MẤY NHỊP ĐÒ ĐƯA

(cảm nhận thơ văn)
*
Vài lời về tập sách:
SÓNG GIÓ NỘI CUNG
(Thay cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)
*
Lịch sử phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vư­ơng triều, các "thiên tử". Mỗi triều đại, mỗi quân vư­ơng, nhìn chung chỉ tồn tại với quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vư­ơng triều chết yểu do nhiều nguyên nhân nh­ưng cơ bản là do ng­ười kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã không xứng đáng là "con trời" để "thay trời hành đạo", "chăn dắt muôn dân". Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nh­ược hoặc bất tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ­ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân... nên trong thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà "thần và ngư­ời đều căm giận" nên đã bị "trăm họ" phế truất vai trò của họ ra khỏi chính trường.
Chế độ phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng. Nền chính trị tập quyền khiến các đế vư­ơng không cần sức kiềm chế. Một đấng minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hư­ởng lớn đến suy nghĩ và hành động của các cận thần d­ưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nư­ớc đ­ược cường thịnh, nh­ưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất n­ước bị loạn lạc, triều chính bị tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong v­ương triều.
D­ương Long Diễn, đ­ường đ­ường là một quân vương, mà bị cha con Từ Tri Huấn phỉ báng, làm nhục. Thời gian ở ngôi đế vương của ông ta dễ đến m­ười năm nhưng ch­ưa một lần D­ương Long Diễn thực sự đ­ược làm thiên tử. Bản chất hèn mạt, ham sống sợ chết đã biến ông ta thành kẻ hầu hạ cho cha con họ Từ, làm đảo lộn luân thường đạo lý: Bề tôi bỡn cợt thiên tử, đại thần đánh đập nhà vua.
Chu Cẩn vì dốc lòng phò tá nhà Ngô mà ra tay tiễu trừ Từ Tri Huấn, như­ng thật nực c­ười, trớ trêu, vị đế vương bù nhìn Dương Long Diễn (Ngô Cảnh Đế) đã quay l­ưng phản bội lại sự cúc cung, tận tuỵ quên mình của các trung thần nghĩa sĩ, dẫn đến cái chết thê thảm của đại tướng Chu Cẩn và mấy chục trung thần.
L­ưu S­ưởng, vị hoàng đế cuối cùng của v­ương triều Nam Hán là một vị đế vương ngu muội và lẩm cẩm. Cuộc đời của y là cuộc đời của những việc làm xằng bậy, những điều luật quái gở, tàn ác, những hành vi hoang dâm vô đạo. Từ thời Bàn Cổ khai thiên lập địa đến Tam Hoàng Ngũ đế, rồi đến tận bấy giờ ch­ưa có một đế vương nào lại ra điều kiện tuyển dụng làm quan trong triều thì tr­ước hết phải tự thiến, nếu không tự thiến đ­ược thì triều đình sẽ thiến hộ, vậy mà Lưu S­ưởng lại ban ra cái chiếu chỉ chết ngư­ời ấy.
Quái đản và vô đạo hơn nữa, L­ưu S­ưởng còn bắt bề tôi giao hết xe ngựa, áo cầu cho nhà vua sử dụng, còn chuyện chăn gối của “thiên tử” thì “trẫm” vui lòng dùng chung với thần dân trăm họ. Bản thân L­ưu S­ưởng không những dâm dật, thiện nghệ trong chuyện làm tình mà còn rất thích xem ng­ười khác hành lạc. Nhà vua thư­ờng xuyên tuyển những đám thiếu niên h­ư hỏng cho cặp đôi với cung nữ, từng đôi, từng đôi trần truồng mà làm tình ở hậu viên để nhà vua thưởng thức, tùy theo sự điêu luyện mà phạt roi hay ban thư­ởng. Tệ hơn nữa, Lư­u Sưởng còn cho tuyển những diện th­ư (đĩ đực) thật đẹp trai vào cung để chăn gối với Mị - Trư (ngư­ời đ­ược vua sủng ái nhất). Thật là tr­ường hợp độc nhất vô nhị mà cổ kim ch­ưa hề có.
Võ Tắc Thiên, vị nữ hoàng đế đầu tiên và duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc đã không từ một thủ đoạn tàn khốc nào để đả kích và tiêu diệt những kẻ đối lập về chính trị để dần dần chiếm đoạt ngôi báu. Thời gian ở ngôi đế vị, Võ Tắc Thiên có nhiều cống hiến cho lịch sử Trung Quốc, nh­ưng những việc làm tàn bạo để củng cố địa vị của bà thì mãi mãi lịch sử Trung Quốc còn nhiều đàm luận.
Từ địa vị một tài nhân, Võ Tắc Thiên bư­ớc dần lên ngôi hoàng hậu để rồi từ đó trèo lên chiếc ngai vàng, tự xưng là hoàng đế. Bà không những thẳng tay đàn áp những người đối nghịch, (cho dù đó là ng­ười trong gia tộc) mà ngay cả con cái đứt ruột đẻ ra, bà cũng thẳng tay trấn áp. Việc trả lại triều chính cho nhà Đ­ường, loại bỏ đế hiệu, trở lại ngôi hoàng hậu lúc cuối đời là biểu hiện sự bế tắc, khủng hoảng về t­ư t­ưởng của Võ Tắc Thiên. Điều đó cho thấy dù Võ Tắc Thiên có là một bậc kỳ tài, có thể lập lên những kỳ tích trong lịch sử như­ng bà cũng không thể thoát khỏi sự trói buộc về t­ư tưởng trọng nam khinh nữ, không thể vư­ợt quá phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép, buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị với t­ư thế của kẻ chiến bại.
Những ai đã đọc và hiểu về lịch sử v­ương triều Tây Tấn, hẳn sẽ không quên câu chuyện về Huệ Đế Tư­ Mã Ai (tức Tư­ Mã Trung) khi còn làm Thái tử đã hỏi cận thần những câu hỏi ngớ ngẩn: - “Tiếng ếch kêu là của công hay của t­ư?”. Dân tình đói khổ, hôn quân Huệ đế lại phán một câu thật nực cười: - “Sao không nấu cháo thịt mà ăn?”. Huệ đế Tư­ Mã Ai là ai? Xin thư­a đó là hoàng thư­ợng của nhà Tây Tấn! Là chồng của ng­ười đàn bà thác loạn trong tính giao: Giả Nam Phong!
Sống cạnh một hôn quân ngu ngốc, ngớ ngẩn như Tấn Huệ Đế, người đàn bà “mặt hai màu” ấy đã viết vào  lịch sử Trung Quốc những dòng nhơ bẩn, với những tội ác không thể tha thứ. Vì hoang dâm vô độ, ả đã giết biết bao thiếu niên xinh đẹp, sau khi đã hầu hạ chăn gối qua đêm cho ả. Không những tàn bạo trong tính giao, Giả Nam Phong còn làm biết bao điều bạo ngược­: Ra lệnh bắt giam thái hậu Dương Chính vào cung Vĩnh Ninh rồi bỏ chết đói; Thẳng tay giết chết những trung thần tài giỏi không thuộc phe cánh của mình; Đầu độc thái tử, biến dần Thái tử từ ngư­ời có tư chất, ham học hỏi, nhân nghĩa thành kẻ bạo ng­ược, hoang dâm và bần tiện để rồi chọn đúng cơ hội ra tay tàn sát. Chén thuốc độc mà Tấn Huệ Đế ban cho (thực ra là của Triệu vương Tư­ Mã Luân) đã kết thúc cuộc đời ng­ười đàn bà bạo ng­ược, hoang dâm và tàn ác có một không hai trong lịch sử Trung Hoa. Cái chết của Giả Nam Phong cũng đồng thời kéo theo chấm dứt sự tồn tại của nhà Tây Tấn, đư­a đất n­ước Trung Hoa vào một thời kỳ hỗn loạn mới: Nam Bắc phân liệt kéo dài suốt 400 năm.
Chu Do Kiểm, vị vua cuối cùng của v­ương triều Minh kế nghiệp tổ tiên khi đất n­ước ngày một sa sút, các mâu thuẫn xã hội phát triển gay gắt, các thế lực chính trị đang trong tình trạng quyết đấu một mất một còn. Những năm đầu nắm quyền bính, Minh Nghị Tông đã mang hết khả năng của tài trai, sức trẻ phụng sự cho xã tắc, đ­ưa vư­ơng triều Minh tránh đ­ược nguy cơ của sự diệt vong, tiến lên một b­ước. Như­ng thật đáng tiếc, ông vua trẻ tuổi này đã sớm hỉ hả trư­ớc những thành tựu của mình để lao vào trò chơi quyền lực, tin yêu hoạn quan, bỏ bê triều chính. M­ười bảy năm làm vua, Chu Do Kiểm đã đuổi hơn 50 người ra khỏi nội các, thay đổi các thượng th­ư như­ đèn cù, không khống chế đ­ược tài chính quốc gia, giết và bãi chức rất nhiều trung thần tài giỏi, đặc biệt là giết oan Viên Sùng Hoán một danh t­ướng dũng cảm, lắm m­ưu nhiều kế, hiếm có bấy giờ để sau m­ười bảy năm cầm quyền, Chu Do Kiểm vị vua thứ t­ư của vư­ơng triều Minh đã để mất n­ước, tự kết thúc cuộc đời bằng sợi dây treo cổ.
Ngũ Tử Tư,­ một trung thần của vư­ơng triều Ngô, có nhiều công lao trong việc xây dựng và bảo vệ triều đại nhà Ngô. Ông là nỗi khiếp sợ của cả vua tôi Việt Vương, là niềm tin và ý chí của ngư­ời dân nư­ớc Ngô, thế như­ng chỉ vì nóng nảy, trực tính mà đang là “tướng phụ” đầy quyền uy phải chấp nhận hình phạt tự xử của Ngô Phù Sai. Chiến trận đã sinh ra “t­ướng phụ”, gươm đao và hào khí của chiến trư­ờng đã tạo ra một Ngũ Tử Tư­ đại tài, dũng mãnh nh­ưng rồi cũng chính g­ươm đao ấy đã kết thúc cuộc đời ông trong nỗi đau của trần thế, trong tiếng nức nở nghẹn ngào của ngư­ời dân nước Ngô và trong tiếng rên rỉ của một triều đại phong kiến đã đến ngày mạt vận. Những giọt n­ước mắt hối hận của Phù Sai không thể làm sống lại một Ngũ Tử T­ư trung thần, ái quốc, không thể làm dịu đi nỗi uất hận của ngư­ời dân n­ước Ngô và càng không thể vực dậy được v­ương triều Ngô đã đến ngày tận thế.
Khuất Nguyên, một chính trị gia uyên bác thời chiến quốc rất giỏi về ngoại giao, có tài về chính trị, ông đã nhận thấy: Nước Sở có giàu mạnh lên mới có thể thoát khỏi sự uy hiếp của n­ước Tần. Vì vậy ông đã đề xuất những chính sách: "Liên Tề chống Tần", "Cải cách những tệ hại về chính trị để chấn h­ưng đất n­ước" được Sở Hoài V­ương tín nhiệm. Nh­ưng chẳng bao lâu, Khuất Nguyên gặp phải sự chống đối kịch liệt của tầng lớp quý tộc hủ bại, sợ cải cách vì sợ ảnh h­ưởng đến quyền lợi của bản thân nên đã đặt điều vu khống, bài xích ông tr­ước mặt Sở Hoài Vư­ơng khiến Sở Hoài Vư­ơng đày ông biệt xứ.
Dời khỏi vũ đài chính trị, ông trở thành "kẻ bị biếm thích". Cuộc sống của người bị l­ưu đày biệt xứ khốn quẫn vô cùng nh­ưng nỗi đau duy nhất, cao hơn nỗi khổ nhục của kẻ bị đày biệt xứ là nỗi đau phải chứng kiến sự diệt vong đang đến dần của n­ước Sở - nơi ông đã yêu th­ương, hi sinh đến trọn đời. Đô thành n­ước Sở bị quân Tần chiếm đóng đã kết thúc v­ương triều Sở, cũng đồng thời kết thúc cuộc đời và lý t­ưởng cao đẹp của Khuất Nguyên dưới­ dòng sông Mịch La cuộn trào sóng hận. Sở Hoài Vương! Vị đế vư­ơng thích nghe những lời phỉnh nịnh ngọt ngào kia dẫu có chết đến nghìn lần cũng không thể chuộc lại những lỗi lầm mà y đã mắc phải.
Ở chế độ mà đế v­ương có quyền hạn tối th­ượng ấy, không những sinh mạng của mọi ng­ười khó bảo toàn mà thậm chí đến sinh mạng của đấng chí tôn cũng khó được bảo đảm vì những âm mư­u cung đình cứ ngấm ngầm tạo dưỡng trong nội bộ vương triều từng giờ từng phút. Chế độ thế tập quyền uy đã sản sinh ra những âm mưu, thủ đoạn, những việc làm bất nhân, bất nghĩa, chà đạp lên luân thường đạo lý. Chỉ vì chiếc ngai vàng, vì chỗ ngồi quyền lực mà gia đình tan nát, nồi da xáo thịt: Cha giết con, em giết anh, con giết bố... dẫn đến cảnh đất n­ước loạn lạc. Đi hết tập sách này, bạn đọc sẽ thốt lên đau đớn, phẫn nỗ: Đâu rồi tính ng­ười ở những ông vua? đâu rồi phụ tử tình thâm - đặc tr­ưng cơ bản của xã hội loài ngư­ời - ở các hoàng tộc?
Bộ sách "CHUYỆN VUA CHÚA TRUNG HOA" ghi chép gần một trăm quân chủ phản diện kiểu như­ vậy. Họ là những kẻ đại diện cho thế lực thống trị thối nát ở Trung Quốc từ xã hội nô lệ đến chế độ phong kiến. Trong số những vị hôn quân đó, có những vị đế vương trong những năm đầu nắm quyền bính là những ông vua sáng suốt, có nhiều công tích, hoặc đứng ở mặt nào đó là những thiên tài nh­ưng hoặc do kiêu căng, dâm dật, hoặc do ân oán cá nhân, hoặc do bị lung lạc bởi hoạn quan, ngoại thích mà trở nên bạo ngược, dẫn đến cảnh n­ước mất nhà tan; nh­ưng có những vị đế vương ngay từ ngày mới đư­ợc kế vị đã lao vào ăn chơi đàng điếm, không có ý chí, thậm chí còn có ngớ ngẩn, đần độn trong hành xử... nên trong thời gian tại vị họ chỉ biết lao vào những lạc thú riêng t­ư, bỏ bê triều chính, xáo trộn xã hội, dẫn đến sự sụp đổ cả một v­ương triều.
Công ty Văn Hóa Bảo Thắng trân trọng giới thiệu với Quý bạn đọc: "SÓNG GIÓ NỘI CUNG",  tập đầu của bộ sách 15 tập về “thâm cung bí sử” của các ông hoàng bà chúa (Trung Hoa) như thế do Lý Khắc Cung dịch thuật.
*.
Hà nội, ngày 17 tháng 04 năm 2002
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.vài suy nghĩ khi đọc truyện ngắn 
ĐÙA CỦA TẠO HÓA
*
Truyện ngắn ĐÙA CỦA TẠO HÓA của nhà văn Phạm Hoa đã miêu tả khá thành công tính cách nhân vật Tuấn, đại diện cho một trong những điểm yếu của người đàn ông hiện đại.
Tuấn là con trai duy nhất của một gia đình căn cơ, khá giả với đầy đủ lợi thế: Đẹp trai, học giỏi, hiếu thuận và lịch lãm. Bố hy sinh khi anh còn quá nhỏ, mẹ ở vậy thờ chồng nuôi con. Lớn lên trong tình yêu, sự hy sinh và kỳ vọng vô bờ của người mẹ, anh đã có tất cả: Đẹp trai, thành đạt, được mọi người quý trọng, cưới được cô vợ xinh đẹp thảo hiền. Nhưng thật oái oăm, hay như cách nói của nhà văn Phạm Hoa, gọi đó là trò đùa của tạo hóa, bỗng chốc anh trở thành trắng tay, như chưa tồn tại ở cõi đời.
Đọc ĐÙA CỦA TẠO HÓA, hình ảnh bà Thuận được tác giả khắc họa rất rõ nét và sinh động: Bản lĩnh mà yếu đuối, nhân hậu mà ghê gớm, bao dung mà ích kỷ... trước và sau khi Tuấn cưới vợ. Con người bà chứa đầy mâu thuẫn giữa cho và nhận, giữa tình thương và trách nhiệm vì tình yêu bà dành cho con theo kiểu “độc chiếm yêu thương”. Người đọc yêu bà đấy, cảm phục bà đấy nhưng cũng trách giận bà đấy, khó có thể cảm thông cho sự cứng rắn, ích kỷ đến mù quáng của bà sau khi Tuấn cưới vợ.
Xưa tới nay, muôn đời vẫn vậy, người mẹ luôn hết lòng vì con, sẵn sàng chấp nhận mọi đắng cay, khổ cực, thậm chí đánh đổi cả mạng sống của mình để đứa con được hạnh phúc. Đó là lẽ thường tình, người mẹ nào cũng làm vậy, nhưng việc yêu con đến cạn kiệt bản năng làm mẹ như bà Thuận, người đời khó có thể chấp nhận. Người đọc, thậm chí có thể kính phục bà trong việc nuôi dạy Tuấn nên người, lo lắng chở che cho Tuấn đến quên bản thân mình nhưng không ai chấp nhận tình yêu kiểu “độc chiếm yêu thương” bà dành cho Tuấn. Đấy chính là điểm “thắt nút” buộc Tuấn phải tháo gỡ, là đầu mối bi kịch cuộc đời Tuấn, và cũng chính là bi kịch cuộc đời của một gia đình tưởng sẽ mãi ấm êm, hạnh phúc.
Trái ngược với hình ảnh bà Thuận, hình ảnh Tuấn hiện lên qua phác họa của Phạm Hoa thật yếu đuối và nhu nhược. Con người anh rất hoàn hảo về hình thức và tri thức, nhưng cứ nhàn nhạt về tính cách. Cả cuộc đời anh là một xâu chuỗi sự “răm rắp vâng lời”. Tuốt tuột anh làm theo ý mẹ, nghe theo sự sắp đặt của mẹ. Anh giỏi trong tri thức nhưng lại quá mù mờ về bổn phận của thằng đàn ông. Anh nhanh nhẹn, hoạt bát trong các mối quan hệ xã hội nhưng lại quá ngớ ngẩn trong ứng xử gia đình. Giữa hai người phụ nữ (mẹ và vợ), anh cư xử như một thằng “trẻ con”: Không chính kiến, không suy nghĩ, không hành động.
Mâu thuẫn giữa mẹ và vợ đã đẩy đến điểm đỉnh. Cuộc chiến giành giật “quyền sở hữu” Tuấn - (theo chữ của Nguyễn Kiên là “vùng khuất trong tiềm thức (...) có ẩn ức sinh lý”) - từ hai người đàn bà đã ở mức quyết liệt, một mất một còn mà hành động của Tuấn vẫn chỉ là: Luống cuống quỳ xuống chân mẹ, khóc rưng rức, van xin. Hành động “đáng kể” nhất của anh, được Phạm Hoa viết: “May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả”, là kéo vợ chạy khỏi nhà, chạy ào ra đồng.
Giữa hai người phụ nữ yêu thương của mình, Tuấn không biết phải làm gì (mà đúng ra anh chẳng chịu làm gì cả). Anh bị họ giằng xé, đun đẩy. Anh là cái cớ để họ bám víu, để họ quyết chiến sống còn nhưng anh vẫn bàng quan, vô cảm. Với họ, anh chỉ là con xúc sắc xinh xinh, đẹp mắt cần phải độc chiếm. Với anh, họ là người thân yêu như ngàn vạn người khác ngoài xã hội. Phạm Hoa đã lột tả tất cả sự nhu nhược, ươn hèn và ích kỷ trong tâm lý và tính cách của Tuấn, chỉ qua một đoạn ngắn: “Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng của cuộc xin xỏ đã hết. Chợt anh mỉm cười mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt xác Loan ra làm ba được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy, nước mắt cũng thôi chảy. Vừa đi ra ngõ, anh vừa thấy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế nào cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Để cho các người ở lại giành giật, cắn xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà vẫn không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong con người anh như diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn, lạnh vắng, như đang lững thững bước trên miền đất nào đó rất xa lạ.” Vâng! Tuấn đã “biến đổi dữ dội” (!) để nhận ra sự cô đơn, vô vị, bất lực của mình nhưng anh vẫn không làm gì, ngoài hành động bỏ trốn. Người đọc cảm mến anh ở những trang đầu bao nhiêu thì nay bực tức anh bấy nhiêu, thậm chí lên án anh vì hành động trốn chạy, vô trách nhiệm của mình.
Ích kỷ và nhu nhược phải chăng là tính cách tạo nên con người Tuấn? Thằng đàn ông có dáng dấp mạnh mẽ, thành đạt của anh chỉ là vỏ bọc của một tâm hồn yếu đuối, bạc nhược, của suy nghĩ rất con trẻ chẳng biết làm gì và thật xa lạ với xã hội, đại diện cho những “cậu ấm” suốt ngày quẩn quanh bên mẹ, yêu mẹ bằng sự tôn thờ tuyệt đối. Kết thúc truyện, hay kết thúc bi kịch cuộc đời Tuấn là sự tan vỡ gia đình, là bước đi vô định của anh giữa màn đêm cô tịch, để mãi mãi không còn ai thấy sự tồn tại của anh trên cõi đời này.
Có lẽ Phạm Hoa đã gặp không ít người đàn ông kiểu như Tuấn trong cuộc sống nên đã xây dựng nhân vật Tuấn trong ĐÙA CỦA TẠO HÓA rất đặc trưng cho những chàng công tử chỉ được cái mẽ người “hào hoa và diêm dúa” nhưng vô tích sự ở đời. Qua tác phẩm của mình, Phạm Hoa cảnh báo: Nếu tình yêu của người mẹ dành cho cậu con trai theo kiểu “độc chiếm yêu thương” sẽ biến con mình trở thành người đàn ông nhu nhược, yếu đuối và ích kỷ, hay còn gọi là người đàn ông “nửa vời”, bị “cắt xén”. Sự ra đi của Tuấn là cần thiết cho cho sự chấm dứt hình ảnh người đàn ông “trẻ con” yếu đuối về tâm hồn, nhu nhược về tính cách đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội hiện đại.
*.
Làng Đá, mùa hè, năm 2002
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Vài cảm nhận về thơ
VĂN THÙY “dị nhân”
*
Nghèo mà tài không được bằng ai nên tôi chọn sách (viết và kinh doanh sách) làm nghề kiếm kế sinh nhai. Ngót nghét hai mươi năm với nghề, khi thấy nghề sách có dấu hiệu “suy thoái”, tôi quyết định bỏ nghề, “về hưu” và tìm thú tiêu khiển với facebook... Lên mạng, tôi chăm chú đọc những bài về văn hóa tín ngưỡng, về đối nhân xử thế... chứ không mặn mà với thơ, truyện vì... ngại đọc, sợ phải “động não” nhiều nên khi thi sĩ Nguyễn Đăng Hành rủ Văn Thùy “dị nhân” đến thăm nhà - ở làng Đá, Ân Thi, Hưng Yên - tôi mới biết ông là thi sĩ cùng quê, là kẻ bấy lâu được giới văn chương “phong tặng” là “dị nhân”, là “lục bát giang hồ”... Cầm mấy tập thơ ông đề tặng, tôi cám ơn cho phải phép rồi cất vào tủ sách. Đêm. Ám ảnh bởi cuộc nói chuyện của ông, tôi vùng dậy “lôi thơ” của ông ra đọc.
Tôi thật sự bị thơ ông cuốn hút!
Ông tung hứng, nhảy múa với từng câu chữ. Ông bắt người đọc phải trầm trồ, ngả mũ vì cách chơi chữ táo bạo mà đắc địa: Phải tay này gặp Thị Màu / Chẳng sưng đầu mõ, cũng nhàu vú chuông... hay: Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.
Câu chữ, qua sự nhào nặn của ông - của “dị nhân” Văn Thùy - trở nên sinh động, nhuần nhuyễn và tài hoa: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu... hay: Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh. 
Viết về tình yêu với vợ (cũ), người phụ nữ từng nhiều năm đầu gối má kề, ông dành cho bà những lời dịu dàng, đằm thắm: Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa / Cũng bay về phía thật thà ngày xưa; bằng trải lòng rất thật: Quay về tầm mắt em thôi / Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh. Ông dằn vặt, tự trách, ông nhận hết phần sai về mình: Nửa đời bám gió leo mây / Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu / Mải mê thơ phú cánh diều / Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côi. Tình yêu ông dành cho người vợ nhiều lắm nên bất chấp tính sĩ diện cố hữu của thằng đàn ông, ông thấp giọng “xin” bà cho ông cơ hội: Xin em hết sức lượng tình / Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua. Và rồi, cả mãi sau đấy, khi bà rời xa ông, đã trở thành người phụ nữ “của người ta”, thì tình yêu ông dành cho bà vẫn âm ỉ. Sau nhữngTrong nhà luýnh quýnh một người chạy mưa”, ông ngồi thần người nghĩ về người vợ cũ. Hình ảnh người đàn ông cô đơn, tuổi xế chiều, cố nén tiếng thở dài để chặn tiếng khóc chực bật ra trong Nhà Dột như cứa vào tâm trí người đọc: Giá như đôi đũa chẳng cong / Thì đâu lẻ bóng long đong chống trời / Giá như… ừ… giá như thôi / Mình không dại dột chia đôi nếp nhà.
Có lẽ là người thất bại trong hôn nhân nên mặc dù khao khát một tình yêu mãnh liệt, luôn sẵn lòng đắm đuối với ái tình nhưng những khao khát, đắm đuối ấy luôn gặp phải sự cản trở từ chính con người ông. Những câu tếu táo, bông đùa: “Vừa ban thông điệp yêu đương / Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh”, hay “Có gì mạnh đến lạ thường / Yêu suông đã bốn chân giường còn hai” tưởng gia vị cho tình yêu thêm thi vị, máu lửa thì thực ra đó là lời chống chế ngầm của kẻ sợ sẽ bại trận trong tình yêu. Như con chim sợ đậu phải cành cong, ông đắm đuối, bỏng cháy với tình yêu nhưng lại dè dặt, e ngại mở lòng với cuộc tình “sắp” đến. Rất nhiều tính từ (có lúc lại là động từ) như “yêu chay”, “yêu khan”, “yêu suông”... được ông sử dụng để diễn tả tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương: “Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi”, “Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu”, “Đã âm thầm nỗi yêu khan”, “Đã thành hội chứng yêu khan”...
Ông viết nhiều về tình yêu trai gái, nhưng thường là thứ tình yêu trớ trêu, thuộc lứa nạ dòng gặp phải trai lơ, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của người thôn quê pha chút ngông ngông, “bất cần” của gã trai “bụi” phóng đãng: Cổng chùa xin tiểu lỏng then / Kẻ trần tục dễ lẻn lên thăm chùa... hay: Em nguyền khổ hạnh ăn chay / Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.
Nhưng khi viết về mẹ thì thơ ông lại trầm lắng mà da diết, từng lời, từng lời như bào xát tâm can, khiến người đọc day dứt, rưng rưng: Vinh hoa con ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt thời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường / Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh - (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu thơ thật hay, thật sinh động, được viết bởi tấm lòng của người con hiếu thảo trong Hoài Cảm Tích Cũ khắc sâu trong tâm trí người đọc: Chân trần mài vẹt đường quê / Lưng về như đặt đoạn đê giữa nhà / Lá trầu dứt cuống đi xa / Nồng cay hương quế thơm qua xứ người.
Viết về mảng nào, dù là tình yêu trai gái hay nhân tình thế thái, thơ ông cũng có sự mượt mà, đằm thắm của ca dao, pha chút tếu táo, bỡn cợt của dân dã, cộng thêm chút khệnh khạng của Văn Thùy, đã tạo nên thương hiệu thơ rất riêng, rất “dị nhân” Văn Thùy, dễ say đắm lòng người.
Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” - “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” - “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”..., thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em - Xin Em Đừng Mặc Áo Dày) đã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.
*.
Hà Nội, 26 tháng 12 năm 2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Đọc bài thơ
HƯƠNG DƯƠNG CẦM
của Nguyễn Thanh Lâm
*
Hương Dương Cầm

Mưa vừa đủ cho hàng cây nhỏ giọt
Như giọt cafe trắng trong
Gió vừa đủ cho mưa rơi nghiêng
Hòa tiếng dương cầm ru trong đêm

Hà Nội đêm
Tiếng dương cầm lan xa hương
Thơm thơm mùi nhớ
Vương vương dặm tình
Nghìn mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng dương cầm loang loáng ướt
Ngập ngừng rơi

Bên kia sông Hồng mưa có rơi
Tiếng dương cầm có cùng hạt mưa thấm vào lòng đất
Phia bên này năm cưa ô thao thức
Hay đang mơ giấc nhạc dương cầm

Hà Nội đêm tỏa hương dương cầm
Hương vừa đủ cho đời tự cho là đủ
Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ
Trong thế giới bao la riêng một hương mình.
*.
NGUYỄN THANH LÂM
LỜI BÌNH:
Mở đầu bài thơ là giọng thơ thiền, ngộ đạo thường thấy của nhà thơ: Lặng lẽ quan sát, lặng lẽ chiêm nghiệm để lặng lẽ rút ra những kinh nghiệm sống trong cõi tạm của đời người:
Mưa vừa đủ cho hàng cây nhỏ giọt
Như giọt cafe trắng trong
Gió vừa đủ cho mưa rơi nghiêng
Hòa tiếng dương cầm ru trong đêm
Ở đây, ở khổ thơ này, tất cả sự vật, hiện tượng như cây cối, mưa, gió... đều vừa vặn, vừa đủ để tạo nên một không gian đẹp, một khung cảnh thơ mộng, ấn tượng, rất Hà Nội, mà cũng đậm chất triết lý Á Đông. Tuy là thế, người đọc vẫn sẽ thắc mắc sự phi lý khi đọc đến câu: “Như giọt cafe trắng trong” bởi thường thì người ta nói giọt cafe đen, giọt cafe nâu... chứ chưa nghe ai nói“giọt cafe trắng trong” như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm đã viết. Phi lý như thế nhưng lại rất có lý, bởi giọt cafe mà ông lặng lẽ quan sát là giọt cafe của trời, của thiên nhiên, chứ không phải giọt cafe đen hay nâu của trần tục. Chính giọt mưa đang tí tách nhỏ giọt trên cây kia khiến ông liên tưởng tới giọt cafe, và với sự liên tưởng “ảo của thơ” ấy đã khiến giọt mưa trong thơ Nguyễn Thanh Lâm có hồn, ấm áp, thơ hơn và đẹp hơn. Phải quan sát thật kỹ, thật tỉnh thì ông mới đưa được ra “nhận xét” độc đáo, chính xác, tinh tế như thế, và mới có được những câu: “Mưa vừa đủ cho hàng cây nhỏ giọt”/ “Gió vừa đủ cho mưa rơi nghiêng, đấy không chỉ là những câu thơ mà còn là những chiêm nghiệm, những triết lý của cuộc sống, những ngộ thức về đạo của đời người. Vâng! Tôi rất tán đồng với những điều ông viết nhưng thưa nhà thơ, biết cân đong đo đếm thế nào cho vừa vặn, cho đủ đây? Thật khó, nào có dễ, thưa nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm!
Khổ 2, là khổ thơ tôi thích nhất bởi tình yêu của tác giả dành cho Hà Nội được nhà thơ nâng niu, chắt lọc trong từng câu chữ, hình ảnh:
Hà Nội đêm
Tiếng dương cầm lan xa hương
Thơm thơm mùi nhớ
Vương vương dặm tình
Nghìn mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng dương cầm loang loáng ướt
Ngập ngừng rơi
Cái hay ở đây là sự cảm của nhà thơ về mưa đêm Hà Nội. Nhà thơ không chỉ nghe mà còn “ngửi” được, “nhìn” được hương mưa đêm dìu dịu của Hà Nội qua bảng lảng, dìu dặt của tiếng dương cầm. Nhà thơ dùng: “Tiếng dương cầm lan xa hương”, rất sáng tạo để dụ người đọc nhẹ nhàng bước vào cõi nhớ thương rất riêng của ông, với những “Thơm thơm mùi nhớ/ Vương vương dặm tình”, chỉ có thể tìm thấy trong thơ Nguyễn Thanh Lâm.
Hà Nội đã thẩm thấu vào con người ông, thành máu thịt của ông đến độ khi tiếng dương cầm dìu dặt ngân lên đã khiến ông rạo rực về Hà Nội, khiến những nét vẽ của ông về Hà Nội trong mưa đêm cựa quậy, trở nên huyền ảo, lung linh, đẹp đến liêu trai:
Nghìn mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng dương cầm loang loáng ướt
Ngập ngừng rơi
Tiếng dương cầm trong thơ của Nguyễn Thanh Lâm không còn là tiếng âm thanh của nhạc cụ, mà thành hương của lòng, thành hồn của nhà thơ đã ôm lấy, quyện lấy Hà Nội, để vẽ nên một Hà Nội gợi cảm, mềm mại. Câu thơ: “Nghìn mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp đã hay, đã đẹp nhưng có thể sẽ có ai đó nghĩ được, viết được giống thế nhưng để cảm được “Tiếng dương cầm loang loáng ướt/ Ngập ngừng rơi” sống động đến mê hoặc như Nguyễn Thanh Lâm thì thật khó, thật hiếm. Riêng khổ thơ thứ 2 này đã là một bài thơ hay, hoàn chỉnh về Hương Dương Cầm trong mưa đêm Hà nội. Bài thơ hay và đứng được trong tâm trí người đọc chính ở khổ thơ này!
Hai khổ cuối của bài thơ là nỗi lòng trăn trở, thắc thỏm của nhà thơ với tình yêu của ông dành cho Hà Nội, cho “người Hà Nội” của ông:
Bên kia sông Hồng mưa có rơi
Tiếng dương cầm có cùng hạt mưa thấm vào lòng đất
Phia bên này năm cửa ô thao thức
Hay đang mơ giấc nhạc dương cầm

Hà Nội đêm tỏa hương dương cầm
Hương vừa đủ cho đời tự cho là đủ
Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ
Trong thế giới bao la riêng một hương mình.
Nhịp thơ chậm lại, giọng thơ trầm, lắng, dung dị và mộc mạc của ngôn ngữ đời thường, như thủ thỉ tâm sự, nói chuyện để trải lòng. Nếu ở khổ thứ 2 là những hình ảnh liêu trai, đẹp đến ma mị, được diễn đạt bằng cách nhìn nhận của tư duy phóng khoáng, hiện đại thì ở 2 khổ thơ này, cách nhìn nhận và diễn đạt hình ảnh, lại bằng suy nghĩ, triết lý rất phương Đông. Chất thiền đặc trưng của thơ ông ở khổ thơ 3 và 4 lại khiến người đọc tò mò, thích thú vì thấy cảm được thơ ông, hiểu được thơ ông nhưng lại khó diễn đạt cho ra ý thành lời, đọc thơ mà như có cảm giác đang chơi trò thách đố diễn đạt câu chữ với nhà thơ. Phải chăng vì điều đó mà thơ Nguyễn Thanh Lâm kén bạn đọc!
Kết thúc bài thơ là quan điểm của nhà thơ về cuộc sống:Hương vừa đủ cho đời tự cho là đủ/ Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ”, đượm triết lý phương Đông, triết lý của Lão Tử.
Tôi mãi phân vân về câu kết của bài thơ vì 20 năm chơi với ông, tôi hiểu ông là người tự trọng, khiêm nhường, sống trọng tình trọng nghĩa nhưng câu “Trong thế giới bao la riêng một hương mình” thì rất dễ bị hiểu lầm là cao ngạo, coi mình là riêng một vũ trụ nên tôi đã lướt qua, cố tình không đả động đến. Thế nhưng, trước khi đưa bài lên trang, tôi lại phân vân, rồi tự trách: Nguyễn Thanh Lâm đâu có cao ngạo? Ông ung dung điềm đạm nhìn đời đấy chứ! Hương Dương Cầm đã là hương “riêng của Hà Nội” chứ đâu còn là của riêng của Nguyễn Thanh Lâm mà bảo ông là người kiêu căng! Lần nữa, tôi lại tán đồng với quan điểm thấm đẫm triết lý phương Đông của ông về cuộc sống: “Hương vừa đủ cho đời tự cho là đủ/ Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ”.
Tôi không có khiếu bình thơ nhưng vì đọc Hương Dương Cầm thấy hay quá, buộc lòng cầm bút để ghi lại vài dòng.
*
Hà Nội, chiều 08.07.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


LAN MAN VỀ PHONG CÁCH
BÌNH THƠ CỦA CHÂU THẠCH
*
Khi tìm tài liệu đọc để viết bài CHỮ TÔI, CHỮ TA VÀ CÁI TÂM LÀNH, tôi chợt có ý định thử tìm hiểu về phong cách bình thơ của nhà phê bình văn học Châu Thạch nên cần mẫn ngồi đọc 130 bài bình thơ của ông. Đọc xong, tôi phấn chấn, nảy thêm ý định “tận dụng sự đọc 130 bài bình thơ” để viết một bài làm “kỷ niệm”... Tôi điện gặp nhà phê bình Châu Thạch, nói ý định của mình, ông cười sảng khoái: - “Vâng! Đặng Xuân Xuyến cứ viết theo đúng như những gì Đặng Xuân Xuyến cảm nhận về Châu Thạch, như thế mới quý. Cám ơn Đặng Xuân Xuyến trước nhé.”.
Tôi liền cặm cụi ghi lại những cảm nhận của mình về phong cách bình thơ của ông. Vì đây là bài cảm nhận của một đọc giả về một tác giả nên cấu trúc bài viết và những dẫn giải đưa ra sẽ không mang tính nghiên cứu khoa học, chỉ nhằm đáp ứng tiêu chí của bài: LAN MAN VỀ PHONG CÁCH BÌNH THƠ CỦA CHÂU THẠCH. Vì thế, bài viết sẽ có những hạn chế, những thiếu sót khiến bạn đọc không được vừa ý.
&.1
Đọc những bài bình thơ của tác giả Châu Thạch, tôi hay gặp (nhiều) cách ông giả định khi bình thơ, tôi tạm gọi đó là phương pháp giả định để liên tưởng và giả định để gợi mở trong cảm thụ thơ văn. Có thể nói, đấy chính là phong cách đặc trưng, là cách nổi trội trong phong cách bình thơ của tác giả Châu Thạch. (Đây chỉ là quan điểm cá nhân của tôi khi đọc Châu Thạch bình thơ, không là bài phê bình của người viết phê bình, vì thế “thuật ngữ” giả định để liên tưởng, giả định để gợi mở và một số “thuật ngữ” khác sẽ dùng trong bài viết nếu chưa sát nghĩa hoặc không đúng, mong quý vị thể tất.)
Chẳng hạn, khi bình bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan, ông đã dùng phương pháp giả định để liên tưởng khi tiếp cận với ý thơ (tứ thơ):
“Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng,
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Khổ thơ này cho ta liên nghĩ đến điều gì? Liên nghĩ đến vận mệnh. Vận mệnh của một cuộc gặp, vận mệnh của một đời người, vận mênh của quốc gia không tùy thuộc vào ta, có khi tùy thuộc vào phút giây nào đó. Bài thơ không cho ta biết hai người có liên quan nhau không nhưng bài thơ cũng cho ta đoán định đây là hai con người nghĩa khí. Một người có học, canh cánh bên lòng nổi u uẩn. Một người đang mang trọng trách trong mình. Nếu họ gặp nhau và đưa nhau qua đò biết đâu sẽ làm việc lớn, và chuyến đò kia sẽ là chuyến đò định mệnh. Vì họ không gặp nhau, vì định mệnh không cho họ hội ngộ nên ông lái đò phải:
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
Như vậy, người khách kia đi đâu không biết nhưng ông lái đò đã phí cả thơi gian, phí đi kinh sử, mất đi chí lớn, u uất nép mình chèo đò bao năm trên bến My lăng để đợi một người khách sang sông, người khách sẽ làm cuộc đời ông thay đổi. Đó là nhân vật nào ta đâu biết. Một tri kỷ? một đồng chí? Một lảnh tụ chăng? chứ dứt khoát không phải chỉ là một chàng kỵ mã bình thường.”
Đúng ý hay sai ý của tác giả thơ chưa biết nhưng trong trường hợp này, thì phương pháp giả định để cảm nhận Bến My Lăng theo cách của tác giả Châu Thạch là cách tiếp cận hợp lý.
Hay như khi bình Một Buổi Trưa của Bùi Giáng, mà theo Châu Thạch, thì đó là một bài thơ hay nhưng rất bí hiểm, khó lý giải trong số “những bài thơ tỉnh táo của Bùi Giáng”. Và để bình bài thơ này, tác giả Châu Thạch đã vận dụng phương pháp giả định để liên tưởng, giả định để gợi mở, để “cảm” Một Buổi Trưa.
Xin mời cùng đọc trích dẫn:
“Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Em có định sẽ cùng ai kể lể” là một câu nghi vấn mà không có dấu hỏi, nó có công dụng cho ta biết tác giả không trực tiếp hỏi em mà tự nhủ trong lòng mình. Câu thơ này cũng cho ta một phỏng đoán có thể em đang ở đó và cũng có thể em không có đó, nghĩa là tác giả đang một mình giữa bao la suy nghĩ về em. “Em” trong ba câu thơ còn lại như là một bóng ma. Bóng ma có một cuộc đời “hư huyễn giữa chiêm bao”, sống ở một vùng “hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ” mà nơi đó là một nơi có thể hiểu là nơi vô định vì nó có “một mùi hương nồng tụ” mà tác giả không biết “ở nơi nào”.
Vế thơ này cho ta cảm giác gì? Cảm giác một bóng người lãng đãng trong một khung trời ảm đạm. Và cho ta một cảm nhận gì? Cảm nhận đây là linh hồn của tác giả. “Em” ở đây không ai khác là tâm thần của người nằm mộng. Cái tâm thần đó đã trải qua bao hệ lụy của cuộc đời, nay nó bước ra từ tâm tác giả và hóa hình vào trong  cơn mơ ấy. Cái tâm thần đó u ám trong lòng tác giả, nay nhân dịp thể xác êm ái trong giấc trưa, nó hiển hiện trong cơn mơ làm nên một bóng dáng của bao điều hệ lụy.
Cũng dùng phương pháp giả định để cảm thụ, Châu Thạch đã thả nguồn cảm hứng của ông lạc trôi theo cánh “Chuồn Chuồn bay...”, phiêu cùng thơ Trần Mai Ngân đến với cõi mộng:
Chuồn chuồn mà bay được đến cổng trời là chuyện không thể vì thân nó quá nhỏ, cánh nó quá mỏng. Vậy chỉ có  con chuồn chuồn hóa thân vào linh hồn tác giả thì mới đến được cổng trời trong mơ ước. Con chuồn chuồn bây giờ trở nên vô hình vì nó nằm trong ảo tưởng. Đây thật sự là một giấc mơ với muôn vàn khắc khỏai. Đây thật sự là tấm lòng ăn năn của người trong cuộc, ăn năn vì số phận ly tan, duyên trời chia cách chớ không phải ăn năn vì phụ bạc tình nhau. Bởi vì con chuồn chuồn đã yêu sâu đậm và thủy chung đến suốt một đời: “Ví dầu…dẫu mộng không thành/ Buồn, vui vẫn đậu…ngọt lành vẫn xin”. Chuồn chuồn mà bay đến cổng trời cũng có thể hiểu được là người xưa có thể đã trở thành người thiên cổ không còn ở thế gian. Câu chuyện chẳng khác chi Điệp ngày xưa đã đến cổng chùa để tạ lỗi với Lan. Điệp còn biết có Lan khi dây chuông bị cắt đứt nhưng con chuồn chuồn của Trần Mai Ngân chỉ đến cổng trời trong mơ ước mà thôi. Chính hình ảnh đó cho ta hiểu được niềm quặn thắt triền miên của người ở lại giữa cuộc đời nầy. Hình ảnh cánh chuồn chuồn chuồn mỏng manh mà bay đến tận cổng trời cũng cho ta thấy được tình yêu vĩ đại chất chứa trong lòng người đi tìm quá khứ. Vế thơ thứ nhất đưa con người vào mộng, vế thơ thứ hai đưa con người vào đau, một nỗi đau lớn chất nặng trên cánh con chuồn chuồn bé bỏng. Cái đẹp được pha trộn nỗi đau làm tăng thêm nỗi đau và nỗi đau làm tăng thêm cái đẹp. Người đọc thơ ở đây sẽ hưởng được thi vị trong nỗi đắng cay vì những câu thơ rất đẹp lướt qua một cuộc tình ngang trái.”.
&.2
Tuy phương pháp giả định được ông vận dụng khá nhiều trong các bài bình thơ nhưng không phải phương pháp này được ông ưu tiên làm chính yếu, mà trong nhiều trường hợp, ông đã linh hoạt khi tiếp cận để tìm tòi, khám phá sự “đặc biệt”, tinh tế về cấu tứ, âm điệu, kỹ thuật... của bài thơ, lấy đó làm “nguyên liệu” cho việc “cảm” và bình thơ. Đấy cũng là một điểm nhấn đáng lưu ý trong phong cách bình thơ của Châu Thạch.
Gặp được bài thơ hay, ông phấn khích, ông “sướng nâng” như bị “lên đồng”. Chẳng hạn, khi đọc “Thềm Xưa, Em Đợi Người Về”, trước kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ khá “đắc địa” của Hà Nhữ Uyên, ông như chịu sự tác động của một loại chất kích thích cực mạnh, buộc ông “tự nguyện” thả hồn phiêu cùng Hà Nhữ Uyên, “tự nguyện” “lên đồng” cùng Hà Nhữ Uyên:
Thú thật, bốn câu thơ ở vế đầu đã làm tôi sướng nâng và đọc những vế thơ kế tiếp tôi có cảm nhận mình đã thèm, đã thèm như chất kích thích đầy hương vị của “Ly phin đá nhẩn nha từng giọt đắng” ngấm vào trong thớ thịt: 
Em đợi người bên Thềm Xưa trầm lắng
nhặt bâng quơ hạt nắng ngủ trên bàn
ly phin đá nhẩn nha từng giọt đắng
nhặt hoài mong lạc mười ngón tay đan.
Câu thơ tôi yêu mến đầu tiên là câu “nhặt bâng quơ hạt nắng ngủ trên bàn”: Bài thơ này tác giả dùng chữ “em” nghĩa là viết thay cho một người con gái, và câu thơ này cho thấy được hết cả cái tâm hồn uỷ mị của cô em, cũng cho ta thấy hết được cái khung cảnh cô liêu nơi cô ngồi, cả sự lãng mạn trong suy tư của em. Nhặt hạt nắng là hành động của một kẻ tâm thần, nhưng tất nhiên cô gái không là kẻ bị bệnh tâm thần, vậy nhặt hạt nắng là một cử chỉ siêu lãng mạn của con người đa cảm, một hành động vô tâm nhưng bày tỏ một tính cách rất nên thơ có trong một tâm hồn rất đẹp.
Câu thơ thứ hai tôi thích là “nhặt hoài mong lạc mười ngón tay đan”. Ở câu thơ trên ta thấy cô gái”nhặt bâng quơ hạt nắng”, ở câu thơ dưới ta thấy cô gái “nhặt hoài mong”. Vậy thì trong vế thơ này sự hoài mong của cô gái được thể hiện trên hạt nắng. Cô gái nhặt hạt nắng như nhặt sự hoài mong của mình, và tất nhiên hạt nắng thì trôi tuột qua “mười ngón tay đan” nên sự hoài mong cũng trôi theo hạt nắng. Câu thơ liên kết sự mong đợi với hạt nắng ngủ trên bàn thật là lý thú. Cái vô hình trong tâm được thể hiện bằng cái hữu hình trên bàn, và cả hai được lồng trong bức tranh tỉnh vật chứa đựng sự sâu kín trong hồn hoà điệu cùng phong cảnh.” 
Nhưng cũng có trường hợp ông nhấn sâu vào âm điệu của bài thơ, xoáy sâu vào cấu trúc của bài thơ để chọn cấu trúc, âm điệu của bài thơ làm “chất xúc tác” cho việc cảm thụ và bình thơ. Ví dụ như khi ông bình bài thơ “Chấp Chới” của Đặng Xuân Xuyến:
“Se sắt buồn
Ơi người “xe chỉ luồn kim”
Ơi người nhớn nhác đi tìm
Đầu ghềnh cuối bãi
Lời xưa có còn mê mải...
Người “xe chỉ luồn kim” là người vợ. Câu thơ cho ta biết cô gái “líu ríu theo chồng” đã thành người “xe chỉ luồn kim” cũng buồn “se sắt”. Còn người ở lại thì lang thang đầu ghềnh và mê mải trong tâm đi tìm quá khứ.
Khổ thơ với những vần thơ có thể gọi là “cà giựt”, nghĩa là nó ngắt khúc từng ý thơ và tứ thơ không dính dáng gì nhau, nhưng chính cái “cà giựt” đó làm cho tiếng thơ trở nên dập dồn, kích thích người đọc, làm căng thẳng cảm xúc và trọn vẹn gói vào đó niềm đau của đôi trai gái thất tình.
Qua khổ thơ thứ ba tác gỉả dùng từ ngữ như những nhát búa đập liên tục vào điểm yếu của con tim, làm cho đau đớn, làm cho rỉ máu, làm cho nghẹn ngào, uất ức:
Tìm ai...
Kìa ai...
Lừng chừng câu hát
Gió gằn ràn rạt
Trời mưa...
Chấp chới cánh diều.”
&.3
Một điểm nhấn nữa trong phong cách bình thơ của Châu Thạch là ông bình thơ bằng tâm thế của người cảm thụ thơ nên trước hết ông thả hồn vào bài thơ để phiêu cùng tác giả tới mọi ngóc ngách của bài thơ, để tìm cho được sắc thái riêng của bài thơ, để cảm thụ được hết vẻ đẹp của bài thơ và khi viết lời bình, ông cố gắng tiết chế cái tôi của người “phê bình văn học” sao cho hài hòa, hợp lý để lời bình được chân thực, khách quan.
Ví dụ, Mơ Trăng tôi viết trong tâm trạng: khi thấy người yêu vội vã tận hưởng những phút giây ân ái, cuống quýt thỏa mãn cơn khát thèm thể xác, tôi lặng người, đớn đau, thấy tội nghiệp cho tình yêu em đang dâng hiến, và cũng xót xa, tội nghiệp cho cuộc tình của cả hai. Tôi muốn đẩy em ra, muốn hét lên: - Đừng yêu anh nữa! Hãy tránh xa anh đi! Nhưng tôi không làm được. Đúng ra là tôi không thể làm thế nên lại quấn lấy em, gồng lên để hòa vào cơn khát thèm thể xác với em. Tôi đã tả rất chân cuộc tình ấy, ngay từ khổ thơ  đầu:
Em rướn mình hà hít nụ hôn anh
Tê tái lắm. Cuộc tình mình thật tội
Môi khóa môi mà sao xa vời vợi
Đêm cuống cuồng khỏa lấp nỗi chơi vơi.
Và tôi run người khi đọc những lời bình của ông vì đã gặp lại mình trong cuộc tình ấy: “Bây giờ có hai Đặng Xuân Xuyến, một Đặng Xuân Xuyến đang vùi trong hương hoa của tình yêu và một Đặng Xuân Xuyến đang vùi trong trũng sầu bi, khắc khỏai và đắng cay. Lúc này nhà thơ đương yêu hay là không yêu? - Đâu biết được. Chỉ biết nhà thơ đang ôm một khối tình, khối tình nóng cháy như hỏa diệm sơn mà cũng rét cóng như băng giá miền cực bắc.”
Phải chăng thứ tình yêu bình thường, những ân ái bình thường không đáp ứng được cho một trái tim nhạy bén, một tâm hồn thơ luôn mơ mộng sự trong trẻo, sự vô biên, dây quyến luyến vượt quá cuộc đời. Con người thật của Đặng Xuân Xuyến ra sao ta đâu biết được nhưng thơ Đặng Xuân Xuyến quả là đúng như vậy.”
Tôi không biết các nhà thơ khác sáng tác thế nào nhưng những bài thơ tôi viết là những tiếng lòng chân thật của tôi, dù đớn đau hay vui mừng, dù chán chường hay phấn chấn thì những cảm xúc trong thơ của tôi cũng phản ánh rất chân thật tâm trạng, tình cảm của tôi, tuyệt không hư cấu. Vì thế, khi đọc những dòng cảm nhận của ông về thơ của tôi, tôi như lần nữa được sống lại với những tâm trạng, cảm xúc mà tôi đã mượn thơ để giãi bày. Nếu không thả hồn để phiêu cùng bài thơ, để tìm cho được cái hồn, cái sắc thái riêng của bài thơ thì Châu Thạch không thể viết được những dòng cảm nhận như được moi ra từ gan ruột của tác giả.
Ví dụ, khi đọc tập thơ Cưỡng Xuân, Châu Thạch đã viết: “đọc“Cưỡng Xuân” của Đặng Xuân Xuyến, ta có hai sự rung động cùng một lúc. Đó là sự rung động của con tim yêu chân tình, say đắm và độ lượng. Cùng lúc đó cũng bốc lên trong bầu máu nóng của ta một thứ hương tình cúa thể xác. Hai thứ hương đó quyện vào nhau cho ta sự khoái lạc lạ lùng trong nỗi đau khổ quặn thắt. Khoái lạc vì thơ Đặng Xuân Xuyến như ngùn ngụt ngọn lửa của ái ân thể xác và của âu yếm tinh thần. Đau khổ vì thơ Đặng Xuân Xuyến làm lạnh con tim, nỗi sầu được diễn tả như bông lơn nhưng làm cho người nghe quặn lòng se thắt. Thơ đó không phải là thứ thơ hư cấu. Thơ đó là thứ thơ nở ra như những bông hoa trường trải được nẩy mầm từ hạt của nó, hạt ấy đã bị vui dập trong bao nhiêu biến động của đời.”.
Hay khi đọc Em Về Nhặt Chút Hương Phai của Huỳnh Gia, Châu Thạch đã không đứng phía bên ngoài để “cảm” thơ mà ông thả hồn mình phiêu cùng nữ sĩ Huỳnh Gia để cùng Huỳnh Gia cảm nhận bài thơ bằng những cảm xúc chân thật được cất lên từ tiếng lòng của nữ sĩ:
“Mai em về thăm
xuân chưa ấm nổi đất trời
tìm đến đồi Cù
tìm về khung trời cũ
bức rào chắn phân ranh
cỏ úa màu trách cứ
mỏi mắt tìm không thấy điểm hẹn xưa
Trong vế thơ này hai câu thơ “Cỏ úa màu trách cứ/ mỏi mắt tìm không thấy điểm hẹn xưa” làm người đọc thấy khung trời hoang sơ rộng vắng của đồi Cù, mà sự rộng vắng có giới hạn ấy trở thành mênh mông vô tận trong tâm hồn tác giả khi “mỏi mắt tìm” điểm hẹn xưa mà không thấy nữa. Cái lạnh của cuối đông vẫn còn vì “xuân chưa ấm nổi đất trời” sẽ càng lạnh thêm biết bao khi người về gặp “bức rào chắn phân ranh”. Đây là bức rào chắn phân ranh khung trời cũ trên địa thế đồi Cù nhưng nó cũng là bức rào chắn phân ranh quá khứ và hiện tại trong tâm hồn người quay lại. Vế thơ cho ta thấy tất cả sự tiêu điều, se lạnh của khung cảnh trùm lên tâm hồn và nỗi dằn vặt trong lòng cũng thể hiện ra trên cỏ úa, trên bức rào, trên điểm hẹn đã bị mất đi. Cảnh bây giờ hình như cũng gây trắc trở cho người vì có lẽ cảnh và người ở đây cùng chung số phận, định mệnh như nhau.” 
&.4
Thêm một điểm nhấn “son” nữa về phong cách bình thơ của Châu Thạch là khi bình thơ, ông chịu khó tìm tòi để phát hiện ra những tinh tế, những sáng tạo của nhà thơ trong bài thơ, rồi truyền tải nguyên vẹn, thậm chí có phần dầy hơn, đẹp hơn những cảm xúc được thăng hoa của nhà thơ tới bạn đọc.
Cảm nhận về Hà Nội Quê Tôi của Lê Mai là một ví dụ:
“Chùa Diên Hựu là của tôi!
Đóa sen tâm bừng nở ngát cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương.
“Chùa Diên Hựu hay chùa Một Cột, là  một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội, có kiến trúc độc đáo như một bông sen từ dưới nước vươn lên. Nhà thơ đem cái bông sen đó làm biểu tượng cho tấm lòng nhân đạo của người Hà Nội ngày xưa, cùng với dân ta đem lúa gạo của mình cấp cho quân giặc Minh xâm lược bị thua trận có cái ăn mà quay về bản xứ. Cấp gạo cho giặc và xây chùa Một Cột không liên quan nhau, nhưng nhà thơ đã khôn khéo dùng hình tượng hoa sen của chùa, lấy kỳ quan đất nước sừng sững ngàn đời thể hiện cho lòng vị tha của dân tộc là một kết cấu giữa văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể vô cùng nhuần nhuyễn để tôn cao ý nghĩa của hai cái đẹp giữa lòng thủ đô Hà Nội.”
Hay như đoạn được trích dẫn dưới đây trong bài Vài Lời Biện Hộ Về Thơ Nguyễn Khôi, ông luận bàn thật “đắt” về từ “tắt trăng”, một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Nguyễn Khôi:
Với tôi Nguyễn Khôi dùng chữ “tắt trăng’ trong câu chót là một tứ thơ sáng tạo, độc đáo, khác lạ và tuyệt hay đã nâng cả bài thơ lên tầm cao thị vị. Nếu tác giả dùng chữ “lịm” hay chữ “khuất” thì câu thơ “Để cả bầu trời phải lịm trăng” hay “Để cả bầu trời phải khuất trăng” chỉ có ý nghĩa là trăng nhìn thấy sự lõa thể mà mê mẩn đến mờ đi ánh sáng hay trốn vào đâu đó để ghé mắt nhìn trộm. Tứ thơ này đã cũ quá và đã lạc hậu vô cùng vì đã có hàng ngàn thi nhân viết rồi từ xưa đến nay. Nguyễn Khôi dùng chữ “tắt trăng” đã đưa trăng có cái nhân cách người, có cái đạo đức của chính nhân quân tử khi trăng tự tắt ngọn đèn của mình, hay quay lưng đi không nhìn những người phụ nữ tắm ao. Tứ thơ này hoàn toàn mới, diễn đạt một ý thơ chỉ sự thanh cao của trăng, cũng chính bộc lộ sự thanh cao của tâm hồn tác giả mà từ xưa đên nay chưa một ai nghĩ đến trong thơ.”
&.5
Bên cạnh những phương pháp chủ quan, bao gồm cả phương pháp giả định và các phương pháp tiếp cận để cảm thụ thơ văn như đã dẫn giải ở trên, Châu Thạch cũng có khi dùng cả phương pháp khách quan cho việc tìm tòi, khám phá và cảm thụ thơ văn của ông. Ẩm Trời - Thơ Đặng Xuân Xuyến: Một Phong Cách Tình Khác Lạ là một ví dụ:
 “Ẩm Trời” là một bài thơ ngắn gọn tưởng như nó bày tỏ một mối tình qua loa hời hợt nhưng không phải thế. Đọc thơ, ta hiểu được tính cách của người trong thơ. Họ phải là những người đã lăn lộn trong cuộc đời, vấp ngã trong tình trường, dày dạn trong đối nhân xử thế, tinh tế trong lời nói. Họ có thể yêu nhau nhưng cuộc đời còn nỗi éo le ta không biết được. Ta chỉ biết họ trân trọng nhau trong lời nói bộc trực tưởng như là thô thiển.
Bài thơ hay là hay ở chỗ đó, diễn đạt cái kín đáo mà bề ngoài không mấy ai thấy được, không mấy ai trân trọng, có khi còn khinh ghét nữa. Bài thơ hay cũng là hay ở chỗ “nói tục giảng thanh”. Đọc “Ẩm Trời” ta nghe tiếng thơ như của một nhân vật bất cần đời, một cặp trai gái ngổ ngáo xem tình như cỏ rác, nhưng ngẫm kỹ, đọc đi đọc lại nhiều lần ta tìm thấy ở đó những tâm hồn đẹp mà ta yêu quý, một mối tình có thể làm cho ta se lòng và cảm mến..”
Rõ ràng, ở đoạn vừa trích dẫn, tác giả Châu Thạch, bằng phần nào sự hiểu biết của ông về tuổi tác, con người và tính cách... của (tác giả thơ) Đặng Xuân Xuyến, ông đã dùng phương pháp khách quan - thông qua “tiểu sử” tác giả - để “cảm thụ” bài thơ Ẩm Trời. Đây là một phương pháp được các nhà phê bình văn học sử dụng khi phương pháp chủ quan yếu thế, có thể sẽ không phát huy được hiệu quả như khi sử dụng phương pháp khách quan trong việc bình thơ.
Hay như trong bài Vài Lời Biện Hộ Về Thơ Nguyễn Khôi, tác giả Châu Thạch đã dùng phương pháp khách quan - những hiểu biết của bản thân từ thực tiễn về tiếng “nai tác” - để phản biện chỉ trích của Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Ngọc Kiên về chữ “nai tác” trong bài thơ Đêm Mộc Châu của nhà thơ Nguyễn Khôi:
Tiến sĩ viết như sau:
Nguyễn Khôi đã viết:
Đêm Mộc Châu lần đầu nghe nai “tác”
Dân đốt nương núi cháy xém vầng trăng
Mới hay cuộc sống còn đói khát 
Đốt cả đất trời kiếm miếng ăn
Theo chúng tôi đây cũng là một bài thơ hay của Nguyễn Khôi. Hai câu đầu là tả thực. Hai câu cuối có sức khái quát lớn. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở nơi mà đã có “dân đốt nương núi cháy xém vầng trăng”, tàn phá rừng, hủy hoại môi trường như thế thì không còn nghe thấy tiếng “nai tác” được nữa. Có chăng chỉ còn nghe tiếng thạch sùng mà thôi!” Sau đó tiến sĩ còn khẳng định: “Ở đây Nguyễn Khôi chắc cũng trong cơn ngái ngủ, mê sảng mà nghe thấy tiếng “nai tác”. Vậy nên ta cũng không nên “chẻ sợi tóc làm tư” mà làm gì miễn là đó là thơ hay!”
Đây là một nhận xét thật sự sai lầm. Người viết bài này đã từng nhiều lần nghe suốt đêm tiếng nai tác trong một vùng tàn phá môi trường hàng ngàn dặm. Sau 1975 tôi được điều đi khai hoang sản xuất trên vùng rừng núi. Chúng tôi thường nghe tiếng nai “tác”  bi thương kéo dài trong đêm. Hỏi ra mới biết đó là tiếng của những con nai lạc bầy do môi trường bị hủy hoại. Bởi sự thay đổi của núi rừng làm cho những con nai con thường lạc mẹ, thế là con gọi mẹ hay mẹ tìm con cứ “tác” suốt đêm trường. Tiếng gọi ấy của nai khắc khỏi trong đêm vọng vào hồn tôi cũng đang khắc khoải vì những biến động của cuộc đời tôi thuở ấy.
&.&
Có thể nói, Châu Thạch là một cây viết sung sức, đầy nội lực, viết nhanh, viết khỏe và viết nhiều. Tôi không biết chính xác ông đã hạ bút viết bao nhiêu bài phê bình thơ (và cả văn) nhưng để lan man tìm hiểu về phong cách bình thơ của tác giả Châu Thạch như bài viết này, tôi đã phải ngồi tham khảo chừng 130 bài bình thơ của ông mà theo số liệu thống kê của văn sĩ Thái Quốc Mưu thì tính đến tháng 07 năm 2017, chỉ riêng bình thơ, tác giả Châu Thạch đã “xuất xưởng” trên 200 bài. Quả thật, sức viết của ông rất đáng kính nể.
Những điểm mạnh trong phong cách bình thơ của nhà phê bình văn học Châu Thạch khá nhiều, còn hơn những gì người viết đã lan man dẫn giải nhưng trong phong cách bình thơ của ông vẫn còn vài điểm hạn chế mà theo người viết, nhà phê bình văn học Châu Thạch rất cần khắc phục.
Đó là:
1. Việc chọn bài còn để lọt những bài thơ chưa thật sự hay, chưa đúng như tiêu đề bài viết. Điều này có thể do tình thân hữu, sự cả nể khiến ông “tặc lưỡi”. “Nội lực” bài thơ không có nên dù người bình cố “tán”, cố “đẩy” thì bài thơ vẫn chỉ như bông hoa kém tươi, lạc lõng giữa vườn hoa đua sắc khoe màu. Vô tình, những bông hoa “cả nể” đó đã làm vườn hoa đẹp của nhà phê bình văn học Châu Thạch giảm nhiều hương sắc.
2. Phương pháp giả định được ông vận dụng với mật độ khá dầy trong các bài bình thơ, đã ít nhiều tạo ra hiệu ứng đơn điệu, đều đều, nhàm chán trong việc tiếp thu, cảm nhận thơ văn của bạn đọc, khiến bạn đọc nảy sinh tâm trạng nghi ngờ nhà phê bình đang cố “tán”, cố “lái” bài thơ theo dòng cảm xúc đã được định hướng.
3. Việc “đồng màu chỉ khen không chê” trong hàng loạt bài bình thơ của nhà phê bình văn học Châu Thạch. Có thể vì là người trọng tình cảm nên ông tránh làm tổn thương người khác; hoặc có thể vì trân quý những tìm kiếm, những thành công của tác giả thơ nên ông “không nỡ” nêu ra hạn chế, sợ tác giả thơ sẽ nhụt chí... Cho dù với lý do gì thì việc “chỉ khen không chê” cũng làm thiệt thòi cho cả 3 đối tượng: nhà thơ (không biết được yếu kém để sửa chữa, nâng cao tay nghề), bạn đọc (không nâng cao được khả năng học và cảm thụ thơ văn) và nhà phê bình (tác phẩm tạo ra đồng màu, đơn điệu).
*
Hà Nội, chiều 19 tháng 09 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Cảm nhận khi đọc tập thơ:
SÓNG NGẦM của NGÔ NGUYỄN
*
Nhận được tập thơ Sóng Ngầm cũng đã mươi ngày nhưng bận quá nên chiều nay tôi mới “lôi” Sóng Ngầm ra đọc. Giở đi giở lại, cứ vẩn vơ ý nghĩ: thơ tình của nhà thơ tuổi đã xấp xỉ 80 không biết cái “khoản yêu” kia có được “hùng hục như trâu húc bờ” hay chỉ “lả lướt” vài ba nét nhấn nhá cho có chút vị gọi là hương yêu? Nghĩ thế nên tôi chưa vội đọc mà lẩn thẩn ngồi đếm xem tập thơ có bao nhiêu bài. Vâng. Tập thơ nho nhỏ, xinh xinh với 80 bài, đa phần là những bài thơ ngắn, số đông là thơ tình. Đúng như tiêu đề của tập thơ: SÓNG NGẦM - Thơ tình ** Ngô Nguyễn đã trình làng.
Cũng lâu rồi, tôi lười đọc, lười viết nên hôm nay sẽ chịu khó ghi lại vài dòng cảm nhận khi đọc Sóng Ngầm, vừa để luyện trí nhớ, chống lão hóa, vừa có bài đưa lên trang blog cá nhân. Vâng! Tiện cả đôi đường! Rất thực dụng đấy ạ!
Đọc Sóng Ngầm, với những câu: Ngỡ như/ mắc bả bùa yêu/ Bốn con mắt/ cứ vụng về tìm nhau (Mắt chạm mắt), chắc sẽ có ai đó nhăn mặt: Thơ gì mà xưa cũ thế? Ờ thì... Đứng trước người mình “thích”, mình “si mê”, ai chẳng có những phút giây “vụng về” khi đưa mắt “tìm nhau”. Tình huống đấy quen lắm nhưng không hề cũ, mà luôn luôn mới. Tình yêu với những rung cảm của trái tim thì làm gì có chuyện cũ? Yêu là yêu! Thế thôi! Phải yêu, phải “thèm yêu” thì mới có những hình ảnh đẹp, lãng mạn, đầy chất thơ: Lâu nay/ khô cạn ước mong/ Dập dờn cánh bướm/ uốn cong dáng chiều...(Thèm yêu) chứ? Khi yêu, ai lại lôi khái niệm cũ mới ra để so đo?!
Ở tuổi gần 80 mà tình yêu (đôi lứa) trong ông vẫn đằm những khát khao trẻ trung, bạo dạn: Áo em/ cháy đỏ lũy tre/ Ngỡ là bó đuốc/ đốt hè nóng ran... (Áo đỏ), vẫn như những “khối tình” đượm sẵn lửa: Môi em/ diềm phải bao diêm/ Môi anh vừa chạm/ bật lên cháy bùng... (Nụ hôn đầu), vẫn thòm thèm những trận yêu được “cuồng loạn”: Nụ hôn/ cuồng loạn bão mưa/ Hạn lâu/ cơn lũ chỉ vừa mát cây! (Hạn hán). Đấy! Gần 80 tuổi, tưởng thi sĩ đi lại còn khó khăn, thở còn đã nhọc, đã khó, ấy vậy mà thi sĩ Ngô Nguyễn vẫn hừng hực “máu lửa” như thế, kém sung sức so với thanh niên cũng đâu có nhiều.
Tuy là nói vui như thế, nhưng thật lòng, thơ Ngô Nguyễn ít có những giằng xé dữ dội của tâm trạng, của những ham muốn yêu đương xác thịt mà thường là những chuyển biến rất nhẹ nhàng, những xáo trộn tình cảm vẫn còn nằm trong sự “kiểm soát” và “giữ gìn” của lý trí, kiểu: Ừ thì,/ gió thoảng mây bay/ Ừ thì,/ chỉ cái chau mày/ nhếch môi....(Ừ thì)... của những nỗi buồn chơi vơi, của những xâm chiếm nhẹ nhàng hồn cốt: Được lời/ em đến thăm nhà/ Ngó cau/ cau mới đang hoa/ bao giờ (Mùa cau)... Tình yêu đấy “sạch” quá, “lành” quá. Ôi! Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả hê... thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán... Vâng! Tôi quan niệm tình yêu phải vậy. Có lẽ do tuổi tác, do “tạng người” mà tình yêu trong thơ thi sĩ Ngô Nguyễn mới mang mang gam trầm?
Tuy không nhiều, dù “hiếm hoi” gặp sự “nổi loạn” của Ngô Nguyễn trong tình yêu như ở “Em - Áng mây chiều”: Gió tứ phía/ Thốc bập bùng/ Cánh diều nổi loạn/ bứt tung dây giằng!, hay như trong “Bão gần”: Bão nào đến/ tự  nơi xa/ Từ cô hàng xóm/ thốc qua nhà mình... nhưng sự “nổi loạn” chỉ thoảng qua “bấy nhiêu” thôi cũng đã “thổi” vào “hồn yêu” của ông thêm sắc diện, khiến thơ Ngô Nguyễn đậm thêm chút hương vị của tình yêu.
Tập thơ Sóng Ngầm với những bài thơ “ấn tượng”: Tiếng Kinh, Mùa Cau, Lưng Lửng... với những câu thơ có thể gọi là tinh tế, như: Mắt nàng/ nào phải lưỡi dao/ Liếc mòn vẹt đá/ chém nhào ngã cây...(Mắt), Gặp em/ nửa lạ/ nửa quen/ Nửa vồ vập/ nửa mon men rụt rè (Nửa), Nỗi sầu/ thấm ướt trang kinh/ Gió lùa hoang lạnh/ rùng mình/ kinh rơi! (Tiếng Kinh), Ngắn dài/ chân vẫn chân thôi/ Miễn là/ đỡ được thân người thẳng ngay! (Chân dài),... tuy không mới, chưa thật sự đặc sắc nhưng như thế cũng đã có sức nặng đủ để níu giữ Sóng Ngầm đọng lại trong tâm trí người đọc.
Gập tập thơ lại, tôi cứ tiếc: Giá nhà thơ Ngô Nguyễn “máu lửa” thêm chút nữa, bạo liệt “xác thịt” thêm chút nữa... Nhưng rồi tôi lại thần người với suy nghĩ: Gần 80 tuổi rồi mà vẫn yêu được như thế là nhà thơ vẫn còn sung sức lắm, oách lắm, còn hơn chán vạn kẻ... Vài chục năm nữa, không biết tôi (kẻ đang than thở) có “máu lửa” bằng nửa của nhà thơ không? Hay lúc đấy có cố lê lết nụ cười cũng đã là quá khó...
*.
Hà Nội, chiều 27 tháng 09 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.Đôi điều khi đọc: QUẢNG NGÃI -
CÂU THƠ NẶNG TÌNH CỐ THỔ
của LÊ NGỌC TRÁC
*
Tập sách QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ của tác giả Lê Ngọc Trác được viết theo lối giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn học của 31 “hồn thơ” xứ Quảng dưới dạng phê bình và cảm nhận văn học. Đây là tập sách thứ 7 của tác gia Lê Ngọc Trác (tác gia: tác giả của nhiều tác phẩm, nhiều đề tài), là “khối trầm tích tình yêu” của những người con Quảng Ngãi luôn đau đáu về nơi “chôn nhau cắt rốn”, nơi luôn được thầm nhắc đến với lòng tự hào và thành kính: núi Ấn sông Trà.
Tuy là viết về thân thế và sự nghiệp của các chân dung văn học với mục đích phục vụ cho việc khảo cứu chân dung văn học nhưng tác giả Lê Ngọc Trác không viết theo lối phân mục tiểu sử (thân thế) và sự nghiệp như các tác giả khác từng làm mà ông làm mềm hóa đi, giảm bớt sự khô cứng của lối viết giáo khoa - khảo cứu bằng cách loại bỏ sự phân mục A, B, C... đồng thời chuyển các yếu tố nghiên cứu thành các yếu tố cảm nhận, biến các “thông điệp” về thân thế và sự nghiệp của các chân dung văn học khô khan thành những bài cảm nhận văn học dung dị, liền mạch, tạo tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái cho bạn đọc khi tiếp cận các chân dung văn học. Hiểu đơn giản và ngắn gọn là ông không dùng lối viết biên khảo truyền thống mà khéo léo lồng tiểu sử các chân dung văn học vào các bài viết phê bình và cảm nhận văn học, bằng tư duy và ngôn ngữ của người nghiên cứu khoa học. Đây là thành công của tác giả Lê Ngọc Trác khi mà biên khảo là một thể loại văn chương dễ viết nhưng lại rất khó thành công!
Bên cạnh một số bài viết khá sâu về thân thế và sự nghiệp của nhân vật lịch sử, như: Danh thần Trương Đăng Quế - Một tâm hồn thơ nặng lòng với quê hương, Nguyễn Vỹ - Nhân chứng của một thời,... thì đa phần là những bài viết, tác giả Lê Ngọc Trác hướng bạn đọc chú trọng vào những tìm tòi khám phá, những thành công của các chân dung văn học đã có đóng góp ít nhiều cho diện mạo văn học nước nhà, ông chỉ “đá đưa” chút ít về tiểu sử nhân vật để bạn đọc biết thêm hoặc lấy đó làm tài liệu khảo cứu với lượng thông tin vừa đủ về một chân dung văn học. Với cách viết như vậy, bạn đọc được cảm nhận đầy hơn, sâu hơn “sự nghiệp” văn học của các chân dung văn học mà tác giả Lê Ngọc Trác vẫn làm tròn được tiêu chí của tập sách: cung cấp những thông tin vừa đủ về thân thế và sự nghiệp của nhân vật như một công trình biên khảo. Thành công này của tác giả Lê Ngọc Trác là thành công mà ngay cả những người viết sách chuyên nghiệp cũng không dễ dàng có được, trong khi ông chỉ là “một tay chơi ngang”, viết sách bởi sự đam mê rất Lê Ngọc Trác: viết để được học.
Điều thú vị khi đọc QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ là tác giả Lê Ngọc Trác đã rất khéo khái quát chân dung nhân vật qua việc đặt tên tiêu đề của bài viết, ví dụ: Nguyễn Vỹ - Nhân chứng của một thời, Thanh Thảo với những câu thơ mềm mại mà mãnh liệt, Nguyễn Thánh Ngã “gõ” vào cõi nhân gian, Trần Phố khúc tâm tình đậm tính nhân văn, Nguyễn Tấn On - Thấm đẫm hồn quê, Vũ Hồ với "Nỗi buồn trăm năm", Nguyễn Minh Phúc - "Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm".... Chỉ mới đọc tiêu đề bài viết, bạn đọc cũng đã có thể hiểu được cốt cách của chân dung văn học hoặc phần nào thấy được diện mạo của nhân vật mà tác giả Lê Ngọc Trác sẽ khắc họa.
Với cách viết nhẹ nhàng, cô đọng và xúc tích nhưng theo góc nhìn và cách đánh giá công tâm của người nghiên cứu khoa học, tác giả Lê Ngọc Trác đã phác họa các chân dung văn học (xứ Quảng) trong QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ bằng những nét vẽ chân thực, những cảm nhận tinh tế và những cảm kích khách quan, chân thành.
Mời đọc những trích dẫn:
- “Trong thơ Khắc Minh, âm tiết, giai điệu như những lời ru ngọt ngào, làm dịu đau thương lòng người trong bối cảnh chiến tranh. Có lẽ, đây là nét riêng trong thơ của Khắc Minh so với những người cùng thời. Phần lớn, thơ của Khắc Minh không mang nặng những dằn vặt khổ đau, cô đơn hoang lạnh, rên rỉ quằn quại. Thơ Khắc Minh nhẹ nhàng, tràn đầy tình yêu trong cuộc sống.”
 “Khắc Minh không triết lý vụn trong thơ, không đánh đố người đọc bằng câu chữ bí hiểm. Thơ của ông âm hưởng ca dao mượt mà, như những câu hò ba lý của quê hương miền Ân Trà” (Khắc Minh - Ngọt ngào lời ru dưới chân Thiên Bút).
- “Đứng trước những câu thơ của Nguyễn Minh Phúc được viết ra từ nỗi nhớ quê hương tha thiết của anh, chúng ta không cần phải "bình giảng lý luận". Ai mà đi tìm lý lẽ của con tim. Chúng ta cứ đọc, thấm và đồng cảm với tác giả. Những người sống xa quê như thấy mình cùng cảnh ngộ, nỗi niềm...”. (NGUYỄN MINH PHÚC - "Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm")
- “Đọc thi phẩm "Mưa hoang" của Hà Quảng, người đọc cảm nhận những cơn mưa ướt từng câu thơ, thấm đẫm cả những trang thơ... Nào những cơn "mưa thơm" trên cánh đồng lúa ,đồng hoa chốn quê nhà yêu thương, mưa thơm ngát hương trên dòng sông Trà, sông Vệ, "mưa tháng Bảy, mưa tháng ba..." và "một trời mưa nhớ" đến quặn lòng ở những phương trời cách biệt. Chúng ta còn bắt gặp những cơn "mưa hoang" trong cuộc đời mình mà một thời "lời môi ngọt ngào", một thời đã xa "chạm vào nỗi nhớ". ("Mưa hoang" đầy nỗi nhớ trong thơ HÀ QUẢNG)
- “Sau khi đọc nhiều bài thơ của Vũ Hồ, tôi nhận ra một điều: Ông là một người tài hoa trong thơ, nhưng trong toàn bộ thơ của ông thể hiện một nỗi cô đơn - cô đơn đến tận cùng.” (VŨ HỒ với "Nỗi buồn trăm năm")
Tuy là viết QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ bằng sự đam mê, không chịu áp lực bởi “chuyện cơm áo gạo tiền” làm ảnh hưởng tới độ sắc bén, mềm dẻo, linh hoạt của ngòi bút nhưng Lê Ngọc Trác không hoàn toàn phó mặc cho cảm xúc dẫn dắt ngòi bút mà ông đã “điều phối” những cảm xúc, “cầm cương” những thăng hoa cảm xúc để cái tôi của tác giả Lê Ngọc Trác đứng ở vai trò của người tổng kết, ở vị trí của một hướng dẫn viên luôn nhiệt tình đồng hành cùng bạn đọc. Đấy là sự khéo léo, cũng là thành công của ngòi bút Lê Ngọc Trác trong việc truyền tải “ý đồ” của tác giả Lê Ngọc Trác đến với bạn đọc qua từng bài viết, xuyên suốt “QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ”.
Với tình yêu dành cho quê hương luôn lớn, tác giả Lê Ngọc Trác đã cố dồn ép để đẩy niềm tự hào về quê hương Quảng Ngãi cao hơn, xa hơn, qua số gương mặt được tập hợp trong tập sách lên con số 31, vô hình chung, những gương mặt "được" chúng tôi ví là “những trái chín ép”, “những trái tình cảm”, đã làm QUẢNG NGÃI - Câu thơ nặng tình cố thổ thành sự chọn lọc của tình cảm, dễ dãi, khiến cấu trúc tác phẩm bị xộc xệch, gương mặt các chân dung văn học trong tập sách trở nên mất cân đối. Theo thiển ý của người viết, tập sách chỉ nên dừng ở con số 23 gương mặt thì hợp lý hơn.
Đọc nhiều và viết nhiều là ưu điểm của ông. Viết bằng tấm lòng là điểm sáng của ông nhưng trong các bài viết của ông, đâu đó vẫn xuất hiện một vài hạn chế: chỉ nêu hiện tượng sự việc mà không dẫn giải bản chất của hiện tượng sự việc dù chỉ ở sự gợi mở, lưu ý bạn đọc, ví dụ như: “Thơ Nguyễn Thánh Ngã đọc xong ghim lại trong lòng người yêu thơ. Anh đã tạo được phong cách của mình trong thơ. Thơ Hai-ku của Nhật Bản có qui luật về số từ, nhưng khi làm thơ Haiku, Nguyễn Thánh Ngã đã có những cách tân đầy sáng tạo. Những bài thơ Haiku của Nguyễn Thánh Ngã có một nét rất riêng. Dường như Nguyễn Thánh Ngã muốn tạo ra một trường phái thơ riêng của mình. Chính vì vậy, có lúc các bạn yêu thơ gọi thơ Haiku của Nguyễn Thánh Ngã là thơ "Ô haii" (Ô hay!). Đọc cả bài viết, bạn đọc không tìm được câu trả lời: “cách tân đầy sáng tạo”, “nét rất riêng”, “trường phái thơ riêng” của Nguyễn Thánh Ngã là thế nào. Tuy không nhiều, không lớn nhưng những “hạt sạn” như thế không nên xuất hiện trong các bài viết của cây bút đã dày dạn bản lĩnh như tác gia Lê Ngọc Trác vì sự xuất hiện một vài hạn chế như thế đã vô tình làm giảm tính thuyết phục của cả bài viết.
Và đấy cũng là hạn chế mà tác gia Lê Ngọc Trác cần khắc phục để những tác phẩm của ông được tròn trĩnh hơn.
*.
Hà Nội, chiều 06 tháng 10 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


ĐỌC “TÌNH NHÂN ƠI
của TRẦN HẠ VI
*
Đưa bài HỔN HỂN VỚI “TÌNH NHÂN ƠI” CỦA TRẦN HẠ VI lên trang blog Đặng Xuân Xuyến từ sáng 07.11.2017 nhưng sáng nay tôi mới có thời gian đọc bài thơ này. Bị ám ảnh bởi câu “Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi” của Trần Hạ Vi, tôi cứ trằn trọc, lỡ mất giấc ngủ trưa. Tôi khoái hình ảnh tươi nõn, phồn thực của “bờ môi” đầy dục tính.... nên dù đang rất đau lưng (bệnh xương khớp) cũng cố ngồi “lạch cạch” đôi dòng cảm nhận về bài thơ của nữ thi sĩ họ Trần.
Bình thơ ư? Chắc chắn là không rồi! Bài thơ đã được nhà phê bình văn học Châu Thạch ưu ái phóng bút, đã viết gần như cũng đủ hết các ý rồi nên bài viết này chỉ ghi lại vài “sự thích” nho nhỏ của tôi khi đọc “Tình Nhân Ơi” của Trần Hạ Vi, một bài thơ đang được bạn bè trên facebook quý mến.
Vâng! Tôi thích cách “nhớ” của Trần Hạ Vi. Nó rốt ráo, cuống cuồng. Nó gấp gáp, dồn dập. Nó căng lên như dây đàn. Nó rền rĩ như tiếng va đập vọng về của âm thanh chiều vọng: “Em nhớ anh/ cồn cào cội nguồn thúc thôi triền khao khát”. Để làm gì? Chỉ là “Em mong anh/ mơ lắm một bàn tay!”. Thế thôi! Yêu thì nhớ, thì mong, thì cần có nhau, cần những phút giây thuộc về nhau, để quyện vào nhau, để tình yêu được thăng hoa... Vâng! Thì là yêu mà! “Nhớ” như thế thì tình yêu nào chẳng có nhưng “nhớ” ở trong “Tình Nhân Ơi” lại thấy cứ “sao sao”? Nghe nhẹ hều mà sống mũi cay cay?! Khác lắm! Lạ lắm! Buồn lắm!
Thích là thế nhưng tôi khoái khổ thơ thứ 4, khổ mà theo tôi chính là xương cốt, làm trụ cho bài thơ:
 “Tình nhân ơi
sao anh cứ làm thinh?
Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi
Mưa nguồn lũ xối
Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan”
Những câu thơ rất “phồn thực”, bỏng nhẫy truy hoan và nỗi sướng rơn hoan hỉ của cô gái sau cuộc ái ân mãn nguyện được Trần Hạ Vi quẳng toẹt lên gường, chẳng cần úp úp mở mở, che che giấu giấu.
Gã trai đã hết hưng phấn, đang thèm được nghỉ ngơi khi đã làm xong nhiệm vụ của giống đực nhưng cô gái thì vẫn còn đang âm ỉ rạo rực, vẫn còn đang lửng lơ ở đỉnh của khoái cảm. Tuy “Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan” vì đã mãn nguyện với trận “Mưa nguồn xối lũ” nhưng cô vẫn chờ được ngấu nghiến tiếp, vẫn sẵn sàng với những “nhàu gối chăn hoan”. Máu lửa trong hành động, bạo liệt và tự tin trong cả suy nghĩ như thế bởi cô tin vào thứ vũ khí lợi hại đang sở hữu: “Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi”. Vâng! Tôi khoái hình ảnh “bờ môi” rất nữ tính, rất sex này. Một hình ảnh đẹp, tươi nõn mà phồn thực, căng phồng những gợi cảm, và đầy kích thích dục tính như thế thử hỏi có gã đàn ông nào “làm thinh”? Tôi cũng khoái tính cách thẳng thắn, bạo liệt của cô gái: Yêu bảo yêu! Thích thì sẵn sàng “ba bảy cũng liều” chứ chẳng thèm ỡm ờ, thả thính.
Không nói nhiều về gã trai, chỉ một câu thán “sao anh cứ làm thinh?”, Trần Hạ Vi đã “tố” mối duyên này trái ngang, không thuận. Phải có uẩn khúc nào đó, trắc trở nào đó thì gã trai mới lặng thinh như thế, mới “thụ động” như thế. Phút lặng thinh đó không hẳn là gã thèm được nghỉ ngơi khi đã làm xong nhiệm vụ của giống đực mà còn là phút tự vấn của gã về những liên quan tới cuộc tình mang hơi hướng “vụng trộm”, trái ngang. Cảm thông cho gã thì mới hiểu được lý do vì sao cô gái luôn khát yêu, bạo yêu, mới cảm thương mối tình chông chênh, trắc trở. Đọc “Tình Nhân Ơi”, thấy cô gái “ngông nghênh” trong tình yêu, mà cũng se lòng vì mơ hồ thấy căn nguyên của cái “ngông nghênh” ấy.
Vâng! Thêm một khoái nữa, đó là khoái cách tỏ tình (đúng hơn là cách gạ yêu) của Trần Hạ Vi: “Yêu em đi” rất thẳng thắn, huỵch toẹt, chẳng màu mè, làm giá như những ả nàng. Sự chân thành đến dạn dĩ, mạnh bạo đến trần trụi, và tinh thần “tử vì tình”, chấp nhận thua thiệt trong tình yêu, dẫu biết tình yêu ấy là trái ngang, trắc trở, là bia miệng của người đời thì vẫn cứ bất chấp, vẫn cứ: “Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa/ Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa” như Trần Hạ Vi thì quả thật ngay trong giới mày râu cũng khối kẻ lấm lét đứng nhìn.
Không biết ngoài đời Trần Hạ Vi có “ngông nghênh” yêu như vậy không và với những gã trai có tính rụt rè, nhát gái (kiểu như người viết bài này) mà gặp được người trong mộng như vậy thì sao nhỉ? Chắc sẽ tròn mắt vì ngạc nhiên, và cả vì hạnh phúc! Vâng! Thật lòng là tôi nghĩ vậy!
----------
TÌNH NHÂN ƠI

Tình nhân ơi, gọi em đi
Tên em trên môi anh dòng ngọt ngào chảy mật
Ta rúc vào nhau
cơn cuồng si hổn hển ngắn dài
quên áo cơm đời chật vật

Em nhớ anh
cồn cào cội nguồn thúc thôi triền khao khát
Em mong anh
mơ lắm một bàn tay!

Yêu em đi
ngoài kia ngày vẫn là ngày
Đêm vẫn là đêm, chỉ chúng mình là bỏng rát
Cuộn trào trong từng cơn khát
Khát anh khát em
quằn quại đam mê khát tình...

Tình nhân ơi
sao anh cứ làm thinh?
Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi
Mưa nguồn lũ xối
Úp mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan

Mưa xuân lất phất tưới nụ hoa xoan
Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa
Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa
Nguyên thủy hồng hoang tràn về...
sự sống mới mới lại sinh sôi

Tình nhân ơi, 
lại nhớ anh rồi....
*
04.11.2017
TRẦN HẠ VI
*.
Hà Nội, chiều 15 tháng 11 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Vài cảm nhận khi đọc:
GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ
của BÙI CỬU TRƯỜNG
*
GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ 

Gió sao không lùa mé Tây
- cái phía nhà em không cửa.
mà cứ lọn dai, lọn dài buốt giá
len qua kính mà run! 

Ở đâu, ơi ngàn thương? 
Đi đâu, ơi vạn nhớ?

Nẻo về tàn lá cỏ
Lối sang mờ màn mưa...

Gió bấc căm căm rét cóng cơn mơ
thốc ngược gối gường trống vắng.

Đông mình em / cây đường lập cập.
Đông mình em / sương muối buốt khuya

Trở gió. Rét về
Sao Người không về lại? 

Gầm gào gió cơn man dại
hù doạ đêm mồ côi.
*
Trở gió 24/11/2016
BÙI CỬU TRƯỜNG
(Bút danh khác: Hạt Cát Diệu Sinh)
LỜI BÌNH:
Tôi thích “Gọi đêm trở gió của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường vì bài thơ được viết như trải lòng, rất thật mà câu chữ lại sáng, đẹp, thanh thoát. Đọc đi đọc lại, tôi càng thích bài thơ hơn. Và dù đã rất buồn ngủ, tôi cũng cố ngồi viết vài cảm nhận về bài thơ hay, nhưng buồn mà đẹp này.
Ấn tượng níu giữ tôi đầu tiên là câu:
Nẻo về tàn lá cỏ
Lối sang mờ màn mưa...
Câu thơ thật hay, đẹp. Và cả lạ nữa.
Tôi chưa được gặp cách diễn tả nỗi đau xa cách nào bằng hình ảnh: “Nẻo về tàn lá cỏ / Lối sang mờ màn mưa...”, hay và lạ vì bảng lảng nét liêu trai như thế. Có thể là vì tôi ít đọc, nhất là thơ thì lại càng lười đọc nhưng ở 2 câu thơ này, cách diễn đạt như thế, không phải là tình cảm nhớ nhung thông thường vì xa cách, mà là vời vợi những nhớ thương của người sống với người đã khuất, là nỗi đau khôn nguôi bởi sự cách trở bất khả kháng của Âm - Dương cách biệt. Đấy là câu thơ hay và đẹp của tình nghĩa Tào Khang, hoàn toàn không dành cho tình yêu trai gái.
Nẻo về tàn lá cỏ / Lối sang mờ màn mưa...” cứ bồng bềnh nhân ảnh, cứ bảng lảng nét liêu trai, như là những ngăn trở bất khả kháng, càng khiến nỗi trống vắng trong “Gọi đêm trở gió” thêm hoang hoải, xót xa.
Tôi đã suýt bật khóc khi đọc:
Trở gió. Rét về
Sao Người không về lại? 
Câu “Trở gió. Rét về” được ngắt làm 2 nhịp bằng dấu chấm ngăn cách, đã đẩy sự cô đơn, trống vắng của “Gọi đêm trở gió thêm vời vợi, xót xa. Đấy không chỉ là lời cảm thán của tâm trạng xót xa khi Đông về mà là cả sự nhớ nhung được dồn nén bấy lâu. Đọc: “Sao người không về lại?”, tim tôi như thắt lại, cứ mường tượng tới hình ảnh một thiếu phụ ngoái đầu, đăm đắm ánh nhìn hướng về phía cánh cửa như đang ngóng chờ một “Người” nào đó rất quan trọng “về lại”, diết da lắm, mà cũng tuyệt vọng lắm. Câu thơ bật ra như tiếng thổn thức của nỗi lòng, như trải ra để mong được vơi đi nỗi nhớ nhung đang bào xát con tim. Dường như vì sự nhớ thương đến khắc khoải, cũng da diết đã từ rất lâu, khiến thiếu phụ đụt hơi, đuối sức. Câu: “Sao Người không về lại?”, nghe như một tiếng nấc nghẹn của sự nhớ thương đến tuyệt vọng, âm điệu nhỏ dần, nhỏ dần, xót xa, nghẹn đắng:
Trở gió. Rét về
Sao Người không về lại? 
Hình ảnh đẹp. Rất thơ! Rất họa! Tôi cứ ngẩn ngơ với ý nghĩ: Giá như bài thơ dừng lại ở đây thì hay hơn, vì như thế bài thơ sẽ gợi cảm xúc hơn, ấn tượng hơn, và chất thơ sẽ đẹp hơn.
Vâng! Đấy chỉ là vài cảm nhận của tôi khi đọc “Gọi đêm trở gió”. Và những cảm nhận đó có thể sẽ không trùng với ý tác giả, nhưng như thế thì tôi cũng rất cám ơn nhà thơ Bùi Cửu Trường đã cho tôi thưởng thức một bài thơ hay, để tôi thêm cảm nhận về một cung bậc tình cảm qua bài thơ lấp lánh những nhớ thương đến xót lòng.
*
Hà Nội, 3 giờ sáng 02.03.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM
trong RỪNG XANH MƯA
*
Định viết bài cảm nhận về tập thơ RỪNG XANH MƯA của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm nhưng tôi không đủ sự kiên nhẫn để đọc một mạch hết tập thơ, vì thú thật, để hiểu được thơ của ông, với tôi quả thật là không dễ, nên đành chọn phương pháp vài ngày đọc một bài, nghiền ngẫm từ từ, thật chậm để "ngộ" được "nỗi niềm thầm kín" ẩn trong những bài thơ mang mang hơi thở Thiền của ông. Hôm nay, đọc mấy bài thơ về biển, gặp những tứ thơ hay, lạ, tôi vội gõ đôi dòng theo mạch cảm xúc: BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG RỪNG XANH MƯA.
Với nữ sĩ Xuân Quỳnh: “Biển như cô gái nhỏ/ Thầm thì gửi tâm tư”, dịu dàng những xao động của cõi người, nhưng với Nguyễn Thanh Lâm thì biển không chỉ dịu dàng như thiếu nữ tuổi dậy thì mà còn đẹp hơn thế, khi ông phát hiện: biển trong mưa thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết “Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”, chỉ nên chiêm ngưỡng bằng tâm thể thánh thiện của cõi Thiền. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ và cõi phàm trần “trở bệnh tương tư”, “ngẩn ngơ” tiếc nuối:
Biển lại mưa
Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc
Mây ngẩn ngơ bay
Gió trở bệnh tương tư
Đường chân trời ảo mờ trong mắt
(Biển lại mưa)
Khi mưa tạnh, biển trở lại hiền hòa, êm dịu, thì dưới lăng kính lãng mạn của nhà thơ, biển đẹp như “cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc”, còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn. Nét đẹp ấy mơn mởn những phồn thực mà hồn nhiên, sáng trong, lặng thầm của hương trinh nữ, làm xuyến xao nhà thơ với miền cảm mến thanh tao, không vẩn nét phàm trần, khiến những trăn trở, nghĩ suy của nhà thơ về trách nhiệm với cuộc đời trở nên an nhiên, tự tại:
Lòng tôi rỗng không ngắm biển
Tóc trắng trên đầu lặng sóng
Mắt khép hờ lỏng then quá khứ - tương lai
Hồn nhiên nhịp thở
Hương hạnh phúc dâng đầy
(Biển sau mưa)
Đứng trước biển, nhà thơ lặng lẽ quan sát, lặng lẽ thả hồn đắm chìm vào những cảm xúc để hồn thơ thăng hoa, bay lên. Những hình ảnh sống động, đan quyện vào nhau, uyển chuyển giữa hư và thực, tạo nên một bức tranh “siêu thực”, đẹp như trong cổ tích, thể hiện tài sử dụng hình ảnh thật khéo, thuần thục đến nhuần nhuyễn của nhà thơ:
Mưa réo sôi trên đầu sóng
Biển sưởi hồn tôi bằng mặt trời năm xưa
Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng
Ôm vào lòng cho đỡ ướt tâm tư
(Gặp mưa)
Vâng! Tôi thích những câu thơ như thế. Tôi thích những hình ảnh tráng lệ từ nét vẽ tài hoa của Nguyễn Thanh Lâm. Những câu thơ như: “Mưa réo sôi trên đầu sóng”, “Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng”... đã nâng nhà thơ lên thêm một tầm cao.
Con người và thiên nhiên đã thẩm thấu nhau, hòa quyện vào nhau, cùng phiêu trong cảm xúc của nhà thơ, tạo nên một bức tranh lung linh huyền ảo, đẹp đến ngỡ ngàng:
Trong vòng tay tôi mặt trời thiêm thiếp
Tôi tự ru mình trong tiếng mưa
(Gặp mưa)
Tôi yêu những câu thơ này! Tôi tự hỏi: “mặt trời” nào của nhà thơ “thiêm thiếp” vậy? Là ảo ảnh của tình yêu năm xưa chợt ùa về? Hay ảo ảnh mặt trời trong sóng biển khiến nhà thơ liên tưởng? Uầy... Là gì thì những hình ảnh ấy cũng rất đẹp, cũng khiến người đọc mơ màng, ngơ ngẩn.
Nhưng có khi, biển của Nguyễn Thanh Lâm không khoác hình hài của một thiếu nữ tuổi trăng tròn, đẹp dịu dàng, trong sáng, cũng không là hình ảnh “mặt trời năm xưa” khiến nhà thơ nâng niu “Ôm vào lòng cho đỡ ướt tâm tư” mà biển mang dáng dấp như người đã trưởng thành, người từng trải... bằng những câu thơ đượm vị đời với những suy tư, chiêm nghiệm, đậm chất triết lý, với những nỗi đau cũng thật đời, rất người:
Biển chưa im lặng bao giờ
Suốt đời quằn quại sóng
Cả đời mặn nước mắt khổ đau
Mưa trời không thể bão hòa vị mặn
(Nước mắt biển)
Đắm mình trong không gian sống động của biển cả, thả tâm tư hòa quyện với trời mây… nhưng nhà thơ không quên đối diện với “lòng mình” mà “ngộ” ra điều: biển không hề yên bình, giống như lòng thi sĩ cũng đang ngổn ngang trăm nghìn tơ rối, để mà thêm thấm: “Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người”, để mà tự thức tỉnh về lẽ đời nơi cõi người vốn nhiều oan trái, khổ đau:
Tôi nhìn vào lòng mình thấy biển
Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người
(Nước mắt biển)
Và có những lúc, biển của Nguyễn Thanh Lâm trở nên khác lạ, không ồn ào, dữ dội, không "quằn quại sóng" bởi "cả đời mặn nước mắt khổ đau", cũng không dịu dàng như thiếu nữ tuổi cập kê trăng tròn, mà biển yên bình, lãng đãng chất lãng mạn chốn thôn quê:
Sóng ì oàm vỗ mạn tàu
Nghe như tiếng gàu sòng tát nước trăng khuya
(Đêm tạm trú)
Có lẽ chỉ nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm mới nghe được tiếng sóng biển vỗ mạn tàu "ì oàm" "như tiếng gàu sòng tát nước trăng khuya". Và chỉ có ông mới vẽ biển bằng những nét vẽ lãng mạn, yên bình, đầy chất thơ mà khác, lạ như thế.
Chừng 8 bài thơ viết về biển, như thế không phải là ít trong tổng số 70 bài thơ của RỪNG XANH MƯA. Thơ ông viết về biển, bài nào cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện của cõi Thiền. Có lẽ vì không phải là người vùng biển nhưng lại rất yêu biển nên ông viết về biển bằng những cảm xúc thật, đẹp và lạ, bằng tâm trạng của người lâu lắm rồi mới gặp lại biển, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đa sắc thái, đa hình ảnh... của biển mà hồn thơ ông bay bổng với nhiều sắc thái tâm tưởng.  
*
Hà Nội, chiều 08 tháng 05 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
NGẪM CHIỀU - BÀI THƠ
 ĐỘC ĐÁO CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG
*
NGẪM CHIỀU

1- tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.

lòng rối bời 
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội 
bàn chân ai lối về.

canh hẹ cuộc đời hắt bến mê
bông lau tóc xoã vạt chiều héo úa
bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.
...

2 - Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui
hít hà hương lá
vói rẻ quạt ráng hồng quạt gió
xoe búp trời thiên thanh

Bỏ lại bộn bề về tĩnh tại mình
tiếng mõ cá quyện chiều lam khói
chuông đồng vọng thinh không vòi vọi
Thơ.

3 - đời - mơ
trong vắt.
*.
Hà Nội, 02.03.2018
BÙI CỬU TRƯỜNG
LỜI BÌNH:
Ngẫm Chiều là bài thơ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường, được sáng tác vào ngày 02 tháng 03 năm 2018 nhưng mãi tận chiều qua, 16 tháng 06 năm 2018 tôi mới có cơ duyên được đọc Ngẫm Chiều trên trang facebook của bà.
Ngay từ những câu đầu của khổ đầu bài thơ, Ngẫm Chiều đã gây ấn tượng đặc biệt với người đọc qua những chấm phá khá độc đáo:
tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ phượng rơi.”
Thơ tự do, phóng bút, không chú trọng vần điệu, không gò bó hình thức. Hình ảnh đẹp, lạ, gợi những nét huyền bí, liêu trai.
Tiếp theo, là: Lòng rối bời/ Dạ rối bời”, chủ ý ngắt ra từ “lòng dạ rối bời” thành 2 câu riêng biệt, đồng nghĩa, để nhấn nhá, đẩy lên cao tâm trạng bồn chồn, sốt ruột, với ngổn ngang những lo lắng chồng chéo, đan xen, khó tháo gỡ, khiến bàn chân “liêu xiêu bước vội”. Nhịp thơ thật riết róng, dồn nén, ngắc ngứ, rưng rức xót lòng trong chiều bời rối”, và những phảng phất nét cô liêu với đau đáu nỗi niềm “bàn chân ai lối về”, khiến người đọc cũng nghẹn lòng, thảng thốt:
lòng rối bời 
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong rối
liêu xiêu bước vội 
bàn chân ai lối về.
Tâm trạng hụt hẫng, xa xót được đẩy xa, sâu hơn, bởi những hình ảnh: “tóc xõa vạt chiều”, “bàn tay thõng”, “ngọn cỏ côi”... mang mang gam trầm buồn, của tâm trạng xáo trộn bất ổn, muốn thõng tay buông bỏ tất cả, quên đi tất cả, đã tạo nên một bức tranh sống động mà trầm mặc, u uẩn mà da diết.
Không chú trọng vào gieo vần, cứ thả cho mạch thơ tự nhiên trôi theo dòng cảm xúc nhưng nhà thơ Bùi Cửu Trường lại thật cẩn trọng khi chọn lựa, sắp xếp câu chữ, với những động từ: “hắt”, “xõa”, “rớt”, “vỡ”... được đặt đúng tâm trạng, đúng ngữ cảnh, khiến nỗi đời, nỗi người của cõi người đã đau càng đau se sắt, và đẩy câu thơ bay lên, thấm nhẹ nhàng vào trái tim người đọc:
bàn tay thõng rớt niềm tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn cỏ côi.”
Hai câu thơ thật hay, mà buồn, xót xa lắm.
Rồi, nhà thơ “Bỏ lại muộn sầu đi nhặt niềm vui/ hít hà hương lá”, để tĩnh tâm trước cõi người nơi trần tục còn lắm khổ lụy, phiền não, để buông bỏ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát những tham - sân - si - ái - ố của chúng sinh mà gửi hồn vào “tiếng mõ cá quyện chiều lam khói/ chuông đồng vọng thinh không vòi vọi”, mà mong được an lạc nơi cõi Thiền.
Sắc - Sắc - Không - Không, đời người là bể khổ trầm luân, đạt tới “đời - mơ/ trong vắt” là đạt tới cảnh giới. Ước mơ đó đâu phải chỉ là của riêng nhà thơ Bùi Cửu Trường?!
Ngẫm Chiều là bài thơ với thi tứ hay và lạ, cách sử dụng từ ngữ khá độc đáo, nhất là cách nói ngược: nà nuột / cánh đỏ phượng / lắng lo / vụn vỡ / xa xót / muộn sầu / bộn bề / chiều lam khói... được dùng như là thủ pháp chính đã tạo ấn tượng thật đặc biệt với người đọc. Hay hay không hay là tùy thuộc vào cảm nhận của riêng mỗi người nhưng với người viết, thì NGẪM CHIỀU là một bài thơ hay, rất đáng đọc.  
*
Hà Nội, 17 tháng 06 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.
.
.



-----------------------------------
Đang cập nhật

.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét