia, nhà giáo Vũ Thị Hương Mai, người mà “triết
gia” Paul Nguyễn Hoàng Đức rất quý mến vì chị là đọc giả ruột của anh, mua khá
nhiều sách của anh, nói chuyện lại rất hiểu biết và lễ phép như Paul Nguyễn
Hoàng Đức viết khoe lên facebook. Còn nhà thơ Đỗ Hoàng cũng vài lần tấm tắc:
"Mấy lần nói chuyện với Hương Mai,
mình thấy cô ấy hiểu biết văn chương, thẳng thắn và lễ phép.", thế
nhưng chỉ vì Vũ Thị Hương Mai thật lòng góp ý: "Bác (Đỗ Hoàng) chửi văng mạng khi bình thơ như thế là mất lịch sự,
thiếu tôn trọng người đọc" thì nhà thơ Đỗ Hoàng "chặn" hết
mọi phương tiện giao tiếp với nhà giáo Vũ Thị Hương Mai.)
Cũng
giống nhà văn Đông La và nhà thơ Đỗ Hoàng, nhà “triết học tự phong” Paul Nguyễn Hoàng Đức luôn tự nhận “tài thơ và bình thơ” của anh thuộc bậc
nhất nước Việt Nam. (May mà bộ 3 La - Đức - Hoàng mới chỉ tự nhận thôi chứ chưa
ỏm tỏi cãi nhau để giành giật lấy ngôi vị số 1 “tài thơ và bình thơ bậc nhất nước”). Ai mà tán dương thì anh mừng
lắm, hỉ hả lắm, còn ai mà có lời ỉ ôi trái ý thì anh chửi cho sấp mặt.
Anh cay
cú tố Nguyễn Quang Thiều là kẻ "bẩn
tính", "cơ hội",
"lợi dung tên tuổi nhà triết học số
1 châu Á" của anh để dụ mọi người tham gia cuộc thi thơ làng Chùa, để
"ủ mưu kiếm chác lợi lộc",
xong việc thì thẳng tay vất bỏ "triết
gia số 1 châu Á" Nguyễn Hoảng Đức như vất bỏ đống phế liệu, quên luôn
lời hứa sẽ xướng tên anh trong danh sách đạt giải để anh ngạo nghễ "ẵm
về" 500 USD tiền "lại quả": "Tôi không bao giờ định thi thơ làng. Tôi hồn nhiên không đề phòng, hoá
ra chủ soái thơ làng mời tôi thi thơ để mượn tiếng làm áp phe cho cuộc thi thơ
kiếm chác danh và tiền. Đến lúc kết thúc, chủ soái muốn lờ tôi đi, ngay cả
trước ngày bế mạc, gặp tôi cũng lờ. Trước dân thi ca của "Hà Nhì" còn
hứa tặng tôi 500 USD cũng lờ.". Có lẽ chính vì tâm thế ấm ức đó mà
Paul Nguyễn Hoàng Đức mới cay cú viết: "99% làm thơ người Việt là quê cáy hám danh" nhưng lại không
chú giải anh thuộc 1% hiếm hoi hay nằm lẫn trong số 99% "quê cáy hám danh" đó. Người đọc chả
cần tinh ý cũng biết anh nằm ở 1% hay 99% khi thấy anh luôn lớn tiếng chì chiết
vì nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà anh không có chân trong Hội nhà văn Việt Nam,
còn trượt cả cái giải "thi thơ làng"!
Và hẳn người đọc cũng sẽ lại cười xòa như những lần nghe anh hùng hồn tuyên bố “60% nhà
thơ miền Nam là đạo thơ” hay “dân miền Trung thích thơ nhất vì nghèo đói” với câu tặc lưỡi đã
thành cửa miệng: Chấp làm gì gã hề!.
Mà cũng
lạ, đến cả việc nhà thơ Nguyễn Quang Thiều "tài trợ" 19 triệu đồng
cho anh mua ô tô vào những năm thập niên đầu của thế kỷ 21 cũng được anh thật
thà đưa lên mạng xã hội bằng những comment bỉ bôi với Thiền zen: "Chính thức Thiều tặng tôi 19 triệu. Món quà
đó tôi rất biết ơn nhưng chiếm chưa tới 10% xe tôi mua. Vả lại tôi biết Thiều
phải kiếm gấp ngàn lần như vậy... chỗ đó chỉ là tí ti... ", rồi anh
cũng không quên tranh thủ mỉa mai vụ "dụ
dỗ thi thơ làng Chùa" với những ngổn ngang ấm ức: "Còn tóm gọn Thiều là
chuyên gia thì thào, ủ mưu, sắp đặt, thất hứa... nhưng do tâm hồn làng xã cổ
xúy đắc chí bất công mà y có được như vậy... ". Không biết số tiền 19
triệu đồng là tiền túi “minh bạch” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hay số tiền
đó nhà thơ Nguyễn Quang Thiều "kiếm"
từ nguồn thu "không tiện nói" nào đem "tặng" (để "mua"?)
"Triết gia số 1 châu Á tự phong"
mà khi tới tay Nguyễn Hoàng Đức thì lòng tốt của Nguyễn Quang Thiều lại bị anh
rẻ rúng đến thế?!
Tôi nghĩ, sự "thật
thà đến hồn nhiên" có lẽ là một phần tính cách bộc trực nghĩ sao nói vậy
của Paul Nguyễn Hoàng Đức. Anh khao khát được công nhận, khao khát được tung hô
đến mức lầm tưởng giữa lời khen thật với những lời xã giao, bông đùa, cũng
không giấu giếm sự thất vọng, cay cú của bản thân khi bị đối xử không được như
ý. Tất cả những điều đó đã phơi bày một cái tôi quá khổ và sự háo danh quá đà
của nhà “triết học tự phong” Paul
Nguyễn Hoàng Đức.
*.
Hà Nội,
sáng 27 tháng 11-2025
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC:
GÃ HỀ MỘNG DU TRONG
VŨNG BÙN HOANG TƯỞNG
Trong
giới cầm bút, đôi khi người ta bắt gặp những hiện tượng kỳ lạ đến mức khó tin,
mà Paul Nguyễn Hoàng Đức là một điển hình cho sự lệch lạc giữa ảo tưởng và thực
tế. Cái danh xưng tự phong “Triết gia số
1 châu Á” hay “người khổng lồ”, “người danh tài” mà Đức luôn miệng rêu
rao, tự nhận, thực chất chỉ là một màn kịch vụng về của sự hoang tưởng. Đó là
một kiểu “hồn nhiên” đến nực cười,
giống như kẻ tự khoác lên mình chiếc áo hoàng bào quá khổ, rồi đứng trước gương
tự vái lạy chính mình trong những cơn lên đồng tự mãn.
Mới
đây, đọc cái gọi là “tác phẩm” “Xem tướng đầu nhà thơ cám lợn” của
Paul Nguyễn Hoàng Đức, tôi bật cười trước lối hành văn sặc mùi thù hận và thô
tục của Nguyễn Hoàng Đức. Điểm nực cười nhất chính là cái logic “nhìn tóc đoán trí tuệ”. Đức cố tình gán
ghép mái tóc với não bộ một cách ngô nghê, ví đầu người như đồi trọc để thỏa
mãn cơn hằn học cá nhân. Chẳng lẽ, theo logic hợm hĩnh và thiểu năng của Paul
Nguyễn Hoàng Đức, tất cả những bậc hiền triết, vĩ nhân hay các vị sư đầu trọc
trên đời đều là kẻ "hư não"?
Lối tấn công cá nhân dựa trên ngoại hình, một thứ ngụy khoa học rẻ tiền, lại
được Đức trưng ra làm vũ khí như một phát kiến trí tuệ. Việc đánh đồng mái tóc
với não bộ không chỉ cho thấy sự ngu muội về kiến thức cơ bản mà còn là minh
chứng hùng hồn cho một tâm hồn cạn kiệt giáo dưỡng của kẻ cạn lời, đuối lý đã
bị sự hằn học cá nhân bóp nghẹt mọi khả năng tranh luận văn minh.
Nực
cười hơn nữa là giọng "dạy đời" giả tạo của Nguyễn Hoàng Đức. Đức rao
giảng rằng người có học phải "phê
bình văn bản" nhưng suốt cả bài viết dài dằng dặc, Đức không đưa ra
nổi một lập luận tri thức nào để phản biện lại bài “Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng
Đức” của tôi. Đức không chứng minh được Đức không “ngáo danh”,
không vô ơn hay chơi trò tiểu nhân thù vặt với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Thay
vào đó, Đức phô bày bản chất vô văn hóa đến tận cùng khi tuôn ra thứ
ngôn ngữ mạt hạng như "thơ cám lợn",
"thơ đít dế" để chơi trò
Chí Phèo chửi bới ăn vạ. Đấy không phải là phê bình, không phải là phản biện mà
là lối chửi đổng rẻ tiền của hạng hàng tôm hàng cá. Một kẻ tự xưng là
“triết gia” nhưng lại dùng ngôn từ
rác rưởi để mạt sát tướng mạo và tên tuổi người khác thì thực chất chỉ là một
kẻ vô giáo dục đang núp bóng chữ nghĩa. Nếu thực sự có trí tuệ, Đức
đã dùng sự uyên bác để chỉ ra cái dở của văn bản “Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng
Đức”, chứ không phải dùng ngôn ngữ chợ búa của hàng tôm hàng cá để mạt
sát cái tên hay tướng mạo của người khác.
Sự hằn
học này còn phơi bày một cái tôi bệnh hoạn và một bản chất lưu manh trơ
trẽn khi Paul Nguyễn Hoàng Đức trắng trợn bịa đặt chuyện tôi gửi tin nhắn
nhờ Đức bình thơ của tôi. Một kẻ tự xưng là “triết gia số 1 châu Á” mà lại dùng thủ đoạn vu cáo hèn hạ, lấy
“uy tín” ảo của mình để bảo chứng cho một lời nói dối trắng trợn không chớp
mắt. Hành vi này không chỉ là sự băng hoại về đạo đức mà còn là lối hành
xử lưu manh văn hóa - thứ dùng để lấp liếm cho sự đuối lý và bất lực
trước sự thật. Cái “nhân cách” mà Paul Nguyễn Hoàng Đức huyễn hoặc thực chất
chỉ là một bức bình phong rách nát, che đậy một tâm địa vẩn đục của Đức.
Lối
tranh luận của Paul Nguyễn Hoàng Đức không phải là dùng lý lẽ của một trí thức,
mà là dùng sự thô lỗ để khỏa lấp sự rỗng tuếch. Đức đánh lừa những người nhẹ dạ
bằng thứ hào quang giả tạo, biến những điều tầm thường thành huyền bí để lòe
thiên hạ. Khi không thể đối thoại bằng trí tuệ, Nguyễn Hoàng Đức tìm cách nhục
mạ đối phương bằng thứ ngôn ngữ rẻ tiền. Sự “hồn nhiên” ấy thực chất là một dạng băng hoại về văn hóa ứng xử của
Đức.
Chính
vì thế, trong mắt giới trí thức nghiêm túc, Paul Nguyễn Hoàng Đức chỉ là một
hiện tượng lạ mang tính giải trí, một cái tên để người ta nhắc đến lúc trà dư
tửu hậu với sự mỉa mai, khinh bỉ. Bi kịch lớn nhất cuộc đời của Paul Nguyễn
Hoàng Đức là sống say sưa trong bóng hình tự vẽ mà không hề biết thế giới văn
chương đang nhìn Paul Nguyễn Hoàng Đức như một gã hề lưu manh đang vùng vẫy
trong vũng bùn của sự hoang tưởng.
*.
Hà Nội,
ngày 18 tháng 12-2025
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
LẠI CHUYỆN VỀ "THÓI
ĐỜI"
(Lược soạn lại vài trao đổi qua messenger với bạn bè
sau khi post bài thơ "Thói Đời" lên trang facebook cá
nhân.)
Bạn
nhắn tin hỏi: - Bài thơ "Thói
Đời" anh viết về nhà thơ Trần Mạnh Hảo hay triết gia Nguyễn Hoàng Đức?
Trả
lời: Nhân chuỗi "trả lễ" của nhà thơ Trần Mạnh Hảo với bài viết
"Trần Mạnh Hảo - Đôi cánh đại bàng thơ dính nhúm lông gà" của tác giả
Paul Nguyễn Hoàng Đức nên viết vài câu "á đù...." về thói đời chứ
không ám chỉ riêng ai.
(THÓI
ĐỜI
Quen thói ỷ tài mặt vênh vang
Chửi Bắc chửi Nam chửi khắp làng
Mới nghe được nửa câu nói thẳng
Đã vội lu loa giọng điếm đàng.
*.
Hà Nội,
tối 31 tháng 08-2022
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN)
Bạn hỏi
tiếp: - Anh nghĩ sao về chuỗi phản ứng
của nhà thơ Trần Mạnh Hảo?
Trả
lời: - Nhớ lại năm xưa, cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo được bạn bè cho
biết nhà thơ, nhà phê bình văn học Phạm Đức Nhì viết bài "Về "bài
thơ" Đồng dao cho người lớn" chê "Đồng dao cho người lớn"
là vè, không phải là thơ, ông chỉ mỉm cười với bạn: - "Thế à?". Nụ
cười mỉm và 2 chữ "thế à" đã làm đẹp thêm hình ảnh vốn đã thực lớn,
thực đẹp của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo!
Bạn lại
hỏi: - Em thấy trên mạng rần rần bàn tán
nhà thơ Trần Mạnh Hảo xứng đáng là đại thi hào, là nhà thơ lớn của dân tộc. Anh
thấy thế nào?
Trả
lời: Thơ Trần Mạnh Hảo tôi chưa đọc, cũng chưa đọc truyện ngắn hay tiểu thuyết
của tác giả Trần Mạnh Hảo nên không mạn đàm.
Bạn hỏi
tiếp: - Anh đọc Trần Mạnh Hảo ở mảng nào?
Trả
lời: - Tôi biết tác giả Trần Mạnh Hảo khi tình cờ đọc phản biện của ông về thơ
văn... Và thích đọc các bài viết đó để giải trí dù nghe nhiều thông tin (chưa
kiểm chứng vì không quan tâm) ông hay dùng tiểu sảo "cắt ghép trích
dẫn" làm "vũ khí" phản biện và dùng yêu ghét cực đoan làm chủ
ngòi bút...
Bạn lại
hỏi: - Anh thấy bài viết "Trần Mạnh
Hảo - Đôi cánh đại bàng thơ dính nhúm lông gà" của tác giả Paul Nguyễn
Hoàng Đức thế nào?
Trả
lời: Nếu bỏ mấy chữ "dính nhúm lông gà" thì không ai có thể lấy cớ để
chê trách tác giả, bôi bẩn con người Nguyễn Hoàng Đức vì đấy là bài viết công
tâm Nguyễn Hoàng Đức dành cho người bạn được tác giả trân trọng!
Bạn hỏi
tiếp: - Nhưng cư dân mạng khá nhiều người
phản đối, thậm chí xúc phạm Paul Nguyễn Hoàng Đức bằng những câu nặng nề?
Trả
lời: - Người ta phản đối vì không đồng tình với quan điểm của Nguyễn Hoàng Đức
khi tiếp cận tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, chuyện đó rất bình thường. Còn những
người la ó Nguyễn Hoàng Đức? Phần vì tâm lý cuồng thần tượng, phần vì bới móc
cho có chuyện để thỏa mãn tính nhiều chuyện mà tám chuyện, phần vì hội chứng
đám đông, và thêm nữa phần vì ghét tính phách lối, ngông cuồng của Nguyễn Hoàng
Đức mà trút bực.
Thú vị
là bài viết "Trần Mạnh Hảo - Đôi cánh đại bàng thơ dính nhúm lông gà"
của Paul Nguyễn Hoàng Đức được cư dân mạng tâm đắc và chia sẻ khá nhiều!
Bạn lại
hỏi: - Hình như nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã
từng là “bạn” chí cốt của triết gia Paul Nguyễn Hoàng Đức?
Trả
lời: Chuyện đó thì tôi không biết nhưng tôi đã đọc mấy bài 2 ông tung hứng nhau
thuộc hàng “Tam kiệt thi nhân Việt Nam”, là “hàng hiếm khó kiếm” trong thi đàn
đất Việt...
Bạn hỏi
tiếp: - Anh có ý định mua tuyển tập thơ
của Trần Mạnh Hảo?
Trả
lời: Người ta chỉ bỏ tiền ra mua thứ người ta yêu thích hoặc thấy cần thiết mà
cả hai nhu cầu đó với tôi đều không có.
*.
Hà Nội,
chiều 07 tháng 09-2022
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
CHÚT TẢN MẠN NGÀY CUỐI
TUẦN
Chiều
qua, vừa đọc xong statu của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải và comment với bạn
bè của ông, tôi nguệch ngoạc vài câu chia sẻ với nhà thơ Lê Đức Nghinh:
“Rất
cảm động trước sự đáng yêu của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải! Đọc status
ngày 7 tháng 9 năm 2022 của cây viết tài hoa Nguyễn Hưng Hải mà em cứ rơm rớm
nước mắt:
“Tôi đã đọc không biết bao nhiêu lần tuyển
tập thơ của Thi sỹ tài danh Trần Mạnh Hảo. Và tôi phải thú thực là tôi
chưa dám đặt bút viết về tuyển tập của ông. Bởi tuyển tập này với tôi là một
tuyển tập thơ hay nhất nuớc Việt Nam, ít nhất là từ năm 1930 đến nay.
Ai có thù hận tôi thì tôi cũng phải nói thật
lòng mình, không phải chỉ với tuyển tập này mà chỉ với một trường ca, Đất Nước
hình tia chớp, Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng đã quá xứng đáng để được trao tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh
Các bạn không đồng quan điểm thì cứ lên tiếng
phỉ báng và ném đá
Tôi sẵn sàng đối chất, dù tôi chưa ngồi với
Nhà thơ tài danh Trần Mạnh Hảo một lần nào, ở bất cứ đâu, kể cả là ở đại hội
Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005.”
Và bình
luận của mấy bạn facebook của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải nữa, chỉ dăm ba
chữ comment thôi mà làm cho tâm trạng người đọc (là em) cũng rổn rảng theo bao
la là những cảm động:
-
Trần Mỹ:
“Nếu không có Cụ Võ Văn Kiệt can thiệp thì
mấy ông công an thành phố Hồ Chí Minh lúc đó nó nhốt Hảo rồi! Mà nếu thế thì
bây giờ làm gì mà các bạn có trong tay Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo?”
-
Bùi Văn Dung:
“Tôi đồng suy nghĩ với nhà thơ Nguyễn Hưng
Hải. Từ hôm có tập thơ tuyển của nhà thơ số 1 Việt Nam tôi say sưa đọc và chiêm
nghiệm.
Và chưa thể hiểu hết tầm cao trí tuệ của nhà
thơ gai góc này!”
-
Đỗ Xuân Thu:
“Nhất trí với nhà thơ. Hay sửng sốt sởn da gà
luôn!”
Đấy
anh! Đọc mà nước mắt cứ muốn lã chã rơi, phải mím môi chặt lắm mới ngăn được
dòng nước mắt ngân ngấn chực trào vì may quá, hạnh phúc quá, tự hào quá... Việt
Nam ta giờ đã có một tuyển tập thơ để đời. Anh cố mua một vài cuốn mà đọc, rồi
viết vài statu để em được đọc thỏa thích nhé!”
Nhà thơ
Lê Đức Nghinh nhẹ thả mặt cười, giông giống với đận Đặng Quang Hiệp khẩn thiết
kêu gọi các nhà thơ, nhà văn “góp tiếng
nói để bác Nguyễn Hưng Hải không đơn độc trong sự nghiệp sáng tác thơ ca về
Đảng và Bác Hồ” vì chắc phải đau thắt tâm can nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng
Hải mới lên facebook viết statu than thở: “Có
một số người không viết được nên vì đố kỵ và tức quá nên mới không thích ai
viết về Đảng và Bác Hồ, kể cả một số người làm biên tập cũng vậy.”, chỉ
khác là nhà thơ Lê Đức Nghinh không comment hao hao đận đó: “Anh Đặng Quang Hiệp thông cảm. Anh buồn thì
tìm bác Nguyễn Hưng Hải mà giãi bày! Tôi không hiểu và không quan tâm đến việc
của người khác. Anh làm ơn cho tôi rút từ từ, rút êm êm.” mà nhã nhặn: “Làm sao so bì với nhà thơ Bắc Hưng Hải được
hả chú em!”, rồi khuyên tôi phải biết lượng sức mình, đừng ép bản thân gắng
học đòi theo anh Nguyễn Hưng Hải mà khổ.
Chiều
nay, vào xem tiếp phần bình luận, đọc mấy câu comment nhà thơ, nhà báo Nguyễn
Hưng Hải trao đổi với nhà thơ, nhà báo, họa sĩ Trần Quang Đạo:
-
"Anh em mình chỉ đáng xách dép cho
Thi sỹ tài danh Trần Mạnh Hảo. Anh có giận em cũng nói vậy.".
-
"Thơ Trần Mạnh Hảo hay thật mà anh!
Anh không thích thơ anh Trần Mạnh Hảo à?"
Chả
hiểu sao tôi cứ tủm tỉm cười mà mường tượng như rõ mười mươi nhìn thấy cảnh anh
Nguyễn Hưng Hải nghiêng nghiêng đầu, hiêng hiếng mắt véo von với anh Trần Quang
Đạo: -"Anh em mình chỉ đáng xách dép
cho Thi sỹ tài danh Trần Mạnh Hảo." rồi cong cong ngón tay áp út dư dứ
về phía nhà thơ, họa sĩ, nhà báo ít nhiều cũng thuộc diện "vua biết mặt, chúa biết tên" Trần
Quang Đạo mà huỵch toẹt ngửa bài: -"Anh
có giận em cũng nói vậy.", để rồi chỉ sau in ít phút, khi nhà thơ Trần
Mạnh Hảo nhấp chuột thả like tán thưởng câu "Anh em mình chỉ đáng xách dép cho Thi sỹ tài danh Trần Mạnh Hảo."
thì nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải liền phấn chấn hẳn lên như được tiếp thêm
nguồn cổ vũ lớn lao mà lảnh lót chắc nịch: -"Thơ Trần Mạnh Hảo hay thật mà anh!", rồi cũng không quên tròn
xoe 2 mắt ngơ ngác nhìn đàn anh Trần Quang Đạo mà hùi hụi tiếc của: - "Anh không thích thơ anh Trần Mạnh Hảo à?"
Tôi
giật mình phát hiện nhà thơ, nhà báo tên tuổi Nguyễn Hưng Hải cũng na ná nét
đáng yêu như ngài triết gia Nguyễn Hoàng Đức đó là sự hồn nhiên của tâm hồn trẻ
thơ nhét trong thân xác gã đàn ông cao tuổi nhưng tôi không hiểu: Nguyễn Hoàng
Đức sau vụ tai nạn suýt mất mạng ông mới thành người như thế còn Nguyễn Hưng
Hải có đụng độ tai nạn nào đâu mà tính cách ông lại thành ra vậy?!
(À
quên, chi tiết nhà thơ Trần Mạnh Hảo thả like tán thưởng câu: "Anh em mình chỉ đáng xách dép cho Thi sỹ tài
danh Trần Mạnh Hảo." của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải là thật
100%, không phải tôi thêm thắt cho vui chuyện đâu ạ.)
*.
Hà Nội,
chiều 10 tháng 09-2022
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
ĐỌC “ĐÔI BỜ SÔNG BẾN HẢI”
VÀI LỜI VỚI NHÀ THƠ
NGUYỄN HƯNG HẢI
Khi đọc bài thơ “Đôi Bờ Sông Bến Hải” của nhà thơ,
nhà báo Nguyễn Hưng Hải:
ĐÔI BỜ SÔNG BẾN HẢI
Bờ Bắc, ngực mẹ đỏ huân
chương
Bờ Nam, mẹ một đời cúi
mặt
Cũng chỗ ướt mẹ nằm
Đều cùng từ một bọc
Giuã cây cầu hai bà mẹ
đều đau ...
Hai bờ sông Bến Hải
Những đứa con của mẹ
sao lại bắn vào nhau?!
Mẹ ở phía bên nào cũng
giữa hai làn đạn
Dù ở bờ bên nào cũng
đều ghê tiếng súng
Chia cắt một cây cầu
không hiểu tại làm sao!?
Hai phía từ đâu ra cùng
một bọc đồng bào
Không có cuộc chiến
tranh nào không làm đau lòng mẹ
Ai đã đẩy các con về
hai phía
Mẹ ở bờ bên nào cũng
đau nỗi đau chung
Nối lại một cây cầu
lòng mẹ bao dung
Cùng thả xuống dòng
sông một niềm đau như xé
Xin đừng ai làm đau
thêm lòng mẹ
Dưới đáy sông Bến Hải
có nhìn lên?!
Đôi bờ sông Bến Hải có
nhìn
Giuã cây cầu nhìn nhau
hai bà mẹ
Cùng nhìn xuống dòng
sông
Dắt tay nhau cùng đi về
một phía
Nối nhịp một cây cầu
vòng hoa trắng đang trôi ...
*.
NGUYỄN HƯNG HẢI
(Làng Hùng Đô, xã Lam Sơn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.)
với những câu thơ:
"Hai bờ sông Bến
Hải
Những đứa con của mẹ
sao lại bắn vào nhau?!
Mẹ ở phía bên nào cũng
giữa hai làn đạn
Dù ở bờ bên nào cũng
đều ghê tiếng súng
Chia cắt một cây cầu
không hiểu tại làm sao!?"
người đọc dâng trào nỗi xót xa với những câu thơ đau đáu nỗi
niềm, tưởng người viết ra những câu thơ đó là người được thụ hưởng sự giáo dục
tử tế của chế độ sẽ có trái tim ấm áp và trách nhiệm đúng mực nhưng thật buồn
khi người đọc đọc phải những câu thơ nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải xúc phạm
những người Mẹ miền Nam:
"Bờ Bắc, ngực mẹ
đỏ huân chương
Bờ Nam, mẹ một đời cúi
mặt"
Chiến tranh "huynh đệ
tương tàn" đã qua lâu rồi. Nỗi đau của cuộc nội chiến cũng đang dịu
dần và những người Mẹ ở cả 2 miền Nam - Bắc cũng đã chung sống yêu thương, đùm
bọc lẫn nhau trong cùng một thế chế xã hội. Các Mẹ vẫn luôn hiện hữu bên cạnh
con cháu, động viên con cháu tuân thủ hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, cùng
nhau làm giàu cho gia đình, làm giàu cho Đất Nước.
Nhà nước cũng luôn đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, gác lại
những bất đồng về ý thức hệ chính trị của quá khứ để cùng chung tay xây dựng và
bảo vệ Đất nước, cớ sao nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải với bề dày hơn 50 năm
cầm bút lại tàn nhẫn khi miệt thị các Mẹ miền Nam, chống lại chính sách hòa hợp
dân tộc của Nhà nước bằng 2 hình ảnh đối lập?!.
"Bờ Bắc, ngực mẹ đỏ
huân chương
Bờ Nam, mẹ một đời cúi
mặt"
Con cháu các Mẹ tham gia vào cuộc chiến "huynh đệ tương tàn" đâu phải là lỗi
của các Mẹ mà các Mẹ phải "một đời
cúi mặt" với tâm thế của những kẻ tội đồ.?!
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải có biết như thế là hỗn khi viết
những lời bất kính với các Mẹ?!
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải có biết như thế là gián tiếp
chia rẽ sự đoàn kết, tiếp tay cho kẻ xấu phá rối tinh thần hòa hợp dân tộc?!
*.
Hà Nội, 27 tháng 09-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CHÚT TẢN MẠN VỀ NHÀ THƠ
NGUYỄN HƯNG HẢI
Ngày 1
tháng 6 năm 2021, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải viết "tâm thư" trên trang
facebook cá nhân ở chế độ công khai: - "Người làm thơ bây giờ cô đơn lắm, làm thơ về Bác Hồ lại càng cô đơn.
Chả thế mà một số người thân quý đã phải khuyên Nguyễn Hưng Hải đừng viết về
Bác Hồ nữa. Và có một sự thật là những bài thơ viết về Bác Hồ, Nguyễn Hưng Hải
gửi cho các báo, tạp chí, kể cả các báo Đảng ở Trung ương và các địa phương ít
khi được đăng lắm. Thế mà đâu đâu cũng bảo học tập và làm theo Bác Hồ. Không
hiểu sao nữa!?"
Đọc
những ấm ức rất hồn nhiên như thế mới thấy nhà thơ Nguyễn Hưng Hải kính yêu Bác
Hồ là thật.
Rồi nhà
thơ Nguyễn Hưng Hải cũng lại rất hồn nhiên comment trải lòng với bạn thơ về sự
"thờ ơ rất đáng trách" của
các tòa soạn với các sáng tác mới về Đảng, về Bác của anh: - "Có một số người không viết được nên vì đố kỵ
và tức quá nên mới không thích ai viết về Đảng và Bác Hồ, kể cả một số người
làm biên tập cũng vậy."
Khi đọc
những ấm ức của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải, nhà thơ Khang Quốc Ngọc đã chia sẻ qua
messenger với tôi: - "Thơ ông Nguyễn
Hưng Hải viết về Đảng, Bác thô và mòn sáo, chỉ là thơ tuyên truyền, vậy mà nói
dỗi như trẻ con thì thật là buồn cười."
Quả
đúng là thơ Nguyễn Hưng Hải viết về Đảng, Bác thô và sượng lắm, hệt như những
câu học thuộc lòng để trả bài lấy lệ:
"Cả dân tộc này, ai chẳng là cháu con của Bác
Đã là cháu con, ta phải biết làm gì
Để không thẹn với Người, cả những khi phải
đương đầu đối mặt với cái xấu, cái ác
Cứ sống thật với mình sẽ được Bác chở che…"
(Sống
thật với mình)
"Giá như Người có vợ, có con, có cuộc sống
gia đình
Vợ chồng con sáng nay đã được cùng sẻ chia, an
ủi
Bởi vợ chồng con cũng có những nỗi đau không
dễ nói
Sao một người làm thơ hay như Bác lại có thể
không
rung động trước người nào?"
(Vợ
chồng con chụp ảnh trước lăng Người)
“Bác cũng giống Lê nin, Cac Mac
Làm đổi thay thế giới, mỗi con người
Trong đêm đen có được ánh mặt trời
Không có Bác không đường đi, chân lý”
(Khai
sinh ra Đảng)
Đấy
không phải là thơ mà là những câu văn nói tùy tiện, dễ dãi, trong khi thơ tình
thì anh trau chuốt câu chữ, anh dụng công kỹ lưỡng thi tứ, anh viết bằng sự
thao thức của trái tim... nên có kha khá bài bạn đọc yêu thích. Tôi thật khó
hiểu về điều đó nên có mấy dòng chia sẻ trong bài "Vài cảm nhận về 2 bài thơ viết về
chiều 30 Tết":
"Với "Chiều Ba Mươi Tết" của Nguyễn Hưng Hải thì anh cũng dùng thể
thơ lục bát để viết về Mẹ và mẹ của anh cũng là người mẹ nông dân của nắng mưa
tần tảo.
Những câu thơ thật hay, thể hiện kỹ thuật tay
nghề cao và tài sử dụng câu chữ của Nguyễn Hưng Hải trong bài thơ "Chiều Ba Mươi Tết" khá nhiều: -
"Gió ơi đừng thổi rỗng trời / Đồng không ai biết mẹ tôi nhọc nhằn" /
"Một đời cấy mãi chưa xong / Mẹ đi lui đến lưng còng còn lui / Nhẹ nhàng
đon mạ ấy thôi / Mà bao gồng gánh khóc cười đăm đăm" / "Đồng quê bóng
mẹ hút chìm / Chiều ba mươi vẫn đi tìm mùa xuân"…
Đọc những câu thơ tinh tế, giàu thi ảnh, thi
tứ như thế tôi lại thấy tiếc khi đã vô tình đọc phải những câu "thơ"
không biết nên gọi là phá thơ hay giết tiếng Việt, kiểu như anh đảo chữ:
"Giữa chang chói Người là dòng nước mát" hoặc những câu anh viết lấy
được: “Bác cũng giống Lê nin, Cac Mac / Làm đổi thay thế giới, mỗi con người /
Trong đêm đen có được ánh mặt trời / Không có Bác không đường đi, chân
lý”....), trong bài thơ: "Khai Sinh
Ra Đảng"."
Tôi
viết thẳng thắn như thế vì tôi đã lỡ yêu mấy bài thơ tình rất hay của anh, nên
tôi muốn cũng được đọc những bài thơ anh viết về Đảng về Bác từ sự thao thức
thật sự của trái tim nhà thơ Nguyễn Hưng Hải, để những bài thơ đó đứng được
trong trí nhớ bạn đọc, hoàn toàn không vì động cơ chính trị như anh đã viết tố
cáo.
Đã xuất
bản gần 20 tập thơ viết về Đảng về Bác, là thành quả của sự lao động cần mẫn
rất đáng trân trọng của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải. Tôi mới đọc mấy tập thơ anh
đăng tải trên trang facebook cá nhân, cũng đã kịp tìm được một số bài thơ viết
bằng sự trăn trở của tình yêu với Đảng, với Bác của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải. “Chi
bộ xóm tôi” là một trong số mấy bài thơ đã tìm được đó:
CHI BỘ
XÓM TÔI
-
Nguyễn Hưng Hải -
.
Bao nhiêu người đã làm thơ về Đảng
Tôi dám đâu qua mặt những thi hào
Đêm bố nằm không ngủ được vì sao
Chi bộ xóm có người xin miễn họp
.
Chi bộ xóm toàn anh em, chú bác
Dễ cho qua nguyên tắc, dễ xuôi chiều
Cuộc họp nào cũng kiểm điểm, cũng nêu
Sao chưa hết đói nghèo, con thất học
.
Tuổi thơ tôi dưới bóng tre còi cọc
Nấp sau nhà nghe họp cứ buồn theo
Xóm làng đông sao chi bộ lèo tèo
Tranh nhau nói mà không ai chịu hiểu
.
Chi bộ xóm họp trong hơi men rượu
Nói đâu đâu toàn chuyện ở trên giời
Trong mái nhà lợp cọ có cha tôi
Từng chạy chỗ vì mưa rơi ướt mặt
.
Chân lấm đất mà lơ mơ về đất
Cây con gì ai nói cũng chung chung
Nghị quyết được mùa mà đồng trắng, nước trong
Chi bộ họp để cho xong việc họp
.
Chức Bí thư cũng gần như cắt lượt
Chẳng ai mơ chức tước xóm dân cày
Qua rất nhiều biểu quyết lắm giơ tay
Xóm vẫn nát, nhà đảng viên vẫn giột
.
Năm tháng ấy đã thuộc về thuở trước
Bao người dân mất nước nghĩ suy gì
Nhắc chuyện này để ta nhớ, ta ghi
Lời Đảng, Bác trước khi vào cuộc họp.
*.
Hà Nội,
17 tháng 02-2022
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
SỰ “THẬT THÀ”
CỦA NHÀ VĂN ĐÔNG LA
Được
bạn bè chuyển cho xem ảnh chụp những dòng chua chát của nhà văn Nguyễn Quang
Lập về “thói đời tình người” rất thật trên facebook cá nhân ngày 14 tháng 6 năm
2025: "Bạn bốn phương toàn bạn nhậu,
hơn nghìn lít rượu may lắm mới có một người son sắt thuỷ chung. Một người giúp
chục kẻ phá, một người chân thành chục kẻ đểu giả. Ngó quanh khó thấy kẻ thật
bụng thương mình, toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối, bán bạn 10 xu cũng
bán. Thế mà vẫn cứ đánh đu với chúng nó. Là bốn cái ngu. Đại ngu. Tứ đại ngu hu
hu hu..". Tôi khá đồng cảm với chia sẻ của ông vì tôi đã từng có đôi
lần rơi vào tâm trạng như thế. Tôi lại nhớ tới lời "tâm sự thật”, thật đến
phũ phàng của nhà văn Dương Thu Hương về "giới phê bình" qua lời kể
của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh mà thấy thương, thấy tồi tội những người "đam mê con chữ": "Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thầy tôi, anh
Nguyễn Đăng Mạnh là người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi
bọ. Riêng Phan Cự Đệ là con chó ngao”.
Tôi
cũng hay được bạn bè chuyển cho đọc những bài “phê bình” của nhà văn Đông La
(Nguyễn Văn Hùng), nhà "triết học tự
phong" Paul Nguyễn Hoàng Đức, nhà "Kiều học tự nhận" Đỗ Hoàng,.... Thấy các nhà thơ, nhà văn ta
cũng nhiều kiểu “thật thà” qua văn phong, con chữ lắm!
Nhà văn
Đông La rõ thật mười mươi trong sự dồn nén cay cú khi anh nhắc chuyện năm xưa
nhà thơ Nguyễn Quang Thiều buông lời "rẻ rúng" bài "Tổ
Quốc - Nửa bàn chân dính bùn và máu" của anh đạt giải thưởng cuộc
thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh huỵch toẹt thẳng lên mạng xã hội mà
chẳng cần ý tứ tế nhị: "Tôi làm bài
thơ lúc tình bạn giữa tôi và Thiều thắm thiết nhất (1998), tôi đang xây nhà,
Thiều đã đến “kiểm tra”. Nhưng khi bài thơ của tôi được tặng thưởng (1998), tôi
không ngờ Thiều đã lòi ra sự đố kỵ, bảo: “Thơ thế, tôi làm một lúc cả đống”.
Bây giờ tôi có thể tuyên bố: với tài, tâm, trí và vốn sống của Thiều, Thiều
không viết nổi một câu trong bài của tôi." (Thế nào là thơ đổi mới?
Đông La: Tổ Quốc - Nửa bàn chân dính bùn và máu)
Đông La
cũng chẳng giấu thất vọng khi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ chối giới thiệu anh
vào Hội Nhà văn Việt Nam. Anh chỉ trích gay gắt và cáo buộc nhà thơ Nguyễn
Quang Thiều có hành vi không trung thực và đạo đức giả, không chỉ từ chối giúp
đỡ Đông La mà còn vận động “những người
trong quy trình xét đơn” để ngăn cản việc nhà văn Đông La được kết nạp vào
Hội Nhà Văn Việt Nam, bất chấp những giúp đỡ mà Đông La đã dồn công đổ sức dành
cho nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: "Tôi
từng viết hết lòng để bảo vệ Thiều, cho Thiều, cả tự động lẫn khi Thiều nhờ vả,
nhưng đến khi tôi nhờ Thiều đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn Việt Nam,
Thiều đã từ chối. Sau đó, có người còn cho tôi biết Thiều đã vận động những
người trong quy trình xét đơn, không duyệt tôi vào Hội, dù rằng tôi được biết,
việc kết nạp tôi như một nhiệm vụ chính trị của Ban Lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt
Nam. Tôi đã phản ứng dữ dội. Thiều email bảo tôi là Thiều “không phải vậy”. Tôi
đã tin ngay và xin lỗi, nhưng đến hôm nay thì biết Thiều đã nói dối, bởi tôi
vào Hội sẽ là vật cản lớn nhất cho con đường trở cờ, phản bội của Nguyễn Quang
Thiều." (Miệng lưỡi “giả trang”, điêu trá, luôn nói ngược của Nguyễn
Quang Thiều - Đông La).
Trước,
nhà văn Đông La từng dốc lòng dốc sức ca ngợi "Về tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều"
bằng những câu chữ chỉ có mình Đông La mới đủ bản lĩnh dám chưng ra: "Nguyễn Quang Thiều đã dựng lên một thế giới
của trí tưởng tượng, mà ở đó không có ranh giới giữa sự sống và cái chết, tất
cả đều là sinh thể, tất cả đều có linh hồn. Về mặt này, về sự phong phú của trí
tưởng tượng, có lẽ Nguyễn Quang Thiều được xếp đầu bảng, anh đúng thực là nhà
thơ có trí tưởng tượng phong phú nhất, kỳ lạ nhất." "Bao trùm lên toàn bộ tư tưởng thơ Nguyễn Quang
Thiều là cái khao khát cháy bỏng một sự vận động biến đổi về phía ánh sáng, về
phía tốt đẹp. Anh cũng viết rất nhiều về sự ngưng trệ, tù đọng, ngòi bút anh
rất quyết liệt không nương tay, nhưng cũng chỉ để nói lên cái sự khao khát ấy.
Và đó không chỉ là cái khao khát của riêng anh mà còn chính là cái khao khát
của cả thời đại này, mà cả đất nước ta đang từng ngày, từng giờ phấn đấu thực
hiện.". Anh đã còng rạp lưng xuống để đẩy những câu chữ tạc thành
tượng đài thơ như thế, hỏi cõi nhân gian này có ai dám cá cược sẽ có bản lĩnh
được như Đông La?!
Đông La
cũng hết lòng bảo vệ "Sự mất ngủ của lừa" của nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều với tất cả bản năng và trí lực sẵn có, bằng những lời rút
ruột ra để mà tạc tượng tụng ca: "Đặc
biệt, tôi thấy Nguyễn Quang Thiều có một tính cách thật đáng quý. Anh luôn kiên
định cách viết, anh dấn thân và đi đến cùng trong việc thể hiện cách biểu đạt
để thể hiện phong cách riêng của anh; song song đó, anh cũng có một lương tâm
rất kiên định.". "“Ngọn
lửa” trong thơ Nguyễn Quang Thiều là ngọn lửa của tình yêu, ngọn lửa của lương
tri, sự “mất ngủ” chính là sự thao thức, sự trăn trở nghĩ suy về toàn bộ đời
sống con người.". Và để bảo vệ "tượng đài thơ Nguyễn Quang
Thiều" của mình, Đông La không ngại buông lời thóa mạ với bất cứ ai có lời
"ỉ ôi" về thơ Nguyễn Quang Thiều bằng ngôn từ bặm trợn, phản cảm, thứ
đã thành “thương hiệu đặc trưng” trong ngôn ngữ tranh luận của Đông La: "Về Nguyễn Quang Thiều, tôi cũng đã thấy có
người thuộc nhóm này nhóm kia, nhất là những “nhà thơ” đầu đường xó chợ nhưng
coi mình như rốn vũ trụ, so sánh thơ Nguyễn Quang Thiều kém người này, người
kia." (Sự mất ngủ của lửa hay sự thao thức của một hồn thơ - Đông La).
Anh cũng không ngại "xù lông" “gầm gừ” với những ai buông lời
"khiếm nhã" về thơ của “tượng đài thơ Nguyễn Quang Thiều” bằng tâm
thế hằn học của bản năng kẻ hiếu chiến sẵn sàng gây gổ: "Cái thằng Đỗ Hoàng nào đó rất ngu, cái đầu
đề "Sự mất ngủ của lửa" mà cũng không hiểu thì còn làm thơ với bình
thơ cái nỗi gì. Chắc nó chỉ nhìn thấy sự mất ngủ của trâu bò thôi.” (Sự mất
ngủ của trâu bò - Đông La).
Rồi khi
lợi ích cá nhân không được như mong muốn, tình bạn tan vỡ, “tượng đài thơ
Nguyễn Quang Thiều” trong lòng sụp đổ thì nhà văn Đông La cũng lập tức bẻ lái
luôn với tất cả những bản tụng ca trước kia anh từng dồn sức dành cho nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều nhanh và thuần thục hơn tất cả các thiên tài trở mặt: "Không chỉ sai trái, bệnh hoạn trong sáng tác
thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng thể hiện trình độ văn chương yếu kém, và quan điểm
thẩm mỹ sai trái khi tâng bốc một số tác giả, tác phẩm." (Về ông chủ
tịch hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều - Đông La). "Nguyễn Quang Thiều gặp cô gái, người đàn bà
nào cũng nghĩ đến chuyện “ngủ với người ta thế nào?” thì Thiều đích thị là một
người không chỉ “thiếu văn hoá” mà còn mất nhân tính, chỉ mang bản năng của một
con đực, thú tính!" (Miệng lưỡi giả trang, điêu trá, luôn nói ngược
của Nguyễn Quang Thiều - Đông La). Anh cũng nói thẳng tuột luôn với bàn dân
thiên hạ việc nhà thơ Trúc Phương kiện cáo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có phần
đóng góp không ít của Đông La. Nếu là người khác sẽ giấu nhẹm việc họ làm vì họ
sợ mọi người cho đó là hành động bẩn thỉu, là lối hành xử không đàng hoàng của
kẻ tiểu nhân, Đông La không thế, anh hét toáng lên cho cả thiên hạ biết, kiểu
như anh gân cổ thách đố “Tao cứ làm thế đấy mày làm gì được tao nào, nào, nào”:
“Về Nguyễn Quang Thiều, như đơn tố cáo
của anh Trúc Phương, Thiều không xứng đáng là ứng cử viên làm Chủ tịch Hội Nhà
Văn Việt Nam, vì Thiều bị kỷ luật khi duyệt in sách sai, vì bỏ sinh hoạt Đảng,
v.v... Tôi đã hỗ trợ anh Trúc Phương bằng cách viết rõ thêm về tài đức của
Nguyễn Quang Thiều.” (Nhắc lại vài chuyện cũ nhân biết vài chuyện mới của
Nguyễn Quang Thiều - Đông La). Thật mỉa mai cho thứ tình bạn “tri âm tri kỷ” mà
nhà văn Đông La đã từng hứng chí thốt lên: "Thiều quý mình quá", từng tấm tắc chia sẻ chuyện Nguyễn Quang Thiều
giúp đăng thơ Đông La trên báo, tạp chí, giúp khoản tài trợ cho Đông La ra
sách: "Thiều đối với tôi tốt quá",
và: "Khi ra Bắc tôi thường được
Nguyễn Quang Thiều và Nguyễn Hữu Sơn chở về nhà riêng ăn nghỉ", rồi mãn nguyện đem khoe với tràn lan xã hội:
"Cứ chở tôi về nhà tận Hà Đông cơm
nước, ngủ nghỉ; tôi e ngại thì Thiều nói: “Ông không có gì phải ngại vì ông là
một thành viên của nhà tôi”. Vậy mà...
Thưa Quý
Bạn đọc!
Sự
“thật thà” kiểu sỗ sàng bặm trợn của nhà văn Đông La với nhà thơ Nguyễn Quang
Thiều, với các nhà thơ, nhà văn khác thì nhiều, nhiều lắm, nhưng ở bài viết
này, người viết chỉ đề cập đến sự thật thà trong văn phong câu chữ của nhà văn
Đông La dành cho nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người từng một thời được anh coi
là “tri âm tri kỷ”, là “tượng đài thơ bất khả kháng” khi người
viết vô tình đọc mấy dòng nhà văn Nguyễn Quang Lập oán thán về “lũ bạn” “toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối” “đểu giả” của ông nên tạm gạch vài đầu dòng kiểm chứng về “tình bạn”
của nhà văn Đông La với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều qua câu văn con chữ, để hiểu
nhà văn Đông La là ai? con người thực của Đông La thế nào? thiết nghĩ thế cũng
đã quá đủ.
Vẫn
biết thật thà là đáng quý nhưng giá như nhà văn Đông La biết tiết chế cảm xúc
để sự “thật thà” ấy đừng lồ lộ qua những câu chữ ám nặng sự hằn học cay cú của
anh với các “đối tượng” mà anh phản ánh thì sự đồng cảm của người đọc với nhà
văn Đông La sẽ nhiều lên, sẽ không phải bên cạnh sự đồng cảm ít ỏi của người
đọc là những cái nhếch mép, cười khẩy!
*.
Hà Nội,
chiều 26 tháng 03 năm 2026
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
ĐÔNG LA: KẺ LƯU MANH TỰ LUYẾN
Suốt từ ngày 24 tháng 3 đến nay, Đông La cứ lên facebook lại lảm
nhảm: "thằng Đặng Xuân Xuyến trí
thấp tâm tối", "chịu cứng không thể phản bác bài tôi đã viết",
"tưởng chê được Nhà văn Đông La thì
mình cũng số 1 tài năng", rồi "Xuyến đã xuyên tạc sự thật, xúc phạm danh dự công dân, đã phạm pháp".....
Khổ! Đã ngoài 70 tuổi rồi mà suốt ngày lên mạng lải nhải tự
luyến, hết tự nhận mình tài giỏi, mình tử tế lại khoe ông này bà nọ khen "Đông La tôi" thơ tài, viết phê bình
giỏi. Phê bình giỏi kiểu gì mà toàn giọng xấc xược của đám trẻ trâu cứng đầu
khó bảo! Người có học, có sự giáo dưỡng tử tế từ nhỏ sẽ chẳng bao giờ có lối
hành xử hỗn hào như thế.
Chỉ vài chữ comment của tôi với nhà giáo Vũ Thị Hương Mai về bài
viết của Đông La: "Vẫn giọng điệu tự
luyến và bài xích người khác, đọc chối lắm, em gái à!" mà Đông La đã
nhảy dựng lên cuống quýt lu loa tôi phạm pháp, vu khống tôi "coi trọng hai kẻ từng bị bắt là Dương Thu
Hương và Nguyễn Quang Lập, coi ý họ như “kim chỉ nam”, "cũng luôn bênh vực những sai phạm của Nguyễn
Quang Thiều như bênh Trần Thanh Cảnh", rồi chụp mũ chính trị: "Xuyến hiện nguyên hình là một thằng “dân chủ
cuội”, quấy rối làm loạn.", để rống lên: "Rất mong cơ quan chức năng xem xét.".
Viết về sự lưu manh, bệnh hoạn, đểu giả của Đông La thì có nhiều
nhân chứng lắm nhưng trong số rất nhiều nhân chứng đó (Trần Mạnh Hảo, Nguyễn
Trung, Hoàng Hưng, Triệu Xuân, Trần Đăng Khoa, Văn Chinh, Trần Đình Sử,....)
thì chọn nhân chứng Nguyễn Quang Thiều làm bối cảnh sẽ sắc nét nhất, đầy đủ
nhất, mới có cách nhìn khách quan như chia sẻ của bạn đọc Hoang Nguyên
khi đọc "Sự "thật thà" của nhà văn Đông La": - "Lần đầu tôi thấy một bài viết điềm tĩnh, dẫn
chứng chính xác, lập luận khoa học và không mang cảm xúc cá nhân vào. Tôi từng
chứng kiến Đông La, Nguyễn Hoàng Đức xum xoe, quy phục Nguyễn Quang Thiều. Lúc
đó tôi cứ ngỡ hai tâm hồn đó cũng biết lay động và biết ngưỡng mộ sức mạnh thi
ca thực sự. Không ngờ gần đây, Đông La vì lý do đã nêu, Nguyễn Hoàng Đức vì
không được giúp in tập sách mà trở giọng ngu ngốc hệt như những kẻ bị nguyền rủa
trong lịch sử. Thơ ca vượt lên khỏi mọi tị hiềm, mọi đố kỵ ngu dốt. Tuy nhiên
đau lòng thay, như tác giả phân tích, ở đây chẳng có lý do gì liên quan đến thơ
ca thật sự cả.", hay bình luận của nhà văn Lương Văn: - “Bài viết có nhiều tư liệu quý với một thái
độ bình tĩnh chỉ nói sự thật!" ; mới có cái lắc đầu chua chát của bạn
đọc Trần Hải Sơn: - "Cái cay đắng
nhất trong bài viết này chính là sự sụp đổ của một biểu tượng tri âm. Người ta
tự hỏi, nếu một nhà văn có thể dùng những lời "đầu đường xó chợ" để
thóa mạ người mà mình từng tôn thờ, thì rốt cuộc giá trị của những lời tụng ca
trước đó nằm ở đâu? Phải chăng văn chương, dưới bàn tay của sự hằn học, đã trở
thành một thứ công cụ rẻ rúng để người ta thanh toán nợ nần tình cảm?".
Việc tôi chọn nhà thơ Nguyễn Quang Thiều làm bối cảnh để lột trần bản chất lưu
manh của Đông La nhưng Đông La lại cố tình lèo lá thành tôi bênh vực nhân chứng
Nguyễn Quang Thiều?!
Lố hơn, Đông La còn dựng chuyện tôi ca ngợi nhà thơ Trần Mạnh
Hảo xứng đáng đạt giải Nobel. Đọc Đông La lảm nhảm tôi không nhịn được cười:
"Vũ Thị Hương Mai là một độc giả của
tôi, rất thích tôi viết phê phán Nguyễn Quang Thiều, có lần giới thiệu tôi đọc
bài mà Xuyến ca ngợi thơ Trần Mạnh Hảo xứng đáng được giải Nobel. Tôi mới gởi
cho Mai một đoạn tôi chỉ ra thơ Hảo “gậy ông đập lưng ông”, “chưa sõi tiếng
Việt”, cái điều mà Hảo hay chê người khác." Khi nhà giáo Vũ Thị Hương
Mai comment: "Chú ơi anh Đặng Xuân
Xuyến không ca ngợi bác Trần Mạnh Hảo xứng đáng đạt giải Nobel. Anh ấy viết về
cuộc bút chiến giữa bác Hảo với chú Paul Nguyễn Hoàng Đức và về bài viết của
chú Nguyễn Hưng Hải ca ngợi bác Trần Mạnh Hảo chú ạ.", thì Đông La
biết trò lưu manh đã bị bóc mẽ liền vội sửa: "Vũ Thị Hương Mai là một độc giả của tôi, rất thích tôi viết phê phán
Nguyễn Quang Thiều, có lần giới thiệu tôi đọc bài mà Xuyến đăng bài người ca
ngợi thơ Trần Mạnh Hảo. Tôi mới gởi cho Mai một đoạn tôi chỉ ra thơ Hảo “gậy
ông đập lưng ông”, “chưa sõi tiếng Việt”, cái điều mà Hảo hay chê người khác."
Trong bài "Đặng Xuân Xuyến lại xuyên tạc, phạm pháp",
Đông La lộ rõ là kẻ bại hoại nhân cách, xuống cấp trầm trọng về văn hóa ứng xử
khi hả hê kể chuyện con gái còn nhỏ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhường
giường cho Đông La ngủ, chuyện vợ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ân tình lo cơm
nước cho Đông La những khi Đông La ra Hà Nội ghé nhà "ăn chực ngủ nhờ" bằng ngôn từ thô tục, bẩn thỉu, ví "trứng "bác" "quấy đều lên
trông như "cứt trẻ con".
Sự tráo trở vô ơn của một kẻ từng nhận ân tình rồi quay ngoắt lại nhổ vào bát
cơm mình từng ăn thì hành động đó rõ mười mươi Đông La là kẻ đê tiện, vong ân
bội nghĩa.
Đông La cũng thừa nhận từng ca ngợi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
"như điên" dù "đọc thơ Thiều không dễ", "không hiểu", "và chưa đọc kỹ thơ Thiều", khi
"nền tảng tri thức chưa đầy đủ và
chắc chắn" do "dốt",
do "rất sai trong quan hệ".
Vậy những lời phê bình hiện tại của Đông La lấy gì làm bảo chứng lời phê bình
nào của Đông La là "đúng"?
Rồi 5 năm nữa, 10 năm nữa, 15 năm nữa liệu Đông La có lại bảo lúc đấy (tức bây
giờ, năm 2026) do Đông La "nền tảng
tri thức chưa đầy đủ và chắc chắn", "chưa đủ bản lĩnh nhận thức", rồi lại đổ lỗi cho "đọc thơ Thiều không dễ", "khó đọc" nên mới nhắng nhít tùy
tiện chửi nhăng chửi quậy Nguyễn Quang Thiều?!
Thật vô liêm sỉ khi Đông La ngụy biện cái sai của Đông La "có tính phổ biến mang tầm nhân loại",
rồi lợi dụng uy tín khổng lồ của Einstein và Trump để ngụy tạo "chân lý". Việc lôi kéo các vĩ nhân
có những hệ tư tưởng và bối cảnh lịch sử riêng biệt vào một bài viết mang tính
công kích cá nhân không chỉ là sự thiếu tôn trọng đối với các nhân vật lịch sử
mà còn cho thấy Đông La là kẻ xàm ngôn, trơ trẽn khi đuối lý không thể phản
biện bằng lý lẽ khách quan, phải mượn cái uy, cái bóng của vĩ nhân để áp đặt ý
chí.
Ngớ ngẩn vì tự luyến nên Đông La ảo tưởng sức mạnh bản thân mới
lố bịch tự nhận mình "hơn Einstein ở chỗ biết sửa sai" mặt ráo hoảnh
không một chút xấu hổ. Sai lầm trong khoa học khác hoàn toàn với sai lầm trong
quan hệ cá nhân, nhất là trong bối cảnh Đông La cố tình đểu giả với bạn bè, ân
nhân từ những cay cú vì mưu lợi không thành. Đây là chiêu trò lợi dụng tên tuổi
vĩ nhân để ngụy tạo cho bản chất lưu manh của Đông La. Sai lầm của Einstein là
sai lầm khoa học khách quan, còn "sai lầm" của Đông La là sự tráo trở
do biến chuyển tâm lý chủ quan từ bản chất lưu manh của kẻ bệnh hoạn đầy thù
hận.
Rất nhiều nhà văn, nhà thơ như Văn Công Hùng, Sương Nguyệt Minh,
Tạ Duy Anh, Phạm Lưu Vũ, Phùng Hoài Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang
Lập,... đều tránh xa Đông La như tránh xa hủi, tránh xa bãi xú uế, không phải
họ đuối lý, họ thiếu tài mà là họ không chấp kẻ lưu manh bệnh hoạn, không muốn
để mùi xú uế từ Đông La ảnh hưởng đến không gian riêng của họ.
Vậy Đông La là người như thế nào lại bị giới văn chương tẩy chay
nhiều thế?
Mời Quý vị đọc thêm mấy bình luận dưới đây của những người hiểu
rõ bản chất Đông La nhất, trích từ web Lương Kháu Lão sẽ có câu trả lời hoàn
thiện nhất!
Nguyễn Thăng:
"Đông La tên cúng cơm
là Hùng lé. “NHẤT LÉ NHÌ LÙN”. Hùng lé ngay từ bé đã gian như quỷ, bị bắt nhiều
lần vì tội ăn cắp gà. Sau do tài cóppy giỏi, Hùng lé lọt vào đại học, học môn
hóa học. Luận văn tốt nghiếp môn hóa, Hùng lé ăn cắp của bạn. Ra trường, Hùng
lé đút lót xin được vào làm tại một viện nghiên cứu dược. Y can dự vào đường
dây buôn hóa chất nên bị đuổi khỏi cơ quan."
Mõ Nhà Sấm:
"Anh Đông La vua phản
thầy, phản bạn. Anh La từng khoe Chế Lan Viên truyền bí quyết làm thơ cho anh
ta; rằng La coi Chế như cha, như thầy. Anh Đông la này khoe rối lên rằng vua
thơ Chế truyền y bát thi ca, truyền bí mật làm thơ hay cho anh ta… Nhưng anh ta
lại mượn lời Nguyễn Quang Thiều ca ngợi anh ta thơ hay hơn Chế Lan Viên? Đến
nỗi gia đình nhà thơ Chế Lan Viên xin anh Đông La đừng mượn tên Chế Lan Viên để
bịp, để đánh bóng cho tên tuổi mờ nhạt quá vô danh của anh ta nữa. Như vậy,
Đông La phản thầy Chế còn gì?
(...) Anh La này bịa ra
những lời nào Chế khen anh ta thiên tài, nào bà Anh Thơ khen anh thơ hay nhất
nước. Nhưng anh ta lại chửi con nuôi bà Anh Thơ là cô Cẩm Thơ là con điếm (cô
này cũng làm thơ nổi tiếng gần bằng Trần Đăng Khoa hồi bé, hiện lấy chồng
Pháp).
Anh ta từng tôn nhà thơ
Hoài Anh làm thầy, làm anh nhưng rồi anh ta chửi ông này là thằng ngu."
Võ Văn:
"Đông La là một thằng
khùng khùng điên điên, suốt ngày hắn đi ra đi vô vái lạy tượng mình, tự ca ngợi
mình là thiên tài nhân loại. Y bắt vợ con vỗ tay hoan hô đồng chí Đông La muôn
năm y như tuồng cải lương."
*.
Hà Nội, sáng 09 tháng 04-2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
VÀI LỜI VỀ MẤY BÀI VIẾT
GẦN ĐÂY
CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC
Chuyện
ầm ĩ đầu năm 2019 ông Nguyên Lạc vô cớ gây sự với tôi tưởng đã chìm sâu và mãi
mãi tôi sẽ không phải nhìn thấy cái tên Nguyên Lạc (Nguyễn Lạc) như gặp phải
đại dịch thì chiều 15 tháng 11.2019, lợi dụng bài "Trao Đổi Với Nhà Thơ Nguyễn Vượng
Về Ngôn Ngữ Trong Thi Ca" của nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân
Dương đăng trên blog Bâng Khuâng, ông Nguyên Lạc lại tiếp tục lèo lá gây sự với
tôi, mà theo chữ của Nhà thơ Phạm Ngọc Thái thì đó là những trò nhố nhăng của
"thằng lưu manh láu cá vặt vãnh".
Ông
Nguyên Lạc bảo tôi "muốn tạo dáng,
muốn ta đây "riêng một góc trời". Chả sao. Nhận xét là quyền
của ông ta. Người khác thì tôi rửa tai lắng nghe chứ ông Nguyên Lạc tôi quan
tâm làm gì. Ông ta bảo tôi không sáng tạo mà là "đố chữ", rồi cao giọng "sáng tạo phải được đa số chấp thuận", chứ "khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng
kém tự nhiên" khiến "câu
thơ tối tăm, khó hiểu" bởi "ngữ
lực yếu kém của bản thân nhà thơ.". Buồn cười nhỉ? Chữ tôi dùng,
nếu bạn đọc chấp nhận thì chữ đó tồn tại, nếu bạn đọc không chấp nhận thì chữ
đó tự diệt. Can cớ gì tôi phải phụ thuộc "được đa số chấp nhận"?. Ông Nguyên Lạc không hiểu thơ tôi là
do trí tuệ của ông ta chỉ được đến vậy, sao tôi phải quan tâm?
Khi đọc
những lời "ngô nghê",
"thiểu năng trí tuệ" (chữ
Nguyễn Xuân Dương dùng) của ông Nguyên Lạc, Nhà Phê bình văn học Nguyễn Xuân
Dương đã chắc nịch:
- “Theo tôi chúng ta không cần mất nhiều thì
giờ để gọi là tranh luận hay trao đổi gì đó với ông Nguyễn Lạc vì những gì ông
ấy viết luôn là những cái ngô nghê, Ông ấy cứ như tự vả miệng mình."
Tôi đã
đọc thư bác Nguyễn Xuân trao đổi với nhà thơ Đỗ Anh Tuyến được công khai tới
hơn 30 email:
-
"Mình nghĩ có thể anh Nguyên Lạc
thấy nhiều người bình thơ của Đặng Xuân Xuyến nên anh ấy công kích Xuyến để mọi
người chú ý đến anh ấy. Nếu là người bình thường sẽ không làm thế vì thơ phải chạm
được vào trái tim người đọc thì người ta mới viết lời bình được. Và cũng còn là
cái duyên giữa người bình với tác giả nữa. Không phải thơ được nhiều người bình
sẽ là thơ hay mà chỉ nên hiểu bài thơ đó đã chạm được vào trái tim bạn đọc như
thế là tác giả đã thành công. Người làm thơ, yêu thơ nên mừng cho nhau mới phải."
Và tôi
cũng đã đọc trao đổi của soạn giả Tạ Hồng Trường:
-
"Chỉ những người đọc thoáng qua mới
tin lời ông Nguyên Lạc vì ông ấy hay lèo lá cắt đầu cá vá đầu tôm."
Mặc dù
vô cớ bị ông Nguyên Lạc gây sự nhưng tôi không phản hồi những trò "lưu manh" của ông Nguyên Lạc vì ông
ta không đáng được những người tử tế bận tâm. Nhưng ông Nguyên Lạc không dừng
lại, tiếp tục láu cá, lồng vào nhiều bài viết lèo lá gây sự với tôi, để các chủ
trang web sẽ tặc lưỡi đăng vì: đó là ví dụ cho bài viết. Thật là một kẻ lưu
manh vặt vãnh! Có 4 chữ “thầm thì”, “thầm thĩ” cũng không hiểu nghĩa, cũng
không biết trường hợp nào thì dùng “thầm
thì”, trường hợp nào thì dùng “thầm
thĩ”, vậy mà ông ta cứ lảm nhảm, lập luận ngô nghê của trí não “ếch ngồi đáy giếng” nên buộc tôi phải có
đôi lời.
Trở lại
câu chuyện đầu năm khi ông Nguyên Lạc luôn rêu rao (tới tận bây giờ) là tôi xóa
những comment của ông ta trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến là hành xử phi trí
thức (Kinh! Ông ta còn lôi 2 chữ trí thức vào để làm mầu nữa chứ). Xin hỏi Quý
vị, những comment như thế này của ông Nguyên Lạc dưới bài "MẤY “CÁI DẠI”
CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC" vào ngày 20:13:00 GMT+7 7 tháng 3, 2019 có đáng xoá để
khỏi gây ức chế với bạn đọc:
"Xin nói với bạn Đặng Xuân Xuyến đừng
"tự sướng" khoe mình là nhà Tử Vi. Bạn có đọc các bài về DỊCH và LẬP
QUẺ DỊCH của tôi chưa? Bạn có biết Kinh Dịch là ĐẠO của người QUÂN TỬ mà cụ
Nguyễn Hiến Lê thầy tôi đã nói hay chưa? Chắc bạn chưa đọc nên hành xử không QUÂN
TỬ. Tôi cũng xin nói rõ với bạn là tôi cũng có nghiên cứu về Tướng Mệnh Khảo
Luận của Vũ Tài Lục, nên nhìn nhận tướng bạn tôi cũng biết rõ bạn thuộc loại
nào. Muốn tôi nói ra không?"
Lại thế
nữa?! Ông Nguyên Lạc là học trò của Cụ Nguyễn Hiến Lê hay ông ta vơ nhằng thì
liên quan gì tới tôi? Mà nếu có thực ông ta là học trò của Cụ thì cũng be bé
cái miệng, hành xử cho đúng đạo để danh tiếng của Cụ không bị ảnh hưởng vì có
thằng học trò "khùng khùng điên điên"
(chữ nhà thơ Chu Vương Miện nói về Nguyên Lạc) nhưng lại lưu manh có số má
chứ?!
Ông
Nguyên Lạc có xào xáo chắp vá được 2 hay 3, 4 bài gì gì đó là việc của ông ta,
đem ra khoe làm gì? Tôi đâu quan tâm. Ông ta bảo tôi "tự sướng" khoe mình là “nhà
Tử Vi". Trời ạ. Tôi đã xuất bản 2 cuốn sách TỬ VI KIẾN GIẢI (260 trang,
khổ 14,5 x 20,5) và TỬ VI VẤN ĐÁP (198 trang, khổ 14,5 x 20,5) vào cùng năm
2009, được tái bản vài lần và một vài Nhà sách ở Việt Nam in lậu sách của tôi
không ít. Tôi cũng viết dăm bài riêng lẻ về môn Tử Vi nhưng chưa bao giờ tôi
nhận mình là "Nhà Tử Vi" mà
thường dùng cụm từ "người viết"
hoặc "chúng tôi", chứ đâu
hàm hồ vô liêm sỉ như cách ông Nguyên Lạc (tức Nguyễn Lạc) vỗ ngực nhận mình là
"nhà thơ", "thầy giáo", là nhà "gì
gì" đó.
Nói tới
2 chữ "nhà thơ" của ông
Nguyên Lạc tôi mới chợt nhớ ra những loạn ngôn của ông ta. Nào là phải giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt. Nào là làm người phải có lòng tự trọng, không thó
thơ, đạo ý tưởng của người khác, như thế là điếm bút, nhục lắm, phải luôn luôn
nhớ “Lời
Mẹ Dặn” của Phùng Quán.... Thế nhưng tôi lại được vài bạn hữu chuyển
cho 2 bài thơ, 1 của ông ta và 1 của Nhà thơ NP Phan.
Bài của
"nhà thơ" Nguyên Lạc (tức
"thầy giáo" Nguyễn Lạc):
HỜN DỖI
2
Nói đi em kẻo nắng phai
Chiều nghiêng bóng xế thở dài với tôi
Khẽ nhe em chuyện buồn vui
Để tôi vẫn thấy nụ cười hồn nhiên
Dỗi chi em để mưa nghiêng
Thấm thêm chút lạnh chỉ phiền muộn thôi!
Chiều nay cô lữ bên trời
Dương lam màu nhớ một thời đã xa
Nhớ làm sao mắt lệ nhòa
Thương gì đâu những xót xa tình đầu!
Dại khờ rồi cũng qua mau
Thời gian để lại nỗi sầu tóc ai
Tình đầu như sợi tóc dài
Dù màu có bạc vẫn hoài vấn vương
Sợi thương sao vẫn âm thầm
Ve sầu phượng thẩm siết lòng tôi chi?!
*
Nguyên
Lạc
Và bài
thơ của Nhà thơ NP Phan:
NÓI GÌ
ĐI...
nói gì đi kẻo nắng phai
chỉ còn lại chút trang đài đó thôi
nói gì đi dẫu buồn vui
xa xăm trong mắt nét cười an nhiên
hứa gì đi kẻo mưa nghiêng
có trong hư ảo một miền vô ưu
hứa gì đi chút niềm yêu
đã vơi đi bớt ít nhiều xót xa
nhớ gì đâu chốn cỏ hoa
tiếng chim hót cũng la đà gió sương
thương gì đâu những con đường
đưa ta về với chiều buông cuối mùa
*
NP phan
Lạ ở
chỗ là bài thơ của Nhà thơ NP Phan được sáng tác vào thời điểm: 17giờ28 ngày 01
tháng 06.2018 trong khi bài của "nhà
thơ" Nguyên Lạc được soạn vào lúc: 18giờ24 ngày 02 tháng 06.2018, chậm
hơn 1 ngày. Tôi không bình luận về bài thơ hay của nhà thơ NP Phan, cũng không
có ý kiến về bài (không biết gọi là gì) ông Nguyên Lạc đã soạn. Xin đặt 2 bài ở
đây để Quý bạn đọc thẩm định.
Ồ, mà
ông Nguyên Lạc còn khoe ông ta có nghiên cứu về "Tướng Mệnh Khảo Luận của Vũ Tài Lục" nên nhìn tướng mạo
của tôi ông ta biết rõ tôi thuộc loại nào! Còn thách đố tôi có muốn ông ta nói
ra không mới kinh chứ.
Ai
nghiên cứu về môn Tử Vi (phần nhiều) cũng nghiên cứu thêm môn Tướng Thuật để bổ
sung cho những hạn chế của môn Tử Vi, nhất là ở mục nhận diện hình tướng. Cuốn
"Tướng Mệnh Khảo Luận" của Vũ Tài Lục chỉ dành cho những
người bập bẹ tiếp cận môn Tướng Thuật, ông Nguyên Lạc đem ra khoe làm gì! Lại
còn thách đố có muốn ông ta nói rõ tôi là loại người nào không.
Trời ạ!
Già rồi còn bày đặt ham hố, còn trẻ con thế ông Nguyên Lạc?!!!
*.
Hà Nội,
chiều 13 tháng 12.2019
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
NGUYÊN LẠC -
KẺ TRỘM CẮP TRƠ TRẼN, BỈ
ỔI
Trước
khi đưa bài “Vài Lời Về Bài Viết “Vụ Án Đạo Ý Thơ” Của Ông Nguyên Lạc” lên
trang nhà Đặng Xuân Xuyến và gửi blog Bâng Khuâng, tôi trao đổi qua messenger
với nhà thơ La Thụy: - “Em viết vài dòng,
cũng chỉ gửi bác đăng trên Bâng Khuâng để ông ấy bỏ tính xâu đi.”, vì tôi
nghĩ với những chứng cứ cụ thể, rõ ràng như tôi đã nêu thì người có lòng tự
trọng sẽ công khai nói lời xin lỗi hoặc lặng lẽ sửa sai. Tôi đã cố làm bài viết
nhẹ đi bằng cách pha chút hài hước để Nguyên Lạc bớt xấu hổ mà vui vẻ “cải tà quy chính”, nhưng tôi đã nhầm khi
ông ta vẫn chứng nào tật đấy, vẫn tiếp tục giở trò lưu manh để lấp liếm những
việc làm bẩn thỉu và không từ bất cứ thủ đoạn nào để vu khống, nhục mạ người
khác, nhằm đánh bóng nhân thân èo uột như thây ma thối rữa của ông ta.
Ông ta
trơ trẽn bưng luôn những việc làm bẩn thỉu đã bị tôi lật tẩy: sửa bài để ngụy
tạo chứng cứ nhằm chối tội ăn cắp thơ và vu ngược lại cho chính người bị ông ta
trộm thơ... đổ lên đầu tôi để đánh tráo dư luận:
- Phú Đoàn và các bạn, hãy xem trò MA
GIÁO của nhóm ĐẠI BÀNG: Đây là cái trò MA GIÁO của Đặng Xuân Xuyến
khi thêm mấy câu cuối này vào bài thơ HỜN DỖI của tôi. Tự thêm rồi
tự chụp ảnh rồi phát tán khắp Email gần 100 người
- Mấy "câu thơ" con cóc này mà
dám thêm vào cuối bài HỜN DỖI của tôi, không sợ người ta cười cho
thúi đầu
Ôi ĐẠI BÀNG. Ôi Trí Thức
- Tự thêm mấy câu "con cóc" này,
tự "diễn biến", rồi tự chụp ảnh, tự phát tán khắp Email
gần 100 người. Bái phục "ngài" Đặng Xuân Xuyến dám làm chuyện
như vầy.
Vâng!
Một kẻ bỉ ổi, không có nhân cách như Nguyên Lạc (tức Nguyễn Lạc) không đáng để
tôi gọi là ông Nguyên Lạc hoặc ông ta. Từ đây, tôi sẽ gọi Nguyên Lạc là y cho
đúng tầm, đúng vị thế của y!
Tôi sẽ
bóc trần dần dần (phần nào) bộ mặt lèo lá, đểu giả, của tên lưu manh có hạng
Nguyễn Lạc (tức Nguyên Lạc) qua “Vụ Án Đạo Ý Thơ” và những chuyện bẩn
thỉu y đã làm với những văn thi sĩ mà y đố kỵ trong bài viết này và có thể sẽ
tiếp tục ở vài bài viết nữa.
Nhà thơ
La Thụy rất thật thà nên vô tư hướng dẫn cách post link lên cho mọi người cùng
xem:
- “Bài thơ HỜN DỖI 1 này có trong Ebook Một
Thời đăng, được post lại trên facebook Lac Nguyên ngày 30 tháng 5, 2018”.
(theo còm của bạn Lac Nguyen)
- Bạn chỉ cần post lại đường link này là đủ vì
"bài thơ của Nhà thơ NP Phan được sáng tác vào thời điểm: 17giờ28 ngày 01
tháng 06.2018" (theo lời của bạn Đặng Xuân Xuyến)
- Muốn có đường link dẫn, bạn vào đúng Status
đó ghi còm, sau đó vào lại chính trang face của bạn xem NHẬT KÝ HOẠT ĐỘNG và
click chuột vào hiển thị mới nhất về hoạt động của bạn.
mà
không chút mảy may nghi ngờ Nguyên Lạc đang lợi dụng sự thật thà, cả tin của
ông và những người nhẹ dạ, ngây thơ tin vào 2 chữ chân thật mà y đang diễn trò
lừa đảo.
Y trì
hoãn bằng các loại lý do để không đưa link mấy bài "làm chứng" rất là
kiểu ối giời ơi: - Như đã nói vì bài
thơ HỜN DỖI 1 - post 30/5/2018 - Status quá ngắn làm sao tạo link dẫn,
bạn chỉ cho. Hình chụp không rõ ràng sao? Làm sao chỉnh sửa ngày
được nếu cố tình muốn? Vì y thừa biết nếu đưa link ra “làm chứng” thì
y rất dễ bị cộng đồng mạng lột trần mặt nạ.
Bỉ ổi hơn,
y gây sự với nhà giáo Dương Diên Hồng vì "tội" bà đã "khen bè cánh" bài "Vài
lời về mấy bài viết gần đây của ông Nguyên Lạc", trong khi y là
bạn trên facebook với nhà giáo Dương Diên Hồng, còn tôi mới biết bà khi đọc
những bình luận của bà dưới bài chia sẻ của nhà thơ NP Phan.
Mặc dù
nhà giáo Dương Diên Hồng điềm đạm trả lời: - “Lac Nguyen tôi đã bảo giữa tôi và anh không có thành kiến. Tôi chỉ khen
bài viết của Đặng Xuân Xuyến vì tôi thấy viết rất hay!” y vẫn quyết liệt
quy kết bà đã “tử chiến” với y vì bà “đã
bấm like” bài viết của tôi, lại còn “cả
gan” khen bài tôi “viết rất hay”.
Đọc những bình luận sặc mùi hiếu chiến của y, tôi thấy có chút gì đó của AQ,
chút gì đó của Chí Phèo nhưng chỉ giống phần thú hoang đang lồng lộn trong suy
nghĩ, hành xử của y.
Tiếp
tục gây sự với nhà giáo Dương Diên Hồng bằng những lời châm chọc, đay nghiến
của kẻ lỗ mãng, y xoáy sâu vào những bình luận để bẻ cong sự vô tư thú đọc văn
bình văn của bà, rồi y quay ra la làng là nhà thơ Phan Phú "mớm lời" để tôi viết bài bôi nhọ y,
giống hệt trước kia y lu loa tôi "mớm
lời" cho nhà thơ Đỗ Anh Tuyến "xúc phạm nhân cách" y. (Buồn cười thế. Y làm gì có nhân cách
mà rêu rao bị bôi nhọ nhân cách.)
Y chưng
ra thơ của y đăng trên web này bolg kia, ví như ở blog của chị Sương Lam không hề
có "mấy câu thơ con cóc"
đó.
Y nghĩ
ai cũng ngu sẽ tin lời y? Mấy trang web đó đăng bài đúng như y vừa chưng ra vì
lúc đó y chưa đạo thơ của nhà thơ Phan Phú, hoặc y chưa bị lật tẩy hành động
trộm cắp nên những bài thơ đó là 1 thì có gì lạ. Giờ bị tôi lật tẩy hành động
trộm cắp nên y sửa lại 2 bài thơ có chung tên là DỖI HỜN trên facebook để ngụy
tạo "chứng cứ" rằng DỖI HỜN 2 là bài kế tiếp của chuỗi bài thơ DỖI
HỜN - DỖI HỜN 1, rồi nhân đà đó tố ngược lại nhà thơ NP Phan đạo thơ của y. Nếu
là người đàng hoàng thì y cho hiện công khai trở lại trên dòng thời gian
facebook mấy ngày bị tôi lật tẩy để mọi người cùng kiểm chứng lịch sử chỉnh
sửa, chưng mấy bài đăng trước kia trên mấy trang web ra làm gì để nhận thêm sự
khinh bỉ của mọi người.
Nhưng
tôi nghĩ, có lẽ 2 ngày 30/05/2018 và 19/08/2017 sẽ vĩnh viễn không được hiện
công khai trở lại vì Nguyên Lạc đã đổi tên bài, sửa nội dung để ngụy tạo
"chứng cứ": DỖI HỜN 2 là bài thứ 3 kế tiếp của chuỗi bài DỖI HỜN được
y “sáng tác” bài thứ nhất từ 19/08/2017, đến bài thứ hai ngày 30/05/2018 và bài
thứ ba vào ngày 02/06/2018 để vu vạ, tố ngược NÓI GÌ ĐI của NP Phan sáng tác
ngày 01/06/2018 mới đích thị là “đạo” chuỗi bài DỖI HỜN của y, thì bản chất
trộm cắp, trí trá, đểu giả của y sẽ bị phơi bày.
Không
chịu nhận sai để sửa sai, y tiếp tục lăng mạ tôi trên trang facebook Lac Nguyen
và comment dưới các bài viết trên trang blog Bâng Khuâng của nhà thơ La Thụy để
lấp liếm hành động trộm cắp, thói cả vú lấp miệng em bằng khẩu ngữ của kẻ đàng
điếm trơ trẽn. Tôi đành soạn cách kiểm tra lịch sử chỉnh sửa trên facebook bổ
sung vào bài viết “Vài Lời Về Bài Viết “Vụ Án Đạo Ý Thơ” Của Ông Nguyên Lạc” để
bạn đọc tự kiểm chứng những lời y lấp liếm vu vạ tôi.
CÁCH
KIỂM TRA LỊCH SỬ CHỈNH SỬA:
Bước 1:
Trước hết, bạn vào nick facebook của đối tượng, ví dụ là Nguyen Lac, nếu đối
tượng không chặn nick của bạn thì bạn sẽ nhìn thấy những chia sẻ công khai của
đối tượng. Nếu đối tượng chặn nick facebook của bạn thì bạn dùng nick facebook
của bất kỳ ai để tìm kiếm.
Sau đó,
bạn di chuột vào bên trái, phía dưới ảnh bìa, thấy hiện lên hàng chữ, ví dụ:
Lac
Nguyen - Dòng thời gian - Năm - Tháng
thì di
chuột tiếp vào năm, rồi tháng cần tìm kiếm.
Bước 2:
Tiếp theo, bạn ngược dòng thời gian đến thời gian cụ thể cần xem lịch sử chỉnh
sửa thì bạn di chuột vào 3 dấu chấm (...) bên phải, sẽ hiện ra khung hình như
trong ảnh, rồi nhấp chuột tiếp vào dòng chữ:
Xem
lịch sử chỉnh sửa
thì tất
cả những lần chỉnh sửa, những thay đổi của đối tượng với bài viết đó sẽ được
“báo cáo” cụ thể.
Đối
tượng không thể can thiệp vào những “báo cáo” đó nên để giấu nhẹm đi trò gian
xảo buộc đối tượng hoặc phải xóa, hoặc phải thay đổi đối tượng chia sẻ từ công
khai sang chỉ riêng mình đối tượng.
Sau khi
gửi bài “Vài Lời Về Mấy Bài Viết Gần Đây Của Ông Nguyên Lạc” tới mấy
trang web thân hữu, tôi nghĩ nếu Nguyên Lạc nghiêm túc nhìn nhận lại bản thân,
thôi làm điều xằng bậy với mọi người thì y có nhục mạ tôi thậm tệ tôi cũng
không viết thêm chữ nào về y nữa. Nhưng đúng như các cụ đã dạy: “Giang sơn dễ đổi, Bản tính khó dời”, y
đã vô cớ “đăng đàn” miệt thị văn sĩ Thái Quốc Mưu bằng hành động đốn mạt: lôi
chuyện đời tư của văn sĩ Thái Quốc Mưu ra xuyên tạc và lớn tiếng đe sẽ viết bài
đăng trên các trang web ở hải ngoại để nhà thơ NP Phan thân tàn danh bại, hệt
như đầu năm 2019, y đe kiện văn sĩ Thái Quốc Mưu ra tòa ở Hoa Kỳ và “có ý kiến”
để các trang web ở hải ngoại tẩy chay bài viết của tôi. Vì thế, khi đọc những
lời “vừa ăn cướp vừa la làng” của y, những chứng cứ y ngụy tạo để vu vạ, tố
ngược nhà thơ Phan Phú (NP Phan), tôi buộc phải viết “VÀI LỜI VỀ BÀI “VỤ ÁN ĐẠO
Ý THƠ” CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC” để vạch trần bộ mặt thật của kẻ trộm cắp, lưu manh,
đàng điếm, làm ô uế chốn văn chương.
Trở lại
chuyện Nguyên Lạc đe kiện văn sĩ Thái Quốc Mưu ra tòa án Hoa Kỳ để quý vị thấy
bản tính côn đồ đã ngấm sâu trong máu thịt của y.
Chuyện
cũng rất bình thường, khi Nguyên Lạc ngang ngược xúc phạm hết Nhà Phê bình Văn
học Châu Thạch, đến nhà thơ Phạm Ngọc Thái, lại sấn sổ "cà khịa" văn
sĩ Thái Quốc Mưu, rồi chuyển sang bôi nhọ, xúc xiểm tôi thì văn sĩ Thái Quốc
Mưu viết bài phiếm chỉ "Chuyện Ngày Nay". Thế là Nguyên
Lạc nhảy lên tru tréo rằng ông "đá đểu" y, "bôi nhọ" y,
"xúc phạm" đời tư của y.... Khi ông phản biện: "Phản
Hồi Bài Viết Của Nguyên Lạc - Kẻ Tự Xưng Từng Làm Thầy Giáo",
thì y huy động tất cả vốn liếng của kẻ "đầu đường xó chợ" lăng
mạ rồi tuyên bố sẽ "lôi" văn sĩ Thái Quốc Mưu ra tòa. Vốn là người
luôn tự ý thức lánh xa những bon chen vụ lợi của người đời nên ông nín nhịn,
không lời qua tiếng lại, chấp nhận "là con rùa rụt cổ" trước thái độ
xấc xược, hả hê của kẻ đốn mạt Nguyễn Lạc. Tưởng chuyện đã lâu, cũng chẳng lời
qua tiếng lại, và thi thoảng còn đàm đạo thơ văn với Nguyên Lạc nên ông không
thể ngờ mấy ngày cuối cùng của năm 2019, kẻ tiểu nhân bỉ ổi Nguyên Lạc lại
xuyên tạc chuyện đời tư của ông để "trả thù" "Phản Hồi Bài Viết
Của Nguyên Lạc - Kể Tự Xưng Từng Làm Thầy Giáo" ông viết từ 23 tháng 02
năm 2019.
Đúng
như nhận xét của Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương: - “Những gì ông ấy viết luôn là những cái ngô
nghê, ông ấy cứ như tự vả miệng mình.". Ở chuyện “Vụ án đạo ý thơ” này cũng
vậy. Y ngụy tạo chứng cứ để tung tẩy khắp nơi tố ngược NP Phan "đạo
thơ" của y nhưng do quá nhiều lỗ hổng cần phải "bịt kín" những
trí trá, lưu manh nên y loạn trí mà buột miệng thừa nhận khi bình luận với
chiến hữu: - "Lần trước cách đây hơn
nửa năm (đúng ra là hơn một năm - Đặng Xuân Xuyến) tôi đã "hạ mình" xin giảng hòa, không giải thích gì cả, vì sợ
bạn bè mà đưa đến "chiều hướng xấu" thì không tốt. Hôm nay, thấy
người khác - Đặng Xuân Xuyến - mạ lị
tôi vô cớ, ông thi sĩ lại gợi lại chuyện này, không phải muốn xí phần sao?
Không phải "dây máu ăn phần" sao? Chuyện "chẳng đặng đừng",
tôi phải "tự biện bạch" cho rõ ràng để mọi người nhận xét và kết luận.".
Cũng giống như những ngày đầu tháng 06.2018, y bả lả xin lỗi nhà thơ Phan Phú
bằng khẩu ngữ rất bợ đỡ và đểu giả của kẻ trai lơ: -"Tôi xin xác nhận là có sự trùng hợp ở các từ nắng phai, mưa nghiêng,
nhớ gì đâu... nhưng tôi nghĩ đó là những từ bình thường, ai cũng sử dụng được.
Lại nữa bài thơ của anh NP Phan cao xa hơn nhiều, thơ tôi sao sánh bằng. Giả dụ
tôi có mượn từ của anh NP Phan thì anh chắc cũng không có gì phiền bởi vì thơ
anh hay nên người ta mượn phải không? Nên hãnh diện chớ, phải không NP Phan?".
Thế mà y trở mặt loạn ngôn “kết tội” Phan Phú thế này:
“Hình như tôi thấy thấp thoáng đâu đây,
trong bài thơ của NP Phan bóng dáng người con gái của tôi - hy vọng
rằng tôi nghĩ sai - người con gái ngây thơ vụng dại trong bài thơ HỜN
DỖI 1.
- Người con gái của tôi còn ngây thơ lắm,
chưa từng trải việc đời. Xin đừng "hiếp dâm chữ nghĩa" - mượn
cụm từ của cố triết gia Phạm Công Thiện - biến người con gái chân
chất 14 - 15 tuổi, học lớp 8, lớp 9 nghèo hèn, chưa biết đau khổ cuộc
đời của tôi thành cô tiểu thư khuê các, "trưởng giả", hay
thành nữ "triết gia, đạo sư" lõi đời thông qua cách gán ghép
những chữ "cao siêu" hay xin lỗi "sáo rỗng":
"Cười an nhiên", "hư ảo", "miền vô ưu",
"trang đài" vân vân ... Sao nỡ khoát lên người con gái ngây thơ
của tôi sắc màu sặc sỡ, lòe loẹt như thế? Tội nàng quá đi.
- Những chữ tôi "cố tình" dùng
lại để nhắn nhủ: "Nhớ gì đâu", "thương gì đâu" ... chỉ
là những chữ bình thường ai cũng nói, ai cũng hiểu, đâu của riêng ai;
sao nói tôi là "đạo thơ"?
Riêng về các cụm chữ: Nắng phai, chiều
nghiêng, mưa nghiêng ... tôi cũng đã sử dụng trong bài HỜN DỖI 1 hơn một
năm về trước - trước bài thơ của NP Phan - tôi có nói gì đâu?”
Vâng!
Chính vì y hùng hổ “tuyên bố”: “Riêng về
các cụm chữ: Nắng phai, chiều nghiêng, mưa nghiêng ... tôi cũng đã sử
dụng trong bài HỜN DỖI 1 hơn một năm về trước - trước bài thơ của NP
Phan - tôi có nói gì đâu?” nên y đã đổi tên bài HỜN DỖI trên dòng thời
gian ngày 30/05/2018 thành HỜN DỖI 1 và sửa lại nội dung cho khớp với bài NÓI
GÌ ĐI của NP Phan để ngụy tạo chứng cứ, phủ nhận DỖI HỜN 2 (y đổi tên thành
KHÚC TÌNH 2 khi gửi đăng trên blog của chị Sương Lam) đã đạo NÓI GÌ ĐI và tố
ngược NP Phan “đạo thơ” của y.
Nhưng
khi bị tôi lật tẩy trò ngụy tạo chứng cớ, y liền thay đổi chế độ chia sẻ bài
DỖI HỜN từ công khai sang một mình để lấp liếm chuyện trí trá bị tôi phát hiện.
Y lu loa tôi tự dàn dựng, tự ghép ảnh nhưng y không chỉ ra được tôi ghép ảnh
chỗ nào? Rồi y tung ra bằng chứng bài DỖI HỜN đăng trên trang Art2all và blog
của chị Sương Lam (y đổi tên là KHÚC TÌNH 1) rồi bù lu bù loa rằng y có sửa chữ
nào đâu? Vậy sao y không cho hiện công khai trở lại bài DỖI HỜN trên dòng thời
gian facebook ngày 30/05/2018 để mọi người cùng vào kiểm chứng lịch sử chỉnh
sửa? Và y nói sao với lời “kết tội” nhà thơ Phan Phú: “Riêng về các cụm chữ: Nắng phai, chiều nghiêng, mưa nghiêng ...
tôi cũng đã sử dụng trong bài HỜN DỖI 1 hơn một năm về trước - trước
bài thơ của NP Phan - tôi có nói gì đâu?” trong bài “VỤ ÁN ĐẠO Ý THƠ”
y đã dày công dàn dựng?
Thưa
Quý vị!
Nguyên
Lạc đúng là thằng trộm cắp trơ trẽn, bỉ ổi hết mức!
*.
Hà Nội,
chiều 01 tháng 01.2020
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
. THƠ TRẦN ĐỨC TÍN: VÀI
TRAO ĐỔI
VỚI VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Trần
Đức Tín là nhà thơ trẻ, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1989, gốc người Cà Mau, vào
hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Thơ của anh xuất hiện khá nhiều
trên các diễn đàn, các trang báo trực thuộc các hội văn nghệ do nhà nước quản
lý. Anh viết theo kiểu thơ hình thức diễn giải (hậu hiện đại), lối thơ mà các
nhà thơ trung thành với lối thơ truyền thống như Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng,
Nguyễn Khôi, Triệu Lam Châu... gọi là "thứ
giặc thơ", thứ “thơ vô lối",
“thơ tân con cóc”, “thơ phá tiếng Việt”. Anh tham gia khá
tích cực vào các cuộc thi thơ do các hội văn nghệ trong nước tổ chức, đã giành
được vài giải và cũng gặp phải đôi ba ì xèo, kiện tụng quanh chuyện thơ dự thi
của Trần Đức Tín có "những nét hao
hao giống với con cái nhà người ta.".
Bài
viết này là trao đổi của tôi với tác giả Vũ Thị Hương Mai về thơ của nhà thơ
trẻ Trần Đức Tín (bút danh Khét) khi chị comment rất thẳng thắn dưới bài viết
""Lạc" của Trần Đức Tín" trên trang facebook của tôi.
Comment
đầu tiên tác giả Vũ Thị Hương Mai viết: "Câu “Bụt / tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió / ăn hết
những yêu thương” đọc nghe rất ngô nghê, cũ không ra cũ, mới không ra mới, giả
tạo cảm xúc và màu mè làm dáng. Đừng nói đây là câu thơ chứa nhiều ẩn dụ phải
thật suy tư mới tìm ra nghĩa bóng núp trong thơ như cách nói ngụy biện, bao che
cho những cách làm mới thơ để phá tiếng Việt của các giọng thơ cùng đẳng cấp
với "Mẹ tôi chửi kẻ trộm". Đây không phải là câu thơ “khó hiểu” mà là
câu nói lung tung, rất tối nghĩa."
Đúng là
thơ của Trần Đức Tín có khá nhiều câu lan man dài dòng diễn giải như văn nói,
hoặc tối nghĩa hoặc khó hiểu và khó cảm, khiến người đọc như ú ớ đi trong mê lộ
chữ nghĩa nhảy nhót điệu đà nhưng lại không có ý hoặc ý gượng ép chắp vá nên
nhiều bài vừa đọc xong đã quên ngay:
- “chúng ta ăn trên những xác người nhé / không
/ chúng ta không phải kền kền / vậy chúng ta là gì / như mọi sinh vật khác / mở
mắt và đi / làm thứ gì đó / đại loại, mâu thuẫn / và nhốt tối trong những bức
tường” (Giấc mơ ký sinh)
- “loài người sinh ra / để lẩn trốn / nghệ
thuật sinh ra / để đào thoát” (Khi ta viết chữ)
- “bạn hãy nhìn đi / nghệ thuật sẽ bị hủy diệt
bởi chính trị / và giáo lý nào đó đã khiến chúng ta đấu tranh.” (Trên môi
em tối cổ)
- “bài thơ đã mặc chiếc áo quá rộng / khi nó
không có thuốc súng / không có điểm nhọn / như cậu học sinh biết yêu lần đầu /
và bị mẹ cấm / cậu không cần lời ngợi ca, giấy khen và điểm” (Bài thơ cần
lỗ thủng)
- “những lần chơi 5 - 10, thằng cu quẹo đã chui
vào đống rơm / và dĩ nhiên, lần nào nó cũng thắng / phần thưởng là trận đòn của
mẹ nó / vì mấy lần hụt hơi trước sàn lãng tưởng nó té xuống sông / hồi nhỏ”
(Bạn hãy kết liễu nó)
- “cố quận mặc áo gì / sinh ra tôi ở câu hò nửa
đen nửa trắng / mạ không còn non để mọc chân làng / chín nhánh đêm đêm vỗ lên
mái tóc / đứa con rơi của đồng bằng / ở đậu nhịp song lang” (Đừng mang tôi
về cố quận)
- “tôi đã nói với em / quy tắc chúng mình chỉ
một / đẻ cho anh đứa con / chính nó cũng phá bỏ mẹ cái quy tắc.” (Quy tắc
của hoa ngón)
-
"không / chúng ta không thở chỉ để
chết / mắt môi, con tim, lý tưởng này không sinh ra để bắn nhau"
(Không bao giờ là súng)
(....)
Tôi
cũng không thích thơ kiểu hình thức diễn giải nhưng vì quý nhau mà gắng đọc,
gắng đánh vật với câu chữ rắc rối cố tạo bí hiểm của dòng thơ "hậu hiện
đại" nhưng tác giả Vũ Thị Hương Mai cho rằng: "Câu “Bụt / tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió / ăn hết
những yêu thương” đọc nghe rất ngô
nghê, cũ không ra cũ, mới không ra mới, giả tạo cảm xúc và màu mè làm dáng.
.... là câu nói lung tung, rất tối nghĩa." thì chưa công bằng với nhà
thơ Trần Đức Tín bởi "Ông Bụt" nhắc đến trong bài thơ LẠC Không phải
là ông Bụt trong truyện cổ tích mà Tín (Khét) chỉ mượn hình ảnh "ông
Bụt" để nói chuyện đời, chuyện niềm tin bị dẫn dắt, lừa dối trong xã hội
hiện đại như tôi đã viết trong bài ""Lạc" của Trần Đức Tín":
""Bụt" trong truyện cổ tích là
một ông Tiên có phép nhiệm màu luôn chớ che, bảo vệ, luôn đem đến những yêu
thương, hạnh phúc cho con người còn "Bụt" trong "Lạc" của
Khét lại là một ông Bụt “trơ vơ”, bất lực “tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con
diều ăn gió”, "ăn hết những yêu thương."... Phép nhiệm màu của Bụt,
của ông Tiên trong niềm tin ngàn đời của người dân Việt đã bất lực trước sự
hoành hành đang chiếm thế thương phong của cái ác.
Đọc những câu thơ này của Khét, tôi nhớ hình
như đã nghe ở đâu đó, đọc ở đâu đó lời ngợi ca về một "ông Tiên", một
ông "Bụt" hiện hữu giữa đời thường còn nhân đức hơn nhiều ông tiên,
ông "Bụt" trong truyện cổ tích… nhưng mà suốt từ sáng đến giờ tôi vẫn
không thể nhớ ra."
Hay như
comment khác của tác giả Vũ Thị Hương Mai: "Lại còn cái câu "thèm lời à ơi, câu chuyện bà kể dù cổ tích không
thiêng" rất phản cảm. Xưa tới nay, những câu chuyện cổ tích có giá trị rất
lớn trong việc vun đắp ước mơ, giáo dưỡng nhân cách tốt đẹp cho trẻ em vậy mà
"nhà thơ cách tân" Trần Đức Tín, nghe đâu còn từng làm thầy giáo,
viết câu thơ nhổ toẹt vào văn hoá của nhân loại, vậy mà anh cũng tán được.
(...) Em không hiểu loại thơ vớ vẩn này mà cũng được báo chí lăng xê."
thì có lẽ cũng vì không thích dòng thơ "hậu hiện đại" mà chị trách cứ
Khét chăng?! Chuyện "cổ tích" trong "Lạc" là Khét
"mượn" để nói về niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai tươi đẹp của
con người ở xã hội hiện tại là thứ "bánh vẽ" bị đánh tráo, cướp
đoạt... nên tôi viết: "Khét viết
tiếp ước mơ của "những đứa trẻ" tự bỏ nhà "đi hoang":
"thèm lời à ơi, câu chuyện bà kể" bằng tiếp tục ý thức tự đánh lừa
niềm tin vì đã biết "dù cổ tích không thiêng", vẫn cố bấu víu vào hy
vọng huyễn hoặc sẽ có được chút phép nhiệm màu của những câu chuyện "cổ
tích" để có được cuộc sống bình thường với “mẹ”, với Quê hương...."
Vâng!
Đúng như tác giả Vũ Thị Hương Mai nhận xét là phần lớn ngôn từ thơ của nhà thơ
Trần Đức Tín giống như những con chữ rời rạc, không có cảm xúc, đọc lên cứ trơn
tuột khỏi đầu vì những con chữ đó không phải chữ của thơ, chỉ hao hao những câu
văn nói lủng củng chắp vá vô hồn.
Có lẽ
không làm chủ được cảm xúc hay không có cảm xúc hoặc cảm xúc chưa tới nên thơ
của Trần Đức Tín nhạt và hời hợt, thậm chí cả những câu nói lảm nhảm cũng được
anh dễ dãi đưa vào “thơ”. Tín chất vấn H. những câu thừa thãi: -"H ạ / ta sẽ đóng tất cả cửa / và đừng mở mắt
/ ta là gì nếu một ngày quên sống?” (Gửi H). Rồi Tín tự bạch, Tín sợ con
người 2 mặt xấu xí đến ghê sợ của chính mình: - “rằm / tôi lễ chùa bằng chiếc lá đa mang che mắt phật / cuối tuần / tôi
quét lời xưng tội ra đường cho xe cán / và đêm nào / tôi cũng sợ tôi” (Nước
mắt mang hình nhau thai). Đôi lúc lại là tâm trạng bất lực mà buông xuôi với
những câu than thở luẩn quẩn loanh quanh: -“Đêm
và em: là hai tên phản bội / tôi có khóc đứng ngồi cũng thương nhớ cả hai.”
(Đêm và em) hoặc đứng lẩm bẩm một mình những câu nói lộn xộn vô nghĩa: "không / chúng ta không thở chỉ để chết / mắt
môi, con tim, lý tưởng này không sinh ra để bắn nhau" (Không bao giờ
là súng). Cũng có khi Tín ấm ức ngửa cổ mà vu vơ chửi đổng: “tôi nói với em / quy tắc là thứ mẹ gì mà kìm
nén chúng ta” (Quy tắc của hoa ngón), rồi như hớn hở với “chân lý” phải tốn
bao công sức mò mẫm anh mới phát hiện ra mà tuyên bố chắc nịch: “tôi đã nói với em / quy tắc chúng mình chỉ
một / đẻ cho anh đứa con / chính nó cũng phá bỏ mẹ cái quy tắc.” (Quy tắc
của hoa ngón). Tín đưa triết lý vào "thơ" nhưng đó là thứ "triết
lý" phi lý với thực tế, còn bao hàm cả yếu tố tiêu cực trong ý thức bảo vệ
Tổ Quốc nếu Đất Nước không may gặp nạn giặc ngoại xâm: -"khi tôi cầm viết / không phải là súng /
không bao giờ là súng… / nếu phải bắn / bài thơ sẽ tự bắn mình đầu tiên / và
nhất quyết không bôi thêm vệt máu nào vào lịch sử" (Không bao giờ là
súng). Và hồn nhiên với tinh thần của nhà hiệp sĩ xứ Mantra mà "ngạo
nghễ" khẳng định Khét (tức Trần Đức Tin) sẽ trường tồn cùng dòng chảy của
lịch sử: -"nếu có thể / hãy chôn tôi
với núi non” (Này em).... Nhưng không biết vì tâm lý "mặc cảm thân
phận" hay vì những nỗi đau thầm kín nào đó đã giày vò suốt năm tháng tuổi
thơ mà thơ của Khét luôn phản chiếu những hình ảnh tiêu cực của tâm thế tự ti,
bạc nhược của kẻ thất bại trong cuộc đời:
- “chín nhánh da vàng / chúng con: bọn bỏ quê /
mót trăng trên đại lộ / đội lên đầu / rồi đấm ngực mình” (Trăng quê)
- “10 năm biệt quê / lủi thủi cúi đầu”
(Khói)
- “như đêm nay / chúng ta đi vào rừng / và ngồi
khóc" (Phục sinh)
-
"cho tôi vay giấc mơ của em đi / tôi
nghèo nàn cõng trên lưng ngàn năm hạt lép / không dám quay về gặp mẹ / không
dám chạm mặt quê hương / tôi đi như đứa mồ côi / dưới gầm trời chỉ còn tiếng
cúm núm...” (Cho tôi vay giấc mơ)
(....)
Những ý
thơ tủn mủn, gượng ép, những hình ảnh u ám, xám xịt, những cảm giác lạc lõng,
tủi hờn... trong những câu thơ không được viết bằng sự sáng tạo mà chỉ là viết
khác đi nên những câu thơ na ná vay mượn xuất hiện trong thơ của Trần Đức Tín
khá nhiều:
-
"lạy hiên trước / lạy vườn sau /
đừng phau phau trắng làm đau ruộng đồng" (Sinh nhật Mẹ)
-
"tôi thương tôi: cả đời rời tổ / đêm
giật mình ướt mấy sợi rơm khô." (Thưa mẹ, con về)
-
"tôi dựng căn nhà hoang trên triền
núi / có cành khảo quang trổ về hướng cửu long” (Tiếng đàn khảo quang)
-
"bỗng nghe lá rụng giật mình / Phật
cũng như lá lặng thinh mà buồn" (Vào chùa)
-
"tôi / đưa tay / khụy gối / lạy hiên
nhà / tôi đi" (Tôi đi)
-
"tôi về ngồi cùng một con ma núi/
mới hay cổ tích / chết yểu / trên tay người" (Ngồi cùng ma núi)
- “Cho tôi vay giấc mơ của em đi / tôi nghèo
nàn / giấc mơ cũng khô cạn.” (Cho tôi vay giấc mơ)
- “khi chết / đừng mang tôi về cố quận / hồi
kinh chiều là lưỡi dao lam...” (Đừng mang tôi về cố quận)
- “mọp quỳ trời đất mênh mông / lạy mẹ / con đã
/ lưu vong quê mình” (Lạy mẹ: con cũng đã lưu vong quê mình)
(....)
Vì muốn
gây ấn tượng thơ của mình “mới, lạ”,
Khét (Trần Đức Tín) đã viết những câu thơ phản cảm, miệt thị dân tộc mình bằng
những câu thơ dị biệt mà nhà thơ, nhà báo Ngô Đức Hành đã không tiếc bỏ công
chăm chút liệt kê để phong thánh cho thơ của Trần Đức Tín bằng những chữ diêm
dúa rằng “tư tưởng thơ” đã “vượt lên mọi không gian cụ thể, dành cho
chúng sinh, chủng tộc da vàng, đang quần cư và mơ ước” trong bài viết “Khét,
có khi ta tự sinh ra mình”. Và ngay sau đó nhà thơ Ngô Đức Hành đã
không ngại ngùng mà ngợi ca “Khét là nhà
thơ của chất vấn, tự phản biện”. Tôi không biết nhà thơ Trần Đức Tín “chất vấn, tự phản biện” những gì nhưng
cách anh lôi người Việt ra để miệt thị, xúc phạm như những câu được nhà thơ,
nhà báo Ngô Đức Hành trích dẫn dưới đây thì thật không ổn:
- “điều giỏi nhất của giống loài mình
là làm đau người khác
phải không tôi...”
(Giống
loài)
- “tôi thấy người Việt
gọt chân cho vừa giày
gọt màu da cho lờ lợ tổ tiên”
(Lờ lợ
tổ tiên)
- “đêm nay
ăn hết những giấc mơ có đốm
còn sót lại đôi mắt người Việt
nhìn chằm chằm vào tôi”
(Giấc
mơ có đốm)
Đó có
thể là lối sống giả dối, tệ bạc, “biến
thái trong tâm hồn, trong văn hóa” của Khét (Khét, có khi ta tự sinh ra
mình - Ngô Đức Hành), của một số cá thể trong cộng đồng người Việt nhưng nhà
thơ Trần Đức Tín không nên viết những câu miệt thị, xúc phạm người Việt Nam như
thế vì những biến thái đấy không phải là đại diện cho tâm hồn, văn hóa của đại
đa số người Việt!
Mươi
ngày vật lộn đọc thơ Khét trên facebook để hiểu, để cảm thơ của Trần Đức Tín,
tôi cũng đã tìm được những câu thơ găm sâu vào trí nhớ người đọc:
- “có phải mẹ đã đan cái nia bằng mảnh vụn thời
gian / chuốt từng sợi xát vào tim cái nhớ” (Cái nia của mẹ)
- “đưa mẹ về qua đồng sau nhà ngoại / rơi một
cánh cò mà loạng choạng cả quê hương” (Ngày mẹ về quê)
-
"“ở quê nhà / cha mẹ ổn hay không /
bão có giật giông đau cái kèo cái cột / mưa có dột mẹ mang đêm ra hứng / làm gì
còn cái thau nào không đầy buồn / đôi mắt mẹ rưng rưng” (Mùa bão)
- “thương chiếc lá rơi ngủ vùi trên phố lạ /
nửa mùa ngâu em mang về giấu bên ô cửa sổ / tôi chưa kịp buồn đã ướt nửa bơ vơ”
(Sài Gòn bạt mạng cũng mình ên)
- “tôi đã kịp nói gì đâu mà sông chảy buồn biền
biệt / bụi cỏ dại trước nhà lại cựa vào lòng gió rồi tự đau.” (Tôi rạ rơm
mình lam triền sông khô đáy)
- “cơn bão đầu tiên anh đón nơi đất khách /
nghe là lạ từng hạt mưa giăng mắc / lắm lúc trở mình đau hơi gió xa xôi”
(Mình ơi bão qua rồi)
- “chạy tìm em trong chập chũng phận người /
anh vấp ngã giữa minh mông sóng phố / khản đến buốt lòng anh cố gọi: / mình ơi!”
(Mình ơi bão qua rồi)
Nhưng
thật tiếc đấy lại là những bài thơ Khét viết từ những năm Khét chưa được xướng
tên trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ của hội nhà văn Việt Nam. Có lẽ những
lời tung hô vì nhiều lý do của các bạn thơ đã làm Trần Đức Tín ngất ngư trong
ánh hào quang của thế giới ảo nên thơ của anh ngày càng lún sâu vào rối loạn ngôn
từ?!
Là bạn
trên facebook của Tín, cũng rất yêu quý Trần Đức Tín, tôi mong lắm được gặp lại
Khét của những ngày anh mới chân ướt chân ráo từ Cà Mau về nhập cư đất Sài Gòn!
*.
Hà Nội,
sáng 24 tháng 12-2022
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
Phần 2: CẢM NHẬN
1. Về
phong cách bình thơ của Châu Thạch
2. Đọc
Nguyễn Xuân Dương bình thơ
3. Thầy
phong thủy Bùi Đồng và những comment bình thơ
4. Yếu
tố đồng tính trong thơ Đỗ Anh Tuyến
5. Thơ
Nguyễn Văn Song viết về mẹ
6. Thơ,
Em và Quê hương trong thơ Trần Vấn Lệ
7. Một
chút tâm sự khi đọc thơ Nguyễn Tuyển
8. Vài
cảm nhận về thơ Văn Thùy “dị nhân”
9. Biển
của Nguyễn Thanh Lâm trong Rừng xanh mưa
10. Vài
cảm nhận về thơ Trần Mai Ngân
11. Về
truyện ngắn Lê Mai
12, Vài
cảm nhận về tập thơ “Nhà không có đàn bà”
13. Vài
chuyện ngoài lề bài thơ “Đừng đi”
14. Cảm
nhận khi đọc tập thơ “Sóng ngầm” của Ngô Nguyễn
15. Một
chút tâm tình về thơ Mạc Phong Tuyền
VỀ PHONG CÁCH BÌNH THƠ
CỦA CHÂU THẠCH
Khi tìm tài liệu đọc để
viết bài CHỮ TÔI, CHỮ TA VÀ CÁI TÂM LÀNH, tôi chợt có ý định thử tìm hiểu về
phong cách bình thơ của nhà phê bình văn học Châu Thạch nên cần mẫn ngồi đọc
130 bài bình thơ của ông. Đọc xong, tôi phấn chấn, nảy thêm ý định “tận dụng sự
đọc 130 bài bình thơ” để viết một bài làm “kỷ niệm”... Tôi điện gặp nhà phê
bình Châu Thạch, nói ý định của mình, ông cười sảng khoái: - “Vâng! Đặng Xuân Xuyến cứ viết theo đúng như
những gì Đặng Xuân Xuyến cảm nhận về Châu Thạch, như thế mới quý. Cám ơn Đặng
Xuân Xuyến trước nhé.”.
Tôi liền cặm cụi ghi lại
những cảm nhận của mình về phong cách bình thơ của ông. Vì đây là bài cảm nhận
của một đọc giả về một tác giả nên cấu trúc bài viết và những dẫn giải đưa ra
sẽ không mang tính nghiên cứu khoa học, nên bài viết sẽ có những hạn chế, những
thiếu sót khiến bạn đọc không được vừa ý.
&.1
Đọc những bài bình thơ
của tác giả Châu Thạch, tôi hay gặp (nhiều) cách ông giả định khi bình thơ, tôi
tạm gọi đó là phương pháp giả định để liên tưởng và giả định để gợi mở trong
cảm thụ thơ văn. Có thể nói, đấy chính là phong cách đặc trưng, là cách nổi
trội trong phong cách bình thơ của tác giả Châu Thạch. (Đây chỉ là quan điểm cá
nhân của tôi khi đọc Châu Thạch bình thơ, không là bài phê bình của người viết
phê bình, vì thế “thuật ngữ” giả định để liên tưởng, giả định để gợi mở và một
số “thuật ngữ” khác sẽ dùng trong bài viết nếu chưa sát nghĩa hoặc không đúng,
mong quý vị thể tất.)
Chẳng hạn, khi bình bài
thơ Bến My Lăng của Yến Lan, ông đã dùng phương pháp giả định để liên tưởng khi
tiếp cận với ý thơ (tứ thơ):
“Ông lão vẫn say trăng,
đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi
bến My Lăng,
Tiếng gọi đò, gọi đò như
oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả
ngành trăng.
Khổ thơ này cho ta liên nghĩ đến điều gì? Liên nghĩ đến vận mệnh.
Vận mệnh của một cuộc gặp, vận mệnh của một đời người, vận mênh của quốc gia
không tùy thuộc vào ta, có khi tùy thuộc vào phút giây nào đó. Bài thơ không
cho ta biết hai người có liên quan nhau không nhưng bài thơ cũng cho ta đoán
định đây là hai con người nghĩa khí. Một người có học, canh cánh bên lòng nổi u
uẩn. Một người đang mang trọng trách trong mình. Nếu họ gặp nhau và đưa nhau
qua đò biết đâu sẽ làm việc lớn, và chuyến đò kia sẽ là chuyến đò định mệnh. Vì
họ không gặp nhau, vì định mệnh không cho họ hội ngộ nên ông lái đò phải:
Bến My Lăng còn lạnh, bến
My Lăng
Ông lái buồn đợi khách
suốt bao trăng.
Như vậy, người khách kia đi đâu không biết nhưng ông lái đò đã phí
cả thơi gian, phí đi kinh sử, mất đi chí lớn, u uất nép mình chèo đò bao năm
trên bến My lăng để đợi một người khách sang sông, người khách sẽ làm cuộc đời
ông thay đổi. Đó là nhân vật nào ta đâu biết. Một tri kỷ? một đồng chí? Một
lảnh tụ chăng? chứ dứt khoát không phải chỉ là một chàng kỵ mã bình thường.”
Đúng ý hay sai ý của tác
giả thơ chưa biết nhưng trong trường hợp này, thì phương pháp giả định để cảm
nhận Bến
My Lăng theo cách của tác giả Châu Thạch là cách tiếp cận hợp lý.
Hay như khi bình Một
Buổi Trưa của Bùi Giáng, mà theo Châu Thạch, thì đó là một bài thơ hay
nhưng rất bí hiểm, khó lý giải trong số “những
bài thơ tỉnh táo của Bùi Giáng”. Và để bình bài thơ này, tác giả Châu
Thạch đã vận dụng phương pháp giả định để liên tưởng, giả định để gợi mở, để
“cảm” Một Buổi Trưa.
Xin mời cùng đọc trích
dẫn:
“Em có định sẽ cùng ai kể
lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa
chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn
mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở
nơi nào
“Em có định sẽ cùng ai kể lể” là một câu nghi vấn mà
không có dấu hỏi, nó có công dụng cho ta biết tác giả không trực
tiếp hỏi em mà tự nhủ trong lòng mình. Câu thơ này cũng cho ta một
phỏng đoán có thể em đang ở đó và cũng có thể em không có đó,
nghĩa là tác giả đang một mình giữa bao la suy nghĩ về em. “Em” trong
ba câu thơ còn lại như là một bóng ma. Bóng ma có một cuộc đời “hư
huyễn giữa chiêm bao”, sống ở một vùng “hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ
lệ” mà nơi đó là một nơi có thể hiểu là nơi vô định vì nó
có “một mùi hương nồng tụ” mà tác giả không biết “ở nơi nào”.
Vế thơ này cho ta cảm giác gì? Cảm giác một bóng người
lãng đãng trong một khung trời ảm đạm. Và cho ta một cảm nhận gì?
Cảm nhận đây là linh hồn của tác giả. “Em” ở đây không ai khác là tâm
thần của người nằm mộng. Cái tâm thần đó đã trải qua bao hệ lụy của
cuộc đời, nay nó bước ra từ tâm tác giả và hóa hình vào trong
cơn mơ ấy. Cái tâm thần đó u ám trong lòng tác giả, nay nhân dịp thể
xác êm ái trong giấc trưa, nó hiển hiện trong cơn mơ làm nên một bóng
dáng của bao điều hệ lụy.”
Cũng dùng phương pháp giả
định để cảm thụ, Châu Thạch đã thả nguồn cảm hứng của ông lạc trôi theo cánh “Chuồn
Chuồn bay...”, phiêu cùng thơ Trần Mai Ngân đến với cõi mộng:
“Chuồn chuồn mà bay được đến cổng trời là chuyện không thể vì thân
nó quá nhỏ, cánh nó quá mỏng. Vậy chỉ có con chuồn chuồn hóa thân vào
linh hồn tác giả thì mới đến được cổng trời trong mơ ước. Con chuồn chuồn bây
giờ trở nên vô hình vì nó nằm trong ảo tưởng. Đây thật sự là một giấc mơ với
muôn vàn khắc khỏai. Đây thật sự là tấm lòng ăn năn của người trong cuộc, ăn năn
vì số phận ly tan, duyên trời chia cách chớ không phải ăn năn vì phụ bạc tình
nhau. Bởi vì con chuồn chuồn đã yêu sâu đậm và thủy chung đến suốt một đời: “Ví
dầu…dẫu mộng không thành/ Buồn, vui vẫn đậu…ngọt lành vẫn xin”. Chuồn chuồn mà
bay đến cổng trời cũng có thể hiểu được là người xưa có thể đã trở thành người
thiên cổ không còn ở thế gian. Câu chuyện chẳng khác chi Điệp ngày xưa đã đến
cổng chùa để tạ lỗi với Lan. Điệp còn biết có Lan khi dây chuông bị cắt
đứt nhưng con chuồn chuồn của Trần Mai Ngân chỉ đến cổng trời trong mơ ước mà
thôi. Chính hình ảnh đó cho ta hiểu được niềm quặn thắt triền miên của người ở
lại giữa cuộc đời nầy. Hình ảnh cánh chuồn chuồn chuồn mỏng manh mà bay đến tận
cổng trời cũng cho ta thấy được tình yêu vĩ đại chất chứa trong lòng người đi
tìm quá khứ. Vế thơ thứ nhất đưa con người vào mộng, vế thơ thứ hai đưa con
người vào đau, một nỗi đau lớn chất nặng trên cánh con chuồn chuồn bé bỏng. Cái
đẹp được pha trộn nỗi đau làm tăng thêm nỗi đau và nỗi đau làm tăng thêm cái
đẹp. Người đọc thơ ở đây sẽ hưởng được thi vị trong nỗi đắng cay vì những câu
thơ rất đẹp lướt qua một cuộc tình ngang trái.”.
&.2
Tuy phương pháp giả định
được ông vận dụng khá nhiều trong các bài bình thơ nhưng không phải phương pháp
này được ông ưu tiên làm chính yếu, mà trong nhiều trường hợp, ông đã linh hoạt
khi tiếp cận để tìm tòi, khám phá sự “đặc biệt”, tinh tế về cấu tứ, âm điệu, kỹ
thuật... của bài thơ, lấy đó làm “nguyên liệu” cho việc “cảm” và bình thơ. Đấy
cũng là một điểm nhấn đáng lưu ý trong phong cách bình thơ của Châu Thạch.
Gặp được bài thơ hay, ông
phấn khích, ông “sướng nâng” như bị “lên đồng”. Chẳng hạn, khi đọc “Thềm
Xưa, Em Đợi Người Về”, trước kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ khá “đắc địa” của Hà Nhữ Uyên, ông như chịu
sự tác động của một loại chất kích thích cực mạnh, buộc ông “tự nguyện” thả hồn phiêu cùng Hà Nhữ
Uyên, “tự nguyện” “lên đồng” cùng Hà Nhữ Uyên:
“Thú thật, bốn câu thơ ở vế đầu đã làm tôi sướng nâng và đọc những
vế thơ kế tiếp tôi có cảm nhận mình đã thèm, đã thèm như chất kích thích đầy
hương vị của “Ly phin đá nhẩn nha từng giọt đắng” ngấm vào trong thớ
thịt:
Em đợi người bên Thềm Xưa
trầm lắng
nhặt bâng quơ hạt nắng
ngủ trên bàn
ly phin đá nhẩn nha từng
giọt đắng
nhặt hoài mong lạc mười
ngón tay đan.
Câu thơ tôi yêu mến đầu tiên là câu “nhặt bâng quơ hạt nắng ngủ
trên bàn”: Bài thơ này tác giả dùng chữ “em” nghĩa là viết thay cho một người
con gái, và câu thơ này cho thấy được hết cả cái tâm hồn uỷ mị của cô em, cũng
cho ta thấy hết được cái khung cảnh cô liêu nơi cô ngồi, cả sự lãng mạn trong
suy tư của em. Nhặt hạt nắng là hành động của một kẻ tâm thần, nhưng tất nhiên
cô gái không là kẻ bị bệnh tâm thần, vậy nhặt hạt nắng là một cử chỉ siêu lãng
mạn của con người đa cảm, một hành động vô tâm nhưng bày tỏ một tính cách rất
nên thơ có trong một tâm hồn rất đẹp.
Câu thơ thứ hai tôi thích là “nhặt hoài mong lạc mười ngón tay
đan”. Ở câu thơ trên ta thấy cô gái”nhặt bâng quơ hạt nắng”, ở câu thơ dưới ta
thấy cô gái “nhặt hoài mong”. Vậy thì trong vế thơ này sự hoài mong của cô gái
được thể hiện trên hạt nắng. Cô gái nhặt hạt nắng như nhặt sự hoài mong của
mình, và tất nhiên hạt nắng thì trôi tuột qua “mười ngón tay đan” nên sự hoài
mong cũng trôi theo hạt nắng. Câu thơ liên kết sự mong đợi với hạt nắng ngủ
trên bàn thật là lý thú. Cái vô hình trong tâm được thể hiện bằng cái hữu hình
trên bàn, và cả hai được lồng trong bức tranh tỉnh vật chứa đựng sự sâu kín
trong hồn hoà điệu cùng phong cảnh.”
Nhưng cũng có trường hợp
ông nhấn sâu vào âm điệu của bài thơ, xoáy sâu vào cấu trúc của bài thơ để chọn
cấu trúc, âm điệu của bài thơ làm “chất xúc tác” cho việc cảm thụ và bình thơ.
Ví dụ như khi ông bình bài thơ “Chấp Chới” của Đặng Xuân Xuyến:
“Se sắt buồn
Ơi người “xe chỉ luồn
kim”
Ơi người nhớn nhác đi tìm
Đầu ghềnh cuối bãi
Lời xưa có còn mê mải...
Người “xe chỉ luồn kim” là người vợ. Câu thơ cho ta biết cô
gái “líu ríu theo chồng” đã thành người “xe chỉ luồn kim” cũng buồn
“se sắt”. Còn người ở lại thì lang thang đầu ghềnh và mê mải trong tâm
đi tìm quá khứ.
Khổ thơ với những vần thơ có thể gọi là “cà giựt”,
nghĩa là nó ngắt khúc từng ý thơ và tứ thơ không dính dáng gì nhau,
nhưng chính cái “cà giựt” đó làm cho tiếng thơ trở nên dập dồn,
kích thích người đọc, làm căng thẳng cảm xúc và trọn vẹn gói vào
đó niềm đau của đôi trai gái thất tình.
Qua khổ thơ thứ ba tác gỉả dùng từ ngữ như những nhát
búa đập liên tục vào điểm yếu của con tim, làm cho đau đớn, làm cho
rỉ máu, làm cho nghẹn ngào, uất ức:
Tìm ai...
Kìa ai...
Lừng chừng câu hát
Gió gằn ràn rạt
Trời mưa...
Chấp chới cánh diều.”
&.3
Một điểm nhấn nữa trong
phong cách bình thơ của Châu Thạch là ông bình thơ bằng tâm thế của người cảm
thụ thơ nên trước hết ông thả hồn vào bài thơ để phiêu cùng tác giả tới mọi
ngóc ngách của bài thơ, để tìm cho được sắc thái riêng của bài thơ, để cảm thụ
được hết vẻ đẹp của bài thơ và khi viết lời bình, ông cố gắng tiết chế cái tôi
của người “phê bình văn học” sao cho
hài hòa, hợp lý để lời bình được chân thực, khách quan.
Ví dụ, Mơ
Trăng tôi viết trong tâm trạng: khi thấy người yêu vội vã tận hưởng
những phút giây ân ái, cuống quýt thỏa mãn cơn khát thèm thể xác, tôi lặng
người, đớn đau, thấy tội nghiệp cho tình yêu em đang dâng hiến, và cũng xót xa,
tội nghiệp cho cuộc tình của cả hai. Tôi muốn đẩy em ra, muốn hét lên: - Đừng
yêu anh nữa! Hãy tránh xa anh đi! Nhưng tôi không làm được. Đúng ra là tôi
không thể làm thế nên lại quấn lấy em, gồng lên để hòa vào cơn khát thèm thể
xác với em. Tôi đã tả rất chân cuộc tình ấy, ngay từ khổ thơ đầu:
Em rướn mình hà hít nụ
hôn anh
Tê tái lắm. Cuộc tình
mình thật tội
Môi khóa môi mà sao xa
vời vợi
Đêm cuống cuồng khỏa lấp
nỗi chơi vơi.
Và tôi run người khi đọc
những lời bình của ông vì đã gặp lại mình trong cuộc tình ấy: “Bây giờ có hai Đặng Xuân Xuyến, một Đặng Xuân Xuyến đang
vùi trong hương hoa của tình yêu và một Đặng Xuân Xuyến đang vùi trong
trũng sầu bi, khắc khỏai và đắng cay. Lúc này nhà thơ đương yêu hay là
không yêu? - Đâu biết được. Chỉ biết nhà thơ đang ôm một khối tình,
khối tình nóng cháy như hỏa diệm sơn mà cũng rét cóng như băng giá
miền cực bắc.”
“Phải chăng thứ tình yêu bình thường, những ân ái bình
thường không đáp ứng được cho một trái tim nhạy bén, một tâm hồn thơ
luôn mơ mộng sự trong trẻo, sự vô biên, dây quyến luyến vượt quá cuộc
đời. Con người thật của Đặng Xuân Xuyến ra sao ta đâu biết được nhưng
thơ Đặng Xuân Xuyến quả là đúng như vậy.”
Tôi không biết các nhà
thơ khác sáng tác thế nào nhưng những bài thơ tôi viết là những tiếng lòng chân
thật của tôi, dù đớn đau hay vui mừng, dù chán chường hay phấn chấn thì những
cảm xúc trong thơ của tôi cũng phản ánh rất chân thật tâm trạng, tình cảm của
tôi, tuyệt không hư cấu. Vì thế, khi đọc những dòng cảm nhận của ông về thơ của
tôi, tôi như lần nữa được sống lại với những tâm trạng, cảm xúc mà tôi đã mượn
thơ để giãi bày. Nếu không thả hồn để phiêu cùng bài thơ, để tìm cho được cái
hồn, cái sắc thái riêng của bài thơ thì Châu Thạch không thể viết được những
dòng cảm nhận như được moi ra từ gan ruột của tác giả.
Ví dụ, khi đọc tập thơ Cưỡng
Xuân, Châu Thạch đã viết: “đọc“Cưỡng
Xuân” của Đặng Xuân Xuyến, ta có hai sự rung động cùng một lúc. Đó là sự rung
động của con tim yêu chân tình, say đắm và độ lượng. Cùng lúc đó cũng bốc lên
trong bầu máu nóng của ta một thứ hương tình cúa thể xác. Hai thứ hương đó
quyện vào nhau cho ta sự khoái lạc lạ lùng trong nỗi đau khổ quặn thắt. Khoái
lạc vì thơ Đặng Xuân Xuyến như ngùn ngụt ngọn lửa của ái ân thể xác và của âu
yếm tinh thần. Đau khổ vì thơ Đặng Xuân Xuyến làm lạnh con tim, nỗi sầu được
diễn tả như bông lơn nhưng làm cho người nghe quặn lòng se thắt. Thơ đó không
phải là thứ thơ hư cấu. Thơ đó là thứ thơ nở ra như những bông hoa trường trải
được nẩy mầm từ hạt của nó, hạt ấy đã bị vui dập trong bao nhiêu biến động của
đời.”.
Hay khi đọc Em Về
Nhặt Chút Hương Phai của Huỳnh Gia, Châu Thạch đã không đứng phía bên
ngoài để “cảm” thơ mà ông thả hồn
mình phiêu cùng nữ sĩ Huỳnh Gia để cùng Huỳnh Gia cảm nhận bài thơ bằng những
cảm xúc chân thật được cất lên từ tiếng lòng của nữ sĩ:
“Mai em về thăm
xuân chưa ấm nổi đất trời
tìm đến đồi Cù
tìm về khung trời cũ
bức rào chắn phân ranh
cỏ úa màu trách cứ
mỏi mắt tìm không thấy
điểm hẹn xưa
Trong vế thơ này hai câu thơ “Cỏ úa màu trách cứ/ mỏi mắt tìm
không thấy điểm hẹn xưa” làm người đọc thấy khung trời hoang sơ rộng vắng của
đồi Cù, mà sự rộng vắng có giới hạn ấy trở thành mênh mông vô tận trong tâm hồn
tác giả khi “mỏi mắt tìm” điểm hẹn xưa mà không thấy nữa. Cái lạnh của cuối
đông vẫn còn vì “xuân chưa ấm nổi đất trời” sẽ càng lạnh thêm biết bao khi
người về gặp “bức rào chắn phân ranh”. Đây là bức rào chắn phân ranh khung trời
cũ trên địa thế đồi Cù nhưng nó cũng là bức rào chắn phân ranh quá khứ và hiện
tại trong tâm hồn người quay lại. Vế thơ cho ta thấy tất cả sự tiêu điều, se
lạnh của khung cảnh trùm lên tâm hồn và nỗi dằn vặt trong lòng cũng thể hiện ra
trên cỏ úa, trên bức rào, trên điểm hẹn đã bị mất đi. Cảnh bây giờ hình như
cũng gây trắc trở cho người vì có lẽ cảnh và người ở đây cùng chung số phận,
định mệnh như nhau.”
&.4
Thêm một điểm nhấn “son”
nữa về phong cách bình thơ của Châu Thạch là khi bình thơ, ông chịu khó tìm tòi
để phát hiện ra những tinh tế, những sáng tạo của nhà thơ trong bài thơ, rồi
truyền tải nguyên vẹn, thậm chí có phần dầy hơn, đẹp hơn những cảm xúc được
thăng hoa của nhà thơ tới bạn đọc.
Cảm nhận về Hà
Nội Quê Tôi của Lê Mai là một ví dụ:
“Chùa Diên Hựu là của
tôi!
Đóa sen tâm bừng nở ngát
cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha
hương.
“Chùa Diên Hựu hay chùa Một Cột, là một trong
những biểu tượng của thủ đô Hà Nội, có kiến trúc độc đáo như một
bông sen từ dưới nước vươn lên. Nhà thơ đem cái bông sen đó làm biểu
tượng cho tấm lòng nhân đạo của người Hà Nội ngày xưa, cùng với dân
ta đem lúa gạo của mình cấp cho quân giặc Minh xâm lược bị thua trận
có cái ăn mà quay về bản xứ. Cấp gạo cho giặc và xây chùa Một Cột
không liên quan nhau, nhưng nhà thơ đã khôn khéo dùng hình tượng hoa sen
của chùa, lấy kỳ quan đất nước sừng sững ngàn đời thể hiện cho lòng
vị tha của dân tộc là một kết cấu giữa văn hoá vật thể và văn
hoá phi vật thể vô cùng nhuần nhuyễn để tôn cao ý nghĩa của hai cái
đẹp giữa lòng thủ đô Hà Nội.”
Hay như đoạn được trích
dẫn dưới đây trong bài Vài Lời Biện Hộ Về Thơ Nguyễn Khôi,
ông luận bàn thật “đắt” về từ “tắt trăng”,
một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Nguyễn Khôi:
“Với tôi Nguyễn Khôi dùng chữ “tắt trăng’ trong câu chót là một tứ
thơ sáng tạo, độc đáo, khác lạ và tuyệt hay đã nâng cả bài thơ lên tầm cao thị
vị. Nếu tác giả dùng chữ “lịm” hay chữ “khuất” thì câu thơ “Để cả bầu trời phải
lịm trăng” hay “Để cả bầu trời phải khuất trăng” chỉ có ý nghĩa là trăng nhìn
thấy sự lõa thể mà mê mẩn đến mờ đi ánh sáng hay trốn vào đâu đó để ghé mắt
nhìn trộm. Tứ thơ này đã cũ quá và đã lạc hậu vô cùng vì đã có hàng ngàn thi
nhân viết rồi từ xưa đến nay. Nguyễn Khôi dùng chữ “tắt trăng” đã đưa trăng có
cái nhân cách người, có cái đạo đức của chính nhân quân tử khi trăng tự tắt
ngọn đèn của mình, hay quay lưng đi không nhìn những người phụ nữ tắm ao.
Tứ thơ này hoàn toàn mới, diễn đạt một ý thơ chỉ sự thanh cao của trăng, cũng
chính bộc lộ sự thanh cao của tâm hồn tác giả mà từ xưa đên nay chưa một ai
nghĩ đến trong thơ.”
&.5
Bên cạnh những phương
pháp chủ quan, bao gồm cả phương pháp giả định và các phương pháp tiếp cận để
cảm thụ thơ văn như đã dẫn giải ở trên, Châu Thạch cũng có khi dùng cả phương
pháp khách quan cho việc tìm tòi, khám phá và cảm thụ thơ văn của ông. Ẩm
Trời - Thơ Đặng Xuân Xuyến: Một Phong Cách Tình Khác Lạ là một ví dụ:
“Ẩm Trời” là một bài thơ ngắn gọn tưởng như nó bày
tỏ một mối tình qua loa hời hợt nhưng không phải thế. Đọc thơ, ta
hiểu được tính cách của người trong thơ. Họ phải là những người đã
lăn lộn trong cuộc đời, vấp ngã trong tình trường, dày dạn trong đối
nhân xử thế, tinh tế trong lời nói. Họ có thể yêu nhau nhưng cuộc đời
còn nỗi éo le ta không biết được. Ta chỉ biết họ trân trọng nhau trong
lời nói bộc trực tưởng như là thô thiển.
Bài thơ hay là hay ở chỗ đó, diễn đạt cái kín đáo mà bề
ngoài không mấy ai thấy được, không mấy ai trân trọng, có khi còn khinh
ghét nữa. Bài thơ hay cũng là hay ở chỗ “nói tục giảng thanh”. Đọc
“Ẩm Trời” ta nghe tiếng thơ như của một nhân vật bất cần đời, một
cặp trai gái ngổ ngáo xem tình như cỏ rác, nhưng ngẫm kỹ, đọc đi đọc
lại nhiều lần ta tìm thấy ở đó những tâm hồn đẹp mà ta yêu quý,
một mối tình có thể làm cho ta se lòng và cảm mến..”
Rõ ràng, ở đoạn vừa trích
dẫn, tác giả Châu Thạch, bằng phần nào sự hiểu biết của ông về tuổi tác, con
người và tính cách... của (tác giả thơ) Đặng Xuân Xuyến, ông đã dùng phương
pháp khách quan - thông qua “tiểu sử” tác giả - để “cảm thụ” bài thơ Ẩm Trời. Đây là một phương pháp được
các nhà phê bình văn học sử dụng khi phương pháp chủ quan yếu thế, có thể sẽ
không phát huy được hiệu quả như khi sử dụng phương pháp khách quan trong việc
bình thơ.
Hay như trong bài Vài
Lời Biện Hộ Về Thơ Nguyễn Khôi, tác giả Châu Thạch đã dùng phương pháp
khách quan - những hiểu biết của bản thân từ thực tiễn về tiếng “nai tác” - để phản biện chỉ trích của
Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Ngọc Kiên về chữ “nai
tác” trong bài thơ Đêm Mộc Châu của nhà thơ Nguyễn
Khôi:
“Tiến sĩ viết như sau:
Nguyễn Khôi đã viết:
Đêm Mộc Châu lần đầu nghe
nai “tác”
Dân đốt nương núi cháy
xém vầng trăng
Mới hay cuộc sống còn đói
khát
Đốt cả đất trời kiếm
miếng ăn
Theo chúng tôi đây cũng là một bài thơ hay của Nguyễn Khôi. Hai
câu đầu là tả thực. Hai câu cuối có sức khái quát lớn. Tuy nhiên, theo chúng
tôi, ở nơi mà đã có “dân đốt nương núi cháy xém vầng trăng”, tàn phá rừng, hủy
hoại môi trường như thế thì không còn nghe thấy tiếng “nai tác” được nữa. Có
chăng chỉ còn nghe tiếng thạch sùng mà thôi!” Sau đó tiến sĩ còn khẳng định: “Ở
đây Nguyễn Khôi chắc cũng trong cơn ngái ngủ, mê sảng mà nghe thấy tiếng “nai
tác”. Vậy nên ta cũng không nên “chẻ sợi tóc làm tư” mà làm gì miễn là đó là
thơ hay!”
Đây là một nhận xét thật sự sai lầm. Người viết bài này đã từng
nhiều lần nghe suốt đêm tiếng nai tác trong một vùng tàn phá môi trường hàng
ngàn dặm. Sau 1975 tôi được điều đi khai hoang sản xuất trên vùng rừng núi.
Chúng tôi thường nghe tiếng nai “tác” bi thương kéo dài trong đêm. Hỏi ra
mới biết đó là tiếng của những con nai lạc bầy do môi trường bị hủy hoại. Bởi
sự thay đổi của núi rừng làm cho những con nai con thường lạc mẹ, thế là con
gọi mẹ hay mẹ tìm con cứ “tác” suốt đêm trường. Tiếng gọi ấy của nai khắc khỏi
trong đêm vọng vào hồn tôi cũng đang khắc khoải vì những biến động của cuộc đời
tôi thuở ấy.”
&.&
Có thể nói, Châu Thạch là
một cây viết sung sức, đầy nội lực, viết nhanh, viết khỏe và viết nhiều. Tôi
không biết chính xác ông đã hạ bút viết bao nhiêu bài phê bình thơ (và cả văn)
nhưng để lan man tìm hiểu về phong cách bình thơ của tác giả Châu Thạch như bài
viết này, tôi đã phải ngồi tham khảo chừng 130 bài bình thơ của ông mà theo số
liệu thống kê của văn sĩ Thái Quốc Mưu thì tính đến tháng 07 năm 2017, chỉ
riêng bình thơ, tác giả Châu Thạch đã “xuất xưởng” trên 200 bài. Quả thật, sức
viết của ông rất đáng kính nể.
Những điểm mạnh trong
phong cách bình thơ của nhà phê bình văn học Châu Thạch khá nhiều, còn hơn
những gì người viết đã lan man dẫn giải nhưng trong phong cách bình thơ của ông
vẫn còn vài điểm hạn chế mà theo người viết, nhà phê bình văn học Châu Thạch
rất cần khắc phục.
Đó là:
1. Việc chọn bài còn để lọt những bài thơ chưa thật sự hay, chưa
đúng như tiêu đề bài viết. Điều này có thể do tình thân hữu, sự cả nể khiến ông
“tặc lưỡi”. “Nội lực” bài thơ không có nên dù người bình cố “tán”, cố “đẩy” thì bài thơ vẫn chỉ như bông hoa kém tươi, lạc lõng giữa vườn
hoa đua sắc khoe màu. Vô tình, những bông hoa “cả nể” đó đã làm vườn hoa đẹp của nhà phê bình văn học Châu Thạch
giảm nhiều hương sắc.
2. Phương pháp giả định được ông vận dụng với mật độ khá dầy trong
các bài bình thơ, đã ít nhiều tạo ra hiệu ứng đơn điệu, đều đều, nhàm chán
trong việc tiếp thu, cảm nhận thơ văn của bạn đọc, khiến bạn đọc nảy sinh tâm
trạng nghi ngờ nhà phê bình đang cố “tán”,
cố “lái” bài thơ theo dòng cảm xúc đã
được định hướng.
3. Việc “đồng màu chỉ khen
không chê” trong hàng loạt bài bình thơ của nhà phê bình văn học Châu
Thạch. Có thể vì là người trọng tình cảm nên ông tránh làm tổn thương người
khác; hoặc có thể vì trân quý những tìm kiếm, những thành công của tác giả thơ
nên ông “không nỡ” nêu ra hạn chế, sợ
tác giả thơ sẽ nhụt chí... Cho dù với lý do gì thì việc “chỉ khen không chê” cũng làm thiệt thòi cho cả 3 đối tượng: nhà thơ
(không biết được yếu kém để sửa chữa, nâng cao tay nghề), bạn đọc (không nâng
cao được khả năng học và cảm thụ thơ văn) và nhà phê bình (tác phẩm tạo ra đồng
màu, đơn điệu).
*.
Hà Nội, chiều 19 tháng 09
năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC NGUYỄN XUÂN DƯƠNG BÌNH
THƠ
Thi
thoảng vào trang facebook của nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương, tôi gặp
khá nhiều statuts và những dòng comment ngắn, ghi lại cảm xúc của ông về thơ
của bạn thơ và những dòng “chia sẻ” đó thường nghiêng về “gợi mở” hơn là
“bình”. Có lẽ ông chủ ý chỉ đứng ở vị trí là người “phát hiện” ra thơ hay còn
cảm nhận thơ hay thế nào là việc của bạn đọc nên ngay cả những lời “gợi mở” ông
cũng khá kiệm lời, ví như khi viết về “Lời Yêu” của Đồng Thị Chúc:
“Chập chờn như thể lời yêu
Lúc tha thiết lúc như điều không đâu
Em về mang áo ra khâu
Cây kim sợi chỉ để xâu chập chờn.
Chỉ bốn câu thơ mà ngổn ngang rối bời tâm
trạng. Phải chăng cõi người đã thêm một định nghĩa hay khác đi thêm một phạm
trù nữa của tình yêu. Tôi tin tất cả những người mới bắt đầu nếm trải cái vị
ngọt, đắng của tình yêu đều có tâm trạng chập chờn như Đồng Thị Chúc. Trong cái
lâng lâng dịu ngọt ban đầu ấy đã xuất hiện một nỗi lo âu. Bởi khi người ta quá
hạnh phúc người ta lại lo âu đó là điều không có thực điều dễ mất đi nên cứ
chập chờn khi có khi không.
Rồi để tự trấn tĩnh mình nên “Em về mang áo ra
khâu”. Tức là muốn được va chạm được nắm cầm những điều hiện hữu đó là tấm áo,
sợi chỉ cây kim để như muốn chứng minh hay nói đúng hơn là để nhận biết mình
đang tồn tại. Thế nhưng rồi em không thể khâu áo mà lại khâu cái chập chờn của
lời yêu. Khâu nó vào đâu và sao lại phải khâu? Phải chăng em muốn giữ chặt nó
mãi trong em không bao giờ nó còn chập chờn được nữa để rồi nó mãi là của em vì
em đã xâu chặt nó vào tim em... vào đời em...
Thơ có cần gì nhiều đâu. Tôi nghĩ chỉ cần thế
thôi cũng đủ để lưu danh trong cõi người ...”
Chả cần
bình! Chỉ khoảng hơn mười dòng chia sẻ như thế cũng đã đủ để gợi mở tâm trạng
rối bời với ngổn ngang những thấp thỏm nỗi niềm của kẻ đang yêu, khát yêu...
cũng đủ để bạn đọc tự cảm nhận được sự dịu dàng, nữ tính và những đăm đắm yêu
thương, những nhớ nhung bời bời trong thơ hay của Đồng Thị Chúc. Vâng, cái khéo
của cây viết dạn dày Nguyễn Xuân Dương là thế. Người đọc cảm thấy thoải mái khi
đi theo sự gợi mở của người viết vì người viết rất khéo cất đi cái tôi của
mình. Hình như, đấy là cách viết được coi là chủ lực của nhà Phê bình Văn học
Nguyễn Xuân Dương?!
Hay
những dòng status rất ngắn về “Vô Đề”, một bài thơ cũng rất ngắn
(19 chữ) của Trịnh Loan:
“Em chẳng cách nào buộc chặt đôi cánh gió.
Chỉ có thể dịu dàng...
Quàng khăn ấm cho anh!
Chỉ cần thế thôi đã là tất cả tình yêu em dành
cho anh suốt cả cuộc đời. Đã mấy ai khi gió rét mưa dầm không thể buộc gió che
mưa lại biết dịu dàng quàng khăn ấm cho anh trước mỗi sáng đi làm. Hình tượng
người vợ tuyệt vời chỉ bằng mấy dòng thơ ngắn ngủi. Trên đời này biết bao người
khát thèm mơ ước hành động thật giản đơn như thế từ tấm lòng từ tay người vợ.
Bởi không phải ai cũng nghĩ và làm được điều đơn giản đó ...
Thơ Trịnh Loan bao giờ cũng đầy ắp yêu thương”
Ngắn,
rất ngắn, ngắn đến kiệm lời nhưng chỉ vài dòng cảm nhận ngắn ngủi thế thôi đã
đủ để đẩy bài thơ đến trái tim bạn đọc và nhanh lan tỏa. Thơ đã nén chặt, bình
lại kiệm lời, bạn đọc thêm nhiều “đất” để thỏa sức phiêu bồng cảm xúc cùng thơ.
Cách bình thơ này, nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương đã gặp nhà nghiên cứu
Văn hóa Bùi Đồng ở điểm: xúc tích, ngắn gọn, không “áp đặt”, không “suy diễn”,
chủ ý chừa lại “đất” để bạn đọc cảm nhận theo những cách riêng của bạn đọc. Cái
tôi của tác giả bình thơ được chủ ý đặt khiêm nhường phía sau tác giả thơ để
đẩy bài thơ thăng hoa cảm xúc cùng bạn đọc!
Đôi khi,
gặp những bài thơ mà do rào cản của ngôn từ, khiến người đọc khó cảm nhận hết
được cái hay, cái đẹp trong thơ thì ông vận dụng sự hiểu và biết của mình để
"dẫn dụ” bạn đọc khám phá cái hay, cái đẹp ẩn sâu trong câu chữ của bài
thơ. Ví như khi bình bài thơ “Đêm Trắng” của Trần Đăng Khoa: “Đêm trắng lạnh, có một người không ngủ / Nhớ
quê hương mà chẳng thể trở về / Ngoài cửa sổ cây bạch dương biết thế / Trổ lên
trời lặng lẽ đóa trăng quê...”, ông đã dùng câu chuyện về sự tích 2 từ Thôi
Xao để bật lên “tài năng và sự kì khu nghiêm cẩn về sử dụng ngôn ngữ của nhà
thơ Trần Đăng Khoa”. Cách bình thơ này đòi hỏi người bình phải có vốn sống, vốn
kiến thức sâu rộng và làm chủ được cảm xúc để bài bình không sa vào “tán dương
kiến thức”, để dẫn dắt được cảm xúc của người đọc thăng hoa cùng thơ.
Yêu cầu
của việc bình thơ là phải đáp ứng được yếu tố phát hiện. Bài bình thơ chỉ ấn
tượng với bạn đọc khi người bình phát hiện ra những câu thơ hay, những tứ thơ
độc đáo hoặc nghệ thuật sử dụng câu chữ “đắc địa”, tài hoa... của nhà thơ. Khá
nhiều bài bình thơ của tác giả Nguyễn Xuân Dương đã đáp ứng được yêu cầu đó.
Tuy nhiên, đọc các bài ông bình thơ, rất ít gặp ông bình sâu về nghệ thuật tu
từ hay cách dựng tứ ở bài thơ mà thường là chia sẻ những cảm xúc, những phát
hiện của ông về những câu thơ hay, những tứ thơ độc đáo, những cách dùng chữ
“đắc địa”... với bạn đọc, ví như đoạn trích dẫn dưới đây trong bài “Trao
đổi với nhà thơ Nguyễn Vượng về ngôn ngữ trong thi ca”:
"Rõ ràng cụm từ: BÊN ĐÂY BỜ VĨNH TẬN là một
cụm từ sáng tạo của nhà thơ Dung Thị Vân. Hiểu thế nào về cụm từ đó chỉ có nhà
thơ mới lí giải một cách cặn kẽ. Nhưng đôi khi sự lí giải ấy chắc gì đã được
người đọc chấp nhận. Với tôi, tôi nghĩ đây thuộc về một giới hạn vô cùng của
không gian và không chỉ là không gian mà còn là giới hạn của của cảm xúc. Qua
đó hình như nhà thơ đã muốn bày tỏ về sự tận cùng vĩnh cửu của những tàn phai.
Ta cứ phải mặc nhiên công nhận nó và ta cảm nhận sự mông mênh của thi ca. Ta
thấy những câu thơ như thế chiếm đoạt được cảm xúc của con tim mà không hiểu
được vì sao lại như thế. Nó rất hay, nhưng hay ở chỗ nào thì ta cũng không thể
lý giải."
để bạn
đọc thăng hoa cảm xúc cùng thơ theo cách cảm nhận riêng của bạn đọc. Có lẽ vì
thế mà những bài bình thơ của ông dễ đồng cảm với người yêu thơ.
Khi đọc
Nguyễn Xuân Dương giới thiệu “Chị Bỏ Mùa Hoa Gạo” của Nguyễn Đăng
Thanh, tôi xuýt xoa, nghẹn ứ ngay ở những câu thơ đầu:
“Em đứng trên bờ, tiễn chị về phía bên sông /
Quay mặt bỏ đi, rẽ lối nào cũng gió / chị ơi, tháng ba… / đường làng mình nở
đầy hoa Gạo đỏ / có lẽ, thấy em buồn / hoa khóc… rụng ở triền sông.”
Hay
quá! Nhiều cảm xúc quá! Nhưng những câu thơ tiếp theo bị cái bóng sừng sững của
“Lá
Diêu Bông” chặn mất cảm xúc khiến tôi nản định thôi đọc, rồi tò mò đọc
lời bình, tôi bị cuốn theo cảm xúc của Nguyễn Xuân Dương, ông đã xóa nhòa bức
tường vô hình của “Lá Diêu Bông” để tôi cứ cùng Nguyễn Đăng Thanh mà day dứt nhớ
thương, mà trách cứ tủi buồn, mà rưng rưng lệ với “Chị Bỏ Mùa Hoa Gạo”. Tôi
comment cám ơn người bình: “Thơ hay nhưng
người đọc không khoái lắm vì bị "Lá Diêu Bông" chặn mất nguồn cảm
hứng. Khổ thế đấy. "Lá Diêu Bông" sừng sững như thế cơ mà! May thay,
đọc lời bình của tác giả Nguyễn Xuân Dương,
mạch cảm hứng với “Chị Bỏ Mùa Hoa Gạo”
lại dâng trào. Cám ơn nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương đã giới thiệu một
bài thơ hay!”
Mặc dù
luôn nâng niu cảm xúc khi bình thơ và chỉ viết lời bình khi cảm xúc dâng trào
trước bài thơ hay, trước tứ thơ độc đáo, đẹp, lạ nhưng có lần nhà Phê bình Văn
học Nguyễn Xuân Dương cũng để chữ tình vướng víu ngòi bút, ví như bài “Vô
Đề”
của Đỗ Cao Nhân:
“Trưa Sa Pa hửng nắng
Tối mưa lạnh Lai Châu
Hỏi người vùng sơn cước
Sáng mai đi về đâu.”
Khi đọc
những lời cảm thơ vì tình bạn của ông: “Bài
thơ thật giản dị hai câu đầu nói về chuyện mưa nắng của vũ trụ và chen vào đó
là hai địa danh. Sự đột biến và cao trào thơ lại chính là hai câu dưới. Nhân
vật trữ tình thứ hai chỉ là Người sơn cước và cái hay của thơ ở đây là chính
chữ NGƯỜI không có giới tính.”, dù ông khéo léo rào dậu che chắn sự “nâng
đỡ” “Vô
Đề” ở mấy dòng kết bài: “Tôi rất
trân trọng bài thơ này vì nó chẳng nói gì mà thực ra lại đã nói rất nhiều nếu
ta biết chìm sâu vào phía sau con chữ và có lẽ cần thêm một chút lương duyên
cùng nghề nghiệp ...”, tôi tin vẫn không ít bạn đọc sẽ hiểu sai ông viết vì
“nhuận bút” do bạn đọc không biết chữ tình ông trân quý dành cho bạn bè, nhất
là bạn cùng nghề Địa chất - nghề đã để lại không ít ký ức trong ông như một
“nghiệp quả” của số phận.
Tôi đã
comment dưới bài viết của ông thế này: - “Thực
sự là người bình vì chữ TÌNH BẠN mà đẩy bài này lên quá xa, quá nhiều. Cháu rất
xin lỗi 2 chú khi nói thật lòng! Cũng vì rất quý yêu những trang viết của chú
Nguyễn Xuân Dương nên cháu mới thật lòng đấy ạ.”. Ông đã tế nhị gửi tin
nhắn tới tôi: -“Cái khó của người cầm bút
là chữ TÌNH anh ạ, nhất là khi chữ TÌNH đã trải qua những sóng gió, thăng trầm
của cuộc đời. Chú nghĩ, nếu vì chữ tình mà người viết thiệt thòi cái TÔI một
chút để đem lại niềm vui nho nhỏ rất đáng cho bạn bè thì cũng nên, anh Đặng
Xuân Xuyến nhỉ?!”.
Nhưng
không phải trường hợp nào ông cũng xuề xòa vì 2 chữ tình bạn. Chẳng hạn, có lần
ông đã thật chu đáo viết lời bình một bài thơ của nhà thơ ông rất yêu quý nhưng
khi trao đổi về câu thơ (tên bài thơ) nhà thơ trích dẫn sai, ông quyết định xóa
bỏ bài viết vì “sai sót thuộc về trích
dẫn mà với câu thơ (thực ra là tên bài thơ) trích dẫn thì đã là người yêu thơ
ai cũng thuộc, “người ta” sẽ đánh giá người bình luận kém hiểu biết hoặc người
bình luận không nghiêm túc”. Hay lần khác, một nhà thơ mến mộ tài bình thơ
của ông, gửi tặng ông tập thơ qua bưu điện với lời đề nghị “xin bác cho cháu vài lời cảm nhận”, ông
thật lòng hồi đáp: -“Tôi thích cách sử
dụng câu chữ sáng tạo của anh nhưng tôi không bình luận được dù đã đọc kỹ tập
thơ anh gửi tặng. Câu chữ của anh đẹp lắm nhưng những chữ đó như cái xác đẹp mã
mà thiếu hồn nên đọc xong cứ trôi tuột, chả đọng lại gì thì bình luận làm sao!”
Vì yêu
thơ, vì nâng niu những cảm xúc do thơ đem lại nên ông hào phóng khen tặng những
câu thơ hay, những thi tứ đẹp, ví như ông khen câu “Ríu chiều hiu hắt mưa” trong bài “Đọc “Rét Cằn” của Đặng Xuân Xuyến”:
“Ôi! Yêu quá câu thơ: “RÍU CHIỀU HIU HẮT
MƯA”. Giá có bình luận một câu thơ này thì như cổ nhân đã dạy: "Thuyết thi
nhất thủ thị hàn tuyền", có nghĩa: Bàn về một bài thơ hay một suối sách
vẫn không đủ. Với câu thơ này thì cứ cho là một khe sách vẫn chưa đủ.
Có những lúc xuất thần chỉ cần một câu thơ như
thế bài thơ sẽ bừng sáng lên. Và như có lần Hoài Thanh đã nói về một bài thơ
của ai đó rằng: ”Cả đời chỉ cần một bài thơ như thế đã lưu danh”. Tôi nghĩ với
câu thơ độc nhất vô nhị ấy, Đặng Xuân Xuyến cũng đã lưu danh trong đời. Bỏi vì
chẳng ai có được câu thơ tài hoa như thế nữa.”.
Hay như
lời khen ông ưu ái dành cho “Em có về lối cũ của Đinh Tiến Hải”: “Sóng
Tây Hồ / Xôn xao trên mắt nắng / Hồn lang thang / Mây dạt phía chân trời / Em
có về? / Ngang qua mùa xưa cũ / Ngắm me vàng / Rụng mải miết lối đi”. Phải tinh
tế và tài hoa lắm mới lưu giữ được những thi ảnh hư ảo này vào thi ca để gửi
gắm cho người đọc cùng mê say và càng thêm tiếc nuối vì mấy ai trong chúng ta
giờ có thể trở về ngồi bên bờ hồ Tây nơi Phủ Tây Hồ mà nhìn ngắm những mắt nắng
xôn xao trên sóng nước hồ Tây hay sóng nước xôn xao trên mắt nắng.?”
Những
bài thơ trên tất nhiên không dở nhưng đạt được như những lời ông đã phóng bút
khen ngợi thì vẫn còn nhiều khoảng cách. Có lẽ vì quý các tác giả thơ, vì yêu
những cảm xúc bài thơ đem lại mà ông hào phóng lời khen. Giá như ông tiết chế
bớt một chút lời khen thì thật hay cho người đọc, hay cho người bình và hay cho
cả tác giả thơ! Phải chăng ông quan niệm: Khen để khích lệ những tìm tòi, sáng
tạo, những thành công của tác giả thơ thì khen quá một chút cũng chẳng sao?!
Vâng!
Ông bình thơ nhiều lắm. Tôi không biết chính xác bao nhiêu bài nhưng với 2 tập
Phê bình Văn học ông đã xuất bản và rất nhiều bài giới thiệu thơ, bình thơ trên
trang facebook cá nhân thì có lẽ ông đã đồng hành cảm xúc, đã tiếp thêm “sinh
khí” cho khoảng trên bốn trăm bài thơ để những bài thơ đấy trở nên hay hơn, đẹp
hơn và nhanh lan tỏa.
*.
Hà
Nội,19 tháng 05 năm 2020
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
THẦY PHONG THỦY BÙI ĐỒNG
VÀ NHỮNG COMMENT BÌNH THƠ
Trên
trang facebook cá nhân, ngày 28 tháng 10 năm 2018, tôi viết vài dòng kệ:
Ngẫu hứng bình thơ thiên hạ
Tấm lòng thấu cảm bật ra
Dở hay mặc người bình bán
Cứ là hồn nhiên như tiên
Là mấy
dòng khái quát về thầy phong thủy Bùi Đồng, người bình khá nhiều thơ của bạn bè
trên facebook dưới dạng những dòng comment.
Ông
bình thơ rất ngẫu hứng và lời bình của ông phiêu diêu, lãng tử. Chất ngẫu hứng
trong lời bình của ông đậm nét hương đồng gió nội, và cảm xúc thì tuôn trào
theo mạch, tự nhiên, không bị lý trí cầm cương, chỉ đạo nên chất lãng tử trong
câu chữ của ông mang nét dân dã, nhiều khi phảng phất chút yếu tố tâm linh
huyền bí, nhưng lại rất tự nhiên, không hề gượng ép. Ông bình thơ bằng những
rung cảm bất chợt xuất hiện từ những câu chữ của thơ, dẫn giải những rung cảm
đó bằng ngôn ngữ đời thường, không cố tạo dáng khoe mẽ bằng những câu từ ra vẻ
bác học, hiện đại nên người đọc tiếp nhận lời bình với tâm trạng nhẹ nhõm,
thoải mái.
Khi đọc
bài “Hơi
thở của núi rừng trong bài thơ CHUNG”, nhà thơ Yên Sơn đã gửi thư qua
email (yenson68@gmail.com) tới tôi: “Một bài bình thơ rất độc đáo. Độc đáo ở chỗ
thấy được cả những hoang sơ, hồn nhiên trong hơi thơ của nhà thơ; không như
những "nhà bình thơ thiên tài" ưa đem cái tôi của mình áp
đặt vào thơ người khác đến nỗi đọc xong chả hiểu là nhà phê bình văn học tài ba
ấy nói cái gì! Xin cám ơn anh Bùi Đồng.”
Ông
bình thơ cũng lạ lắm. Chả cần quan tâm tới tác giả bài thơ là ai? Cũng chả cần
biết bài thơ đó đã có ai bình chưa? Và bài bình đó hay dở thế nào? Thích bài
thơ thì ông bình, viết như vội chép để kịp ghi lại những cảm xúc bất chợt xuất
hiện khi đọc thơ. Thế thôi!
Hãy
nghe ông thổ lộ:
“Ta bỗng dưng không còn là mình nữa, ta bị
thơ ngấm đẫm, ta bị thơ chuốc say... để buồn không ra buồn, say chả ra say của
trạng thái ngộ tình.
Gió thốc ngược gối giường trống vắng
…...
Đông mình em / cây đường lập cập
Đông mình em / sương muối buốt khuya
Đến đây người đọc lại bị dụ vào tử huyệt lần
nữa. Mặc dù biết thiếu phụ một mình rồi nhưng lặp từ: “đông mình
em” làm dâng lên sự cô đơn đến chua xót tàn khốc. Cái cây run lập cập kia,
làn sương muối đùng đục buốt giá ấy có khác nào tâm trạng người?
Bất giác ta nhớ bài ĐÊM ĐÔNG và lần nữa buông
tiếng thở dài đồng cảm.”
(Gọi
Đêm Trở Gió - Bài thơ hiếm lạ của Bùi Cửu Trường)
Có lẽ,
vì không phải là nhà phê bình văn học chuyên nghiệp, cũng không thích bị gán
danh là người viết phê bình văn học nên ông không quan tâm tới việc mài rũa câu
từ, trau chuốt văn phong cho nhuần nhuyễn, cho có dáng dấp của lối "văn
chương bác học", cũng không mấy câu nệ chuyện khen chê của bạn đọc nên ông
bình thơ theo cảm hứng ngẫu nhiên, say như “lên đồng”.
Những
bài (đúng ra là những comment) bình thơ của ông rất ít khi bàn về nghệ thuật
thi pháp mà thường là những khám phá, những rung cảm của ông trước vẻ đẹp nằm
sâu trong ngữ nghĩa, ý tứ của bài thơ. Chẳng thế mà khi nhà thơ Phạm Đức Nhì
nhận xét tác giả Bùi Đồng “bình thơ mà
không bàn thi pháp”, ông đã nhã nhặn vài dòng comment: “Đọc thơ nó thú ở cái ý tứ, ngữ nghĩa trước
đã và thích thì cứ tuôn cái cảm giác ấy để chia sẻ với tác giả và bạn thơ thôi
(tạm gọi là bình thơ). Phạm Đức Nhì thì thưởng thơ bằng cách nhấm nháp,
nhâm nhi, soi kỹ một cách có tình và nghiêm khắc. Có nhiều phát hiện mới
đáng để học qua bài viết của anh. Thôi thì, cứ vậy đi, mỗi người đều thể hiện
cái thấy, cái tình của mình, theo cách của mình cũng đáng trân trọng lắm chứ.”
Ông
cũng rất thẳng thắn, không câu nệ khi viết comment dưới những bài thơ, những
bài bình thơ của bè bạn trên facsebook. Ví như, khi đọc nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu
Trường bình bài thơ “Hương Quê”, mặc các nhà thơ, nhà
văn: Đồng Thị Chúc, Bùi Thị Sơn, Châu Thạch,... ưu ái comment khen tặng, ông
‘phê’ thẳng tưng: - “Hương cốm duyềnh
lên? Từ duyềnh này chỉ sự dâng lên đột ngột của nước biển, mà hương cốm chỉ
phảng phất, ý tứ, mơn man tỏa lan thôi, sao thô bạo tràn sang nhà hàng xóm....
Tác giả đã tầm thường hoá hương cốm mất rồi. Nếu không có lỗi này thì bài thơ
hoàn hảo, đáng nhớ.”, khiến nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường ái ngại, tế nhị
gửi tôi tin nhắn: - “Cháu xin lỗi bác Bùi
Đồng hộ cô vì DUYỀNH là chữ đầu tiên ĐẬP VÀO MẮT, làm cho bài thơ này khác
lạ và tạo nên cái tưng tửng khó chịu cho người đọc đấy... hihiiii...".
Tôi đã trả lời bà: - “Cô ơi, chú Bùi Đồng
là người trực tính nhưng rất tốt. Nhận xét đó tuy có phần chủ quan nhưng xuất
phát từ chữ TÂM cô ạ.”
Vâng.
Ông là thế. Thẳng thắn viết comment cảm hứng “tức thì” dưới những status là thơ
hoặc bình thơ của bè bạn. Ông viết những comment đó chỉ để giải tỏa tâm trạng
“bức bách” trước sức hút từ câu, chữ của bài thơ, không phải để “phê bình” hoặc
“lý luận” về thi pháp, tư tưởng... của bài thơ, của tác giả thơ nên ông không
mấy quan tâm tới phản ứng của người đọc.
Ông
nương cảm xúc theo ngữ, nghĩa của câu chữ để "luận", để
"tán" cảm xúc đang hưng phấn, nhưng có lẽ vì thích thì ghi lại mạch
cảm xúc đang tuôn trào nên những comment của ông thường ngắn gọn, súc tích và
luôn tạo cảm giác “thòm thèm” nơi người đọc. Ví như khi ông viết comment dưới
bài thơ NHỚ của Hoàng Ngọc:
“Đêm chưa qua, mà ngày chưa tới.
Trong cái chạng vạng như buổi hỗn mang của càn
khôn thiên địa. Thì nỗi nhớ mang tầm vũ trụ của một tinh vân với tinh cầu cũng
bao la lắm, như giọt nước mắt của ngọn bạch lạp cứ lắt lay và nhỏ giọt rồi lắp
đầy tâm khảm. Đọc lướt thì như vậy nhưng ngẫm kỹ lại thấy tầm vóc của nỗi
nhớ nỗi nhớ nối hai bờ quá khứ, hiện tại. “ngọn nến hồ tàn còn nhỏ lệ. Thân tằm
đến chết vẫn vương tơ”
Tự nhiên nhớ đến vần thơ cổ cũng khẩu khí na
ná như thế .
Trăng chẳng ngủ bao giờ, ở nơi đó có khi nào
con thao thức...như ta???
Ta lo lắm, nếu một ngày nào đó con chót chạm
vào giấc mơ thì với bản lĩnh, thần lực như con liệu có thể theo kịp cái mênh
mông, bao la như một hố đen cuốn hút để rồi biến mất trong cõi uyên nguyên ngàn
trùng ấy không?
Lo lắm, nỗi lo của từ mẫu, của sư phụ mãi dõi
theo người con của nhân duyên, thiên định.
Đọc bài thơ thấy rõ sự chông chênh hiếm có
của Hoàng Ngọc trong lúc đất trời chuyển mình khi âm chưa
qua, dương chưa tới.
Thật khó ngờ!”
Không
ít những comment ngắn gọn, súc tích, phảng phất chút phiêu diêu giữa cõi thực
với cõi hư vô như thế. Và chính từ những comment “kiệm lời” ấy, ông như đã thổi
vào câu thơ, bài thơ thêm luồng sinh khí để câu thơ, bài thơ thêm tươi tắn, hay
hơn, đẹp hơn. Phải chăng ông đã đạt tới cảnh giới ngay trong cả những comment?!
Không
dùng những câu chữ mỹ miều để phong tặng cho các tác giả thơ, cũng không cao
giọng chỉ trích người viết thế này, thế kia, ông công tâm ghi nhận những thành
công của họ, những sáng tạo của họ, tuy có kiệm lời nhưng lời văn nhã nhặn,
chân thành, đủ ý, đủ tình trong những đánh giá ấy đủ làm ấm lòng người đọc và
ấm lòng cả người sáng tác.
Xin
trích dẫn vài trường hợp để bạn đọc tham khảo:
- “Thật đắt, thật người, với cái gió heo may se
lạnh, chính gió cũng không tin mình nữa, chính gió cũng khẽ khàng, rón rén vì
sợ cái lạnh của nhiệt độ thấp và cả cái lạnh tê tái của cõi lòng buốt giá. Gió
là ta, hay ta là gió?
Để heo may rụt rè hoá thành gió rét.
Hay thật. Câu thơ làm mọi người bất ngờ phát
hiện ra tác giả đã chín.
Thơ Đinh Sỹ Minh khác trước rất nhiều, thay vì
dàn trải, kể lể thì nay cô đọng, chắt chiu từ ngữ, tập trung vào cảm xúc mà
không bị gò lại bởi vần điệu, ước lệ nữa.
Đã thấy phong cách riêng của Đinh Sỹ Minh rõ
nét hơn.”
(trích:
comment bài thơ LỬNG THU của Đinh Sỹ Minh)
- “Tất cả biến ảo vô hình. Khi nhìn ra chân lý
như ngọn đèn bùng lên lần cuối và tự an ủi cho một khoảng thời gian ngây ngô
dại khờ, ngọt ngào và đắng chát đan xen, thì:
Tháng ba sấm dậy
Tháng năm lúa sây bông
Tàn thu, lụi đông
Năm sót lại đen xì đêm củ mật.
Chẳng có sự thay đổi, lột xác để trưởng thành
hơn mà không có đau đớn. Vẫn hơi thơ, mạch dứt khoát, cô đọng như một câu thành
ngữ và cách dùng từ dân dã đã làm người đọc thú vị và bị cuốn hút.
Tác giả đã chín rồi và cách quan sát, hoài
niệm, cách dùng hình ảnh thật chắc chắn làm cho bài thơ sống động và chạm vào
khoảng riêng tư của tình người làm họ trân trọng.”
(trích:
Vài cảm nhận về bài thơ “Yêu Và Không Yêu”)
- “Đọc thơ Trần Thị Bảo Thư phải
nhắm từ từ, phải thật tĩnh mới ngấm được cái men lìm lịm chất đời.
Rượu tàn, tàn cả trăng khuya
Tìm nhau gai xước đầm đìa dấu môi
Đốt lên rưng rức khói đời
Tiễn nhau cũng chỉ một thôi đoạn trường
Bài thơ đã được đẩy lên cao trào, thần thơ
xuất hiện, trăng tàn, rượu tàn, khói đời rưng rức, kệ gai xước, dấu môi cứ đầm
đìa... một loạt tính từ bạo dạn, nhuần nhuyễn kết hợp tài tình làm nên hồn thơ
mạnh mẽ. Đến đây bỗng thèm có một tri nhân để mà say như vậy.”
(trích:
Đọc “Vô Hình Bỉ Ngạn” của Trần Thị Bảo Thư)
- “Bài thơ hay ở chỗ dùng từ, đọc lên người đọc
cũng chuếnh choáng, nhớn nhác theo: xáo xác, vét vớt, chênh chao, te tẻ, nhớn
nhác là những cặp từ được đặt đúng chỗ, hợp với tâm cảnh, hồn người nên cứ thấy
hay.
Điều đặc biệt là bài thơ không thể chỉnh sửa,
sắp xếp lại cấu trúc câu từ vì ý đủ, lời chỉnh, từ cô đọng. Đặc biệt hơn là cả
bài không có đại từ nhân xưng nên đọc lên ai cũng thấy mình trong đó và đó
chính là thủ pháp "hỏa mù" chả ai “bắt đền”, “kiện
cáo”, “cấu véo” được của tác giả...
Ồ! Mà lạ chưa: tâm động qua một cái nhón chân
thi vị.”
(trích:
Một cái nhón chân... thật lạ)
- “Quay
về nhón hạt thóc cười
Vểnh nghe trâu ợ ra lời rạ rơm
(...) Tác giả thấy hạt thóc cười (tách mầm)
qua cái nhón tay vô thức mong manh mà được cả một nụ cười của ngũ hành, vũ trụ:
thành trụ hoại diệt! (thông qua cái nhón tay và hạt thóc tưởng như vô hồn)
Văn Thuỳ là vậy, vừa giống thiền sư, vừa giống
bác nông dân mộc mạc, chân chất... lang thang, cần mẫn trên thửa ruộng đời bề
bộn.
Con trâu là đầu cơ nghiệp nhưng tác giả nghe
cả tiếng chóp chép nhai lại để: ợ ra lời rạ rơm!
Câu thơ xuất thần, hiếm gặp! Cái ợ hơi với
nhiều người đọc vội sẽ thấy thô thiển nhưng đọc kỹ sẽ thấy hồn quê, hương đồng
nội được hình thành từ rơm rạ, một vòng luân hồi: hạt thóc, nhành mạ, cây lúa,
rơm rạ, qua dạ dầy trâu lại trở lại ruộng đồng, cây lúa!”
(trích:
Cảm sự lạ... trong “Hồn Rơm” của Văn Thùy)
Ông
bình thơ dưới dạng viết comment trên facebook khá nhiều nhưng ông không viết
thành bài status để chia sẻ với bạn bè hoặc gửi đăng trên các trang web vì ông
quan niệm: - “Đọc thơ nó thú ở cái ý tứ,
ngữ nghĩa trước đã và thích thì cứ tuôn cái cảm giác ấy để chia sẻ với tác giả
và bạn thơ thôi.”. Đó là nét cá tính đặc biệt ở ông. Tôi không biết như thế
là nên hay không nên?!
Kết bạn
trên facebook với ông từ tháng 09 năm 2016. Chưa gặp ông ngoài đời nhưng qua
những status về văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử của ông, nhất là những lần
“trao đổi” với ông qua facebook, điện thoại... tôi cảm nhận ông là người thiện
tâm.
Đọc
những status và những comment bình thơ của ông,... tôi cảm nhận trong đó ấm áp
những chất đời, tình đời.
Văn là
người. Không biết với những người khác có phải như thế hay không, nhưng với ông
thì tôi tin đúng là vậy!
*.
Hà Nội,
chiều 15 tháng 11 năm 2018
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
YẾU TỐ ĐỒNG TÍNH TRONG
THƠ ĐỖ ANH TUYẾN
Đỗ Anh
Tuyến làm thơ không nhiều và thơ của anh chủ yếu ghi lại những cảm xúc "chợt đến chợt đi" của tâm trạng cá
nhân nên số bài thơ lưu lại trong trí nhớ bạn đọc chắc chỉ ở con số vừa phải so
với số lượng bài thơ không nhiều của anh. Thực tình, trong gia tài thơ
ngót nghét trăm bài của anh tôi ấn tượng chắc cũng chỉ trên mươi bài mà oái oăm
phần nhiều lại là những bài thơ có "vấn đề" về cảm xúc tình cảm trai
gái, gây những cảm giác "lạ lạ khó hiểu" với bạn đọc. Bài viết này là
chút cảm nhận của tôi về một số bài thơ tình mang “dấu ấn” lạ lạ khó hiểu của
Đỗ Anh Tuyến, hoàn toàn không đem ra đo đếm định lượng khen-chê thơ anh bởi Đỗ
Anh Tuyến chỉ mượn thơ để ghi lại những cảm xúc "chợt đến chợt đi" của riêng anh như trang nhật ký của tiếng
lòng.
Vâng!
Thơ tình của Đỗ Anh Tuyến lạ lắm, có gì đó hao hao từa tựa như thơ tình của
Nguyễn Tấn Thành tôi đã giới thiệu trong bài "Vài cảm nhận về 2 bài thơ tình
của cậu học trò lớp 12" nhưng bi quan hơn, xám xịt màu hy vọng hơn
và nỗi đau cũng thật quặn thắt, đắng lòng:
"Đôi chân rã rời sợ đến ngày mai
Bàn tay hư hao lo đêm dài quá
Ánh mắt dửng dưng hai người xa lạ
Bất chợt tìm nhau ứa giọt lệ nồng"
(Mãi
niềm cô đơn - Đỗ Anh Tuyến)
Đọc 4
câu thơ mà đau lòng tự hỏi: trên đời này sao lại có người bi quan, tuyệt vọng
đến vậy? Hiện tại ư? Là nỗi lo đối diện với những u uẩn lẩn khuất trong cõi cô
đơn của chỉ riêng mình: "Bàn tay hư
hao lo đêm dài quá". Tương lai ư? Là: "Đôi chân rã rời sợ đến ngày mai"! Một nỗi sợ cụ thể mà lại mơ
hồ, một nỗi đau thắt ruột thắt gan mà lại không thể réo gọi thành tên! Yêu ư?
Không! Đấy không phải là yêu, càng không phải là tình yêu, mà là sự cộng hưởng
xác thịt của 2 kẻ xa lạ: "Ánh mắt
dửng dưng hai người xa lạ", đến với nhau chỉ để giải tỏa bức bối cơn
khát thể xác, để cùng nhau đồng cảm sẻ chia nỗi đau tận cùng của bi quan, tuyệt
vọng: "Bất chợt tìm nhau ứa giọt lệ
nồng".
Đọc 4
câu thơ này hẳn nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên với thứ "tình yêu" lạ lạ
đến khó hiểu của "Mãi mãi niềm cô đơn" nhưng nếu
đã nghiên cứu về nhân dạng nam hoặc đã đọc những nghiên cứu về nhân dạng nam
thì hẳn bạn đọc sẽ ngờ ngợ nhận ra đấy là tình yêu của người đồng tính hoặc
song tính thì sự “lạ lạ” sẽ không còn khó hiểu.
Trong
cuốn "Điểm yếu của người đàn ông hiện đại", Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin ấn hành Quý 4 năm 2006, ở bài NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH, tôi đã luận
bàn: "Điểm chung của người đồng
tính là sự “mặc cảm tội lỗi”, tâm lý hoảng loạn, dễ bị tổn thương.
Do “không giống ai” trong việc lựa chọn “đối tượng tình dục” và tình
yêu của họ không được xã hội chấp nhận nên người đồng tính luôn sống
trong tâm trạng mặc cảm, sợ sệt. Với người dị tính (tình yêu thuần
khiết với người khác giới), sự thể hiện tình cảm của mình với
“đối tượng” thường công khai, được xã hội chấp nhận (trong một chừng
mực, hoàn cảnh nhất định), còn người đồng tính thì ngược lại: Âm
thầm, lén lút vì sự kỳ thị của xã hội. Đây chính là lý do làm
người đồng tính dễ bị tổn thương, luôn sống trong tâm trạng hoảng
loạn và “mặc cảm tội lỗi”."
Chính
vì thế mà những cuộc tình của người đồng tính, song tính thường mang hơi hướng
của tình một đêm, của những "thỏa mãn" tạm bợ, của những "ngọt
ngào" dối trá và của những bẽ bàng chua chát sau cuộc tình đậm dấu truy
hoan thân xác mà sự thủy chung chỉ được người trong cuộc tính bằng "vài giây ngắn ngủi". Có lẽ đó là
những cuộc truy hoan chỉ để thỏa mãn cơn khát được yêu, là cuộc tình éo le vụng
trộm không được số đông trong xã hội thừa nhận nên "tình ấy” gấp gáp,
"tình ấy” cuống cuồng, thây kệ để sự dối trá lên ngôi:
"Mùi xác thịt nghiến đời nhau tan nát
Mọi ngất ngây hoang lạc thảy tuôn trào
Lời thì thầm ngọt lịm sắc như dao
Sau đêm nay còn chút nào tha thiết"
(Người
tình một đêm - Đỗ Anh Tuyến)
Đọc đến
đây, có lẽ sẽ có bạn đọc chất vấn: vậy những người từng trải nghiệm tình một
đêm đều là người đồng tính hoặc song tính? Không, thưa Quý vị! "Tình"
của người đồng tính, song tính là tình của những ẩn ức sinh lý, những tổn
thương tâm lý đã gây sang chấn tâm lý nên những cuộc tình của người đồng tính,
song tính thường bao hàm sự u uẩn, bi lụy và đau khổ vì tình tuyệt vọng của cả
2 người đang "khát" yêu: “Ta
thấy gì đâu sau sắc yêu kiều / Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng / Dầu tin
tưởng: chung một đời, một mộng / Em là em, anh vẫn cứ là anh / Có thể nào qua
Vạn Lí Trường Thành / Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.” (Xa cách - Xuân
Diệu), còn tình một đêm của những người dị tính là tình của những người luôn trân
quý sự tận hưởng thú vui xác thịt với người khác giới nên không nhuốm màu bi
lụy, tuyệt vọng: “Đêm phập phồng, ngực
nõn hứng trăng non / Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận. / Yêu thương nhé. /
Một lần thôi. Là đủ / Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian...” (Say yêu -
Đặng Xuân Xuyến). Nhưng cũng không hẳn thơ tình của người đồng tính, song tính
sẽ luôn có hơi hướng tình một đêm mà khá nhiều bài thơ (nhất là những bài thơ
được viết dưới hình thức ngụy trang), nếu nhà thơ không đủ dũng cảm để viết "trắng
phớ tất tay" như nhà thơ trẻ Trần Đức Tín (Khét) "bạch
hóa" cuộc tình đồng giới của anh với nhà văn Tống Phước Bảo thì
bạn đọc sẽ không thể biết đấy là tình luyến ái của người song tính với người
đồng tính: "gửi B / chút phong sương
còn sót lại / cho những ngày ta nhiễm mặn vào nhau / cây dừa không đậu trái /
ngọn lúa không trổ bông / sóng cứ ồ ạt sóng / người di cư / di cư" (Ta
nhiễm mặn vào nhau - Trần Đức Tín).
Trở lại
thơ tình của Đỗ Anh Tuyến với: Tự hỏi, Mãi niềm cô đơn, Khó
gì quên được tình, Người tình một đêm, Giờ
thành quá khứ... đều bao phủ những tủi hờn, tuyệt vọng, những dỗi hờn
sậm màu bi lụy xót xa.
Hãy
nghe Đỗ Anh Tuyến thổ lộ về "đoạn trường tình" của anh:
"Những mảnh đời đi qua đời tôi
Đậu xuống một đêm vô tình như gió
Như gió mỏng manh giọt sương òa vỡ
Như gió hao gầy tiếng vạc ăn đêm"
(Mãi
niềm cô đơn - Đỗ Anh Tuyến)
Anh quy
nạp những người tình là "những mảnh
đời đi qua đời" anh để chỉ đích danh những ái ân đấy không phải là
tình yêu bởi "những mảnh đời"
đó đến với anh "vô tình"
như gió, chỉ "đậu xuống một đêm"
để cùng anh thỏa mãn bức bách sinh lý bị kìm nén chôn giấu bởi những định kiến
cố hữu sai lệch với kiến thức khoa học của số đông trong xã hội. Hai câu thơ:
"Như gió mỏng manh giọt sương òa vỡ
/ Như gió hao gầy tiếng vạc ăn đêm" lý giải căn nguyên tại sao Đỗ Anh
Tuyến không coi những "đêm ấy"
là những "đêm tình" bởi
những ái ân đấy chỉ là những lén lút “vụng
trộm” của bản năng thôi thúc trong bóng đêm để thỏa mãn khát khao dục tính.
Tám chữ: "giọt sương òa vỡ/ tiếng
vạc ăn đêm" đã diễn giải tận cùng sự bi lụy tình và tuyệt vọng tình
của chàng trai Đỗ Anh Tuyến (hiểu rộng ra là của những người đồng tính, song
tính) trong các cuộc tình đồng giới với những rên rỉ lặng thầm mà âm ỉ thảm
thiết.
Những
câu thơ nhuốm màu cô đơn với cảm giác ngậm ngùi chua chát của tâm trạng như mặc
cảm tội lỗi, như lén lút, hụt hẫng, như chán chường tuyệt vọng... xuất hiện mật
độ khá dầy trong thơ Đỗ Anh Tuyến:
-
"Đôi chân rã rời sợ đến ngày mai
Bàn tay hư hao lo đêm dài quá
Ánh mắt dửng dưng hai người xa lạ
Bất chợt tìm nhau ứa giọt lệ nồng"
(Mãi
niềm cô đơn - Đỗ Anh Tuyến)
- “Em ngủ gật sau những giờ chờ đợi
Mỏi mòn nhìn vế phía giấc mơ anh ...”
(Chưa
bao giờ - Đỗ Anh Tuyến)
-
"Đêm nhắn gió tìm người mộng
Dệt vội câu thơ nghe nhói lòng ...”
(Nuối
tiếc - Đỗ Anh Tuyến)
-
"Lặng lẽ mình ta, độc hành vạn dặm
Bỏng rát đôi chân lê lết những con đuờng”
(Thực
tại – Đỗ Anh Tuyến)
-
"Trong tim anh, em cũng là người
khách
Ở trọ qua đường mỗi lúc nắng mưa?""
(Tự hỏi
- Đỗ Anh Tuyến)
-
"Ôi những vô cùng ôi những hư không
Cơn gió nào đi cơn gió nào sắp đến
Ta cay cực một đời như bến
Cánh buồm hoài ngóng đợi vẫn trong mây.."
(Mãi
niềm cô đơn - Đỗ Anh Tuyến)
Ngay cả
khi nhà thơ Đỗ Anh Tuyến viết dưới hình thức ngụy trang thì những câu thơ tình
của anh vẫn chất chứa những sầu não "hờn", "tủi",
"trách", oán... cam lòng với những rụt rè, giữ kẽ, bi quan... bởi
"tình ấy" của anh không nằm trong khuôn khổ quy ước thông thường của
định chế xã hội nên danh không chính ngôn không thuận, vì thế mà "tình
ấy" phải lén lút, phải ngụy trang dưới vỏ bọc của những mối quan hệ anh em
bè bạn nên dễ rơi vào trạng thái hụt hẫng, tạm bợ như “tình” của khách làng
chơi. Người đọc tinh ý sẽ không khó để nhận ra đấy là tiếng lòng của nhà thơ Đỗ
Anh Tuyến dành cho người yêu cùng giới tính:
"Em sẽ làm gì khi chỉ có anh thôi
Em có tủi, em có hờn, em có trách:
"Trong tim anh, em cũng là người khách
Ở trọ qua đường mỗi lúc nắng mưa?""
(Tự hỏi
- Đỗ Anh Tuyến)
Hay
những câu thơ ngậm ngùi chua chát về "thứ tình yêu" "ngọt ngào đến mấy cũng tan thành mây"
của người đồng tính, song tính phải lén lút vụng trộm vì không được gia đình và
xã hội thừa nhận dẫu được viết dưới hình thức ngụy trang vẫn không giấu được
tâm trạng phẫn uất xót xa... của chàng trai Đỗ Anh Tuyến trước sự kỳ thị "đàm tiếu" tình luyến ái đồng giới
của người đời:
"Chiều nay em chẳng về trên lối ấy
Để cho anh thơ thẩn khắp phố quen
Tay cầm bình rượu người sặc mùi men
Mặc cho thiên hạ bao lời đàm tiếu."
(Say,
em - Đỗ Anh Tuyến)
Trong
cuốn "Điểm yếu của người đàn ông hiện đại", Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin ấn hành Quý 4 năm 2006, ở bài NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH, tôi đã luận
bàn: "Công bằng mà nói, người
đồng tính là những người chịu nhiều thua thiệt, đau khổ trong cuộc
sống. Trong con mắt mọi người, dù người đồng tính có tài giỏi, tử
tế đến đâu, có ích cho gia đình và xã hội thế nào thì họ vẫn cứ
là “kẻ biến thái”, “lập dị”, bị tránh xa vì “kinh tởm”. Một ông
tổng thống, một nhà bác học hoặc một nhà thơ, một nhạc sỹ thiên
tài... nếu đã “bị” là người đồng tính thì dù có vắt kiệt tài
năng, trí tuệ để cống hiến cho nhân loại vẫn cứ phải đương đầu với
sự ghẻ lạnh, “khinh rẻ” của người đời. Một kẻ giết người, một tên
ăn trộm, một gã lừa đảo... nhiều khi lại được “xã hội” “tôn trọng”
hơn nhiều những người đồng tính. Đấy chính là sự nghịch lý, là bất
công của xã hội dành cho người đồng tính mà người đồng tính khó đủ
sức để vượt qua.". Có lẽ chính vì thế mà chàng trai trẻ Đỗ Anh
Tuyến đã hơn một lần dùng thuốc ngủ quá liều để tự giải thoát những dè bỉu,
khinh khi, đàm tiếu vô lý và đầy ác ý của người đời...
Vâng,
thơ của Đỗ Anh Tuyến phần nhiều là những dòng thơ đẫm lệ của sự tuyệt vọng, của
những bi ai phẫn uất trước những định kiến sai lệch của xã hội và sự kỳ
thị người đồng tính của số đông trong xã hội đã gián tiếp đẩy cuộc sống
của người đồng tính (và song tính) sâu vào ngõ cụt.
*.
Hà Nội,
ngày 10 tháng 11-2021
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
THƠ NGUYỄN VĂN SONG
VIẾT VỀ MẸ
----------
Nhà thơ
Nguyễn Văn Song sinh năm 1974, tại Vân Điềm, Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Hiện là
giáo viên Trường Trung học Phổ thông Phù Cừ, Hưng Yên. Anh đã xuất bản 2 tập
thơ: Đi từ phía cổng làng, Mẹ và sen. Đoạt giải B (không có giải A, đồng hạng
với nhà thơ Tòng Văn Hân (Điện Biên) với tác phẩm MẸ TÔI CHỬI KẺ TRỘM) cuộc thi
thơ của Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 2019 - 2020.
----------
Đọc thơ Nguyễn Văn Song viết về Mẹ, người đọc
thấy sự cần cù, kiên nhẫn và trung thành của anh trong việc chọn hướng đi, chọn
cách viết. Hình ảnh Mẹ trong thơ Nguyễn Văn Song luôn là hình ảnh người mẹ của
làng quê nghèo khó, lam lũ, tảo tần với gam màu tối, với những hình ảnh
xưa cũ quen thuộc đã được nhiều nhà thơ, nhiều thế hệ nhà thơ tiếp cận khai
thác.
Tôi đã đọc khá nhiều bài thơ của nhà thơ, nhà
giáo Nguyễn Văn Song viết về Mẹ nhưng chưa thấy bài thơ nào anh viết về niềm
vui, hạnh phúc của người mẹ, cũng chưa gặp nụ cười hay dáng mẹ đứng thẳng lưng
trong các bài thơ anh đã viết! Lạ thật! Chẳng lẽ cả đời người mẹ không có được
một niềm vui? Chẳng lẽ con cái được nuôi dậy nên người mẹ cũng hà tiện một nụ
cười? Tôi nghĩ trên thế gian này không có người mẹ nào như thế! Và trong tâm
trí của bất cứ người con nào thì những lo toan, vất vả của mẹ, những vui buồn
thường nhật của tình mẫu tử sẽ luôn nằm trọn trong trái tim với đủ cung bậc,
sắc thái nên ký ức về mẹ chỉ một gam màu, một cung bậc tình cảm như thế thì
không thể!
Có lẽ nhà thơ Nguyễn Văn Song tâm niệm muốn lấy
được sự đồng cảm của bạn đọc thì hình ảnh, ngữ điệu phải quen thuộc mới chạm
tới nỗi xót thương của người đọc, mới lấy được nước mắt của người yêu thơ nên
thơ viết về mẹ của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Văn Song luôn lấy chất liệu là ngữ
điệu xót xa của tâm trạng "ôn nghèo
kể khổ", bằng những hình ảnh mẹ được anh đồng nhất với hình ảnh của sự
lam lũ, nghèo khó nên mới đọc thơ anh một hai bài người đọc sẽ dễ đồng cảm với
"nhân vật trữ tình trong thơ"
nhưng nếu đọc nhiều hơn nữa sẽ gặp sự lặp lại về ngữ điệu, về hình ảnh, sắc
thái đã quá quen thuộc trong cách khai thác của nhiều nhà thơ, thành ra dù nhà
thơ Nguyễn Văn Song đã cố bỏ nhiều công sức trau chuốt câu thơ, trau chuốt bài
thơ để có những câu thơ chạm được vào nhịp rung cảm của bạn đọc thì với những
người đọc kỹ tính một chút, ưa sự sáng tạo một chút vẫn sẽ chau mày, thiếu kiên
nhẫn để ngồi đọc hết nửa tập thơ:
- "Đồng
xa mót tép mò cua
Mẹ về nghẹn
gió giữa trưa nắng trầy"
(Giỏ tre)
- "Mùa
đông lội xuống đồng làng
Mẹ gầy sương
đổ bóng càng thêm xiêu"
(Mùa đông của mẹ)
- ”Mẹ ngồi
sàng nhũng đêm dài
Sẩy từng câu
hát thức ngoài thềm sương”’
(Đàn cò của Mẹ)
- "Mẹ
ta quần mảnh, áo nâu
Đêm khuya
cặm cụi ngồi khâu dưới đèn"
(Tiếng cuốc nửa đêm)
-
"Giường đơn thiếu dáng mẹ gày
Nan tre buốt
lạnh chở đầy hắt hiu"
(Mẹ vắng nhà)
- "Trưa
hè tãi thóc, lật rơm
Bàn chân sấp
ngửa chạy cơn mưa rào
Ai làm giông
gió ba đào
Để cho bóng
mẹ ngã nhào đổ xiêu"
(Đôi bàn chân mẹ)
........
Tuy kiên nhẫn và trung thành với việc chọn hướng đi, chọn cách viết nhưng mừng là nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Văn Song cũng rất ý thức tiếp thu góp ý của các bạn văn để câu thơ, bài thơ của anh thành hay, thêm cảm xúc. Ví như một lần vào trang facebook cá nhân của anh tôi "bị" mấy chữ "nhẹ bẫng", "nháo
nhào" ở 4 câu thơ cuối bài “Cõng Mẹ” ám ảnh nên viết vài dòng cảm nhận về bài thơ, với những cảm xúc rất thật về 4 câu thơ cuối bài:
"Đọc “Cõng Mẹ”, tôi rất thích 4 câu thơ
cuối bài:
"Mẹ nằm
nhẹ bẫng lưng con
Mà nghe muôn
vạn núi non đổ ào
Lưng dài,
vai rộng, thân cao
Một lần cõng
mẹ nháo nhào bóng xiêu."
Bốn câu thơ với những chữ gợi nhiều cảm xúc như:
"nhẹ bẫng", "nháo nhào" khiến câu thơ dễ thấm
sâu vào trái tim người đọc. Hai chữ "nhẹ
bẫng" trong câu "Mẹ nằm nhẹ
bẫng lưng con" làm người đọc nghẹn lòng chưa kịp lắng xuống thì 2 chữ
"nháo nhào" trong câu kết
bài thơ: "Một lần cõng mẹ nháo nhào
bóng xiêu" như bồi thêm để cảm xúc nơi người đọc thêm se sắt. Bốn câu
thơ đó chưa đến mức tuyệt hay nhưng để viết được những câu thơ hay như thế thì
ngoài tình yêu, lòng biết ơn sự vất vả hy sinh của Mẹ luôn đậm sâu trong tâm
tưởng thì sức lao động, sự sáng tạo của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Văn Song góp
phần không nhỏ!"
Sau đấy, tôi được nhà thơ Nguyễn Văn Song cho biết, ban đầu 2 câu kết anh viết: “Lưng dài, vai rộng, thân
cao / Một lần cõng mẹ ngã nhào bóng xiêu” nhưng khi gửi đăng ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội thì biên tập Lý Hữu Lượng đã gợi ý anh đổi “ngã nhào” thành “nháo nhào”
vừa thể hiện đúng tâm trạng trữ tình mà chữ lại không cũ. Nhà thơ Nguyễn Văn Song thấy 2 chữ "nháo nhào" nâng câu thơ hay lên nhiều nên đã chỉnh sửa theo gợi ý của biên tập Lý Hữu Lượng.
*.
Hà Nội,
ngày 25 tháng 10-2024
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
THƠ, EM VÀ QUÊ HƯƠNG
TRONG “THƠ TRẦN VẤN LỆ”
Nhận được tập thơ THƠ TRẦN VẤN LỆ từ nhà thơ
Nguyễn Thiên Nga (nhà thơ Trần Vấn Lệ ủy thác) từ Đà Lạt gửi tặng, tôi rất vui
vì có được tập thơ của nhà thơ tôi yêu quý nhưng có chút tiêng tiếc là không
được chính nhà thơ Trần Vấn Lệ đề tặng vì cách trở địa lý.
Tôi kết bạn facebook với ông từ tháng 6 năm
2019, từ tình cờ đọc những comment trao đổi giữa ông với bạn facebook về thơ
ca, thấy cách “nói chuyện” của ông lạ lạ nên tò mò vào đọc trang facebook của
ông và tôi bị thơ ông chinh phục. Sau đó ít ngày, tôi được nhà thơ Trần Quốc
Phiệt cho biết đôi chút về ông: "Nhà
thơ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31-5-1942 tại Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Trưởng
thành và dạy học ở Đà Lạt. Hiện định cư tại Los Angeles - Hoa Kỳ". Sau
này, khi đã trở thành bạn facebook một thời gian, nhà thơ Trần Vấn Lệ cho tôi
thêm chút thông tin về ông: Định cư tại thị trấn Temple, Nam California, Hoa Kỳ
từ năm 1989. Trước năm 1975, là Giáo sư Việt Văn trường Bùi Thị Xuân (Đà Lạt),
đã từng tham gia Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ trong đơn vị Bộ binh, Quân
khu II của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Tập thơ "Thơ Trần Vấn Lệ" là
tập thơ thứ 22 của ông đã xuất bản thành sách.
Thơ ông viết tự nhiên, chân thực, không câu nệ
hình thức, viết như trải lòng, như có gì viết nấy nhưng lại rất tài dùng câu
chữ trong những văn cảnh cụ thể, cũng rất khéo ngụy trang cách thể hiện thi ảnh
thi tứ để bạn đọc luôn cảm nhận được sự chân chất, tự nhiên mà sâu lắng, tinh
tế trong không gian thơ ca đa tầng, đa chiều của thế giới thơ ca Trần Vấn Lệ.
Bài viết này là chút cảm nhận của tôi khi đọc
tập thơ "Thơ Trần Vấn Lệ" qua một số bài thơ viết về THƠ, EM VÀ QUÊ
HƯƠNG.
1.
Ông viết về “Em” và tình yêu ông dành cho
"Em" lạ lắm, chả như mọi người
cứ gồng lên em đẹp đến thế này, em đẹp đến thế kia, em đẹp đến “nghiêng nước nghiêng thành”, đến “hoa ghen nguyệt thẹn”... “Em” của ông
đơn giản chỉ là những niềm vui bình dị chợt đến từ câu thơ "nói về em", từ nụ cười “mỉm” của "Em"... chỉ vậy thôi
cũng đủ khiến cuộc sống quanh ông trở nên tươi ấm:
"Có
câu thơ, một hôm rất lạ,
nói về em
như nói một ngày vui!
Em biết
không em đã mỉm cười
và hôm ấy tự
nhiên trời nắng ấm!"
(Bài thơ làm từ hồi năm xưa xưa lắm)
Những câu thơ được cố ý viết bằng cách sắp xếp
câu chữ thật bình dị, cấu tứ thật đơn giản với chủ ý diễn tả tâm trạng thật tự
nhiên như tiếng lòng chân chất bật ra, đã khiến những câu thơ có ngữ điệu mộc
mạc như thế trở nên ấm áp hơn, thật hơn, đời hơn bằng giọng thơ rất riêng của
thơ Trần Vấn Lệ. Người đàn ông Trần Vấn Lệ ấy đã rất si mê, cũng rất biết nhịn
nhường và biết hết mình vì "Em" với một tình yêu ăm ắp lãng mạn!
Hay những câu thơ:
"Sáng
thức dậy, đóa hoa hồng trắng nở,
nụ môi em
thì lại rất hồng!
Đang còn là
tháng Chạp mùa Đông
em chớp mắt
mùa Xuân đẹp quá!"
(Bài thơ làm từ hồi năm xưa xưa lắm)
là khối tình si ông giành cho "Em"
thật độc đáo đến độc nhất vô nhị. Hỏi thế gian này liệu có người thứ hai yêu
"Em" như nhà thơ Trần Vấn Lệ?! Tôi không biết "Em" ở đời
thực của ông đẹp thế nào nhưng với những câu thơ: "Đang còn là tháng Chạp mùa Đông / em chớp mắt mùa Xuân đẹp quá!"
thì hẳn "Em" trong tâm tưởng của nhà thơ Trần Vấn Lệ không chỉ "bát ngát Xuân", căng tràn nhựa sống
mà còn đem đến cho nhà thơ niềm tin yêu phơi phới. Hai chữ “chớp mắt” khiến câu thơ: “em chớp mắt mùa Xuân đẹp quá!" trở
thành điểm nhấn lấp lánh làm bừng sáng "Em", bừng sáng sang cả bài
thơ. Những câu thơ tinh tế đậm chất riêng như thế tôi gặp khá nhiều trong “Thơ
Trần Vấn Lệ”.
Ông viết về tình yêu, về nỗi nhớ "Em"
cũng lạ lắm, cũng chả cần phải "cồn
cào", "da diết",
"thôi thúc"... đến ồn ã,
khuếch đại như nhiều nhà thơ mà là những cảm xúc rất thật, những tưởng tượng
cũng rất thật với những hoàn cảnh thực tại mà ông - nhân vật trữ tình trong thơ
- đang cô đơn độc thoại với lòng mình:
"Giờ
này, Mỹ, tôi thức. Mặt trời lên. Chói chang
Em vẫn ở
Việt Nam. Đêm. Trăng cài song cửa.
.
Tôi dang
tay. Tôi thở. Tay em trên ngực em?
Tôi đang
nghe tiếng chim. Em lim dim đi nhé..."
(Một bài thơ nằm ngoài giới hạn)
Hay:
- “Tôi
nhìn nước mênh mông. Tôi nhìn trời bát ngát. Tôi muốn nghe ai hát bài Tình Xa.
Tình Xa...
Em ơi em dễ
thương, bài Tình Xa cứ hát... Tôi thèm cơn gió tạt áo dài em mênh mông!”
(Tình xa)
- "Màu
tím của áo dài, gió vương nhòa sắc đá, đôi mắt huyền đẹp lạ... làm nao nao lòng
người!"
(Dốc nhà làng Đà Lạt để thương để nhớ)
- “Ờ nhỉ
anh hôn mắt
của em xinh
quá nha!
Cái miệng em
nở hoa
hình như...
chưa hôn nhé!”
(Đi chơi hoài trong thơ)
Những câu thơ đầy ắp cảm xúc với cách bộc lộ
trực tiếp bằng những lo lắng cụ thể, những nỗi nhớ cụ thể của tâm thế cô đơn:
Lặng lẽ yêu, lặng lẽ nhớ của nhà thơ Trần Vấn Lệ đã tạo sức nặng ám ảnh tới
người đọc bởi những da diết yêu thương, những quặn thắt nỗi nhớ và dằng dặc
những nỗi buồn bủa vây “khách lãng tử” đa tình cô đơn, cay đắng:
"Thương
em quá, bàn tay, hai cái bàn tay ngọc! Thương em quá, mái tóc... Mái tóc dài
như sông! Thương em quá cái lưng... cái lưng tàn nhang bám... Hay là anh phơi
nắng... giấy trắng cho nó vàng?
.
Tôi đã nói
với nàng những câu buồn như vậy!
Nước mắt
nàng vẫn chảy. Thơ tôi ràn rụa theo!"
(Thơ và em)
Hay:
- "Thương
em quá cái mặt. Nhớ em quá cái lưng.
Nói với nụ
hoa hồng... Nụ hoa hồng màu trắng!"
(Một bài thơ nằm ngoài giới hạn)
- “Hoa có
hương là hương Xuân nồng
Mưa phùn
không chỉ một bên sông!
Người đi nửa
bước đầu không nón
Nửa bước làm
ai vạn nhớ nhung!”
(Mưa phùn mỗi Tết)
Không cố ý cách tân làm mới thơ theo hình thức
Thơ Hậu Hiện đại, cũng không cố công gọt dũa câu chữ, sáng tạo ngôn từ nhưng
nhà thơ Trần Vấn Lệ luôn chú trọng cách thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình
bằng sự nâng niu cảm xúc, bằng cách chọn lựa câu chữ, sắp xếp câu chữ và sắp
xếp thi tứ, thi ảnh sao thật chân chất, gần gũi, dễ thương, dễ cảm để thông
điệp bài thơ truyền tải đến bạn đọc thật tự nhiên nên thơ Trần Vấn Lệ luôn mộc
mạc mà tinh tế, bình dị mà sâu lắng:
- "Lúc
đó gió động lay bức rèm xuân...
Lúc đó bâng
khuâng mấy nhành liễu chạm!
.
Mặt trời
bỗng sáng - sáng hơn hôm qua
Con ngõ vàng
hoa - vàng hơn bữa trước ..."
(Bài thơ yêu quá)
- "Trước
khi em đi ngủ, em gọi tôi: "Anh à...
Trăng, đúng
là trăng ngà, đêm nay Rằm anh ạ!".
.
Mới
"anh à, anh ạ". Em không nói gì thêm,
có lẽ em kéo
mền che hai chân ngà ngọc?"
(Một bài thơ nằm ngoài giới hạn)
- "Mưa
Đà Lạt trong veo, tôi nhớ thương Đà Lạt, tóc ai trầm hương ngát, chạm nhẹ mà
ngát hương!"
(Dốc nhà làng Đà Lạt để thương để nhớ)
“Hình như
tôi mới bật cười! Con sông Ba nước cuốn trời Phú Yên... cuốn em luôn cái mặt
hiền... câu thơ tôi sợi chỉ viền áo xưa!”
(Dẫn nhau đi tới Đỉnh Ngàn)
- "Anh
nhớ vườn cau, em với Ngoại
Mưa làm lá
rụng ngỡ tàu bay
Em sau bước
Ngoại nâng tà áo
Chút xíu mưa
làm má đỏ hây"
(Mù sương mùa đông)
- "Nàng
mỉm cười như hoa ban mai
Tuyết băng
óng ánh cặp chân mày
Mùa Xuân
không đợi chờ chi nữa
Nắng bỗng
chói ngời mỗi ngón tay!"
(Noel quê người quê nhà)
Đến cách đặt tên bài thơ ông cũng không giống
mọi người, rất khác, rất ngộ, rất riêng của Trần Vấn Lệ: Năm nay năm con hổ năm nào năm con người, Buồn tay ghi lại dòng năm
tháng, Dốc nhà làng Đà Lạt để thương để nhớ, Bạn có bao giờ nhặt nắng chưa, Bài
thơ làm từ hồi năm xưa xưa lắm, Bài thơ có vị thơ, Bài thơ mồ côi, Mãi mãi thơ
là thơ, Một bài thơ nằm ngoài giới hạn, Bài thơ yêu quá, Đi chơi hoài trong
thơ, Gió chờ hoài không gió, Thế mà cũng xong một bài thơ...
2.
Cuộc chiến tranh 2 miền Nam - Bắc Việt Nam kết
thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và ông (nhà thơ Trần Vấn Lệ) thuộc phía những
người "thua cuộc". Dời bỏ Tổ Quốc đến định cư tại xứ sở cờ hoa từ năm
1989 nhưng mãi tới tháng 3 năm 2016 ông mới có cơ duyên trở về thăm lại Cố
Hương. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đau đáu trầm buồn 2 tiếng Quê Hương:
"Lâu
quá, lâu rồi, hai Thế Kỷ, người thì cuối biển kẻ đầu non... Tôi xa Tổ Quốc như
chim én nhớ tổ bay tìm hương Cố Hương..."
(Hương tóc)
Hay:
- "Đà
Lạt đào nở thắm
mùa Xuân ôi
mùa Xuân!
Tôi đang
sống tha hương,
mơ màng về
thiên cổ!"
(Đi chơi hoài trong thơ)
- “Tết nay
năm mới mùa Xuân mới
Đào đứng
mong hoài gió ấm, không!
Gió có tới
bay vào cửa điện
Giai nhân
chải tóc, điểm môi son...”
(Nhắm mắt buồn thôi nhé Cố Hương)
Đọc thơ ông, chỉ thấy những nhớ thương đầy vơi,
những xót xa buồn tủi nặng lòng kẻ phải cô đơn tha hương nơi xa xứ. Và lãng
đãng trong thơ Trần Vấn Lệ, nhưng cũng hiếm hoi lắm mới chợt gặp tâm trạng ngậm
ngùi tiếc nuối về quá khứ của "miền
Nam tự hào", của “Sử vàng một
giấc chiêm bao”, xen lẫn chút xót xa trước (hiện trạng) "Sử hồng máu lệ đã trào tiếp theo...” (?)
bằng tâm thế bi ai của người phía "bên thua cuộc":
"Mình
yêu biết mấy Đà Rằng, yêu cây cầu thuở miền Nam tự hào... Sử vàng một giấc
chiêm bao. Sử hồng máu lệ đã trào tiếp theo...”
(Dẫn nhau đi tới Đỉnh Ngàn)
mà tuyệt không thấy câu thơ oán thán, hô hào
"chống cộng" như không ít nhà văn nhà thơ đứng bên kia chiến tuyến
với những người "anh em cùng dòng
giống Tiên Rồng" phía "bên thắng cuộc". Có lẽ nhà thơ Trần
Vấn Lệ đã ngộ ra được nỗi đau sau cuộc chiến sẽ loang tới tận hang cùng ngõ
hẻm, luồn lách tới mọi ngóc ngách cuộc sống của người dân nên dù là "bên
thắng cuộc" hay "bên thua cuộc" thì những di họa của cuộc chiến
cũng đổ hết lên đầu người dân và những di chứng của cuộc chiến do đối lập ý
thức hệ giữa 2 chính thể ở 2 miền Nam - Bắc còn mãi âm ỉ đau trong dòng chảy
lịch sử của dân tộc:
"Tôi
biết quê tôi không có tuyết
Chỉ làn khói
quyện mỗi mai, chiều
Khói nhang
hay khói cơm dằn bụng?
... những
tấm bia mồ lính ngả xiêu..."
(Noel quê người quê nhà)
Hay:
“Có những
miếu đình trơ đống gạch
Có những Nhà
Thờ dấu đạn ghim
Những túp
lều tranh đều lụp xụp
Bếp còn củi
gộc cháy trong đêm...”
(Buồn tay ghi lại dòng năm tháng)
Tôi nghĩ đó là những cảm xúc rất thật của nhà
thơ Trần Vấn Lệ, không phải ông cố diễn để dung hòa với những “người bạn” đang
cổ súy tinh thần "chống Cộng" cực đoan nên Thơ và "Em" đã
trở thành cứu cánh để nhà thơ Trần Vấn Lệ bám víu, tự xoa dịu những hệ lụy tàn
khốc của cuộc chiến "huynh đệ tương tàn" mà trụ lại với đời. Nhưng
rồi Thơ và cả "Em" nữa cũng trở thành thứ yếu, không đủ sức để làm
dịu mát nỗi đau, nỗi buồn, nỗi nhớ... khi tuổi ông đã dần ngả về chiều, khi
trái tim ông ngày đêm thêm quặn thắt hướng về Cố Hương:
“Liệu còn
về được hay không? Quê Hương, nhật nguyệt hay vòng khói nhang? Khói vòng rồi
khói cũng tan, cây nhang cắm đất mà tàn không bay...”
(Giấc mơ hồi hương)
Hay:
- “Thế là
chúng ta đã thấy
Bốn tám năm
rồi phù vân
Giao thừa
không một âm thanh
Chỉ tiếng
thở dài thậm thượt!
(Thêm một mùa Xuân tha hương)
- "Tôi
muốn về Cheo Reo... đứng nhìn mãi ngọn núi.
Tôi muốn tìm
bờ suối, hái, săm soi hoa quỳ...
Em ơi, anh
muốn đi / tới đầu trời cuối biển. Thơ, anh hốt, anh liệng, ném khắp Thái Bình
Dương? Ai cũng có Quê Hương... thơ thì vô Tổ Quốc?
.
Bây giờ thì
tôi khóc!
Tại sao tôi
làm thơ?"
(Thơ và em)
Tôi có chút “kỷ niệm” về câu kết một bài thơ với
nhà thơ Trần Vấn Lệ khi viết vài dòng cảm nhận về bài thơ "Như
Một Bài Tập Làm Văn" của ông.
Khổ cuối của bài thơ, ông bỏ lửng, chỉ có 2 câu:
"Cho
tôi được im lặng
khi nghĩ về
Quê Hương!"
Đây là dạng câu "kết mở", sẽ có những
cảm nhận khác biệt giữa những người đọc và cả người đọc với tác giả.
Khi cảm nhận bài thơ này tôi đã viết: "Tôi không thích cái kết của bài thơ như thế!
Bởi yêu Quê Hương ai lại chọn giải pháp im lặng? Bất kỳ lý do nào, hoàn cảnh
nào thì tôi nghĩ giải pháp: "Cho tôi được im lặng / khi nghĩ về Quê
Hương" vẫn thuộc tâm thế của người có tình yêu Quê Hương chưa đủ lớn để
vượt qua những trở ngại của phép tính giữ mình.", nhưng khi đọc tập
thơ "THƠ TRẦN VẤN LỆ" - (những sáng tác từ mùa Đông năm 2021 đến mùa
Xuân năm 2022), với những câu thơ day dứt, nặng lòng về Quê Hương:
- "Trăng
rơi! Có lẽ trăng rơi thật?
Ướt mắt tôi
là những ánh sương!
Lấy giấy lau
khô mà vẫn ướt
Lẽ nào đang
bão ở Quê Hương?"
(Hỏi bờ lau sậy gió bay qua)
- “Ai yêu Hà
Nội, xa Hà Nội, chỉ để buồn cho ai ngó theo... Còn để lại chăng là tiếng gió,
tiếng dương cầm những giọt trong veo!”
(Vĩnh biệt nhạc sỹ Phú Quang)
- “Vừa mới
Noel rồi sắp Tết
bao giờ nước
Mỹ hết mùa Đông?
Dĩ nhiên ai
cũng nhìn lên lịch
hoa sắp nở
nhiều, Xuân phải không?”
(Đường xa chi mấy)
- “Quê
Hương thành cái ảo, từ lâu rồi, quá buồn! Khi không mình tha hương, ba mươi ba
năm, nhớ!
(Gửi hương cho gió)
- “Những
người lầm lũi, nay lầm lũi
Gánh núi non
mình lên núi xa
Họ hứng mây
sương làm áo mặc
Hứng mưa làm
nước mắt, tuôn ra”
(Nhắm mắt buồn thôi nhé Cố Hương)
- "Bao
giờ mình về thật
cúi nhặt
tuổi hai mươi?
Không lẽ cứ
đi chơi
trong thơ
hoài, buồn quá!"
(Đi chơi hoài trong thơ)
- "Nụ
hồng trắng đắm đuối
Nở trong bàn
tay ai...
Đó không
phải Tương Lai
... mà Trời
ơi! Dĩ Vãng!"
(Nụ hoa hồng trắng và bàn tay em)
- "Đời
đẹp như bài thơ! Đâu bài thơ nào đẹp?
Mắt tôi từ
từ khép. Lòng cửa kính sương lăn..."
(Đêm mùa đông)
"Chắc
chắn Chúa giật mình... giật rớt cây Thánh Giá, cái lư hương được trả... khói
thơm suốt bờ sông..."
(Thế mà cũng xong một bài thơ)
Và những câu thơ đã trích dẫn đưa vào bài viết
từ tập thơ “Thơ Trần Vấn Lệ” thì tôi hiểu “đòi hỏi” như thế với nhà thơ
Trần Vấn Lệ quả là không thỏa đáng. Bởi cũng như ở Việt Nam, bên cạnh những
vòng tay luôn giang rộng đón chào “người
anh em từng ở bên kia chiến tuyến” gác lại quá khứ trở về Việt Nam cùng hàn
gắn vết thương chiến tranh, cùng chung tay xây dựng Đất nước thì vẫn còn những
kẻ luôn tìm cách cản trở tiến trình Hòa giải Hòa hợp Dân tộc bằng sự phân biệt
đối xử, tạo thêm hận thù, gây chia rẽ tình đoàn kết Dân tộc thì trong cộng đồng
người Việt ở hải ngoại cũng vậy, bên cạnh những trái tim luôn đau đáu hướng về
Tổ Quốc với tinh thần Hòa hợp Hòa giải Dân tộc cụ thể, thiết thực thì vẫn còn
những kẻ rắp tâm cản trở tiến trình Hòa giải Hòa hợp Dân tộc bằng những hành
động "chống Cộng" cực đoan.
Từng là người lính, tuổi cũng đã dần ngả về
chiều nên có lẽ nhà thơ Trần Vấn Lệ sợ chiến tranh, sợ tái diễn cảnh “huynh đệ tương tàn”, sợ những đau thương
mất mát lại tái hiện trên mảnh đất Việt Nam nên ông đã chọn phép dung hòa để
“giữ mình”, để hy vọng tình yêu ông dành cho Quê Hương Việt Nam được vẹn
nguyên, không sứt mẻ.
Tôi chép vào đây bài thơ "Xa
Quê" viết tặng nhà thơ Trần Vấn Lệ ngày 23 tháng 6 năm 2021 để kết
thúc bài viết này.
XA QUÊ...
- Kính tặng nhà thơ Trần Vấn Lệ -
.
Xa quê lâu
ngày tưởng nhớ
Ai ngờ cứ
dửng dưng quê
Chiều nay,
hay tin núi lở
Cả làng vùi
dưới chân đê...
.
Hôm tê, từ
quê báo thế
Lũ dâng,
dâng kín mái nhà
Người người
hò nhau cứu tế
Lửa gần mà
nước quá xa...
.
Hôm qua,
thêm ba "tàu lạ"
Bắn chìm dân
đảo Phú Lâm
Biển ta sắp
là biển lạ
Dân ta nuốt
lệ lặng thầm...
.
Ừ thôi, cứ
bàn chân dậm
Ừ thì, cứ
chặt nắm tay
Xa quê, thì
đau thì thấm
Nước mắt
ngược dòng mới hay...
*.
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
*.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5-2022
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
MỘT CHÚT TÂM SỰ
KHI ĐỌC THƠ NGUYỄN TUYỂN
Tôi đọc thơ Nguyễn Tuyển không nhiều, cũng không
thường xuyên nên hiểu về thơ của Nguyễn Tuyển không được sâu nhưng có lẽ Cha Mẹ
và Quê Hương là mảng đề tài chiếm dung lượng khá lớn trong thơ anh thì phải.
Cũng là nhớ về đấng sinh thành nhưng với nhà thơ
Nguyễn Tuyển (trong "Ngỡ") thì khác, anh hạnh phúc hơn khi còn bố còn
mẹ nên nỗi nhớ cũng nhẹ nhàng hơn và ít nước mắt hơn so với nỗi nhớ của những
ai không còn bố, không còn mẹ. Cho dù trong anh có quắt quay nhớ đấng sinh
thành thì cũng chỉ ở mức rưng rưng ngấn lệ, nhưng vẫn còn đầy ắp hạnh phúc của
sự chờ đợi được cha mẹ chằm bặp, yêu thương:
"Tôi
mơ mùi thơm gạo mới
Nồng nàn vị
mặn đất quê
Tôi mơ những
chiều mẹ đợi
Bố lên nương
rẫy chưa về"
(Ngỡ)
Hay những câu thơ thấm đẫm sự nhớ thương, lòng
biết ơn và niềm tự hào về đấng sinh thành của người con khi phiêu bạt xa xứ:
- "Nhớ
khói lam chiều quyện mái nhà tranh
Mùi cơm mới
thơm nồng mồ hôi mẹ
Cha gánh
hoàng hôn bước về lặng lẽ
Phía triền
đê lúa trở dạ ngậm đòng”
(Thương nhớ quê nhà)
- “Mẹ nằm
đếm tháng tính ngày
Tay lần
tràng hạt cầu may mùa vàng
Cha ngồi bên
bếp lửa tàn
Mơ trong gió
thoảng những làn khói rơm”
(Tháng Ba hạt lúa nghẹn lòng)
- “Vườn
của mẹ bỗng như bừng thức giấc
Những sớm
mai cha mỉm cười tất bật
Chiếc áo sờn
mẹ gánh cả mùa Xuân”
(Mùa Xuân đã đến phía sau mình)
Đọc những câu thơ ăm ắp tình mẹ, ăm ắp tình cha
như thế hỏi ai chẳng nao lòng?!
Nỗi nhớ bố nhớ mẹ nhớ quê cứ hồn nhiên trong
trẻo ngân lên như thế, rồi chợt lắng lại, trầm xuống với thoảng nhẹ chút hương
nhớ vị thương đằm nét hồn quê của riêng Nguyễn Tuyển:
"Bây
giờ quê xa vời vợi
Chợt thèm
một khúc bánh xôi
Giận mình
một đời nông nổi
Chiều rơi,
ngỡ mình... mồ côi..."
(Ngỡ)
Câu "Chợt
thèm một khúc bánh xôi" bằng cảm xúc rất thật, đã xóa đi cảm xúc còn
chênh, chưa thật của câu: "Chiều
rơi, ngỡ mình... mồ côi... ", khi Nguyễn Tuyển đẩy cảm xúc cao hơn tâm
trạng thực để kết thúc bài thơ.
Không chú trọng vào việc tìm tòi cách thể hiện
tứ "mới - lạ - độc" như nhiều nhà thơ trẻ hoặc thích "được trẻ
hóa", Nguyễn Tuyển lặng lẽ chọn lựa câu chữ để thể hiện được tình nồng ấm,
hồn hậu trong thơ anh. Những câu thơ anh viết về quê hương dễ chạm được vào
trái tim người đọc bởi những nét đẹp yên bình như được lan tỏa từ trái tim nồng
ấm, đôn hậu của Nguyễn Tuyển:
"Và
chú chim líu lo trên cành biếc
Mổ hạt
sương tan ở sau vườn
Con mèo nhỏ
vùi mình trong xó bếp
Khúc khích
đùa trông thật dễ thương"
(Mai về với Mẹ)
Những câu thơ trong trẻo hồn nhiên như thế đem
lại cảm xúc rất khác với những câu thơ hay và đẹp trong bài "Tìm
về ngày xưa", ví như:
"Tôi
về vén bóng tre làng
Nghe bao
thương nhớ cũ càng ùa xô
Con đò gác
mái sóng nhô
Bờ sông
thiêm thiếp, câu hò lạc trôi"
hay:
"Ngược
chiều theo cánh thiên di
Ngày trôi
qua đáy, mùa đi không về
Ngọn nồm
quất rạc triền đê
Lòng tôi
ngân ngấn bên lề nhớ quên"
Đọc những câu thơ hay và đẹp với kha khá chữ ấn
tượng, gợi nhiều cảm xúc, thể hiện kỹ thuật thơ của người có tay nghề: "Bờ sông thiêm thiếp", "Ngày trôi qua đáy", "quất rạc triền đê ", ... , với
những hình ảnh gần gũi thân quen như đã từng gặp ở đâu đó dễ làm bạn đọc nao
lòng nhưng cũng chính những câu thơ với những hình ảnh, những ngữ điệu dễ nao
lòng đấy lại tạo cảm giác thiêu thiếu cái hồn, cái tình vốn mộc mạc chân quê
trong thơ Nguyễn Tuyển, khiến người yêu thơ Nguyễn Tuyển gợn chút nỗi bâng
khuâng nhơ nhớ. Có lẽ, anh muốn tạo thay đổi diện mạo cho trang thơ Nguyễn
Tuyển bớt đồng điệu đồng màu nên "Tìm về ngày xưa" với những tìm
tòi học hỏi để làm mới mình trong ý tưởng cấu tứ nhưng thi tứ thi ảnh chưa thật
sự tạo được rõ dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Tuyển nên những câu thơ hay và đẹp
đó vẫn gợn chút bâng khuâng nhơ nhớ chất thơ, hồn thơ mộc mạc và trong trẻo của
Nguyễn Tuyển trong tâm trí bạn đọc.
Tôi thích những câu thơ mang nặng dấu ấn miền
Trung nắng gió - quê hương Quảng Ngãi của nhà thơ Nguyễn Tuyển, ví như:
"Bình
yên quá, gối đầu lên ngày cũ
Ta mơ màng
bên hương khế xốn xang
Mơ dáng
ngoại khẽ khàng ru ta ngủ
Chợt giật
mình...
mùi cơm mới
bay ngang."
(Bình yên quê Mẹ)
Hay:
- "Tôi
nhớ làng như đứa trẻ lên ba
Ngồi ngóng
mẹ đi chợ phiên ngày tết
Kể sao hết
bao sắc màu xanh biếc
Con dế trong
tôi cắn nát những đêm dài"
(Ngày bình yên)
- “Sáng
ngồi
vẽ một bình
minh
Ngờ đâu mưa
xối thình lình ướt tôi
Giọt rơi rát
bỏng hơn vôi
Cho tôi uống
lấy bời bời niềm đau”
(Vẽ ngày bình yên)
- "Có
vạt nắng chiều gầy guộc góc sân
Mẹ ngồi hong
nhúm khoai mì đang mốc
Thương bông
lúa trổ mầm ngoài rộc
Đàn gà con
nhao nhác tìm mồi."
(Bài thơ tháng Mười)
- "Hơn
nửa đời phiêu bạt đó đây
Giữa phố
phồn hoa, rộn còi tàu hú
Tiếng dế nỉ
non vẫn theo vào giấc ngủ
Như lời quê
thầm thĩ nơi xa"
(Ngày bình yên)
Những câu thơ như thế rất dễ chạm vào trái tim
người đọc bởi những câu thơ đấy được tinh lọc, phản chiếu từ cái nhìn trong
trẻo mà run rẩy rung lên tiếng lòng từ trái tim hồn hậu của Nguyễn Tuyển.
Viết về Mẹ, Nguyễn Tuyển có khá nhiều câu thơ
tinh tế, có sức ám ảnh người đọc với sự lan tỏa thầm lặng, ví như:
“Lời ru
chìm giữa mênh mông
Tháng ba ai
đốt khói đồng mắt cay
Cánh cò hun
hút chân mây
Đồng sâu mẹ
đội bóng ngày liêu xiêu”
(Dỗ mình)
Hay:
- "Men
theo sợi khói lam chiều
Tôi về quê
mẹ - nắng liêu xiêu gầy
Hương trầm
ai đốt mà cay
Giọt tràn
đáy mắt bỗng ngày rưng rưng"
(Khẽ khàng quê)
- "Mẹ
giờ như cọng rơm gầy
Cuối mùa sót
lại sau ngày nắng mưa
Chuồn chuồn
bay giữa ban trưa
Sợ cơn bão
nổi về lùa qua truông"
(Gió ơi lay khẽ thôi nào)
- "Rồi
một chiều muốn bỏ chốn phồn hoa
Về bên mẹ
hít hà mùi cơm mới
Mái tranh
nghèo nhuộm vàng bao sợi khói
Nghe à ơi...
bên cánh võng năm nào.”
(Chợt thèm một chút ngày xưa)
- "Tuổi
của mẹ theo ngày trôi qua tóc
Mỗi xuân
sang thêm vài sợi úa màu
Nồi nếp mới
của vụ mùa khó nhọc
Mẹ gói vào
cời lửa suốt đêm thâu."
(Mai con về tạ lỗi với quê hương)
- "Mẹ
ạ!
chiều nay
con lại nhớ
Chiếc
chõng tre ọp ẹp thủa nào
Thèm một
giấc ngủ vùi như chưa có
Để nghe
tròn một khúc ca dao."
(Khóc giữa ban chiều)
- "Mặc
cho giông thét bão gào
Âm thầm mẹ
vá khuyết hao lở bồi"
(Mẹ ơi mùa trở gió rồi)
Bên cạnh hình ảnh Mẹ là tượng hình Cha với những
khắc họa thật đẹp, đẹp lồng lộng, hào sảng với những lắng đọng ấm áp từ trong
da diết nỗi nhớ của nhà thơ Nguyễn Tuyển:
"Cạn
đêm kí ức cựa mình
Thấy cha
cõng nắng chùng chình bước chân
Miệng cười
gánh cả xuân sang
Hương đồng
theo gót mênh mang gió lùa"
(Chợt mơ về với quê nhà)
Bốn câu thơ khá hay, với Tứ thơ đã được nhiều
nhà thơ sử dụng khi khắc họa tượng hình người Cha nhưng tượng hình người Cha
trong "kí ức cựa mình" của
Nguyễn Tuyển đẹp đôn hậu hào sảng với những nét vẽ dễ chạm vào trái tim và găm
sâu vào trí nhớ bạn đọc của riêng Nguyễn Tuyển. Thật tiếc, nhà thơ Nguyễn Tuyển
đã không đầu tư thêm chút thời gian cho việc chọn chữ gieo vần để bốn câu thơ
đó được tròn trĩnh hơn.
Hay những câu thơ khác Nguyễn Tuyển viết về Cha
không cố ồn ào to tiếng mà anh đào sâu vào tâm thức với suy tưởng điềm tĩnh đến
trầm lặng:
- "Mấy
canh chầy cha tựa cửa lo âu
Canh con
nước lớn ròng theo mùa lũ
Bóng cha
nhoè lem trên bức tường rêu cũ
Đèn khuya
hiu hắt bên thềm."
(Bài thơ tháng Mười)
- "Thấy
bóng cha ngồi ở phía triền đê
Nối sợi dây
diều tuổi thơ tôi vừa làm đứt
Hoàng hôn
buông một màu đỏ rực
Chú dế mèn
ngậm cỏ hát nghêu ngao"
(Một chút dại xưa)
khiến những câu thơ đó đầy ắp tâm trạng và nặng
thêm sức ám ảnh với người đọc.
Thơ Nguyễn Tuyển luôn đầy ắp chất liệu mộc mạc,
bình dị của cuộc sống và câu chữ anh dùng cũng là câu chữ chọn lựa từ ngôn ngữ
của cuộc sống nên thơ Nguyễn Tuyển dễ gần dễ hiểu với bạn đọc. Có lẽ vì thế mà
thơ của anh tuy không chú trọng làm mới cách sử dụng câu chữ và sáng tạo ngôn
từ, cũng không làm mới hình thức thể hiện nhưng là thơ của cảm xúc chân thật
nên bạn đọc đến với thơ Nguyễn Tuyển lặng lẽ, tự nhiên với sự lan tỏa thầm lặng
không ồn ào vồn vã.
*.
Hà Nội, sáng 5 tháng 8-2022
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ
VĂN THÙY “DỊ NHÂN”
Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh
doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề,
khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và
tìm thú tiêu khiển với facebook... Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn
hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế... chứ không mặn mà với thơ, truyện vì...
ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ
Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà - ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên - tôi mới biết
ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”... Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho
phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi
vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.
Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!
Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải
trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú
chuông... hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười
cũng xong.
Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông - của “dị nhân” Văn Thùy - trở
nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong
rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời
mái gianh.
Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối
má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa;
bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm
mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự
trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa
đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh
diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côi. Tình yêu ông dành cho người vợ
nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng
“xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết
sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi
sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình
yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau những “Trong
nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người
vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để
chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí
người đọc: Giá như đôi đũa chẳng
cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình
không dại dột chia đôi nếp nhà.
Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một
tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát,
đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo,
bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu
đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn
chân giường còn hai”… tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa
thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như
con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại
dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại
là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”... được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén
những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên
chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang
lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm
nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng
yêu khan”...
Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu
trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của
người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng
đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng
then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi
thề uống cạn đắng cay cõi trần.
Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng
lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc
mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương
rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh -
(Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết
bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc
sâu trong tâm trí người đọc: Chân
trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống
đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.
Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái,
thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của
dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất
riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.
Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện
nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về
ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” -
“Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín
ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con
xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” - “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn
tóc rối thời mái gianh”..., thậm chí sự tương đối giống nhau của cả
những bài thơ (Xin Em - Xin Em Đừng Mặc Áo Dày) đã làm thơ ông xuất hiện sự
nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo,
chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức
hấp dẫn với chính thơ của mình.
*.
Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM
TRONG RỪNG XANH MƯA
Định viết bài cảm nhận về tập thơ RỪNG XANH MƯA
của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm nhưng tôi không đủ sự kiên nhẫn để đọc một mạch
hết tập thơ, vì thú thật, để hiểu được thơ của ông, với tôi quả thật là không
dễ, nên đành chọn phương pháp vài ngày đọc một bài, nghiền ngẫm từ từ, thật
chậm để "ngộ" được "nỗi niềm thầm kín" ẩn trong những bài
thơ mang mang hơi thở Thiền của ông. Hôm nay, đọc mấy bài thơ về biển, gặp
những tứ thơ hay, lạ, tôi vội gõ đôi dòng theo mạch cảm xúc: BIỂN CỦA NGUYỄN
THANH LÂM TRONG RỪNG XANH MƯA.
Với nữ sĩ Xuân Quỳnh: “Biển như cô gái nhỏ/ Thầm thì gửi tâm tư”, dịu dàng những xao động
của cõi người, nhưng với Nguyễn Thanh Lâm thì biển không chỉ dịu dàng như thiếu
nữ tuổi dậy thì mà còn đẹp hơn thế, khi ông phát hiện: biển trong mưa thật đẹp,
đẹp trắng trong, tinh khiết “Như thiếu nữ
đã vào chùa xuống tóc”, chỉ nên chiêm ngưỡng bằng tâm thể thánh thiện của
cõi Thiền. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ và cõi phàm trần “trở bệnh tương tư”, “ngẩn ngơ”
tiếc nuối:
Biển lại mưa
Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc
Mây ngẩn ngơ bay
Gió trở bệnh tương tư
Đường chân trời ảo mờ trong mắt
(Biển lại
mưa)
Khi mưa tạnh, biển trở lại hiền hòa, êm dịu, thì
dưới lăng kính lãng mạn của nhà thơ, biển đẹp như “cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc”, còn nguyên nét ngây thơ, trong
sáng của tuổi mới lớn. Nét đẹp ấy mơn mởn những phồn thực mà hồn nhiên, sáng
trong, lặng thầm của hương trinh nữ, làm xuyến xao nhà thơ với miền cảm mến
thanh tao, không vẩn nét phàm trần, khiến những trăn trở, nghĩ suy của nhà thơ
về trách nhiệm với cuộc đời trở nên an nhiên, tự tại:
Lòng tôi rỗng không ngắm biển
Tóc trắng trên đầu lặng sóng
Mắt khép hờ lỏng then quá khứ - tương lai
Hồn nhiên nhịp thở
Hương hạnh phúc dâng đầy
(Biển sau
mưa)
Đứng trước biển, nhà thơ lặng lẽ quan sát, lặng
lẽ thả hồn đắm chìm vào những cảm xúc để hồn thơ thăng hoa, bay lên. Những hình
ảnh sống động, đan quyện vào nhau, uyển chuyển giữa hư và thực, tạo nên một bức
tranh “siêu thực”, đẹp như trong cổ tích, thể hiện tài sử dụng hình ảnh thật
khéo, thuần thục đến nhuần nhuyễn của nhà thơ:
Mưa réo sôi trên đầu sóng
Biển sưởi hồn tôi bằng mặt trời năm xưa
Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng
Ôm vào lòng cho đỡ ướt tâm tư
(Gặp mưa)
Vâng! Tôi thích những câu thơ như thế. Tôi thích
những hình ảnh tráng lệ từ nét vẽ tài hoa của Nguyễn Thanh Lâm. Những câu thơ
như: “Mưa réo sôi trên đầu sóng”, “Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng”... đã
nâng nhà thơ lên thêm một tầm cao.
Con người và thiên nhiên đã thẩm thấu nhau, hòa
quyện vào nhau, cùng phiêu trong cảm xúc của nhà thơ, tạo nên một bức tranh
lung linh huyền ảo, đẹp đến ngỡ ngàng:
Trong vòng tay tôi mặt trời thiêm thiếp
Tôi tự ru mình trong tiếng mưa
(Gặp mưa)
Tôi yêu những câu thơ này! Tôi tự hỏi: “mặt trời” nào của nhà thơ “thiêm thiếp” vậy? Là ảo ảnh của tình yêu
năm xưa chợt ùa về? Hay ảo ảnh mặt trời trong sóng biển khiến nhà thơ liên
tưởng? Uầy... Là gì thì những hình ảnh ấy cũng rất đẹp, cũng khiến người đọc mơ
màng, ngơ ngẩn.
Nhưng có khi, biển của Nguyễn Thanh Lâm không
khoác hình hài của một thiếu nữ tuổi trăng tròn, đẹp dịu dàng, trong sáng, cũng
không là hình ảnh “mặt trời năm xưa”
khiến nhà thơ nâng niu “Ôm vào lòng cho
đỡ ướt tâm tư” mà biển mang dáng dấp như người đã trưởng thành, người từng
trải... bằng những câu thơ đượm vị đời với những suy tư, chiêm nghiệm, đậm chất
triết lý, với những nỗi đau cũng thật đời, rất người:
Biển chưa im lặng bao giờ
Suốt đời quằn quại sóng
Cả đời mặn nước mắt khổ đau
Mưa trời không thể bão hòa vị mặn
(Nước mắt
biển)
Đắm mình trong không gian sống động của biển cả,
thả tâm tư hòa quyện với trời mây… nhưng nhà thơ không quên đối diện với “lòng mình” mà “ngộ” ra điều: biển không hề yên bình, giống như lòng thi sĩ cũng
đang ngổn ngang trăm nghìn tơ rối, để mà thêm thấm: “Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người”, để mà tự thức tỉnh về lẽ
đời nơi cõi người vốn nhiều oan trái, khổ đau:
Tôi nhìn vào lòng mình thấy biển
Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người
(Nước mắt
biển)
Và có những lúc, biển của Nguyễn Thanh Lâm trở
nên khác lạ, không ồn ào, dữ dội, không "quằn quại sóng" bởi "cả
đời mặn nước mắt khổ đau", cũng không dịu dàng như thiếu nữ tuổi cập
kê trăng tròn, mà biển yên bình, lãng đãng chất lãng mạn chốn thôn quê:
Sóng ì oàm vỗ mạn tàu
Nghe như tiếng gàu sòng tát nước trăng khuya
(Đêm tạm
trú)
Có lẽ chỉ nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm mới nghe được
tiếng sóng biển vỗ mạn tàu "ì oàm"
"như tiếng gàu sòng tát nước trăng
khuya". Và chỉ có ông mới vẽ biển bằng những nét vẽ lãng mạn, yên
bình, đầy chất thơ mà khác, lạ như thế.
Chừng 8 bài thơ viết về biển, như thế không phải
là ít trong tổng số 70 bài thơ của RỪNG XANH MƯA. Thơ ông viết về biển, bài nào
cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh
thiện của cõi Thiền. Có lẽ vì không phải là người vùng biển nhưng lại rất yêu
biển nên ông viết về biển bằng những cảm xúc thật, đẹp và lạ, bằng tâm trạng
của người lâu lắm rồi mới gặp lại biển, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đa sắc thái, đa
hình ảnh... của biển mà hồn thơ ông bay bổng với nhiều sắc thái tâm tưởng.
*
Hà Nội, chiều 08 tháng 05 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ
TRẦN MAI NGÂN
Thơ của Trần Mai Ngân là thơ của nỗi
lòng. Hình như, chị mượn thơ chỉ để ghi lại Nhật Ký Nỗi Lòng nên thơ của chị
gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi đọc thơ chị. người đọc dễ “cảm”, dễ nhớ. Chị
viết nhanh để ghi lại những cảm xúc thật của mình nên những câu thơ của chị rõ
là của chị, không chịu ảnh hưởng cúa ai, cứ nhẹ nhàng đằm thắm, nhẹ nhàng chịu
đựng, nhẹ nhàng hy sinh (có lẽ) như chính con người của chị.
Đọc những câu thơ:
- “Tôi đi nhặt lấy phù du
Trần gian một cõi mịt mù chơi vơi
Tôi tìm trong chiếc lá rơi
Phận người với cả một đời hư hao”
(Phù Du)
- Ngồi buồn xòa ngón tay hao
Đã đan trong gió đã nhòa trong mưa
Gần xa cũng đã từng chưa
Ngón tay đeo nhẫn như vừa chơi vơi.
(Ngồi Buồn Bấm Đốt Ngón Tay)
- Gió chiều, chân vội bước qua
Chỗ cười, chỗ đứng đã là ngày xưa
Mười Hai trời chẳng thôi mưa
Tiễn Thu hay tiễn tôi vừa hôm nay!”
(Tiễn Thu 2)
người đọc thấy trân quý cuộc đời hơn
dù những câu thơ ấy viết về sự cô đơn, về nỗi xót xa vì những dang dở chuyện
tình, bởi thơ ấy không hề bi lụy, tiêu cực mà chỉ nhẹ nhàng dâng kín nỗi buồn,
rồi nhẹ nhàng buông bỏ để người thơ trở về với những gì là của mình, thuộc về
mình.
Tôi thích thơ chị, có lẽ cũng từ
những câu thơ hay và tinh tế như thế.
Hôm nay, đưa thơ chị lên trang blog
Đặng Xuân Xuyến, không hiểu lý do gì mà 3 lần tôi lập cập làm hỏng, cứ phải dàn
trang lại. Vì đặc thù riêng (một phần do thiết kế) nên thời gian dành cho việc
đưa bài lên trang blog Đặng Xuân Xuyến thường tốn khá nhiều nên tôi bực, định
xóa hẳn bài nhưng tiếc công sức đã bỏ ra nên nán làm lại, vì thế mà tôi đọc kỹ
bài thơ GIẬN của chị. Tôi bật cười với suy nghĩ: Thảo nào tên bài thơ là Giận!
Và cặm cụi ngồi gõ đôi dòng về Giận
và cả về thơ của chị:
GIẬN...
Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa
Mà em luôn nói dối
Không sao...em ổn mà!
Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau
Thêm một lần... lần nữa
Có chắc còn lần sau
Ngày mỗi ngày hờ hững
Nên tình đành xa mau...
Canberra trắng màu
Mây trôi xa xôi quá
Em nhủ lòng quên đi
Chuyện đôi ta ...còn gì?
*
Canberra, 25 tháng 08.2018
TRẦN MAI NGÂN
Vâng. Thơ Trần Mai Ngân là thế. Cứ
thẳng tuột với những suy nghĩ của mình, chẳng cần chọn lựa câu chữ bóng bảy,
chẳng cần rào dậu chắn be. Sự thẳng tuột ấy chỉ là chị tự nói với lòng mình, tự
lẩm bẩm với nỗi buồn đang xâm kín lòng mình, sự nhẹ nhàng ấy rất phụ nữ Miền
Tây:
Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa
Biết là giận dỗi là căn nguyên của
sự “cách xa” nhưng chị không giãi
bày, không phân tỏ mà chỉ âm thầm chịu đựng, âm thầm để níu giữ:
Mà em luôn nói dối
Không sao... em ổn mà.
Câu: “Không sao... em ổn mà!” nghe như tiếng nấc đang được chị cố ghìm
lại.
Chị tiếp tục thật thà với nỗi ấm ức
đầy vơi của mình, bằng những câu không thể đời thường hơn, không thể thật hơn,
cứ như chị bê nguyên xi nỗi ấm ức, hờn tủi của chị bằng những câu nói thường
nhật trong cuộc sống vào thơ mà chẳng cần cầu kỳ gọt rũa, chẳng cần chọn lựa kỹ
câu từ. Vì thế mà chuyện của chị, thơ của chị thật lắm, đời và dễ chạm vào lòng
người:
Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau
Biết là sức chịu đựng của con người
có giới hạn nên khi đối diện với lòng mình, chị lắng hỏi lòng mình, và cũng là
tự nhủ với lòng mình: "Thêm một
lần... lần nữa/ Có chắc còn lần sau". Biết sự nhường nhịn ấy, cam chịu
ấy rồi cũng sẽ không đem lại kết quả tốt đẹp, nhưng chị lại buông xuôi, bất
lực, tiếp tục cam chịu “thêm một lần”,
rồi lần nữa, “lần nữa”... để chấp
nhận sự đổ vỡ, chia ly: “Ngày mỗi
ngày hờ hững/ Nên tình đành xa mau...”, thì thật là một bi kịch.
Nhẫn nhịn và bất lực trước cuộc tình
sắp tan vỡ là tư tưởng yếm thế của một phụ nữ cam chịu xuyên suốt bài thơ.
Đọc bài thơ, không thấy hình bóng ai
ngoài hình bóng chị, được mặc định bởi nhân vật "em" đang thủ thỉ kể chuyện tình buồn của mình. Cũng không biết
căn nguyên những lần giận dỗi từ đâu, sự giận dỗi ở mức nào mà chỉ thấy hình
ảnh nhẫn nhịn, cam chịu của chị, với những tâm sự của riêng chị, cũng rất chung
chung, mơ hồ, khiến người đọc dù mến thương, cảm thông với nhân vật "em", vẫn buông tiếng thở dài, nhẹ
nhàng trách cứ: "tại anh tại ả, tại
cả đôi đường.".
Dù thế, thì "Giận"
vẫn là bài thơ nhiều cảm xúc, cuốn hút người đọc bởi sự chân thành trong từng
câu chữ của người viết.
Vâng! Thơ của Trần Mai Ngân là thế,
là thơ của nỗi lòng, là tấm gương phản chiếu chân thực cuộc sống mà nữ sĩ Trần
Mai Ngân đã trải qua, đã cảm nhận và đối diện.
Tôi thích những câu thơ buồn nhẹ
nhàng nhưng lại rất sâu, rất thấm, kiểu:
Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã rời xa không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi.
(Khắc Vào Gió)
Nhưng tôi mong lắm được đón đọc
những bài thơ tươi rói nụ cười, những niềm tin rạng ngời về sự vẹn tròn, đủ đầy
của tình yêu chung thủy như mái ấm gia đình mà chị đang có, về những hạnh phúc
lứa đôi mà tôi thấy đã có nhưng chưa nhiều trong thơ của chị.
*
Hà Nội, 27 tháng 09.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VỀ TRUYỆN NGẮN
CỦA LÊ MAI
Biết nhà văn Lê Mai qua nhà thơ Nguyễn Khôi và
blog Trang Đặng Xuân Xuyến cũng đã giới thiệu một số bài thơ và 7 truyện ngắn
của ông nên khi nhà thơ Nguyễn Khôi có nhã ý muốn trang nhà đăng lại bài Nguyễn
Khôi cảm nhận về thơ Lê Mai - người bạn, người em tri kỷ của ông - tôi đã đắn
đo khá nhiều, bởi blog Trang Đặng Xuân Xuyến không đăng lại những bài đã đưa
lên trang nhà, đang hiện diện trên trang nhà nhưng trước tấm chân tình dành cho
người bạn, người em của nhà thơ lão niên làm tôi cảm động. Dù lưng rất đau, tôi
cũng cố ngồi đọc để viết đôi lời giới thiệu về một số truyện ngắn của nhà văn
Lê Mai đã đăng trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến.
*
Quyền Được Rên là một truyện ngắn hay, tạo được nhiều chú ý trong dư luận. Lúc
sinh thời, Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Ngọc Kiên đã không tiếc lời ca ngợi: - “Có thể nói mà không sợ ngoa ngôn rằng “Quyền
được rên” của nhà văn Lê Mai có thể xếp trên “Sống mòn” của Nam
Cao; vì “Sống mòn” viết về cuộc đời của ông giáo Thứ rất khổ cực
trước cách mạng tháng Tám. Ở đây nhân vật chính là Hoàng không những vô cùng
cực khổ mà còn phải chịu trăm đắng ngàn cay! “Quyền được rên” còn xếp trên
“Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, có dung lượng mấy trăm trang, cuối cùng
chỉ đi tìm câu trả lời vì sao mình bị tù. “Quyền được rên” là truyện ngắn nén
rất chặt trong mấy chục trang, nhưng nó có tầm tư tưởng rất lớn của một tiểu
thuyết. Nó được viết ra không phải để gây thù chuốc oán hoặc khắc sâu thêm mối
hận thù. Mà nó rất bao dung để nhớ lại một thời ấu trĩ!” (Quyền Được Rên -
Một Kiệt tác của nhà văn Lê Mai ; Nguyễn Ngọc Kiên). Biết rằng mọi sự so sánh
đều khập khiễng, nhất là trong trường hợp đem so sánh Quyền Được Rên với Sống
Mòn của Nam Cao, Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn
thì thật khiên cưỡng. Tôi nghĩ, vì yêu Lê Mai quá mà Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn
Ngọc Kiên đã “xếp” Quyền Được Rên “có thể” trên Sống Mòn nhưng anh “còn xếp
trên “Chuyện Kể Năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn” thì thật khó hiểu. Anh lý giải: “Quyền được rên” là truyện ngắn nén rất chặt
trong mấy chục trang, nhưng nó có tầm tư tưởng rất lớn của một tiểu thuyết.”,
theo tôi là không thuyết phục vì truyện ngắn là truyện ngắn, tiểu thuyết là
tiểu thuyết, không nên vì quý mến nhau mà ưu ái khen như thế, hơn nữa, “Chuyện
Kể Năm 2000” thực ra là hồi ký của Bùi Ngọc Tấn được viết dưới dạng
tiểu thuyết nên các yếu tố văn chương như: thủ pháp, cốt truyện... không được
tác giả chú trọng như các yếu tố: tư liệu, giãi bày..., đem 2 thể loại văn học
này đặt cạnh nhau để so sánh về giá trị văn chương hay về chủ đích sáng tác...
đều không thỏa đáng. Nhưng công bằng nhận xét thì Quyền Được Rên là một
truyện ngắn viết bạo tay và hay, có sức khái quát sâu và rộng về QUYỀN CON
NGƯỜI bị xúc phạm trắng trợn ở cái chế độ luôn ra rả đề cao QUYỀN CON NGƯỜI,
làm lu mờ nhiều truyện ngắn được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải.
Mặt Trời Xanh là câu chuyện của tình người còn sót lại, lắng lại ở một ông quan
to lúc cuối đời muốn chuộc lại những lỗi lầm của kiếp làm quan bằng vài việc
rất đời, rất người. Cốt truyện chỉ đơn giản là vậy, không đao to búa lớn, không
lên gân triết lý về nhân sinh quan ở đời. Và người kể chuyện, cũng không cố
dụng công sắp xếp những tình tiết của câu chuyện, không chú trọng tô vẽ diễn
biến tâm trạng của nhân vật, cứ chậm rãi dẫn bạn đọc vào truyện bằng lối kể
chuyện thủng thẳng, chân chất để tái hiện câu chuyện một cách tự nhiên, chân
thực. Vì thế, người đọc thấy thương và tiếc cho “cậu học trò” đã ngộ được đạo
làm người nhưng lại chậm và “sai thời điểm”, thấy tin và trân quý những lời bộc
bạch thật tận đáy lòng của vị “khách quan”
“người gày gày, da mai mái nhưng thần
thái vẫn rực lên những nét quyền uy, lịch lãm” với thầy giáo cũ.
Nhập truyện tự nhiên, diễn biến truyện cũng tự
nhiên, hợp lý. Chủ đích của nhà văn Lê Mai qua Mặt Trời Xanh đã thành công:
TÌNH NGƯỜI LÀ VĨNH CỬU. Chỉ tiếc, ở đoạn kết truyện: “Đặt lá thư xuống bàn ông Nhân thờ thẫn ngứơc cặp mắt hoen rỉ nhìn vào
khoảng không mờ ẩm trước mặt. Không gian bổng chuyển màu ngọc bích xanh suốt
mang mang... và phía xa, xa thẳm của không gian ngọc bích một đốm sáng nhập
nhoà nhấp nháy như vẩy như gọi ông... mông lung, mờ ảo. Ông vật người ra nghế
cố ghìm tiếng thở dài. Tiếng thở buồn, tê tái như hơi thở của rừng già heo hút.”,
nhất là ở những dòng cuối cùng để khép lại truyện, khi nhà văn đặc tả hình ảnh
thầy giáo Nhân: “Ông vật người ra nghế cố
ghìm tiếng thở dài. Tiếng thở buồn, tê tái như hơi thở của rừng già heo hút.”
đã hướng câu chuyện chuyển mạch, đẩy truyện sâu vào BI, khiến niềm tin vào TÌNH
NGƯỜI tưởng vẫn còn sức sống âm ỉ trong đời sống xã hội thông qua sự thức ngộ
của “cậu học trò làm quan” lúc cuối
đời sẽ lan tỏa bỗng thành mong manh. Truyện kết thúc với gam màu tối, u ám. Vô
tình, dù không có chủ ý nhưng hình ảnh thầy giáo Nhân ở kết truyện như thế đã
ít nhiều giảm chủ đích tích cực của nhà văn.
Tìm Cha Trong Gương là truyện ngắn đề cập đến những di chứng sau cuộc chiến tranh
giữa 2 miền Nam - Bắc. Đây là mảng đề tài những nhà văn cùng thế hệ với Lê Mai
hay khai thác vì có nhiều “mảng miếng” để các nhà văn thi thố “dụng võ”. Viết
về đề tài này, Lê Mai lên án chiến tranh ở góc nhìn khác với số đông, được phản
ánh qua câu chuyện về những thân phận (ruột thịt) bị ly tán bởi hệ lụy của
chiến tranh và sự ươn hèn, tệ bạc của thói đời, lòng người. Truyện phát triển
bằng cách sắp xếp những cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong hành trình tìm
lại người thân, và trong hành trình đó, nhà văn chỉ “khách quan” gạch đầu dòng
thật trung thực những cuộc đối thoại, rồi thi thoảng “chêm” vào đôi ba lời dẫn
chuyện. Thật tiếc là tôi chưa được đọc 3 tiểu thuyết: Tẩu Hỏa Nhập Ma, Bạn
Cùng Lớp và Thời Gian Xuẩn Ngốc của Lê Mai nên khi đọc truyện ngắn này đã
có những băn khoăn không biết có phải đấy là chủ ý của nhà văn không chú trọng
vào miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật? hay miêu tả nội tâm nhân vật
không phải là điểm mạnh của nhà văn Lê Mai nên diễn biến Tìm Cha Trong Gương được
nhà văn sắp xếp là những cuộc đối thoại giữa các nhân vật bằng những gạch đầu
dòng liên tiếp?! Nhưng với bố cục truyện chặt chẽ, tiết tấu truyện nhanh và
mạch lạc như thế, khiến truyện ngắn Tìm Cha Trong Gương cuốn hút được
người đọc thì tôi nghĩ đấy có thể là chủ ý của nhà văn Lê Mai chứ không phải do
sự vụng về của tác giả.
Hoa Trạng Nguyên là truyện ngắn được viết theo thủ pháp phúng dụ, mượn chuyện bà
Lan Phương thủ thỉ trước 2 ngôi mộ: với Thiện, là bạn, cũng là người bà yêu
nhưng dứt khoát không chọn làm chồng; với Thiên, là bạn, cũng là chồng, tuy
không yêu nhưng bà nhất tâm chọn làm chồng, về những chuyện bà đã cùng họ
(Thiên và Thiện) trải qua, khi tuổi đã xế chiều, lúc lắng lòng đã buông bỏ tất
cả những ham hố sân si mới tĩnh tâm ngộ ra được, để ám chỉ cái bản ngã của con
người thật mong manh trước những cám dỗ của vật chất, trước những toan tính ma
mãnh mà khốc liệt đến trần trụi của kiếp người. Lê Mai đã thành công với truyện
ngắn Hoa Trạng Nguyên khi phản ánh cuộc đấu tranh giữa lý trí và dục vọng, giữa
tốt với xấu, giữa cao cả với thấp hèn....
Những hình ảnh ở đoạn kết truyện được nhà văn
khắc họa thật đẹp, giàu tính nhân văn, đượm triết thuyết của đạo làm người
trong cõi vi vô: Con người ta tất thảy đều sẽ trở về với cát bụi. Mọi tranh
quyền đoạt lợi dù có được thì rồi cũng thành hư vô. Chỉ có sự vô tư, trong sáng
của đạo làm người mới trường tồn, bất biến trước mọi thử thách khắc nghiệt của
thời gian, không gian:
“Bà Lan
Phương từ từ đứng dậy, bẻ một nhành cây trạng nguyên bên mộ chồng cắm sang mộ
bạn. Rồi cắm trước mộ bạn một tấm bia nền đen trên khắc hai câu thơ không đầu,
không cưối, không tác giả lấp lánh ánh vàng:
...Vi anh
khát một bát nước trong
Nên phải
uống cạn dòng sông đục...
Xong xuôi bà
Lan Phương lững thững ra về. Hình như lòng bà thanh thản hơn và thiên nhiên
làng quê hình như cũng thế.”.
Cún Khóc, là truyện ngắn hài hước, ngộ nghĩnh về chuyện “có một nhà nọ” nuôi mèo để bắt chuột
nhưng mèo lại ma mãnh thông đồng với lũ chuột đã thành tinh để lòe chủ nhà, bỡn
cợt chủ nhà khiến chủ nhà phải nuôi chó thay mèo bắt chuột. Và rồi, chó trung
thành là thế, mẫn cán là thế cũng bị lũ chuột đã thành tinh qua mặt, diễu cợt,
chấp nhận bất lực mà gầm gừ “đau đớn”
ngước nhìn “trên xà nhà, nóc nhà có tới
bốn năm con chuột đang khả ố trêu ngươi”. Chuyện hài nhưng hay mà đau ở
chỗ: Mèo được tạo hóa ban cho đầy đủ sức mạnh của thiên chức dùng để bắt chuột,
diệt chuột thì lại quay sang “bắt tay”
“câu kết” với lũ chuột đã thành tinh
cùng diễn trò, bỡn cợt chủ nhà. Chó trung thành, mẫn cán, căm ghét lũ chuột,
quyết tiêu diệt lũ chuột tới cùng nhưng vì sức mạnh của thiên chức bắt chuột,
diệt chuột không có nên đành nhìn lũ chuột ngang ngược hoành hành mà ngậm ngùi
nằm “khóc” vì bất lực.
Đọc Cún Khóc khiến người ta liên tưởng
tới vấn nạn tham nhũng và thực trạng diệt trừ tham nhũng đang diễn ra trong xã
hội Việt Nam nó hài hước mà xót xa, đau đớn làm sao. Ở truyện ngắn này, với lối
viết nhẹ nhàng, hài hước, nhiều ẩn dụ... nhà văn Lê Mai đã mang đến cho bạn đọc
nụ cười chua chát đi cùng những giọt nước mắt xót xa về chuyện của đời nhưng
không phải là chuyện chỉ của riêng nhà “người ta”.
*
Nhìn chung, 7 truyện ngắn của Lê Mai trên blog
Trang Đặng Xuân Xuyến đều được viết với văn phong giản dị, câu chữ trong sáng.
Tình tiết của truyện được sắp xếp nhẹ nhàng, hợp lý, các xung đột cũng rất ít
khi được đẩy đến gay gắt, một mất một còn để truyện có điểm bùng nổ như Quyền
Được Rên. Tuy vậy, 7 truyện ngắn của nhà văn Lê Mai đều rất đáng để bạn
đọc bỏ công sức tìm kiếm.
Định cố viết giới thiệu đủ 7 truyện ngắn của Lê
Mai đã đưa lên blog Trang Đặng Xuân Xuyến nhưng vì lưng tôi đau quá, cũng không
thể để bài viết này dở dang lâu thêm nên 2 truyện ngắn: Hình Như Trong Sữa Có Máu
và Cho
Nó Có Đạo Đức xin được giới thiệu với Quý bạn đọc vào dịp khác.
*.
Hà Nội, ngày 06 tháng 06.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ
“NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ”
Chiều 30 tháng 09 năm 2019, nhận được tập thơ “Nhà
Không Có Đàn Bà” của nhà thơ, họa sĩ Phan Võ Hoàng Nam gửi tặng, tôi
háo hức ngồi đọc. Sách dày 96 trang, khổ 13x21cm, gồm 46 bài thơ, chủ yếu được
viết ở thể thơ tự do, là những hồi ức, những cảm xúc về quê hương, cha mẹ, bạn
bè, người xưa cũ...
Quê hương, trong ký ức tuổi thơ của nhà thơ,
nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam thật hiền hòa, thơ mộng, với những hình ảnh bình dị,
trong trẻo, đẹp đến nao lòng:
"Ừ,
đã xa.
Thuở ôm cây
chuối lội sông.
Ba bốn đứa
tranh nhau trái cà na thơm lựng.
Xuồng nhỏ
tròng trành, cha quăng mẻ lưới.
Chiều xóm
quê!
Canh chua
rau nhút thơm lừng.
Mùa nước về
quê,
Thuyền xuôi
ngược trên đồng.
Mẹ đón cá ra
sông ủ thêm lu nước mắm.
Em đến
trường xắn quần lội qua cầu khỉ.
Con nước
rong,
Trăng giỡn
giữa đồng."
(Xa rồi mùa cũ)
Chỉ với 12 câu thơ trong 2 khổ thơ, nhà thơ Phan
Võ Hoàng Nam đã tái hiện sinh động nhiều hình ảnh quê hương, nhiều kỷ niệm xưa
với bạn bè, với cha mẹ, với người yêu...
Cách viết không bó buộc câu chữ, không ràng buộc
bởi bất kỳ niêm luật nào, cứ thoải mái phóng bút theo cảm xúc, cũng chẳng chủ ý
gieo vần trong Xa Rồi Mùa Cũ đã tạo
nhiều ấn tượng với người đọc. Có lẽ vì tình yêu quê hương trong Phan Võ Hoàng
Nam sâu lắng và diết da lắm nên đã tự bật ra những thi tứ, thi ảnh và ngôn từ
đậm chất sông nước miền Tây để Xa Rồi Mùa Cũ dễ dàng thẩm thấu vào
cảm xúc của người đọc. Cách viết tự nhiên, phóng khoáng như thế, Phan Võ Hoàng
Nam thành công không chỉ ở một vài bài.
Ngay cả khi viết về quê hương với nỗi lo cơm áo
gạo tiền thì những mảnh đời được anh khắc họa cũng phóng khoáng, tự nhiên, cũng
ấm áp tình, tươi rói niềm tin như bản tính vốn chân thành, mộc mạc của những
người con sông nước miền Tây. Nếu không nặng lòng với quê hương, không thao
thiết gửi trọn niềm tin vào ngày mai tươi sáng thì Phan Võ Hoàng Nam không thể
viết được những câu thơ ấm áp, căng tràn sức sống thế này:
"Gã
trai lực điền gật gà giấc ngủ.
Hồn phiêu
diêu. Chốn cũ, vườn xưa.
Bàn tay ấm
ngày bỏ quê lên phố.
Con đò trôi.
Cô thôn nữ
dịu dàng."
(Chuyến xe chiều cuối năm)
Những hình ảnh đẹp như thế xuất hiện khá nhiều
trong thơ Phan Võ Hoàng Nam. Tuy ở một vài bài thơ, gặp ở vài câu thơ viết về
gánh nặng mưu sinh của những phận đời bươn trải như một quy trình “nối dài những nốt trầm ngọt đắng”: “Phố rồi lại phố” / “Mùa lại những mùa dong ruổi”. Những mảnh đời đáng thương như thế,
xuất hiện không nhiều trong “Nhà Không Có Đàn Bà”:
Phố rồi lại
phố.
Mùa lại
những mùa dong ruổi.
Tiếng rao
đêm nối dài những nốt trầm ngọt đắng.
Rao bán bình
yên
Mua thân
phận làm người.
(Tiếng rao đêm)
Đọc những bài thơ: Tháng Sáu, Xa
Rồi Mùa Cũ, Sao Không Về Mỹ Đức, Khói Chiều Đồng Nước, Nắng
Đồng Bằng... tôi chạnh lòng nghĩ về quê tôi. Cũng là làng quê Việt Nam,
cũng là những người dân một nắng hai sương, chân chất hiền lành, sao An Giang
quê anh giữ được nét mộc mạc, hồn nhiên, với những trong trẻo niềm tin vào cuộc
sống yên bình, hạnh phúc, còn quê tôi thì sự đổi thay đang từng ngày tàn phá
chất quê, hồn quê, để những người con xa xứ chúng tôi phải nghẹn ngào nuốt lệ.
Hay những câu thơ viết về Mẹ, dù là những ngậm
ngùi "Mẹ một đời qua bao mùa lũ"
"bủa lưới đồng sâu" "leo lét đèn dầu" để tần tảo lo toan
cho cuộc sống gia đình thì tiếng lòng của nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam vẫn ngân
lên âm hưởng của những câu lý sâu lắng, những điệu hò ngọt ngào sóng nước miền
Tây, không hề vương chút bi lụy, yếu đuối. Hồn Mẹ hồn Quê cứ đan quyện vào
nhau, cứ trong trẻo ngân lên trong tâm tưởng của người con hiếu thảo:
"Mẹ
một đời qua bao mùa lũ.
Thời con gái
theo chồng bủa lưới đồng sâu.
Leo lét đèn
dầu.
Xuồng câu
dập dềnh sóng nước
Đói no, buồn
vui
Con nước lớn
ròng."
(Khói chiều đồng nước)
Tôi khựng lại khi gặp những câu thơ hay, bàng
bạc buồn nhưng mà đẹp anh lặng viết về Mẹ:
"Cây
ô môi sau vườn còn hoa đỏ.
Lũ sâu ngủ
đông mơ cánh bướm rộn ràng.
Chiều.
Mẹ ra sông
ngẩn ngơ đò dọc
Biền biệt
người từ độ thu xưa"
(Năng đồng bằng)
Viết về Mẹ thì hầu như nhà thơ nào cũng có vài
bài và đó thường là những bài nổi trội hơn cả của các nhà thơ. Có lẽ vì tình Mẹ
bao la, sự hy sinh vô bờ của Mẹ với gia đình, với quê hương, đất nước nên thơ
viết về Mẹ thường đằm sâu, thao thiết:
"Tháng
chạp.
Mẹ chọn từng
hạt nếp
Góp tình quê
đợi phút sum vầy
Phía dòng
sông cơn bấc còn se lạnh
Mẹ đã nghe
ấm lửa đêm xuân."
(Xôn xao tháng Chạp)
Hay:
"Bến
cũ còn đây,
Mẹ giờ xa
khuất nẻo.
Cánh buồm
trôi về chốn hư vô.
Ổ bánh nóng
giòn, cánh hoa sao trong gió.
Trẻ thơ ơi
lạc đâu mất lời ru."
(Tháng Bảy và Mẹ)
Đọc những câu thơ như thế hỏi ai không chùng
lòng, không cắn môi để ngăn dòng lệ vì quắt quay nhớ Mẹ. Tôi cũng thế, khi đọc
những lời thơ anh viết dâng Mẹ, tôi nhớ Mẹ tôi nhiều lắm. Tôi nhớ dáng xiêu
xiêu với đôi quang gánh trên vai Mẹ tất tả về nhà. Tôi nhớ bữa cơm độn nhiều
khoai sắn, Mẹ luôn giục chị em tôi ăn nhiều cho no bụng, rồi cuối bữa Mẹ chậm
rãi vét miếng cháy, miếng khoai còn thừa, và nói: - "Mẹ ăn cho đỡ phí.". Vì thế, khi đọc những dòng thơ anh viết về
Mẹ, tôi mấy lần phải buông sách đứng dậy, đi đi lại lại để ngăn dòng lệ chực
trào.
Viết về sự cách biệt âm dương với Mẹ thì "Lá trầu vàng" / "trái cau xanh héo úa", được nhiều
nhà thơ sử dụng, không mới, nhưng những hình ảnh bình dị, đời thường như thế,
khi được Phan Võ Hoàng Nam đặt cạnh những hình ảnh: "Con ngẩn ngơ" / "Bờ
lau trắng chiều xuân" của rất riêng anh thì lại có sức truyền cảm mới
mẻ, làm lay động lòng người về sự nhớ thương Mẹ mỗi khi Tết đến Xuân về:
Lá trầu
vàng.
Trái cau
xanh héo úa.
Lễ tổ tiên
cánh phượng bay xa.
Dòng sông
trôi, con đò tách bến.
Con ngẩn ngơ
.
Bờ lau trắng
chiều xuân.
(Góc quê Xuân và Mẹ)
Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, về Mẹ,
là những bài tình thơ đôi lứa chiếm dung lượng khá nhiều trong “Nhà Không Có Đàn Bà”. Và tôi đã từng
quan niệm: - “Tình yêu! Phải có những
lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả
hê... thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn
lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán...”. Với tôi, yêu là phải “máu lửa”, phải có những “đè”, “cắn”, “cấu”, “quấn”... nên không thích đọc những bài
thơ dán nhãn thơ tình mà toàn những ỉ ôi mây trôi cá lượn, ne né từ xa để tránh
diễn tả những hưng phấn (ham muốn) thể xác mà cuộc tình đó, đoạn tình đó nên
có, phải có,... Thế nhưng khi đọc Phan Võ Hoàng Nam viết về tình yêu đôi lứa,
mà lạ là những bài thơ đó chỉ viết những nhớ nhung anh dành cho (không ít)
người yêu cũ, dù thiếu vắng những “cắn”,
“cấu”, “cưỡng”, “ghì”... tôi lại
chăm chú ngồi đọc. Có lẽ bởi tình yêu đó sâu lắng, thuần khiết, được chiết xuất
từ trái tim cũng chỉ thuần khiết yêu?!
Tôi muốn viết thêm vài cảm nhận về thơ tình sâu
lắng, thuần khiết của Phan Võ Hoàng Nam nhưng vì lưng đau quá, nên mảng thơ
tình của anh xin hẹn sẽ đề cập vào một dịp khác.
*.
Hà Nội, 1giờ30 ngày 01.10.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CHUYỆN NGOÀI LỀ
BÀI THƠ “ĐỪNG ĐI”
"Đừng Đi" là bài thơ tôi viết
rất ngẫu hứng, không phải ngẫu hứng từ chuyện tình cảm của tôi mà ngẫu hứng từ
những than vãn dư lệ của một chàng trai trẻ, một người bạn trên facebook.
Đêm ấy, đêm 29 tháng 9 năm 2018, những cảm xúc
của tâm trạng lâu ngày mới về quê làm tôi mất ngủ. Lang thang "dạo”
facebook để giết thời gian tôi gặp những "tiếng nấc" của chàng trai
trẻ Vũ Mai về mối tình thơ mộng 7 năm có “nguy cơ” bị tan vỡ. Vì
"biết" Vũ Mai và bạn gái của cháu từ những ngày đầu mới chơi facebook
(tháng 9 năm 2012) nên tôi nhắn tin hỏi: "Hai đứa lại có chuyện à? Con gái người ta có thì, yêu nhau cũng lâu
rồi, cưới đi cháu.", thì Vũ Mai liền điện thoại tới tôi, nghẹn lời:
-"Em ấy giục cưới nhưng con chưa
muốn cưới vì công việc của con còn bấp bênh lắm. Con bảo vài năm nữa nhưng em
ấy không chịu, dứt khoát chia tay con rồi, chú ơi...".
Chắp nối những chuyện tôi "biết" về
chuyện tình 7 năm của 2 cháu, thêm nữa chút chuyện "của đời", tôi
viết rất nhanh "Đừng Đi", định đề tặng chuyện
tình 7 năm của Vũ Mai nhưng sợ cháu thêm buồn nên tôi post lên trang facebook
cá nhân như một bài thơ tình của mình..
ĐỪNG ĐI
.
Ở lại đi
Một đêm thôi
Một đêm
thôi, ở lại
Ta xin người
ở lại, chỉ một đêm
Ngoài kia
trời lướt khướt sũng đêm
Ta tí tách
trong này mơ hồ từng giọt rỏ
.
Ta nào khóc.
Chỉ là ta quá nhớ
Những chiều
Thu ai tết tóc bên thềm
Rãi trăng
vàng ai ríu rít hằng đêm
Và ai nữa
khiến ta từng ngộp thở.
.
Ta xin đấy.
Ngoài kia là những gió
Hun hút đêm,
hun hút ánh đèn mờ
Người ở lại.
Đừng đi!
Đừng đi!
Ta sợ
Bảy năm trời
thoáng chốc chỉ là mơ.
*.
Làng Đá, đêm 29.09.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Sáng sớm ngày 1 tháng 7 năm 2019, tôi nhận được
bài cảm nhận về bài thơ "Đừng đi" của Nhà Phê bình Văn
học Nguyễn Xuân Dương gửi qua messenger với lời nhắn: "Chú gửi đôi dòng bình luận. Cháu đọc rồi hồi
âm cho chú nhé."
Đọc xong, tôi có vài băn khoăn.
Hình như Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương
đã thả cảm xúc "phiêu" quá nên mấy câu thơ: "Ngoài kia là những gió / Hun hút đêm, hun
hút ánh đèn mờ", ông đã cảm nhận với những cảm xúc thật lắm:
“Ta xin đấy.
Ngoài kia là những gió
Hun hút đêm,
hun hút ánh đèn mờ
Người ở lại.
Đừng đi!
Đừng đi!
Ta sợ”
Một lần nữa
nhà thơ đã gửi lời cầu xin. Cầu xin không được rồi hù dọa cảnh đêm khuya hun
hút gió lùa, đêm thì tối, đèn thì mờ... Rồi anh lo lắng sợ hãi nếu nàng cứ
quyết ra đi không ở lại liệu trong đêm tối trời trong gió mưa ấy nàng có mệnh
hệ gì anh biết sao đây? Anh sẽ phải ân hận suốt cả cuộc đời.".
Thực ra mấy câu thơ: "Ngoài kia là những gió / Hun hút đêm, hun hút ánh đèn mờ" Nhà
Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương không nên hiểu thật thà đến thế mà nên được
hiểu là những lo lắng bởi những tệ nạn, những cạm bẫy đang rình rập ở bên ngoài
xã hội...
Và câu kết bài thơ: "Bảy năm trời thoáng chốc chỉ là mơ", cũng được Nhà Phê bình
Văn học Nguyễn Xuân Dương hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác với ý của văn bản thơ:
"Đọc
câu kết ta mới hiểu không chỉ khoảnh khắc, không chỉ một phút, một giờ, một đêm
mà bảy năm rồi nhà thơ của chúng ta đã cầu xin một tình yêu và anh chợt nhận ra
rằng giờ nó đã hoàn toàn vụn vỡ chia xa. Chỉ là một giấc mộng kê vàng. Thế mới
biết sự chờ đợi trong tình yêu đã đạt đến giới hạn của sự vô cùng:
“BẢY NĂM
TRỜI THOÁNG CHỐC CHỈ LÀ MƠ”
Nỗi khát
khao tình yêu của Đặng Xuân Xuyến là khát khao rất thực từ một con tim bạo liệt
và có lẽ sẵn sàng quyên sinh vì người anh yêu dấu. Có nỗi đợi chờ nào đã suốt 7
năm. 7 năm có bao nhiêu ngày bao nhiêu giờ bao nhiêu phút bao nhiêu giây và bao
nhiêu khoảnh khắc mà không đợi chờ không khao khát. Phải không các bạn. Tôi
trân trọng nỗi đợi chờ này..."
Sau lời cám ơn ông đã đồng cảm với "Đừng
đi", tôi đề nghị ông sửa lại đoạn cuối bài cảm nhận vì "Bảy năm trời thoáng chốc chỉ là mơ"
là nỗi đau về một tình yêu đẹp của 7 năm vừa bị tan vỡ, hoàn toàn không phải là
nỗi đau "bảy năm rồi nhà thơ của
chúng ta đã cầu xin một tình yêu" trong "nỗi đợi chờ" như ông đã viết. Ông hồi âm ngay sau đó: "Chỉ một câu là sáng rõ thôi. Yên tâm nhé."
nhưng khi đưa bài cảm nhận về bài thơ "Đừng đi" lên trang
facebook cá nhân, ông để nguyên trạng bài viết như đã gửi qua messenger.
Có lẽ, nhà phê bình văn học Nguyễn Xuân Dương đã
thả hồn "phiêu" với "Đừng đi" “say” quá nên ông chưa cầm cương được cảm xúc dẫn đến cảm xúc "phiêu" quá xa với ý thơ: "Nỗi khát khao tình yêu của Đặng Xuân Xuyến
là khát khao rất thực từ một con tim bạo liệt và có lẽ sẵn sàng quyên sinh vì
người anh yêu dấu.". Hình ảnh nhân vật trữ tình trong bài thơ "Đừng
đi", qua cảm nhận của Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương đã
khoác một bộ dạng rất khác và trở nên lạ lẫm vì tính cách yếu đuối và tư tưởng
yếm thế, tiêu cực. Cả bài thơ không chỉ là tâm trạng đau khổ của chàng trai khi
tình yêu bị tan vỡ mà còn là những hoài niệm đẹp về một tình yêu thơ mộng và cả
sự lo lắng của chàng trai với người con gái mà chàng trai đã yêu, vẫn còn đang
rất yêu. Đau khổ nhưng không yếu đuối, hoài niệm kỷ niệm xưa nhưng không bi
lụy, tiêu cực, đấy là hình ảnh chàng trai trong “Đừng đi”. Cả bài thơ,
không một chữ nào, một ý nào khiến bạn đọc sẽ hiểu chàng trai "gào lên" “cảm nhận mình kẻ thấp hèn” rồi "cầu xin không được thì hù dọa" và "sẵn sàng quyên sinh vì người anh yêu dấu." như Nhà Phê bình
Văn học Nguyễn Xuân Dương đã cảm.
Là cây viết lão luyện, Nhà Phê bình Văn học
Nguyễn Xuân Dương đã đồng hành cảm xúc với khoảng năm trăm bài thơ của các nhà
thơ, các bạn thơ trên facebook. Với 2 tập sách Phê bình Văn học đã xuất bản và
rất nhiều bài giới thiệu thơ, bình thơ trên trang facebook cá nhân chưa xuất
bản thành sách, đủ để khẳng định sức viết của Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân
Dương rất sung sức và tình yêu ông dành cho thơ ca thật nhiều! Vì thế, một chút
sơ xuất như khi ông cảm nhận bài thơ "Đừng đi" là điều đáng tiếc
nhưng tôi tin bạn đọc vẫn yêu và tìm đọc những trang viết mang đậm dấu ấn rất
riêng của tác giả Nguyễn Xuân Dương: Viết nhanh, viết khỏe, viết nhiều, viết
bởi những cảm xúc chợt đến vì đam mê thơ ca, vì tinh yêu giành cho thơ ca không
vụ lợi.
Viết đến đây tôi chợt nhớ tới bài cảm nhận của
tôi về bài thơ "Lạc" của Nhà thơ Trần Đức Tín
cũng có cái sai na ná như Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Xuân Dương khi ông bình
bài thơ "Đừng đi": Hiểu sai ý thơ. Đó là khi tôi cảm nhận:
"trơ
vơ
Bụt
tuốt sợi rơm
vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió
ăn hết những
yêu thương.".
Câu chữ rõ ràng như vậy nhưng không hiểu sao tôi
lại đọc thành "trơ vơ / Bụt / ăn hết những yêu thương" nên viết:
"Bụt" trong truyện cổ tích là
một ông tiên luôn chớ che, bảo vệ, luôn đem đến những yêu thương, hạnh phúc cho
con người còn "Bụt" trong "Lạc" của Khét lại là một kẻ vô
cảm, ác độc, "ăn hết những yêu thương.". Có lẽ vì đọc nhanh, đọc
vội mà tôi bỏ sót dòng: “tuốt sợi rơm
vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió” nên mới có những dòng cảm nhận đáng
trách như vậy. May mà soạn giả Vũ Thị Hương Mai đã nhắn tin qua messenger:
"Có lẽ anh đọc vội, đã nhầm giữa
"diều ăn gió" với "Bụt ăn gió" nên đoạn kết bài "Lạc
của Khét" sai với nội dung
thơ, anh ạ.". Tôi đọc lại bài thơ "Lạc" của Nhà thơ
Trần Đức Tín, rồi gửi email tới các trang web đã gửi bài đề nghị gỡ "Lạc
của Khét" vì đọc thiếu câu nên tôi hiểu sai ý thơ. Sau đó, tôi sửa lại
đoạn cảm nhận: "Bụt" trong
truyện cổ tích là một ông Tiên có phép nhiệm màu luôn chớ che, bảo vệ, luôn đem
đến những yêu thương, hạnh phúc cho con người còn "Bụt" trong
"Lạc" của Khét lại là một ông Bụt “trơ vơ”, bất lực “tuốt sợi rơm
vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió”, "ăn hết những yêu thương."...
Phép nhiệm màu của Bụt, của ông Tiên trong niềm tin ngàn đời của người Việt đã
bất lực trước sự hoành hành đang chiếm thế thương phong của cái ác.",
lưu bài viết ở trang facebook và blog cá nhân như lưu lời nhắc nhở: Làm gì cũng
không được vội vàng, hấp tấp, nhất là với các loại văn bản phải đọc đi đọc lại
đến khi hiểu thật đúng và đầy đủ câu chữ trong văn bản mới được viết hoặc điềm
chỉ, ký tên.
*.
Hà Nội, chiều 24 tháng 8-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CẢM
NHẬN KHI ĐỌC TẬP THƠ
“SÓNG
NGẦM” CỦA NGÔ NGUYỄN
*
Nhận được tập thơ Sóng Ngầm cũng đã mươi
ngày nhưng bận quá nên chiều nay tôi mới “lôi” Sóng Ngầm ra đọc. Giở đi giở
lại, cứ vẩn vơ ý nghĩ: thơ tình của nhà thơ tuổi đã xấp xỉ 80 không biết cái
“khoản yêu” kia có được “hùng hục như
trâu húc bờ” hay chỉ “lả lướt”
vài ba nét nhấn nhá cho có chút vị gọi là hương yêu? Nghĩ thế nên tôi chưa vội
đọc mà lẩn thẩn ngồi đếm xem tập thơ có bao nhiêu bài. Vâng. Tập thơ nho nhỏ,
xinh xinh với 80 bài, đa phần là những bài thơ ngắn, số đông là thơ tình. Đúng
như tiêu đề của tập thơ: SÓNG NGẦM - Thơ tình Ngô Nguyễn đã trình làng.
Cũng lâu rồi, tôi lười đọc, lười viết nên hôm
nay sẽ chịu khó ghi lại vài dòng cảm nhận khi đọc Sóng Ngầm, vừa để luyện
trí nhớ, chống lão hóa, vừa có bài đưa lên trang blog cá nhân. Vâng! Tiện cả
đôi đường! Rất thực dụng đấy ạ!
Đọc Sóng Ngầm, với những câu: Ngỡ như/ mắc bả bùa yêu/ Bốn con mắt/ cứ
vụng về tìm nhau (Mắt chạm mắt), chắc sẽ có ai đó nhăn mặt: Thơ gì mà xưa
cũ thế? Ờ thì... Đứng trước người mình “thích”, mình “si mê”, ai chẳng có những
phút giây “vụng về” khi đưa mắt “tìm nhau”. Tình huống đấy quen lắm nhưng
không hề cũ, mà luôn luôn mới. Tình yêu với những rung cảm của trái tim thì làm
gì có chuyện cũ? Yêu là yêu! Thế thôi! Phải yêu, phải “thèm yêu” thì mới có những hình ảnh đẹp, lãng mạn, đầy chất thơ: Lâu nay/ khô cạn ước mong/ Dập dờn cánh
bướm/ uốn cong dáng chiều...(Thèm yêu) chứ? Khi yêu, ai lại lôi khái niệm
cũ mới ra để so đo?!
Ở tuổi gần 80 mà tình yêu (đôi lứa) trong ông
vẫn đằm những khát khao trẻ trung, bạo dạn: Áo
em/ cháy đỏ lũy tre/ Ngỡ là bó đuốc/ đốt hè nóng ran... (Áo đỏ), vẫn như
những “khối tình” đượm sẵn lửa: Môi em/
diềm phải bao diêm/ Môi anh vừa chạm/ bật lên cháy bùng... (Nụ hôn đầu),
vẫn thòm thèm những trận yêu được “cuồng loạn”: Nụ hôn/ cuồng loạn bão mưa/ Hạn lâu/ cơn lũ chỉ vừa mát cây! (Hạn
hán). Đấy! Gần 80 tuổi, tưởng thi sĩ đi lại còn khó khăn, thở còn đã nhọc, đã
khó, ấy vậy mà thi sĩ Ngô Nguyễn vẫn hừng hực “máu lửa” như thế, kém sung sức so với thanh niên cũng đâu có nhiều.
Tuy là nói vui như thế, nhưng thật lòng, thơ Ngô
Nguyễn ít có những giằng xé dữ dội của tâm trạng, của những ham muốn yêu đương
xác thịt mà thường là những chuyển biến rất nhẹ nhàng, những xáo trộn tình cảm
vẫn còn nằm trong sự “kiểm soát” và “giữ gìn” của lý trí, kiểu: Ừ thì,/ gió thoảng mây bay/ Ừ thì,/ chỉ cái
chau mày/ nhếch môi....(Ừ thì)... của những nỗi buồn chơi vơi, của những
xâm chiếm nhẹ nhàng hồn cốt: Được
lời/ em đến thăm nhà/ Ngó cau/ cau mới đang hoa/ bao giờ (Mùa cau)...
Tình yêu đấy “sạch” quá, “lành” quá. Ôi! Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong
người, những “nổi loạn”, hả hê... thì
mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây
trôi cá lội, í a í a thì quá chán... Vâng! Tôi quan niệm tình yêu phải vậy. Có
lẽ do tuổi tác, do “tạng người” mà tình yêu trong thơ thi sĩ Ngô Nguyễn mới
mang mang gam trầm?
Tuy không nhiều, dù “hiếm hoi” gặp sự “nổi loạn” của Ngô Nguyễn trong tình yêu
như ở “Em - Áng mây chiều”: Gió tứ phía/
Thốc bập bùng/ Cánh diều nổi loạn/ bứt tung dây giằng!, hay như trong “Bão
gần”: Bão nào đến/ tự nơi xa/ Từ cô hàng xóm/ thốc qua nhà mình...
nhưng sự “nổi loạn” chỉ thoảng qua “bấy nhiêu” thôi cũng đã “thổi” vào “hồn
yêu” của ông thêm sắc diện, khiến thơ Ngô Nguyễn đậm thêm chút hương vị của
tình yêu.
Tập thơ Sóng Ngầm với những bài thơ “ấn
tượng”: Tiếng Kinh, Mùa Cau, Lưng Lửng... với những câu thơ có thể gọi là tinh
tế, như: Mắt nàng/ nào phải lưỡi dao/
Liếc mòn vẹt đá/ chém nhào ngã cây...(Mắt), Gặp em/ nửa lạ/ nửa quen/ Nửa vồ vập/ nửa mon men rụt rè (Nửa), Nỗi sầu/ thấm ướt trang kinh/ Gió lùa hoang
lạnh/ rùng mình/ kinh rơi! (Tiếng Kinh), Ngắn dài/ chân vẫn chân thôi/ Miễn là/ đỡ được thân người thẳng ngay! (Chân
dài),... tuy không mới, chưa thật sự đặc sắc nhưng như thế cũng đã có sức nặng
đủ để níu giữ Sóng Ngầm đọng lại
trong tâm trí người đọc.
Gập tập thơ lại, tôi cứ tiếc: Giá nhà thơ Ngô
Nguyễn “máu lửa” thêm chút nữa, bạo
liệt “xác thịt” thêm chút nữa...
Nhưng rồi tôi lại thần người với suy nghĩ: Gần 80 tuổi rồi mà vẫn yêu được như
thế là nhà thơ vẫn còn sung sức lắm, oách lắm, còn hơn chán vạn kẻ... Vài chục
năm nữa, không biết tôi (kẻ đang than thở) có “máu lửa” bằng nửa của nhà thơ
không? Hay lúc đấy có cố lê lết nụ cười cũng đã là quá khó...
*.
Hà Nội, chiều 27 tháng 09 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
MỘT CHÚT TÂM TÌNH VỀ THƠ
MẠC PHONG TUYỀN
Nhà thơ trẻ Mạc Phong Tuyền là người rất kỹ tính trong sáng
tác. Một bài thơ từ lúc là bản nháp đến khi anh đưa ra giới thiệu với bạn đọc
có thể đến vài tuần, vài tháng, thậm chí ngay cả khi bài thơ đã công bố rồi anh
vẫn sửa đi sửa lại, sửa tới sửa lui, hôm nay ưng cái bụng nhưng ngày mai chưa
chắc cái bụng anh còn ưng. Vì thế mà câu chữ anh chọn dùng thường mới, lạ và có
nhiều sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ. Có những chữ “cũ kỹ”, “quê mùa” từ chốn
dân dã, thôn quê bỗng trở nên lạ, đẹp, “đắt” trong thơ Mạc Phong Tuyền, và
chính những chịu khó tìm tòi làm mới cách thể hiện văn cảnh đã tạo phong cách
thơ cá tính, độc đáo, rất của riêng Mạc Phong Tuyền. Sự “làm mới” mang nhiều yếu tố phá cách này như con dao 2 lưỡi, có thể
đẩy bài thơ lên cao nhưng cũng có thể đạp bài thơ xuống tận cùng thất bại. Thật
mừng, trong vốn liếng thơ ca của Mạc Phong Tuyền, có khá nhiều bài gây ấn tượng
mạnh với bạn đọc bởi cấu tứ lạ, bởi những thao tác làm mới cách thể hiện khiến
những câu chữ “cũ kỹ”, đời thường trở
nên sinh động, mềm mại, đẹp, lạ, vẫn giữ được chất dân dã chân quê mà lại thêm
nét khoáng đạt, hiện đại.
Những người theo trường phái thơ "siêu thực", "cách
tân" sẽ thích thơ của Mạc Phong Tuyền vì cấu tứ lạ, vì sự bóng bảy, đa
nghĩa, bí hiểm và sáng tạo trong cách sử dụng câu chữ. Phái này quan niệm thơ
càng rối rắm, càng bóng bảy, khó hiểu và đa nghĩa thì tài của nhà thơ càng cao,
càng “tuyệt bút”. Nhưng những người trung thành với lối thơ truyền thống sẽ
không thích thơ Mạc Phong Tuyền vì ngoài sự bóng bẩy, bí hiểm, người đọc khó
tìm thấy những rung cảm của nhà thơ nên không tạo được sự đồng cảm với người
đọc. Phái chuộng lối thơ truyền thống cho rằng: Thơ rối rắm kiểu đánh đố người
đọc, lại vô hồn, không tạo được sự đồng cảm với người đọc thì đấy là điểm chưa
thành công của người làm thơ.
Thực ra, thơ của Mạc Phong Tuyền không rối rắm, bí hiểm như
thơ của các nhà thơ thuộc trường phái “cách
tân”, “siêu thực”. Anh chịu khó
tìm tòi làm mới cách thể hiện câu chữ để tạo những hình ảnh lạ mà đẹp trong
thơ, và cũng khá nhiều bài thơ của anh găm sâu trong trí nhớ người đọc. Tuy
nhiên cũng có những trường hợp anh “làm
mới” còn đuối, chưa đạt nên những bạn đọc khó tính cho là “tạo dáng”, là xa lạ, khó hiểu. Có lẽ vì
vậy mà người yêu thơ anh cũng nhiều mà người “lánh” thơ anh cũng không ít.
Chặp gần Tết năm 2021, anh tâm sự qua messenger, bài thơ
"Nhớ Huế", ban đầu anh công bố trên trang facebook cá nhân:
Hổm rồi ghé chợ
Đông Ba
Ngỡ rằng Huế đắt
Huế la Huế rầy
Ai dè Huế vẫn thơ ngây
Tôi về Vỹ Dạ - nhớ
- đày đọa tôi...
nhưng sau những chỉnh sửa, anh công bố lại "Nhớ
Huế" với "diện mạo" hoàn toàn mới:
Hổm rồi ghé chợ
Đông Ba
Ngỡ rằng Huế đắt
xắt ra miếng rồi
Thần Kinh vẫn nếp
xưa thôi
Tôi về Vỹ Dạ - nhớ
- tồi tội tôi...
thì bạn đọc Quỳnh Hương bình luận: - "Bữa trước tôi rất thích cái tứ "đày
đọa", hôm nay tôi vào xem lại thấy đổi “đày đọa” thành “tồi tội” lấy làm
tiếc lắm.".
Khi đọc những tâm sự của Mạc Phong Tuyền qua messenger, tôi
trả lời anh, chưa bàn đến sự hay dở của "Nhớ Huế" với những
chỉnh sửa ở 3/4 câu thơ trong bài "Nhớ Huế" nhưng tôi thích 2 chữ
"tồi tội" hơn vì 3 chữ
"tồi tội tôi" khiến câu
thơ: "Tôi về Vỹ Dạ - nhớ - tồi tội
tôi..." gợi được nhiều cảm xúc của nhiều cung bậc tình cảm: hờn tủi,
luyến tiếc, nhớ nhung,... nhẹ nhàng quyện vào nhau để nỗi bâng khuâng dành cho
Huế thêm da diết, xóa đi tâm trạng nặng nề và cảm giác cảm xúc không thật như
khi dùng 2 chữ "đày đọa".
Sự thay đổi ở câu cuối này làm “dư vị”
đất cố đô thêm bâng khuâng, thao thiết.
Mạc Phong Tuyền yêu thơ, làm thơ theo cách chơi thơ rất
riêng như thế.
*.
Hà Nội, sáng 16 tháng 07-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
-----------------------------------
Đang cập nhật
Rất mong nhận được những góp ý chân thành từ bạn đọc dưới phần
bình luận hoặc gửi thư về email:
dangxuanxuyen@gmail.com - baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn
Đặng Xuân Xuyến trân trọng cám ơn!


0 comments:
Đăng nhận xét