VIỆT NAM LÀM ĐƯỢC GÌ
TRONG ĐIỆN THOẠI SAMSUNG?
Khoảng năm 2014, khi Việt Nam
bắt đầu chứng kiến sự mở rộng rất nhanh của các tập đoàn điện tử nước ngoài,
đặc biệt là Samsung, một câu hỏi được đặt ra: doanh nghiệp Việt Nam làm được
những gì trong những chuỗi sản xuất toàn cầu đang hình thành ngay trên đất nước
mình?
Câu hỏi ấy khi đó không phải
không có lý do. Sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của
các tập đoàn FDI còn rất hạn chế. Một nhận xét từng gây tranh luận rằng doanh
nghiệp Việt Nam “chỉ mới làm được bao bì, màng nilon hay in sách hướng dẫn và
lắp ráp cho Samsung” phản ánh khá rõ thực trạng của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
vào thời điểm ấy. Việt Nam có thể thu hút một tập đoàn điện tử lớn đến xây dựng
nhà máy, nhưng doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực cung cấp nhiều linh
kiện, thiết bị và dịch vụ có yêu cầu kỹ thuật cao.
Điều đáng nói là cho đến tận
hôm nay, rất nhiều chuyên gia, thậm chí cả một số lãnh đạo Việt Nam, vẫn nhắc
lại hình ảnh ấy như thể đó là thực trạng hiện tại: doanh nghiệp Việt Nam chỉ
làm bao nilon, đóng gói và lắp ráp điện thoại cho Samsung. Đây là một cách nhìn
hết sức sai lầm so với thực tế.
Nếu câu nói ấy được dùng để
mô tả tình hình khoảng năm 2014 thì có cơ sở. Nhưng nếu dùng nó để mô tả doanh
nghiệp Việt Nam năm 2026 thì đã bỏ qua cả một quá trình phát triển hơn mười
năm.
Trong thời gian đó, một bộ
phận doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước thay đổi vị trí của mình trong chuỗi
cung ứng của các tập đoàn FDI, tham gia vào những công đoạn đòi hỏi cao hơn về
công nghệ, chất lượng, quản trị và khả năng cải tiến. Samsung là một trường hợp
tiêu biểu để nhìn thấy quá trình này.
Samsung bắt đầu sản xuất điện
thoại quy mô lớn tại Bắc Ninh từ năm 2009, sau đó mở rộng mạnh sang Thái Nguyên
từ năm 2014 và tiếp tục phát triển các cơ sở sản xuất, nghiên cứu tại Việt Nam.
Cùng với sự mở rộng đó, nhu cầu tìm kiếm và phát triển các nhà cung ứng tại chỗ
cũng ngày càng rõ rệt.
Đối với doanh nghiệp Việt
Nam, trở thành nhà cung ứng cho một tập đoàn toàn cầu không đơn giản là có thêm
một khách hàng lớn. Nhà cung cấp phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về chất
lượng, giá thành, tiến độ, năng lực sản xuất, quản trị và khả năng cải tiến.
Muốn giữ được đơn hàng, doanh nghiệp buộc phải thay đổi chính mình.
Nếu nhìn lại khoảng năm 2014
và so sánh với giữa thập niên 2020, sự thay đổi khá rõ. Theo các số liệu được
công bố, mạng lưới Samsung tại Việt Nam hiện có 340 doanh nghiệp Việt Nam tham
gia cung ứng, trong đó có hơn 50 doanh nghiệp thuộc nhóm nhà cung ứng cấp 1.
Nhưng điều đáng nói hơn những con số ấy là những sản phẩm và công đoạn mà một
số doanh nghiệp Việt Nam có thể đảm nhận đã thay đổi rất nhiều.
Trong lĩnh vực cơ khí chính
xác, đã có doanh nghiệp Việt Nam tham gia sản xuất những chi tiết nhỏ với yêu
cầu cao về độ chính xác. Vinavit là một ví dụ được nhắc đến trong việc cung cấp
các loại ốc vít micro cho sản phẩm điện tử. Trong lĩnh vực điện tử, Manutronics
và Mekong Technology tham gia sản xuất, lắp ráp bo mạch trên dây chuyền SMT. Ở
lĩnh vực khuôn mẫu và nhựa kỹ thuật, một số doanh nghiệp Việt Nam như Nhật
Minh, Bắc Việt hay An Trung Industries cũng đã tham gia cung ứng cho các doanh
nghiệp điện tử lớn.
Đặc biệt, trong những năm gần
đây, doanh nghiệp Việt còn xuất hiện ở lĩnh vực tự động hóa nhà máy. Phenikaa-X
đã nghiên cứu, phát triển và tùy biến các giải pháp robot tự hành AMR được sử
dụng tại một số cơ sở Samsung ở Việt Nam.
Nhưng Phenikaa-X là một ví dụ
cho thấy không nên đồng nhất một doanh nghiệp Việt chỉ làm nhà cung ứng cho một
tập đoàn FDI. Ngoài việc phát triển robot AMR cho Samsung, Phenikaa-X còn
nghiên cứu và phát triển nhiều sản phẩm, giải pháp công nghệ khác như xe tự
hành, AGV, robot hỗ trợ và drone. Các dòng robot AGV/AMR “Made in Vietnam” của
doanh nghiệp đã được thương mại hóa và hướng tới các thị trường quốc tế như Hàn
Quốc và một số quốc gia thuộc khối NATO. Nói cách khác, năng lực được hình
thành trong quá trình phục vụ những khách hàng lớn có thể trở thành nền tảng để
doanh nghiệp phát triển sản phẩm và tìm kiếm thị trường quốc tế rộng hơn.
Những ví dụ trên cho thấy sự
thay đổi không chỉ nằm ở số lượng nhà cung ứng mà còn ở trình độ công việc mà
một số doanh nghiệp Việt Nam có thể đảm nhận: từ vật tư đơn giản sang cơ khí
chính xác, bo mạch điện tử, khuôn mẫu, nhựa kỹ thuật, tự động hóa và robot.
Một doanh nghiệp có khả năng
sản xuất linh kiện cơ khí chính xác, vận hành dây chuyền SMT hay phát triển hệ
thống robot cho nhà máy điện tử rõ ràng không còn đứng ở vị trí giống một doanh
nghiệp chỉ cung cấp bao bì. Đó là một trình độ khác về máy móc, kỹ thuật, đội
ngũ kỹ sư, quản lý chất lượng và tổ chức sản xuất.
Vì vậy, khi đánh giá doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay, cần phân biệt hai nhận định: “doanh nghiệp Việt Nam
còn những khoảng trống trong chuỗi giá trị” và “doanh nghiệp Việt Nam chỉ làm
bao bì và lắp ráp”. Hai điều đó hoàn toàn không giống nhau.
Năm 2014, doanh nghiệp Việt
Nam chưa thể tự nhiên có ngay một hệ thống nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 với trình
độ kỹ thuật cao. Muốn có những doanh nghiệp như vậy phải có thời gian tích lũy
vốn, công nghệ, thiết bị, nhân lực, kinh nghiệm quản trị và quan trọng nhất là
phải có thị trường để doanh nghiệp đầu tư.
Ngay các tập đoàn FDI cũng
phải giải quyết bài toán tìm kiếm và phát triển nhà cung ứng tại chỗ. Đối với
họ, nguồn cung ứng trong nước có thể giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời
gian giao hàng, tăng tính chủ động và làm cho chuỗi sản xuất ổn định hơn. Vì
vậy, quá trình hình thành nhà cung ứng bản địa không phải là chuyện một chiều,
trong đó tập đoàn FDI “cho” doanh nghiệp Việt một cơ hội. Đó là quá trình cả
hai bên đều cần đến nhau.
Doanh nghiệp Việt Nam muốn
giữ được đơn hàng thì phải đáp ứng tiêu chuẩn. Muốn đáp ứng tiêu chuẩn thì phải
đầu tư và liên tục cải tiến để có cơ hội nhận những đơn hàng phức tạp hơn.
Những yêu cầu của chuỗi cung
ứng toàn cầu cũng buộc doanh nghiệp phải đầu tư máy móc hiện đại hơn, tuyển kỹ
sư giỏi hơn, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tốt hơn và tổ chức sản xuất
khoa học hơn. Sau một thời gian, những năng lực đó trở thành tài sản của chính
doanh nghiệp và không nhất thiết chỉ phục vụ một khách hàng.
Đó cũng là lý do không nên
nhìn quan hệ giữa FDI và doanh nghiệp Việt Nam đơn giản là “doanh nghiệp Việt
bán hàng cho doanh nghiệp FDI”. Điều đáng quan tâm hơn là doanh nghiệp Việt học
được cách tham gia một chuỗi sản xuất toàn cầu, rồi sử dụng những kinh nghiệm
ấy để nâng cấp chính mình.
Sự trưởng thành ấy cũng thể
hiện ở nguồn nhân lực. Khi các nhà máy FDI phát triển, họ không chỉ cần công
nhân mà còn cần kỹ sư, quản lý sản xuất, chuyên gia chất lượng, tự động hóa,
logistics và công nghệ thông tin. Qua nhiều năm làm việc trong môi trường đó,
một bộ phận người Việt tích lũy được kinh nghiệm mà trước đây rất khó có được
trong một nền công nghiệp còn non trẻ.
Trường hợp Samsung cho thấy
khá rõ điều này. Từ giữa thập niên 2010 đến nay, lực lượng kỹ sư Việt Nam trong
hệ thống sản xuất của Samsung có thêm nhiều kinh nghiệm về quản trị dây chuyền,
tự động hóa, kiểm soát chất lượng và cải tiến sản xuất. Một số người còn được
giao những nhiệm vụ tại các cơ sở Samsung ở nước ngoài, tham gia thiết lập dây
chuyền, chuyển giao quy trình hoặc đào tạo nhân sự. Nên nhớ Samsung đầu tư ở 33
quốc gia, nhưng Việt Nam có hệ thống sản xuất hoàn chỉnh nhất và thịnh vượng
nhất của công ty này.
Những kinh nghiệm ấy không
nhất thiết phải nằm lại trong một doanh nghiệp FDI. Người kỹ sư có thể chuyển
sang doanh nghiệp Việt Nam. Người quản lý có thể tham gia một dự án công nghiệp
khác. Người có kinh nghiệm về tự động hóa có thể tiếp tục làm việc trong lĩnh
vực robot hoặc sản xuất thông minh. Doanh nghiệp từng là nhà cung ứng cho một
tập đoàn FDI cũng có thể sử dụng kinh nghiệm ấy để tìm kiếm những khách hàng
quốc tế khác.
Như vậy, chuỗi cung ứng FDI
có thể trở thành một môi trường để doanh nghiệp và người lao động Việt Nam tích
lũy năng lực công nghiệp.
Nếu câu nói “doanh nghiệp
Việt Nam chỉ làm bao bì, màng nilon và lắp ráp” được dùng để cảnh báo rằng Việt
Nam không thể mãi là một cứ điểm lắp ráp, gia công thì hoàn toàn có lý. Nhưng
nếu lấy nó làm một mô tả về doanh nghiệp Việt Nam ở năm 2026 thì không còn
đúng.
Khoảng năm 2014, một doanh
nghiệp Việt cung cấp được bao bì cho Samsung đã có thể được coi là một bước
tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đến giữa thập niên 2020, việc một số
doanh nghiệp Việt có thể cung cấp linh kiện cơ khí chính xác, bo mạch điện tử,
khuôn mẫu, nhựa kỹ thuật, thiết bị tự động hóa hay giải pháp robot cho các nhà
máy điện tử cho thấy họ đã bước sang một cấp độ tham gia khác.
Đó là một quá trình nâng cấp
từng bước chứ không phải một cuộc “nhảy vọt” trong một đêm.
Samsung chỉ là một trường hợp
tiêu biểu. Quá trình tương tự cũng có thể diễn ra ở nhiều ngành khác khi doanh
nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn FDI trong lĩnh vực điện
tử, ô tô, cơ khí, thiết bị công nghiệp và những ngành công nghệ khác.
Tất nhiên, không nên vì những
kết quả đó mà cho rằng doanh nghiệp Việt Nam đã làm chủ toàn bộ chuỗi cung ứng
của Samsung hay đã làm chủ công nghệ điện tử toàn cầu. Điều đó còn rất xa.
Nhưng cũng không nên vì chưa làm chủ toàn bộ chuỗi mà phủ nhận những bước tiến
đã có.
Một bộ phận doanh nghiệp Việt
Nam đã đi khá sâu vào chuỗi cung ứng của Samsung so với điểm xuất phát của
chính họ hơn mười năm trước.
Vấn đề hiện nay không còn đơn
giản là “doanh nghiệp Việt Nam có tham gia chuỗi cung ứng FDI hay không”, mà là
họ đang đứng ở đâu trong chuỗi, đã tiến được bao xa và có tiếp tục tiến lên
được nữa hay không.
Không nên tự hào quá sớm rằng
doanh nghiệp Việt đã làm chủ mọi thứ. Nhưng cũng không nên mãi nhìn họ bằng
hình ảnh của hơn mười năm trước.
Từ một chiếc bao bì đến một
linh kiện chính xác, từ một linh kiện đến một cụm điện tử, từ sản xuất linh
kiện đến chế tạo thiết bị và robot, đó là cả một quá trình trưởng thành của
doanh nghiệp và kỹ sư Việt Nam.
Samsung là một ví dụ rất rõ
cho quá trình ấy.
Điều đáng kể không chỉ là
Samsung đã sản xuất hàng triệu sản phẩm tại Việt Nam, mà còn là trong quá trình
đó đã xuất hiện một nhóm doanh nghiệp Việt có năng lực kỹ thuật ngày càng cao
hơn, cùng với một lực lượng kỹ sư và nhà quản lý được tôi luyện trong môi
trường công nghiệp toàn cầu.
Đó là một quá trình chưa kết
thúc. Nhưng muốn biết Việt Nam đã đi được đến đâu, phải nhìn vào điểm xuất
phát, quãng đường đã đi và những gì đang xuất hiện hôm nay, chứ không thể chỉ
nhìn vào điểm xuất phát của năm 2014 rồi kết luận cho năm 2026.
------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương, “Tăng
tốc hỗ trợ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu”
2. Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương, “306
doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 của Samsung”
3. Samsung Newsroom Việt Nam, “29 doanh
nghiệp Việt là nhà cung cấp cấp 1 cho Samsung” (2017))
4. Samsung Newsroom Việt Nam, “Samsung tăng
cường hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam”
Nguồn này phù hợp với phần bài nói về việc
Samsung không chỉ mua hàng mà còn hỗ
5. Phenikaa, “Phenikaa và hành trình đưa sản
phẩm công nghệ thông minh vào cuộc sống”
6. World Bank – Vietnam Development Report
2019: Connecting Vietnam for Growth and Shared Prosperity
7. World Bank – Enhancing Enterprise
Competitiveness and SME Linkages
8. World Bank – The Global Information and
Communications Technology Industry: Where Vietnam Fits in GVCs
9. OECD – OECD Economic Surveys: Viet Nam
2025, Box 4.1 “Viet Nam and Samsung: developing a synergistic and symbiotic
relationship”
10. World Bank – Vietnam: Enhancing
Enterprise Competitiveness and SME Linkages
*.
BÙI VĂN ĐỊNH
(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình)
Địa chỉ: Chung cư Dạ Hợp
12 tầng, Tân Thịnh,
thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Email: buidinhhb1@gmail.com
Điện thoại: 091 539 65 47
.
........................................................................................
- Cập nhật theo nguyên
bản tác giả gửi qua email ngày 11.09.2026.
- Ảnh sử dụng minh họa
trong bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể
hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét