NHỮNG CON TÀU ĐÃ KÉO
NGƯỜI VIỆT RA KHỎI CÕI CHẾT…
Chúng tôi - những thuyền nhân Việt Nam năm xưa - xin cúi đầu tri
ân hai con tàu nhân đạo “L’Île de
Lumière” và “Cap Anamur”.
Chính các thủy thủ và những tấm lòng trên hai con tàu ấy đã không
quản hiểm nguy, đã dang rộng vòng tay cứu vớt chúng tôi giữa phong ba bão táp,
trong những khoảnh khắc sinh tử nơi biển cả mênh mông.
——-
Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng...
Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước...
Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay...
Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ
của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa...
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy… đã có hai con tàu mang hình dáng
của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay… những người từng được vớt lên từ lòng biển
chết ấy còn nhớ không?
Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi?
Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình
không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu
các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại: “Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô. Đứa con gái tôi mới
ba tuổi nằm mê man vì sốt. Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc:
- Mình ơi… chắc gia đình
mình chết ngoài biển rồi…
Tôi không trả lời được...
Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban
đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy
trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la
lớn:
- Slowly! Slowly!
- Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước.
Đứa bé đã bất tỉnh.
Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong.
Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay:
- Trời ơi… con tôi sống rồi…
con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt...
Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau...
Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière - “Đảo Ánh
Sáng.”
Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và
đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể: “Tôi bị sốt rét
và kiệt sức. Tưởng mình chết rồi. Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm
chậm:
- No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh.
Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào.
Không hỏi họ giàu hay nghèo.
Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur - con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt
ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình: “Nếu không có Cap Anamur… thì hôm nay làm gì
có ba. Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh.
Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con
cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức…
Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng
cứu gia đình mình.
Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu
năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã
có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa
từng quen biết. Họ không cùng màu da.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng quê hương.
Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức
năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam.
Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn
được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá.
Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và Île de Lumière cùng Cap Anamur chính là hai tượng đài như
thế.
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc
bài thơ SÂN GA:
Phan Hoàng giới thiệu
Tác giả: Phạm Sơn Liêm - Nguồn: Vietluan
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét