MỜI ĐỌC:

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

'LỐI VỀ': HÀNH TRÌNH TỰ THỨC MỘT TÂM HỒN NHÂN HẬU - Tác giả: Thy Nguyên (Hải Phòng)

 


 “LỐI VỀ”: HÀNH TRÌNH TỰ THỨC

MỘT TÂM HỒN NHÂN HẬU

 

(Đọc tập thơ “Lối về” của tác giả Trịnh Đình Bích)

 

(Tác giả Thy Nguyên)

Để làm sáng tỏ tinh thần văn chương không phải là những con chữ bất động nằm trên trang giấy, mà là nhịp đập của một trái tim biết đau trước nỗi đau nhân thế. Hay một tác phẩm thơ chân chính không chỉ dừng lại ở việc làm đẹp cho đời bằng nhạc điệu, mà phải là "tiếng lòng" đi tìm những tâm hồn đồng điệu qua lớp bụi của thời gian. Nhà văn Nam Cao từng tuyên ngôn: "Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”

Với nhà thơ, thầy giáo Trịnh Đình Bích, thơ không chỉ là nghệ thuật, thơ là cuộc hành trình độc hành vào cõi tâm linh, nơi cái tôi cá nhân va đập với định mệnh cất lên những lời tự sự đầy ám ảnh. Trước "Lối về", Trịnh Đình Bích định hình phong cách qua ba tập thơ, tạo nên "hệ sinh thái" cảm xúc nhất quán. Nếu “Sóng lặng” /tập thơ/ Nhà xuất bản Hàng Hải 2017 là những dư ba sau bão giông, thể hiện cái nhìn điềm tĩnh trước những biến động cuộc đời người giảng viên hàng hải đầy trải nghiệm. Thì “Ráng chiều” tập thơ/ Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2021 lại mang sắc màu hoài niệm, ông nhìn những chặng đường đã qua với tâm thế bao dung, dịu nhẹ. Bạn đọc cũng bắt gặp “Đồng vọng” tập thơ/ Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2023, mang tiếng vang của quá khứ kết nối giữa cái tôi cá nhân với những giá trị cộng đồng, làng quê, người thân. Thì “Lối về” tập thơ/ Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2026 là đỉnh cao của sự tự thức, nơi mọi nẻo đường trải nghiệm đều hội tụ về một điểm, ấy là “cội nguồn”. Trịnh Đình Bích không chọn cách “đặc quánh ngôn từ” hay “làm xiếc” những trật tự tính từ. Thay vào đó, thơ ông là “tiếng lòng trăn trở” được chưng cất qua bộ lọc của trí tuệ và sự trải đời. Từng câu chữ của Trịnh Đình Bích như những nhát cắt vào tâm tưởng, khiến người đọc phải dừng lại, phải suy ngẫm về cái hữu hạn đời người và sự vô hạn từ nỗi nhân sinh...

Đọc Lối về” người đọc cảm nhận hành trình tự thức một tâm hồn nhân hậu. Tác giả như một lữ khách trở về tìm lại bản ngã giữa "Phù vân". Hành trình tự thức bắt đầu khi con người nhận ra mình đang đứng ở ngưỡng cửa sự lãng quên. Tác giả không trở về để tìm vinh quang, ông trở về tìm lại cái "mình" nguyên bản nhất:

“Những bước chân hăm hở / Ta tìm lại lối về / Gần hết đời / nửa tỉnh nửa quê / Nay tìm lại cái mình từng để mất…”

Cụm từ "nửa tỉnh nửa quê" là sự tự trào đầy đau đớn. Cái "tỉnh" của trí tuệ phố thị và cái "quê" cốt cách tổ tiên đang giằng xé trong nội tâm. Hành trình "Lối về" phải chăng chính là nỗ lực hàn gắn sự đứt gãy đó để linh hồn được trọn vẹn. Ông đau trước sự phôi pha của văn hóa làng mạc. Tâm hồn nhân hậu của ông không chỉ đau cho mình, mà đau cho những giá trị cộng đồng đang dần biến mất dưới làn sóng đô thị hóa:

“Bây giờ nếu về làng / Cây gạo ngày xưa cũng không còn nữa / Nếu cháu hỏi: Ông ơi thế nào là hoa thắp lửa / Đành ngoái nhìn chỉ cây gạo làng bên…”

(Trích: Bâng khuâng tháng Ba)

Khổ thơ như lời kể chân thực cho thấy sự hụt hẫng của người giữ di sản. Hình ảnh "ngoái nhìn chỉ cây gạo làng bên" chứa đựng nỗi niềm xa xót, khi những ký ức rực rỡ nhất "hoa thắp lửa" giờ chỉ còn là lời kể lại, không còn thực thể để soi chiếu. Cái sai của quá trình đô thị hóa được tác giả phản chiếu qua sự mất mát của làng mình. Sự tự thức ở đây nhận ra sự đứt gãy không thể hàn gắn. Sự tự thức đạt đến độ chín muồi khi nhà thơ nhìn thấy mình trong vòng tuần hoàn của vũ trụ. Ông nhân hậu với cả cái chết, coi đó là sự hóa thân nhẹ nhàng:

“Ta vốn là cây cỏ / Mọc dại bên đường đi... / Chỉ mong được là cỏ / Ấp mộ khi đông về…”

Trịnh Đình Bích luôn nhìn nhận bản thân trong sự bé nhỏ của tạo hóa. Sự nhân hậu của ông bắt đầu từ chính sự khiêm cung này. Ông không chọn làm đại thụ, ông chọn làm cỏ. Xúc động vì lời nguyện cầu da diết nhất khi tâm hồn không màng danh lợi. Khát vọng được làm "ngọn cỏ ấp mộ" như biểu tượng của tình yêu vĩnh hằng, là sự tận hiến thầm lặng. Nó đối lập hoàn toàn với guồng quay hối hả, thực dụng của đời sống hiện đại. Khát khao được làm "ngọn cỏ ấp mộ" gọi tên đỉnh cao bao dung, vị tha. Ông muốn sự tồn tại của mình, dù là sau khi hóa thân vào đất, vẫn mang theo hơi ấm để vỗ về những người đã khuất. Không chỉ yêu người sống mà còn nặng lòng với cả những linh hồn đã khuất. Những câu thơ vời vợi buồn của Trịnh Đình Bích đôi khi mang màu sắc những câu hỏi tu từ đầy ám gợi:

“Quê hương ơi, có phải chuyến đò ngang / Ngày xưa chị qua giờ chìm sâu đáy nước? / Những cánh buồm chở đầy mơ ước / Có còn ai đứng đợi phía bờ xa?"

Hình ảnh "chuyến đò chìm" và "phía bờ xa" là những biểu tượng về sự mất mát nhưng cũng là sự níu giữ. Nhà thơ đóng vai trò người lữ khách đứng bên bờ thời gian, dùng thơ làm nhịp cầu nối lại những gì đã mất, neo giữ tâm hồn và thắt lại.

Xuyên suốt các tập thơ, Trịnh Đình Bích luôn có xu hướng tìm về sự cân bằng. Với ông, con người không đứng ngoài quy luật của trời đất mà là một mắt xích gắn bó máu thịt:

“Nắng trên đầu và đất ở dưới chân / Ta cầu nối cho tròn vòng trời đất / Nắng là dương, còn đất là âm thật / Giữa là ta cân cả đất và trời…”

(Trích: Trời và đất)

Rõ ràng “Lối về” ký thác biên bản tự thức một người đã đạt đến độ chín về tư tưởng. Tác giả không còn chao đảo vì vinh nhục, được mất. Sự nhân hậu giờ đây ôm trọn bao dung, trở thành chiếc "cầu nối" gắn kết cái vô hình và cái hữu hình, cái cao cả (trời) và cái bình dị (đất). Ông "cân" cuộc đời bằng lòng thiện lương và sự tĩnh tại.

Điểm tựa lớn nhất trong hành trình tự thức của Trịnh Đình Bích chính là gia đình. Với ông, quê hương và cha mẹ thuộc về thực thể thiêng liêng, là bến đỗ bao dung nhất giúp con người không bị lạc lối giữa dòng đời phù vân. Tình mẫu tử và đạo hiếu là gốc rễ mọi sự tự thức. Lấp lánh nhất trong sự nhân hậu của Trịnh Đình Bích là lòng biết ơn. Ông viết về cha mẹ bằng những hình ảnh mang tầm vóc sử thi nhưng lại vô cùng gần gũi:

“Cha vác cày lội nước / Làm nghiêng cả chân trời…” hay "Mẹ cha cứ lở cho tôi đủ đầy…”

Hình ảnh "nghiêng cả chân trời" hay sự "lở bồi" của mẹ cha là những ẩn dụ đầy ám ảnh. Tác giả tự thức rằng sự trưởng thành của mình là sự đánh đổi từ sự hao mòn của đấng sinh thành. Khi người làm con hiểu được nỗi đau trong mẹ, sự nhọc nhằn trong cha, đó chính là lúc người con thực sự tỉnh thức về nguồn gốc của mình. Thơ ông viết về cha để "đãi" ra sự thật về lòng biết ơn. Câu chữ sâu sắc vì được chắt lọc từ những chiêm nghiệm đau đớn, da diết bởi thơ được viết bằng trái tim luôn thổn thức trước những vẻ đẹp bình dị. Bước vào độ tuổi thất thập, nhà thơ không còn tranh biện với cuộc đời. Ông thấu hiểu lẽ "đục, trong" và nhìn nhận mình như một mắt xích của vũ trụ:

Biết gạn đục, biết khơi trong / Bến sông sẽ lại mênh mông tiếng cười"

Hình ảnh dòng nước từ mạch nguồn ra biển lớn ẩn dụ cho cuộc đời con người, với bao tạp chất nhưng luôn cần giữ vững bản ngã. Đến đây chúng ta nhìn rõ hơn tâm thế làm chủ bản thân vững chãi. Tâm hồn nhân hậu ấy không hề yếu đuối, mà vô cùng mạnh mẽ trong tĩnh lặng. Chủ thể giữ cho mình sự cân bằng trước những xoay vần của thế sự.

Trịnh Đình Bích đã điểm "Lối về" của bản thân bằng con đường không phải chỉ dẫn về làng cũ, mà dẫn thẳng vào trái tim người đọc, nhắc nhở cháu con sống nhân hậu hơn giữa cõi nhân gian vô thường. “Lối về" mang triết lý sống cao cả. Trở về với làng quê để thấy mẹ cha, trở về với kỷ niệm để thấy chính mình, và trở về với thiên nhiên để thấy sự bất tử. Thơ Trịnh Đình Bích soi "khoảng lặng bình yên" dành cho bất kỳ ai đang mỏi mệt trên hành trình nhân sinh đầy bụi bặm. Thơ ông không chọn làm cuộc dạo chơi ngôn từ. Thơ chắt lọc từ những vệt xước cuộc đời, bung tiếng thở dài nhẹ nhõm khi tìm thấy mình trong vòng tay nguồn cội quê hương. Ông viết mộc mạc và chân thực. Thơ ông không dùng nhiều mỹ từ hay kỹ thuật tân kỳ mà đi thẳng từ cảm xúc thực. Những ngôn ngữ đời thường như "thuốc lào sòng sọc", "mớ rau", "con gà" đi vào thơ một cách tự nhiên. Hình ảnh đậm chất hội họa và trực quan. Những bài thơ về Hải Phòng như “Thành phố một loài hoa, Thu cũ nhà cũ hay Đà Lạt, Chia tay nhé Đà Lạt…” đều mang màu sắc hoài niệm đặc trưng. Tác giả sử dụng linh hoạt các thể thơ truyền thống lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn tạo cảm giác gần gũi như lời tâm tình, nhắn nhủ với con cháu và với chính mình.

Lối về" trải đầy hoa thơm của lòng nhân ái và thức những gai góc hoài niệm. Thơ Trịnh Đình Bích tựa biên bản chân thực lữ khách sau khi đi hết những dặm dài sướng khổ, đã tìm thấy bến đỗ bình yên từ tự tại, lương thiện và cúi mình tri ân quê hương. Đọc Trịnh Đình Bích, người đọc cảm được xoa dịu. Dẫu “vật đổi sao dời”, làng quê có thay hình đổi dạng, dẫu thời gian có lấy đi tuổi trẻ, thì chỉ cần còn giữ được "tâm hồn nhân hậu", con người vẫn luôn có một "lối về" an nhiên giữa cuộc đời muôn ngả phù vân. Và dù ai đi xa đến đâu, cuối cùng vẫn cần một "lối về" trong tâm tưởng, nơi có bóng hình cha mẹ, gốc đa, sân đình và những giá trị nhân bản sáng mãi với thời gian./.

 

Mời nhấp chuột đọc:

- Chuyện làng văn0

- Các bài viết của (về) tác giả Trịnh Đình Bích0

- Các bài viết của (về) tác giả Dương Diên Hồng0

- Các bài viết của (về) tác giả Dương Thu Hương0

- Các bài viết của (về) tác giả Dương Ninh Ninh0

- Các bài viết của (về) tác giả Đặng Chương Ngạn0

- Các bài viết của (về) tác giả Đông La0

- Các bài viết của (về) tác giả Nguyễn Hoàng Đức0

- Các bài viết của (về) tác giả Nguyễn Quang Thiều0

- Các bài viết của (về) tác giả Nguyễn Quang Lập0

 

Mời nghe Kim Yến đọc truyện ngắn

"CÔ" VƯƠNG CƯỚI VỢ của Đặng Xuân Xuyến:

THY NGUYÊN

(Trung tâm Giám định ADN)

Địa chỉ: Số 184 Trần Nguyên Hãn,

thành phố Hải Phòng.

Điện thoại: 092 114 45 67

 

 

 

 

 

.............................................................................................................

- Cập nhật theo nguyên bản nhà thơ Trịnh Đình Bích gửi 01/05/2026.

- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến       

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét