'THÁNH THI' ĐỖ PHỦ - Tác giả: Đỗ Trung Lai (Hà Nội)

Leave a Comment

 


“THÁNH THI” ĐỖ PHỦ


(Tác giả Đỗ Trung Lai)

Riêng với “Thánh thi” Đỗ Phủ, tôi có những “kỷ niệm” từ rất sớm.

Thuở thiếu thời, có lần tôi được nghe cha mình đọc cho nghe bài “Tuyệt cú” của Đỗ Phủ bằng âm Hán - Việt (Việt - Hán?) : “Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu/ Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên/ Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết/ Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền” (Đôi chim oanh vàng hót trong liễu biếc - Một hàng cò trắng bay lên trời xanh - Cửa sổ ngậm tuyết Tây Lĩnh đọng ngàn năm - Ngoài cửa sông, thuyền Đông Ngô từ vạn dặm về đậu). Từ đó, tôi không thể nào quên được âm luật của Đỗ Phủ. Rồi cha tôi bảo, ông Tản Đà, chắc vì rất yêu bài thơ này, nên đã dịch nó ra quốc ngữ một cách rất tài hoa: “Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc/ Một hàng cò trắng vút trời xanh/ Ngàn năm tuyết núi song in sắc/ Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình”.

Tôi thưa với cha tôi rằng, đúng là hay thật, nhưng chữ “vút“ của Tản Đà thì chưa thích lắm, vì cò vốn bay thấp, bay êm ả, bay thong thả, thong dong, có lúc nhìn xa, như là bất động, chứ không bay cao, bay nhanh như én, nhạn và vì thế, không nên dùng chữ “vút“. Ở câu thứ ba, thì chỉ còn “tuyết núi“ mà mất “Tây Lĩnh“. Mất “Tây Lĩnh“, thì không còn gì để đối với “Đông Ngô“ ở câu bốn nữa.

Cha tôi cười bảo, dịch thơ rất khó, không mấy khi có được một bản dịch vừa hay vừa chồng khít lên nguyên tác.

Sau này, tôi đọc cho cha tôi nghe bản dịch lại bài “Tuyệt cú“ của mình: - “Trong liễu biếc, oanh vàng kêu đôi giọng/ Trên trời xanh, cò trắng một hàng bay/ Ngàn năm tuyết ngậm song Tây/ Thuyền Ngô muôn dặm về đây dập dềnh”.

Cha tôi bảo: - Cũng khá, nhưng không có câu nào hay bằng câu “Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc” của Tản Đà. Dùng tiếng ta, thế mới là tài!

Lại thêm một cái cớ để tôi không quên Đỗ Phủ.

Lần khác, cha tôi đọc bài “Thu hứng“ (Bài 1) của Đỗ Phủ: “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm/ Vu Sơn Vu Giáp khí tiêu sâm/ Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng/ Tái thượng phong vân tiếp địa âm/ Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô chu nhất hệ cố viên tâm/ Hàn y xứ xứ thôi đao xích/ Bạch Đế thành cao cấp mộ châm” (Móc trắng như ngọc rơi xuống rừng phong làm nó thêm tiêu điều - Hơi núi tỏa mờ trong núi Vu, kẽm Vu khiến cảnh càng hiu hắt - Trên sông, sóng vỗ dữ dội tới tận lưng trời - Trên ải, gió đưa mây mù sà xuống sát mặt đất tối - Cúc nở hoa lần nữa khiến người rơi lệ - Con thuyền lẻ buộc mãi vào nỗi nhớ quê xa - May đo áo rét, nơi nơi rộn ràng tay dao, tay thước - Chiều chiều, tiếng chày giặt áo - đập vải - Vang đến tận thành cao Bạch Đế), thì âm điệu trong thơ Đỗ Phủ lại càng bám chặt vào trí nhớ của tôi.

Bài này, Nho tướng Nguyễn Công Trứ đã dịch là: “Lác đác rừng phong hạt móc sa/ Ngàn lau hiu hắt khí Thu lòa/ Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm/ Mặt đất mây đùn cửa ải xa/ Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ/ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà/ Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước/ Thành Bạch chầy vang bóng ác tà” (“Thơ Đường” - tập II - Nhà xuất bản Văn hóa - 1962).

Sau này, lại thấy Phan Huy Thực (Phan Huy Vịnh?), người dịch “Tỳ bà hành“ hay nhất Việt Nam, dịch lại (“sửa lại” thì đúng hơn) là: “Lác đác rừng phong hạt móc sa/ Ngàn lau hiu hắt khí Thu mờ/ Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm/ Mặt đất mây đùn cửa ải xa/ Khóm cúc tuôn rơi dòng lệ cũ/ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà/ Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước/ Thành quách dồn châm bóng ác tà” (“Thơ Đường” - Cuốn 2 - Sài Gòn - 1957).Bốn chữ được sửa lại: “mờ” - “gợn” - “rơi” - “quách”, đều không hay bằng chữ trong bản dịch của Nguyễn Công Trứ!

Xem thế, đủ biết, dịch thơ Đường khó đến thế nào - các cụ cao Nho còn phải trăn trở từng chữ!

Sau này, khi đọc và dịch lại thơ Đỗ Phủ, tôi thấy những câu thơ trữ tình, cân đối, chặt chẽ, hàm súc, mỹ lệ như thế rất nhiều: “Ngoài đồng lúa đã gặt/ Trong nhà rượu sẵn rồi/ Thôi thì ta uống vậy/ Nghe chiều buồn nhẹ rơi” (“Làng Khương” - bài 2 - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Bãi vắng, chim về trên cát trắng/ Trời cao gió lộng, vượn than dài/ Lá đổ tơi bời trên đất lạnh/ Trường Giang cuồn cuộn chảy về xuôi” (“Lên cao” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Một cánh hoa bay, Xuân bớt thắm/ Vạn cánh hoa bay, dạ khách buồn/ Ta ngồi, hoa rụng đầy trong mắt/ Sầu lên theo rượu nhập vào hồn” (“Sông Khúc” - bài 1 - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Nắng sớm đã về trên xóm núi/ Bên sông, lầu vắng, khí Thu lành/ Đêm đêm, thuyền cá thường qua lại/ Trời trong, én liệng giữa cao xanh” (“Thu hứng” - bài 3 - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Vẽ ngọc làm vua không thấy ngọc/ Hồn oan người ngọc về theo trăng/ Tỳ bà phổ khúc Chiêu Quân oán/ Nỉ non tình hận cả ngàn năm” (“Vịnh Chiêu Quân” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Suối sâu bên núi thì thào/ Sương từ ngọn cỏ rơi vào đất Thu/ Đèn soi mái tóc bạc phơ/ Hoa đèn mấy nụ lơ thơ lại tàn” (“Chiều buông” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Những ngày u ám đã qua/ Nắng lên, sông núi như là gấm thêu/ Mây hồng Đông Hải về theo/ Xanh ngời cỏ biếc, trong veo mặt hồ/ Oanh vàng cất giọng bên bờ/ Một đàn hạc trắng lững lờ bay ngang/ Những bông hoa dại bên đàng/ Tung muôn cánh mỏng theo làn gió thơm” (“Vu Sơn ngày mưa tạnh” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Gió nhẹ qua bờ, vương vấn cỏ/ Cột buồm sừng sững giữa thuyền ai/ Sao trời sà xuống theo đồng bãi/ Trăng vàng tung tóe mặt sông dài” ("Nỗi nhớ trong đêm đường xa” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Cây cùng màu với tuyết/ Gió sóng đùa trên sông/ Quê nhà đâu chẳng thấy/ Vu Sơn xanh não nùng” (“Cây mai bên sông” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Muôn khe, cây gọi gió/ Ngàn núi, khói sương mờ/ Thuyền ra ngoài thành cũ/ Dốc chén vào sông Thu... Chia tay cậu, lưu luyến/ Sứ quân tặng áo bào/ Hạc vàng trên bờ cát/ Lạc đàn, kêu thảm sao!” (“Viết đáp lại ông cậu thứ mười một trong bữa tiệc ở nhà họ Vương tại Lãng Châu” - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Nước vỡ, còn sông núi/ Cây cỏ đầy thành xuân/ Thương đời, hoa rơi lệ/ Biệt ly, chim thất thần” (“Ngóng xuân” - Đỗ Trung Lai dịch lại) v.v... và v.v...

Bên cạnh những câu thơ trữ tình, cân đối, chặt chẽ, hàm súc, mỹ lệ ấy, Đỗ Phủ dăm ba lần tỏ ý chán chường, thất vọng, muốn xa thế tục, bỏ vinh hoa mà du sơn du thủy như Lý Bạch, như Khổng Sào Phủ. Ông từng nhiều lần làm thơ gửi Lý Bạch, tỏ ý yêu thương cái phong độ, cốt cách của Lý Bạch: “Bao người mong chàng chết/ Riêng ta thương chàng tài/ Vung bút, thơ ngàn áng/ Nâng ly, mặc kệ đời!” (“Không gặp được” - Đỗ Trung Lai dịch lại). Ông ca ngợi Lý Bạch: “Thơ Lý Bạch vô địch/ Siêu thoát không ai bằng/ Mới như Dữu Khai phủ/ Bạo tựa Bào Tham quân/ Vui dường xuân Bắc Vị/ Buồn sánh chiều Giang Đông” (“Ngày xuân nhớ Lý Bạch” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Ông chán ngán, thất vọng tâm sự cùng Lý Bạch: “Văn chương vốn kỵ người thành đạt/ Như giống ma kia thích cợt người/ Thì với hồn oan, ta trò chuyện/ Thơ mình, thả xuống Mịch La thôi!” (“Cuối năm nhớ Lý Bạch” - Đỗ Trung Lai dịch lại). Trời ơi! Mịch La là tên con sông ngày xưa Khuất Nguyên trẫm mình. “Hồn oan” ở đây chính là hồn Khuất Nguyên! Thế là, Đỗ Phủ đã ngửi thấy “mùi” thất thế, thất bại, oan uổng, khổ sở của Khuất Nguyên ở chính cuộc đời mình, ở những số phận tài danh như mình, như Lý Bạch. Mà thơ Lý - Đỗ cũng hoàn toàn có thể “thả” xuống Mịch La để cùng tâm sự với “Ly Tao” của Khuất Nguyên chứ! Vì thế mà ông hết sức kính trọng Khổng Sào Phủ, người đã “lắc đầu” với hoạn lộ để được sống theo ý mình: “Sào Phủ lắc đầu không ở nữa/ Quyết về Đông, ra giữa trùng khơi/ Để thơ ở lại với đời/ Rồi đi câu cá bên ngoài thế gian/ Rồng lớn chọn đại ngàn mà tới/ Ở gì nơi tăm tối ưu phiền/ Xe tiên đến tự cõi tiên/ Truyền rằng, bác phải về miền hư không/ Bác vốn đã tiên phong đạo cốt/ Người đời sao hiểu được đại bàng/ Bác thường coi cảnh giàu sang/ Như sương trên cỏ bên đàng mà thôi” (“Tiễn Khổng Sào Phủ cáo bệnh từ quan. Đi chơi Giang Đông, cũng là để tìm gặp Lý Bạch” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Quả là có đôi lúc, Đỗ Phủ đã tiến gần đến cái chí hướng của Lý Bạch, Khổng Sào Phủ: “Phỉ thúy bên sông còn có tổ/ Kỳ lân lăn lóc bên mộ tàn/ Xem thế, lại càng chơi cho thỏa/ Đem cái phù danh tặng thế gian” (“Sông Khúc” - bài 1 - Đỗ Trung Lai dịch lại). Hay là: “Tan chầu, ta cầm áo Xuân đi/ Đầu sông, say khướt mới quay về/ Nợ rượu trên đời, đâu chỉ tớ/ Thọ bẩy mươi à, đã mấy khi/ Chuồn chuồn đạp nước vui phơi phới/ Bướm tìm hút mật giữa hoa kia/ Người ơi, ngày tháng trôi nhanh lắm/ Mau thưởng Xuân đi kẻo lỡ thì!” (“Sông Khúc” - bài 2 - Đỗ Trung Lai dịch lại) v.v...

Nhưng Đỗ Phủ chỉ “đôi lúc”, “dăm ba lần” nghĩ thế. Còn suốt đời, Đỗ Phủ mộng và ca tụng mộng công hầu, nuôi chí thờ vua, giúp nước. Mẫu người mà ông thích nhất là mẫu người như Khổng Minh Gia Cát. Ông kính cẩn, khâm phục, chia sẻ với cuộc đời lẫy lừng, bi tráng của Thừa tướng Thục Hán: “Anh hùng cái thế thời Tam Quốc/ Lừng danh cùng Bát quái trận đồ/ Còn mãi bên sông, thành đá cũ/ Như lời di hận, chửa bình Ngô” (“Trận đồ Bát quái” - Đỗ Trung Lai dịch lại). Hoặc: “Ba lần đến Ngọa Long Cương/ Hai triều, vằng vặc tấm gương lão thần/ Giặc còn, thân đã vong thân/ Lệ anh hùng mãi rơi thầm áo ai!” (“Thừa tướng Thục Hán” - Đỗ Trung Lai dịch lại). Về già, Đỗ Phủ vẫn thường nhớ tiếc thời ở Trường An - thời được dâng thơ, dâng phú cho Thiên tử : “Thuyền vui bè bạn chiều chiều/ Ngày nào thơ chép lụa điều dâng vua / Bây giờ ngồi nhớ ngày xưa/ Bây giờ ta đã phơ phơ mái đầu” (“Thu hứng” - bài 4 - Đỗ Trung Lai dịch lại), lúc nào ông cũng “Nhớ về nước cũ cho lòng xót xa”. Vừa nghe quan quân chiếm lại được Kế Bắc, ông đã “Xếp bừa sách lại, vui như dại/ Sáng uống chiều ca, tựa phát cuồng”. Khi được tin Túc Tông (con Đường Minh Hoàng) lên ngôi ở Linh Vũ, ông đã bỏ cả vợ con ở Phu Châu để đi tìm phò chúa mới. Ngay trong những bài thơ toàn là khổ với sở viết trong những lúc đời riêng khốn khó nhất, ông vẫn bảo: “Nam nhi nào giống thân mình nhỉ/ Chửa thấy công danh, tóc bạc rồi/ Người ta khanh tướng giữa đời/ Đền xong nợ nước từ thời tóc xanh!” (“Bẩy khúc ca ở Đồng Cốc” - Đỗ Trung Lai dịch lại). Và, dù mắt thấy tai nghe bao chuyện trái tai gai mắt cuối đời Đường Huyền Tông, ông vẫn coi đó là “Thời Nghiêu Thuấn”, ông vẫn thường ngậm ngùi: “Đã từng dâng sớ, danh không toại/ Đọc sách bình văn, chí chẳng thành/ Bạn học đa phần đều hiển đạt/ Áo bạc xe vàng chốn đế kinh” (“Thu hứng” - bài 3 - Đỗ Trung Lai dịch lại). Ông rất mong được như Khuông Hành, Lưu Hướng đời Hán Nguyên Đế - làm Tể Tướng, Hiệu Úy trong triều. Cuối đời, trong bài “Ngắm đồng”, ông còn viết: “Đời xuống dốc, thân già đa bệnh/ Chửa đáp đền ân mệnh triều đình” v.v...

Nhưng nếu chỉ có vậy, Đỗ Phủ sao có thể vĩ đại đến thế? Sao có thể hóa thi hào của một đất nước mà nhà nho đông như rừng (Nho lâm), và việc làm thơ phú văn chương, với họ, vừa là thú vui, vừa là nghề nghiệp, vừa là nghĩa vụ, vừa là thương hiệu, như vậy? Giá trị lớn nhất của thơ ông không phải là thơ ngâm vịnh hay thơ nói chí mà ta vừa điểm qua.

Giá trị lớn nhất ấy của ông nằm ở những bài thơ yêu nước, thương dân, thương đời, thương thời, thương thân, thương người vô song của mình.

Ở đó tràn đầy một lòng nhân đạo lớn, cao cả và sâu thẳm tinh thần của chủ nghĩa nhân văn; đầy ắp tài năng, đầy ắp tâm sự - tâm tư của một kẻ chịu nạn vĩ đại mà rộng mở một tấm lòng Bồ Tát.

Có thể kể ra hàng loạt những bài thơ như vậy của ông: “Viên nha lại ở Thạch Hào”, “Viên nha lại ở Đồng Quan”, “Viên nha lại ở Tân An”, “Không còn nhà để mà ly biệt”, “Biệt ly sau lễ cưới”, ba bài “Làng Khương”, “Bẩy khúc ca ở Đồng Cốc”, hai mươi bài “Thơ ngắn ở Tần Châu”, “Bài thơ về trăm nỗi ưu phiền”, “Bài hành về đoàn xe trưng binh”, “Bài thơ về những người đàn bà vác củi”, “Bài thơ về nhà nông”, “Khách từ”, “Bài thơ viết trong chuyến đi từ kinh đô đến huyện Phụng Tiên”...

Cảnh bắt phu ở thôn Thạch Hào, cổ kim đã lay động lòng trắc ẩn của bao người: Ba con trai ra trận, chết một còn hai; cháu thì đang bú mẹ, mẹ cháu thì “Chiếc quân lành ra ngoài/ Nó cũng chẳng có”; ông lão phải vượt tường trốn! Cuối cùng, bà lão phải đi phu thay! Khổ cuối của bài thơ làm hoang mang, rúng động lòng người : “Tiếng người im ngoài tường/ Đêm nghẹn ngào ảo não/ Sáng, chia tay lên đường/ Chỉ còn độc ông lão!” (“Viên nha lại ở Thạch Hào” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Lời vợ lính thời loạn trong thơ ông: “Búi tóc theo chàng làm vợ/ Còn chưa ấm chiếu ấm giường/ Tối trước vừa làm lễ cưới/ Sớm sau chàng đã lên đường/ Chàng đi, dù chưa xa lắm/ Hà Dương vẫn gần vùng ta/ Nhưng ai là người đưa thiếp/ Lên nhà vái lạy mẹ cha/ Nhà nghèo, thiếp dành dụm mãi/ May được tấm xiêm lụa xoàng/ Chàng đi, thiếp không đành mặc/ Phấn son tẩy hết, đợi chàng”. Thế mà trong lúc ấy : “Trăm lần chim trời qua ngõ/ Lớn bé đều cùng bay đôi” (“Biệt ly sau lễ cưới” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Hãy nghe thơ ông về làng mình sau binh lửa: “Làng xưa, giờ toàn lối trống/ Mặt trời cũng gầy thảm thê/ Cáo dại chồn hoang đầy ngõ/ Dựng lông dọa cả người về/... Sinh con, chưa từng nhờ cậy/ Một đời biết mấy khổ đau/ Còn nhà đâu mà ly biệt/ Mà dâng mẹ bát canh rau!” (“Không còn nhà để mà ly biệt” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Hãy nghe ông “chép lại” lời người đi lính thú: “Năm mười lăm tuổi, tôi lên Bắc/ Quan sai lên Hoàng Hà hộ đê/ Năm bốn mươi tròn, thì khai khẩn/ Miền Tây hoang lạnh, lại ra đi!/ Khi đi, thầy lý cho khăn đội/ Khi về, trắng tóc lẫn mày, mi.../ Thế nào thì đến mùa Đông tới/ Gọi lính biên phòng, cũng phải đi/ Ở nhà, huyện quan giục sưu thuế/ Vợ tôi nộp gì, khi quan về?/ Làm trai như tôi thật vô dụng/ Chẳng thà làm gái cho yên bề/ Làm gái, còn gả nơi gần gựa/ Làm trai, thân phận sao thảm thê/ Ông thấy không ông, vùng Thanh Hải/ Xương lính xưa nay, ai nhặt về?”. Chính vì thế mà: “Xe chạy ầm ầm, ngựa hý vang/ Cung tên bên lưng, người lên đường/ Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn/ Bụi mù không thấy cầu Hàm Dương” (“Bài hành về đoàn xe trưng binh” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Khi về làng Khương thì: “Người người đều than rượu nhạt/ Ruộng bỏ, không còn ai cày/ Binh lửa miền Đông chưa dứt/ Cháu con ra trận lâu ngày” (“Khương thôn” - bài 3 - Đỗ Trung Lai dịch lại), “Vợ con ngỡ mình đã chết/ Sững sờ, lệ đổ ngàn hàng/ Sống được trong thời ly loạn/ Về nhà, may nhất thế gian!” (“Khương thôn” - bài 1 - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Rồi cảnh trưng binh trong kiệt quệ: “Huyện nhỏ, tráng đinh hết/ Đành bắt lính trẻ ranh/ Đứa nào cũng thấp nhỏ/ Làm sao giữ nổi thành/ Thằng khá, mẹ đưa tiễn/ Thằng nghèo, đi một mình/ Nước về Đông trắng xóa/ Tiếng khóc đầy non xanh!” (“Viên nha lại ở Tân An” - Đỗ Trung Lai dịch lại) v.v...

Cuộc đời riêng của ông thì ra sao? Ta hãy nghe ông kể: “Có gã nọ tên là Tử Mỹ (tức Đỗ Phủ)/ Đầu bạc phơ, tóc để quá tai/ Đi như vượn mấy năm dài/ Ngắt rau nhặt quả hôm mai giữa rừng”. Ông và vợ con phải đi ăn nhờ ở đậu: “Vợ chồng tàn tạ dung nhan/ Ăn nhờ ở đậu, biết làm sao đây/ Con thơ nào thấu dạ này/ Cửa Đông phụng phịu, suốt ngày đòi cơm” (“Bài thơ về trăm nỗi ưu phiền” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Cảnh ông về thăm nhà: “Vừa qua cửa đã rơi nước mắt/ Ma đói vừa bắt mất con ta/ Thằng con bé bỏng nhất nhà/ Vợ già than khóc, lòng ta rã rời... Ta làm bố không ra phận bố/ Để con mình chết khổ chết oan/ Đồng Thu đã gặt quanh làng/ Có kẻ cơ hàn, bỏ đói vợ con!”. Rồi từ cảnh mình, ông nhìn ra cảnh người: “Ta được miễn, không còn tô thuế/ Tên nằm ngoài niên lệ tòng quân/ Thế mà đang phải khốn cùng/ Dân lành còn biết vẫy vùng ra sao/ Người thất nghiệp biết bao cay cực/ Kẻ đầu quân Tây Vực, Nam Man/ Lo phiền như núi như non/ Chạnh thương cảnh ấy, héo hon dạ này” (“Bài thơ viết trong chuyến đi từ kinh đô đến huyện Phụng Tiên” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Cũng ở bài thơ trên, ông trỏ ra cái cảnh tương phản giữa đám vua chúa, quý tộc với dân lành: “Suối ấm tắm vương tôn công tử/ Dải mũ dài, gấm đỏ tơ xanh/ Những phường áo ngắn vô danh/ Ai mời dự yến cung đình xưa nay.../ Tiệc bày móng lạc đà ninh kỹ/ Tráng miệng dùng cam quý quýt tươi/ Cửa son rượu thịt bỏ ôi/ Bao người chết rét xương phơi ngoài đường”.

Ông nói về thời cuộc: “Nghe nói Trường An giống cuộc cờ/ Thế sự thăng trầm tựa nắng mưa/ Chủ mới đã vào nơi đài cũ/ Mũ áo công hầu cũng khác xưa/ Bắc phạt, ngày ngày rung trống trận/ Tây chinh, tới tấp ngựa đưa thư/ Sông lạnh, lưới chài thưa thớt cá/ Nước cũ còn đâu, dạ thẫn thờ” (“Thu hứng” - bài 4 - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Ông “tổng kết” đời mình: “Kiếp này sao nhọc quá/ Thân gầy như xương khô/ Giặc mọc như lông mọc/ Chửa vui lâu bao giờ!”.

Rồi ông “tự kiểm điểm”: “Đất Đỗ Lăng có chàng áo vải/ Tuổi càng cao, càng dại càng ngu/ Coi mình như thánh nhân xưa/ Lập thân, ngẩn ngẩn ngơ ngơ hão huyền”. Lý tưởng của ông là: “Ước gì đem giáo đem gươm/ Đúc thành cày cuốc, ruộng nương bời bời/ Trâu bừa hết ruộng cho người/ Lúa tươi tằm tốt, đời đời ấm no/ Trai gặt hái, gái ươm tơ/ Hương hồn liệt sĩ lệ khô tháng ngày” (“Bài thơ nhà nông” - Đỗ Trung Lai dịch lại).

Thế mà khi ông mất, gia nhân chẳng đủ tiền đưa di hài ông về quê!

Cảnh khiến ông đau thì còn đó, cảnh ông ước thì chưa về! Nhưng đúng như người ta nói, “Cùng nhi hậu công”, những nỗi cùng cực khốn khổ mà ông trải đã làm cho thơ ông sâu sắc, chân thực, lớn lao; thành báu vật Trung Hoa, báu vật nhân loại!

Sau này, Lương Khải Siêu - nhà học giả, nhà cách mạng, nhà tư tưởng Trung Hoa cận đại - đã viết về Đỗ Phủ như sau: “Đỗ Công Bộ được người đời sau tặng cho danh hiệu Thánh thi, vì nội dung tình cảm của ông vô cùng phong phú, cực kỳ chân thực, cực kỳ thâm khắc ; phương pháp biểu cảm của ông cực kỳ thục luyện, đi đến chỗ cực kỳ sâu xa... Trong văn giới Trung Hoa, những nhà tả tình không ai hơn được ông (“Lương Nhiệm công văn tồn” - Thượng Hải ấn thư quán - Hồng Công - 1959 - Tr, 249).

Một thi sĩ lớn sau thời Đỗ Phủ là Nguyên Chẩn (Vãn Đường), đã viết trên bia mộ ông: “Từ khi có thi nhân tới giờ, không ai vĩ đại bằng Đỗ Phủ”, có lẽ cũng vì cảm cái cảnh tình ấy, phục cái tài ấy.

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Chuyện làng văn0

- Các bài viết của (về) tác giả Đỗ Trung Lai0

- Các bài viết của (về) tác giả Đỗ Anh Tuyến0

- Các bài viết của (về) tác giả Đỗ Trường0

- Các bài viết của (về) tác giả Đỗ Hoàng0

- Các bài viết của (về) tác giả Đỗ Minh Tuấn0

- Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ độc vận Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ lục bát Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ tự do Đặng Xuân Xuyếnl

 

 

Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc

truyện ngắn "CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ của Đặng Xuân Xuyến:

*.

ĐỖ TRUNG LAI

Địa chỉ: phố Khương Thừa Vũ,

quận Thanh Xuân, Hà Nội.

 



 

 

 

  ........................................................................................

- Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi ngày 01 tháng 04 năm 2026.

- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.

0 comments:

Đăng nhận xét