MỜI ĐỌC:

Bạn đọc cảm nhận về một số tác phẩm


BẠN ĐỌC CẢM NHẬN VỀ MỘT SỐ

TÁC PHẨM CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

gồm những bài viết sau:

1. ĐỌC SÁCH: “MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG”

2. “DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG” - MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!

3. ĐỌC THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

4. KHỐI TÌNH LẬN ĐẬN CỦA CHÀNG TRAI TRONG THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

5. GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC VIỆT NAM CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY?

6. “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ - TRUYỆN NGẮN ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN

7. VÀI LỜI VỚI ÔNG NHÀ THƠ PHẠM KHANG

8. GỬI 2 ANH PHẠM KHANG VÀ NGUYỄN QUÝ MẬU

9. CHÀNG TRAI ẤY BÂY GIỜ RA SAO?

10. NHẮM RƯỢU VỚI CƯỠNG XUÂN - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

11. “LAN MAN...” VÀ LAN MAN CÙNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN

12. CHÂN DUNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN TRONG “99 CHÂN DUNG NHÀ VĂN...”

13. TÌNH TRONG “CƯỠNG  XUÂN” - TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

14. THẾ THÁI NHÂN TÌNH QUA THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

15. NHƯ THIẾU NỮ ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC???

16. THƠ VỀ RƯỢU HAY NỖI BUỒN RIÊNG MÌNH VÀ NỖI BUỒN NHÂN THẾ CỦA NHÀ THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN?

17. VỀ LỜI BÌNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN VỚI BÀI THƠ “QUÊ TRONG PHỐ”

18. TRAO ĐỔI VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN VƯỢNG VỀ NGÔN NGỮ TRONG THI CA

19. MẤY LỜI TÂM SỰ - NHÂN NHÀ THƠ NGUYỄN ĐĂNG HÀNH NÓI VỀ CHÂU THẠCH

20. BÀN VỀ BÀI BÌNH THƠ “THUYÊN NEO BẾN LẠ” CỦA ĐĂNG XUÂN XUYẾN

21. VỚI BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO BẾN LẠ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

22. CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ”

23. ĐỌC BÀI THƠ “SAY YÊU” NGHĨ VỀ THƠ TÌNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

ĐỌC SÁCH: “MƯU LƯỢC

GIÀNH CHIẾN THẮNG”

*

Trong 6 tác phẩm mà Đặng Xuân Xuyến đã cho ra mắt bạn đọc, tôi rất tâm đắc cuốn MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG.

Tác giả là một doanh nhân trẻ, năng động và tháo vát, có đầu óc về “cái nhìn chiến lược”. Nhưng cái quý là anh không giấu diếm những kinh nghiệm, những suy nghĩ được đúc kết từ công việc của mình. Tác giả đã cởi mở những hiểu biết và kinh nghiệm của mình để chia sẻ với những ai đã, đang và sẽ bước vào lĩnh vực này.

Mục đích của cuốn sách rất rõ ràng, ngay từ lời nói đầu, tác giả đã viết: “Tôi viết cuốn sách này không ngoài mục đích: Cùng trao đổi với bạn về một số vấn đề mà người viết cho là rất đơn gian nhưng lại thật cần cho bất kỳ nhà doanh nghiệp trẻ nào muốn giành chiến thắng trong cuộc chạy đua tới đích cuối cùng giữa các doanh nghiệp....”, và nếu người đọc trân trọng, coi đây là những bài học cho mình thì đó cũng là niềm vui của tác giả: “...Bạn sẽ tìm được một vài điều bổ ích cho hoạt động kinh doanh của bạn. Thế là đủ! Thế là những trăn trở, nghĩ suy của người viết không uổng!”

Từ ý tưởng ấy, đi vào từng phần, bạn đọc sẽ thấy được cái hay trong cách đặt vấn đề, cái sâu sắc trong cách phân tích, cái bao quát trong cách nhìn nhận của tác giả. Ngay từ câu chuyện mở đầu trong mục đầu tiên Chọn nghề cho kỹ cũng đã là sự bắt đầu cho sự phân tích các vấn đề về sau. Những lời khuyến nghị ở đây rất đơn giản nhưng lại rất bổ ích và lý thú. Tác giả nói “Đừng bắt chước người” là hàm ý nói rằng có bắt chước thì phải “bắt chước một cách sáng tạo”, “biến cái hay của người thành cái sáng tạo của mình” thật linh hoạt, tùy cơ ứng biến, không giáo điều rập khuôn. Muốn thành công rất cần sự say mê với nghề nghiệp của mình.

Có những điều tác giả đặt ra, lúc đầu ta tư tưởng như là nghịch lý, là vô lý, nhưng ngẫm kỹ, ta sẽ thấy đó là logic như Kiếm tiền thì dễ, tiêu tiền mới khó, và không chỉ với kinh doanh mà trong cuộc sống thì Tiền không phải là tất cả. Ở đây, tác giả đã bộc bạch qua trang viết những suy nghĩ rất chân thực của mình. Đọc, ta vỡ ra những điều mà người chưa kinh doanh không nghĩ đến: “Kinh doanh, thực chất là nghệ thuật củng cố niềm tin với khách hàng.”

Một mục nữa khá hay: “Mượn gió đưa thuyền”. Từ câu chuyện Tam Quốc nói về đấu trí giữa các chính khách, tác giả liên hệ tới việc kinh doanh đầy linh hoạt và thông minh của vị giám đốc nhà máy dệt Song Hải (Tỉnh Chiết Giang - Trung Quốc). Rồi từ chuyện này, anh dẫn dụ, phân tích sự thành đạt của tập đoàn kinh doanh Nissan nổi tiếng của Nhật Bản với chiến lược toàn cầu. Từ đó, sẽ rút ra được những kết luận bổ ích cho bạn đọc.

Tác giả đã phân tích vai trò chủ đạo hết thảy mọi thành bại trong kinh doanh: CON NGƯỜI! Cụ thể là phải đầu tư vào chất xám của con người phục vụ sản xuất, kinh doanh. Từ việc lớn đến việc nhỏ, từ các vấn đề cao xa đến những sự việc bình thường, thậm chí có vẻ như là nhỏ nhặt... tác giả đã dẫn giải khá lý thú, làm cho người đọc thoải mái và thu nhận được nhiều điều bổ ích.

Ở mục cuối: “45 điều với bạn”, tác giả đã đưa ra 45 khuyến nghị rất cụ thể và thiết thực. Tất cả 45 vấn đề được viết rất ngắn gọn, dễ hiểu trong 196 trang sách nhưng giá trị lại không hề nhỏ, nếu người đọc vận dụng được cho mình trong từng công việc cụ thể.

Thiết nghĩ, có thể coi đây là một cuốn sổ tay rất cần thiết cho các bạn trẻ bước vào lập nghiệp.

*.

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 1998

NGUYỄN HỮU DY

(Giảng viên Trường Đại học Giao Thông Vận Tải)

 

 “DOANH NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”

- MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!

*

Để tìm một cuốn sách về kinh nghiệm làm giàu thật hay thực sự không phải là một điều dễ dàng, mặc dù trong tủ trưng bày ở các nhà sách loại sách này chất cả đống với những cái tên đầy “kích thích”. Nhưng, ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu một cuốn sách mà theo cảm nhận của chúng tôi, mỗi một dòng, một chữ đều bật ra trong tâm huyết, từ máu thịt của người viết như những lời “tâm sự” “gan ruột”.

Cuốn sách bao gồm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả hệ thống cho bạn đọc những kiến thức rất cơ bản của một nhà kinh doanh về thị trường. Đối với những ai đã từng qua các “cua” đào tạo về quản lý kinh tế hay đã từng đeo “mác” sinh viên các trường kinh tế thì những kiến thức như thế này không phải là điều mới mẻ. Tuy nhiên để nghĩ cho sâu, hiểu cho kỹ thì không phải ai cũng làm được vì sự phong phú của thị trường. Chính người viết cũng rất khiêm tốn khi viết: “Người viết không có tham vọng trình bầy hết những vấn đề của thị trường hoặc liên quan đến thị trường bởi tính muôn màu muôn vẻ của thị trường, bởi tính biến đổi (nhu cầu và thị hiếu) không ngừng của thị trường”. Ở đây, tác giả “xoáy” váo ba vấn đề chính:

- Tìm hiểu thị trường

- Chiếm lĩnh thị trường

- Các chiến thuật chiếm lĩnh thị trường

Đây là những nguyên tắc, những điều nên làm và thật cần đối với các doanh nghiệp. Cái “được” mà tác giả xây dựng được trong phần này của cuốn sách là đã “mềm hoá” được những kiến thức kinh tế vốn không mấy “dễ tiêu” đối với người đọc. Vì lẽ đó mà nhiều bạn đọc đánh giá sách của Đặng Xuân Xuyến không nặng về lý thuyết. Nhưng theo chúng tôi, có lẽ đó là cảm nhận của cả hai phần vì ở phần thứ hai của cuốn sách có rất nhiều lời khuyên hữu ích đối với các doanh nhân trẻ mà những lời khuyên này xuất phát từ những điều tâm huyết của người viết khi chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm quá trình kinh doanh của bản thân cũng như của những doanh nghiệp thành đạt trên thương trường. Điều đáng ghi nhận là Đặng Xuân Xuyến đã không truyền đạt những lời khuyên ấy theo lối “dội” từ trên xuống mà lời lẽ rất chân tình, giản dị nhưng không kém phần mãnh liệt, thổi vào người đọc một luồng cảm hứng cháy bỏng về khát vọng làm giàu. Hãy nghe: “Tôi thành thật mong bạn đừng bao giờ chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, đừng bao giờ bằng lòng với những gì đã có vì cái chất người như vậy không bao giờ giúp bạn trở thành ông chủ được đâu” (Khát vọng làm giàu). Và “hãy mạnh dạn xắn tay áo lên mà miệt mài công việc! Hãy trau dồi kiến thức và mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội!” (Thời cơ). Đọc những dòng này, người đọc sẽ rất có cảm tình về khát vọng làm giàu, khát vọng xây dựng cuộc sống, sự nghiệp của chính bản thân người viết. Không trăn trở, không “đau đớn” về cái khát vọng làm giàu của mình thì Đặng Xuân Xuyến không thể bật lên khẩu hiệu đầy lôi cuốn như thế. Cứ cho rằng bạn là người bàng quan với của cải, vật chất nhưng tôi tin bạn là người trọng danh dự và bạn sẽ cảm thấy mình bị thua kém khi đứng cạnh những người bạn thành công trong kinh doanh. Và khi ấy bạn có chắc chắn rằng mình sẽ không có một chút tị hiềm nào trong lòng? Ở đây, Đặng Xuân Xuyến khuyên chúng ta rằng: “đừng nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ”. Nhìn để mà học, mà học thì chắc chắn để làm việc rồi. Có nghĩa, bạn phải là con người của hành động!

Với 10 đề mục trong phần hai của cuốn sách, bên cạnh việc thôi thúc, kích thích khát vọng làm giàu của bạn, Đặng Xuân Xuyến còn truyền đạt rất nhiều những kinh nghiệm trong thực tiễn kinh doanh. Điều này thể hiện chủ yếu ở ba đề mục:

- Chính sách dùng người.

- Đánh giá khách hàng.

- Giao dịch - tiền đề của thành công.

Tất nhiên, tác giả không quên nhắc đến “kẽ hổng trong quản lý vốn” – một trong những tiền đề cơ bản khiến cho doanh nghiệp… phá sản! Đọc những mục này, tất cả những chiêu thức quan trọng của các nhà lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự, đánh giá khách hàng và giao dịch với đối tác, tác giả đã phân tích từng chi tiết nhỏ giúp cho người đọc dễ hình dung ra “chiến trường” của mình hơn. Ở đây, tác giả đã giúp đọc giả làm công việc gian khổ, khó khăn nhưng cũng thú vị nhất đó là hiểu rõ cả “địch” và “ta”. Bạn có thể hiểu mình nhưng bạn đâu biết hết được tâm lý của mọi đối tác. Không phải là quá khen nhưng công lao nghiên cứu của tác giả trong lĩnh vực tâm lý kinh doanh quả là không thể phủ nhận. Tất nhiên, khi đã khẳng định được danh tiếng của bạn thì không thể không tính chuyện khuếch trương danh tiếng ấy lên và Đặng Xuân Xuyến cũng không quên gởi đến độc giả những kiến thức trong vấn đề quảng cáo rất cần thiết cho các doanh nghiệp trong thực tiễn.

Bên cạnh phần chính của cuốn sách, hai phụ bản là “Vài lời về bốn tể tướng đại tài trong lịch sử Trung Quốc” và “Đôi điều về bốn danh tướng vang bóng một thời trong lịch sử Trung Hoa” của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến là một món quà khá thú vị. Đây có lẽ chính là điểm nhấn để chúng ta tin sự uyên thâm của Đặng Xuân Xuyến là… Đặng Xuân Xuyến. 

Bạn có thể không tâm đắc với những điều mà cuốn sách này đặt ra, thậm chí bạn còn hiểu ngược lại vì mỗi người có một quan điểm riêng, thủ pháp riêng trong kinh doanh. Chính tác giả cuốn sách này cũng chỉ khiêm tốn mong muốn: “Cuốn sách sẽ giúp bạn có một khái niệm cụ thể về thị trường và doanh nghiệp; có thể bạn là người đang chuẩn bị bước vào công cuộc kinh doanh thì Doanh nghiệp với thị trường sẽ làm tốt khâu “chuẩn bị” nắm bắt được một số nguyên lý cơ bản để an tâm bước vào nghiệp chủ; còn nếu bạn đã là một doanh nghiệp thực thụ và tài ba thì với hai trăm trang sách này, chí ít sẽ trút bỏ được một số sai lầm đáng tiếc sẽ xảy ra trong cuộc đời kinh doanh của bạn”. Vâng! Tư tưởng đặt ra rất lớn cho tác phẩm - tư tưởng ấy là dành cho bạn đọc - nhưng mong muốn của tác giả thì lại giản đơn như vậy.

Dẫu sao, sau khi đọc xong hai trăm trang sách của Đặng Xuân Xuyến, tôi biết mình đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh chàng quá nhiều tham vọng này.

Chẳng biết sự ảnh hưởng ấy có… hại không?

*.

Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 1999

GIÁP KIỀU HƯNG

 

ĐỌC THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Với hai bài thơ “Bạn Quan” và “Quê nghèo” của mình, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến không làm nổi lên một cơn sốt trên mạng xã hội như bài thơ “Đất nước mình lạ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam nhưng gây ấn tượng mạnh cho bạn đọc trên các trang web, nhất là giới văn nghệ sĩ và trí thức. Từ hai bài thơ đó tôi đi tìm đọc thơ của Đặng Xuân Xuyến và cảm nhận được phong cách riêng lạ của một nhà thơ đương đại. Hình như nhà thơ Đặng Xuân Xuyến làm thơ không nhiều lắm nhưng mỗi bài thơ của anh như ngón tay chỉ ta nhìn thẳng vào cuộc sống và buộc ta phải suy nghiệm bức tranh hiện thực đó, hoặc cho ta hưởng thụ những phút giây sâu nhiệm diễn biến trong tâm hồn nhạy cảm của người thơ.

Trước hết tôi xin lỗi tác giả, cho phép tôi rút gọn bài thơ “Bạn Quan” gồm có 39 câu còn lại 10 câu để bạn đọc có ý niệm khái quát về bài thơ đó:

Bạn cũ lâu ngày gặp lại

Chén rượu quê đưa đẩy tẩy trần

Rượu tới tầm

Mày ghé tai tao

Nói thật nhỏ

Chốn quan trường vịt chó giống nhau

Trời nhiều gió

Hay lòng tao nổi gió

Rượu đầy vò

Tao ngất ngưỡng vờ say

Cái hay đầu tiên của bài thơ là tác giả làm cho mọi người đọc đến đây đều giật mình cảm thấy ớn lạnh. Chính người trong cuộc cũng ớn lạnh nên “ngất ngưởng vờ say”. Sau câu nói của người bạn cũ tác giả đã cho gió nổi lên. “Trời nhiều gió / Hay lòng tao nổi gió” là một tứ thơ giống như tiếng gầm tiếng rú trong một bi kịch sảy ra trên màn hình. Người xem truyền hình yếu bóng vía hay người đọc thơ cảm thấy như mình cũng run rẩy. Run rẩy không vì gió thật mà run rẩy vì tâm lý lo sợ trước quyền lực của tội lỗi.

Tục ngữ ta có câu “Rung cây nhác khỉ”. Bài thơ nầy tác giả đã thành công khi rung cây nhưng không nhác khỉ mà là để chỉ cho khỉ thấy thật tình cái cây độc hại.

 Bài thơ “Quê Nghèo” không có sự bạo miệng của kẻ ngất ngưởng say, ngược lại là những giọt lệ rơi vào, là tiếng khóc nghẹn ngào trong tâm tình thổ lộ. Tôi lại mạn phép tóm gọn bài thơ dài 41 câu bằng 7 câu thơ của chính nó:

Quê tôi nghèo lắm

Nước mắt rơi từ thời chị Dậu

Âm ỉ bủa quanh

Bám đeo đặc quánh

Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp

Giam hãm đời người

Tù túng giấc mơ.

Bài thơ cho ta thấy một nỗi đau truyền kiếp từ thế kỷ 19 đến nay. Nỗi đau đó do đâu, nhà thơ không nói rõ nhưng nó đã “giam hãm đời người” ngay “từ trong giấc mơ”. Như thế nỗi đau nầy không chỉ là nỗi đau vật chất mà còn là nỗi đau tinh thần. Ngày xưa chị Dậu nghèo lắm về vật chất nhưng không ai cấm ước mơ. Bây giờ “Giam hãm đời người / Tù túng giấc mơ”, nghĩa là có thêm cái “nghèo lắm” tinh thần.

Bài thơ làm thức tỉnh cơn mê của những người nhìn vào mặt phải mà không thấy mặt trái bao giờ.

Qua hai bài thơ trên ta thấy nhà thơ Đặng Xuân Xuyến vừa gan dạ vừa ngổ ngáo khi đề cập đến mặt trái của xã hội nhưng với mặt trái của tình yêu, nhà thơ trở nên rất hiền hòa, nhẫn nhịn:

Ta dẫu biết trăng lúc mờ lúc tỏ

Vẫn không quen lời yêu chóng hao gầy

Ta sẽ cố để không ai thấy

Héo hắt chiều/

Sưng tấy trái tim yêu.

                              (Vế cuối bài thơ Tim Đau)

Đâu rồi cái khí phách dám nói thẳng ra mặt xấu ở đời? Bây giờ chỉ “để không ai thấy / héo hắt chiều / sưng tấy trái tim” nghĩa là những hệ lụy tình yêu xin nhận hết về mình. Có phải đây là trái tim Hàn Mặc Tử hôm nay? Vâng, còn hơn thế nữa vì Hàn Mặc Tử tuy nhận hết đau thương về mình nhưng oán trách mối tình tan vỡ “mi là nơi ta chôn hận ngàn thu / Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư” còn Đặng Xuân Xuyến thì lại nhẹ nhàng thay: Ta dẫu biết trăng lúc mờ lúc tỏ/ Vẫn không quen lời yêu chóng hao gầy. (Tim Đau)

Bài thơ “Chia Tay - Với Nguyễn Minh Phượng -” gồm có 29 câu thơ. Tôi xin mạo muội dùng 9 câu thơ trong bài thơ ấy để rút ngắn bài thơ lại:

Chia tay nhé

Đừng buồn em nhé

Ánh hoàng hôn tím sẫm chân trời

Em nhớ đến bến sông ngày ấy

Nhặt cho anh câu hát lỡ quên

Qua bến cũ đừng nghe sóng dội

Cũng đừng nhìn ghế đá tuổi thơ

Em hãy nhớ giờ là kỷ niệm

Dư âm buồn

Day dứt cũng thế thôi.

Tôi rất cảm động khi đọc bài thơ nầy vì tôi thấy lệ trên mắt và màu tan vỡ của máu trong tim khi tác giả rất ôn tồn thỏ thẻ cùng em. Đọc toàn bộ bài thơ ta mới thấy cái bình tĩnh phi thường của tác giả và ta mới thấy nỗi u sầu được nén xuống lớn làm sao!. Tôi rung động khi đọc bài thơ nầy vì chính bài thơ là một tác phẩm tuyệt vời, thể hiện tài hoa của tác giả đã phát tiết nỗi sầu vào trong tiếng thơ, vọng buồn lên cao, lên xa và lắng xuống trong lòng ta khi đọc nó.  

Tôi không muốn so sánh Hàn Mặc Tử với Đặng Xuân Xuyến vì như thế sẽ trở nên khập khiễng, nhưng thi sĩ dẫu cách nhau hàng ngàn năm có khi vẫn đồng rung cảm, khiến cho bạn đọc thơ của người nầy lại nhớ đến người kia. Ta hãy đọc một đoạn trong bài thơ “Đôi Ta” của nhà thơ họ Hàn: Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa/ Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết/ Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt/ Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang/ Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian  

Rồi ta hãy đọc một đoạn trong bài thơ “Khát” của Đặng Xuân Xuyến: Tay siết tay xua giá lạnh tan rời/ Đôi ngực trần cọ xiết ngùn ngụt hơi/ Dòng nham thạch cuộn từng cơn nóng hổi/ Thế. Thế. Thế./ Căng người/ Em hứng đợi/ Môi đốt môi/ Anh thiêu trụi đất trời/ Trăng thượng tuần ngấp nghé đón triều dâng

Thi âm, thi tứ hai người có khác nhau nhưng cái chất “Thơ Điên” tiềm ẩn trong hai linh hồn hai người không khác biệt. Hai tâm hồn có những giây phút cuồng si loang ra cả đất trời và làm đảo điên vạn vật. Cái câu “Trăng thượng tuần ngấp nghé đón triều dâng” của nhà thơ họ Đặng không những là một hình ảnh rất đẹp mà nó còn phô bày hết cái giây phút ân ái của con người biến thành giây phút thánh của vũ trụ. Giây phút tuyệt đỉnh sung sướng sắp sảy ra cho con người làm thăng hoa cả trời đất và nó cũng có thể là giây phút chết trong hoan lạc khi tác giả nói: Môi đốt môi / Anh thiêu trụi đất trời. Đọc bài thơ “Khát” ta cảm thấy hình như hơi nóng cũng căng phồng trong da thịt.

Lướt sơ qua vài bài thơ của Đặng Xuân Xuyến ta thấy tính cách thơ rất ngạo nghễ, rất ngang tàng trong cuộc sống mà cũng vô cùng nồng cháy khi yêu. Nhà thơ phẫn nộ trước bất công, trước nỗi đau của đồng loại nhưng lại nhận hết niềm đau về mình trong tình yêu cao thượng. Đọc Đặng Xuân Xuyến ta cảm nhận được hết tiếng thơ bộc lộ và tiếng thơ lặng thầm, kích thích tình cảm trong lòng ta có khi cháy bùng, có khi âm ỉ, khiến niềm vui có ít lại chỉ như cái cười gượng gạo mà nỗi buồn thì triền miên như dòng sông lặng lờ chảy mãi không thôi./.    

*.

Đà Nẵng, 27 tháng 7-2016

CHÂU THẠCH 

Địa chỉ: 75 Phan Kế Bính, Đà Nẵng.

Email: truongvantran@hotmail.com

 

KHỐI TÌNH LẬN ĐẬN CỦA CHÀNG TRAI

TRONG THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

1.     

Tôi không quen Đặng Xuân Xuyến và cũng chưa một lần được tiếp xúc với anh mà chỉ gần đây mới biết tên anh khi tôi đọc trên mạng bài thơ “Quê Nghèo” cùng hai bài bình của nhà thơ Chử Văn Long ở Hà Nội và bác Nguyễn Bàng, nhà giáo nghỉ hưu ở Sài Gòn. Bài thơ Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến đã hay lại thêm hai bài bình của hai vị cao niên rất có tâm và xứng tầm bút lực thâm sâu khiến tôi tìm đến Trang Đặng Xuân Xuyến để đọc thêm thơ anh. Và tôi thật bất ngờ, chủ nhân trang nhà là một người đa tài: một doanh nhân, một bàn phím thơ văn sung sức và một tinh thông tử vi lý số cùng văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo. Nhưng chỉ là một người thích đọc thơ, không đủ kiến văn về các lĩnh vực khác nên tôi chỉ dừng chân bên vườn thơ của Đặng Xuân Xuyến và tôi lại nhận ra, vườn thơ ấy không nhiều những cây lá như “Quê Nghèo” mà lại có vẻ xum xuê đài nụ thơ tình.   

Đọc thơ tình của Đặng Xuân Xuyến, ta cũng thấy lòng buồn, không phải nỗi buồn xót xa nặng trĩu như đọc “Quê Nghèo” của anh mà là nỗi buồn mênh mang bởi hàng trăm vần thơ chất nặng một khối tình lận đận. Chưa quen Đặng Xuân Xuyến nhưng đọc thơ tình của anh, tôi lại thấy rất thân quen với nhân vật trữ tình chủ đạo trong thơ anh, một chàng trai đã nửa đời “ngậm trái bồ hòn” của một nghĩa vợ tình chồng tan vỡ. Vì vậy, tôi không dám nói khối tình lận đận trong thơ Đặng Xuân Xuyến này là của riêng anh mà gọi đó là khối tình lận đận của chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến.

2.

Không hiểu chàng trai ấy biết yêu từ bao giờ nhưng từ khi còn ngồi trên giảng đường Đại học, hình ảnh chàng đã lọt vào cặp mắt biếc của một cô gái. Người con gái ấy, hẳn đã cảm mến chàng rất thật lòng nên đã không dấu giếm, không sợ miệng tiếng người đời, tự mình “cọc đi tìm trâu”, đến thăm chàng với một đóa hoa nhài. Nhưng, chàng đâu biết đóa nhài cực kỳ tao nhã biểu tượng của tình yêu và sự tinh khiết ấy là tấm tình thơ ngây của nàng nên chàng đã:

Tôi mỉm cười

              Nhìn mây bay

                               Hờ hững

Rồi lần sau và cả nhiều lần sau nữa, nàng (Hoa Nhài) đến thăm chàng: Vẫn bình dị những đóa nhài nho nhỏ

Và chàng vẫn chỉ cười: Hờ hững ngó mây trôi.

Thế rồi không thấy nàng đến thăm nưã.

Và rồi:

Một ngày đông hoa nhài không nở

 Tôi ngơ ngẩn bên thiếp hồng để ngỏ

Bấy giờ chàng mới giật mình thảng thốt khi thấy:

Thấm trong tôi hương nhài nỗi nhớ

và:  Tôi trách mình hờ hững ngó mây trôi.

Nhưng tự trách mình mà làm chi, một khi chính mình “Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu!" cho người ta khiến giờ đây chỉ còn những mảnh tình thơ ngây tan tác: 

Ngày mai em theo chồng

Ngày mai tôi lên biên cương

Mối tình ngày thơ bẻ lửa

Thôi.

Về.

Sao còn lần lữa

(Không đề)

Đóa nhài tinh khiết trong thơ Đặng Xuân Xuyến trở thành đóa sầu muộn giống như nụ tầm xuân xanh biếc trong ca dao trở thành nụ tiếc nuối. Nhưng thà rằng như chàng trai trong ca dao, một lần trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân nhìn rõ cảnh “chim vào lồng, cá cắn câu” để rồi xót xa đau khổ:

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay

Còn hơn chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến cứ “hờ hững ngó mây trôi” để rồi thở dài ngao ngán:

Em cười. Làn môi héo hắt

Giọt sầu tôi mang!

(Không đề)

Trai khôn lấy vợ. Sau đó, không biết chàng trai đã theo đuổi những tơ duyên nào, đã dò bao lòng sông để rồi đi đến quyết đinh sắm một con thuyền. Thơ Đặng Xuân Xuyến không có bài nào cho thấy con thuyền đó hình hài màu sắc ra sao và cơ duyên nào đã đưa con thuyền ấy đến với chàng.    

Cũng không có bài thơ nào cho thấy vợ chồng chàng đã ăn ở với nhau ra sao, nhưng qua mấy bài Qua Đò, Nhớ, Đêm, ta thấy họ đã có với nhau những phút giây ân ái hừng hực mặn nồng: “Ánh mắt cười… lăn trên chiếu” những phút “căng người, run rẩy cuộc”, “Em đè ta nghiến ngấu”. Nhưng như người đời thường nói, đến với nhau thì dễ nhưng sống chung với nhau thì khó. Chỉ sau ít năm chung sống với bấy nhiêu đằm thắm, cuộc hôn nhân của họ đã đổ vỡ, đầy đọa chàng vào cảnh: Khép nụ cười héo hắt nửa đời trai

Người vợ ấy đã đi đâu, về đâu, cũng không ai biết. Nhưng sau khi bỏ chồng, có bao giờ mỗi độ gió thu, nàng thở dài tự hỏi như người thiếu phụ trong thơ Tản Đà xưa:

Vàng bay mấy lá năm già nửa,

Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Chắc chắn không, một nghìn lần không. Bởi lẽ, một người đàn bà dứt áo ra đi, không chỉ cắt đứt hẳn với chồng mà cả với đứa con, vứt bỏ lại đứa con còn trứng nước cho chồng, quyết tâm tìm bến đỗ hạnh phúc mới cho riêng mình thì làm sao trong trái tim con người đó có được những giây phút chạnh lòng. 

Nhưng người chồng, chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến thì không thế. Sau khi “anh đi đường anh, tôi đường tôi”, mỗi độ gió thu, chàng vẫn chìm lòng vào nỗi buồn xa vắng của những ngày đang tàn theo năm tháng:

Hồng bay mấy lá năm hồ hết

Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không

Mỗi bận Qua Đò trở lại bến xưa, lòng chàng lại cuộn lên nỗi xót thương một thời lỡ dở:

 Sao ta mãi thẩn thơ

Thương một thời lỡ dở...

"Người xưa đâu xa vắng

Ai đưa tôi qua đò.".

 Một mình đớn đau vất vả nuôi con nhỏ nên mỗi lời hát Ru Con của chàng là một tiếng thở dài buồn lắng:

Con mỗi ngày mỗi lớn

Mình mỗi ngày mỗi già

Tóc đầy thêm sợi bạc

Đêm trở mình nhiều hơn.

Nhiều người đọc bài thơ này bảo đó là cảnh “gà trống nuôi con”. Không đúng. Gà trống nuôi con ví cảnh người đàn ông phải một mình vất vả trong việc nuôi con, thường do goá vợ. Nếu góa vợ mà phải chịu cảnh gà trống nuôi con, người đàn ông không buồn tủi mà chỉ xót thương, tiếc nhớ người vợ bấy lâu cùng mình chung xây tổ ấm đã sớm phải lìa trần để lại đứa con mồ côi mẹ tội nghiệp cho cha nó nuôi, mà như người đời đã nói:

Mồ côi cha ăn cơm với cá,

Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường

Người đàn ông trong thơ Đặng Xuân Xuyến đâu có góa vợ và đứa con đâu có mồ côi mẹ. Nên tiếng hát ru con đáng lẽ phải là tiếng của người mẹ:

Cái Bống là cái bồng bang

Mẹ Bống yêu Bống, Bống càng làm thơ

Nhưng mẹ Bống đã phũ phàng bỏ bố con Bống đi tìm hạnh phúc riêng nên bố Bống phải thay mẹ ru Bống trong tâm cảnh: 

Lặng nhìn con nằm ngủ

Ngổn ngang mối tơ vò

(Ru con)

Cùng những lời nghẹn đắng Ru Con: 

Giận “người lớn” dạy hư

Khiến con thơ phải khổ 

Kiếm nụ cười trong mơ.

Cũng không có câu thơ nào nói căn nguyên tan vỡ của cuộc tình chồng vợ đó. Nhưng qua việc người chồng nhận nuôi con thơ, qua những tiếng ru con của anh, ta thấy anh là người không hề muốn có cuộc chia tay đau đớn ấy. Chính vì thế, sau khi vợ chồng bỏ nhau, dù người vợ  cũ không ngó ngàng gì nữa đến chồng con nhưng người chồng vẫn luôn nhớ và nghĩ về nàng:

Em giờ ở nơi đâu?

Có thương về chốn cũ?

Có tan vào giấc ngủ

Buốt lạnh vài giọt ngâu?

(Qua đò)

Trong anh vẫn khắc khoải một niềm chờ đợi cầu mong nàng hồi tỉnh:

Vâng, từ độ ấy đến giờ

Sông trăng dẫu cạn vẫn chờ đò xưa

Cầu trời đổ một trận mưa

Cho sông trắng nước đò xưa trở về

(Sông trăng)

Nhưng anh đâu biết đò xưa không bao giờ trở về và quá khứ là những thứ đã qua. “Cá chuối đắm đuối vì con”, người đàn bà một lần đi qua đời anh đã vứt bỏ con cho anh thì còn gì nữa đâu mà mong mỏi “cho sông trắng nước đò xưa trở về”?

Phải 10 năm sau, mười năm chàng cô đơn “hong tơ ướt”, khi gặp lại Người xưa cũ, chàng mới nhận ra:

Lời em nhạt lắm, xa xăm lắm

Em chỉ chiều ta. Đâu có yêu.

Chàng mới có thể nhìn kỹ nàng hơn:

Chạm trán nhau dẫu hà tiện nụ cười

Thì cũng chớ cau mày, quay mặt

Em như thế càng thêm quay quắt

(Buông bỏ nhé em)

Nàng không chỉ là một kẻ bạc tình:

Xưa ai khéo phụ câu thề

Đem tình chồng vợ quét lê phố phường

Mà còn là một người đàn bà phóng đãng:

Lời thường nói chẳng thèm nghe

Lẳng lơ nên mới éo le lối về

  …

Nực cười cái thói hồng nhan

Mười phương đủ cả còn oan nỗi gì!

(Kẻ bạc tình)

Bây giờ, gặp lại Người Xưa, chàng mới biết mình là kẻ dại khờ và buông lời tự trách:

Ta trách vì ta quá dại khờ

Dại khờ nên mãi cứ ngu ngơ

Mười năm gặp lại em chẳng nỡ

Ta lại mơ hồ lạc bến mơ.

Và cũng bây giờ chàng mới nhìn ra cái nguyên nhân người vợ cũ đã bỏ chồng bỏ con:

Ờ thì... đấy chuyện ngày xưa

Em giờ cũng khác em xưa đã nhiều

Em quen nhung gấm mỹ miều

Nhớ làm chi thủa liêu xiêu những chiều...

(Dở hơi)

Hầu hết những bài thơ lục bát của Đặng Xuân Xuyến đều hay và phảng phất hương vị thơ Nguyễn Bính. Chắc chắn Đặng Xuân Xuyến rất yêu thơ Nguyễn Bính, đọc nhớ nhiều thơ Nguyễn Bính. Vậy mà sao Đặng Xuân Xuyến lại để cho chàng trai trong thơ của mình mười năm sau cuộc hôn nhân đổ vỡ mới hiểu ra “lòng người”, cái “lòng người” mà Nguyễn Bính đã nói từ rất lâu rồi:

“Lòng người…” chị Trúc nhớ hay quên?

                    …

Người ta đi lấy cái giàu sang,

Rời cả keo sơn, bỏ đá vàng.

Khiến dằng dặc cả mười năm “Sưng tấy trái tim yêu”, chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến mới nhận ra lòng dạ đàn bà trong người vợ cũ và bấy lâu nay mình đã sống:

Anh ngợp mình trong ảo vọng ái ân

Mải lặn ngụp xây lâu đài trên cát

(Trả em)

Giờ  đã hiểu người và hiểu mình thì đúng như câu hát nhạc Trịnh:  

Còn thấy gì sáng mai đây thôi ta còn bạn bè

 Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê.

Chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến đã tìm đến với bạn bè. Nhưng những người bạn hiền, tất cả đều “cùng một lứa bên trời lận đận”, tất cả đều đang bị cuốn sâu trong cái bộn bề của cuộc sống đầy khó khăn cơm áo, đâu dễ gặp được nhau:

Mày về quê chơi đi

Biền biệt thế

Bặt tin như thế

Tao nhớ mày

Rượu tao uống chẳng say

(Về quê đi mày)

Những kẻ “học ngu nhưng thủ đoạn tài” giờ trở thành những Bạn Quan thì đạo đức và nhân cách của họ đã bị băng hoại hết: Đời đã chó/ Quan trường càng chó

Bạn Quan chó má như thế nên dẫu có gặp thì cũng:

Rượu mày mời

Tao uống khó trôi

Thịt mày gắp

Tao nhai khó nuốt

Không có bạn để chia sẻ nỗi niềm, chàng chỉ còn cách tìm chua cay trong Rượu Say:

Ừ này thì rượu. Ừ thì say  

Ừ rượu tri âm ủ lâu ngày

Ta uống đêm nay cho thỏa thích

Cho trời cùng đất ngất ngưởng say.

Khắp trời cùng đất trong mắt chàng bây giờ chỉ rượu và Rượu Say:

Rượu ngọt đào thơm vơi lại đầy

Cụ Trích tiên Tản Đà xưa đã từng mơ được lên Hầu Trời, đọc thơ văn cho Trời và chư tiên nghe. Chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến hôm nay không chỉ “chống chếnh men say” một mình mà cũng mơ được “sóng sánh mềm môi chén rượu đầy” với cả chú Cuội từ trên cung Trăng xuống:

Thôi Cuội về đi ta chỉ muốn

Đêm nay thỏa thích ta được say.

(Rượu say)

Nhưng ở đời ai mà say mãi hết ngày dài rồi lại đêm thâu, mà không có lúc tỉnh? Nàng Kiều khi ở nơi lầu xanh đầy “cuộc say, trận cười” cũng phải có khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với mình:  

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến cũng thế, khi tỉnh rượu, tự đối diện với mình chàng đã nhận ra:

Người đi vá víu nụ cười

Tôi hong tơ ướt cũng mười năm nay

Khật khừ say tỉnh tỉnh say

Cứ ngu ngơ đợi heo may trái mùa

(Khờ)

Đôi tai chàng đã nghe được những lời thị phi của người đời:

Anh bảo

Sao mãi mày chưa cưới vợ

Chị cười chắc đợi bén duyên

Anh nhìn, đẹp trai như nó

Thiếu gì đứa ngẩn đứa ngơ.

(Ế duyên)

Và hiểu ra trong những lời khen đó:

Đã nghe câu mắng thằng khờ

Suốt ngày trăng sao mây gió

Duyên đâu đến kẻ ngù ngờ...

(Ế duyên)

Những tiếng thằng khờ, trăng sao mây gió, kẻ ngù ngờ đã giúp chàng hiểu rõ trắng đen: Đò xưa rời bến rồi không quay lại nữa mà dù có quay lại thì tất cả cũng đâu còn vẹn nguyên được như ngày nào. Cần gì phải thiên trường địa cửu, nhất nhất sắt son mà hãy quên đi những khổ đau đã trở thành quá khứ. Tình yêu bắt đầu sống lại trong trái tim để chàng hiểu ra, phải tìm một tình yêu mới với một niềm tin mới cho mình đứng lên sau giông bão.

Chàng đến và đến với chàng, có khi là một thiếu nữ còn rất tơ duyên:

Người đâu mà trắng, tươi như nắng

Suối tóc vờn bay giỡn nắng vàng...

(Người đẹp)

Có khi là một cô gái xinh đẹp làng quan họ:

Ngơ ngác níu tìm “người ơi người ở”

Chống chếnh men say “người ở đừng về”

(Người ơi… Người ở)

Cả khi là một người đàn bà đã một lần sang sông lỡ dở:

Gặp nhau khi đã trễ tràng

Dở dang duyên phận nhỡ nhàng lời yêu

Chỉ là gạo nấu chung niêu

Chẳng mong củ ấu khéo yêu thành tròn

(Gá tình)

Chàng sinh viên hờ hững đóa hoa nhài năm xưa, người chồng bị phụ tình hôm nay, có lúc trở nên táo bạo bạo, trần trụi trong cuộc tình mới với Em:

Ta gạ em cạn chén

Nhưng trớ trêu thay:

Thế là em cạn ta

Nửa đời ta trễ hẹn

Em nồng nàn đốt ta.

Và thế là một nửa đời trai còn lại:

Nửa đời trai trinh bạch

Em nhuộm ta ngả màu

Đã hết rồi cái thời “Tơ tằm đã vấn thì vương” mà giờ là những cuộc tình gấp gáp, chẳng còn e ấp, chẳng biết phải sợ điều gì, sẵn sàng bỏ hết ngoài tai miệng tiếng người đời:

Sợ gì danh phận hư hao

Sợ gì thiên hạ trông vào nhỏ to

Sợ gì nhỉ? Chẳng phải lo!

Trai đơn gái lẻ … nhỏ to bằng thừa!

(Nhỏ to bằng thừa)

Nhưng thật tội nghiệp, khi đang cuồng nhiệt tắm mình trong những tình yêu ấy cũng là khi chàng nhận ra mình đã chớm già:

Thì đấy, em chớm vào hạ

Anh đà ngấp nghé thu qua

 Chữ yêu nghe chừng xa lạ

Biết mình, chẳng dám mơ xa.

Phút đầu chàng còn bông lơn với các nàng để khỏa lấp sự lo lắng:

Nỡ nào gọi anh bằng chú

Để anh nhanh bạc mái đầu

Hơn chừng đôi ba chục tuổi

Có nhiều xa cách lắm đâu

(Nỡ nào thế em)

Nhưng rồi sự thật khiến chàng bắt đầu mặc cảm:

Sao chẳng nói yêu từ sớm

Khi anh đương còn trẻ trai

Bây chừ lừ đừ, lọm khọm

Anh nào dám mộng với ai.

(Lánh yêu)

Và đành thú thật:

Ta thực lòng chỉ muốn ngắm em thôi

 Đâu dám ước điều ta mong đợi

Chỉ tại em cứ thản nhiên rời rợi

Đốt lòng ta bằng ánh mắt biết cười.

 …

Ta già rồi, ốm yếu lại ngu ngơ

Sao cứ khát giấc mơ em, rõ khổ.

(Mơ em)

Nhưng sợi tơ tình đâu có dễ gỡ nên nói thì nói vậy mà lòng thì lại cố níu Ở Lại:

Ta muốn đêm này em với ta

Quyện từng hơi thở trộn thịt da

Ưu phiền cứ mặc trôi theo gió

Nào hãy cùng ta dạo bến mơ.

Chính vì thế nên ngày Valentine, ngày lễ tình yêu hay ngày lễ tình nhân, những đôi lứa, những bạn bè khác phái bày tỏ tình yêu của mình bằng cách gửi cho nhau thiếp Valentine, hoa hồng, sô cô la hay những món quà tặng đặc biệt cùng những lời chúc Valentine thật đẹp và ý nghĩa nhất thì chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến lại thở dài cay đắng:

Có lẽ xưa đường tu vụng dại

Vung vãi tình giờ nghẹn đắng chữ yêu

(Viết cho ngày valentine)

Và:      San niềm vui gom vội niềm cay đắng

Ta cuộn mình sống hết kiếp nhân sinh.

(Viết cho ngày valentine)

Nhà thơ lãng tử bạc mệnh Nguyễn Tất Nhiên ở tỉnh lẻ Biên Hòa trước 1975 có bài thơ nổi tiếng “Hai Năm Tình Lận Đận” đã được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc. Ấy là cái tình lận đận của một cặp đôi học trò, khi cô bé còn thắt bính “nuôi dưỡng thời ngây thơ”, cậu bé còn luýnh quýnh “giữa sân trường trao thư”. Tình của cô cậu chỉ lận đận khi có nguy cơ phải chia tay. Thời gian đâu có dài, chỉ hai năm thôi, vậy mà:

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng xanh xao

                   …

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng hư hao

Xanh xao và hư hao nhưng dẫu sao 2 năm tình lận đận ấy cũng được chia đôi cho 2 đứa để “cùng thở dài như nhau”. Còn cái tình lận đận của chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến thì khác hẳn. Về thời gian kéo dài mười mấy năm rồi mà chưa biết bao giờ mới dứt. Về tâm can, chỉ một mình chàng chịu đựng trong cảnh thui thủi một mình nuôi dạy con thơ, dẫu sau này có  yêu thêm nhiều cô gái khác, được nhiều cô gái khác yêu thương nhưng không dám hôn nhân lần nữa, một mặt chàng thấy mình đã chớm già, sợ cưới nhau rồi trước là pháo hoa sau cũng ra tăm tối như cuộc hôn nhân đầu đã đổ vỡ, sợ đến nỗi có lúc đã cảm thấy chán cái vị yêu đương mới:

Ta bỗng chán vị yêu nhạt thếch

Xộc xệch tình

Lếch thếch tiếng yêu.

(Chán yêu)

mặt khác vì chàng luôn yêu thương xót xa cho một tuổi thơ thiếu tình mẹ của đứa con mà đã bao năm chàng một mình nuôi dạy: 

Con như búp non tơ

Cần đời cha bóng cả

Cha đã qua mùa hạ

Chở che con mấy mùa?

(Ru con)

Ở đời này, dễ gì có được một người đàn ông vừa làm bố vừa đóng vai trò làm mẹ khi vợ bỏ đi theo tình yêu mới, nghĩ cho con được như vậy? Tấm lòng người cha ấy ở chàng thật cao thượng!

3.

Đặng Xuân Xuyến rất tinh thông tử vi lý số. Nào đâu những cung Phu Thê, Mệnh, Thân và Phúc đức, nào đâu những sao Đào hoa, Cơ cự, Thiên hỷ, Thiên riêu, Phục binh, Không kiếp…  Sao anh không nghiên cứu đặng kích hoạt những sao tốt, hóa giải những sao xấu cho chàng trai trong thơ anh khiến chàng đã phải ôm khối tình lận đận nửa đời trai rồi giờ lại còn có ý tự nguyện chịu thua cuộc như vậy?.

Lại cũng lạ, nhà thơ họ Đặng người Hưng Yên, yêu quê hương thắm thiết mà sao không tìm cho chàng trai trong thơ của mình một cô gái quê nhà vừa giòn vừa xinh như cô gái Hưng Yên trong thơ Huy Cận:

Mắt đen hạt nhãn cười tinh nghịch

Tóc quấn trần trông rất có duyên

(Cô gái Hưng Yên đi khai hoang Tây Bắc)

Mà cứ mải mốt tìm tận đâu đâu:

Bồng bềnh người ơi

Mây tím lưng trời. 

(Hương thu)

Phải chăng là vì duyên số? Tôi mù tịt về lý số nhưng tôi tin ở duyên số, cái duyên số như trong thiên truyện ngắn cùng tên của Thạch Lam: Một người trẻ tuổi lãng mạn con nhà gia phong giàu có, bình sinh chỉ ao ước được một người tuyệt thế giai nhân để sánh vai kề gối. Rồi anh yêu một cô gái mà thoạt nhìn anh đã choáng váng như người nhấp cốc rượu mạnh. Nhưng rốt cuộc, chính vì mình mà anh không lấy được cô gái đó khiến anh thất vọng theo lời mẹ cưới một người đã đứng tuổi, vẻ mặt xấu xí như những đàn bà nhà quê thường thấy. Nhưng sau một thời gian chung sống với người đàn bà đó, khi bạn đến chơi nhà, anh đã vui vẻ nói với bạn: “Tuy vậy mà tôi với nhà tôi hợp ý nhau lắm, trong gia đình rất thuận hòa. Biết đâu, nếu tôi lấy cô Bảo kia, rồi sau lại không được như thế?”

Phải, biết đâu? Biết đâu chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến không bị vợ bỏ chắc gì chàng đã làm nên sự nghiệp và thành một ông bố tốt? Và cũng biết đâu, sau đó chàng cứ mạnh dạn đi bước nữa với một người phụ nữ yêu mình, đến với mình, giúp chàng gạt đi quá khứ đau buồn, gạt đi những vụn vỡ đắng cay từ mối tình chồng vợ ban đầu, cùng chàng lo toan vun vén mái ấm gia đình, chàng sẽ có được người vợ yêu thương chung thủy trọn đời như cô gái trong ca dao: Trăng tròn chỉ một đêm rằm/ Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi

Tôi mong mỏi thật lòng cái biết đâu này bởi qua những vần thơ tình chân thật chảy ra từ đáy lòng, đọc lên có chút phần u uẩn trong thơ Đặng Xuân Xuyến, tôi rất cảm mến nhân vật trữ tình trong thơ anh, một chàng trai ôm nặng khối tình lận đận nhưng tâm hồn vị tha trong sáng, rất hiền trong tình yêu, trách người chỉ biết trách nhẹ nhàng, còn lại là trách mình, sẵn lòng nhận hết đắng cay về mình.

Ngạn ngữ phương Tây có câu: "Con người đau khổ. Hát lên cái khổ đau của mình, con người sẽ vượt qua cái đau khổ ấy". Chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến đã ngân lên được nỗi đau tình lận đận của mình làm se sắt lòng người, chàng sẽ vượt qua cái đau khổ ấy!

 *

Sài Gòn, tháng 08/2016

DƯƠNG NINH NINH

Email: duongninhsg@gmail.com

 

GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC VIỆT NAM

CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY?

*

Biết tôi hay lò dò lên mạng để tìm đọc dăm ba thứ thay vì phải đọc báo in, nghe đài hay xem nghe truyền hình thời sự nhưng lại là một ông già không biết chơi Phây, không biết Gúc để tìm tòi các trang mạng hay, nhà văn Đặng Xuân Xuyến đã gửi Mail chỉ đường dẫn mời tôi đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, một truyện ngắn anh viết năm 2006, ra sách năm 2007 (in chung) nhưng giờ mới post lên blog của anh và gửi một số trang và như anh nói gửi để tôi đọc cho vui. Chính vì thế, khi nhìn vào tên truyện, tôi ngỡ mình sẽ được đọc kiểu truyện chàng khờ với hình tượng nhân vật trung tâm là các anh chàng ngốc nghếch với những hành động, việc làm… ngây ngô ngớ ngẩn dại khờ đã đem lại tiếng cười sảng khoái và những trải nghiệm vô cùng lí thú để từ đó người nghe, người đọc rút ra những bài học cho bản thân. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi chẳng được vui tý nào mà lại cảm thấy đắng lòng khi nhận ra gã Khờ này phải chăng là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này.

Đúng là gã Khờ của Đặng Xuân Xuyến không giống những chàng ngốc, những thằng dại khờ như trong các truyện dân gian của ta với cái ngốc cái dại không biết để đâu cho hết khiến mọi người phải ca thán bảo nhau:

Một đêm quân tử nằm kề

Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

Hay:

Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu

mà gã đã từng là một thằng ngốc đại gia trong xã hội Việt Nam đương thời “đã từng vụt sáng chói lóa trong mắt mọi người”.

Những chàng ngốc trong truyện dân gian vì ngốc quá nên luôn bị lừa như có anh mười năm đi ở cho lão trọc phú chỉ được ba nén vàng giả nhưng cầm trên tay, anh ngốc cứ tưởng là vàng thật. Rồi chàng hí hửng muốn đi du ngoạn khắp nơi, đầu tiên có kẻ gạ chàng ta đổi 3 lạng vàng lấy sáu nén bạc mà thực ra chỉ là sáu miếng chì, rồi có kẻ gạ đổi 6 miếng chì lấy bó "lụa đinh kiến" quý hiếm mà thực ra chỉ là bó giấy dó, rồi đổi bó giấy dó lấy cái “thiên địa vận” biết trước mọi việc trên thế gian mà thực ra chỉ là cái chong chóng, rồi đổi cái chong chóng lấy viên ngọc lưu ly chưa chắc vua đã có được mà thực ra chỉ là một con niềng niễng có đôi cánh xanh đỏ.

Gã Khờ trong truyện của Đặng Xuân Xuyến bị lừa tiền, lừa nhà đi đến cảnh “bây giờ, hắn tiều tụy, thảm thương còn hơn mèo đi kiết” hiển nhiên không phải vì gã ngu đần như chàng ngốc kia mà chỉ vì gã có tính thương người và lòng trắc ẩn. Với tấm lòng tốt đẹp ấy, gã rất tin vào tình người nên đã cho thằng bạn nối khố mượn tiền mà không cần giấy ghi nợ, cũng không cần có người làm chứng, vì vậy khi cần đến đòi lại thì được thằng bạn “nhướng đôi lông mày thô đậm, xoăn tít, nhìn hắn từ đầu xuống chân rồi hô hố cười, bảo hắn là thằng khùng, nếu đói quá, không có chỗ xoay sở thì cầm lấy vài chục nghìn mà đắp đổi qua ngày, việc gì phải diễn trò ngớ ngẩn như thế”. Tiền không đòi được, hắn tìm về lấy lại ngôi nhà nho nhỏ ở ngoại ô đã giao cho thằng em kết nghĩa trông coi. Thằng em kết nghĩa này là một thằng bé đánh giày nhem nhuốc mà gã đã lầm tưởng là người lương thiện nên đã cưu mang đem nó về nhà nuôi ăn học. Nhưng khi đến ngôi nhà, chạy ra đón hắn không phải là thằng em kết nghĩa mà là con chó có tên là “Tình Nghĩa”. Rồi thằng em ấy, khi biết ý định của gã, nó  đã không ngượng mồm, nói trắng phớ ra rằng: “Vâng, nhà này mua bằng tiền của anh nhưng em đã làm sổ đỏ đứng tên là chủ sở hữu rồi” và đuổi hắn đi như đuổi một con chó.

Hai cái khờ dại, hai cái sai lớn nhất về sự ngộ nhận tình người đến nỗi gã bỏ ngoài tai những nhận xét tinh tế của vợ gã về ông bạn nối khố và thằng em kết nghĩa, không để tâm đến những lời can ngăn của thị, dẫn đến cảnh “nhà hắn thưa dần rồi mất hẳn nụ cười hạnh phúc của người vợ” và đưa tới cảnh “vợ hắn nằng nặc nộp đơn ly dị”.

Trong một xã hội mà mọi chuẩn đạo đức đang bị băng hoại, dối trá lừa đảo phát triển như nấm độc khắp nơi nơi như: lừa đảo qua mạng, lừa đảo bán hàng đa cấp, lừa đảo xin việc làm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản …, gã Khờ đã không thèm nhớ đến lời mọi người vẫn thường bảo nhau: Cho bạn vay tiền: "Đứng" cho vay, "quỳ" đòi nợ,  cho thằng bạn nối khố vay tiền mà không cần giấy ghi nợ cũng không cần có người làm chứng. Trong lúc chưa bao giờ câu nói “tấc đất tấc vàng” đúng cả nghìn lần như bây giờ khiến cháu giết bà vì sổ đỏ, anh em ruột thịt đâm chém nhau vì nhà đất, thì gã Khờ lại giao hết giấy tờ và nhà đất cho thằng em kết nghĩa trông coi hộ. Gã Khờ tuy không ngu đần, không kém về trí khôn nhưng đã suy xét, ứng phó, xử sự chỉ với thứ lòng tốt đơn thuần và cao thượng của riêng gã nên mới ra nông nỗi thảm hại hơn cả những thằng ngốc trong truyện cổ dân gian. Thế chẳng phải là một thằng ngốc còn sót lại ở đầu thế kỷ này thì sao! Và thế thì làm sao mà vui được khi nghe chuyện về gã? Họa chăng có một chi tiết làm người đọc vui gượng tý chút, ấy là thấy gã tinh thông về tử vi lý số, biết về mình: “Thôi thì cũng là do số phận. Cung nô của hắn chẳng ra gì thì đành chấp nhận. Đã Tham Lang hãm địa lại đồng cung với Thiên Diêu hãm địa thì đời hắn tàn vì chữ tình là phải.” mà vẫn mù quáng đi đến chữ “tàn”. Thật đúng là “Số thầy thì để cho ruồi nó bâu”!

Kiểu truyện chàng ngốc trong dân gian thường có hai xu hướng kết thúc, hoặc là chàng ngốc phải chết hoặc là chàng ngốc gặp may mắn tìm được hạnh phúc, trở thành người giàu có, khôn ngoan hơn. Gã Khờ trong truyện ngắn của  Đặng Xuân Xuyến đã không phải chết vì gã không phải là nhân vật xấu, không bị người đời căm ghét; gã cũng không phải chết để khắc sâu bài học kinh nghiệm sống của con người là: Đừng ngốc nghếch làm việc một cách máy móc thụ động, không biết suy xét vấn đề một cách kĩ lưỡng, không hiểu gì về cuộc sống cả mà phải biết làm chủ được những suy nghĩ và hành động của mình để tránh phải sẽ gặp sự thất bại.

Không bắt gã Khờ phải chết mà rốt cục, Đặng Xuân Xuyến cũng cho gã được gặp may, nhưng trước khi đến với vận may, gã còn phải ê chề nếm thêm ít nỗi nhục nhã đắng cay của thời đại mới.

Ấy là, sau khi biết bình đã vỡ rồi, gã Khờ cũng nhận ra là phải lấy thân mà trả nợ đời cho xong. Đầu tiên, gã vùi mình trong men rượu rồi tự nguyện làm một “Thằng đàn ông bán thân nuôi miệng, một thằng điếm”.

Như đã nói, gã Khờ trong  truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một kẻ có học. Vậy gã thừa hiểu, ở Việt Nam từ xưa đến nay người ta đã không mấy ưa loại người làm đĩ, cho dù là đĩ cái. Thì kia, cô Kiều của Nguyễn Du trong văn chương Việt Nam tuy đã được Kim Trọng khen ngợi là: “Như nàng lấy hiếu làm trinh - Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”, và cô đã sống trong niềm yêu mến của bao lớp người Việt từ bậc thức giả đến kẻ bình dân xưa vậy mà cũng vậy, thế mà mấy lần cô Kiều đã bị cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước gọi  là "Con đĩ Kiều", "Cái giống độc con đĩ Kiều” .  

Ấy là đĩ cái vốn đã cùng với mại dâm xuất hiện và phát triển từ thời nguyên thủy huống chi đĩ đực mới chỉ đến thế kỷ này mới xuất hiện. Gã Khờ bất chấp mọi giá làm một thằng điếm, một con đĩ đực vì Hắn cần tiền. Hắn cần tạo dựng lại cơ nghiệp. Hắn cần được tung hô, cần được trọng vọng như ngày trước. Đời hắn không thể thiếu thứ hàng xa xỉ đó”.

Làm đĩ đực, ấy là con tàu tốc hành để gã nhanh chóng đi tới ga nhặt tiền.

Ngay lần đầu tiên làm thằng điếm đực, gã đã may mắn không phải hầu hạ một máy bay bà già đã sồ sề, nhăn nhúm nhưng thèm khát tình dục mà là gặp một “ả” có “Khuôn mặt đẹp, da lại trắng hồng”. Mới đầu, thấy Ả đẹp. Hắn cũng thích nhưng khi vào cuộc gã mới nhận ra ả là một “con vợ đĩ lên đĩ xuống, đĩ ngang đĩ dọc mà thằng chồng cấm dám ho he”, một “con đàn bà đĩ thõa đang lên cơn động đực”. Thế là “Hắn không thích cuộc chơi này nhưng hắn không còn sự lựa chọn” vì gã cần tiền như trên đã nói và thêm nữa vì gã sợ cái thằng vừa dẫn mối vừa bảo kê cho ả mua dâm gã, với “Một giọng nói sắc gọn, rờn rợn vang lên”:

- Làm bổn phận đi. Muốn chết à?

ở đằng sau cánh cửa.

Hầu hết các truyện dân gian về các chàng ngốc đều kết thúc có hậu như gặp vua được vua ban thưởng một chức quan trong triều đình và sống cuộc đời giàu có sung sướng hoặc nhờ nói mò mấy câu văn chương học lỏm mà cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Nhưng phổ biến nhất là các chàng ngốc đều may mắn có được cô vợ thông minh hết lòng vẽ đường chỉ lối cho chồng làm ăn nhưng ngốc vẫn hoàn ngốc, hết lần này đến lần khác đều thất bại khiến người vợ bị người đời mỉa mai muốn tự tử cho xong đời nhưng rồi vì lòng thương chồng các nàng đã bỏ ngay ý định tiêu cực đó, quyết tâm tìm cách giúp chồng trở thành người khôn ngoan hơn.     

Đặng Xuân Xuyến cũng dành cho gã Khờ của mình một kết cục có hậu tuy rất khác các truyện dân gian. Gã được một người 12 năm trước đã chịu ơn gã. Người ấy, khi xong việc để lại cho gã một bức thư: lấy lại đầy đủ giấy tờ ngôi nhà từ tay thằng em kết nghĩa của gã bằng cách làm cho: Nó thua bạc, gán nhà trả nợ theo đúng kịch bản mà em cùng nhóm bạn thân dàn dựng”. Người ấy cũng cũng lấy lại sợi dây chuyền “bảo bối” mà anh rất quý, bị thằng bạn nối khố của anh chiếm đoạt cùng “Số tiền thằng bạn nối khố lừa đảo, em cũng đã đòi lại và chuyển vào tài khoản cá nhân của anh”. Bằng cách: “dùng các chứng cứ phạm pháp “uy hiếp”, bắt tên khốn kiếp phải trả lại anh số tiền đã chiếm đoạt, bọn em đã chuyển cho nhà chức trách những bằng chứng phạm pháp của nó, bắt nó phải trả giá cho những tội ác đã gây ra

Một cái hậu tưởng như mơ, đẹp quá sức tưởng tượng khiến CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ như một cổ tích hiện đại và nhân vật Gã Khờ thấy lại lòng yêu trời, yêu đất và yêu cuộc sống: “Hắn bước ra sân, ngước mắt nhìn bầu trời xanh ngắt. Tiếng họa mi nhà ai lảnh lót làm hắn lặng người, rồi bất chợt hắn mỉm cười.”

Một số bạn đọc cho rằng: “kết thúc truyện lộ bàn tay sắp đặt của tác giả quá”, nói như các nhà phê bình văn học là tô hồng quá. Thì tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn nên nhà văn tạo dáng cho đứa con tinh thần ấy của mình ra sao là tùy thích. Vì vậy tôi có phần đồng ý với nhận định trên của người đọc. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi có cảm nhận trong sự sắp đặt lộ liễu ấy, Đặng Xuân Xuyến đã rất muốn giải trình cùng bạn đọc những suy nghĩ ẩn dấu bên trong mà tác giả không thể nói trắng ra được. Theo tôi, thì đó là:

Đành rằng thời đại ngày nay ở nước ta không còn vua nên gã Khờ sao còn được vua cứu giúp và ban thưởng. Đành rằng, vợ gã Khờ đã cám cảnh kiểu thương người một cách mù quáng của chồng, đã ly dị gã nên gã đâu còn được cô vợ thương yêu giúp chồng khôn ngoan hơn trong cách sống của một xã hội đang loạn chuẩn đạo đức để xóa bỏ ảo tưởng về sự lãng mạn của tình yêu và sự chân thành của tình huynh đệ, bằng hữu. Không có vua ban thưởng, không còn vợ giúp khôn nên phải có một người 12 năm trước đã chịu ơn gã nay ra tay cứu giúp gã. Như thế cũng hợp lý.

Nhưng hà cớ gì người đó không phải là một người Việt đang sống cùng gã trên giải đất hình chữ S này mà lại phải là một người Nhật gốc Việt, nói một cách khác là một người Việt đã dời xa xứ sở Thiên đường Xã hội chủ nghĩa của mình để đến sống ở “Đất nước Mặt trời mọc” tư bản đang giãy chết. Bao nhiêu luật lệ để đâu, bao nhiêu người Việt đứng về lẽ phải đi đâu mà phải để người Nhật gốc Việt đó về nước và như có phép lạ, lấy lại cho gã tiền bạc đã bị thằng bạn nối khố bất lương quỵt nợ và nhà cửa đã bị thằng em kết nghĩa chó chết chiếm đoạt. Đã thế người đó còn để lại trong thư cho gã những lời lãng mạn đẹp như hoa hồng buổi sáng:

“Vâng! Nhất định khi trở về Việt Nam em sẽ đưa vợ con đến chào anh. Lúc bấy giờ, em sẽ thoải mái được nói lời cám ơn anh, cám ơn vị ân nhân đặc biệt của mình.

Ps: Anh!

Chị vẫn còn yêu anh nhiều lắm. Hãy đến làm lành với chị để các cháu được sống trong vòng tay yêu thương của cả bố, cả mẹ.”

Và vì thế tôi coi nhân vật GÃ KHỜ trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này. Một thằng ngốc hiện đại nên mới có được sự may mắn từ những phép màu hiện đại như khả năng kỳ tài của anh chàng người Nhật gốc Việt kia. Tôi thấy mình cần phải đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ này kỹ hơn và ngẫm nghĩ sâu hơn?

*.

Sài Gòn, thứ sáu 09-09-2016

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

Email: bnguyen37@gmail.com

 

“CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ - TRUYỆN NGẮN

ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN

*

Cuối tuần trước, nhà văn Đặng Xuân Xuyến gửi cho tôi truyện ngắn "CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ”, anh viết từ năm 2015 và mới đưa lên mạng. Anh nói với tôi “viết tặng vợ chồng cậu em họ, cùng làng”, lại thêm lời đề tặng ở đầu truyện, thì đúng là chuyện thật người thật rồi. Vì thế tôi thích thú đọc ngay và nhận được từ câu chuyện đầy ắp những tiếng cười vui vẻ.

Truyện vui ngay khi nhìn thấy cái tên của nó: “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ”.

Nói như câu ca dao “Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi” thì hiển nhiên người vợ của “cô” Sướng là nữ giới rồi. Đúng vậy, đó là nàng Ngân, một gái quê “không mỏng mày hay hạt nhưng  thùy mị, nết na, không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết.”

Thế thì chồng của nàng Ngân phải là con trai, đàn ông, nam nhi  chứ sao lại là cô Sướng? Thắc mắc này cũng chính là cái thắc mắc của người kể khi mở đầu câu chuyện “Vâng! Thì hẳn là “cô” Sướng lấy vợ chứ làm sao có chuyện “cô” Sướng lấy chồng!”. 

Một kiểu vào đề thật khéo, đánh vào trí tò mò của người đọc khiến họ không thể không đọc tiếp để xem sự thể nó ra sao.

Và rồi đầu đuôi của chuyện cứ dần dần được hé mở trong những câu chữ tưng tửng của người kể không theo một trình tự thời gian nào cả.

Thì ra cô Sướng không phải là cô mà là cậu Sướng, là anh Sướng, con trai cụ Bống làng Đỗ Hạ. Một gã trai “Tuy không được cao ráo, mạnh mẽ nhưng bù lại rất khéo tay, chịu khó lam làm và đặc biệt là người rất tốt nết”. Nhưng cha mẹ sinh con trời sinh tính, anh Sướng con cụ Bống mang trong mình nhiều thói nữ tính: Thuở bé, Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn. Lớn lên, Sướng thích được gọi là cô, là chị và khoái nhất khi được mọi người mắng yêu bằng câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Rồi, không hiểu sao Sướng lại còn dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa và phát triển khiếu chửi nhau lừng danh thôn xóm.  

Nhưng đó chỉ là những dị tính phát tiết ra ngoài mà thôi, còn trong thâm tâm của Sướng thì: “Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm”. Và để thể hiện điều đó, “Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện”. (Sao không dùng chữ đái dân giã đời thường thay hai chữ tiểu tiện tao nhã này nhỉ?)

Tuy là đàn ông thật nhưng với cái thích là thế, trong mắt dân làng, Sướng không còn là đàn ông nữa mà là cô Sướng, chị Sướng và mắng yêu anh là “con đĩ Sướng”, như anh hằng thích. Đã thế Sướng lại chơi thân với Kiên mà dân làng gọi là Kiên “ái”, một gã trai hẳn hoi nhưng lại “dửng dưng chuyện yêu đương trai gái, cứ khó chịu ra mặt khi có người nhắc đến chuyện lấy vợ”, cùng Sướng nhận nhau là hai “chị em”, thích được Sướng gọi là “dì” vì Kiên ít tuổi hơn và cái chính là vì Kiên “ái” rất yêu Sướng. Chả thế mà khi nghe tin Sướng sắp cưới vợ, Kiên đã nắm tay Sướng, đăm đắm nhìn thẳng vào mắt Sướng, nũng nịu:

- Nhớ. Sướng đừng lấy vợ nữa nhớ. Sướng mà lấy vợ là em xuống tóc đi tu đấy.

Một “Cô” Sướng khắp làng điều tiếng thị phi “dở ông dở bà” như thế, sao nàng Ngân nết na thùy mị lại nhận lời lấy làm chồng? Có phải vì chơi thân với nhau từ nhỏ, cả 2 cùng thích chơi nhảy dây, chơi chắt chuyền, chơi ô ăn quan, chơi búp bê, chơi buôn hàng... nên đã trở thành lứa đôi thanh mai trúc mã đẹp như đôi trẻ trong thơ Lý Bạch:

Tóc em mới kín trán,

Trước cửa bẻ hoa đùa.

Chàng cưỡi ngựa trúc lại,

Quanh ghế tung mơ chua.

Cùng ở xóm Trường Can,

Đôi trẻ vui tha hồ,

Để rồi:

Mười bốn làm vợ chàng,

Thơ ngây em hổ thẹn

Bên vách cúi gầm đầu,

Mặc cho chàng gọi đến.

Mười lăm mới bạo dạn,

Quấn nhau không muốn rời.

(Trường Can hành - Trúc Khê dịch)

Hoàn toàn không có chuyện thơ mộng ấy vì “chưa bao giờ Ngân nghĩ Sướng là con trai cả.” 

Nhưng hiển nhiên là “cô” Sướng lấy vợ và nhà cụ Bống đang mổ lợn để làm đám ăn hỏi Ngân cho Sướng. Thế thì duyên do tại sao?

Câu chuyện vui nhất chính là ở trường đoạn này. Ta hãy lần theo lời kể hóm hỉnh của Đặng Xuân Xuyến:

Trước những lời đồn ra đồn vào về chuyện thằng con chín phần gái nửa dại phần đàn ông của mình chuẩn bị cưới vợ; trong lúc đông vui người đang ngả lợn để làm đám hỏi cho nó, cụ Bống vẻ cũng lo lắng lắm. Vừa lúc đó Sướng đi mời khách về đến nhà.

Cụ Bống kéo Sướng vào, hỏi dồn:

“- Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vận thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”

Sau khi mắng chửi té tát thằng cháu trưởng hay hớt lẻo chuyện của mình với ông nội, Sướng chưa biết trả lời bố ra sao thì cụ Bống đã ra tối hậu quyết định:

“- Thôi, không cưới xin gì nữa. Để tôi ra thưa chuyện với bên nhà, nói rõ “chị” là đàn bà để xin hủy hôn.” 

Đến đây thì Sướng cuống lên:

“- Thầy! Thầy đừng làm thế. Con yêu Ngân thật mà. Con là đàn ông thật mà! Con thề! Tiên sư bố đứa nào mà con nói điêu!”

Chưa thấy cụ Bống phản ứng ra sao thì “Vừa lúc đấy, Ngân bước vào. Như chết đuối vớ được cọc, Sướng vội kéo Ngân vào cuộc.”. Sau khi nghe con trai mình luôn mồm chị chị Ngân Ngân xin nàng nói cho bố mình biết mình là đàn ông thật, Cụ Bống nhìn Ngân, nhẹ giọng:

“- Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi.

Vấn đỏ mặt, nhìn thật nhanh xuống bụng, rồi nhỏ nhẹ:

- Dạ! Con nghe lời thầy nhưng còn cháu nội của thầy thì sao ạ?”

Thì ra chuyện thâm cung bí sử của họ là ở chỗ cái thằng cháu nội của cụ Bống đang nằm trong bụng Ngân. Và đầu đuôi chuyện là như vầy: Trong suy nghĩ của Ngân, Sướng là một người chị tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi tiểu, chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. (Lại đi tiểu!). Thì nghĩ như vậy nên Ngân mới chủ quan. Tối ấy, sinh hoạt chi đoàn về, trời lất phất mưa lại còn rét đậm, đường về nhà Sướng thì xa, sợ “chị” Sướng ngấm mưa ngấm rét sẽ khổ nên Ngân mới rủ “chị” Sướng ngủ lại. Ai ngờ, đêm ấy thành đêm định mệnh, thành đêm gạo nấu thành cơm, ván đóng thành thuyền”

Và:

“Ngân không ngờ “chị” Sướng tưởng là thằng lại cái, tưởng là thằng vứt đi, chỉ giỏi mấy trò nhảy dây, chơi chắt chuyền, chơi búp bê, chơi buôn hàng... và giỏi hăng máu chửi lộn với đám đàn bà con gái,... ấy thế mà khi làm cái chuyện của thằng đàn ông thì lại thật đâu ra đấy, ra tấm ra đẫn, ra ngô ra khoai, ăn đứt khối thằng vẫn khoác loác tự nhận là giỏi về chuyện thầm kín của đấng mày râu! …”

Nghĩ thế, Ngân bằng lòng đón nhận tình yêu của Sướng, nhận lời lấy Sướng.

Khỏi phải nói cụ Bống vui sướng ra sao khi biết thằng con của mình tiếng thế mà đàn ông đích thực và cũng khỏi nói đám “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ sẽ tưng bừng vui vẻ ra sao ở cái làng Đỗ Hạ.

Khi gửi cho tôi thiên truyện này, nhà văn Đặng Xuân Xuyến bảo để tôi đọc giải trí. Truyện của anh đã đem lại cho tôi đầy ắp tiếng cười vui nhưng không phải là tiếng cười mua vui giải trí như những truyện khôi hài phê phán cái ngược đời, cái trái lẽ tự nhiên, lầm lẫn, hớ hênh của người đời mà là những tiếng cười tán thưởng, biểu thị niềm vui, sự yêu mến với con người như “cô” Sướng, nàng Ngân và cụ Bống, trong đó phần lớn nhất dành cho Cô Sướng!

Một số người trong làng Đỗ Hạ, điển hình nhất là cụ Vận bố Kiên “ái” đã không ngớt lời miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng. Nào là con dở ông dở thằng, nào là đồng cô, pha gái, lại cái… Ấy là những tiếng dân giã của những năm xưa trước. Giờ đây, người ta nhập ngoại về một lô các tên gọi khác như: gay, pê-đê, bóng, chuyển giới, ái nam ái nữ. Không cần hiểu biết nguồn gốc của các từ ấy, không cần biết nó là tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Hán, trong tư tưởng của đa số người dân Việt Nam, những từ kể trên đều bị hiểu theo một nghĩa là đồng tính luyến ái. Mà đã là đồng tính luyến ái thì bị đánh đồng với sự sa đọa, bệnh tật, tệ nạn xấu xa, đều đáng khinh bỉ, đáng bị lên án, nhẹ nhất thì cũng bị phớt lờ, không thèm quan tâm. Hiểu sai dẫn đến ứng xử sai, khiến một số người như “cô” Sướng trở nên mặc cảm, sống co cụm lại.

Nhưng “cô” Sướng trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến đã không phải chịu những tai hại của những ứng xử sai như thế vì “cô” có được mấy cái may mắn:

Một, số người dân làng Đỗ Hạ đã miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng, tiêu biểu như cụ Vận không nhiều. Mà cụ Vận có quá lời chửi Sướng thì ta cũng dễ bề thông cảm vì cụ mang nỗi khổ ấm ức con trai mình là “Kiên ái” thực sự là đứa đồng tính luyến ái. Đa phần người dân làng Đỗ Hạ đều nhìn Sướng bằng con mắt thiện cảm, họ mở lòng chiều cái tính hây hấy của anh, gọi anh là cô, là chị và sẵn sàng mắng yêu anh: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Và họ đều thừa nhận: “Nếu không dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa thì hẳn “cô” là người hiền thục nhất nhì làng xã”. Và vì vậy, khi nghe tin “cô” Sướng cưới vợ, dân làng đã mừng cho “cô”: “tính khí của “cô” nửa gà nửa vịt như thế mà có người đồng ý lấy “cô” làm chồng là may lắm rồi, phúc đức lắm rồi”. Dân làng đông vui đến ngả lợn giúp nhà "cô" và chuyện trò rôm rả cũng vì cái sự mừng chân tình ấy!

Hai, Sướng không phải là ái nam ái nữ hay người đồng tính luyến ái, mà chỉ là một người dị tính bị thu hút hấp dẫn đặc biệt, “khác thường” bởi những người khác giới nên thích được gọi là cô là chị, thích chơi các trò chơi của con gái, thích thể hiện sự đanh đá chua ngoa của những người đàn bà lắm mồm. Trong anh vẫn nguyên vẹn khí chất đàn ông, khi có dịp nó sẽ bừng dậy đưa anh trở về cuộc sống thật với con người thật của mình.

Nhưng hai cái may kể trên chưa cái nào là điều may nhất cho Sướng mà cái may nhất cho anh là anh có được Ngân, người bạn thân từ tuổi thơ ấu đến cả lúc đã trưởng thành, mặc điều tiếng thị phi của người làng, Ngân không bao giờ tìm cách xa lánh Sướng. Đã vậy, Ngân còn rất ngây thơ trong suy nghĩ coi “Sướng là một người chị tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi tiểu, chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. Và nhờ cái ngây thơ thành thật ấy, Ngân và Sướng đã có một đêm mà tác giả gọi là cái đêm định mệnh.

Ô hay, sao nhà văn Đặng Xuân Xuyến lại coi đó là cái đêm định mệnh nhỉ? Bởi lẽ, định mệnh là số mệnh của con người, do một lực lượng huyền bí định sẵn, không thể cưỡng lại được khiến nhiều người phải thụ động cam chịu dù nó rủi ro đến đâu. Cái đêm Ngân - Sướng ấy đâu có phải là cái đêm cả hai hoặc một người trong họ phải cam chịu mà phải nói, nó là cái đêm kỳ thú nhất trong đời của họ tựa như cái đêm trong thơ Cung oán:

Cái đêm hôm ấy đêm gì

Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng

Tuy Sướng không phải là bóng dương và Ngân cũng không phải là một đóa đồ mi nhưng cái đêm hôm ấy, Sướng đã làm cho lửa dục vọng trong Ngân sáng lên rồi được đốt cháy mãnh liệt khiến Ngân sung sướng thỏa thuê và hiểu chân tơ kẽ tóc cái nam tính trong con người Sướng. Thử hỏi, nếu trong cái đêm ấy, Sướng không làm được, “quá được” cái chuyện ấy, cho dù Ngân đã dành cho Sướng biết bao tình cảm cảm tốt đẹp từ thời chăn trâu cắt cỏ đến nay, sẽ chẳng bao giờ Ngân chịu lấy Sướng làm chồng. Bởi lẽ, người phụ nữ lấy chồng trước hết là để có được “lời lãi đứa con”: Lấy chồng mà chẳng có con / Khác gì hoa nở trên non một mình

Và còn bởi, tình dục là một vấn đề rất đời thường và luôn luôn hiện diện trong cuộc sống của con người nhưng đã mấy ai trung thực không màu mè nói ra chuyện ấy. Mấy ai được như Ngân, thẳng thắn thừa nhận với cụ Bống rằng, Sướng con trai cụ đã làm chuyện ấy với mình, rồi nhìn xuống cái bụng đang mang hình hài đứa cháu nội của cụ.

Vì vậy, “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ không chỉ đầy ắp tiếng cười vui mà còn rất đẹp tính nhân văn. Tác phẩm vừa miêu tả thực cuộc sống thực của con người vừa vun vào cho khát vọng hạnh phúc của họ, tán thưởng và biểu thị niềm vui, sự yêu mến với họ. Tác phẩm cũng không quên phê phán những cái xấu có thể phá vỡ hạnh phúc tự do vốn có của con người. Đó không chỉ là cái xấu của một số người như cụ Vận luôn tỏ ra khinh bỉ, miệt thị cay nghiệt một người như “cô” Sướng mà ngay cả Sướng cũng phải lãnh một phần sự phê bình nhẹ nhàng vì đã để cho cái dị tính trong anh phát triển quá đà, nếu không được Ngân đưa vào cái đêm định mệnh ấy đưa Sướng về với đời thực của mình thì không biết số phận đời anh sẽ ra sao?

Khi gửi cho tôi truyện ngắn “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ, nhà văn Đặng Xuân Xuyến nói với tôi về tác phẩm của anh: “Cháu viết cũng vội nên chất lượng không được như  ý”.

Nhưng, ngoại trừ hai tiếng tiểu tiện tao nhã quá, tôi thấy đây là một truyện ngắn hay, rất đáng đọc.

 *

Sài Gòn, ngày 12/12/2016

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

Email: bnguyen37@gmail.com

 

VÀI LỜI VỚI ÔNG

NHÀ THƠ PHẠM KHANG

*

Tôi nhớ, chiều 23 tháng 08 năm 2016, lang thang lướt face tôi vô tình “nhặt” được đoạn đối thoại của ông “nhà thơ” Phạm Khang với bạn facebook Nguyễn Quý Mậu. Không hiểu vì lý do gì, khi đọc bài thơ NGẪM của nhà thơ Nguyễn Dương Cường, ông Phạm Khang lại buông những lời cay cú: - Bài thơ thì quá dở...cụ non và học đòi khẩu khí các cụ...chỉ cò cái ảnh thì không có nội dung như thế...chẳng cần đọc người ta cũng thấy nó có thơ rồi đấy..

Có lẽ thấy lạ nên Nguyễn Quý Mậu tò mòBác Khang Phạm ơi thế còn bài thơ LỠ của chú Đặng Xuân Xuyến thì sao ạ.

Xin chép ra đây bài thơ LỠ để bạn đọc tham khảo:

LỠ

 

Tôi đắm hồn tôi nơi bến vắng

Lướt khướt trăng vàng rớt đáy sông

Thầm thĩ với người từng vun mộng

Trăng kia bến cũ có thay dòng?

Mỗi độ chiều tàn, đêm rủ xuống

Môi kề môi ấy có lạ không?

 

Và đã khi nào mỏi mòn trông

Héo hắt than hoa lạc cuối dòng?

Có còn đứng đợi chờ trăng xuống

Mơ dạo cùng ai cõi phiêu bồng...?

 

Tôi biết, nhưng thôi, chỉ rầu lòng

Ái tình cố níu cũng bằng không

Lòng người còn thẳm hơn sông rộng

Chỉ lỡ nhịp chèo đã qua sông.

*

Hà Nội, chiều mưa 19.08.2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Khang Phạm: - Cũng không hơn gì. Mượn của người khác cả. Cũ lắm xưa lắm. Nghe thấy mép của cụ Nguyễn Bính cụ Hàn cười thầm. Lại nghe cái mê loạn của cái tình trăng gió ướt át của liêu trai...thành ra giả tạo và không thật khiến cho bậc kiêng chữ kiêng khem khó nuốt trôi được. Thơ đọc được phải có chữ thật của mình gan ruột mình tuyệt nhiên không uốn éo vay mượn của người khác. Kiếp nạn của thơ khó bắt mạch và giáo hóa lắm đấy....

Khi Nguyễn Quý Mậu hỏi về lời bình của nhà thơ Chử Văn Long với bài thơ BẠN QUAN của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thì ông Phạm Khang trả lời: - Nịnh cả thôi. Chử Văn Long là chúa nịnh Quý ạ. Đừng cả tin. Bài thơ trên toàn ý của người xưa. Thời thơ mới. Cũ lắm. Nhạt lắm. Cảnh ấy đâu sống động ở thời @ Quý ơi.

Xin chép ra đây bài thơ BẠN QUAN để bạn đọc tham khảo:

BẠN QUAN

 

Bạn cũ lâu ngày gặp lại

Chén rượu quê đưa đẩy tẩy trần

Tao ruột ngựa hỏi câu ngớ ngẩn

Mày làm quan chắc kiếm bộn tiền

Chức ấy rẻ mà sinh lắm lãi

Mày học ngu nhưng thủ đoạn tài

Tao học giỏi nhưng mù thủ đoạn

Mãi long đong chức phó dân quèn

Mày nhăn mặt chửi tao thằng đểu

Quá nửa đời mãi chửa hết ngu...

 

Rượu tới tầm

Mày ghé tai tao

Nói thật nhỏ

Căng tai mới rõ

Làm người khó

Làm quan càng khó

Chốn quan trường chó vịt giống nhau

Mày than đời chỉ rặt những thau

Quan càng lớn chữ nhân càng nhỏ

Ví miệng quan giống trôn trẻ nhỏ

La liếm quen rồi nào biết bẩn dơ.

 

Tao gật gù giả bộ ngớ ngơ

Khen các quan vì dân vì nước

Nghe nửa câu mắt mày trợn ngược

Chửi tao khùng hệt “lũ dân ngu”

Mày chửi thề đặc giọng quân khu

Đời đã chó

Quan trường càng chó

Rồi nhăn nhó

Than đời mày nhọ

Mấy tháng trời bổng lộc hụt xơi...

 

Rượu mày mời

Tao uống khó trôi

Thịt mày gắp

Tao nhai khó nuốt

Trời nhiều gió

Hay lòng tao nổi gió

Rượu đầy vò

Tao ngất ngưởng vờ say.

*.

Hà Nội, trưa 18 tháng 03.2016

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Tiếp tục buông lời sỉ nhục ông Đặng Xuân Xuyến (tôi không tiện trích dẫn vì sợ những câu đó sẽ làm bẩn tai bạn đọc), ông Phạm Khang buông lời thóa mạ một loạt cây viết khác, rồi “xăng xái”: ... Tối thiểu ở cái thời gà lợn lên ngôi thì anh ta phải là Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam Quý ơi... trong khi, chính ông Phạm Khang chỉ là Hội viên Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Thanh Hóa.

Tôi coppy lại đoạn đối thoại trên, gửi qua email cho ông Đặng Xuân Xuyến, ông điện cho tôi, cười lớn: - Mai ơi anh làm thơ cho vui thôi. Khen đúng, chê đúng, chê sai, đều quý, đều đáng trân trọng. Chỉ có khen sai mới đáng sợ, Mai à!

Đọc những lời hằn học, sỉ nhục rất vô lối của ông Phạm Khang mà ông Đặng Xuân Xuyến vẫn tiếp nhận bằng thái độ bình thản, đủ thấy sự đàng hoàng, hơn hẳn về nhân cách giữa ông Đặng Xuân Xuyến với ông Phạm Khang, người luôn tự gạt mình, dọa người, “ngộ nhận” là nhà thơ tài năng, đức độ.

Tôi cũng gửi đoạn đối thoại giữa ông Phạm Khang và bạn Nguyễn Quý Mậu tới một học giả khả kính, được ông trả lời:

Về bài thơ “Lỡ” của Đặng Xuân Xuyến, khi cháu viết: “Cháu thấy bài thơ hay” thì chính là cháu đã bình bài thơ đó bằng một lời gọn gàng súc tích rồi. Bác thêm một ý: Hay và buồn, một nỗi buồn đẹp.

Trong mấy chục năm Trời cho sống, bác đã đọc khá nhiều bài thơ và nghe nhiều bản nhạc có cái Lỡ buồn đẹp như thế. Hai câu thơ của Đặng Xuân Xuyến:

Lòng người còn thẳm hơn sông rộng

Chỉ lỡ nhịp chèo đã qua sông.

Có thể đặt ngang hàng với những câu thơ, lời hát rất hay mà bác đã nhớ được:

Hồn tìm theo bóng khách lỡ đi 

Thôi thời - gian xóa bao ngày vui

 

Một vầng trăng vỡ đã thôi không theo nhau 

Cuộc tình đã lỡ với bao nhiêu thương đau

 

Tình ngỡ chết trong nhau

Nhưng tình vẫn rộn ràng

Người ngỡ đã quên lâu

Nhưng người vẫn bâng khuâng.

Chúc Hương Mai vui khỏe, yêu thơ và đọc được nhiều thơ hay trong bối cảnh thơ đang bị lạm phát ở ta hiện nay.”

Vào google tìm những bài viết về Phạm Khang, may mắn tôi tìm được bài: NHÀ THƠ PHẠM KHANG: CHẤT NÔNG DÂN TRONG COMPLÊ CÀ VẠT của Lê Tự, bạn rất thân của Phạm Khang, trong đó có đoạn tác giả viết có thể hiểu đó là tác giả viết về chân tướng Phạm Khang:

Hình như đã có một cái vong của một nhà thơ từ kiếp trước không thành danh nhập vào Phạm Khang khiến anh ăn không ngon, ngủ không yên vì thơ, một ngày mà không có ai để chia sẻ thơ thì máu đọng tím bầm trong cổ họng. Nhiều khi đọc thơ cho kẻ ngoại đạo nghe thì bị nó gọi là ông hâm. Thế mới khổ!

Chính cái vong thơ ấy đã thôi thúc Phạm Khang nghĩ ra “trăm mưu nghìn kế” cách tân thơ của chính mình, những câu thơ thoát xác, lìa hồn bây vút lên không trung rồi rơi tõm xuống, đọng lại thành một chất hữu cơ cho một nhành hoa đỏ thắm nở bung ra. Một quy trình của tạo hóa khiến dù Phạm Khang có biến thành Tôn Ngộ Không thì vẫn cứ không thoát khỏi cội nguồn, gốc gác, đó là hiệp sĩ “nhà quê” cầm long đao bằng cành trúc đi dép mo, lướt trên bờ ruộng giao chiến với con nghé con còn mùi sữa mẹ. Con nghé đứng nghếch mõm lên trời cao, ỉa một bãi cứt non đầu đời bốc khói. Không còn bất cứ sức mạnh nào hơn cứt được nữa, con nghé đã thắng, và trở thành bạn của nhà thơ vì nó cảm nhận được nhà thơ là đồng loại

Vâng. Đến đây thì tôi đã hiểu ông nhà thơ PHẠM KHANG tâm, tầm thế nào?!

*.

Hà Nội, 13 tháng 02-2017

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

quận Long Biên, thành phố Hà Nội.    

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

 

GỬI 2 ANH PHẠM KHANG

VÀ NGUYỄN QUÝ MẬU

*

Tình cờ tôi đọc bài viết của tác giả Vũ Thị Hương Mai trên trang blog Thạch Đà về cuộc “chuyện trò” của anh Phạm Khang với anh Nguyễn Quý Mậu về bình bán thơ trên mạng đã kéo cả tên tôi vào mục đích chê bài thơ Bạn Quan của Đặng Xuân Xuyến là “Bài thơ toàn ý của người xưa. Thời thơ mới. Cũ lắm. Nhạt lắm. Cảnh ấy đâu sống động ở thời @ Quý ơi.”. Chê khen bài thơ đã đưa lên mạng tùy quyền từng người nhưng giá anh Phạm Khang phân tích, dẫn luận cho người khác thấy được đâu là ý của người xưa, đâu là cũ, là nhạt... còn đưa ra những nhận định chẳng ai rõ ý như thế là ác tâm, nói lấy được. Tôi định bỏ qua, bởi gần sấp sỉ năm mươi năm cầm bút làm thơ, tôi đã chứng kiến bao nhiêu người từng đã hùng biện, đánh giá nhận xét, cho mình được nhân danh để kết tội văn này bồi bút, văn kia phản động, cuối cùng hay dở, đúng sai không thuộc về ai lớn tiếng, to lời. Bài thơ thì của Đặng Xuân Xuyến, cách cảm nhận thì của mỗi người đọc, dù tôi có cái thẻ nhà văn mấy chục năm có lẻ nó vẫn không thể đảm bảo cho thơ tôi tồn tại, nếu thơ tôi không sống được cùng bạn đọc hôm nay hoặc mai sau, huống hồ tôi khen hoặc chê thơ Đặng Xuân Xuyến hoặc thơ người khác. “Yêu nhau cau sáu bổ ba / Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”, vì thơ không phải là cau, nên thơ hay hay dở nó mãi chỉ nguyên có giá trị là vậy, làm gì anh Phạm Khang, hôm nay tôi mới biết tên, đã biết gì về tôi mà dám hạ những lời như đinh đóng cột: “Chử Văn Long là chúa nịnh Quý ạ! Đừng cả tin.” Một nhà thơ gần 50 năm cầm bút tôi chưa được nghe ai nói lời này. Vậy Phạm Khang lấy gì để tự tin mình có quyền làm vậy? Vì lẽ này, tôi gọi điện cho Đặng Xuân Xuyến để tìm hiểu về 2 anh, thì ra Phạm Khang còn trẻ, làm việc ở Nhà xuất bản Thanh Hóa, nơi mà trước kia Đặng Xuân Xuyến hay vào làm việc với sếp của Phạm Khang. Chuyện không ưa nhau trong công việc là lẽ thường, hà cớ gì lại lên mạng, cố tình nói những lời ác tâm để hạ nhục nhau như thế. Thuở ấy tôi in thơ cũng nhờ Đặng Xuân Xuyến bán và anh bao giờ cũng lấy phần trăm cao hơn hẳn nơi khác. Anh nói phải chi phí cho hoạt động kinh doanh như: thuế, lương nhân viên, cắt phần trăm cho khách,... nên “chuyện nào ra chuyện nấy, quý chú nhưng cháu không thể bù lỗ việc bán sách giúp chú được.”. Và anh bao giờ cũng bán được nhiều gấp mấy lần nơi khác nên tuy có hơi buồn nhưng vẫn thích nhờ Xuyến bán. Giờ chơi thơ cùng nhau, mỗi lần nhớ chuyện cũ chỉ thấy vui vui: Rằng cái anh chàng sống bằng lợi nhuận ngang ngửa được với phát hành sách quốc doanh, bây giờ lại phải tập dần coi thường cái túi tiền vẫn reo vui xủng xoảng để mua lấy những cơn buồn không biết do đâu và cũng không thể dùng tiền mua được.

Tôi bình bài thơ Bạn Quan vì vô tình đọc bài thơ Bạn Quan của Đặng Xuân Xuyến trên báo mạng, điện cho Xuyến, thật lòng khen bài thơ hay. Xuyến cười bảo tôi: Chú thấy hay thì chú viết tặng Bạn Quan vài dòng đi. Quen biết Xuyến đã hơn 19 năm, trà dư tửu hậu cùng nhau cũng nhiều, biết Xuyến không thích người khác khen xã giao, khen không đúng nên khi bình thơ Xuyến tôi đã kiệm lời. Vì thế mà nhà thơ Nguyễn Đăng Hành mới phàn nàn tôi mượn chuyện bình thơ để nói chuyện xã hội mà không bình hết cái hay của bài thơ Bạn Quan. Vậy anh Phạm Khang hãy chỉ rõ bài thơ Bạn Quan đã mượn ý người xưa và cũ, nhạt thế nào? Tôi nịnh Đặng Xuân Xuyến ở điểm nào để bạn đọc cùng nghe.

Nếu đoạn trích trong bài của chị Vũ Thị Hương Mai:

Hình như đã có một cái vong của một nhà thơ từ kiếp trước không thành danh nhập vào Phạm Khang khiến anh ăn không ngon, ngủ không yên vì thơ, một ngày mà không có ai để chia sẻ thơ thì máu đọng tím bầm trong cổ họng. Nhiều khi đọc thơ cho kẻ ngoại đạo nghe thì bị nó gọi là ông hâm. Thế mới khổ!

Chính cái vong thơ ấy đã thôi thúc Phạm Khang nghĩ ra “trăm mưu nghìn kế” cách tân thơ của chính mình, những câu thơ thoát xác, lìa hồn bây vút lên không trung rồi rơi tõm xuống, đọng lại thành một chất hữu cơ cho một nhành hoa đỏ thắm nở bung ra. Một quy trình của tạo hóa khiến dù Phạm Khang có biến thành Tôn Ngộ Không thì vẫn cứ không thoát khỏi cội nguồn, gốc gác, đó là hiệp sĩ “nhà quê” cầm long đao bằng cành trúc đi dép mo, lướt trên bờ ruộng giao chiến với con nghé con còn mùi sữa mẹ. Con nghé đứng nghếch mõm lên trời cao, ỉa một bãi cứt non đầu đời bốc khói. Không còn bất cứ sức mạnh nào hơn cứt được nữa, con nghé đã thắng, và trở thành bạn của nhà thơ vì nó cảm nhận được nhà thơ là đồng loại”.

 cho là những nét điển hình mà Lê Tự phác họa chân dung của Phạm Khang thì tôi xin được nhìn từ xa “Kính nhi viễn chi”. Bởi Trời sinh mỗi người một tính, thuở tôi đến với thơ đời trong trẻo lắm. Nên giờ có thể phải sống giữa khói bụi, sự ô nhiễm trùm phủ đó đây, tôi vẫn không thôi những mơ ước trong lành… Làm thơ, đàm đạo thơ là đi tìm nét tri âm đồng điệu, khác với cuộc sống ngoài kia là thắng thua, giành giật... Tài năng đến đâu cũng không dễ định đoạt dở hay giữa lúc ngôi đền thiêng thi ca không còn nữa thánh thần, huống chi là người mà gần 50 năm làm thơ, hôm nay đọc bài của chị Vũ Thị Hương Mai tôi mới biết anh Phạm Khang cũng làm thơ. Liệu nhà thơ trên mạng Phạm Khang có cảm giác này, ta chưa gặp nhau bao giờ, chả có gì liên quan là vậy, đã nói về nhau bằng những lời nói để người được nghe không vui thì làm thơ để làm gì giữa cuộc sống “thơ rẻ hơn bèo” ở chính qua cách sinh hoạt bình bán của chúng ta đã góp phần hạ giá thơ mà nhiều khi chính ta không để ý. Nói điều này, từ quan niệm một đời làm thơ của mình, tôi không dám nghĩ đem kinh nghiệm mình làm mẫu mực. Và tôi chỉ tâm niệm hãy làm những câu thơ theo nỗi thao thức của lòng, đến tay ai người định liệu chê khen đều được. Đến cả cái tên cha mẹ đặt cho là Chử Văn Long, dòng họ của Chử Đồng Tử nghèo nhất nước Việt Nam tôi vẫn để nguyên dưới mỗi bài thơ gửi đi, như sự tri ân công đức sinh thành của cha mẹ.

Để kết thúc chút tâm sự, giấy ngắn tình dài. Tôi xin gửi tới 2 anh Phạm Khang và Nguyễn Quý Mậu bài thơ NGHĨ VỀ ĐẤT NƯỚC BUỒN VUI tôi viết gần đây như một tâm sự bằng thơ cùng nhau không mong gì khen chê ở 2 anh. Giữa ngàn vạn người làm thơ hiện nay, bài thơ của tôi chỉ như hạt muối thả bể, không mong mặn hơn nhưng không bao giờ làm cuộc sống nhạt đi.

*.

Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 2017

Nhà thơ CHỬ VĂN LONG

Địa chỉ: Thôn 2, Vạn Phúc, Thanh Trì, Hà Nội.       

Điện thoại: 0165.881.82.63

Email: haicv08@gmail.com

 

CHÀNG TRAI ẤY BÂY GIỜ RA SAO?

*

Chàng trai ấy là người mà tôi đã viết trong bài Khối tình lận đận của chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến. Giờ thiều quang chín chục của mùa Xuân năm 2017 cũng đã ngoài sáu mươi, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến cũng đã ngoài năm mươi, vẫn miệt mài biên tập trang Đặng Xuân Xuyến, vẫn say mê làm thơ, vẫn nghiên cứu Tử vi lý số và vẫn vui chơi Facebook, nhưng chàng trai trong thơ của họ Đặng, một chàng trai đã nửa đời “ngậm trái bồ hòn” của một nghĩa vợ tình chồng tan vỡ thì tôi thực không biết bây giờ ra sao?

May thay, tôi vừa băn khoăn tự hỏi thế thì nhận được ngay câu trả lời. Ấy là chùm thơ tình mới nhất của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến liên tiếp đăng trên mạng  trong tiết xuân này, và qua đó, tôi thấy được tâm tư tình cảm của người mà tôi đã sẻ chia khối tình lận đận trong bài đã viết.

Nếu những năm trước, chàng trai ấy mỗi khi tự đối diện với mình, chàng đã nhận ra sự ngu ngơ của mình về một duyên tình chồng vợ đã đổ vỡ:

Người đi vá víu nụ cười

Tôi hong tơ ướt cũng mười năm nay

Khật khừ say tỉnh tỉnh say

Cứ ngu ngơ đợi heo may trái mùa

Thì bây giờ, xem ra cái ngu ngơ ấy vẫn còn chưa dứt:

Chiều tàn bước thấp bước cao

Đêm mơ hái được chòm sao lưng trời.

             

Niềm vui

đến chỉ nửa vời

Ngẩn ngơ chi sợi tơ trời,

bỏ đi.

(Hoang Mơ)

Nếu như Ngày lễ Tình yêu năm ngoái, chàng trai ấy đã nếm trải vị đắng cay của cảnh chăn đơn gối lẻ trong đêm khuya:

Đêm rũ xuống. Ngằn ngặt niềm yêu đắng

Chăn gối đơn rệu rạo đêm trường

Ta rụt rè ngóng gió muôn phương

Mà ứa lệ. Mà bẽ bàng cay đắng...

Thì Valenti năm nay, niềm đắng cay ấy vẫn còn nguyên vị:

Lại valentine

Lẻ người

Lẻ chăn

Lẻ gối.

Tuy vẫn còn ngu ngơ, vẫn còn hoang mơ, vẫn còn thấy trong lòng nặng trái đắng cay đơn lẻ nhưng xem ra chàng trai ấy cũng đã có nhiều đổi khác trong tâm tư tình cảm.

Nếu mấy năm trước, được nhiều cô gái khác yêu thương nhưng chàng trai ấy đã không dám hôn nhân lần nữa vì cảm thấy mình đã chớm già, sợ cưới nhau rồi trước là pháo hoa sau cũng ra tăm tối như cuộc hôn nhân đầu đã đổ vỡ, sợ đến nỗi có lúc “chàng trai” đã cảm thấy chán cái vị yêu đương mới:

Ta bỗng chán vị yêu nhạt thếch

Xộc xệch tình

Lếch thếch tiếng yêu.

Thì năm nay, cái sự chán vị yêu nhạt thếch ấy dường như đã tan biến khiến trái tim chàng đã biết  say mê rung động trước một vẻ đẹp thiếu nữ:

Ô kìa người ngọc giữa sớm mai

Áo xiêm trễ nải chả chịu cài

Ngực nõn phập phồng ru hồn gió

Bồng đảo in hồng trong mắt ai.

(Thiếu nữ)

Bài thơ tứ tuyệt với bức tranh một thiếu nữ đẹp giữa cảnh sớm mai của mùa Xuân đã khiến nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm phải tốn công gõ phím với cả ngàn chữ bình luận rất xác đáng: “Bài thơ cho tâm hồn thư giãn, quên hết những bất trắc âu lo trong cõi tục trần, bài thơ như bức tranh không phải để ngắm bằng mắt mà ngắm bằng hồn. Ru hồn trong từng câu chữ và từng câu chữ hiện lên bóng hình của người đẹp - người ngọc”.

Người ngọc - Thiếu nữ đã là nguồn cảm hứng bất tận muôn đời của các thi sĩ văn nhân, vì vậy thơ Đông thơ Tây đã có cả ngàn bài tuyệt tác ca ngợi vẻ xinh đẹp của thiếu nữ. Nhưng ở Á Đông, do những hủ tục bất nhân, những tập quán ti tiện, xem thường vai trò của người phụ nữ trong xã hội cũ, thơ ca có phần dè dặt khi tôn vinh vẻ đẹp đó. Ba nhà thơ Đường trứ danh của Trung Quốc như Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Xương Linh, trước vẻ đẹp của các cô gái hái sen đã không ai bảo ai mà cùng phóng bút viết nên mấy khúc ca diễm tình cùng chung một tên là Thái liên khúc (Khúc hát hái sen).

Đây là cô gái trong Khúc hát hái sen của Bạch cư Dị: Một thiếu nữ xinh tươi duyên dáng  chèo chiếc thuyền nhỏ giữa một đầm sen để hái hoa và vô tình thấy chàng trai đang đắm đuối nhìn mình, người thiếu nữ thẹn thùng, muốn nói chẳng nên lời, để đến nỗi đánh rơi chiếc trâm cài đầu xuống đáy ao lúc nào chẳng hay:

Sóng đưa lá, gió rung hoa 

Đầm sen thuyền nhỏ lướt qua thấy chàng 

Cúi đầu thẹn, chẳng nói năng 

Ao sâu rơi xuống chiếc trâm cài đầu 

Thái Liên Khúc (Bạch Cư Dị-Hải Đà dịch)

Đây là cô gái trong Khúc hát hái sen của Lý Bạch: Một khuôn mặt đẹp như hoa, hồn nhiên, nhí nhảnh, ngây thơ bên ngòi Nhược Da, dưới bầu trời cao rộng, trời xanh nước biếc, nắng hồng, hoa trắng giao hòa tạo ra một vẻ đẹp thanh tao huyền ảo: Có cô con gái nhà ai, 

Hái sen, chơi ở bên ngòi Nhược Da. 

Mặt hoa cười cách đoá hoa, 

Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh. 

Áo quần mặc mới sáng tinh, 

Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng. 

Thơm thơ vạt áo gió tung, 

Bay lên phấp phới trong không ngạt ngào.

              Thái liên khúc (Lý Bạch-Tản Đà dịch)

Và đây là cô gái trong Khúc hát hái sen của Vương Xương Linh: Màu quần lụa của cô gái lẫn một màu giữa rừng lá sen xanh thắm chập chùng, mặt nàng tươi như hoa thắm khó mà thấy, bỗng đâu một tiếng hát khe khẽ ngân vang mới biết có bóng người:

Lá sen quần lụa một màu, 

Mặt tươi hoa thắm như nhau mặn nồng. 

Dưới ao trà trộn khôn trông, 

Nghe ca mới biết là trong có người.

Thái liên khúc (Vương Xương Linh

Trần Trọng Kim dịch)

Ba bức tranh thiếu nữ hái sen với những nét vẽ khác nhau đều tuyệt đẹp. Nhưng vẻ đẹp thiếu nữ đó chỉ thuần khiết là một vẻ đẹp thanh xuân trong trắng tựa hoa sen.

Ở ta, mới cách nay vài chục năm, người đọc cũng chỉ thấy trong thơ hình ảnh những thiếu nữ đẹp ngây thơ trong sáng như người thiếu nữ bên hồ Xuân trong thơ mới của Thế Lữ:

Trên vừng trán ngây thơ, trong sáng,

Vẩn vơ qua một áng hương buồn.

Giây lâu cô vẫn như còn

Lâng lâng trông gửi tâm hồn lên cao.

Mà không thể thấy được một bức tranh thiếu nữ nào với vẻ đẹp phồn thực của những áo xiêm trễ nải, ngực nõn, bồng đảo đầy quyến rũ như thiếu nữ trong bài thơ của Đặng Xuân Xuyến.

Một bài thơ Đường được coi là sexy nhất trong lịch sử văn học Trung Hoa là bài Thanh Bình điệu do Đường Minh Hoàng đã lệnh cho Lý Bạch làm để ca ngợi Dương quý phi. Dương qúy phi vốn là một dâm phụ, từng là vợ con trai Đường Minh Hoàng, bị vua cha cướp lấy. Dương Qúy Phi với sắc đẹp dục tính đã khiến con nuôi Đường Minh Hoàng là An Lộc Sơn muốn cướp người đàn bà dục tình này nên đã làm loạn, gây chết một phần ba dân số Trung Hoa thời đó. Nhưng dưới ngọn bút tài hoa của Lý Bạch, vẻ đẹp viên mãn và gợi dục của Dương Quý Phi sau một đêm làm tình với nhà vua cũng chỉ như một đóa nhánh hồng tươi ướt đẫm sương:

Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương,

Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương

Và hình ảnh sexy của Dương quý phi cũng chỉ được diễn tả trong hai câu thơ trác tuyệt này: 

Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây,

Hiên sương phơ phất gió xuân bay

 Không phải là vẻ đẹp kiêu sa ngồn ngộn của xác thịt như bộ ngực hay đôi vú mà chỉ là một vẻ đẹp mờ ảo như mây như sương như gió.

Vậy mà, câu “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” được xếp vào hàng câu thơ gợi dục nhất của cả ngàn năm nay. Câu thơ này, mới hơn một năm trước đây đã khiến một vị anh hùng lao động của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bị ném đá tơi bời khi người anh hùng đã trăm tuổi này, Giáo sư Vũ Khiêu (tên thật là Đặng Vũ Khiêu) lấy nguyên vẹn câu thơ tả dâm phụ đó làm câu đối: "Trí như bạch tuyết tâm như ngọc - Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” để tặng cho hoa hậu Kỳ Duyên, một cô gái chưa chồng chỉ nhỉnh hơn chắt nội gái của cụ Quốc sư có vài tuổi.  

Giờ đem đặt câu thơ “Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây” được coi là câu thơ sexy hết mực ấy bên cạnh những câu tả vẻ đẹp phồn thực của thiếu nữ trong thơ Đặng Xuân Xuyến ta thấy vẻ đẹp kiêu sa của Dương Quý Phi chỉ là một vẻ đẹp của một người mây mờ áo còn vẻ đẹp của thiếu nữ lại là một vẻ đẹp rất phồn thực và rất cụ thể với áo xiêm trễ nải, bộ ngực nõn và đôi gò bồng đảo in hồng vào mắt người chiêm ngưỡng.

Tôi đồ rằng khi chụp bức tranh thiếu nữ này, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã không quên nghĩ đến bức tranh “thiếu nữ ngủ ngày” trong thơ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương:

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm

Một lạch đào nguyên suối chửa thông

Rõ ràng, thiếu nữ trong thơ Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương đã sexy hơn, gợi dục hơn thiếu nữ trong thơ Đặng Xuân Xuyến ở câu: 

“Một lạch đào nguyên suối chửa thông”

Nhưng thiếu nữ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương là thiếu nữ ngủ ngày và bị chụp bởi đôi mắt đầy dục vọng của “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt” còn thiếu nữ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến là thiếu nữ đứng trong gió xuân giữa sớm mai được chiêm ngưỡng bằng cái “Ru hồn gió” vì say mê của tác giả. Nhà thơ hiện đại học tập và kế thừa nhà thơ lớn của dân tộc như vậy là vừa đủ và thật đáng khích lệ.

Nếu như mấy năm trước, quen một nàng nào đó, chàng trai mới chỉ dám nghĩ đến là phải mạnh bạo bước qua điều tiếng thị phi của người đời:

 Sợ gì danh phận hư hao

Sợ gì thiên hạ trông vào nhỏ to

Sợ gì nhỉ? Chẳng phải lo!

Trai đơn gái lẻ … nhỏ to bằng thừa

(Nhỏ to bằng thừa)

Thì  bây giờ, chàng đã biết nói thẳng như ca dao có yêu thì nói rằng yêu, không yêu thì nói một điều cho xong:

Anh một con

Em cũng một con

Anh mới son

Em cũng đã son

Sao ta chẳng thử thành chồng vợ

Có chi mà mắc cỡ

Hoa đến thì phải nở

Ta chung nhà, chả sao

Nếu như mấy năm trước, chàng đã nhiều lúc se buồn khi nhận ra mình đã chớm già, không dám mơ xa tới một tình yêu mới:

Thì đấy, em chớm vào hạ

Anh đà ngấp nghé thu qua

Chữ yêu nghe chừng xa lạ

Biết mình, chẳng dám mơ xa.

(Lánh yêu)

Thì bây giờ, chàng không chỉ đã rung động mê say trước vẻ đẹp của thiếu nữ mà còn rất bạo liệt đón nhận những cuộc vui xác thịt. Bài thơ Cưỡng đã gây xôn xao trong các bạn đọc thơ của Đặng Xuân Xuyến bởi khúc nhạc giao hoan bạo liệt của đôi trai gái trong một buổi mưa xuân rỉ rắc và rét ngọt trở mùa. Bài thơ có 37 tiếng thì 36 tiếng là lời nói, tiếng cười và hành động của một cô gái máu lửa trong chuyện yêu đương:

Rỉ rắc mưa

Rét ngọt trở mùa

Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc

                .

Tay run rẩy

lẩy từng khuy cúc

Ngai ngái hương

thầm thĩ

em cười

                .

Vít cổ xuống

Cong người

Em rướn...

Đúng là chàng trai bị cưỡng thật rồi, bởi chỉ nghe có mỗi 1 tiếng cuối là của chàng trai: Em!.

Một tiếng thôi nhưng là tiếng gọi vừa yêu thương tràn trề thỏa mãn vừa như lời cảm ơn vì đã bị (được) em cưỡng vào cuộc mây mưa trong “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” sẽ được ghi xương khắc thịt.  

Bài thơ Ẩm trời mới ra lò ít ngày nay nóng hổi những lời kể của một chàng trai được một cô gái “gạ một đêm chồng vợ” vì ẩm trời và vì…:

Em gạ một đêm chồng vợ

Cho mùi da thịt thơm hương

Mấy ngày hôm nay mưa tợn

Ẩm trời, khó ở, thấy ghê.

Lời kể ngọn ngành rành rọt thế thì đúng là chàng trai bị gạ thật rồi. Nhưng sau cái đêm bị gạ ấy, chàng đã nói với nàng:

Ừ thì, một đêm thôi nhé

Mai đừng, nữa gạ một đêm

Thoạt nghe ngỡ như chàng giao hẹn với nàng: Chỉ một đêm thôi, không có thêm một đêm gạ nữa đâu nhé. Nhưng sau cái lời tưởng như thật thà ấy, chàng lại thòng thêm:

Mùa này ẩm trời dài lắm

Da đây thịt đấy đến mòn

Như nhắc khéo đối tác hay đúng hơn là gạ lại đối tác rằng: Mùa này ẩm trời dài lắm, không gạ nhau thêm thì da thịt sẽ ươn nhão mất, và không chỉ gạ nhau thêm một đêm đâu mà nhiều nhiều đêm khiến da đây thịt đấy đến mòn thì mới thôi.

Đúng là cáo giả nai, bụng thì thích mê tơi nhưng lại làm ra vẻ mình chỉ là người bị gạ.

Khi gửi bài thơ này cho bạn bè đọc trước, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến có viết: “Cháu gửi các chú, các anh và "bé" Dương Ninh Ninh đọc cho vui ạ!”  

Nhà thơ Nguyễn Khôi sau khi đọc đã nói một câu đùa vui:  Xuyến đang sức trai hừng hực / 10 năm không vợ/ ôm cái Tình thơ...con Dê đang bị "hãm" nên cũng dễ hiểu...các bác thông cảm nha...

Còn tôi, “bé” Dương Ninh Ninh thì đọc xong không thấy mấy vui mà còn có phần chạnh buồn vì tôi đang sống ở phương Nam, trời không ẩm mà lại đang khô nóng vô cùng. Bài thơ của Đặng Xuân Xuyến khiến tôi cũng muốn được gạ một ai đó đáng để mình tin yêu, không chỉ một đêm mà đêm đêm cho tôi được mộng mơ trong lời ru nhẹ nhàng, êm ái: Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. (Ngậm ngùi - Huy Cận)

Một số bạn đọc phê bình Thiếu nữ, CưỡngẨm trời là ba bài thơ gợi dục và xếp chúng vào loại thơ dâm. Tôi không nghĩ thế, bởi lẽ thời nào, thế hệ nào cũng cần phải yêu và làm tình đấy thôi.

Lễ giáo phong kiến đã ràng buộc con người một cách gắt gao, ấy vậy mà Thời Hán - Ngụy - Lục Triều (khoảng thế kỷ III TCN đến thế kỷ thứ VI SCN), dân gian vẫn say mê và mạnh dạn nói rằng:

Gió xuân thật đa tình

Thổi mở cả xiêm y của ta.

Người ta sống vì tình yêu và dám chết vì tình yêu.

Dưới chân núi Hoa Sơn,

Chàng đã vì em mà chết.

Em một mình biết sống vì ai?

Chàng có thương em hãy mở nắp quan tài.

Không phải chỉ thơ ca dân gian mới mạnh dạn như thế, ngay cả trí thức, nho sĩ... cũng nói đến tình yêu một cách phóng túng hết mình. Đào Uyên Minh được coi là nhà thơ bình đạm, thanh khiết bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc, người mà cụ Tam nguyên Yên Đổ của dân tộc ta đã phải nói: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”, thì ông Đào phẩm cách cao quý ấy cũng đã tự bạch:

Ước tình biến thành đôi giầy nhỏ,

Ôm ấp hoài đôi chân của giai nhân.

Bài Nhàn tình phú của ông Đào còn cháy bỏng thêm nhiều khao khát hơn:

Nguyện làm chiếc cổ áo,

để hưởng chút hương thừa trên mái tóc em;

Buồn rằng ban đêm áo lại cởi ra,

hận rằng đêm thu sao quá dài.

Nguyện làm dải là thắt,

buộc lấy tấm thân thon yểu điệu;

Than ôi khí trời lúc ấm lạnh,

có khi đổi cũ mà mang dải mới

Đây chẳng phải đều là những lời tự bạch khá "liều lĩnh", có thể nói là khá can đảm đã vượt qua mọi câu thúc ràng buộc của xã hội thời bấy giờ.

Ở nước ta, Thơ Hồ Xuân Hương thì gần như trăm phần trăm bị coi là dâm nhưng đó thực là thơ ca ngợi vẻ đẹp cơ thể phụ nữ và đòi quyền sống cho thân xác con người trong tình yêu đôi lứa bằng những ý tưởng rất táo bạo vượt lên trên các điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời.

Tự Lực Văn Đoàn và phong trào Thơ Mới giữa thế kỷ trước đã có một đóng góp cách tân lớn là không như thơ xưa xem thiên nhiên là chuẩn mực cái đẹp mà con người mới là vẻ đẹp toàn bích, xác lập và đề cao cái đẹp thể chất của con người. Vì thế mới có một Xuân Diệu yêu cuộc sống đến cuống quýt “muốn ôm, muốn riết, muốn say…” (Vội vàng), Vì thế mới có một Hàn Mặc Tử nhìn thiên nhiên là hiện thân xác thịt, là người thiếu nữ gợi cảm, là cám dỗ của trái cấm:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi…

Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe...

Và trong lịch sử thơ ca Việt Nam, đã có hẳn một Bích Khê (1916-1946) đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, coi đó là một phạm trù thơ và đặt tên cho nó: thơ lõa thể. Và Bích Khê tự nguyện hiến mình cho loại thơ này:

Tôi vồ người như một miếng mồi ngon

Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son

Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...

Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc

Hai tay cào đôi vú trắng như bôn

(Xác thịt)

Nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi chuyên viết về thần thoại cổ tích đã nghe và chép lại bài thơ dân gian này:

Tài tử, giai nhân, giai quý thích

Chẳng gì hơn “cái ấy” nữa mà thôi!

Khách văn nhân tài tử ai ai

Sinh cũng đấy, mà chơi thời cũng đấy.

Dẫu lá tre, lá vông gì cũng vậy

Hở hang ra coi thấy, dễ càng đau!

Khách tài tình rày ước mai ao

 “mao” càng thú mà “vô mao” càng tuyệt thú

 Mền gấm lơ thơ tơ liểu rủ

Cửa son thấp thoáng gạt hồng non

Quyền thế gì một cái cỏn con!?

Dẫu trăm khéo ngàn khôn rồi cũng mắc

Đố ai biết bên nào là chắc

(Cái ấy)

Liệu có gọi bài chép trên là dâm và tục được không? Chỉ có những kẻ hách dịch luôn làm ra vẻ đạo đức giả mới cho rằng đó là những câu dâm tục. Bới, chân tướng thật của họ đều là: Ban ngày quan lớn như thần / Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Vì không coi mấy bài thơ tình mới đây của Đặng Xuân Xuyến là thơ gợi tình dâm tục nên tôi rất mừng khi thấy chàng trai trong thơ của Đặng Xuân Xuyến qua những bài thơ ấy, bây giờ đã có một tâm trạng mới, dần quên những khổ đau lận đận, dần xa những ngu ngơ để tâm hồn mình sống lại với những rung động trước vẻ đẹp cơ thể của thiếu nữ, biết ngân lên sung sướng trong lạc thú thân xác của người đời.

Vậy thì, chàng trai trong thơ Đặng Xuân Xuyến ơi! Xin chàng hãy quẳng cái khối tình lận đận mà chàng đã gánh chịu quá nửa đời trai ấy đi mà vui sống. Vui sống với đời thực, với con người thực của mình. Chỉ có thế, ngày vui mới trở lại và chúng ta mới có thể:

Cùng với ánh quang minh còn mãi

- Cho người với cảnh quên già.

 (Tiếng trúc tuyệt vời - Thế Lữ)

*

Sài Gòn, ngày 19/03/2017

DƯƠNG NINH NINH

Email: duongninhsg@gmail.com

 

NHẮM RƯỢU VỚI CƯỠNG XUÂN

- THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Tôi có thói quen mỗi lần đọc thơ, khi gặp một câu hay, ý lạ thường tự thưởng cho mình một ly rượu - thắp lửa ở lòng mình, thả hồn lang thang trên ngọn nguồn, bến bờ say của câu chữ. Và hôm nay đọc tập: Cưỡng Xuân của Đặng Xuân Xuyến, không cưỡng nổi lòng mình, không thể hoãn cái sự sướng, tôi nhắm rượu với thơ.

Sao lại Cưỡng Xuân? Người ta thường nói đón xuân, khao khát mùa xuân về, có người rẽ lá vàng chặn lối xuân đi và chặn nẻo xuân về; có thể yêu xuân và thù hận mùa xuân, nhưng Cưỡng Xuân thì chưa có ai dám “liều” như nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.

Mùa xuân như thiếu nữ huyền bí trong vẻ non tơ mà nhà thơ dám cưỡng xuân sao? Không thể! Nhưng nhan đề tập thơ là “Cưỡng Xuân” rất lạ, gợi trí tưởng tượng, hoang mang, mời gọi tìm hiểu. Ôi “Cưỡng Xuân”! Mới nghĩ đến thôi đã thấy lạ và không khỏi giật mình.

Và tôi như kẻ vụng trộm lắng nghe tiếng nói thì thầm của đôi trai gái:

Em gạ một đêm chồng vợ

Cho mùi da thịt thơm hương

và tiếng chàng trai:

Ừ thì, một đêm thôi nhé

Mai đừng, nữa gạ một đêm.

Gạ thôi, rủ yêu thôi, có cưỡng gì đâu! Nhưng tình yêu đến với tình yêu, thực sự như lửa gặp lửa sẽ hòa đồng cùng cháy sáng. Không mặc cả, không gạ gẫm, chàng trai không những bằng lòng một đêm mà còn “lo xa”:

Mùa này ẩm trời dài lắm

Da đây thịt đấy đến mòn.

(Ẩm trời)

Thì ra là vậy. Sự lo lắng của chàng trai đã vén màn bí mật của “Cưỡng Xuân”. Là sự lạ trong tình yêu mà cũng rất đời thường. Cái sự lạ trong đời thường không khoác áo đạo đức, mà lại rất hồn nhiên:

Rỉ rắc mưa

Rét ngọt trở mùa

Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc...

(…)

Vít cổ xuống

 Cong người

Em rướn…

 Em…

(Khát)

Cưỡng xuân ở đây là sự cưỡng của cơn say “Ném tôi vào cơn lốc” và sự run rẩy của bàn tay, bản năng không lý trí: “Vít cổ xuống/ Cong người/ Em rướn...” theo bản năng yêu... và tiếng “Em” cuối cùng như tiếng thở gấp, đưa tình lên đỉnh… cõi bồng lai.

Tôi tự hỏi, tình yêu điên cuồng mê dại như thế có phải là “Cưỡng” không? Muốn đem lý thuyết phân tâm của F.Rớt để trả lời mà không thể, mọi lý thuyết đều “mất điện” trong tình yêu.

Hãy nghe trong giấc “Mơ Đêm” - “Cuống cuồng vòng tay ghì hơi ấm” - Chỉ ngôn ngữ của thơ mới “ghì hơi ấm”, chỉ “khi tỉnh rượu/ lúc tàn canh” nhà thơ mới tự thương mình, giật mình xót xa cho mình:

Giật mình

Ánh mắt nửa đêm

hun hút đại ngàn gió hú...

 Thèm trận cuồng lũ

Dào dào trùm ải chờ mưa

Khát...

Khát là sự đòi hỏi của thể chất, khi khát cần uống, khi đói thèm ăn, nhưng cái khát trong tình yêu dày vò ở tâm, ở tim, linh thiêng và gần với thánh thần hơn. Cái khát thể hiện bằng thơ: “Trăng vàng lả lướt bến sông/ Đắm hồn tôi với mênh mông gió trời” (Mơ). Khát trong cả giấc mơ là cái khát không bờ, không bến. Và khi đã khát thì ở đâu cũng khát. Cái khát của tình yêu không có nhà, không nơi ẩn náu mà ở đâu cũng thành quê hương.

Một chiều lạ “Sợ đêm về/ quẩn gió/ xáo xác khuya…/ Te tẻ chiều/ nhớn nhác/ nhón chân qua”. Chỉ cái khát của tình yêu - của thơ mới nhận ra vị “te tẻ chiều”, nếm được tiếng “xáo xác khuya”, thức ngộ bao chiều mà chiều vẫn lạ.

Tôi đọc bài “Khát” (Lời đề tặng V. yêu). Không biết V. yêu có phải là vợ yêu không mà sao giống tình vợ chồng đến vậy. Ở đây không có sự “Cưỡng Xuân” mà rất tự nguyện:

Nào nằm xuống

Vùi ngực anh

Dán chặt…

(…)

Dòng nham thạch cuộn từng cơn nóng hổi

Thế. Thế. Thế

Căng người

Em hứng đợi...

(…)

Thỏa thuê từng cơn khát

Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi....

Tình cảm vợ chồng ngoài cái say, cái yêu thuần khiết, còn có cái say, cái yêu nghĩa vụ. Nhưng ở đây hoàn toàn thăng hoa “Căng người/ hứng đợi”, và sự giục giã “Em. Em ơi... đêm sắp qua rồi” thì không thể yêu nghĩa vụ chút nào, mà cao hơn cơn khát yêu của vợ chồng. Nhưng nhà thơ đã tự tố cáo mình, trong thơ không thể dối được. Vợ chồng thì có đêm nay và nhiều đêm nữa, việc gì phải vội, phải sợ không còn nữa mà phải hổn hển “Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi.”.

Vâng. Cơn khát này cao hơn, đằm hơn cơn khát vợ chồng nên không phải vợ chồng mới có chất say - Chất khát của tình yêu!

Lại một bài “Đêm” nữa tặng V. yêu. Cơn khát nóng ran làm “Đêm bức bối”, màn đêm như bị căng ra và nén lại: “Em đè ta nghiến ngấu/ Đêm chuyển màu”.

Đêm chuyển màu gì vậy? Họa sỹ thực thụ có thể biết 180 màu đen, nhưng màu đêm của tình yêu chỉ tình yêu mới biết, màu của “Đêm lõa lồ/ rần rật/ đốt thịt da.”.

Ôi! Tình yêu đã truyền vào đêm sức sống, truyền một ngôn ngữ linh thiêng - thần bí mà rất đời.

Khát, yêu, nhớ là mạch đập liên hoàn trong trái tim yêu, cứ tưởng nhớ là phải xa xôi, cách mặt nhưng nhớ của Đặng Xuân Xuyến như hiện thực trông thấy rõ ràng, như cuốn phim đời:

Đêm tỉnh giấc

Khát mắt cười chiều qua lăn trên chiếu

Căng người

run rẩy cuộc yêu...

(…)

Gió trườn qua khe cửa.

Đã yêu, ai chẳng nhớ, nhưng nhớ rất chi tiết “Gió trườn qua khe cửa” - gió như một chứng nhân có lẽ chỉ nhà thơ mới có. “Gió trườn qua khe cửa” là ngọn gió có linh hồn, ngọn gió vàng xoa dịu và mát lành cõi phàm tục của tình yêu.

Sếch-xpia bảo: Tình yêu như người cung thủ bịt mắt mình, phóng mũi tên tình yêu đi đến đâu không cần biết mà vẫn trúng đích.

Trong cái mê, có cái ngộ, cái biết, và phải trải qua bến mê mới thấy bờ giác. Đặng Xuân Xuyến đã ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề tình có biết bao năm để ngộ chăng? Cứ tính từ ngày vợ chồng Xuyến chia tay, hay cộng cả trước và sau thời gian ấy mới đắc đạo tình hay đốn ngộ. Đốn ngộ là đột biến, đắc đạo là sự tiêm ngộ. Theo tôi thì Đặng Xuân Xuyến trải qua bao đổ vỡ, hẫng hụt, khổ đau mà đắc ngộ.

Hãy nghe về sự ngộ, sự biết của anh:

Ừ biết

Em rồi chẳng đợi

Mà lòng chẳng nỡ buông lơi

Ừ biết

Chỉ lời giả dối

Mà tin, tin đến cạn lời.

Biết em không thật mà lòng vẫn tin là sao? Hãy lấy lòng khát yêu để trả lời cho câu hỏi này. Hãy lấy sự “Cưỡng Xuân” - Gượng yêu làm chìa khóa mở ra tâm hồn nhà thơ.

Nhà thơ vẫn khát thèm yêu nên dù biết rằng “em chẳng đợi”, chẳng yêu mình mà vẫn gượng yêu, gượng tin, thậm chí còn mong nàng nói dối là yêu mình còn hơn phải nghe những lời phũ phàng nói thẳng - không yêu. Ta nhận ra nhân cách đẹp của nhà thơ chính ở sự phi lý này.

Thôi thì sắm vai người dại/ Ngô nghê với tháng năm dài”. Trải qua những khổ đau, những cơn khát, cưỡng xuân, Đặng Xuân Xuyến chấp nhận “Dại Yêu”, chấp nhận “Niềm vui dẫu chỉ nửa vời/ Có sao đâu/ Vẫn cứ ngời ngợi hương/ Chỉ tôi/ Chín nhớ/ Mười thương/ Đủ rồi”.

Đọc những dòng thơ, như nghe tiếng nước mắt chảy ngược vào tâm, giọt nước mắt long lanh ánh sáng thức ngộ - Thức ngộ sau chén say, mê đắng của tình yêu:

Ta gạ em cạn chén

Thế là em cạn ta...

Nửa đời trai trinh bạch

Em nhuộm ta ngả màu.

(Em)

Màu của tình yêu là màu gì vậy? Là 7 sắc cầu vồng sau chiều mưa chăng? Không! Màu tình yêu là muôn màu, màu của hạnh phúc và khổ đau, không họa sĩ nào vẽ nổi, nó biến ảo trong không gian, thời gian, trong tâm thức của mỗi người.

Với Đặng Xuân Xuyến là màu say đắm và màu “Chán Yêu” hòa quyện, là màu “Bồng bềnh người ơi/ Mây tím lưng trời” chìm vào “nụ cười bạc phếch/ Xộc xệch tình.../ Lếch thếch tiếng yêu.

Tôi tìm thấy ở Đặng Xuân Xuyến màu của “Đêm trở mình nhiều hơn/ Tóc dầy thêm sợi bạc”. Và đặc biệt ở Đặng Xuân Xuyến là màu của tình yêu máu thịt dành cho cậu con trai - cái màu máu thiêng liêng của tình cha con đã giải thiêng mọi màu sắc của tình yêu lứa đôi. “Lặng nhìn con nằm ngủ/ Ngổn ngang nỗi tơ vò”.

Sau màu yêu ngày tươi đẹp đã qua, con chim thi ca vẫn cất cao giọng hót nhưng không còn là bản tình ca réo rắt mà là giọng to nhỏ thì thầm:

Mình già rồi anh nhỉ

Thời gian thế mà nhanh

Mới vài chuyện loanh quanh

Tóc đã pha màu bạc...

Giọng thoảng nghe khang khác

Mình già rồi mà anh.

Không ai khuất phục được thời gian, không ai ở mãi trên đời, yêu đương... mê ngộ một thời rồi đi. Và Đặng Xuân Xuyến cũng nằm trong quy luật của thời gian như mỗi chúng ta. Chính vì hiểu quy luật của thời gian mà anh đã “Cưỡng Xuân”, anh “Cưỡng Xuân” và xuân cũng cưỡng anh.

Nhà thơ “Lánh Yêu” mà vẫn bị yêu: “Sao chẳng nói yêu từ sớm/ Khi anh đương còn trẻ trai/ Bây chừ lừ đừ, lọm khọm/ Nào ai dám mộng với ai.”. Nhà thơ trách cô gái trẻ chậm nói lời yêu nhưng trong lòng tự biết tuổi của mình, sức đã “chồn chân mỏi gối”, lòng thèm yêu lắm nhưng “Chỉ e nhỡ đường ân ái/ Khiến em đứt ruột chiều tà.

Tôi cam đoan rằng: Tuổi của Đặng Xuân Xuyến mới 52 còn tràn đầy sinh lực, chưa “chồn chân mỏi gối” tí nào, anh như con chim bị trúng thương tình ái, đổ vỡ duyên vợ chồng nên sợ “cành cây cong” như chiếc cung thôi. Và chất quê Hưng Yên ở trong máu còn thắm chưa phai, chưa nhiễm chất thị thành, nên thèm yêu mà vẫn lo xa.

Lo xa nên nhà thơ mới tỏ tình với ngôn ngữ dân dã chân thành: “Em có cần anh không/ Nếu cần hãy cùng anh chung sống”. Chữ “cần” mộc mạc mà rất thơ mang nặng tâm tình. Tình yêu cần tình yêu như con người cần không khí để sống. Thiếu sự “cần” ấy - thiếu không khí - có ai sống được bao giờ. Bài thơ “Chung”, tôi đã bình rồi, không bình lại nhưng vẫn bị sự mộc mạc của câu thơ “Em có cần anh không” níu kéo. Tôi đành nhắp thêm chén rượu nữa cho hồn say với sự “cần” yêu.

Thơ của Đặng Xuân Xuyến chưa đến bực tài hoa, mà là thơ của nỗi lòng, tình yêu và sự đớn đau trong tình yêu nâng hồn anh thành cánh chim bay đến phía sau của chân trời tình yêu và trở về với hồn quê - Đất nhãn Hưng Yên:

Về đi em! Về ngắm trăng buông

Câu mái đẩy lèn sâu ký ức

Dựa vai anh ngắm đời rất thực

Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi..

Nếu có tài họa sĩ, tôi sẽ vẽ bức tranh đồng quê, có đôi trai gái ngồi ngắm trăng buông. Cô gái tựa vào vai chàng trai, ngắm trăng trời và nghe trăng ở lòng thổn thức. Nhưng vẽ “Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi” thì thật khó. Chỉ có thơ, hồn thơ quê của Đặng Xuân Xuyến mới vẽ được. Tôi nhắm câu thơ này cho rượu thêm hương.

Rượu và thơ dẫn tôi đi, tôi lang thang trong sự “Cưỡng Xuân” của Đặng Xuân Xuyến. Mỗi bài thơ như cưỡng tôi yêu, và tôi bằng lòng với sự cưỡng yêu ấy.

Tôi bị cưỡng vào những khao khát và những giấc mơ, mà từ những khát khao và những giấc mơ ấy tôi lại được trôi dạt tới bờ bến của dại khờ. Ôi! Sự dại khờ trong tình yêu như một cõi tiên. Trên đảo bồng lai của dại khờ tôi gặp tôi, gặp những khát khao chân thực của tình người. Tình yêu cần sự dại khờ hơn khôn ngoan.

Có phải yêu thật lòng quá thành dại khờ nên Đặng Xuân Xuyến đã “Cưỡng Xuân”. Tôi nghe thẳm xa trong hồn tiếng của trời, tiếng của mùa xuân thì thầm trong hoa lá: “Tôi bằng lòng… bằng lòng.”. Thì ra mùa xuân cũng khát yêu và thèm sự “Cưỡng” như con người. Lâu lắm, xa lắm, trên thế gian chưa có ai, chỉ có Đặng Xuân Xuyến “Cưỡng Xuân”.

Vì “Cưỡng Xuân” - Tập thơ đầu tay của Đặng Xuân Xuyến, tôi tự rót rượu thưởng cho mình.

*

Hà Nội, 08 tháng 6-2017

NGUYỄN THANH LÂM

Địa chỉ: Số 4 ngõ 179, phố Minh Khai,

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Email: thanhlam.tho@gmail.com

 

“LAN MAN...” VÀ LAN MAN

CÙNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Khi đọc 2 bài thơ “Lan man và…”, sáng tác theo trường phái siêu thực của Đặng Xuân Xuyến, tôi thấy “lạ” và thích nhưng không có ý định viết lời bình. Chiều qua, 14 tháng 06 năm 2017, đọc bài tản văn Cú điện thoại bình thơ của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến, tôi ôm bụng cười khi đọc lời bàn rất vui của một “ông chú” về 2 bài thơ “Lan man và...” này:

“- Thơ của cậu thế nào ý. Đấy đếch phải là thơ. Kiểu như cái bài Lan man và chuyện đàn cừu, với bài Lan man và chuyện thằng bạn. Đúng là lan man thật. Sao lại lôi con Cừu vào thơ thế? Lại bình đẳng con Cừu với Con Người Việt Nam ta là thế nào? Cậu có biết hình ảnh con Cừu trong biểu tượng văn hóa là tượng trưng cho điều gì không? Là nô lệ! Là tầng lớp bị trị ngu đần và bạc nhược! Ở Việt Nam ta có Cừu không? Có nhưng không nhiều, rất hiếm, vì đấy là hàng “nhập ngoại” nên không thể là hình ảnh tượng trưng cho bất kỳ điều gì trong thực trạng văn hóa của người Việt Nam cả. Cậu dùng hình ảnh con Trâu, con Bò hoặc con Chó, con Lợn,... còn khả dĩ chấp nhận được phần nào... Đằng này lại là hình ảnh con Cừu. Hẳn cả một đàn Cừu. Đấy. Phi thực tế như thế mà cũng đưa vào thơ được. Mà... Sao lại “bạn rủ tôi về nhà nghe hát”? Sao không là bạn rủ tôi về nhà nghe nhạc cho nó sát với thực tế, mà cũng đậm đà chất thơ? Lại còn nửa đêm sợ tiếng thạch sùng, với những tiếng tờ lạch tạch? Rất yếu đuối, rất phi thực tế. Đàn ông đàn ang, ai lại sợ những con vật nhỏ bé, yếu ớt như con thạch sùng, con gián, con kiến? Đàn bà, con gái cũng không ai yếu đuối đến vậy. Đã thế, đêm hôm không lo ngủ, hoặc lo bảo nhau làm mấy cái chuyện sung sướng lại dựng bạn dậy để khoe nhiều tiền.... Kiểu... Rất chi là vô học. Ừ. Còn lan man, vô lý ở chỗ: Đang tả bạn thờ thẫn, man dại vì thèm tiền lại nhảy sang tả khuôn mặt bạn người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm với những khuôn nét vừa của thánh nhân, vừa của quỷ dữ. Xong, chốt câu “Tôi đã từng sợ ma” để hạ màn. Vớ vẩn. Sao lại sợ ma ở đây? Chả ăn nhập gì với nhau. Linh tinh. Dở oẹt. Tóm lại, đấy đếch phải là thơ. Là tản mạn mấy tiếng thở dài của mấy thằng dở người nửa đêm nửa hôm đếch biết làm gì nên rủ nhau làm mấy cái chuyện khác người, rõ ngớ ngẩn.”

Tôi nghĩ chắc cũng không ít bạn đọc có suy nghĩ giống “ông chú” nọ, vì thế, tôi cầm bút lan man đôi điều về “Lan man và...” của Đặng Xuân Xuyến, góp thêm một tiếng nói về cách cảm nhận khác như thế về thơ anh.

1.

Lan man và chuyện thằng bạn là bài thơ lạ, nhiều tâm trạng, viết theo trường phái siêu thực mà lớp nhà thơ trẻ thường sử dụng khi muốn làm mới thơ.

Để cảm được bài thơ này, phải lý giải bằng trực giác, bằng cảm xúc mạnh của nỗi lòng. Không thể giải thích thực tế bằng lối chú giải, phân tích tẩn mẩn, cụ thể như cách cảm nhận của các nhà thơ thủ cựu. Nếu đọc và cảm Lan man và chuyện thằng bạn theo cách thủ cựu thì bài thơ này sẽ “thật vớ vẩn”, thậm chí có người sẽ nhăn mặt: Văn nhảm chứ thơ phú gì…..

Khung cảnh của bài thơ là nhà “thằng bạn”, với thời gian là cả ngày và đêm nhưng cả bài thơ, ở cả 2 phân đoạn thời gian: ngày và đêm, đều được vẽ bằng gam màu sắc u ám, lạnh lẽo, rờn rợn vì ám đầy tử khí. Sự giả dối, thói tham lam và bản tính độc ác, đểu giả của “thằng bạn” được bóc trần nhẹ nhàng, từ từ khi thời gian còn là ban ngày (khổ thơ I), nhưng khi thời gian đã chuyển sang đêm tối (khổ thơ II) thì cái mặt nạ của “thằng bạn” đã bị lột huỵch toẹt, trắng phớ, bằng những câu tưởng chẳng ăn nhập với cái hành động cũng tưởng như ngớ ngẩn của “thằng bạn”:

Đêm.

Bạn dựng tôi dậy khoe tiền nhiều

Lôi từ gầm giường những tờ tiền đỏ như rưới máu

Tôi không hỏi tiền nhiều từ đâu

Bạn tránh nhắc từ đâu tiền nhiều

Chỉ cần hình ảnh “thằng bạn” với “những tờ tiền đỏ như rưới máu” đã đủ để vạch trần tất cả: Đó là những đồng tiền dơ bẩn, những đồng tiền tội ác mà “thằng bạn” đã cướp giật từ những người lương thiện, nó thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu, cả tính mạng của người lương thiện. Có lẽ vì quá hiểu nguồn gốc của những đồng tiền tội ác đó nên “tôi”, nhà thơ, không hỏi “tiền nhiều từ đâu”, nhưng “bạn” vì nghĩ “tôi” ngờ nghệch, không biết nên tảng lờ, “tránh nhắc từ đâu tiền nhiều”. Giọng thơ cứ cà tang, cà tang, tưng tửng, tưng tửng mà kỳ thực lại rất tỉnh, rất lạnh, điểm suốt câu chuyện.

Bóng đêm thường đi liền với tội ác vì bóng đêm và tội ác là cặp bài trùng. Và trong bóng đêm, bộ mặt, bản chất của “thằng bạn” hiện lên thật rõ nét, vì “thằng bạn” với bóng đêm cũng chính là một cặp bài trùng. Hình ảnh “thằng bạn” lần nữa được nhà thơ đặc tả thật ti tiện, đáng sợ:

Cẩn thận

Vuốt vuốt những tờ tiền

Mắt lim dim

Bạn thả hồn vào khoảng không tối lịm

Và, trong cái “Quánh đêm” “Rờn rợn” “tối lịm” ấy, khuôn mặt “thằng bạn” sau khi bị tróc bỏ hết lớp “sơn” đã hiện ra rõ nét là kẻ giả tạo và độc ác: Khuôn mặt bạn/ Vời vợi của thánh nhân/ Ma lanh của ác quỷ.

Đến đây, người đọc chắc chắn sẽ nhận ra chân tướng “thằng bạn” của nhà thơ là người thế nào.

2.

Lan man và chuyện đàn cừu cũng viết theo trường phái siêu thực, khước từ sự chú giải, phân tích theo lối thủ cựu:

Tôi đặt cược đời mình

Bằng nụ cười nhếch mép

Bằng vòm ngực lép kẹp

Bằng căn phòng mốc meo ướt nhép

Bằng cót két tiếng giường ọp ẹp

Bằng cả tiếng ngủ mơ chóp chép...

Tôi kỳ vọng quá nhiều!

Tôi đặt cược quá nhiều!

Hình như...

Đây là tứ thơ mới nhưng nếu cảm theo cách cảm xưa cũ thì rất dễ đưa ra lời phán: - Nhảm! Viết ba lăng nhăng! Nhưng rõ ràng đây là phân cảnh, là tâm thức, tâm trạng của những con người thuộc tầng lớp lao động, thuộc lớp dưới nhưng lại chiếm số đông trong xã hội, vất vả, cơ cực mà vẫn phải chịu cảnh đói nghèo, lam lũ. Với khát khao, mơ ước tương lai được tươi sáng, tốt đẹp hơn, “tôi” - nhà thơ, và số đông trong xã hội - đã không ngừng phấn đấu, không ngừng tin tưởng, để rồi “tôi” phải cay đắng thốt lên: “Hình như”... Câu “hình như...” nghe chua xót, tắc nghẹn nơi cuống họng làm tái tê, rức buốt nỗi lòng.

Nếu ở Lan man và chuyện thằng bạn là giọng thơ tưng tửng nhưng lạnh mà tỉnh thì ở Lan man và chuyện đàn cừu lại là giọng thơ trầm buồn, day dứt.

Nhà thơ tiếp tục câu chuyện của mình nhưng lại “lan man” sang chuyện khác, chuyện của đàn cừu:

Đàn cừu

Ngoài kia...

Cấu trúc bài thơ thay đổi.

Cấu trúc đoạn thơ cũng thay đổi:

Con đầu đàn vừa bị hóa kiếp

Cả đàn chết khiếp

Lẩy bẩy

Chen đẩy

Vào chuồng

Ông chủ oang oang

Bà chủ nhẹ nhàng

Đàn cừu

Im lặng

Cúi xuống

Nhai...

Cách ngắt câu thành nhiều nhịp để diễn tả sát từng cung bậc tâm trạng: khiếp sợ, cam chịu,... của “đàn cừu”, tượng trưng cho những kẻ bị thống trị, cùng với cách sử dụng ngôn ngữ “cũ mới nương nhau”, đã đẩy bài thơ lên tầm cao.

Thật đúng như lời nhà thơ, chủ bút trang Văn Đàn Việt, cũng là người mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đề tặng bài thơ, đã viết trên trang facebook: “Tứ thơ mới. Cấu trúc mới. Ngôn ngữ mới cũ nương nhau, sắt đanh nghe chan chát, âm âm chất thời sự! Chúc mừng tác giả!

*.

Trên đây là những cảm nhận cá nhân của tôi về 2 bài thơ “Lan man và…”, sáng tác theo trường phái siêu thực của Đặng Xuân Xuyến.

Viết bài “Lan man...” và lan man cùng Đặng Xuân Xuyến, tôi muốn góp thêm một cách cảm thơ khác với cách cảm nhận của “ông chú” nọ về 2 bài thơ “Lan man và…” của Đặng Xuân Xuyến, nên có điều gì sơ xuất, hoặc không đúng, không vừa ý, Đỗ Anh Tuyến tôi rất mong nhận được sự lượng thứ của quý bạn đọc.

*.

Thái Bình, 16 tháng 6-2017

ĐỖ ANH TUYẾN

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê,

huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Email: dovantuyenbk@yahoo.com.vn

 

CHÂN DUNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TRONG “99 CHÂN DUNG NHÀ VĂN...”

(Trích từ: VỀ CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI)

*

“Ông bạn thứ ba mà tôi kiêng nể dẫu ít tuổi, chỉ hơn con lớn của tôi bốn tuổi, đó là Đặng Xuân Xuyến, chân dung số 89. Vì sao? Xin thưa. Vào khoảng những năm 1990 - 2000 xã hội mở cửa, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, các nhà văn nhà thơ thậm chí cả các nhà hưu trí nhà bất mãn đua nhau in ấn các loại văn thơ: “đâu là đôi mắt”, “Như có Bác Hồ”… Thế mà anh bạn trẻ trên tay cầm cái bằng đại học nhân văn xã hội đỏ chóe ngày đêm xem cổ, tiếp kim chiêm nghiệm thực nghiệm cho ra đời hàng loạt đầu sách mới lạ (có thể lên tới hàng trăm đầu sách với nhiều bút danh).

Nổi bật gây dư luận nhất là hai tập sách, một là Giới tính và giáo dục giới tính (1997). Nội dung khoa học về đời sống tình dục và giới tính. Anh tiếp thu thành tựu của nước ngoài, kết hợp cái thực tế ở trong nước, nhất là những cái ở ta đang lấn cấn để mà thành sách, giúp người giải phóng mặc cảm, hướng tới sống khỏe, sống hạnh phúc nhưng ở giai đoạn đấy anh đi quá sớm nên ăn đòn (bị thu hồi). Tác phẩm thứ 2 là cuốn Tử Vi kiến giải, viết theo quan điểm chắt lọc những tinh hoa của tiền nhân, của Tử Vi Việt, giúp bạn đọc tiếp cận dễ hơn, đúng hơn về niềm tin tín ngưỡng của người Việt Nam thế nhưng cũng bị nhà chức trách thổi còi “đình bản”, thu hồi. Sau đó sách vẫn được truyền tay tìm đọc, vẫn được tái bản mấy lần. Đó là cái riêng, khác lạ của một đời văn, một đời người. Vậy có xứng là nhà văn có giọng văn dáng dấp đương thời đương đại không? Ấy là chưa nói anh còn viết một loạt truyện ngắn: Chuyện cu Tố làng tôi, Chuyện của gã Khờ, Kim yêu, Chuyện ngủ... được bạn đọc yêu thích, ngay chính lão thi bá Nguyễn Khôi cũng làm bài thơ 5 đoạn cảm đọc gã Khờ. Lại còn mảng thi ca. Dẫu thơ anh chậm xuất hiện nhưng đã gây ấn tượng bởi cái giọng điệu sắc lạnh, tốc độ, tứ ý ngồn ngộn tự nhiên, đầy tâm trạng, đủ chân thiện mỹ như: Bạn Quan, Quê nghèo, Tôi nghe, Ru con, Tim đau, Mơ trăng, Tình Nở... Nhất là thơ tình đầy trăn trở. Bêlin Xiki nói: “Chỉ cần anh có cái giọng riêng đã đáng là một nhà thơ rồi.”. Vậy mà bác Nguyễn Khôi nhà ta đã nghuệch ngoạc vẽ thế này:

“Buôn sách và viết sách

Vui gà trống nuôi con

làm tình “cưỡng” không thích

Thơ như thời trai son.”.

Thực quá dễ dãi, quá trơn tuột. “Buôn sách”, “gà trống nuôi con”, “làm tình “cưỡng” không thích” thì đâu phải chân dung, phải chăng chỉ là về đời thường chứ đâu là cái hồn cốt, cái chân dung để đời của nhà văn?!”

*

Khoan Tế, tháng 06.2017

NGUYỄN ĐĂNG HÀNH

Địa chỉ: Thôn Khoan Tế, xã Đa Tốn

huyện Gia Lâm, tỉnh Hà Nội.

Điện thoại: 0166.467.78.26

 

TÌNH TRONG “CƯỠNG  XUÂN” -

TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Có lẽ không ai cầm tập thơ “Cưỡng Xuân” của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến mà không có một chút hoang mang với tên của tập thơ... Một người bạn thơ nói với tôi: “Cưỡng Xuân” là khống chế mùa xuân, nghĩa là hoặc làm cho xuân đến sớm, hoặc làm cho xuân quay lại. Với tuổi đời của Đặng Xuân Xuyến hiện nay, cưỡng xuân tức là làm cho xuân đã đi qua quay trở lại. Riêng tôi, tôi cũng lấy cái chủ quan của mình để hiểu được phần nào ý nghĩa của hai từ “Cưỡng Xuân” khi đọc được hai bài thơ trong tập thơ này.

Bài thơ thứ nhất có đầu đề là “Cưỡng” như sau:

“Rỉ rắc mưa

Rét ngọt trở mùa

Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc

 

Tay run rẩy

Lẩy từng khuy cúc

Ngai ngái hương

thầm thĩ

em cười

 

Vít cổ xuống

Cong người

Em rướn…

 

Em!”

Qua bài thơ này ta có thể hiểu em là người cưỡng xuân, nghĩa là em đã ép cho mùa xuân tình dục trong thể xác anh nẩy nở.

Bài thơ thứ hai là bài “Xuân” như sau:“Áo trắng em cười với gió đông/ Run rẩy đào phai đón xuân nồng/ La đà trong gió đôi vạt nắng/ Ngơ ngẩn trai làng, ngơ ngẩn xuân”.

Như vậy cũng cho thấy em đã đưa mùa xuân tình yêu thuộc về phần tinh thần đến sớm trong tim những người trai làng. Vậy qua hai bài thơ trên, có thể hiểu “Cưỡng Xuân” trong thơ Đặng Xuân Xuyến là làm cho mùa xuân trong thể xác, trong tâm hồn dậy lên không theo một quy luật nào. Phải nói rằng tiếp theo cái tựa đề “Cưỡng Xuân” của tập thơ, hầu như các đầu đề của những bài thơ trong tập thơ này Đặng Xuân Xuyến dùng từ hoặc cụm từ như “”, “Lỡ”, “Chấp chới”, “Ấm Trời”… đều ngắn gọn nhưng trừu tượng, xúc tích, thâm trầm và thâm thúy. Từ đó đọc thơ Đặng Xuân Xuyến, nếu ta cảm nhận được cái bề dày, bề sâu của nó thì ta sẽ thấy thơ ấy như một bức tranh nhỏ nhưng mô tả sống động một khung trời, khung đời hiện thực trong cuộc sống. Người viết bài này xin chỉ đề cập đến một góc cạnh trong phần nổi bật của tập thơ, với chủ đề tình yêu trong “Cưỡng Xuân”.

Đặng Xuân Xuyến yêu:

 “Trái tim anh không yêu vì thương hại

Sẽ ngàn lần không buộc khổ vào nhau”

(Tình Anh)

Vâng, từ độ ấy đến giờ

Sông trăng dầu cạn vẫn chờ đò xưa

Cầu trời đổ một trận mưa

Cho sông trăng nước đò xưa trở về.

(Sông Trăng)

Đoc những bài thơ của Đặng Xuân Xuyến trong “Cưỡng Xuân” ta hay gặp những cuộc tình chớp nhoáng như chỉ để khỏa lấp sự trống vắng trong đời nhưng thật ra, qua những câu thơ trên ta khám phá được tính cao thượng và chung thủy trong con tim yêu chân thành và sâu đậm của người thơ. Từ cái tình yêu quá đỗi chân thành và sâu đậm đó đã làm cho nhà thơ trở nên bi quan vì không ai đền đáp đủ trong đời: Quá khứ buồn cứ để lạc trôi / Trăng với sao không đắp nền hạnh phúc/ Thuyền với biển không nối cầu nguyện ước/ Mây gió buồn cứ để dật dờ trôi (Quá Khứ).

Tình yêu “trăng với sao” là thứ tình yêu đầy thơ mộng nhưng cũng không đắp thành “nền hạnh phúc” được. Rồi tình yêu “thuyền với biển” là thứ tình yêu gắn bó keo sơn cũng gảy đổ cây “cầu nguyện ước”. Thế nhưng tác giả không quên đi bao giờ bởi vì “Quá khứ buồn cứ để lạc trôi/ Mây gió buồn cứ để dật dờ trôi” nghĩa là nó không tan đi, không biến mất, còn hóa ra thiên hình vạn trạng, dật dờ trôi trên bầu trời kia mãi mãi. Bầu trời kia là gì? Phải chăng là tâm hồn bao la của tác giả, là ký ức chứa những đám mây tình. 

Từ những kỷ niệm buồn trong đời, nhà thơ mang mặc cảm, không còn thấy mùa xuân với hoa lá của nó. Nhà thơ nghĩ rằng tất cả niềm vui trong tình đều là sự “Cưỡng Xuân” nghĩa là mình hay ai đó phải tự làm cho mùa xuân đến, và chỉ cần đến để thỏa mãn cơn khát tình là đủ:

“Ừ thì rượu. Ừ thì thơ. Ừ mộng đẹp

Ừ thì say chi hỉ hả phong trần

Đêm phập phồng, ngực nõn hứng trăng non

Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận.

 

Yêu thương nhé

Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian…”

(Say Yêu)

 Đọc cái chủ đề tập thơ là “Cưỡng Xuân” và những bài thơ bên trong như “Ẩm Trời”, “Cưỡng”, “Khát”, “Đêm”, “Say Yêu”… nhiều người có thể cho rằng nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thiên vể sự khoái lạc của tình dục. Thật thế, trong những bài thơ này tình yêu nóng như lửa, sôi động như phong ba làm da thịt người xem thơ cũng nóng lên hừng hực. Tuy vậy, nói như trên là ép tác giả. “Cưỡng Xuân” trong thơ Đặng Xuân Xuyến chỉ là hành động đáp ứng nhu cầu tình yêu cần phải có do đòi hỏi của con người, còn “Xuân” với hương hoa đầy đủ ý nghĩa của nó luôn luôn có trong thơ và trong tâm hồn tác giả nên không cần phải cưỡng. Xuân ấy là sức sống ứ căng. Có sức sống của xuân thì mới cưỡng được xuân đến với mình. Nếu nhà thơ Đặng Xuân Xuyến không có sẵn xuân trong hồn thì sẽ chẳng bao giờ cưỡng được xuân vì sẽ ít có hoa nào nở trong giá lạnh, mà không có hoa thì chẳng có xuân bao giờ. Bởi vậy đọc toàn bộ tập “Cưỡng Xuân” với 80 bài thơ ta mới thấy xuân tồn tại trong mỗi bài thơ với sức sống tươi thắm của nó, ta mới thấy xuân tồn tại trong nhiều bài thơ với chân tình của nó, với niềm say đắm đam mê, thanh khiết trong con tim chan chứa tình yêu.

Người viết xin rút gọn bài thơ có 12 câu còn 6 câu để khái quát cái điều mà tác giả tự nhủ đặt trong tim:

Đừng khắc lời thề trên đá

Đừng khắc lời thề trên cát

Đừng ghim lời thề trên lá

Hãy nghe vọng tiếng con tim!

Hãy thở nhịp đập trái tim!

Hãy đặt trong tim lời thề!

(Đừng Thề)

Hãy đặt trong tim lời thề” nhưng nếu ta bị lỗi lời thề thì phải “Cưỡng Xuân” nghĩa là cố mà quên để “đón bình minh trước cửa”: Ừ ly nữa/ Ừ thêm ly nữa/ Ừ thì say! Ừ quên quãng sống thừa/ Quên bóng tà lẩn khuất phía song thưa/ Ta cạn chén đón bình minh trước cửa. (Men Đắng)

Tuy thế nhiều khi cưỡng xuân phải chịu đau thương vì đó là hậu quá của những điều trái với lẽ tự nhiên:

Anh ngại ngùng khi em chợt hỏi anh

“Anh hạnh phục hay chỉ là chót lưỡi”

Biết nói sao để không thành giả dối

Rưng rức buồn…

Day dứt giấc mơ trăng.

(Mơ Trăng)

Với những bài thơ như “Người Xưa”, “Hương Thu”, “Tim Đau” và nhiều bài thơ khác ta thấy ở Đặng Xuân Xuyến một con tim thả lỏng tình yêu như thời còn trai trẻ, sôi động, thật thà, tha thiết, chân thành kể cả những lúc cưỡng xuân: Đứng trước em anh thành người rất lạ/ Thả rông hồn đắm đuối mắt em/ Em rất gần/ Nhưng cũng thật xa xăm/ Em hời hợt để anh thèm vị biển/ Em hoang sơ để anh khát đại ngàn. (Trả Em)

Yêu như thế là yêu với tất cả trái tim còn xuân. Lánh yêu như sau đây là lánh yêu với con tim đau nhưng vẫn là con tim còn xuân trẻ: Thôi đành như người xa lạ/ Hững hờ gom gió mùa đông/ Thẩn thơ nhìn cây trút lá/ Lánh nghe điệu lý tơ hồng. ( Lánh Yêu)

Tóm lại, đọc “Cưỡng Xuân” của Đặng Xuân Xuyến, ta có hai sự rung động cùng một lúc. Đó là sự rung động của con tim yêu chân tình, say đắm và độ lượng. Cùng lúc đó cũng bốc lên trong bầu máu nóng của ta một thứ hương tình cúa thể xác. Hai thứ hương đó quyện vào nhau cho ta sự khoái lạc lạ lùng trong nỗi đau khổ quặn thắt. Khoái lạc vì thơ Đặng Xuân Xuyến như ngùn ngụt ngọn lửa của ái ân thể xác và của âu yếm tinh thần. Đau khổ vì thơ Đặng Xuân Xuyến làm lạnh con tim, nỗi sầu được diễn tả như bông lơn nhưng làm cho người nghe quặn lòng se thắt. Thơ đó không phải là thứ thơ hư cấu. Thơ đó là thứ thơ nở ra như những bông hoa trường trãi được nẩy mầm từ hạt của nó, hạt ấy đã bị vui dập trong bao nhiêu biến động của đời./.

*

Đà Nẵng, 13 tháng 7-2017

CHÂU THẠCH 

Địa chỉ: 75 Phan Kế Bính, Đà Nẵng.

Email: truongvantran@hotmail.com

 

THẾ THÁI NHÂN TÌNH

QUA THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến gửi tặng tập thơ CƯỠNG XUÂN đã lâu nhưng vì bận nên tôi chưa viết lời cảm nhận được. Hơn nữa, nhà phê bình Châu Thạch và nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm giới thiệu tập thơ đã khá công tâm, đã đủ ý, đủ lời nên tôi cũng khó viết thêm.

Bài viết này, giới thiệu một số bài thơ ở mảng thơ thế thái nhân tình, tức thơ thế sự, của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến, đã được anh công bố rộng rãi trên các trang mạng nhưng chưa in thành sách, theo cảm nhận của riêng tôi là hay, lạ và độc đáo. Xin được chia sẻ cùng quý vị.

1.

Quê nghèo là một trong số những bài thơ hay của Đặng Xuân Xuyến. Bài thơ là tiếng lòng đớn đau của người con khi phải chính kiến cảnh đói nghèo, cơ cực trải dài qua bao năm tháng, qua bao thế hệ ở làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Bài thơ chiếm được nhiều cảm tình của người đọc, được nhiều tác giả viết lời bình nhưng chiếc cổng làng - hình tượng độc đáo trong Quê nghèo - lại chỉ được bình thoảng qua, trong khi lẽ ra phải dành cho chiếc cổng làng một lượng câu chữ nhiều hơn thế.

Tôi nghĩ chiếc cổng làng của Quê nghèo không còn là cổng làng của riêng làng Đá nữa mà là biểu tượng của thể chế đã giam hãm, trói buộc người dân trong đói nghèo, tù túnǵ... Đấy là tiếng kêu nghẹn uất của nhà thơ về nỗi đau của chế độ đã đè nặng lên cuộc sống cơ cực, khốn quẫn của người dân. Hình ảnh cái cổng làng “Sừng sững bê tông cốt thép/ Ngạo nghễ tượng đài/ Ngạo nghễ trần ai” cũng khiến người đọc liên tưởng tới hiện tượng cả xã hội thi nhau xây dựng các loại tượng đài để đục khoét ngân khố quốc gia, làm khổ thêm cuộc sống “trăm đắng ngàn cay” của người dân. Thật đau xót khi biểu tượng chiếc cổng làng - biểu tượng ngàn đời của văn hóa làng xã Việt Nam đã bị thể chế hóa, để không chỉ “Giam hãm đời người/ Tù túng giấc mơ.”, mà còn đầy đọa, đẩy cuộc sống người dân xót xa đến mức: “Quê tôi nghèo/ Nghèo cả giấc mơ.”

2.

Ru Con là bài thơ Đặng Xuân Xuyến viết tặng con trai của anh, đã làm run rẩy, xúc động trái tim người đọc bởi tình yêu con bao la, sự hy sinh cho con vô bờ bến của người cha. Nhà thơ Nguyễn Đăng Hành khi bình đã bật lên được thần thái của bài thơ:

Không một lời kể lể, không một câu đấu tố “kẻ” được gọi là “người lớn” đã “dạy hư”, làm khổ đứa con bé bỏng của mình, nhưng đã hiện lên hoạt cảnh đầy kịch tính, xúc động: “Con níu vào giấc ngủ/ Kiếm nụ cười trong mơ”.

Đọc đến đây tôi đã khóc, khóc thật sự bởi hình ảnh “con níu vào giấc ngủ” chứ không phải níu con vào giấc ngủ - “Kiếm nụ cười trong mơ” chứ không phải nở nụ cười trong mơ. Động từ “níu” và “kiếm” sử dụng thật đắt và sống động, gây được xúc cảm: Một đứa trẻ ở lứa tuổi rất ngây thơ trong sáng đã sớm hiểu chuyện, ý thức được thiệt thòi của mình mà “níu vào giấc ngủ” để “kiếm nụ cười trong mơ”, để tự bù đắp những thua thiệt cho mình. Và người cha, cảm được những giọt lệ âm thầm của người con, hiểu được những khao khát, thua thiệt của người con, đã lặng nhìn con ngủ với những xót xa trĩu nặng. Dù không vạch tội cụ thể “người lớn” nào đã làm khổ con mình nhưng người đọc vẫn nhận diện ra kẻ đó là ai và cảm nhận được nỗi uất hận trào dâng trong lòng người cha đối với kẻ nhẫn tâm làm khổ con mình. Đây là khổ thơ mấu chốt. Cấu tứ đặc biệt này tạo dòng chảy sức sống của bài thơ.

(…) Tiêu đề bài thơ tuy cũ, cấu tứ thơ lại hiền lành nhưng sự chân thực được cất lên từ tình yêu thương con vô bờ của người cha đã khiến bài thơ sống động, có sức truyền cảm, làm run rẩy, xúc động trái tim người đọc. Đấy chính là cái thành công, cái được của Ru Con!

3.

Lan man và chuyện thằng bạn viết theo trường phái siêu thực, một phương pháp sáng tác mà lớp nhà thơ trẻ thường sử dụng khi muốn làm mới thơ, được chua dòng chữ: tặng nhà thơ Nguyễn Đăng Hành, là bài thơ đã tạo cấu tứ lạ, nét vẽ riêng trong thơ Đặng Xuân Xuyến.

Khung cảnh bài thơ là nhà “thằng bạn”, thời gian là cả ngày và đêm, được vẽ bằng gam màu u ám, rờn rợn, nhuốm đầy tử khí. Bao chùm bài thơ là không khí ngột ngạt, là tâm lý sợ hãi của nhà thơ - người dân: “Tôi đã từng sợ tiếng thạch sùng / nửa đêm tờ lạch tạch não nùng...” và “Tôi đã từng sợ ma.”... Phải chăng chính bóng đêm tội ác của chế độ đã làm nhà thơ - người dân luôn sống trong tâm trạng nơm nớp âu lo hoảng loạn?

Sự giả dối, thói tham lam và bản tính độc ác, đểu giả của “thằng bạn, ám chỉ tầng lớp quan lại, được bóc trần nhẹ nhàng, từ từ khi thời gian là ban ngày (khổ thơ I), nhưng khi thời gian chuyển sang tối đêm (khổ thơ II) thì mặt nạ của “thằng bạn” bị lột trần trắng phớ, lộ rõ sự đểu giả, ma mãnh, độc ác. Chỉ cần hình ảnh “thằng bạn” với “những tờ tiền đỏ như rưới máu” cũng đã đủ để vạch trần đó là những đồng tiền dơ bẩn, tội lỗi, được trấn cướp từ mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu, là tính mạng của những người dân lương thiện. Có lẽ vì quá hiểu nguồn gốc của những đồng tiền tội ác đó nên “tôi”, nhà thơ, không hỏi “tiền nhiều từ đâu”, và “thằng bạn” cũng biết bạn mình quá rõ con người mình nên tảng lờ, “tránh nhắc từ đâu tiền nhiều”. Và, trong cái “Quánh đêm” “Rờn rợn” “tối lịm” ấy, khuôn mặt “thằng bạn” sau khi bị nhà thơ tróc bỏ hết lớp “sơn” đã hiện rõ nét là kẻ giả tạo và độc ác: Khuôn mặt bạn/ Vời vợi của thánh nhân/ Ma lanh của ác quỷ. Đến đây, chả cần xướng danh cụ thể, người đọc vẫn chắc chắn sẽ nhận ra chân tướng đích thực “thằng bạn” của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến là ai, kẻ đấy là người thế nào, và bản chất “thằng bạn” tệ hại ra sao?...

4.

Khi cảm nhận về bài thơ Tôi nghe, nhà thơ Chử Văn Long viết: “Mừng cho ngòi bút tác giả bài thơ “Tôi nghe”nếu không vững tay nghề sẽ đem kể hàng loạt những vụ tham nhũng biến chất như thế, bài thơ sẽ biến thành một “bản trường ca bất hảo” trường thiên… đọc sẽ nhàm chán bởi bản chất của xã hội, dù tha hóa đến đâu vẫn còn lại bao điều tốt đẹp, vị tha, cao cả. Và đoạn thơ thứ tư bất ngờ xuất hiện: (...) Tám câu thơ gợi hình ảnh tương phản với ba đoạn thơ trên về màu sắc sáng tối làm nên bức tranh toàn cảnh sinh động mà lâu nay mỗi khi nghĩ đến thi ca người ta có cảm giác nó là thứ nghệ thuật đã tách ra, đứng bên lề cuộc sống thì nay nó lại nhập cuộc vào vui buồn thao thức lương tri. Tám câu thơ ngắn liệm trọn số phận con người nghèo khó ở bất cứ nơi nào khi mà cuộc sống chưa có công bằng bác ái, ở bất cứ nơi nào mà bọn quan tham còn được che đậy bởi những lời nói ngoài môi “vì Đảng, vì dân”!

Nhưng tôi không đồng thuận với nhà thơ Chử Văn Long khi đọc những dòng kết luận của ông về Tôi nghe:

“Bài thơ không cần đoạn thứ năm: Tôi nghe… / Những mảnh đời khốn khó / Những anh Vươn sắp trơ lì hãi sợ / Có câu tức nước ắt vỡ bờ / Khi niềm tin rạn vỡ.

Bởi chỉ bốn đoạn trên nó đã gây được xung lực, nó đã gợi lên cho người đọc, dù vô tâm đến đâu cũng phải khơi dòng không thể để “tức nước vỡ bờ”. Nhìn lại những trận đại hồng thủy từng qua, cuối cùng vẫn lại dân đen chìm nổi cùng với đau thương gánh chịu.”

vì khổ thơ cuối không chỉ là lời cảnh tỉnh tới chế độ mà còn là khí phách dũng cảm của người cầm bút trước hiện trạng đau thương của đất nước. Thử hỏi khi mà ngàn vạn nhà thơ nhà văn, nhất là những nhà văn nhà thơ “Quốc Doanh” đang ỉ ôi than khóc với những tình anh tình em vô bổ, thậm chí còn đầy độc hại vì tính ru ngủ xã hội, thì mấy ai đã dũng cảm viết ra những dòng thơ nóng bỏng tình người, sục sôi tính chiến đấu như thế?.

5.

Bài thơ Lan man và chuyện đàn cừu cũng viết theo trường phái siêu thực, khước từ sự chú giải, phân tích theo lối thủ cựu, được chua dòng chữ: tặng nhà thơ Vũ Đình Ninh, chủ bút trang Văn Đàn Việt.

Bài thơ gồm 2 khổ. Khổ đầu là phân cảnh, là tâm trạng của những con người thuộc tầng lớp lao động, thuộc lớp dưới nhưng lại chiếm số đông trong xã hội, vất vả, cơ cực mà vẫn phải chịu cảnh đói nghèo, lam lũ... Với khát khao, mơ ước tương lai được tươi sáng, tốt đẹp hơn, “tôi” - nhà thơ, và số đông trong xã hội - đã không ngừng phấn đấu, không ngừng tin tưởng, để rồi “tôi” phải cay đắng thốt lên: “Hình như”... Câu “hình như...” nghe chua xót, tắc nghẹn nơi cuống họng làm tái tê, rức buốt nỗi lòng. Một tứ thơ “lạ” và mới.

Sang khổ 2, nhà thơ tiếp tục câu chuyện của mình nhưng “lan man” chuyện khác, chuyện của đàn cừu: Đàn cừu/ Ngoài kia... Cấu trúc bài thơ thay đổi. Cấu trúc đoạn thơ cũng thay đổi: Con đầu đàn vừa bị hóa kiếp/ Cả đàn chết khiếp/ Lẩy bẩy/ Chen đẩy/ Vào chuồng/ Ông chủ oang oang/ Bà chủ nhẹ nhàng/ Đàn cừu/ Im lặng/ Cúi xuống/ Nhai... Cách ngắt câu thành nhiều nhịp để diễn tả sát từng cung bậc tâm trạng: khiếp sợ, cam chịu,... của “đàn cừu”, tượng trưng cho những kẻ bị trị, cùng với cách sử dụng ngôn ngữ “cũ mới nương nhau”, đã đẩy bài thơ lên tầm cao.

6.

Bài thơ Văn Thùy “dị nhân”, được 2 nhà thơ Chử Văn Long và Nguyễn Đăng Hành cảm mến viết lời bình, nhưng tôi thích bài của nhà thơ Nguyễn Đăng Hành hơn vì ông đọc được cái hồn cốt, cái thần của bài thơ:

Đọc Văn Thùy “dị nhân” của Đặng Xuân Xuyến tôi thấy người gai gai, rạo rực, cứ ngỡ bài thơ này là viết về mình, viết cho mình vì thấy có bóng dáng tôi ở trong đó. Tôi tin, khi đọc Văn Thùy “dị nhân” sẽ không ít người thơ, nhà thơ có tâm trạng, cảm giác gai gai, rạo rực giống tôi. Đó chính là thành công của bài thơ, của nhà thơ. Thường thì những bài thơ đi vào lòng người là tuy viết về một người mà có hình ảnh của nhiều người, viết cho một người mà như viết cho nhiều người. Đó là thứ thơ có chất trời, chất đời, chất người. Văn Thùy “dị nhân” là bài thơ như thế.

(…) Bài thơ không hề kể lể, chau chuốt hay dụng công đắp vẽ mà cứ hồn nhiên, nhịp nhàng, đầy tràn “ứ hự”... Hai câu “Cả đời/ Đánh đổi” đã dựng lên, đã thắt lại cái triết luận: Tất cả là luân hồi, nhân quả và vô thường. Sự thành bại là sự đánh đổi của cuộc đời. Chữ “đánh đổi” đúng là “nhãn tự”, là lò so co giãn của bài thơ, như sợi chỉ xuyên suốt câu từ bài thơ. Nhà thơ tự hỏi “Được gì?” song lại tự lý giải, bình báo ngay sau đó:“Dăm ba bài thơ dán tem thơ bụi”. Rồi tiếp: “Thiếu vợ/ Thiếu con/ Đâu phải Kép Tư Bền/ Sao cứ bắt miệng cười tim héo”. Ôi đau quá! Buồn quá! Tác giả thật khéo ẩn dụ đặt con “tim héo” bên cạnh “miệng cười”, đọc mà thấy nặng tình nặng nợ. Khiến người đọc ngậm thở rồi mà phải thượt dài, phải thán phục và công nhận cái giá của sự say sưa, của sự đánh đổi được mất con chữ thi ca “thơ bụi”. Tôi đồ rằng, khi viết những câu thơ này, Đặng Xuân Xuyến phải nén lòng lắm để nước mắt khỏi tràn vào câu chữ, để hình ảnh của Văn Thùy “dị nhân” được sống động, rất đời: ngông ngạo, tài hoa mà chất nặng đắng cay.”

7.

Trò Đời, sáng tác ngày 08 tháng 05 năm 2017, với dòng chua: kính tặng nhà thơ Nguyễn Khôi, đúng dịp ông Đinh La Thăng bị thu hồi chức Bí thư Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh, triệu về Hà Nội, chờ ngày sẽ tra tay vào còng số 8.

Được viết ở thể thơ tự do, Trò Đời là bài thơ khá ngắn, không tuân thủ theo niêm luật mà viết thẳng đuột, khoáng đạt, đập thẳng và mạnh vào cái thế thái nhân tình đốn mạt, cạn tàu ráo máng của giới quan chức, của những kẻ khi đương chức đương quyền thì tận lực tham ô, sống thủ đoạn, bất nhân bất nghĩa nhưng khi nghỉ hưu thì lại cố rặn ra những câu trơ trẽn bảo nhau “ráng làm người tử tế” như để mà chuộc lỗi những năm tháng làm quan hút máu dân đen, sống như phường cầm thú.

Mượn giọng bất cần của một ông quan đang bị thất thế để lột trần bộ mặt đểu giả của chốn quan trường, nhà thơ ngông nghênh chửi đời, chửi bản chất chốn quan trường là “lưu manh”, “Đếch có chữ tình”, là “truy cùng diệt tận” đối thủ chính trị cho dù đối thủ ấy đã “Thất thế sa cơ”, đang cố diễn trò “Ráng “làm người tử tế””...

Câu kết bài thơ: Ngã ngựa rồi mới thèm một chữ NHÂN, không chỉ là sự trả giá của gã quan thất thế, đang hoặc sẽ bị đối thủ chính trị “truy cùng diệt tận” mà còn là lời cảnh tỉnh cho những kẻ đang làm quan, sẽ làm quan hãy sống cho tử tế, cho ra một con người để có đường lùi, có sự an toàn khi hạ cánh.

Chữ NHÂN là nhân tâm, là phần NGƯỜI trong 2 chữ CON NGƯỜI thật đáng quý làm sao!

8.

Khi bình về bài thơ Bạn Quan, nhà thơ Chử Văn Long hạ bút:

Tôi thật ngưỡng mộ vì nội dung, giọng điệu, câu chữ già dặn, từng trải, vừa tiếp thu cách nhìn đời, nhìn người của các lớp nhà thơ cha anh mỗi khi bĩ cực, nhưng hơn hẳn lớp nhà thơ ăn theo xã hội bây giờ, khi vui thì vỗ tay vào, hết lộc thì thở ra những lời ai oán vụn vặt làm người đời chán đọc thơ vì vậy.

Thơ Đặng Xuân Xuyến cũng mượn hơi men “giả tỉnh giả say” như để có cớ lôi tuột những mưu mô giả trá của một xã hội đang thịnh hành, đang phân hóa, làm đảo lộn hết đạo đức, nhân cách, làm người dù chỉ giới hạn bằng những lời bộc bạch, tâm sự của hai người bạn lâu ngày gặp lại, có nhu cầu phơi trải lòng mình thật đến nỗi chỉ thiếu cái tát bằng những ngón tay in lên mặt nhau, dù làm quan có chức tước giàu sang hay là dân ngu ngơ, nghèo túng, khi nhìn lại đời mình đều nhục, chưa thấy xứng kiếp người, tự mình thấy mình như súc vật, kiếp ngan, kiếp chó....

Tình bạn xa lâu ngày gặp lại nhau, người ta thường ôn lại kỷ niệm trong lành một thuở, rồi mới có nhu cầu hỏi han công việc hiện tại gia cảnh của nhau. Đằng này có tình bạn ngày xưa của họ chỉ phụ họa thêm cho nỗi ấm ức về những rối ren, bất công xã hội. Thằng học giỏi không sống thủ đoạn thì làm dân quèn, thiếu cơm rách áo. Thằng học ngu, biết nịnh nọt cúi luồn vẫn có thể mua được chức tước lên quan để kiếm bổng lộc bạc vàng, thành ra cuộc gặp gỡ nơi chôn nhau cắt rốn lại là cái cớ để nổ ra cuộc vạch mặt chỉ tên những bất công xã hội đang ấm ức nơi lòng mỗi kẻ.

Bài thơ thành bữa tiệc giữa hai người bạn thết nhau vị ngọt bùi, cay đắng tình thân, vừa là của riêng, lại vừa dọn mời người đọc nhâm nhi, cụng chén ở những năm tháng đời người thật ít điều vui, ít tình thân thiện và gần như không còn thứ tình cảm tri kỉ mà ông cha ta đã ngìn năm trồng cây cho gỗ nên trầm. Giờ rừng bỗng dưng bị đốn trụi. Tình người rồi sẽ sao đây! Đặng Xuân Xuyến đã gửi tâm sự lòng mình vào thơ cho vơi ấm ức! Có lẽ chỉ còn thơ có thể an ủi anh chăng!”

9.

Nhớ Mẹ viết theo cách cũ. Hình ảnh về mẹ rất gần gũi, thân thuộc, rất đẹp trong ký ức mọi người: Mẹ gửi đồng xa tiếng cười / Mẹ mong đơm mùa trĩu hạt / Nhọc nhằn nhuộm lời mẹ hát.... Những hình ảnh tương tự như thế đã được nhiều nhà thơ sử dụng, nhưng những câu thơ cất lên từ trái tim hiếu thảo của người con, với những hình ảnh sống động, sâu lắng về Mẹ: Nhớ những chiều nắng tắt / Kẽo kẹt gánh rau mẹ vội về nhà / Dáng mẹ xiêu xiêu run rẩy chiều tà... và: Cha ở phương xa / Chúng con còn bé dại / Gánh nặng gia đình trĩu nặng đôi vai... rất của riêng Mẹ của Đặng Xuân Xuyến mới làm nao lòng người, mới gợi được cảm xúc nơi người đọc, lấy được cảm xúc của người đọc.

Bài thơ được đẩy lên cao trào, lấy thêm nước mắt của người đọc khi thẩm tiếp những câu “tan nát cõi lòng” của người con hiếu thảo: Con muốn hỏi trời cao / Con muốn cào đất rộng / Đâu là lẽ công bằng / Mẹ một đời nhân hậu thẳng ngay / Sao lắm cơ cực đắng cay / Lặng thầm qua đời mẹ... Hình ảnh người con trai: Ngửa mặt nhìn trời tay con nắm chặt / Nước mắt ngược vào tim mặn chát... để chất vấn trời cao, chất vấn số phận... đã cứa vào tim người đọc. Ở khổ thơ thứ 3 này, nhà thơ lần nữa thể hiện tay nghề vững, thể hiện sự rành rẽ về tâm tư, tình cảm và những yếu mềm của trái tim... để viết lên những câu thơ rung động lòng người, dâng lên Mẹ.  

Chưa hẳn là bài thơ tuyệt hay, thật đặc sắc nhưng Nhớ Mẹ của Đặng Xuân Xuyến là một trong số những bài thơ hay và đẹp về lòng hiếu thảo.

10.

Bài thơ “Về quê đi mày” cũng là bài thơ hay, chan chứa tình của Đặng Xuân Xuyến với bè bạn, quê hương. Tôi thật sự ấn tượng khi đọc nhà văn Dương Ninh Ninh  cảm Về quê đi mày với những dòng:

Về quê đi mày”, thoạt nghe tưởng như đây là tiếng nhà thơ nhắn gọi người bạn cũ. Nhưng tĩnh lòng lại, ta sẽ nhận ra đó không phải là tiếng gọi thực của nhà thơ mà là những âm vang của thời thơ dại. Cái thời thơ dại ấy tuy đã qua đi lâu rồi nhưng nó vẩn còn lưu bóng dáng những kỷ niệm về nó trong  tâm hồn mỗi người. Sau mấy chục năm, bươn trải trong thực tế phũ phàng của cuộc sống, mê mải trong những toan tính khôn ngoan của người lớn và đứng trước biết bao cơn bão tinh thần muốn xô đổ những giá trị tình cảm đạo đức, tưởng như những dấu vết ngây ngô của thời thơ dại ấy đã bị xóa nát. Nhưng không, nó chỉ ngủ yên trong lòng mỗi người để khi có dịp thì thức dậy. Với nhà thơ Đặng Xuân Xuyến cũng thế, khi anh nhớ tới người bạn hiền đã biền biệt “hai mấy năm trời” thì cũng là lúc những kỷ niệm thời thơ dại của đôi bạn bừng thức dậy trong lòng anh, âm vang thành những tiếng thơ đầy khao khát được gặp lại bạn để cùng nhau về quê ôn lại thời thơ dại ấy, bởi chỉ có về quê mới có thể tìm lại những dấu vết ngây ngô khờ khạo nhưng hồn nhiên trong sáng vô tư đã qua đi rồi ấy.

Cái hay của tiếng gọi “Về quê đi mày” là ở đấy, ở chỗ nó vừa ảo vừa thật. Và vì thế tôi thích bài thơ này của Đặng Xuân Xuyến.”

&.

Vài cảm nhận cá nhân về một số bài thơ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến, có gì bất cập, mong nhận được ở quý vị sự lượng thứ.

*.

Thái Bình, 10 tháng 1-2018

ĐỖ ANH TUYẾN

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê,

huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Email: dovantuyenbk@yahoo.com.vn

 

NHƯ THIẾU NỮ

ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC???

*

(Gửi nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)

Lọc ra chừng 8 bài thơ viết về biển của Nguyễn Thanh Lâm để bình riêng BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM trong RỪNG XANH MƯA là một việc làm khéo léo. Và bài bình đã làm bật lên cái ý “Thơ ông viết về biển, bài nào cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện của cõi Thiền”

Nhưng có lẽ vì bị ám ảnh bởi sự thánh thiện của cõi Thiền nên Đặng Xuân Xuyến đã không dưới 2 lần khen Nguyễn Thanh Lâm:

1/

với Nguyễn Thanh Lâm thì biển không chỉ dịu dàng như thiếu nữ tuổi dậy thì mà còn đẹp hơn thế, khi ông phát hiện: biển trong mưa thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết “Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”, chỉ nên chiêm ngưỡng bằng tâm thể thánh thiện của cõi Thiền. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ và cõi phàm trần “trở bệnh tương tư”, “ngẩn ngơ” tiếc nuối:

Biển lại mưa

Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc

2/

Khi mưa tạnh, biển trở lại hiền hòa, êm dịu, thì dưới lăng kính lãng mạn của nhà thơ, biển đẹp như “cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc”, còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn. Nét đẹp ấy mơn mởn những phồn thực mà hồn nhiên, sáng trong, lặng thầm của hương trinh nữ, làm xuyến xao nhà thơ với miền cảm mến thanh tao, không vẩn nét phàm trần, khiến những trăn trở, nghĩ suy của nhà thơ về trách nhiệm với cuộc đời trở nên an nhiên, tự tại

Lòng tôi rỗng không ngắm biển

Tóc trắng trên đầu lặng sóng

Mắt khép hờ lỏng then quá khứ - tương lai

Hồn nhiên nhịp thở

Hương hạnh phúc dâng đầy”

Liệu các thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc có “đẹp trắng trong, tinh khiết, có còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn...” không?

Không xét đến, những người đi tu, nếu là nam thì theo dân gian, đa phần đều là “trốn việc quan đi ở chùa”, mang danh tu hành hoặc nương nhờ, lánh vào cửa Phật để “trốn việc quan” (như phu phen, tạp dịch, thuế má, lính tráng, thậm chí trốn trọng tội đã vi phạm ngoài đời... nói chung). Chính vì thế một số triều đại phong kiến đã phải ra chính sách hạn chế người đi tu. Tác phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh đã nói rõ điều này: Sãi nói mình là người đi tu bất đắc dĩ, đầu Phật cốt để "khỏi xâu, miễn thuế", nay thấy Vãi "thanh tân, đẹp đẽ" nên muốn rủ Vãi "tu hoài, tu hủy". Bị trách mắng, bị cự tuyệt, Sãi chẳng cần dấu diếm, bày tỏ hết cái chân tướng "hổ mang" của mình ra...

Còn các thiếu nữ đã xuống tóc đi tu như trong thơ Nguyễn Thanh Lâm và trong lời bình của Đặng Xuân Xuyến thì văn học nước nhà cũng đã có không dưới ba nàng nổi danh:

Truyện Quan Âm Thị Kính cốt tả đức tính nhẫn nhục và lòng từ bi của bà Thị Kính, vì đó mà sau này bà trở thành Phật Quan Âm. Nhưng người con gái nết na, xinh đẹp ấy  cũng vì bị nghi oan âm mưu giết chồng, bị nhà chồng mắng chửi và đuổi về nhà bố mẹ đẻ nên quá buồn tủi, bèn giả trai đến tu ở chùa Vân (Vân Tự), được đặt pháp danh là Kính Tâm.

Hàng loạt ca khúc nổi tiếng "Chuyện tình Lan và Điệp" viết về đôi trẻ yêu nhau nhưng bị số phận đớn đau chia uyên rẽ thúy, được nhiều người ví như Romeo và Juliet hay Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài của Việt Nam, lấy nguồn từ tiểu thuyết "Tắt lửa lòng" của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cô thiếu nữ Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu và rồi kết cục:

“Đời Lan khác chi,

Như một cành hoa xuân hương sắc sớm phai mau

Một đêm gió mưa bên ngọn đèn quạnh hiu

Lan đã cướp linh hồn

Ngoài xa từng tiếng cú kêu sương nghe thê lương

Gió than não nề trong màn đêm nghe đau thương

Từng hồi chuông ngao ngán ngân dài như khóc than,

Tiễn một linh hồn’’ 

Một chú tiểu cũng tên là Lan trong “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng là một cô gái vì lý do đặc biệt mà phải cải nam để tu hành. Giả trai rồi mà chú tiểu Lan vẫn còn xinh đẹp đến nỗi chàng sinh viên Ngọc, lần đầu lên chùa gặp mặt đã phải thắc mắc: "Quái lạ! Sao ở vùng nhà quê lại có người đẹp trai đến thế, nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng trong trẻo như tiếng con gái”. Và rồi Ngọc đã nhanh chóng phải lòng Lan. Và sự có mặt của Ngọc đã đánh thức trong Lan cái gọi là tình yêu, gieo vào tim nàng những tiếng yêu êm ả.

Vì vậy ví von:

“Biển lại mưa

Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”

Không hẳn là trắng trong tinh khiết như nhà thơ và cả người bình đã cảm hứng. 

Về Mưa biển, tôi nhớ nhà thơ, nhà giáo Thúc Hà (Hà Thúc Chỉ), dạy học ở Hải Phòng cùng thời với tôi có viết:

“Bỗng đâu mây kéo tối sầm

Con thuyền xa cũng khuất dần dặm khơi”

Trong âm nhạc cũng có bài hát nổi tiếng Mưa trên biển vắng, vốn là một ca khúc tiếng Pháp được dịch lời sang tiếng Việt:

“Mưa buồn mãi rơi trên biển xưa âm thầm

Ôi biển vắng đêm nao tình trao êm đềm

Cơn sóng nào, gợi lên nỗi đau trong em

Bao nhiêu chiều lang thang …. một mình”

Xem ra thơ và nhạc về biển trong mưa không thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết mà buồn buồn, ấy là biển trong mưa không phải vào những hôm chớp bể mưa nguồn. 

Thích bài bình của Đặng Xuân Xuyến thì viết thế thôi.

*

Sài Gòn, ngày 9 tháng 5-2018

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

Email: bnguyen37@gmail.com

 

THƠ VỀ RƯỢU HAY NỖI BUỒN RIÊNG MÌNH

VÀ NỖI BUỒN NHÂN THẾ CỦA NHÀ THƠ 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN?

*

Tuần trước, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến gửi cho tôi chùm thơ về rượu của anh, bảo để tôi đọc cho vui nhưng vui sao được khi mà cả chùm 10 bài thơ đều thấm đẫm một nỗi buồn: Nỗi buồn riêng mình của thi nhân và nỗi buồn vì nhân tình thế thái. 

Người ta thường nói “Trà tam tửu tứ", nghĩa đại chúng nhất là “Uống trà không nên quá 3 người, mới thưởng thức hết cái thú vị của nó. Còn uống rượu phải từ 4 người trở lên mới vui, mới náo nhiệt”. Nhưng trong 10 cuộc rượu của Đặng Xuân Xuyến khồng hề thấy có một cuộc rượu bốn người nào mà chỉ thấy toàn những cuộc rượu một mình nhà thơ hay những cuộc rượu có thêm một người nữa là hai. Và cả chùm 10 bài Thơ Về Rượu thì có tới quá nửa số bài là độc ẩm.

 Trước hết là bài Một tôi với lời đề tặng cháu Đặng Hải. Bài thơ chỉ có 6 câu nhưng cả 6 câu đều bắt đầu bằng từ “Một”:

Một chai

Một chén

Một tôi thôi

Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi

Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh

Một tiếng thở dài tôi với tôi!

Chai rượu chỉ có một, chén rượu cũng chỉ có môt. Chai rượu có một thì không nói làm gì vì có thể không là chai bé mà là chai vừa hay chai to đong đầy rượu để uống. Nhưng chén rượu chỉ có một thì lại khác. Bởi lẽ bộ chén uống rượu thường với 4 chiếc, 8 chiếc hay 12 chiếc hoặc nhiều hơn, nhưng đều là số chẵn vì người Á Đông vốn kỵ số lẻ, không đủ đôi đủ cặp. Câu thơ “Một chén” vì người uống rượu không có ai khác ngoài “Một tôi thôi”. Độc ẩm, uống rượu một mình. Đã cô đơn như thế, bối cảnh không gian và thời gian lại là:

Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi

Một đêm, một làn gió cứ mãi chuyển quanh một điểm, một phạm vi hẹp là cái chỗ tôi ngồi nhỏ bé.

Thi nhân đã cô đơn lại thêm làn gió cũng cô đơn và cái chỗ ngồi cũng lẻ loi nên không khí bao quanh lạnh lùng là không thể khác.

Vì vậy, nhà thơ muốn tìm một ai đó để uống cùng nhưng buồn thay lại chỉ là:

Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh       

Bàn tay của mình quờ tìm lên vai của mình bởi có ai đâu ngoài một chai, một chén, một mình tôi. Bàn tay lạnh và bờ vai cũng lạnh làm bật lên: 

Một tiếng thở dài tôi với tôi!

Tôi với tôi, không có ai chia sẻ.

Bài thơ ngắn mà giàu cảm xúc. Ngoài lối điệp liên tiếp tiếng một ở đầu câu toàn bài thơ, tác giả còn khéo dùng các câu thơ dài dần từ 2 tiếng đến 3 tiếng trong ba câu đầu diễn tả sự cô đơn rồi chuyển sang 3 câu 7 tiếng để kết thúc bằng một hơi thở dài buồn bã. Nhà thơ không nói thêm gì ngoài 6 câu thơ nhưng người đọc đều hiểu, còn hai câu nữa, bẽ bàng, xót xa cho thân phận của mình nhưng Đặng Xuân Xuyến không viết ra bởi thi hào dân tộc Nguyễn Du đã nói hộ nàng Kiều từ 200 năm trước:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

 Rượu say là cuộc độc ẩm của nhà thơ dưới trăng nên không lạnh lẽo lắm, vì vậy mà tinh thần có phần phấn khích:

Ừ này thì rượu. Ừ thì say

Ừ rượu tri âm ủ lâu ngày

Ta uống đêm nay cho thỏa thích

Cho trời cùng đất ngất ngưởng say.

Thế rồi say trong men tình chiu chắt, say trong rượu ngọt đào thơm và say trong lời hứa với bạn nào đấy, nhà thơ không cần đoái hoài tới chú Cuội từ nơi cung Quế xuống khẩn khoản mời lên chơi:

Ta chẳng ghé đâu. Ta ở đây

Sóng sánh mềm môi chén rượu đầy.

Thôi Cuội về đi ta chỉ muốn

Đêm nay thỏa thích ta được say.

Bài thơ là một tưởng tượng đẹp, phóng túng và táo bạo nhưng xét cho cùng cũng vì cô đơn quá nên tưởng tượng hão huyền thế thôi, giống như thi bá Tản Đà thế kỷ trước cũng vì buồn nơi trần thế nên ngẩng đầu tâm sự với chị Hằng vào một đêm thu rồi thể hiện rõ nguyện vọng của mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Một mộng tưởng lên cung trăng bầu bạn với chị Hằng của Tản Đà hay mộng tưởng chú Cuội trên cung Quảng xuống mời mình lên chơi của Đặng Xuân Xuyến, xét cho cùng đều là muốn thoát ly cõi trần quá buồn chán.

Tiệc Rượu Trong Mơ cũng là một cuộc độc ẩm diễn tả tâm trạng muốn thoát cái “Một tôi” đơn côi bằng cách để trí tưởng tượng hiện lên một thằng bạn đối tửu trong mơ. Cuộc đối tửu đã đến hồi kết:

Dốc ngược chai

Chắt thêm vài giọt rượu

Cạn ly này

Mai mỗi đứa một nơi

Cả hai đều đã say nên cứ mày rót, tao rót, khề khà nhấp môi rồi kể lể tình cảnh ngày mai chia ly mỗi thằng mỗi ngả, mày tao đều chung kiếp không nhà nhưng rồi sẽ:

Tao xa lạ

Cõi trần đày đọa

Mày xa hoa

Tiên cảnh phiêu bồng...

Và họ cứ cạn nhé, cạn nhé chưa biết cuộc rượu tàn khi nào. Bài thơ tưởng như mình đã có bạn cùng uống rượu. Nhưng than ôi, đó chỉ là một cái bóng người trong mơ.

Men Đắng cũng là bữa rượu một mình không buồn nhưng lại đầy cay đắng vì một nghĩa vợ tình chồng đã tan vỡ, từ mười lăm năm trước về trong hơi men hôm nay, cũng là men rượu năm đó, cái men mà:

Chót nhấp môi ta trượt bước xuống bùn

Cho nên tay nâng chén mà trong lòng vẫn cảm thấy:

Thon thót sợ vô tình gặp lại.

Tự gật đầu với mình “Ừ ly nữa”, thêm rượu để cố quên đi nhưng:

Cạn ly này có quên được chuyện xưa?

Đau thương đấy đến ngày nào lành sẹo?

Và rồi chuyện xưa cứ hiện về rõ mồn một:

Ừ thì cứ trách ta bạc bẽo

Cứ rêu rao ta ân ái hững hờ

Nhưng đâu phải thế, mà chỉ vì:

Quá thật thà ta ra kẻ ngu ngơ

Ngớ ngẩn cược đời mình nơi kẻ chợ.

Người đã như yêu tinh, như hồ ly mà lại thêm trời cũng ăn ở bất công: Trời cao xa dung dưỡng lũ yêu hồ

Nên ta đành phải:

Cố vẫy vùng thoát xa khỏi chốn nhơ

Ta chết lặng nửa đời không phân tỏ.

Men Đắng đầy bi phẫn vì không biết phân tỏ cùng ai, tưởng như sẽ đẩy nhà thơ vào miền bế tắc. Nhưng may thay vẫn có một chút ánh sáng là khi cuối cuộc độc ẩm, nhà thơ đã nhận ra chân tướng không tốt đẹp gì của người đã đi qua đời mình nên tự gật đầu thêm cho mình ly nữa, ly nữa để quên đi cái bóng tà xưa và hướng tới một bình minh đang đợi: Quên bóng tà lẩn khuất phía song thưa/ Ta cạn chén đón bình minh trước cửa.

Bữa rượu một mình cuối cùng trong chùm thơ về rượu là bài thơ Chết. Bài thơ chỉ có 4 câu nghe như tiếng nghẹn nấc khi nhà thơ nhấp chén rượu buồn cay đắng tiễn người mình yêu đi lấy chồng và thấy trái tim mình đang dần chết: Kể từ trăng tàn ấy/ Ta chết dần ai hay.

Bài thơ khiến nhiều người nhớ tới Chuyện tình buồn của nhà thơ Phạm Văn Bình đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc:

Ngày nhà em pháo nổ

Tâm hồn anh nhuốm máu

Ôi nhát chém hư vô

Ôi nhát chém hư vô.

Chuyện Tình Buồn chứ không phải Chết nhưng cũng nhuốm máu đau thương bởi những nhát chém hư vô!

 Thế Gian Say gọi là cuộc rượu một người cũng được hay cuộc rượu hai người cũng được. Một người vì bài thơ là lời của Đặng Xuân Xuyến nói về thế gian say. Hai người vì bài thơ có đề tặng nhà thơ Hoàng Xuân Hoạ khiến ta có thể hiểu là hai thi nhân đã đối ẩm với nhau rồi phiếm đàm về thế gian say và sau cuộc rượu thì nhà thơ họ Đặng ghi lại gửi tặng nhà thơ họ Hoàng. Dù hiểu cách nào thì Thế Gian Say cũng là một phiếm đàm về cái say rượu của người đời:

Thế gian say đòi đập chén trở cờ

Thế gian cười.

Thế gian khóc. 

Thế gian mơ

Người đời say đòi “đập chén trở cờ” rồi cười, rồi khóc, rồi mơ, rồi thêm nữa:

Ngật ngưỡng bước.

Khành khạch cười.

Chửi cha thiên hạ dở!

Tôi từng nghe, cũng chính người đời đã phân ra ba loại say lớn trong thế gian: Loại thứ nhất, say như khỉ, hết "nhảy múa rồi đến ca hát hay chửi bới”, loại thứ hai, say như lợn, "nặng nề, trì trệ và muốn ngủ", loại thứ ba, say như dê, "không có đầu óc, nhưng dâm đãng".

Thế gian say trong thơ Đặng Xuân Xuyến thuộc loại thứ nhất, say rồi chửi cha thiên hạ. Thế thì có sao, thưa hai nhà thơ Đặng xuân Xuyến và Hoàng Xuân Hoạ? Chí Phèo kia, khi say hắn đã chửi tuốt luốt đấy thôi: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại... Nhưng Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại đã thấm gì so với Trương Tửu và bạn ông khi say:

Chửi Đông, chửi Tây chửi tất cả

Hình như hai nhà thơ họ Đặng và họ Hoàng rất tương đắc khi chê “Thế gian say đòi đập chén trở cờ”. Tôi tra từ điển “trở cờ” nhưng không thấy mà chỉ có “trở” được định nghĩa “Đảo ngược vị trí đầu thành đuôi, trên thành dưới, trái thành phải hoặc quay ngược lại đi hướng khác”. Dù thế nào trở cờ cũng là xấu. Cái chén nó vừa đựng rượu cho mình uống giờ say đòi đập nó, không xấu thì là gì?

Bài thơ Thế Gian Say hay nhất ở câu cuối:

Rượu ba xu. Thế gian hóa thằng rồ!

Ngày xưa, tiền chi tiêu trong dân chúng là tiền gián, với một quan là 360 đồng, dưới đồng là hào, dưới hào là xu rồi đến chinh và kẽm. Ca dao Việt Nam có nhắc đến người nội trợ đi chợ:

Một quan tiền tốt mang đi

Nàng mua những gì mà tính chẳng ra

Thoạt tiên mua ba tiền gà...

Ngày nay, đồng tiền Việt Nam được lưu hành trong dân chúng, thấp nhất là tờ giấy bạc một nghìn đồng. Nhà thơ Nguyễn Khôi có kể về vợ mình đi chợ:

Nửa triệu tiền tốt mang đi

Em mua những gì?- máy tính thẩm tra

Xem vậy, rượu ba xu thời nào cũng là thứ rượu rẻ tiền nhất. Nên cái đáng cười người đời là đã phải uống cái thứ rượu mạt hạng ấy mà không biết mình là ai lại đòi đập chén trở cờ rồi cười, rồi khóc, rồi mơ và chửi thiên hạ để chính thế gian gọi là thằng rồ. Nhưng trong cái đáng chê cười ấy cũng nên có chút lòng thương xót vì họ toàn là dân nghèo khốn khó. Những kẻ giàu sang chơi những loại rượu Sake, Shochu, Whisky, Chivas… dẫu có say điên đảo vẫn có kẻ hầu người hạ và có ai dám bảo chúng hoá thằng rồ đâu. Bởi ở đời này, “ông” nào nói to, “ông” nào nhiều tiền thì “ông” ấy đúng!

Vả lại:

Thế gian còn dại chưa khôn

Sống mặc áo rách chết chôn áo lành

Vậy phiếm đàm về thế gian say thì cứ phiếm nhưng đừng quá chê trách họ.

Những cuộc rượu hai người trong chùm thơ về rượu của Đặng Xuân Xuân Xuyến hầu hết thấm đẫm nỗi buồn vì nhân tình thế thái.

Hai bài thơ Quan Trường và Bạn Quan đều diễn đạt tâm trạng nhà thơ khi uống rượu với hai người bạn làm quan. Thói thường khi có bạn làm quan người ta thường hãnh diện và coi đó là một may mắn và một diễm phúc. Nếu bạn là quan lãnh đạo cấp cao, người ta còn cố chụp chung một bức ảnh bắt quàng làm họ rồi treo giữa sảnh khách để loè khoe thiên hạ. Đặng Xuân Xuyến, ít nhất có hai bạn quan nhưng anh không có cái ý khoe khoang đó . 

Thằng bạn trong Quan Trường là một quan chức to vừa “ngã ngựa” vì bị bọn đồng liêu ganh ghét không cùng dòng chảy với chúng:

Đục kín dòng mày lại cố gượng trong

Chúng nó đập bởi mày không chịu hỏng

Vì thế, nhà thơ an ủi bạn:

Nào, cứ uống, đếch gì mày phải ngại

Làm “quan to” ngã ngựa cũng chả hèn

Thiên hạ cười. Thây kệ thiên hạ soi

Mày giả xỉn để đời thôi khốn nạn.

Rồi chân tình khuyên bạn:

Ừ. Thế nhé. Lấy gia đình làm trọng

Cứ vui đi, mặc thiên hạ vào tròng

Tiếc làm gì mấy thứ của phù du

Thiên trả Địa, đếch gì mày cay cú.

Bài thơ cho ta thấy, tuy không làm quan nhưng Đặng Xuân Xuyến biết rất rõ chốn quan trường. Nơi mê cung bí hiểm ấy luôn có những đám mây đen âm mưu vần vũ, sóng gió lật đổ thanh toán nhau bất kì nổi lên gây ra không biết bao nhiêu thảm kịch. 

Ở đấy đầy dẫy những kẻ mặt dày vô sỉ, đầy quyền mưu quyền biến, đổi trắng thay đen, gian hùng, giả nhân giả nghĩa…Vì thế nhà thơ gọi chốn quan trường là nơi thiên hạ đú, thiên hạ cù và văng thẳng câu chửi vào cái thiên hạ ấy:

Nào. Uống nhé! Kệ cha thiên hạ đú

Nào. Cứ say! Mặc mẹ thiên hạ cù

Rồi mời rượu bạn để:

Tao với mày trận nữa ngoắc cần câu

Cho trôi tuột trò nhố nhăng thế sự.

Thái độ của nhà thơ là rất thẳng thắn coi khinh chốn quan trường và cảm thông sâu sắc với bạn mình, tuy làm quan nhưng vẫn còn chút thanh sạch và chưa bị tha hoá nên đã bị cả một lũ quan trường, chúng nó đập.

Người bạn quan thứ hai của nhà thơ trong bài Bạn Quan là một quan chức đang tại vị, về quê mở tiệc tẩy trần, khách mời là nhà thơ bạn cũ. Thằng bạn quan này thì khác thằng bạn quan bị ngã ngựa, bởi thế nhà thơ đã mượn rượu giả say để có cớ vạch trần bộ mặt thật của thằng bạn cũ lâu ngày gặp lại:

Mày làm quan chắc kiếm bộn tiền

Chức ấy rẻ mà sinh lắm lãi

Mày là thằng đã bỏ tiền ra để chạy chức, xong rồi thì phải thu hồi vốn, thu hồi xong phải làm lãi bằng cách vơ vét, ăn không từ thứ gì của dân.

Thêm nữa, cái tài học và tâm địa của mày, hai ta đâu có lạ gì nhau:

Mày học ngu nhưng thủ đoạn tài

Tao học giỏi nhưng mù thủ đoạn

Tưởng nói trắng phớ ra như thế thì mình sẽ hả dạ, bớt đi đau buồn thua thiệt trong cõi đời đen bạc. Còn nó, thằng bạn quan sẽ mất mặt vì nhục nhã. Nhưng cái hay ở bài thơ là thằng bạn lại không thấy như thế. Mà y đợi:

Rượu tới tầm

Mày ghé tai tao

Nói thật nhỏ

Căng tai mới rõ

Ơ hay, sao chỉ có hai người bạn uống rượu tẩy trần mà y lại phải “ghé tai”, “nói thật nhỏ” đến nỗi bạn phải “căng tai mới rõ”. Phải chăng quen sống ở chốn quan trường, nơi mê cung bí hiểm đã thành động hình trong y, lúc nào cũng phải giấu giấu diếm diếm những cái gọi là sự thực. Nay chỉ có y và thằng bạn mà y vẫn chửi là “Quá nửa đời mãi chửa hết ngu…” thì nỗi sợ ấy không còn nữa nên y mới có đủ dũng khí để nói ra cái sự thực ấy:

“Làm người khó

Làm quan càng khó

Chốn quan trường chó, vịt giống nhau…”

“Quan càng lớn, chữ nhân càng nhỏ…”

“La liếm quen rồi nào biết bẩn nhơ!”

Đúng là y nói rất thật nhưng cũng đúng y là một thằng học ngu vì y chưa đọc hết câu: “Làm người là khó, làm người xã hội chủ nghĩa còn khó hơn nhiều

Vẫn đang đà giả tỉnh giả say, nhà thơ làm ra bộ ngớ ngơ: Khen các quan vì dân vì nước. Ai ngờ thằng bạn quan cũng đang đà được nói thật nên đáp lại cũng rất thật: Đời đã chó/ Quan trường càng chó

Tuy y nói thật thế nhưng y vẫn đang làm quan. Bữa tiệc tẩy trần hôm nay là tiệc của nhà quan được mua sắm bởi những đồng tiền y đã “Ăn của dân không từ cái gì”, đã “La liếm quen rồi nào biết bẩn nhơ”. Vì vậy, nhà thơ cần phải nói thẳng nốt với y:

Rượu mày mời

Tao uống khó trôi

Thịt mày gắp

Tao nhai khó nuốt

Bạn Quan là một bài thơ hay, một cuộc rượu hai người đầy kịch tính, cả hai đều mượn hơi men để nói thật lòng mình, rất đúng với câu “Lời say sưa mới là câu chân tình” (Trần Huyền Trân) cho ta thấy bộ mặt thật xấu xa bỉ ổi của bọn quan trường trong xã hội hiện nay.

 Đời Khát với lời đề tặng nghệ sĩ Võ Hoài Nam là cuộc rượu của đôi bạn, một nhà thơ và một nghệ sĩ. Hiển nhiên rượu phải ngon và quý: Rượu tình đời men ủ nhiều năm. Họ khát gặp nhau và khát cả rượu nên cuộc đối tửu là một trận càn khôn túy lúy:

Này thì khát!

Uống cho đời đỡ khát

Rượu tình đời men ủ nhiều năm

Khát chất chồng

dồn nén

tháng năm

Ta đốt cạn cái đong đời cay đắng

Họ liên tiếp chuốc rượu mời giục nhau trong ba khổ thơ liên tiếp khổ nào cũng mở đầu bằng hai câu:

Uống!

Thì uống!...

Uống để cho hết u buồn, cho Nhật Nguyệt hửng nắng, cho lòng ta và lòng bạn không hổ thẹn giữa một thế gian “sấp ngửa trắng đen”, và để: Rượu tri âm thêm vững mạnh bước đường! Đúng là thi nhân, nghệ sĩ say thì chữ nghĩa tràn chiếu rượu

Thân phận nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thì bạn đọc đều đã biết, chỉ xin vài nét về tài tử Võ Hoài Nam để mọi người hiểu thêm về kèo rượu của đôi bạn.

Bố mẹ Võ Hoài Nam ly hôn khi anh mới lên hai, kể từ đó, Võ Hoài Nam sống như một đứa trẻ không có gia đình. "Đầu đường, xó chợ đã dạy tôi nên người”. Đấy là lời dũng cảm anh tự nói ra. Trở thành diễn viên chính trong series phim "Cảnh sát hình sự", Võ Hoài Nam được coi là một trong những tài tử hàng đầu của điện ảnh phía Bắc. Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, anh bất ngờ rời xa màn ảnh cùng vợ mở quán ăn để có đủ cơm áo chăm lo cho đàn con 4 đứa..

Võ Hoài Nam tâm sự: "Đối với tôi, tiền không phải là tất cả, tiền không đánh đổi được tình nghĩa, hạnh phúc gia đình. Nghĩ vậy nên tôi dừng lại, không dấn thêm một bước nữa". Thật không hổ thẹn khi không ham tiền và ham sự nổi danh dưới ánh đèn sân khấu.

Đúng như câu thơ Đặng Xuân Xuyến:

Ta như bạn sống một đời không thẹn

Say Yêu là cuộc rượu của nhà thơ với người tình. Một cuộc rượu đã đến hồi rượu ngọt, môi mềm và “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”:

Nào nâng chén cho sầu sầu rũ bỏ

Trút áo xiêm cho đêm bớt ngại ngần           

Đây rượu nồng, men ủ đã nhiều năm

E ngại thế... Làm sao ta chẳng giận

Và rồi mặc dù đêm lạnh lắm nhưng đã say yêu, đã trút áo xiêm rồi thì cái gì đến sẽ phài đến:

Đêm phập phồng, ngực nõn hứng trăng non

Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận.

Trong thi ca Việt Nam, ta thấy nhiều bài thơ hay về cuộc rượu của nhà thơ với người đẹp như trong thơ Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu... Nhưng hầu hết những người đẹp đó đều là gái giang hồ, gái nhảy hay kỹ nữ:

 Say đi em, say đi em

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt

Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết...

             (Vũ Hoàng Chương - Say đi em)

 Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây, mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.

                (Xuân Diệu - Lời  kỹ nữ)

Người đẹp trong Say Yêu của Đặng Xuân Xuyến không phải là gái giang hồ, gái nhẩy hay kỹ nữ nhưng tiếc thay cũng chỉ là người con gái chẳng cần thề non hẹn biển, nguyện ước trăm năm “như chim chắp cánh như cây liền cành” mà chỉ say yêu một đêm, một lần:

Yêu thương nhé.

Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian...

Có thể nói nhờ Rượu mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã cảm khái nên chùm Thơ Về Rượu khá hay và độc đáo. Chùm thơ 10 bài với 10 cuộc rượu khác nhau, lúc độc ẩm, lúc nhị ẩm trong những bối cảnh khác nhau đã diễn tả khá đậm nét nỗi buồn riêng mình và nỗi buồn chung về nhân thế của nhà thơ, giúp người yêu thơ hiểu thêm về thi nhân và hiểu thêm cái cõi đời sấp ngửa đen bạc này.

Nhìn bộ dạng thư sinh của Đặng Xuân Xuyến, tôi nghĩ nhà thơ không phải là người hay rượu mà chỉ đáng phụ chén cho cụ Tam nguyên Yên Đổ, nếu cụ còn sống. Mà cụ Tam thì: Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy/ Độ năm ba chén đã say nhè

Phải chăng Đặng Xuân Xuyến đã mượn rượu và có hẳn một chùm Thơ Về Rượu hôm nay để xóa nhòe đi tất, để ngự lên hiện thực mà ngạo chơi với Thế sự thăng trầm bao tục lụy này?!

*

Sài Gòn, cuối tháng 07.2018

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

Email: bnguyen37@gmail.com

 

VỀ LỜI BÌNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

VỚI BÀI THƠ “QUÊ TRONG PHỐ”

*

Thân gửi Đặng Xuân Xuyến. 

1.

 Mình đã đọc bài bình của Xuyến về bài thơ “Quê Trong Phố” và thấy bài bình này đã đăng tải không chỉ trên trang nhà Đặng Xuân Xuyến hay trang bạn Văn nghệ Quảng Trị mà còn thấy trên nhiều trang mạng khác. Một bài bình rất gọn nhưng đầy đủ những điều cần nói về bài thơ “Quê Trong Phố” của Nguyễn Xuân Môn.

Nhà thơ kiêm luật sư Nguyễn Xuân Môn là một người làm thơ khá đều tay và đã đăng tải bài viết trên nhiều trang mạng, thật đáng nể.

Tuy nhiên, không chỉ vì bài thơ đưa lên Face book, “chỉ sau vài ngày “xuất xưởngđã nhận được lời tán thưởng và chia sẻ của nhiều bạn đọc trên facebook: 892 lượt thích, 166 bình luận (hầu hết là lời ngợi khen) và 8 lượt chia sẻ” mà khẳng định đó là một bài thơ hay thì e sẽ có sự nhầm lẫn. Bởi cái sự "like" trên face book được mặc định coi là những cái like vô hại. Có một faceboooker đã viết về những cái like đó như sau:

Like giao lưu, like trả nợ, like lấy lòng, like nhạt nhẽo thờ ơ không thèm đọc nội dung cốt chỉ để phủ sóng, like vì rách việc tay buồn không biết làm gì, like cân đo đong đếm nhẩm tính đối tượng thế nào với mình, like chần chừ ngạị ngần để ý trước sau, like lưỡng lự lo sợ vừa bấm vừa run, vừa like vừa ướt quần, like khôn ngoan tính toán, like nhắc nhở có nhau, hy vọng ấm chút lòng người viết,…”

Trong số like ấy:  “có những cái like dũng cảm biết sau cái like có thể là phiền phức…những người đằng sau những cái like ấy là hay nhất, người nhất, biết rung động và có trách nhiệm với xã hội nhất.”

Riêng mình, đọc bài Quê trong phố không có mấy cảm hứng, trước hết đó là bài thơ lục bát mà lục bát là điệu hồn dân tộc Việt nhưng lục bát ở Quê trong phố không có câu nào có được cái tinh tế, cái thần của thơ lục bát. Điều đó cũng đúng thôi, vì Tuyển tập thơ lục bát từ Nguyễn Du đến các tác giả vào cuối năm 1993 cũng chỉ được 145 tác giả với 166 bài lục bát hay. Xem ra những nhà tuyển tập đã đã phải trải qua một sự lựa chọn khó khăn và dũng cảm.

Đọc bài bình của Đặng Xuân Xuyến mình cũng có cảm giác Xuyến đã phải suy nghĩ khó khăn và dũng cảm để nói thật cảm nhận của mình về bài thơ của Nguyễn Xuân Môn làm cho bài viết được cân đối giữa lời khen và lời phê.

Tuy nhiên, vẫn thấy lời khen của Đặng Xuân Xuyến nhiều chỗ tựa như những cái like để giao lưu, like để hy vọng ấm chút lòng người viết.

Chẳng hạn khi Đặng Xuân Xuyến khen “văng”, tiếng gà gáy làm “vỡ toác đêm thu tàn: rằng: nhà thơ đã sử dụng từ ngữ, hình ảnh “độc đáo” và táo bạo, không nền nã như "tạng" của thể thơ lục bát.”

Như vậy là không đúng với ý nghĩa của từ văng và từ toác. Văng là thình lình bị bật ra khỏi vị trí và di chuyển nhanh đến một chỗ nào đó, do phải chịu một tác động mạnh và đột ngột. Toác là nứt, vỡ thành đường, thành mảng lớn.

Tiếng gà gáy là âm thanh chứ đâu phải là vật thể mà bị văng ra khỏi cổ của con gà? Lại nữa, văng dẫu mạnh đến đâu cũng không chuyển đi quá xa như ta làm văng một cái chén thì nó cũng chỉ rơi bật ra đâu đó quanh quẩn bên chỗ ta mà thôi. Lại nữa nơi bị tiếng gà gáy văng đến là thời gian một đêm thu tàn, và là một không gian rộng lớn, một cái cái đêm mùa Thu đã đi vào thơ và nhạc:

Đêm lắng buồn

Tiếng Thu như thì thầm

Trong hàng cây trầm mơ

Và mọi mái nhà trong không gian ấy thường là Mái im triền miên. Vậy mà chỉ một tiếng gà gáy nhà bên “văng” sang nhà của nhà thơ đã làm cho cái đêm thu tàn trong khắp thành phố vỡ toác ra tức là bị nứt, vỡ thành đường, thành mảng lớn. Chỉ có viên đại bác bắn vào thành phố giữa đêm thu tàn mới có thể có công năng như vậy. Thế mà Đặng Xuân Xuyến buông lời bình tán: Một sự “thưởng ngoạn” tiếng “gà gáy sáng” rất khác lạ. Thì kể cũng lạ.

Rồi Đặng Xuân Xuyến đặt câu hỏi: “Thế nhưng tiêu đề bài thơ là "Quê Trong Phố" thì đích thị "tiếng gà gáy" ở trong thành phố. Có lẽ là ở vùng giáp ngoại ô? Sở dĩ tôi nêu những thắc mắc như vậy là vì mấy chục năm sống ở thành phố Hà Nội, tôi không hề nghe được "tiếng gà gáy sáng". Thiếu gì nhà thành phố nuôi gà, đủ các loại gà trong đó gà cảnh và gà đá chiếm số đông, nếu có thua về số lượng thì thì chỉ thua số lượng chó nuôi trong thành phố.

Phải chăng Đặng Xuân Xuyến đặt ra câu hỏi trên là để khẳng định cho lời bình này: “Mà đã là "tiếng gà gáy" sáng ở thành phố thì "tia sáng nằm ngang" có thể chấp nhận vì tính hợp lý: ánh sáng được khúc xạ bởi những ngôi nhà cao tầng.”?

Đặng Xuân Xuyến khen mấy câu thơ:

Ánh đèn đêm phố còn vương

Còi xe đã xé rách đường tả tơi

Lắng tai nhặt tiếng chim rơi

Tiếng kêu của lá úa rời cành đau

Bằng những từ tìm tòi, sáng tạo, gợi cảm, trau chuốt. Nhưng đọc kỹ ta sẽ thấy không hợp lý: con đường đã bị rách tả tơi thì dòng chảy lưu thông liệu có còn không? Mà âm lượng còi xe khủng khiếp như thế liệu có thể còn nghe thấy tiếng chim rơi, tiếng kêu của lá úa?

Tiếng chim buổi sáng thanh bình trong vườn hoa thì cũng phải nghiêng tai mới nghe rõ như trong câu thơ Định Hải viết:

Mà vườn hoa cũng lạ lùng

Nghiêng tai nghe đến không cùng tiếng chim

Tiếng kêu của lá úa thì trong đêm Côn Sơn chỉ có tiếng chim nhỏ nơi vách núi, tiếng rì rầm của suối mà một chiếc lá đa rụng thì như Trần Đăng Khoa nghe rất tinh mới thấy: Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

Vậy thì tiếng chim rơi, tiếng kêu của lá úa trong thơ Nguyễn Xuân Môn to hay nhỏ, là bao nhiêu decibel để nhà thơ nghe được trong cái âm thanh còi xe xé rách đường tả tơi?

Phần phê bình cách sử dụng từ ngữ cẩu thả, thiếu cân nhắc, việc chọn lựa hình ảnh cũng hời hợt, tùy tiện,...cùng những câu thơ nhạt nhẽo, thô kệch trong bài thơ Quê trong phố, mình thấy Xuyến viết rất thẳng thắn, bạo tay và rất đạt.

Đúng là mấy câu thơ:

Quê từ cha “nhiễm” sang con

Trát ngoài “phấn” phố vẫn còn quê trong

Người quê ở phố, quê… bong?

Tôi "quê" trong phố bởi lòng có quê!

Thì đúng là kết cấu lỏng lẻo, ý tứ nhạt nhẽo, nhất khi ông cố dụng tâm “chơi chữ.

Mà như các cụ đã nói: Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

Nếu muốn nói bằng thơ thì cố học theo Nguyễn Bính:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Bằng không thì nói văn xuôi như Nguyễn Huy Thiệp: “Tôi sinh ra ở nông thôn. Bố mẹ tôi là nông dân...”. Chơi chữ mà làm gì?

2.

Về trao đổi riêng với Đặng Xuân Xuyến sau khi đọc bài bình thơ Nguyễn Thanh Lâm của Xuyến, nghĩ chỉ là trao đổi riêng giữa hai người thôi, giờ bác Phú Đoàn đã đưa lên trang Văn Nghệ Quảng Trị và Đặng Xuân Xuyến sẽ đưa lên trang nhà. Không biết là mưa hay nắng đây?

*

Sài Gòn, tháng 01 tháng 11/2018

Tác gia, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG

Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

Email: bnguyen37@gmail.com

 

TRAO ĐỔI VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN VƯỢNG

VỀ NGÔN NGỮ TRONG THI CA

*

Mỗi nhà thơ thường có một trường ngôn ngữ cho thế giới thi ca của mình. Nếu ta cứ muốn đi đến tận cùng của nó thì quả là một điều không tưởng vì ngôn ngữ trong thi ca thường rất phi lí vì thế ta cứ phải gắng tìm cách tiếp cận để thấu hiểu và đôi khi phải mặc nhiên công nhận nó.

Tôi xin lấy ví dụ trong bài VỘI VÀNG nhà thơ Xuân Diệu đã viết:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Nếu cứ chất vấn đến tận cùng thì xin hỏi nhà thơ Nguyễn Vượng có ai tắt được nắng và có ai buộc được gió không. Đó là điều không thể vì đó chỉ là khát vọng của thi nhân không muốn vạn vật trôi đi bởi vì thời gian của đời người là hữu hạn.

Nhà thơ Nguyễn Vượng có thắc mắc hai từ THẦM THĨ tôi đã dùng trong bài bình luận cho bài thơ HƯƠNG QUÊ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.

HƯƠNG QUÊ

 

Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm

Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm

Níu bờ sông

Ơi ời “ra ngõ mà trông”

Vi vút gió đồng...

 

Ngẩn ngơ

giấc mơ

Níu đôi bờ bằng dải yếm

Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm

Áo tứ thân trải lá lót nằm

Gom gió lại để chiều bớt rộng...

 

Thẩn thơ

Tiếng mơ thầm thĩ

“Người ơi...

Người ơi...”

Dan díu lời thề

Ngõ quê líu quíu.

*.

Hà Nội, chiều 31.08.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Xin được thưa rằng đó là hai từ tôi sử dụng lại của nhà thơ Giang Nam trong bài thơ TIẾNG NÓI VIỆT NAM:

"Đây tiếng nói Việt Nam! Đây Hà Nội"

Xa muôn trùng vẫn thầm thĩ bên tai!

Rút lại cách ngăn, đẩy lùi bóng tối

Thắp niềm tin cháy sáng giữa tim người”

Với văn cảnh của khổ thơ và toàn bài thơ nếu nhà thơ Giang Nam dùng hai từ THẦM THÌ thì không thể chấp nhận vì đài tiếng nói Việt Nam thì không thể thầm thì (thầm thì như trộm chia của). Mặt khác vì thời đó ở Miền Nam không thể nghe Đài tiếng nói Việt Nam tự do mà phải nghe lén nên âm thanh rất nhỏ vì thế chữ thầm thĩ nói được cái gần gũi ấm áp của tiếng nói Việt Nam.

Giang Nam thừa kế hai từ này của ai thì tôi không biết, còn theo nhà thơ Vượng Nguyễn nó đã có trong bài MÙA XUÂN CHÍN của Hàn Mạc Tử “Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc” Với văn cảnh câu thơ này thì hai từ THẦM THĨ mà tôi kế thừa đã rất đắc địa phải không nhà thơ Vượng Nguyễn. Tôi đã bình giảng bài thơ TIẾNG NÓI VIỆT NAM khi dạy môn văn bổ túc văn hóa từ những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ trước và hai từ đó đã ám ảnh tôi cho đến bây giờ. Đây không phải là lần đầu tiên tôi dùng hai từ này mà đã nhiều lần sử dụng nó khi có nhu cầu. Đôi khi tôi thường ghép hai cụm từ với nhau “Thầm thĩ thầm thì” Tôi dùng hai từ này khi cần phải nói đến sự trao gửi những lời yêu thương của hai người yêu nhau gần giống với câu thơ tôi trích ở trên của Hàn Mạc Tử, hoặc là sự gửi gắm của nhà thơ với người đọc. Nhưng theo nhà thơ Nguyễn Vượng thì hiện nay không ai dùng vì có lẽ ông chưa đọc bài thơ của nhà thơ Giang Nam. Với tôi hai từ đó có một âm hưởng khác, một cung bậc cảm xúc khác với hai từ THẦM THÌ vẫn thường dùng. Xin trích dẫn đoạn văn bình luận có hai từ thầm thĩ của tôi: “Chỉ là một tiếng mơ thầm thĩ, gian díu một lời thề trong cái ngõ quê líu qúiu. Cái ngõ quê rất đặc trưng của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.”

Cũng khi bình luận về từ DUYỀNH (Chắc nhà thơ Đặng Xuân Xuyến viết sai đáng ra phải là DUỀNH mới đúng). Nhà thơ Nguyễn Vượng thì đã tra từ điển từ này chỉ một vụng nước như trong câu Kiều “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh” Vâng đó không hề sai. Nhưng tôi nghĩ trong câu thơ này của Đặng Xuân Xuyến

“Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm”

Theo tôi từ DUỀNH ở đây lại muốn gửi gắm về một động từ “duềnh lên”, thuộc về sự lan tỏa của mùi hương cốm. Mà mùi hương cốm ở đây còn được trợ lực bằng sức mạnh của tình yêu mà người con gái nhà bên muốn gửi sang cho chàng trai. Tôi nghĩ chữ DUỀNH phải hiểu theo nghĩa đó và nó đã trở thành một từ đắt giá của Đặng Xuân Xuyến. Các nhà thơ thường sáng tạo ra những từ theo trí tưởng tượng của họ mà thông thường cổ nhân vẫn gọi “Ý tại ngôn ngoại”

Tôi lấy một ví dụ rất mới mà thực ra tôi cũng chưa thể tiếp cận để nắm bắt cho hết những gì mà nhà thơ Dung Thị Vân muốn gửi gắm trong bài thơ TA NÓI ĐỂ MÀ CHI để cùng trao đổi thêm:

“Cảm ơn người

Bên đây bờ vĩnh tận

Những tàn phai

Ta chưa kịp cựa mình”

Rõ ràng cụm từ: BÊN ĐÂY BỜ VĨNH TẬN là một cụm từ sáng tạo của nhà thơ Dung Thị Vân. Hiểu thế nào về cụm từ đó chỉ có nhà thơ mới lí giải một cách cặn kẽ. Nhưng đôi khi sự lí giải ấy chắc gì đã được người đọc chấp nhận. Với tôi tôi nghĩ đây thuộc về một giới hạn vô cùng của không gian và không chỉ là không gian mà còn là giới hạn của của cảm xúc. Qua đó hình như nhà thơ đã muốn bày tỏ về sự tận cùng vĩnh cửu của những tàn phai. Ta cứ phải mặc nhiên công nhận nó và ta cảm nhận sự mông mênh của thi ca. Ta thấy những câu thơ như thế chiếm đoạt được cảm xúc của con tim mà không hiểu được vì sao lại như thế. Nó rất hay, nhưng hay ở chỗ nào thì ta cũng không thể lý giải.

Thi ca luôn tồn tại những phạm trù của sự phi lí và nhiều khi ta cứ phải mặc nhiên công nhận một cách mơ hồ về ý tưởng, về khát vọng của tác giả. Xin đăng toàn bộ bài thơ của Dung Thị Vân để các bạn có thể trao đổi về nghệ thuật ngôn ngữ của bài thơ này:

TA NÓI ĐỂ MÀ CHI

 

Xin cảm ơn

Lời bạc của tình nhân

Cảm ơn người đã cho ta

Những bài thơ bọc bằng suối lệ

 

Cảm ơn người

Bên đây bờ vĩnh tận

Những tàn phai

Ta chưa kịp cựa mình

 

Tình nhân ơi

- có những điều

Viễn miền câm lặng

Có những dối gian trầy xước chẳng nên lời.

*.

DUNG THỊ VÂN

Xin được đăng một lời bình luận dưới bài thơ này: “Hay tuyệt, ngắn gọn nhưng chuyển tải điều xót xa sâu khuất góc tâm hồn” đây là bình luận tương đối nhất, còn thì là “Hay lắm, hay tuyệt” ...

Qua đây tôi mong muốn nhà thơ Nguyễn Vượng, Thuy Do, Dung Thị Vân và đặc biệt là nhà thơ Đặng Xuân Xuyến tác giả bài HƯƠNG QUÊ mà tôi đã bình luận cách đây một năm cùng tất cả những ai quan tâm đến sự bí ẩn của ngôn ngữ thi ca cùng trao đổi. Đặc biệt các nhà thơ đã sáng tạo ra những cụm từ cho thế giới thi ca của mình. Các bạn có thể đưa ra những ví dụ và giải thích cho độc giả hiểu thêm về ý tưởng của các bạn.

Rất mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn!

*

Bắc Ninh, 06 tháng 11.2018

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Địa chỉ: Nhà số 7 Đường Thành Cổ,

phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh

Email: nguyenxuanduong1940@gmail.com

 

MẤY LỜI TÂM SỰ - NHÂN NHÀ THƠ

NGUYỄN ĐĂNG HÀNH NÓI VỀ CHÂU THẠCH

*

Vừa ăn Tết xong, mồng mấy Tết không nhớ, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến điện thoại cho Châu Thạch. Sau vài lời chúc tết, nhà thơ hỏi:

- Chú đã đọc bài “Tưng Tưng bảy chuyện cùng…Nguyễn Đăng Hành” chưa ạ?.

- Hả, mấy bữa nay bận lo Tết quá nên chú chưa đọc.

- Chú đọc đi, trong đó có nhắc về chú đấy ạ.

- Ừ, để chú đọc bây giờ.

Thế là tôi ngồi vào máy vi tính mở trang web dangxuanxuyen.blogspot.com và tìm đọc bài nầy. Bài nầy Đặng Xuân Xuyến chép lại những lần trao đổi giữa anh với nhà thơ Nguyễn Đăng Hành, bàn luận về các nhà thơ, trong đó tôi có biết vài người chớ chưa quen ai cả. Châu Thạch tôi cũng hân hạnh được đề cập đến hai lần. Lần thư nhất hai người nói về Châu Thạch như sau:

 “Mươi hôm sau, anh (tức Nguyễn Đăng Hành) điện cho tôi, vẻ rụt rè:

- Anh hỏi câu này, chú trả lời thật nhé. Bài "Ẩm trời" của chú, đáng mấy điểm.

Tôi có chút ngập ngừng:

- Tự chấm điểm thì em không biết cho điểm mấy nhưng bài đó cũng thường thôi, không thể là hay.

Anh ồ lên, lanh lảnh:

- Vậy mà bác Châu Thạch khen hết lời.

Tôi cười, nửa phân trần:

- Chú Châu Thạch khen hay ở phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt chứ không khen bài thơ "Ẩm trời" hay.

Anh chậm rãi:

- Anh nghĩ bác Châu Thạch vì quý người mà quý thơ. Bác Châu Thạch nhiều bài bình rất sâu, rất hay, anh rất phục nhưng đọc mấy bài bình kiểu quý người quý thơ như thế không sướng.”

Trước hết tôi thành thật cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đăng Hành đã thốt lên những lời có cánh khen tôi, khiến trong tôi, niềm vui đầu năm ập đến bất ngờ.

Sau đó thấy bài ghi chép của Đặng Xuân Xuyến được đăng lên facebook tôi có comment mấy lời như sau:

Nhà thơ Nguyến Đăng Hành viết có cái chưa hiểu tôi:

Khi nói về bài bình “Ấm Trời” của Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành nói: “bác Châu Thạch quý người nên quý thơ”. Thật ra khi bình bài “Ấm Trời” tôi chưa hề quen biết gì Đặng Xuân Xuyến và cho đến nay cũng chưa hề gặp Đặng Xuân Xuyến lần nào hay trao đổi với nhau quá 5 phút trên điện thoại, còn trên email thì hoàn toàn không có. Vậy thì phải nói tôi “QUÝ THƠ NÊN QUÝ NGƯỜI” mới đúng.”

Nói cho đúng, tôi biện hộ cho mình như thế cũng chưa chính xác, vì nếu nói quý người nên quý thơ thì tôi còn quý nhiều người hơn quý Xuyến, mà thơ họ không thua gì thơ Xuyến, nhưng tôi chưa bình cho họ lấy một bài thơ. Ví dụ như nhà thơ Phan Minh Châu ở Nha Trang. Anh đã là bạn thơ với tôi gần 10 năm, tôi yêu thơ anh như điếu đổ nhưng cho đến khi anh qua đời, tôi chưa hề viết một câu về thơ anh. Tôi đau đớn và chua xót trong lòng.

Tôi nghĩ người làm thơ và người bình thơ có một sợi dây liên kết vô hình nào đó, nên có sự đồng điệu trong cảm thụ, tri kỷ nhau ít nhất trong chính bài thơ được đem ra tán thưởng. Ví dụ như bài thơ “Ấm Trời” của Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành tỏ ý không vừa lòng nhưng với tôi nó là bài thơ hay thật thụ.

Ở trên, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến trả lời nhà thơ Nguyễn Đăng Hành như sau: “Chú Châu Thạch khen hay ở phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt chứ không khen bài thơ "Ẩm trời" hay.”. Đó chỉ là một câu nói khiêm nhường thôi. Thật ra bài thơ phải hay mới làm bộc lộ “phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt và độc đáo được. Thơ hay là ở chỗ diễn tả sống động cái phong cách ấy.

Từ sự trao đổi giữa hai nhà thơ trên, tôi mở bài bình thơ của tôi đọc lại. Bài viết có đầu đề là: “Ấm Trời” thơ Đặng Xuân Xuyến: Một phong cách tình khác lạ.

Để hiểu những đoạn sau của bài viết nầy, xin mời đọc lại một lần bài thơ của Đặng Xuân Xuyến:      

ẤM TRỜI

Em gạ một đêm chồng vợ

Cho mùi da thịt thơm hương

Mấy ngày hôm nay mưa tợn

Ẩm trời, khó ở, thấy ghê.

 

Ừ thì, một đêm thôi nhé

Mai đừng, nữa gạ một đêm

Mùa này ẩm trời dài lắm

Da đây thịt đấy đến mòn.

Mở đấu bài bình tôi đã viết:

Có những bài thơ nói về tình yêu thiên về tinh thần nhẹ nhàng như bướm bay, lãng mạn như gió trăng và êm đềm như tiếng suối chảy. Cũng có những bài thơ nói về tình yêu thiên về nhục dục hừng hực như lửa cháy, cuốn hút như phong ba và cuồng nộ như con thiêu thân sa vào hố lửa. Giữa hai lằn ranh đó có những bài thơ nói về tình yêu khô khan như một lời bông đùa dí dỏm, nhưng nó lại hoàn toàn thể hiện sự độc đáo của một phong cách yêu”.

 Như vậy bài thơ nầy không phải hay ở chỗ lời thơ hoa bướm mà hay ở chỗ lời thơ ngổ ngáo, có mãnh lực cuốn hút người đọc nhìn thấy một cuộc truy hoan hoàn toàn vì nhục dục sẽ diển ra.

Đoạn giữa của bài bình thơ tôi viết như sau:

Người ta có thể tìm thấy trong ca dao hay trong thơ những câu đối đáp rất hay của những chàng trai trả lời cô gái đang gặt lúa trên đồng hay ban đêm giã gạo cùng nhau. Những câu đó chắc chắn rất trữ tình nhưng chắc chắn không bao giờ thân ái như lời thơ trong khổ thơ này. “Ừ thì một đêm thôi nhé”: chúng ta nghe như lời của anh nói với em. Chúng ta tưởng tượng lời từ cửa miệng chàng trai thốt ra âu yếm vô cùng, ấm áp vô cùng. Rồi thì “Mai đừng, gạ nữa một đêm”: Câu thơ không phải là lời từ chối đâu, ngược lại đó là lời hẹn hò những đêm kế tiếp bằng một câu bông đùa tế nhị.”

Như vậy, bài thơ hay ở chỗ diễn tả được cái chân tình, cái tình yêu ẩn kín phía sau những lời tưởng như trắng trợn đó. Nhà thơ đã dùng ngôn ngữ thật thô cứng nhưng lại diễn tả hết cái mềm mại nằm trong sâu kín tâm hồn của hai người có bản tính bông đùa và thích diễu cợt cùng nhau.

Đoạn cuối của bài bình thơ tôi viết như sau:

Bài thơ hay là hay ở chỗ đó, diễn đạt cái kín đáo mà bề ngoài không mấy ai thấy được, không mấy ai trân trọng, có khi còn khinh ghét nữa. Bài thơ hay cũng là hay ở chỗ “nói tục giảng thanh”. Đọc “Ấm Trời” ta nghe tiếng thơ như của một nhân vật bất cần đời, một cặp trai gái ngổ ngáo xem tình như cỏ rác, nhưng ngẫm kỹ, đọc đi đọc lại nhiều lần ta tìm thấy ở đó những tâm hồn đẹp mà ta yêu quý, một mối tình có thể làm cho ta se lòng và cảm mến

Tất nhiên ở đây tôi chỉ trich lại những phần chính trong bài bình thơ của tôi, mục đích để biện hộ cho mình. Biện hộ rằng tôi quý thơ Đặng Xuân Xuyến mà viết những lời có cánh cho thơ anh chớ không phải vì quý anh mà viết những lời có cánh cho thơ ấy. Quý vị nào có vui thì tìm trên web dangxuanxuyen đọc trọn bài bình cúa tôi cho “ẤmTrời” sẽ tường tận hơn.

Sau đó hai nhà thơ còn đề cập đến việc tôi và nhà thơ Nguyên Lạc cãi cọ nhau.

Khi nói về thái độ của ông Nguyên Lạc đối với tôi, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành nhận xét: “Ông Nguyên Lạc thâm và đểu khi dùng thái độ nhã nhặn lịch thiệp để ra đòn với ông Châu Thạch”.

Thật ra ông Nguyên Lạc dùng chữ “không lương thiện” để chửi tôi thì không thể nói là “nhã nhặn lịch thiệp” được. Phải nói đó là một câu nặng nề nhất khi dùng cho một người đã từng viết khen ngợi ông ta từ khi chưa hề biết ông ta là ai và chưa đòi hỏi ông ta một món quà nhỏ nào. Nghĩa của chữ Lương thiện là “không làm những gì trái với đạo đức và pháp luật”. Vậy ông ấy nói tôi “không lương thiện” là ông ấy nói tôi “vô đạo đức và phạm pháp”. Ông ấy có nhiều bằng đại học, là một nhà văn thì phải ý thức đầy đủ lời nói của mình, không vu khống làm xúc phạm nhân phẩm kẻ khác chứ. Nhưng thôi, tôi đã hứa với mọi người quên đi nên không nhắc lại nữa.

Cuối cùng, xin gởi đến hai nhà thơ Nguyễn Đăng Hành và Đặng Xuân Xuyến lời chúc một mùa xuân an lành, một năm mới phát triển và viết thật hay. Xin gởi đến quý vị đã đọc bài nầy lời cảm ơn và ước nguyện nhận nhiều niềm vui, an khang, thịnh vượng trong năm Kỷ Hợi nầy./.

*.

Đà Nẵng, 14 tháng 2-2019

CHÂU THẠCH 

Địa chỉ: 75 Phan Kế Bính, Đà Nẵng.

ĐT: 0929128967 - 05113894610

Email: truongvantran@hotmail.com

 

BÀN VỀ BÀI BÌNH THƠ “THUYÊN NEO

BẾN LẠ” CỦA ĐĂNG XUÂN XUYẾN

*

Nhận được nhà thơ Đặng Xuân Xuyến báo tin cho tôi đọc bài viết “Tưng Tưng bảy chuyện cùng…Nguyễn Đăng Hành” tôi tò mò tìm đọc thêm một vài bài của anh trên trang web dangxuanxuyen.blogspot.com. Nhờ vậy bài bình thơ “Vài suy nghĩ khi đọc Thuyền Neo Bến Lạ của Phúc Toản” đập vào mắt tôi. Cái khiến cho tôi dừng lại để đọc không phải là bài bình mà chính là bài thơ “Thuyền Neo Bến Lạ” của nhà thơ Phúc Toản. Đọc bài thơ xong, xúc cảm với bài thơ đưa tôi đọc tiếp bài bình. Xin mời thưởng bài thơ trước:

THUYỀN NEO BẾN LẠ

- Gửi NTPT -

.

Lạnh lùng cơn gió chiều đông

Xô con thuyền nhỏ theo dòng về xa ...

Dây đời buộc tím nhành hoa

Ngày vui ...mà lệ ướt nhòa câu thơ ...

.

Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ

Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...

Gừng cay, muối mặn xát lòng

Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...

.

Một luồng gió thổi sau lưng

Tân bao kỷ niệm, đoạn từng nhớ thương...

Mùa xuân phía trước dâng hương

Đằng sau lạnh buốt một phương trời buồn...

*.

Tân Yên, tháng 01.2001

PHÚC TOẢN

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã viết lời bình ngắn, trình bày lướt qua vài cảm nhận mà anh đã có khi đọc bài thơ nầy. Để bài viết không dài, Châu Thạch xin nêu những ý chính trong bài bình của Đặng Xuân Xuyến và đóng góp những ý kiến của mình như là một cuộc trò chuyện văn chương, hầu góp vui cho bạn đọc thư giản năm, mười phút mà thôi.

Trong bài bình thơ ngắn, gọn và xúc tích nhà thơ Đăng Xuân Xuyến đã nêu cảm nhận của mình  đại ý như sau:    

1 -Tôi thích khổ thơ thứ hai, khổ thơ gây nhiều ấn tượng với tôi.

Cách chuyển nhịp từ 2/4 (tiết tấu chậm) ở câu lục: "Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ", sang nhịp 2/3/1/2 (tiết tấu nhanh) ở câu bát: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...", đã khéo léo đặt tâm trạng của nhân vật "tôi" cùng (lúc) rơi vào nhiều cung bậc tình cảm. Với cách ngắt nhịp đặc biệt ở câu bát như thế, nhà thơ Phúc Toản đã thành công trong việc miêu tả nội tâm của chàng trai khi được tin người yêu lấy chồng chỉ trong một câu thơ”

“Tôi nghĩ, đấy là câu thơ độc đáo, đã giúp bài thơ sáng lên.”

Phần nầy nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã nói đủ, Châu Thạch tôi chỉ xin bàn về việc vì sao nhà thơ dùng chữ “Ơ!” mà không dùng chữ “Ơi!” hay chữ “ÔI” trong câu thơ “Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng…” mà thôi.

Ta thử tìm nghĩa của các chữ trong tự điển:

Nghĩa của chữ ơi: “Là cảm từ, tiếng dùng để gọi một cách thân mật

Nghĩa của chữ ôi: “Là cảm từ, tiếng thốt ra biểu lộ ý than thở

Nghĩa của chữ ơ: Không tìm thấy nghĩa

Chữ “Ơ!” là một cảm từ hay là một tiếng tán thán không có trong tự điển  nhưng có ở ngoài đời. Theo tôi,nhà thơ Phúc Toản thật là tinh tế khi dùng chữ “Ơ!” để diển tả sự ngạc nhiên đến bất ngờ do người thân yêu đem tới mà mình chưa kịp cảm nhận nỗi đau xảy ra trong lòng, chưa đủ bình tỉnh mà than thở bằng chữ “Ơi!” hay ta thán bằng chữ “Ôi!”. Chữ “Ơ!” là một tiêng kêu ngập ngừng được thốt lên giữa chữ “Ơi!” và chữ “Ôi!”,nó diễn tả được toàn bộ và rốt ráo diễn biến rất thật xảy ra trong lòng chàng trai khi hay tin người yêu lấy chồng “Thật rồi…vẫn ngỡ là mơ”. Chàng trai không biết rõ mình đang ở giữa sự thật hay chỉ là mơ nên nhà thơ dùng chữ “Ơ!” để cho chàng trai kêu lên. Đó là một cảm từ ít dùng trong văn, nhưng lại có trong thực tế, tác giả đã dùng để lột tả được biểu cảm của con người một cách rất hay.

Xin nói thêm về tiết tấu nhanh cúa câu thơ ở nhịp 2/3/1/2 mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã đề cập đến.

Nhà thơ Nguyễn Bính có một câu thơ tiết tấu hơi giống chớ không phải là giống toàn bộ câu thơ nầy: “Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm”(3/3/2). Ta đặt hai câu thơ cận nhau sẽ thấy rõ sự khác biệt về tiết tấu thơ, về ý nghĩa thơ khác nhau tất cả:

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buôm (3/3/2)

Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng! (2/3/1/2)

Câu thơ của Nguyễn Bính chỉ dùng để chỉ sự vật, mô tả sự nhấp nhô của cánh buồm. Ngược lại câu thơ của Phúc Toản diễn tả nội tâm. Đem hai câu thơ nầy để so sánh câu nào hay hơn câu nào thì thật là khập khiểng. Thế nhưng ta có thể thấy rõ nhà thơ Phúc Toản chỉ dùng thêm chữ “Ơ!” mà câu thơ của anh có tiết tấu na ná như Nguyễn Bính lại khác hẳn đi trong cảm xúc của ta. Câu thơ của Phúc Toản bị dừng lại đột ngột ở chữ “Ơ!”, cho thấy sự thảng thốt xảy ra trong lòng chàng trai, giống như con thuyền ngừng lại bất ngờ trong phút chốc vì sự cố nào đó, rồi lại tiếp tục lên đường, còn câu thơ của Nguyễn Bính thì ta thấy con thuyền êm ái đi về cuối phương trời.

Đặng Xuân Xuyến tiếp tục suy nghĩ về bài thơ nầy như sau:

2)Không than vãn, kế nể, không nặng lời trách móc khi người yêu theo "thuyền neo bến lạ", nhà thơ Phúc Toản đã gói ghém tất cả sự trách giận, nỗi xót xa của chàng trai vào 2 câu thơ:

"Gừng cay, muối mặn xát lòng

Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng ..."

“Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với một người đàn ông xa lạ.”

Ý kiến của Châu Thạch:

Có người cấm dùng câu thơ “Gừng cay muối mặn xát lòng” vì cho rằng cặp trai gái phải động phòng hoa chúc, thành vợ thành chồng mới được dùng câu nầy.

Hiểu như vậy thì thật là quá khắt khe. 

Biểu tượng muối mặn- gừng cay là một biểu tượng kép, ghép biểu tượng muối và biểu tượng gừng thành một với ý nghĩa tượng trưng cho cho tình duyên chung thủy cùng nhau, trong đó vợ chồng là một trong những ngữ cảnh mà thôi. Ngữ cảnh là hoàn cảnh lúc hành văn. Một câu nói nhưng đặt trong ngữ cảnh khác nhau thì mang nghĩa khác nhau. Ở đây nhà thơ Phúc Toản không đặt biểu tượng kép “Gừng cay muối mặn” vào ngữ cảnh vợ chồng mà đặt vào ngữ cảnh tình yêu. Đó là quyền của tác giả mà người đọc thơ phải thẩm thâu ý nghĩa đó thì mới thấy cái hay của nó. Ngược lại nếu người đọc thơ cứ xoi mói, tìm kiếm để bắt bẻ thì không bao giờ hiểu được cái hay của nó.

Về câu thơ “Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng”.

Câu thơ trên bị điệp từ chữ “nỗi”, có người cho là không hay. Thế nhưng điệp từ dưới những cây bút lão luyện thì đó là  “biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có tác dụng làm tăng cường hiệu quả diễn đạt, nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, tăng cảm xúc cho câu thơ rất nhiều”. Hai chữ “nỗi” trong câu thơ trên là điệp từ như vậy.

Cuối xùng xin đặt ra một câu hỏi rất cắt cớ. Vì sao “nỗi buồn” lại nằm chung với “nỗi mừng”? Có nghich lý chăng?

Có người cho rằng:

“Nỗi mừng”? Người yêu vu quy lấy chồng mà mừng? cũng lạ?

Nếu ‘mừng” này ở cô gái thì “không chân thật” trong tình yêu càng rõ ràng.

Xin thưa. Câu thơ không có gì là nghịch lý. Hai người yêu nhau nhưng nàng phải đột ngột chia tay để làm “thuyền neo bến lạ” tất nhiên bên trong cuộc tình phải có một nan đề gì đó. Nửa mừng nửa vui có thể là tâm trạng thật sự của riêng chàng trai, của riêng cô gái hay có khi, của cả hai người. Đọc thơ, ta cảm nhận được nỗi éo le trong cuộc tình, ta thổn thức với sự dở khóc dở cười của nhân vật trong thơ, chứ không đọc thơ để ta làm anh chàng ngồi lê, móc cái tâm sự của thiên hạ ra mà diểu cợt. Người đọc thơ cũng là người làm thơ. Khi không hiểu một điều mà tác giả không nói hết trong thơ được thì ta phải tự hư cấu lên mà thưởng thức cái hay của nó, chớ không ngồi đó mà hỏi tại sao thế nầy, tại sao thế nọ, phải như thế nầy phải như thế nọ thì muôn đời cũng không hiểu được thơ. Đọc thơ như thế thì thà ta ngồi chợ cãi nhau thú vị hơn nhiều. Nỗi buồn xen với nỗi mừng cũng có khi là tâm trạng của chính tác giả bài thơ. Cũng có thể nhà thơ đã  đặt cảm xúc của mình lên câu thơ đó, thấy hôn nhân thì vui, nhưng thấy sự sự tan vỡ thì buồn. Cảm xúc đó có ngay trong sâu kín của lòng ta khi đọc thơ mà ta không thấy được đấy thôi.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn cả hai nhà thơ Phúc Toản và Đặng Xuân Xuyến đã đem đến cho tôi một niềm vui thưởng thức thơ và bình thơ đầu xuân Kỷ Hợi. Cả hai đều có phong cách viết ngắn gọn mà xúc tích, truyền tải đến người đọc sự rung cảm của chính mình bằng lời thơ, lời văn có âm vọng và có cánh bay cao ./.

*.

Đà Nẵng, 16 tháng 2-2019

CHÂU THẠCH 

Địa chỉ: 75 Phan Kế Bính, Đà Nẵng.

ĐT: 0929128967 - 05113894610

Email: truongvantran@hotmail.com

 

VỚI BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO

BẾN LẠ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

 Theo tôi, bài thơ “Thuyền Neo Bến Lạ” của Phúc Toản là một bài thơ hay và nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã phát hiện ra những điểm sáng, những chi tiết đắt giá của bài thơ nên viết vài lời cảm nhận để chia sẻ với tác giả thơ, với bạn đọc. Tiếc là ông Nguyên Lạc đã viết bài “Vài Suy nghĩ khi đọc bài bình thơ Thuyền Neo bến lạ” với chủ ý “hạ bệ” nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã “bẻ cong” ngòi bút (cách ông Nguyên Lạc vẫn dùng để quy kết các bài bình thơ mà ông đố kỵ với tác giả) để vụ lợi, rồi miệt thị trình độ của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến là việc làm không đúng. Bài viết đó đã bị nhiều nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khôi, Nguyễn Xuân Dương, Thái Quốc Mưu, Trần Quốc Phiệt, Trần Thắng... phản đối ở mấy điểm:

- Ông Nguyên Lạc buộc tác giả thơ cũng như tác giả bình thơ phải theo suy nghĩ của ông ấy, phải lấy tâm lý nhân vật của ông ấy là điều thật ngô nghê.

- Ông Nguyên Lạc quen tật ấu trĩ là dạy những điều cơ bản cho người bình thơ, cái mà không một cây bút bình thơ nào không biết.

- Ông Nguyên Lạc đòi dùng chữ “ôi” thay chữ “Ơ” của nhà thơ Phúc Toản thì thật buồn cười. Chữ “Ơ!”  biểu hiện một sự ngạc nhiên bất ngờ, chưa đủ thời gian để cơ thể có phản ứng gì. Chử ‘ôi’là chỉ niềm đau đã thấm sâu trong cơ thể. Tác giả dùng chữ “ơ’ rất hay.

- Ông Nguyên Lạc bắt buộc câu “Gừng cay muối mặn” chỉ được dùng khi  trai gái đã thành vợ chồng thì rất vô lý. Đây là một câu ca dao chỉ tình nghĩa sâu đậm thắm thiết vì vị mặn của muối và vị cay của gừng rất đậm đà, rất khó quên nên dầu chưa thành vợ thành chồng, chưa làm lễ “hợp cẩn” thì tác giả dùng cái ý để chỉ tình yêu khắng khít sâu đậm không sai.

- Ông Nguyên Lạc chỉ trích câu thơ “Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng” thì thật là cưỡng hiếp nhân vật. Nhân vật trong thơ có hoàn cảnh của nhân vật trong thơ. Vừa mừng vừa buồn cũng như vừa cười vừa khóc là cảm xúc tự nhiên trong lòng nhân vật mà họ đã bộc lộ ra ngoài một cách tự nhiên. Ta chỉ thấy và biết có sự  giằng co trong lòng họ. Nhà thơ viết “Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng” là ý thơ diễn tả đầy đủ tâm trạng giằng co buồn vui lẫn lộn trong lòng tác giả. Còn vì sao buồn vui lẩn lộn thì có khối lý do để giải thích.

- Hai chữ “nỗi” trong cùng một câu dùng để nhấn manh sự đối kháng xảy ra, sự giằng co giữa mừng và buồn, chỉ một hiện tượng tâm lý dằn vặt xảy ra trong lòng nhân vật mà Nguyên Lạc chê thì đúng là chịu thua sự hiểu và dùng câu chữ của ông Nguyên Lạc.

- Ở đoạn khen, Nguyên Lạc còn nói “Cũng phong cách ấy người sau phải làm hay hơn người trước”. Nói như vậy thì ai làm thơ lục bát cũng phải hay hơn cụ Nguyễn Du chăng?

- Ông Nguyên Lạc dùng bài viết để soi mói đời tư, nhục mạ tác giả thơ, tác giả bình thơ, phân định phe ta phe địch... là không chấp nhận.

 Nói chung bài viết của ông Nguyên Lạc chỉ chăm chăm moi cái đẹp ra chê thành xấu để làm bẽ mặt người bình, để tự đánh bóng tên tuổi ông ấy. Đấy thật sự là việc làm rất đáng phê phán của ông Nguyên Lạc.

Điều đáng trách là sau vụ “Thuyền Neo Bến Lạ”, ông Nguyên Lạc lại cố ý lồng vào rất nhiều bài viết để “làm xấu” nhà thơ Đặng Xuân Xuyến là: “muốn tạo dáng, muốn ta đây "riêng một góc trời" / “cố đưa vào trong thơ mình một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.” / “ngữ lực yếu kém của bản thân nhà thơ: Không hiểu rõ hoa sao biết nó đẹp xấu, thơm thúi? Không biết rõ người con gái sao ta yêu thương được?” / “hai chữ "thầm thĩ " có gì "ghê gớm" hơn thầm thì đâu mà phải uốn éo tạo dáng để ra vẻ?” /  “Đây là cái trò MA GIÁO của Đặng Xuân Xuyến khi thêm mấy câu cuối này vào bài thơ HỜN DỖI của tôi. Tự thêm rồi tự chụp ảnh rồi phát tán khắp Email gần 100 người”...v.v... nhiều lắm, khiến nhà thơ Đặng Xuân Xuyến không thể nhịn được phải lên tiếng bằng bài viết “Vài Lời Về Mấy Bài Viết Gần Đây Của Ông Nguyên Lạc” đưa ra vài sai phạm của ông Nguyên Lạc, trong đó có vụ đạo thơ của ông Nguyên Lạc.

----------

(Trích từ: TỪ MỐI “LƯƠNG DUYÊN” GIỮA NGUYÊN LẠC VÀ CHÂU THẠCH)

*.

Hà Nội, 04 tháng 01-2010

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

Quận Long Biên, thành phố Hà Nội.    

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

 

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN

“CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ”

*

Tôi đọc truyện ngắn "Cô Sướng Cưới Vợ" trên trang facebook của tác giả Đặng Xuân Xuyến. Lối viết dí dỏm của anh đã lôi cuốn tôi ngay từ phần đầu của truyện. Khi đọc trên báo mạng, tên nhân vật và tên truyện không hiểu lý do gì mà thay đổi, dù cốt truyện giữ nguyên nhưng tôi thích đọc tên truyện cũ là "Cô Sướng Cưới Vợ". Có lẽ vì ấn tượng tên "Cô Sướng Cưới Vợ" tạo yếu tố dân dã hơn, chân thật hơn.

Nhân vật Sướng được Đặng Xuân Xuyến ưu ái, giành nhiều sự quý mến. Tính khí khác thường của "cô" Sướng qua ngòi bút của Đặng Xuân Xuyến không hề phản cảm, gây cười mà đáo để duyên:

Sướng thích được gọi là cô, là chị. Sướng khoái được mọi người mắng yêu câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm. Tóm lại, Sướng là đàn ông, là nam nhi chính hiệu, là chuẩn men đích thực nên Sướng không chấp nhận ai đó cho rằng, nghĩ rằng Sướng là phận nữ nhi! Ừ thì Sướng thích gọi là cô, là chị. Ừ thì Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn... Như thế thì đã sao? Những sở thích đó tuy có khác biệt với đặc trưng giới tính của giới nam nhưng cũng chẳng ảnh hưởng gì tới bản chất giới tính vốn có của Sướng? Thật đấy! Sướng vẫn là thằng đàn ông đích thực. Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi xổm mà tiểu tiện. Sướng cũng chưa bao giờ tùy tiện cho rằng mình không phải là thằng đàn ông nên vì thế đừng có ai vớ vẩn nghĩ Sướng là đàn bà con gái. Sướng ghét đấy. Sướng chửi cho đấy.”

Bạn đọc yêu nhân vật Sướng bởi bản chất thật thà, tốt nết của anh. Đằng sau sự đanh đá chua ngoa của Sướng là tấm lòng lương thiện, tử tế, sống nghĩa hiệp với người thân và bè bạn. Bị cụ Vân, bố đẻ của "dì Kiên", người bạn thân bị "bê đê nặng", "nhiếc móc" là "pha gái", chọc vào "điều cấm kỵ" khi coi Sướng là "con đàn bà" dù rất tức cụ Vân nhưng Sướng vẫn biết dừng lại ở đúng đạo nghĩa:

Nghe câu “Tôi lại hỏi thật chị nhé: Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao?” mặt Sướng tái lại rồi thoắt cái phừng phừng sát khí. Sướng chống hai tay vào hông. Sướng dậm chân đến huỵch một cái rồi kéo dài giọng:

- Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao? Này! Con nói thật với bố. Đừng tưởng con này trông như pha gái mà nghĩ con này là phận liễu yếu đào tơ, không phải là thằng đàn ông. Đây nói cho bố biết. Đây chưa bao giờ ngồi xổm như mấy con đàn bà! Chưa bao giờ! Bố hiểu chửa! Mà con nói thật nhé. Chắc gì bố đã là đàn ông mà bố bĩu môi, dè bỉu, coi khinh con này như thế. 

Thấy sắc mặt tím tái rồi thoắt cái đỏ bừng của Sướng, cụ Vân chột dạ:

- “Mẹ nó! Chạm phải vía “con dở ông dở thằng” này rồi. Nó mà nổi cơn đồng bóng thì mình dại mặt.”. Cụ lùi người, lùi người để tránh cơn giận của Sướng, không ngờ cụ trượt chân ngã oạch một cái. Nhìn bộ dạng luống cuống của cụ, Sướng phì cười, bĩu môi:

- Gớm! Đàn ông chưa? Ối dào! Đàn ông như bố, đây cũng dí thèm!”

Bị cụ Bống, là bố đẻ, đánh chửi, dù "nhiều oan ức" nhưng "cô" Sướng không cãi mà ngồi im cam chịu vì đạo làm con. Bị cụ Bống hiểu sai là "thằng đồng cô" (bê đê) và đe sẽ huỷ hôn giữa Sướng với Ngân nhưng lo cho tương lai của "dì Kiên", sợ nói ra sự thật chỉ Kiên ái mới là "đồng cô" thì Kiên ái sẽ khó lấy được vợ, sẽ khổ nửa đời về sau của bạn mình nên dù bị oan ức, bị cụ Bống chửi đánh...  Sướng vẫn cắn răng chịu đựng. Nghĩa cử đó của Sướng thật đẹp, không phải ai cũng làm được.

Ngân là nhân vật được tác giả giành những lời ngợi ca, những khắc họa rất đẹp về nhan sắc và nhân cách:

Ngân không mỏng mày hay hạt nhưng Ngân thùy mị, nết na. Ngân không sắc nước hương trời nhưng nét dịu dàng của Ngân đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân được nết. Cả làng, cả xã chưa thấy Ngân mặt nặng mày nhẹ, cãi cọ với ai. Cứ nhẹ nhàng với mọi người, cứ nhún nhường với mọi người như thể Ngân sinh ra là để chan hòa với mọi người vậy.”

Không chỉ xinh đẹp, hiền thục, đảm đang mà Ngân còn được tác giả Đặng Xuân Xuyến mô tả là người phụ nữ mạnh mẽ trong tình yêu và dám sống với tình yêu đích thực của mình. Cái đêm Sướng biến thiếu nữ Ngân thành người đàn bà được tác giả Đặng Xuân Xuyến dàn dựng như một vụ "tai nạn" hi hữu, chủ yếu để đề cao chữ "trình tiết", đề cao phẩm hạnh của Ngân. Có thể vì quá quý mến em gái mình nên Đặng Xuân Xuyến mới dàn dựng như thế nhưng nếu là tôi, tôi sẽ để Ngân "dính bầu" như các trường hợp "ăn cơm trước kẻng" khác, thì sự mạnh mẽ trong tình yêu của Ngân mới thật. 

Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã giành cho nhân vật Ngân sự yêu mến và trân trọng đặc biệt. Người con gái ấy không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ với tình yêu.

Nhân vật cụ Bống xuất hiện cuối truyện và số chữ viết về cụ không nhiều nhưng Đặng Xuân Xuyến đã khắc hoạ thành công hình ảnh cụ Bống: một người ông, người cha yêu thương con, cháu hết mực; có những nghĩa cử cao đẹp, hơn hẳn người đời, biểu hiện ở hành động khi nghe tin con trai bị "đồng cô, không yêu được con gái" đã yêu cầu con trai huỷ hôn, đừng làm lỡ dở cuộc đời người con gái xinh đẹp, hiền thục của làng xã:

- “Thầy hỏi, con phải trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vân thế nào? Thầy nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì hả con?”.

Phải là người có tấm lòng của Bồ Tát thì cụ Bống mới lo lắng cho Ngân, khuyên Ngân huỷ bỏ hôn nhân với Sướng vì:

 - “Ngân này. Con đẹp người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi.”.

Tóm lại, tôi thích truyện ngắn “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ” của Đặng Xuân Xuyến bởi, như tác giả Nguyễn Bàng đã nhận xét: “Truyện viết dí dỏm, hài hước gợi nhiều trăn trở với người đọc. Truyện chạm vào trái tim người đọc bởi trong truyện đầy ắp tính nhân văn.

*.

Cao Bình, tháng 02/2020

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

Quận Long Biên, thành phố Hà Nội.    

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

 

ĐỌC BÀI THƠ “SAY YÊU” NGHĨ VỀ

THƠ TÌNH CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Đọc bài thơ “Say yêu” khi gặp 2 từ “gian díu” tôi nghĩ có lẽ Đặng Xuân Xuyến đã dùng từ sai hoặc anh viết sai chính tả nhưng ngẫm nghĩ kỹ và đọc lại bài thơ mới thấy anh đã có chủ ý dùng từ “gian díu” vì chỉ 2 chữ đó mới diễn tả đúng được tâm trạng yêu của bài thơ: Một tình yêu cuồng nhiệt và vụng trộm! Và chỉ 2 chữ “gian díu” mới lột tả được những khát khao yêu đương, những đau đớn khi yêu và cả những nổi loạn bất cần giáo lý đạo đức của kẻ “Say yêu”, “Cuồng yêu” như gã si tình nổi loạn Đặng Xuân Xuyến!

Tình của "Say yêu" là thứ tình "gian díu", không phải là thứ tình "díu dan" “dan díu” như thường thấy ở đời nên một kẻ "Cuồng yêu", bạo liệt khi yêu, bất chấp quy tắc định chế của xã hội như Đặng Xuân Xuyến mới thẳng thắn rằng:

"Yêu thương nhé!

Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian"!

Ngay khi sử dụng 2 chữ "gian díu" nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã có chủ ý khẳng định với bạn đọc đấy là chuyện tình trái ngang vụng trộm. Anh "huỵch toẹt" cuộc tình đó giữa thanh thiên bạch nhật, bất chấp sự soi mói đàm tiếu của người đời:

"Yêu thương nhé.

Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian.".

Vì đó là thứ tình yêu “vụng trộm” trái ngang, yêu kiểu “bất chấp” nên anh sòng phẳng, không chấp nhận ngay cả sự e ngại của người phụ nữ vì theo khẩu khí của anh thì đó chỉ là kiểu làm dáng, làm mất đi thi vị của tình yêu:

"E ngại thế... Làm sao ta chẳng giận.".

Thơ tình của Đặng Xuân Xuyến thường có sự song hành cùng lúc 2 tâm trạng đối nghịch ngay trong một bài thơ, đó là sự đối nghịch giữa tâm trạng ngùn ngụt đam mê dục vọng với tâm trạng dằn vặt đau khổ trong tâm hồn vì cuộc tình đã không đạt được trọn vẹn một chữ TÌNH như mong muốn.

Tác giả Châu Thạch đã rất chính xác khi ông khái quát về thơ tình của Đặng Xuân Xuyến:

Đọc “Cưỡng Xuân” (tập thơ tình) của Đặng Xuân Xuyến, ta có hai sự rung động cùng một lúc. Đó là sự rung động của con tim yêu chân tình, say đắm và độ lượng. Cùng lúc đó cũng bốc lên trong bầu máu nóng của ta một thứ hương tình cúa thể xác. Hai thứ hương đó quyện vào nhau cho ta sự khoái lạc lạ lùng trong nỗi đau khổ quặn thắt. Khoái lạc vì thơ Đặng Xuân Xuyến như ngùn ngụt ngọn lửa của ái ân thể xác và của âu yếm tinh thần. Đau khổ vì thơ Đặng Xuân Xuyến làm lạnh con tim, nỗi sầu được diễn tả như bông lơn nhưng làm cho người nghe quặn lòng se thắt. Thơ đó không phải là thứ thơ hư cấu. Thơ đó là thứ thơ nở ra như những bông hoa trường trải được nẩy mầm từ hạt của nó, hạt ấy đã bị vui dập trong bao nhiêu biến động của đời.”.

Những câu thơ tả dục tình cuồng nhiệt, táo bạo, nóng bỏng, nhiều chất phồn thực nhưng không hề “khiêu dâm” “dung tục” đã làm nên nét riêng của thơ tình Đặng Xuân Xuyến, ví dụ:

- “Đêm phập phồng, ngực nõn hứng trăng non

Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận.”

(Say yêu)

- “Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta

Để đêm thánh thót rót trăng ngà

Để làn gió thoảng loang hương lạ

Để trộn vào ta, nghiến nát ta..”

(Cuồng say)

- “Ta muốn đêm này em với ta

Quyện từng hơi thở trộn thịt da”

(Ở lại)

- “Nướng thời gian với ngọn đèn hiu hắt

Mắt tìm môi thêm lơi lả ánh nhìn.”

(Chiều ta về)

- “Chẳng rình em tắm như người ta

Anh sỗ sàng dụ em buông thả

Vội vã thành đàn bà

Ngơ ngẩn làm "vợ người ta"

Em mặc miệng đời bủa vây mai mỉa

Lời yêu nuốt sâu cuống họng

Em thị phi khác thường...”

(Bến đợi)

- “Thì...

Ngủ với nhau một đêm

Ta nếm môi nhau một bận

Ta lần ngực nhau một bữa

Cho chừa cái nết sợ đêm.”

(Sợ đêm)

- “Vội vã cuống cuồng quấn chặt nhau

Chẳng vì yêu

Chẳng vì đầu mày cuối mắt

Ngấu nghiến nhau chỉ giải nghiền cơn khát

Trách móc làm gì câu nói đầu môi.”

(Tình vội)

- “Em hững hờ thả từng lọn trăng suông

Anh nén thở đè muôn ngàn con sóng

Vòng tay ôm có phần em lơi lỏng

Khẽ co người khi chạm khúc triều dâng.”

(Phía không em)

- “Em rướn mình hà hít nụ hôn anh

Tê tái lắm. Cuộc tình mình thật tội

Môi khóa môi mà sao xa vời vợi

Đêm cuống cuồng khỏa lấp nỗi chơi vơi.”

(Mơ trăng)

Những câu thơ cuống quýt yêu, bạo liệt yêu như thế xuất hiện trong thơ Đặng Xuân Xuyến khá nhiều và các chuyện tình trong thơ của anh cũng phần nhiều rơi vào những sự éo le, ngang trái. Với “Chuyện tình của "Mơ Trăng" là cuộc tình một bên cuống quýt được thỏa mãn cơn khát thèm thể xác, vội vã tận hưởng những phút giây ân ái, một bên lặng người, xót xa, tội nghiệp cho tình yêu "em" đang dâng hiến và cũng tê tái cho cuộc tình ngang trái của cả hai.” (Vài cảm nhận về 2 bài thơ tình của cậu học trò lớp 12 - Đặng Xuân Xuyến). Thì “Tình vội” lại là một chuyện tình đơn thuần chỉ là cuộc giao hoan giữa 2 thân xác, cả 2 lao vào nhau để tự giải tỏa những khát khao tình dục cho nhau còn chuyện tình của “Say yêu” thì đích thực là lời mời gọi khát tình của một kẻ cô đơn này với một kẻ cô đơn khác:

SAY YÊU

- Với T.L.A -

.

Yêu thương nhé. Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian

Uống nữa đi. Đây rượu ngọt. Môi mềm

Đêm lạnh lắm đừng để ta lẻ bạn.

.

Nào nâng chén cho sầu sầu rũ bỏ

Trút áo xiêm cho đêm bớt ngại ngần

Đây rượu nồng, men ủ đã nhiều năm

E ngại thế... Làm sao ta chẳng giận.

.

Thì ta biết thuyền em chưa bến đậu

Giấu mơ hoang vật vã đợi phong cuồng

Ta nhốt mình đằng đẵng mấy mùa ngâu

Nén lơi lả loạn điên nơi cõi mộng.

.

Ừ thì rượu. Ừ thì thơ. Ừ mộng đẹp

Ừ thì say cho hỉ hả phong trần

Đêm phập phồng, ngực nõn hứng trăng non

Môi đón lưỡi uống hương tình bất tận.

.

Yêu thương nhé.

Một lần thôi. Là đủ

Ta đâu cần gian díu giữa nhân gian...

*.

Hà Nội, đêm 11 tháng 04 năm 2014

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Trong thi ca Việt Nam, hầu hết những người đẹp trong các tiệc rượu của các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu... là gái giang hồ, là kỹ nữ... chỉ là khách mua vui của các thi nhân nhưng những người đẹp trong thơ rượu của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến (Say yêu, Em, Mơ đêm, Ở lại,...) lại là những người con gái khoác áo “con gái nhà lành” nhưng khát yêu, cuồng yêu vì cô đơn, vì những trắc trở của các cuộc tình... đến với thi nhân cũng chỉ để thỏa mãn những bức bách của dục tính gần như là tình một đêm, tình chớp nhoáng.

Đặng Xuân Xuyến đã bộc bạch quan niệm về thơ tình qua bài anh cảm nhận về tập thơ “Sóng ngầm” của nhà thơ Ngô Nguyễn:

Thơ Ngô Nguyễn ít có những giằng xé dữ dội của tâm trạng, của những ham muốn yêu đương xác thịt mà thường là những chuyển biến rất nhẹ nhàng, những xáo trộn tình cảm vẫn còn nằm trong sự “kiểm soát” và “giữ gìn” của lý trí, kiểu: Ừ thì,/ gió thoảng mây bay/ Ừ thì,/ chỉ cái chau mày/ nhếch môi....(Ừ thì)... của những nỗi buồn chơi vơi, của những xâm chiếm nhẹ nhàng hồn cốt: Được lời/ em đến thăm nhà/ Ngó cau/ cau mới đang hoa/ bao giờ (Mùa cau)... Tình yêu đấy “sạch” quá, “lành” quá. Ôi! Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả hê... thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán... Vâng! Tôi quan niệm tình yêu phải vậy.”

Nhà thơ, nhà phê bình văn học Châu Thạch thì chắc nịch về thơ tình của Đặng Xuân Xuyến:

Phải chăng thứ tình yêu bình thường, những ân ái bình thường không đáp ứng được cho một trái tim nhạy bén, một tâm hồn thơ luôn mơ mộng sự trong trẻo, sự vô biên, dây quyến luyến vượt quá cuộc đời. Con người thật của Đặng Xuân Xuyến ra sao ta đâu biết được nhưng thơ Đặng Xuân Xuyến quả là đúng như vậy.”

Còn tôi thì chua thêm câu về thơ tình của Đặng Xuân Xuyến:

Đặng Xuân Xuyến cuồng nhiệt yêu, bạo liệt yêu vì anh chưa thực sự được sống trọn vẹn với tình yêu!

*.

Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2021

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

quận Long Biên, thành phố Hà Nội.    

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

 

 

 

-----------------------------------

Đang cập nhật



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét