TỬ VI KIẾN GIẢI
Tác giả: Đặng Xuân Xuyến - Nhà xuất bản Thanh Hóa
xuất bản lần đầu năm 2009 - tái bản lần đầu năm 2010
*
LỜI NÓI ĐẦU
*
Vào thời Tống (Trung Quốc), Hi Di Trần Đoàn đã dựa vào Kinh Dịch, Bát Quái cùng lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành để lập ra khoa Tử Vi với mục đích tìm hiểu về tính cách và số phận con người dựa trên hệ thống quy luật biến hóa của triết thuyết về vũ trụ thời đó. Trong nhiều kiểu bói toán của người xưa thì Tử Vi - thông qua “lá số Tử Vi” được lập bởi ngày sinh tháng đẻ để ước đoán tính cách và số phận con người - là một trong những kiểu bói toán nhận được tín nhiệm của nhiều người vì độ chính xác tương đối cao, cho dù những nghi vấn về tính khoa học, độ chính xác của Tử Vi luôn là những lý do xác đáng để những người phản đối khoa Tử Vi lấy đó làm cơ sở để phản bác. Tuy nhiên, với những đóng góp của khoa Tử Vi trong đời sống hàng ngày, ít nhất là triết lý Âm Dương Ngũ Hành áp dụng trong y học, được nhiều nhà khoa học hiện đại xem như là một bước tiến về nhân học thì việc nhìn nhận giá trị của Khoa Tử Vi rất đáng được cẩn trọng nghiên cứu.
Cũng lấy con người làm đối tượng nghiên cứu, nhưng con người trong Tử Vi không bó hẹp ở phạm trù cá nhân riêng biệt mà gắn liền với gia đình (cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, dòng họ), với các mối quan hệ xã hội tương tác (bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp, đối thủ...). Như thế, tham vọng của Tử Vi là rất lớn khi muốn thông qua hơn trăm tinh đẩu (Tử Vi của Việt Nam là 111, Tử Vi Trung Quốc là 118) được an trên lá số sẽ phác thảo được cuộc đời của đương số từ khi cất tiếng khóc chào đời đến khi mãn phần với những thăng trầm, vinh nhục về tiền tài, sự nghiệp, hạnh phúc... của con người qua từng chặng đường số phận: 10 năm, 1 năm, 1 tháng, 1 ngày… 
Hệ thống triết lý của Tử Vi dựa trên lý thuyết Bát Quái, Kinh Dịch và nền tảng của triết lý Âm Dương Ngũ Hành làm căn bản nhưng đặc biệt chú trọng triết lý: tĩnh mà động, công thức mà linh hoạt trong việc luận giải để đưa ra lời kết luận về tính cách và số phận của con người, vì thế mà những lời ước đoán của các “thầy Tử Vi” về cùng một lá số thường có những điểm khác nhau, thậm chí còn đối nghịch với nhau khiến khoa Tử Vi càng trở nên huyền bí. Mặt khác hệ thống lý luận của Tử Vi không đồng nhất, vẫn còn khá nhiều tranh cãi, nhiều khi còn đối lập gay gắt, làm cho việc tiếp cận với khoa Tử Vi trở nên phức tạp, khiến niềm tin vào tính khoa học, độ chính xác của Tử Vi thêm nhiều nghi vấn. Đây là những hạn chế có thể gọi là cố hữu của khoa Tử Vi sẽ khó có lời giải thấu triệt.
Dẫu vậy, nếu biết loại bỏ những yếu tố mê tín dị đoan, biết gạn đục khơi trong, để tiếp nhận những giá trị khoa học và triết học của Tử Vi vào cuộc sống là việc rất đáng được quan tâm nghiêm túc. Vì thế, người viết đã tập hợp lại các bài viết của mình soạn thành TỬ VI KIẾN GIẢI, với mong muốn giúp ích chút ít cho những ai lần đầu tiếp cận với khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và giảm thời gian tìm hiểu.
Cuốn sách tập hợp những bài viết sau:
1. Tìm hiểu về nguyên lý của Ngũ Hành
2. Một số thuật ngữ thường dùng trong Tử Vi
3. Luận về Địa Không, Địa Kiếp
4. Tuần Triệt và những dấu hỏi
5. Sao tình dục trong Tử Vi
6. Vị trí của Nhật - Nguyệt trên lá số
7. Nhận biết một số hạng người qua lá số Tử Vi
Khi viết những vấn đề này, người viết đã cố gắng tìm đọc thật nhiều tài liệu để bài viết sinh động, rõ ràng và truyền tải đuợc nội dung cơ bản của hệ thống triết lý trong khoa Tử Vi nhưng thật tiếc tài liệu đã không nhiều, lại có nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập giữa các tài liệu tham khảo, trong khi trình độ, sự hiểu biết của người viết còn nhiều hạn chế, vì thế bài viết sẽ còn nhiều thiếu sót, khiên cưỡng.
Biết rằng kiến thức và kinh nghiệm về xem Tử Vi của người viết chỉ ở trình độ abc, tự học trong khi khoa Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiến thức uyên bác về Dịch lý, về Âm Dương Ngũ Hành... nên những kiến giải của người viết sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan và nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải "ngây ngô" của kẻ "ếch ngồi đáy giếng"... Dù thế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ít nhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinh tế, linh hoạt đến phức tạp... của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìm hiểu..
Nếu được vậy, người viết mãn nguyện lắm rồi.
*.
Hà Nội những ngày hè năm Đinh Hợi (2007)
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TRUYỀN THUYẾT 14 CHÍNH TINH
TRONG TỬ VI
*
(Lược soạn theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Hi Di Trần Đoàn)

Đời Phong Thần, vương triều nhà Ân có ông vua cực tàn ác là vua Trụ. Một hôm, Trụ Vương đi săn gặp mưa lớn, để trú mưa liền vào miếu Cửu Thiên Huyền Nữ. Trụ Vương vốn thô bạo và hiếu sắc, thấy pho tượng Cửu Thiên Huyền Nữ đẹp quá mê ngay, hạ lệnh cho quân sĩ vác tượng đó về xung vào đám tì thiếp của nhà vua. Mọi người tuy kính nể nữ thần nhưng họ còn sợ sự tàn ác của vua Trụ gấp bội, nên nhất loạt vâng lệnh mang Cửu Thiên Huyền Nữ về cung.
Cửu Thiên Huyền Nữ giận lắm mới hoá phép biến một con hồ ly trong rừng thành người đàn bà tuyệt sắc rồi sai đến mê hoặc Trụ Vương mà làm cho nhà Ân phải diệt. Người đàn bà tuyệt sắc ấy tên Đát Kỷ, vương phi sủng ái của vua Trụ. Quả nhiên, Trụ Vương say mê Đát Kỷ bỏ bê việc triều đình, gây xáo trộn trật tự. Cùng lúc đó, trên trời đang thiếu nhiều thần linh, Ngọc Hoàng Thượng Đế rất mừng thấy Cửu Thiên Huyền Nữ quyết tâm diệt Ân. Ngài nghĩ một khi nước loạn tất sẽ có nhiều anh hùng, trung thần chết vì quốc nạn. Ngài phái Thái Bạch Kim Tinh lập tức ra Nam Thiên Môn cầm sổ chờ sẳn, trong cơn binh lửa đón những người chết về.
Ở phía Tây giang sơn nhà Ân có chư hầu quốc dòng họ Chu giầu có thịnh vượng, văn hoá cao. Sợ nhà Chu một ngày kia sẽ lấn áp mình nên Trụ Vương ý định ra tay trước mới mượn cớ mời vị lãnh đạo Chu quốc là Văn Vương tới họp. Văn Vương tinh thông bát quái Dịch Lý của Phục Hi trí tuệ bậc nhất thời bấy giờ. Trụ Vương nghĩ cứ bắt Văn Vương giết đi thì mọi sự sẽ đâu vào đấy. Khi Văn Vương đến nơi, vua Trụ cho bắt nhốt ngay chờ ngày hành quyết, kết tội Văn Vương phản nghịch.
Con lớn Văn Vương là Bá Ấp, đẹp tuấn tú, hiên ngang, đàn bà con gái trông thấy Bá Ấp một lần là thương nhớ khó quên. Bá Ấp rất có hiếu, nghe tin cha bị hại lòng xốn sang như lửa đốt, ngày đêm phóng ngựa đến gặp vua Trụ để minh oan cho cha mà không hề biết hậu ý của vua Trụ. Trụ Vương hứa ba ngày sau sẽ nói chuyện và lưu Bá Ấp ở trong cung.
Đêm khuya, Bá Ấp ngồi gảy đàn, tiếng đàn như nước chảy trên đá, buồn như chim đỗ quyên hót nhiều đến rớm máu mắt, chan hoà khắp cung điện khiến Đát Kỷ tỉnh giấc lắng nghe rồi lần theo tiếng đàn mà tới buồng Bá Ấp. Nàng chỉ mặc trên người tấm áo lụa mỏng. Nhìn qua song cửa, Đát Kỷ trông thấy dưới ngọn bạch lạp, một chàng trai khôi vĩ, cao sang tuyệt bực đang chăm chú với phím đàn. Con hồ ly tay sai của Cửu Thiên Huyền Nữ, nó vốn tính cực dâm đãng nên chẳng chút ngần ngại mở cửa vào phòng Bá Ấp dùng cử chỉ lả lơi quyến rũ. Nào ngờ Bá Ấp chẳng những bất động tâm, chàng còn lớn tiếng mắng Đát Kỷ là đồ đĩ thoả. Đát Kỷ bực bội vì không được thoả mãn cũng chửi lại Bá Ấp làm náo loạn cung đình, vệ binh kéo đến bắt giữ Bá Ấp. Đát Kỷ già mồm khóc lóc nói với vua Trụ rằng mình bị Bá Ấp làm xấu, nghe tiếng đàn nàng đứng ngoài song cửa bỗng Bá Ấp xấn tới ôm nàng kéo vào buồng. Trụ Vương cả giận, cơn ghen bừng bừng, không cần hỏi han sự thực thế nào hét quân mang Bá Ấp ra chém rồi băm thây ra viên thịt Bá Ấp nướng chả đem đến cho Văn Vương ăn.
Văn Vương trong ngục thất là người giỏi toán số đã biết rõ hết mọi chuyện xảy ra. Buổi sáng khi quân canh mang chả nướng vào, Văn Vương ung dung ngồi ăn hết đĩa chả. Trụ Vương thấy vậy cười ha hả nói:  - Thằng đó đúng đồ hư danh, ăn thịt con mà cũng không biết thì có gì đáng sợ, không hiểu tại sao thiên hạ phục hắn về cái tài thần toán chiêm bốc.  Nói rồi Trụ Vương sai thả Văn Vương ra khỏi ngục.
Trên đường về Chu quốc, nỗi mừng thoát nạn không sao lấp được cái buồn cha ăn thịt con cho nên vẻ mặt bi thảm khôn tả. Đến nhà, Văn Vương tìm khu vườn cây xanh tốt, tự móc họng để nhả những miếng chả ra. Lạ thay, thịt Ba Ấp đã biến thành một động vật lông trắng muốt, đôi tai dài, mắt đỏ màu hồng ngọc chạy nhảy tung tăng trông hiền hậu dễ thương, đấy là con thỏ đầu tiên của thế giới. Nó cúi đầu chào Văn Vương rồi chạy vào đám cỏ xanh mất dạng.
Thái Bạch Kim Tinh đưa tay đón bắt con thỏ đưa về trời. Giữa lúc ấy thì trên một ngôi sao, hoa tường vi nở đỏ bát ngát. Ngôi sao này là chủ tinh của một chòm sao. Do đề nghị của Thái Bạch Kim Tinh, Ngọc Hoàng Thượng Đế liền bổ nhiệm Bá Ấp về cai quản sao Tử Vi bởi lẽ Bá Ấp hội đủ ba tính chất: thiên lương, tôn quí và cao quí.
Văn Vương thề quyết trả thù cho con, ngày đêm nỗ lực xây dựng xứ sở, làm việc quá nhiều nên kiệt lực mà chết, việc tiêu diệt nhà Ân giao vào tay Vũ Vương, em trai của Bá Ấp.
Vũ Vương nối nghiệp cha, ngày ngày huấn luyện binh mã, chăm lo nông nghiệp, quốc lực tăng trưởng, nhờ sự phò tá của vị quân sư là Khương Thượng, Vũ Vương đánh bại Trụ Vương tiêu diệt Ân triều.
Khương Thượng hiệu Tử Nha tục xưng là Lã Vọng, là người cao minh trí tuệ, lúc chưa đắc chí thường ngồi câu cá nơi sông Vị. Cuộc sống nghèo khổ cùng cực, bị mụ vợ già chửi mắng suốt ngày. Mãi đến chín mươi tuổi mới có cơ duyên gặp được Văn Vương và được Văn Vương mời về làm quân sư. Văn Vương chết, Khương Thượng giúp Vũ Vương phạt Trụ.
Bình xong thiên hạ, Vũ Vương phong cho Tử Nha cai quản đất Tề. Lúc chết, Thái Bạch Kim Tinh mời Tử Nha về trời giao cho cai quản sao Thiên Cơ, bởi thế sao Thiên Cơ trong Tử Vi đấu số tượng trưng cho trí tuệ, quyền biến cơ mưu.
Trụ Vương tuy là bạo quân nhưng chung quanh ông ta cũng có nhiều trung thần, đáng kể nhất là Tỉ Can từng khuyên vua Trụ dứt bỏ con yêu tinh Đát Kỷ. Trụ Vương bực bội mắng Tỉ Can bất trung. Để tỏ lòng ngay thẳng, Tỉ Can nói với Trụ Vương: “Nếu bệ hạ không tin lời, thần xin đem tấm lòng son sắt dâng lên bệ hạ”. Nói xong cầm dao tự đâm vào ngực moi tim đưa cho Trụ Vương. Tỉ Can chết, Thái Bạch Kim Tinh thương lắm tới đón về trời giao cho cai quản tinh cầu sáng rực, cực quang minh chính đại là sao Thái Dương.
Vũ Vương lên ngôi thi hành thiên chính, sống rất thọ. Khi chết, Thái Bạch Kim Tinh nhận công nghiệp vũ dũng đánh dẹp bạo quân rất xứng đáng với sao Vũ Khúc nên dâng sớ xin Ngọc Hoàng đặt Vũ Vương nơi ấy. Vũ Vương chẳng những là người dũng cảm lại giỏi về kinh tế khiến cho đời sống dân gian sung túc. Do vậy Vũ Khúc còn là sao chủ về tiền bạc giàu có trong Tử Vi đẩu số.
Thảo phạt Trụ Vương là Vũ Vương, nhưng nếu không có những công lao bước trước của Văn Vương thì đại sự cũng chẳng thành. Hầu hết các nhân vật tài giỏi giúp Vũ Vương đều do Văn Vương để lại. Thái Bạch Kim Tinh nhận thấy Văn Vương xứng đáng là một vị thần giỏi dung hoà xếp đặt, tính tình ôn thuận nên cho về cai quản ngôi sao Thiên Đồng.
Bên cạnh vua Trụ có tên đại gian thần là Phí Trọng dùng nịnh nót và gian kế đã giết chết nhiều trung thần của Ân triều để thoả mãn nắm đại quyền quốc gia. Khi Ân triều diệt vong, Phí Trọng bị Khương Thượng bắt đem chém đầu. Ngày hành hình trên trời thiếu thần trị nhậm sao Liêm Trinh, Thái Bạch Kim Tinh liền dùng Phí Trọng làm vị thần của mọi sự tà ác. Trong Tử Vi đẩu số, Liêm Trinh chủ về những sự việc lắt léo không ngay thẳng, tàn nhẫn.
Trụ Vương có một vị chính thức nguyên phối hoàng hậu họ Khương là người đàn bà hiền thục tài năng. Từ ngày Đát Kỷ xuất hiện, bà Khương hậu bị vua Trụ bỏ rơi, do sự xúi bẩy của Đát Kỷ, Trụ Vương giết luôn bà Khương hậu. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Khương hậu cho cai quản một tinh cầu đầy vật sản phì nhiêu là sao Thiên Phủ. Trong Tử Vi đẩu số, sao Thiên Phủ mang tính chất tài năng và từ bi.
Ân triều có quan trung nghĩa tên Hoàng Phi Hổ có người vợ họ Giả, nhan sắc diễm lệ, nức tiếng xa gần. Lệ triều đình hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán, các quan phải cùng với phu nhân vào bái yết quốc vương. Giả phu nhân theo chồng vào cung. Đát Kỷ thấy Giả phu nhân nói chuyện duyên dáng lại đẹp nên đố kỵ, bảo vua Trụ mời bà ở lại dự dạ yến để lập kế hại.
Rượu say, Trụ Vương chẳng giữ lễ vua tôi gì nữa, chạy lại ôm lấy Giả phu nhân mà ép nài chuyện bậy bạ. Vốn là người đàn bà trọng tiết tháo, không chịu được nhục nhã, bà bỏ chạy cùng đường phải lao mình từ trên lầu cao xuống đất tự tử. Linh hồn Giả phu nhân bay lên trời, Thái Bạch Kim Tinh đặt bà làm nữ thần của sự thanh khiết, cho đến trú ngụ nơi sao Thái Âm. Từ khi bà về tới thì tinh cầu này trở nên gọn ghẽ, sáng sủa và rất sạch sẽ.  Thái Âm tinh trong khoa Tử Vi tượng trưng cho thanh khiết, sáng đẹp và ưa sạch sẽ.
Còn Đát Kỷ, nữ yêu chủ chốt của nhiều biến cố, thì số phận ra sao ?
Xuất thân là con hồ ly hầu hạ Cửu Thiên Huyền Nữ qua danh nghĩa ái nữ của một đại thần nên lọt vào cung đình, dùng tửu sắc mê hoặc Trụ Vương. Đát Kỷ gây nhiều tai hoạ, bị Khương Tử Nha xử tử hình. Thái Bạch Kim Tinh cho bắt vong hồn Đát Kỷ về phong làm thần dục vọng, ác liệt, hoang đàng để cai quản sao Tham Lang. Tinh cầu này đầy chó sói hung dữ không thần nào trị nổi chúng. Nhưng lúc Đát Kỷ tới nơi thì chúng reo mừng. Trong Tử Vi đẩu số, sao Tham Lang mang tính chất điếm đàng tửu sắc, ưa vung phí ăn chơi, tượng trưng người đàn bà phá hoại chồng con, vô tài, bất đức.
Khương Tử Nha ngoài bảy mươi tuổi mới lấy người con gái lỡ thì năm ấy cũng đã hơn năm mươi tuổi tên Mã Thiên Kim. Kể từ ngày chung sống gia cảnh cực thanh bần, nhiều bữa không có cơm ăn. Mã Thiên Kim là người đàn bà thô tục, lăng loàn, vụng về chỉ vì nhờ chút tiền duyên nên lấy được Khương Thượng. Sau mười mấy năm, nghèo quá chịu không nổi, Mã Thiên Kim bỏ Khương Thượng. Lã Vọng bấm tay tính số biết lúc con vợ lăng loàn thô tục ra đi chính là lúc vận bĩ của ông cũng hết và Khương Thượng một sớm một chiều trở thành quân sư của Văn Vương. Nghe tin, Mã Thiên Kim vừa tiếc vừa hối hận, thắt cổ tự tử. Lã Vọng nghĩ tới tình cũ nghĩa xưa, cho người làm tang ma tống táng. Hồn phách Mã Thiên Kim được Thái Bạch Kim Tinh dùng làm nữ thần coi các việc thị phi, nỏ mồm quai mỏ cấp cho nhà ở nơi sao Cự Môn.
Trong đám trung thần bên cạnh Trụ Vương còn có Văn Thái Sư làm tể tướng và đại nguyên suý của Ân triều. Quân nhà Ân bị Chu quân đánh thua, Văn Thái Sư chết tại trận tiền. Vong hồn lên trời được Thái Bạch Kim Tinh cho cai quản sao Thiên Tướng.
Bất luận ai, theo lý ra phải sau khi chết mới được làm thần, chỉ duy Lý nguyên suý đại tướng của nhà Chu là Thái Bạch Kim Tinh theo lệnh Ngọc Hoàng, xuống mời về làm thần ngay lúc ông còn sống. Nơi trị nhậm của Lý nguyên suý là Thiên Lương tinh.
Hoàng Phi Hổ uất ức vụ vua Trụ làm nhục vợ mình gây ra cái chết oan uổng cho Giả phu nhân nên nổi lên đem binh mã đánh lại Trụ vương về rồi đầu hàng Vũ Vương. Ông đánh trận rất hăng thu được nhiều thắng lớn. Cuối cùng Hoàng Phi Hổ chết thảm trong trận Thằng Trì. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Phi Hổ về cai quản sao Thất Sát và phong làm thần chiến tranh chuyên coi việc sát phạt.
Sau chót là Trụ Vương vì mê Đát Kỷ, hãm hại trung thần bị Vũ Vương khởi binh phạt tội. Vũ Vương tấn công vào tận cung điện Trụ Vương. Hết đường chạy, Trụ Vương leo lên lầu cao nổi lửa đốt hết và chết trong đám cháy. Trụ Vương chết rồi, Thái Bạch Kim Tinh cho mang vong hồn về sao Phá Quân, phong làm thần phá hoại.
Tổng kết lại:
- Sao Tử Vi là Bá Ấp, thần của khí chất tôn quí.
- Sao Thiên Cơ là Tử Nha, thần của trí tuệ, tinh thần.
- Sao Thái Dương là Tỉ Can, thần của quang minh, bác ái.
- Sao Vũ Khúc là Vũ Vương, thần của vũ dũng đại phú.
- Sao Thiên Đồng là Văn Vương, thần của dung hoà, ôn thuận.
- Sao Liêm Trinh là Phỉ Trọng, thần của tàn ác, lươn lẹo.
- Sao Thiên Phủ là Khương hoàng hậu, thần của tài năng, từ bi.
- Sao Thái Âm là Giá phu nhân, thần của tinh khiết, trinh thảo và sạch sẽ.
- Sao Tham Lang là Đát Kỷ, thần của dục vọng, vật chất.
- Sao Cự Môn là Mã Thiên Kim, thần của mọi thị phi, nghi hoặc.
- Sao Thiên Tướng là Văn Thái Sư, thần của tấm lòng từ ái, trung trinh.
- Sao Thiên Lương là Lý Thiên Vương, thần cai quản, tổ chức, xếp đặt.
- Sao Thất Sát là Hoàng Phi Hổ, thần của uy nghiêm, quyết liệt.
- Sao Phá Quân là Trụ Vương, thần của phá hoại, tiêu hao.


TÌM HIỂU VỀ
NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH
*
Trong dịch lý và khoa tử vi, ngũ hành được xem là sự thể hiện thể chất của hai khí Âm (-) và khí Dương (+). Cái thể chất đó có hình dạng, đặc tính cố định nhưng lại không có thể chất nhất định. Hiểu đơn giản, vì Ngũ hành là chất được biến sinh từ hai khí Âm (-) và khí Dương (+) nên không có thể chất nhất định.
Tìm hiểu về văn hóa dân gian, nhất là khi tiếp cận với văn hóa tín ngưỡng như Tử Vi, Tử Bình… mà không hiểu rõ về nguyên lý của Ngũ hành thì quả thật sẽ rất khó khăn cho người nghiên cứu. Sự rối rắm, phức tạp về quan niệm tương sinh - tương khắc - tương hòa và nhất là nguyên tắc chế hóa của ngũ hành rất dễ đưa người đọc rơi vào sự hỗn độn, lầm tưởng, dễ đưa ra những kết luận sai lệch, kiểu như thầy bói xem voi trong truyện tiếu lâm Việt Nam.
Nói đến Ngũ hành là nói đến sự tồn tại của 5 hành có đặc tính rất riêng và hoàn toàn có tính khác biệt là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Đấy chính là năm trạng thái được hàm chứa trong vũ trụ và con người. Nhưng ngay trong cùng một hành, sự khác biệt vẫn có và sự khác biệt đó lại là căn bản để khẳng định tính riêng biệt của 2 hoặc 3 hành đó. Chẳng hạn: Âm Thổ - Dương Thổ, Âm Kim - Dương Kim, Âm Thuỷ - Dương Thuỷ ...
Thuyết Âm - Dương Ngũ hành xuất hiện đầu tiên từ thời Trung Hoa cổ đại trong Kinh dịch của Khổng Tử. Trong đó:
Âm: Tượng trưng cho mặt trăng (ban đêm), cho giống cái, bao hàm sự tối tăm, nguội lạnh, sự bất động, sự mềm nhão.
Dương: Tượng trưng cho mặt trời (ban ngày), cho giống đực, bao hàm sự sinh động, cứng cáp, sự mạnh mẽ, ấm nóng.
Còn Ngũ hành được ứng với thiên nhiên, sắc màu và đặc tính của con người.
Cụ thể:
Kim: Tượng trưng cho mùa thu, cho màu trắng và cho phương Tây. Kim ứng với đức tính NGHĨA của con người: Tượng trưng cho người sống có nghĩa có tình, luôn thích ứng với những phép tắc của thiên nhiên và công lý, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng giữ được bản chất tốt đẹp của một con người chính nhân quân tử.
Mộc: Tượng trưng cho mùa xuân, cho màu xanh và phương Đông. Mộc ứng với đức tính NHÂN của con người: Tượng trưng cho người thanh tịnh, ung dung tự tại, không cạnh tranh mà luôn bao dung với mọi người, con người hiền hoà như cây cỏ.
Thủy: Tượng trưng cho mùa đông, cho màu đen và phương Bắc. Thủy ứng với đức tính TRÍ của con người: Tượng trưng cho người có trí tuệ, không có điều gì là không thấu đáo, cũng như nước thì không có vật ngăn cản nào mà không thể tràn qua.
Hoả: Tượng trưng cho mùa hạ, cho màu đỏ và cho phương Nam. Hoả ứng với đức tính LỄ của con người: Tượng trưng cho người sống có lễ, có khuôn phép, tạo nên sự tôn trọng, tôn kính.
- Thổ: Tượng trưng cho đất, cho màu vàng và cho trung tâm. Thổ ứng với đức tính TÍN của con người: Tượng trưng cho con người luôn giữ chữ tín, cũng như thổ thì không bao giờ dịch chuyển vậy.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin mạo muội trình bày một số điểm cần lưu ý về mối quan hệ tương sinh - tương khắc - tương hòa và nguyên tắc chế hóa của Ngũ hành. Hy vọng có thể giúp bạn đọc giảm bớt khó khăn khi lần đầu tìm hiểu, tiếp cận với nguyên lý của Ngũ hành.

A. TìM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH
Khi nghe nói Ngũ hành tương sinh, ví dụ như Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim thì hiểu nôm na là hành này bồi đắp, nuôi dưỡng cho hành kia được lớn mạnh và phát triển. Chẳng hạn hành Kim nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Thủy lớn mạnh và phát triển, hành Thổ nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Kim lớn mạnh và phát triển...
Quan hệ tương sinh của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:
Giải thích về ý nghĩa của Ngũ hành tương sinh, có thể hiểu đơn giản như sau:
- Mộc sinh Hỏa: Mộc là cây cối, có Hỏa ẩn phục bên trong, xuyên thủng Mộc sẽ sinh ra Hỏa. Vì thế mới nói Mộc sinh Hỏa.
- Hỏa sinh Thổ: Hỏa đốt cháy cây cối thành tro, tức là Thổ. Vì thế mới nói Hỏa sinh Thổ.
- Thổ sinh Kim: Kim bị vùi lấp trong đất đá nên có Thổ tất có Kim. Vì thế mới nói Thổ sinh Kim.
- Kim sinh Thủy: Khí của Kim chảy ngầm trong núi, hoặc nhiệt độ làm kim loại nóng chảy. Vì thế mới nói Kim sinh Thủy.
- Thủy sinh Mộc: Nhờ có nước mà cây cối sinh trưởng được nên mới nói Thủy sinh Mộc.
Khi tìm hiểu về nguyên lý của Ngũ hành, cũng cần lưu ý một điều: Không phải cứ tương sinh là được tốt, mà phải hiểu Ngũ hành tương sinh được coi như là tốt giữa hai hành đó với nhau.
Trong mối quan hệ tương sinh đó sẽ có hai tình trạng sinh xuất và sinh nhập chứ không thể cùng tình trạng là sinh xuất hay sinh nhập. Có nghĩa, sự tương sinh chỉ có tính chất một chiều.
 Chẳng hạn: Kim sinh Thủy chứ Thủy không sinh Kim, Thổ sinh Kim chứ Kim không sinh Thổ.
Cũng có quan điểm cho rằng, sự tương sinh sẽ diễn ra hai chiều. Chẳng hạn: Mộc sinh Hỏa và Hỏa cũng có thể sinh Mộc. Quan điểm này được lập luận: Thủy sinh Mộc bởi nước đã giúp đất bớt khô, làm cho cây cối sinh trưởng tốt, còn Hỏa làm cho trời nóng, cây cối khỏi cóng rét nên cũng có thể nói Hỏa sinh ra Mộc. Quan điểm này không thực tế bởi cách lập luận như thế thật hết sức miên man, khiên cưỡng nên không thuyết phục.
Quan hệ sinh một chiều sẽ dẫn đến có sự khác biệt giữa hai hành trong mối tương sinh đó. Cái này sinh cho cái kia thì đó là sự sinh xuất, có nghĩa tình trạng sinh xuất sẽ thể hiện sự thua thiệt, vất vả để phù trợ cho cái được sinh (tình trạng sinh nhập). Cái này được sinh do cái kia sẽ được lợi, được phù trợ do cái kia đem lại. Hiểu nôm na, đơn giản: hành sinh xuất là cha mẹ, hành được sinh là con cái. Vì cha mẹ sinh ra con cái nên hết lòng vì con cái, bồi đắp và nuôi dưỡng cho con cái phát triển, còn con cái, được cha mẹ sinh thành, dưỡng dục nên người, sau này sẽ báo đền ơn nghĩa của cha mẹ, tuy nhiên, sự báo đáp đó không thể ngang bằng với công lao trời biển của bố mẹ.
So sánh như vậy để bạn đọc dễ hình dung về mối quan hệ Ngũ hành tương sinh, dễ đưa ra lời kết luận khi nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là trong văn hóa tín ngưỡng như Tử vi, Lý số...
Trong quan hệ vợ chồng, sự tương sinh giữa hai bản mệnh là rất cần thiết vì có sự tương sinh thì vợ chồng mới yêu thương, hòa thuận, mới cùng nhau vun đắp cuộc sống gia đình được viên mãn. Tuy nhiên, bản mệnh của người vợ phải ở tình trạng sinh xuất cho bản mệnh của người chồng thì sự tương sinh ấy mới thật sự là tốt đẹp, hoàn mỹ. Sự sinh xuất đó sẽ giúp người chồng gặp nhiều may mắn, con đường công danh, sự nghiệp của người chồng sẽ ít gặp những trắc trở, hoặc nếu có gặp thì sẽ dễ dàng vượt qua. Trường hợp này, dân gian gọi là người có số vượng phu ích tử. Ngược lại, bản mệnh người vợ được sinh nhập từ bản mệnh của người chồng thì người vợ sẽ được người chồng yêu thương, chở che, bao bọc. Vì ở tình trạng sinh xuất nên người chồng không nhận được sự giúp đỡ của vợ, dù chỉ là “nhờ lộc tuổi của vợ” ... Dù sao, bản mệnh của hai vợ chồng rất cần có sự tương sinh về ngũ hành để cuộc sống gia đình được hạnh phúc.
Vì có tính chất Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành nên khi nói đến tương sinh, cần chú ý đến nguyên tắc về Âm - Dương của 2 hành tương sinh đó. Sự tương sinh chỉ sảy ra khi hai hành đó có  tính chất Âm (-), Dương (+) khác nhau, ví dụ:
Âm Kim sinh Dương Thuỷ
Dương Thổ sinh Âm Kim
chứ nhất quyết không có chuyện:
Âm Kim sinh Âm Thuỷ
Dương Thổ sinh Dương Kim
Có quan điểm cho rằng: Sự tương sinh chỉ sảy ra một chiều, theo hướng khí Âm (-) sinh khí Dương (+), chứ không thể khí Dương (+) sinh khí Âm (-). Chẳng hạn: cùng là Thổ và Kim nhưng chỉ có Âm Thổ sinh Dương Kim, chứ Dương Thổ không sinh được Âm Kim. Quan điểm này không chấp nhận được vì đã hiểu không đúng về nguyên lý Âm Dương trong dịch lý. Cổ nhân nói: Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, Âm cực sinh Dương và Dương cực sinh Âm. Ví dụ: Không khí là Dương, nước là Âm. Trong không khí (Dương) có hơi nước (Âm) và trong nước (Âm) có bọt khí (Dương).
Dịch lý cho rằng: Âm Dương thuận lý (tức là khí Âm (-) và khí Dương (+) dung nạp, hòa hợp nhau) để biến sinh ra vạn vật, con người. Triết lý Âm - Dương khẳng định: Âm và Dương là hai thực thể ngoại tại, tự thân chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ: Không khí khi gặp lạnh sẽ tạo thành mưa, nước khi gặp nóng sẽ bốc hơi tạo thành khí; hoặc hết ngày thì đến đêm, hết mưa thì sẽ nắng.... Vì thế, quan điểm cho rằng chỉ có khí Âm (-) mới sinh được khí Dương (+) còn khí Dương (+) không thể sinh được khí Âm (-) là hiểu sai về thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Bên cạnh việc căn cứ vào Âm Dương của Ngũ hành, cần phải cân nhắc, xem xét đến yếu tố thứ 3 là bản chất lý tính của Ngũ hành (tức nạp âm thủ tượng, còn gọi nạp âm ngũ hành) của các hành đó để đưa ra kết luận: Thực chất mối quan hệ tương sinh của các hành đó như thế nào? Không thể cứ thấy đặc tính Ngũ hành tương sinh là khẳng định luôn các hành đó tương sinh, cũng không thể chỉ thấy thuận lý Âm (-) Dương (+) thì cho rằng như thế là được.
Biết rằng Thủy sinh Mộc nhưng phải biết đó là Thủy gì, Mộc gì ... chứ không thể cứ thấy Thủy với Mộc là khẳng định đó là tương sinh. Phải biết bản chất lý tính của các hành đó là gì để căn cứ mà luận giải. Chẳng hạn Bình Địa Mộc (Mậu Tuất - Kỷ Hợi: Cây đất bằng) rất cần có Thiên Hà Thủy (Bính Ngọ - Đinh Mùi: nước mưa trên trời) tưới xuống để tốt tươi, lớn mạnh, ngược lại, nếu Bình Địa Mộc gặp Đại Hải Thủy (Nhâm Tuất - Quý Hợi: Nước biển rộng) thì cây non mới đâm cành trổ lá làm sao mà tồn tại nổi.
Tương tự như vậy, khi nói Hỏa sinh Thổ cũng không thể hiểu Hỏa nào cũng sinh được Thổ, ví dụ, Thiên Thượng Hỏa (Mậu Ngọ - Kỷ Mùi: Lửa trên trời) không sinh được Bích Thượng Thổ (Canh Tý - Tân Sửu: Đất trên vách) mà còn làm cho Bích Thượng Thổ bị hủy diệt.
Ngay cả khi bản chất lý tính của Ngũ hành được tương sinh nhưng chắc chắn sẽ có ý kiến khác nhau, thậm chí còn trái ngược. Chẳng hạn, lấy tuổi Mậu Tuất với tuổi Bính Ngọ làm ví dụ.
 - Ý kiến thứ nhất cho rằng rất đẹp vì được tương sinh hai cấp độ (đặc tính và lý tính).
- Ý kiến thứ hai cho rằng không được đẹp lắm vì không thuận lý Âm Dương.
- Ý kiến thứ ba cho rằng bình thường, vì Ngũ hành từ khí mà ra nên Âm (-) Dương (+) là quan trọng. Dù được tương sinh ở 2 cấp độ nhưng sự nghịch lý Âm (-) Dương (+), coi như vứt bỏ.
Đây chính là sự phức tạp của thuyết Âm Dương Ngũ hành, làm cho người mới tìm hiểu, tiếp cận với Lý số học sẽ như lạc vào một trận đồ bát quái, khó tìm được đường ra.
Như vậy, mối quan hệ tương sinh của Ngũ hành không đơn giản như cách hiểu nôm na theo sơ đồ tương sinh đã nêu ở trang trước, mà khá phức tạp. Cũng lưu ý rằng, khi tìm hiểu về Ngũ hành tương sinh, bạn đọc nhất định phải chú ý đến 3 yếu tố sau:
1. - Đặc tính của Ngũ hành và tình trạng sinh xuất - sinh nhập.
2. - Tính chất Âm - Dương của Ngũ hành.
3. - Bản chất lý tính của Ngũ hành (còn gọi là nạp âm Ngũ hành).
Trong dân gian, có quan điểm cho rằng chỉ cần yếu tố thứ (3) là đủ, không cần thiết phải thêm 2 yếu tố (1) và (2), vì như thế chỉ thêm phức tạp, rối rắm. Nhưng cũng có quan điểm lại chú trọng tới yếu tố (1) và (2), bỏ qua hoàn toàn yếu tố nạp âm của Ngũ hành vì cho rằng như thế chỉ tăng thêm sự rối ren không cần thiết. Theo quan điểm của chúng tôi, sự kết hợp cả 3 yếu tố là điều cần thiết, không nên coi nhẹ bất kỳ yếu tố nào.
Chúng ta đều biết nạp âm Ngũ hành là sự phân chia ra 30 hành chi tiết của 5 hành cơ bản, để giải thích những sự phức tạp của quá trình sinh - khắc một cách hợp lý hơn khi áp dụng năm sinh để dự báo sự xung - hợp của tính tình con người.
Chúng tôi nghĩ rằng: Trong các trường hợp, khi bản chất lý tính của ngũ hành được xác định rõ ràng (nạp âm ngũ hành), thì sự kết hợp cả 3 yếu tố để luận giải sẽ tăng thêm độ chính xác, tin cậy của lời giải đoán, nhưng trong các trường hợp khác, khi lý tính của ngũ hành không thể xác định thì việc cân nhắc 2 yếu tố (1) và (2) là điều tiên quyết. Chẳng hạn, khi luận giải về giá trị của các sao trong lá số tử vi, người luận giải đương nhiên phải căn cứ vào đặc tính ngũ hành của các sao và vị trí Âm Dương của các sao để đưa ra lời kết luận. Trong những trường hợp như vậy, chỉ chú trọng tới yếu tố thứ 3 sẽ làm cho người đoán giải hoàn toàn rơi vào bế tắc.
Chúng tôi đưa ra nguyên tắc hội tụ 3 yếu tố trên để bạn đọc linh hoạt trong từng trường hợp. Chúng tôi cũng sẽ không đề cập lại vấn đề này khi bàn về Ngũ hành tương khắc, tương hòa hay quy luật chế hóa của Âm Dương ngũ hành ở những trang sau.

B. TìM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC
Nói đến Ngũ hành tương khắc là nói đến sự xung khắc giữa các hành với nhau, hay gọi đúng tên bản chất của sự tương khắc là hành này khống chế và làm cho hành kia bị suy yếu, hủy diệt.
Nếu Ngũ hành tương sinh được hiểu là sự nuôi dưỡng, bồi đắp của hành này cho hành kia phát triển và lớn mạnh, được coi như là tốt giữa 2 hành đó, thì Ngũ hành tương khắc lại được coi là xấu giữa 2 hành. Ví dụ: Kim khắc Mộc, có nghĩa Kim khống chế, làm cho Mộc bị suy yếu, hủy diệt; Thủy khắc Hỏa, Thổ khắc Thủy ... cũng tương tự như vậy.
Vậy Ngũ hành tương khắc có nghĩa như thế nào? Hiểu đơn giản, có quy luật tương khắc vì:
1. Mộc khắc Thổ: Cây cối cắm rễ vào đất, hút chất màu mỡ của đất, làm khô nẻ đất đá nên mới nói Mộc khắc Thổ.
2. Thổ khắc Thủy: Đất hút cạn nước, hoặc ngăn chặn dòng chảy của nước nên nói Thổ khắc Thủy.
3. Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa hoặc làm suy yếu cường độ của lửa nên mới nói Thủy khắc Hỏa.
4. Hỏa khắc Kim: Lửa nóng làm cho kim loại biến dạng, suy yếu, hoặc tan chảy nên mới nói Hỏa khắc Kim.
5. Kim khắc Mộc: Kim loại làm đổ cây cối, chế tác cây cối thành vật dụng nên mới nói Kim khắc Mộc.
Quan hệ tương khắc của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:
Không giống như Ngũ hành tương sinh, cơ bản như là tốt cho cả 2 hành vì không có sự khắc, đặc biệt tốt cho hành được sinh (tình trạng sinh nhập) và tốt ít, hoặc không xấu cho hành bị sinh (tình trạng sinh xuất). Trong mối quan hệ tương khắc của Ngũ hành thì dù khắc xuất hay khắc nhập đều xấu, sự xấu ít hay xấu nhiều, phụ thuộc vào hành đó ở trong tình trạng khắc xuất hay bị khắc nhập.
Khắc xuất hiểu nôm na là mình khống chế được người khác, làm cho người đó bị suy yếu, hủy diệt. Còn khắc nhập là mình là người yếu thế, bị người khác khống chế, làm cho mình bị suy sụp, hủy diệt. Dù ở tình trạng khắc xuất thì sự hao tổn, suy kiệt vẫn sảy ra. Ví dụ, muốn dập tắt được lửa buộc phải tiêu hao lượng nước nhất định, muốn ngăn được nước buộc phải có lượng đất đủ để đắp đập, ngăn bờ, thấm hút... Như vậy, dù ở tình trạng khắc xuất hay khắc nhập thì sự suy yếu cho bản thân vẫn sảy ra, đặc biệt là xấu nhất khi ở tình trạng khắc nhập, vì đó là tình trạng bị đối phương làm cho suy yếu, rất dễ dẫn đến bị huỷ diệt.
Vì Ngũ hành được biến sinh từ 2 khí Âm - Dương nên khi tìm hiểu về Ngũ hành tương khắc, nguyên tắc chú ý đến tính Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành không thể bỏ qua.
Chúng ta đều biết, hai hành có cùng Âm (-) hoặc cùng Dương (+) thì sẽ không sinh cũng như không khắc vì hai hành này có tính đối kháng, sẽ đẩy nhau ra xa, mỗi hành lại ở một vị trí nên không thể có chuyện sinh, khắc.
Ví vụ: Dương Thổ không sinh Dương Mộc
Âm Kim không khắc Âm Mộc
Mối tương quan sinh - khắc của Ngũ hành được hiểu như vậy nên trong khoa Tử vi mới có sự lưu ý đặc biệt:
4 cung Thìn - Tuất - Sửu - Mùi đều thuộc Thổ và chia ra 2 cặp cùng khí Dương (+) là Thìn - Tuất và cùng khí Âm (-) là Sửu - Mùi. Nên sẽ không có sự đối kháng giữa Thìn và Tuất, Sửu và Mùi như các cặp còn lại như: Tý - Ngọ, Mão - Dậu, Tỵ - Hợi, Dần - Thân. 
Tại sao vậy? Vì Thìn - Tuất đều là Dương Thổ, Sửu - Mùi đều là Âm Thổ nên không có sự đối kháng. Nhưng các cặp còn lại Tý (Dương Thủy) - Ngọ (Dương Hỏa), Mão (Âm Mộc) - Dậu (Âm Kim), Tỵ (Âm Hỏa) - Hợi (Âm Thủy) và Dần (Dương Mộc) - Thân (Dương Kim). Tuy các cặp này đều cùng thể chất khí (cùng Âm hoặc cùng Dương) nhưng đặc tính của hành lại khắc nhau nên mới có sự đối kháng (Thủy >< Hỏa, Kim >< Mộc) như vậy.
Trong mối quan hệ vợ chồng, nếu tuổi vợ và chồng ở thế tương khắc thì trường hợp tuổi chồng khắc tuổi vợ còn khả dĩ chấp nhận phần nào, nhưng nếu tuổi vợ lại khắc tuổi chồng (ví dụ tuổi vợ là Bính Thìn khắc tuổi chồng là Bính Ngọ) thì quả thật trường hợp này đúng là “nghi bại nghi vong” - Người vợ sẽ đem lại những bất hạnh, đắng cay cho người chồng. Đây là điều tối kỵ trong việc kết duyên đôi lứa theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nghiên cứu về sự tương khắc của Ngũ hành, thì nguyên tắc căn cứ vào Ngũ hành của nạp âm thủ tựơng nhất quyết phải được chú trọng. Đây là yếu tố quan trọng để lý giải tại sao tương sinh mà lại không tương sinh, tương khắc mà thực chất lại không tương khắc.
Chẳng hạn, tuổi Bính Ngọ và Bính Thìn
Xét về đặc tính của Ngũ hành thì tuổi Bính Ngọ có bản mệnh là Thủy, còn tuổi Bính Thìn có bản mệnh là Thổ, sẽ xung khắc vì: Thổ làm cho Thủy (Thổ khắc Thủy) bị hao kiệt, suy yếu, thậm chí bị hủy diệt. Xét đến âm dương của nạp âm ngũ hành thì Bính Thìn là dương Thổ, Bính Ngọ là dương Thủy, thì hai tuổi này cũng sẽ không có sự tương khắc mà chỉ đối kháng nhau, đẩy nhau ra xa và không thể có sự hủy diệt nhau vì đều là Dương (+), nhưng nếu xét về bản chất lý tính (nạp âm Ngũ hành) thì Sa Trung Thổ (đất bồi bờ biển, còn gọi đất trong cát) không thể làm hại được Thiên Hà Thủy (nước sông trên trời, còn gọi nước trời mưa) vì các loại Thổ (đất) không thể hút được nước trên trời, ngược lại còn bị nước sông trời (nếu nhiều) sẽ làm cho tan rã, hư hại.
Như vậy, tuổi Bính Thìn và Bính Ngọ về cơ bản không có sự xung khắc gay gắt, không dẫn đến cảnh “hủy diệt” lẫn nhau, nhưng vì đều là khí dương (+) nên sẽ không hợp nhau, không làm tốt cho nhau mà luôn đẩy nhau ra xa, cản trở nhau trong mọi công việc. 
Lưu ý: Đây là xét về Âm Dương Ngũ hành thì là vậy nhưng không thể cứ là nữ Mệnh Bính Thìn (Thổ) và nam Mệnh Bính Ngọ (Thủy) sẽ đều như vậy. Sự gia giảm về hệ quả của sự kết hợp vợ chồng phần lớn phụ thuộc vào lá số của mỗi người trong mỗi cặp vợ chồng, vì thế mới có sự khác biệt khi so sánh hạnh phúc giữa các cặp vợ chồng có bản Mệnh giống nhau. Tuy nhiên, tất cả các cặp vợ chồng trong trường hợp này đều gặp trục trặc, không ít thì nhiều trong cuộc sống lứa đôi, chứ không thể thuận hòa như những cặp vợ chồng các tuổi khác được.
Hay như tuổi Nhâm Tuất, Quý Hợi có bản mệnh là Đại Hải Thủy (nước biển rộng mênh mông), đặt cạnh Thiên Thượng Hỏa (nạp âm thủ tượng của tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi) thì lại tốt bởi Đại Hải Thủy dung nạp tất cả nước sông ngòi đổ xuống nên rất cần có Thiên Thượng Hỏa chiếu xuống làm thành cách thủy bổ dương quang. Như vậy, trong trường hợp này tưởng như khắc mà lại không xung khắc.
Luận bàn về Ngũ hành tương khắc, cổ nhân có 3 cách như sau:
Cách 1: Lấy đặc tính Ngũ hành và Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
Cách 2: Lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản (nạp âm Ngũ hành).
Cách 3: Kết hợp cả 2 cách trên.
Theo kinh nghiệm, chúng tôi chọn cách 3 làm cơ sở cho việc luận giải. Thực tế, sự tương sinh - tương khắc - tương hòa của Ngũ hành không đơn giản. Để lý giải được mối quan hệ tương sinh - tương khắc - tương hòa nào đó, nếu chỉ lấy đặc tính của Ngũ hành và Âm - Dương Ngũ hành làm căn bản sẽ dễ dẫn đến kết luận phiếm diện. Nếu chỉ lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản sẽ có nhiều trường hợp người đoán giải đành chịu bó tay. Vì vậy, khi xét về Âm Dương Ngũ hành bạn đọc nên lưu ý nguyên tắc:
- Lấy đặc tính của Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy Âm Dương Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy lý tính của nạp âm Ngũ hành làm căn bản.
Cần lưu ý, khi luận giải về tương sinh - tương khắc - tương hòa hoặc quy luật chế hóa của Ngũ hành, người đoán giải phải phải linh hoạt, không được tuân thủ một cách máy móc, tùy theo từng trường hợp, mà có sự linh hoạt, không vì quá coi trọng một yếu tố nào mà đưa ra lời kết luận phiến diện, dẫn đến lời luận giải thiếu chính xác, thậm chí còn bế tắc.

C. TìM HIỂU VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG HÒA
Nói đến quy luật tương khắc là nói đến sự khống chế của hành này tới hành kia, làm cho hành bị khống chế sẽ suy yếu, bị huỷ diệt. Còn nói đến quy luật tương hòa của Ngũ hành là nói đến sự hòa hợp vì cùng tính chất của 2, 3 hoặc 4 hành. Ví dụ: Thổ hòa Thổ, Kim hòa Kim, Thủy hòa Thủy, Mộc hòa Mộc, Hỏa hòa Hỏa.
Chữ tương ở đây có nghĩa chỉ sự liên quan giữa Ngũ hành. Chữ hòa ở đây có nghĩa là chỉ sự thích hợp để duy trì và tồn tại. Chính vì có sự hòa hợp về đặc tính đó nên quy luật tương hòa được xem như là tốt cho các hành đó.
Cũng như quy luật Ngũ hành tương sinh - Ngũ hành tương khắc, ở quy luật Ngũ hành tương hòa này, người nghiên cứu không thể bỏ qua quy luật Âm - Dương của Ngũ hành.
Tính chất trong Âm (-) có Dương (+), trong Dương (+) có Âm (-), Âm (-) cực sinh Dương (+), Dương (+) cực sinh Âm (-) của dịch lý nên khi 2 hành tương hòa, nếu có một Âm (-) và một Dương (+) thì sự phù hợp và phù trợ nhau sẽ rất đắc lực.
Ví dụ: Dương Thổ và Âm Thổ, Dương Thủy và Âm Thủy, Dương Hỏa và Âm Hỏa, Dương Kim và Âm Kim, Dương Mộc và Âm Mộc.
Nhưng, nếu 2 hành tương hòa đó cùng khí Âm (-) hoặc cùng khí Dương (+) thì sự hòa hợp đó trở thành vô nghĩa. Ví dụ: Dương Thổ và Dương Thổ, Âm Thủy và Âm Thủy, Dương Mộc và Dương Mộc... Trong trường hợp này, sự tương hòa về đặc tính của các hành đó không tốt mà cũng không xấu.
Khi tìm hiểu về nguyên lý Ngũ hành tương hòa, bạn đọc cũng không thể bỏ qua yếu tố nạp âm Ngũ hành, để hiểu rõ thực ra sự tương hòa đó có tồn tại hay không?
Khi nhắc đến quy luật tương hòa của Ngũ hành, tại sao lại có câu: Lưỡng Hỏa thì Hỏa diệt, lưỡng Thủy thì Thủy kiệt ... ?
Đây chính là sự phức tạp nhưng khá tinh tế và linh hoạt của cổ nhân khi lấy Âm Dương Ngũ hành làm căn bản cho sự vận động không ngừng của vũ trụ. Rõ ràng sự đồng tính chất của Ngũ hành, chưa hẳn đã là điều tốt đẹp mà còn phụ thuộc vào sự hòa hợp, thuận lý Âm Dương của Ngũ hành, tức lý tính của Ngũ hành. Đây cũng chính là nguyên tắc bất di bất dịch khi tìm hiểu về nguyên lý chuyển dịch của Ngũ hành.
Lấy 2 tuổi có bản mệnh là Đại Hải Thủy với Giản Hạ Thủy làm ví dụ.
Đại Hải Thủy có nghĩa là nước biển rộng mênh mông, là nơi dung nạp mọi nguồn nước từ sông, suối đổ về. Trong khi Giản Hạ Thủy chỉ là nước dưới khe suối, như vậy, sự kết hợp giữa 2 hành Thủy này tưởng rằng được tương hòa nhưng thực chất là gần như tương khắc, bởi Đại Hải Thủy đã hút hết nước của Giản Hạ Thủy, làm cho Giản Hạ Thủy bị suy yếu, thậm chí bị cạn kiệt.
Hay như Sơn Hạ Hỏa là lửa chân núi rất sợ Tính Lịch Hỏa (lửa sấm sét) vì nếu có sự kết hợp giữa 2 loại Hỏa này thì Sơn Hạ Hỏa sẽ bị Tính Lịch Hỏa tiêu diệt ánh sáng. Đây chính là ví dụ của cách “lưỡng Hỏa thì Hỏa diệt”.
Tóm lại, khi tìm hiểu về Ngũ hành tương hòa, người đọc nhất thiết cũng phải tuân thủ nguyên tắc 3 yếu tố:
- Lấy đặc tính của Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy Âm Dương của Ngũ hành làm căn bản.
- Lấy lý tính của Ngũ hành làm căn bản.
Cả 3 yếu tố trên đều phải được cân nhắc và chú trọng như nhau, không coi nhẹ bất cứ yếu tố nào, cho dù yếu tố thứ 3 có thể coi là yếu tố quan trọng, có giá trị gần như quyết định nguyên lý tương sinh - tương khắc và tương hòa của Ngũ hành trong khá nhiều trường hợp. Tuy nhiên, tùy theo từng trường hợp, người luận giải phải uyển chuyển, linh hoạt để có lời kết luận xác đáng.

D. SỰ CHẾ HÓA CỦA NGŨ HÀNH
Ngũ hành không chỉ có tương sinh - tương khắc - tương hòa mà còn bổ trợ, khống chế lẫn nhau. Sự mâu thuẫn này thể hiện rõ trong quy luật chế hóa của Ngũ hành. Sự sinh - khắc qua lại của Ngũ hành chắc chắn sẽ đưa đến một mê hồn trận cho người giải đoán. Đây là sự phức tạp cố hữu, không thể giản lược, làm cho việc dự đoán (nhất là trong Tử vi) càng trở nên phức tạp.
Giữa các Ngũ hành, dù mối quan hệ tương sinh hay tương khắc thì mối quan hệ đó đều có hai mặt. Sự ảnh hưởng qua lại giữa các hành với nhau trong cùng mối quan hệ (tương sinh hay tương khắc) đã duy trì cho sự cân bằng và điều hòa của sự vật trong quá trình phát triển và biến hóa. Đây chính là quy luật chế hóa của Ngũ hành.
Quy luật chế hóa của ngũ hành được cổ nhân lý giải như sau:
1. Sự chế hóa của hành Kim:
Kim vượng gặp Hỏa mới thành vật hữu ích.
Kim sinh được Thủy nhưng Thủy nhiều tất Kim sẽ bị chìm.
Kim khắc được Mộc nhưng Mộc cứng thì Kim tất bị sứt mẻ.
Kim nhờ Thổ sinh nhưng Thổ nhiều thì Kim tất bị vùi lấp.
2. Sự chế hóa của hành Thuỷ:
Thủy sinh được Mộc nhưng Mộc nhiều thì Thủy tất bị yếu đi.
Thủy vượng gặp Thổ mới biến thành sông ngòi, ao hồ, đại dưong.
Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa nhiều thì Thủy bị cạn khô.
Thủy nhờ Kim sinh nhưng Kim nhiều tất Thủy sẽ bị vẩn đục.
3. Sự chế hóa của hành Mộc:
Mộc vượng gặp Kim mới thành vật hữu ích.
Mộc nhờ Thủy sinh nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị dạt trôi.
Mộc sinh được Hỏa nhưng Hỏa nhiều thì Mộc tất bị đốt cháy.
Mộc khắc được Thổ nhưng Thổ cứng thì Mộc tất bị gãy đổ
4. Sự chế hóa của hành Hỏa:
Hỏa vượng gặp Thủy mới thành sức mạnh.
Hỏa khắc được Kim nhưng Kim nhiều thì tất Hỏa sẽ bị tắt.
Hỏa nhờ Mộc sinh nhưng Mộc nhiều thì Hỏa tất bị yêú đi.
Hỏa sinh được Thổ nhưng Thổ nhiều thì Hỏa tất bị u ám.
5. Sự chế hóa của hành Thổ:
Thổ vượng gặp Mộc thì thành hanh thông.
Thổ được Hỏa sinh nhưng Hỏa nhiều thì Thổ sẽ bị đốt cháy.
Thổ khắc  Thủy nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị cuốn trôi.
Thổ sinh được Kim nhưng Kim nhiều thì Thổ tất thành ít.
Mối quan hệ khắc chế của các hành cũng không khác gì một mê hồn trận, khiến người tiếp cận lần đầu với thuyết Âm Dương Ngũ hành trở nên lúng túng, võ đoan
Bên cạnh việc căn cứ vào đặc tính của Ngũ hành để hiểu được quy luật chế hóa của Ngũ hành trong các mối quan hệ tương sinh - tương khắc - tương hòa, người luận giải cần kết hợp với nạp âm Ngũ hành để lời giải đoán tăng độ chính xác .
Để thuận tiện cho việc tra cứu của bạn đọc, chúng tôi giới thiệu dưới đây bảng mệnh của đời người trong Lục thập hoa giáp.

E. QUAN HỆ GIỮA NGŨ HÀNH VỚI CON NGƯỜI
Chu dịch cho rằng: Mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở thái cực, có nghĩa mọi việc, mọi vật đều thống nhất ở khí Âm - Dương và đặc tính Ngũ hành. Con người là một trong vạn vật nên phải tham gia vào sự vận động không ngừng của vũ trụ. Tất nhiên, dù có là bậc thánh nhân, con người cũng do 2 khí Âm Dương (cha mẹ) mà thành và cái thể xác đó cũng phải kết hợp với Ngũ hành mà sinh hóa theo với muôn loài.
Vốn có thể chất, lại sinh khắc chế hóa lẫn nhau, tạo nên sự suy hủy và phát triển nên nói tới Ngũ hành là nói đến cách hành xử của con người thế tục, nói tới 2 khí Âm (-) và Dương (+) là nói tới hành xử của con người thoát tục.
Chính vì lẽ đó mà cổ nhân đã căn cứ vào Âm Dương, Ngũ hành để “tiên liệu” diện mạo, vóc dáng và bản tính của con người. Chẳng hạn, trong tướng thuật, cổ nhân quan niệm: Hai mặt Âm, Dương kết hợp với nhau thành một thể thống nhất không thể tách rời. Trong Âm có Dương và trong Dương cũng có Âm. Ví dụ:
- Đàn ông là Dương, đàn bà là Âm.
- Xương là Dương, còn thịt là Âm.
- Mặt phía bên trái là Dương, mặt phía bên phải là Âm; nửa mặt bên trên là Dương, nửa mặt phía dưới là Âm; phần lồi của khuôn mặt là Dương, còn phần lõm là Âm.
- Thân trước là Dương, thân sau là Âm; mặt trái là Dương mặt phải là Âm.
*. Các dạng của Âm và Dương:
- Dương hòa: Đó là tình trạng người có Dương mạnh mẽ nhưng được tiết chế đúng mức. Dương hòa được biểu hiện với các đặc điểm như:
- Đầu tròn, có góc cạnh (mắt dài, có tụ thần), mặt hơi vuông, trán có xương tròn nổi rõ và đỉnh đầu bằng phẳng. Sắc diện hài hòa, đi đứng oai nghiêm, tự nhiên. Nói năng có ngữ điệu phù hợp với câu chuyện. Có tính quyết đoán và tư tưởng khoáng đạt.
- Lông mày xếch, cao, có hình chữ nhân, sợi lông mày hướng lên phía trên. Ngũ nhạc nổi rõ nhưng không lộ liễu, sơn căn nổi cao gần như ăn thẳng lên ấn đường.
- Kháng Dương: Ngược lại với Dương hòa, Kháng Dương là người có tính Dương quá mạnh nhưng lại không có sự tiết chế đúng mức. Kháng Dương được biểu hiện với các đặc điểm như sau:
- Đầu tròn, đỉnh đầu nhọn, mắt lồi, tia mắt sáng, lông mày ngắn, cong và mọc lên trên, tai nhọn và dựng đứng. Tiếng  nói lớn và giọng điệu thô kệch, khàn rè. Ngũ nhạc nổi tròn và đầu có dạng tròn nhỏ.
- Mặt có những bộ vị nổi tròn thành từng cục. Tính tình thô lỗ, nóng nảy, không nghĩ trước nghĩ sau.
- Âm thuận: Người có tính Âm rõ ràng nhưng không quá uỷ mị, hèn yếu, được biểu hiện với các đặc điểm sau:
- Đầu tròn, ấn đường bằng phẳng và rộng. Lông mày hơi cong, mắt dài, mặt hơi vuông, nhưng nét tròn vẫn là cơ bản. Ngũ nhạc có dáng hình tròn nhưng không nổi bật.
- Tiếng nói nhỏ, từ tốn, ngữ điệu vừa phải và âm thanh trong trẻo, rõ ràng. Sắc diện hoà nhã, cách cư xử khéo léo, ôn hoà...
- Cô Âm: Người tính Âm thuần tuý, không có tính Dương. Người Cô Âm được biểu hiện với các đặc điểm sau:
- Đầu và mặt có hình vuông hoặc thiên lệch về hình vuông; Đầu lớn mà khuôn mặt lại quá nhỏ, nếu nhìn chính diện khuôn mặt thì thấy bằng phẳng, nhưng khi nhìn nghiêng lại thấy phần giữa lõm xuống. Sắc diện lúc nào trông cũng u uất.
- Lông mày đậm, ngắn, thô và mọc lan rộng xuống tận bờ mắt; mắt sâu; tóc ít trong khi râu ria thì quá rậm rạp.
- Giọng điệu chậm rãi mà lại có xen kẽ những âm thanh chói tai hoặc nói nhanh mà lại bị đứt đoạn. Cư xử luôn thể hiện cho người khác thấy sự tính toán, vụ lợi ở trong đó.
- Âm thác: Người có tính Âm nhưng lại có pha trộn quá nhiều tính Dương, làm cho Âm tính bị suy yếu. Người Âm thác được biểu hiện bằng những đặc điểm sau:
- Đầu vuông, mặt tròn, trung nhạc nổi lên cao trong khi 4 nhạc trũng xuống.
- Người nhiều thịt xương nhỏ; lông mày rậm lan xuống tận bờ mắt; chân tóc mọc thấp xuống trán; Đàn ông có nhiều râu ria và giọng nói khô khan. Nếu là nữ giới thì có cử chỉ, hành động mạnh bạo như nam giới.
- Dương sai: Người có tính Dương quá yếu và bị tính Âm lấn át, được biểu hiện với các đặc điểm sau:
- Đầu to, mắt nhỏ; phía trước lớn, phía sau nhỏ. Trung nhạc trũng xuống trong khi những nhạc khác lại nẩy nở, cao ráo.
- Người nhiều xương ít thịt; mặt lộ mà không có lông mày; Người to mà giọng thì nhỏ.
- Mắt to, sắc mặt ảm đạm; thân hình cứng cỏi, nam tính mà bước đi lại ẻo lả như con gái.
*. Đó là nhân dạng con người theo Âm - Dương, còn Ngũ hành thì sao?
Cổ nhân chia ra làm năm loại nhân dạng người theo Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Tất nhiên, chúng ta không thể tin vào những điều “tiên liệu” này, bởi sự phi lý khi cổ nhân đưa ra khái quát về diện mạo, tính cách, nghề nghiệp, bệnh tật ... của nhân loại “gói ghém” qua 5 mẫu người. Dù sao, khi tìm hiểu về nguyên lý Âm Dương Ngũ hành của văn hóa dân gian, chúng ta cũng nên tìm hiểu qua về vấn đề này.
Vậy cổ nhân quan niệm như thế nào về mối quan hệ giữa Ngũ hành với con người? Qua Ngũ hành, nhân loại có hình dáng, tính tình, sức khỏe và cuộc sống ra sao? Chúng tôi xin lược soạn để bạn đọc tham khảo.
1. Người thuộc Mộc:
Theo sách tướng Á Đông thì người thuộc Mộc có nước da hơi xanh, hai bàn tay dày, ngón tay ngón chân dài, mũi dài, thân mình cao vừa phải và hơi gầy; chân mày thưa, râu cũng thưa; cằm vuông, miệng vuông; môi hơi dày, răng bằng và hai răng cửa hơi lớn; đi đứng nhanh nhẹn, cử chỉ lanh lẹ, tiếng nói đều đều nhưng âm lượng hơi cao. Nhìn chung, người thuộc Mộc ít gặp những bất trắc lớn trong cuộc đời, dẫu sống trong cảnh nghèo đói vẫn được yên ổn.
Người Mộc vượng thường có tầm vóc cao, tay chân dài, khoé miệng tươi, sắc mặt sáng, da trắng đẹp. Là người thanh cao, khảng khái, có lòng bác ái. Tuy nhiên, nếu Mộc quá vượng thường hay mắc bệnh về gan, mật, thần kinh hoặc xương khớp.
Người Mộc suy thì tóc thưa, vóc người gầy, tính cách hẹp hòi, đố kỵ, bất nhân, bất nghĩa. Nếu người Mộc quá suy thì cũng hay mắc các bệnh như người Mộc quá vượng, nhưng thường dễ mắc các bệnh về gan, mật hơn người Mộc quá vượng.
Người mà Mộc khí tử tuyệt thì lông mày không ngay ngắn, cổ dài, yết hầu lộ, da thịt kém tươi, tính cách biển lận, hay lừa dối.
Nhìn chung, người thuộc Mộc hợp với phương Đông, làm về các nghề mộc, giấy, trồng hoa, cây giống, hương liệu, đồ tế lễ hoặc kinh doanh về các nghề trên thì thường dễ dàng, may mắn.
2. Người thuộc Hỏa:
Theo sách tướng Á Đông thì người thuộc Hỏa có nước da vàng, râu vàng, mũi lộ; lông mày thưa, ngực nổi, bàn tay nhọn, trán dô; môi cong, răng lộ và nhỏ nhọn; đầu bằng và đỉnh đầu bằng; tay chân gầy khẳng, gân guốc; điệu bộ nhanh nhẹn; tai nhọn, tròng mắt khô; lưỡng quyền cao và tiếng nói mau.
Người mà Hỏa vượng thì đầu nhỏ, chân dài, mày rậm, tai nhỏ, vóc người trên nhọn dưới nở, tinh thần hoạt bát, tính nóng gấp nhưng lễ độ với mọi người. Tuy nhiên, nếu người Hỏa quá vượng thì dễ mắc các bệnh về hệ tiêu hoá, tuần hoà, hoặc  bệnh phần mặt, răng, lưỡi.
Người mà Hỏa suy thì  dáng người góc nhọn, tướng gầy, da vàng, nói năng ề à, dối trá, bản tính cay độc, làm việc thường chỉ nhiệt tình, hăng hái được lúc đầu, sau đó bỏ bê, có đầu mà không có cuối. Người Hỏa quá suy, cũng thường dễ mắc các bệnh như người Hoả quá vượng, tuy nhiên, dễ mắc những bệnh liên quan tới hệ tiêu hoá hơn.
Nhìn chung, người thuộc Hỏa hợp với phương Nam. Thích hợp với các nghề có liên quan tới văn hóa, nghệ thuật hoặc công việc kinh doanh những mặt hàng đó, chẳng hạn như ánh sáng, cắt tóc, thực phẩm, giáo viên, xuất bản, văn phòng phẩm...
3. Người thuộc Thổ:
Theo sách tướng Á Đông thì người thuộc Thổ có nước da hơi vàng đen, bụng tròn lớn, lưng rộng, rốn sâu, cổ ngắn, mắt dài, bàn chân nhiều thịt, chân mày rậm; tướng thịt nhiều nhưng không quá béo; đầu vuông, mũi cao dày, cằm hơi vuông và hơi triều lên; răng nhọn, tay nhọn, lưỡng quyền cao; đi đứng vững vàng, tiếng nói trầm có âm hậu.
Người mà Thổ vượng thì thắt lưng tròn, mũi nở, lông mày thanh tú, mắt đẹp, nói năng lưu loát và tiếng nói âm vang. Người thổ vượng thường là người độ lượng, trung tín, chân thành và hành động rất chắc chắn, có kết quả. Người mà Thổ quá vượng, quá mạnh thì đầu óc cứng nhắc, chậm hiểu biết, tính tình hướng nội, sống trầm lặng và khá bảo thủ. Tuy nhiên, nếu người thuộc Thổ mà quá vượng thì thường hay mắc các bệnh về lá lách, dạ dày, hoặc vùng bụng, lưng, ngực, phổi...
Người mà Thổ suy, thể khí không đủ nên sắc mặt thường ủ rũ, mặt mỏng, mũi ngắn, lòng dạ độc ác, là kẻ vô tình, bất tài. Người mà Thổ quá suy cũng thường hay mắc các bệnh về lá lách, dạ dày, hoặc vùng bụng, lưng, ngực, phổi như người Thổ quá vượng.
Nhìn chung, người thuộc Thổ hợp với vùng giữa hoặc có thể thích ứng với tất cả các phương. Người thuộc Thổ về nghê nghiệp cũng có thể thích hợp với nhiều ngành, nhiều nghề của tất cả những người thuộc hành khác. Tuy nhiên, người thuộc Thổ thường không được nổi trội thật đặc biệt trong nghề nghiệp như những người thuộc hành khác.
4. Người thuộc Kim:
Theo sách tướng Á Đông thì người thuộc Kim có nước da trắng hồng, đầu, trán và gương mặt cân đối, tai trắng, răng trắng; môi và lưỡi đỏ, cằm vuông, nhân trung sâu; tóc thưa, sợi nhỏ và xanh mướt; tay tròn trịa, hai bàn chân không khuyết, da lưng bàn tay đầy đặn, cứng dẽ; lưng tròn, bụng tròn, rốn sâu, tiếng nói thanh tao.
Nhìn chung người thuộc Kim có số phận khá tốt, dù có đang gặp cảnh cơ hàn vẫn tin tưởng vào một tương lai sáng lạn.
Người mà thuộc Kim thịnh là người có vóc dáng không gầy, cũng không béo, mắt sâu, lông mày cao, da trắng và đẹp, tác phong quyết đoán, trọng nghĩa khinh tài, giàu lòng tự trọng.
Người mà Kim quá vượng thường là kẻ hữu dũng vô mưu nhưng lại tham lam, bất nhân bất nghĩa. Người mà Kim quá vượng thường dễ mắc các bệnh về đại tràng, phổi, gan, trĩ, vùng rốn hoặc các bệnh về da, mũi, khí quản...
Người mà Kim suy thì vóc dáng gầy, nhỏ, tư cách vô tình, có khi nham hiểm, tham dâm, háo sát. Đặc biệt, đây là mẫu người tham lam vô bờ bến và biển lận. Người mà Kim quá suy cũng dễ mắc những bệnh như người thuộc Kim quá vượng.
Nhìn chung, người thuộc Kim hợp với phương Tây, có thể theo nghề kinh doanh hoặc các nghề có liên quan tới kim loại, có tính cứng rắn, quyết đoán, võ thuật, giám định, khai thác...
5. Người thuộc Thuỷ:
Theo sách tướng Á Đông thì người thuộc Thủy có nước da ngăm ngăm đen, hơi béo, thịt nhiều; bụng tròn, chân mày rậm; miệng rộng, ngón tay mập tròn; thần mắt lộ; bàn tay bàn chân lớn nhưng trông không thô kệch; đi đứng chậm chạp và ăn uống cũng chậm chạp; tính ý giản dị và tiếng nói hơi khàn. Nhìn chung người thuộc Thủy mà hợp tướng như vậy là rất tốt, trước khổ sau sướng, con cái an hòa, gia đình hưng vượng.
 Người mà Thủy vượng có sắc mặt hơi đen, nói năng nhỏ nhẹ, rành mạch, túc trí đa mưu, giàu lòng bác ái và trí tuệ thông minh, học nhanh hơn người.
Người mà Thủy quá vượng là người tính hay cáu gắt, hay cãi cọ, tính tình thay đổi thất thường. Những người mà Thủy quá vượng thường dễ mắc các bệnh về thận, bàng quang, bắp đùi, chân, đầu, gan, tiết niệu, thắt lưng, tử cung, âm hộ...
Người mà Thủy suy là người có vóc dáng thấp bé, tính tình bất nhất, thay đổi thất thường, tính nhát gan, không có mưu mẹo, hành động cũng bất nhất, không có thứ tự. Người mà Thủy quá suy cũng dễ mắc những bệnh như người thuộc Thủy quá vượng.
Nhìn chung, người thuộc Thủy hợp với phương Bắc. Và có thể thích hợp với khá nhiều nghề, đặc biệt là những ngành nghề liên quan tới chất lỏng, như: dầu khí, rượu, nước....
Không chỉ dùng Âm Dương - Ngũ hành để miêu tả hình dáng, tính cách và số phận của con người, tín ngưỡng dân gian cũng rất coi trọng việc áp dụng Âm Dương - Ngũ hành trong cuộc sống, chẳng hạn như: chọn ngày, giờ cho các công việc, chọn người xông đất ngày đầu năm, chọn người cộng sự, giúp việc .....
Theo tác giả Hoàng Tuấn (Cuốn: NGUYÊN LÝ CHỌN NGÀY THEO LỊCH CAN CHI, trang 216, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2005) thì: Khi có việc cần kíp cần phải tiến hành một việc nào đó, không thể trì hoãn mà gặp ngày giờ xấu, ta có thể dùng các phép “hóa giải” sau đây:
1. Dùng cơ chế “Chế sát”: Tức dùng “tương khắc” của Ngũ hành để chế sát. Ví dụ: Ngày “hung” thuộc Thủy thì dùng giờ Thổ để hóa giải (Thổ khắc Thủy); ngày “hung” thuộc Hỏa thì dùng giờ Thủy để hóa giải (Thuỷ khắc Hỏa); ngày “hung” thuộc Mộc thì dùng giờ Kim để chế sát (Kim khắc Mộc)..v.v....
2. Dùng cơ chế “Hóa Sinh”: Tức dùng “tương sinh” của Ngũ hành để hóa giải. Ví dụ: Ngày “hung” thuộc Kim thì dùng Thổ để hóa giải (Thổ sinh Kim); ngày “hung” thuộc Thủy thì dùng giờ Kim để hóa giải (Kim sinh Thủy); ngày “hung” thuộc Hỏa thì dùng giờ Mộc để hóa giải (Mộc snh Hỏa)...
3. Dùng cơ chế “Tị hòa”: Tức dùng “tỵ hòa” của Ngũ hành để hóa giải. Ví dụ: Ngày “hung” thuộc Âm Mộc thì dùng giờ Dương Mộc để hóa giải; ngày “hung” thuộc Âm Kim thì dùng giờ Dương Kim để hóa giải.....
4. Thay đổi người chủ trì: Có thể tìm người khác trong gia đình hay họ hàng, bè bạn hợp với tuổi tác, ngày giờ tiến hành công việc để thay Mệnh chủ trong công việc đang làm. Tất nhiên, người được “mượn tuổi” phải có Mệnh tương sinh với ngày, giờ được chọn để khởi đầu cho công việc.
Trong bốn phép “Hóa giải” mà Tiến sỹ Hoàng Tuấn đưa ra, theo thiển nghĩ của chúng tôi, khi công việc cần kíp không thể trì hoãn, bạn đọc có thể dùng cơ chế “Chế sát” là tốt nhất để hóa giải sự hung - sát của ngày xấu. Còn nếu không chọn được giờ khắc với ngày xấu, lúc bấy giờ ta mới dùng cơ chế “Hóa Sinh”, sau cùng mới đến dùng người khác thay Mệnh chủ trong công việc hoặc dùng cơ chế “Tị hòa” để hóa giải.
Người Việt Nam cũng rất chú trọng việc chọn người xông đất (nhà) đầu năm. Người ta thực hiện theo nguyên tắc: chọn mệnh sinh, kỵ mệnh khắc. Nhưng trong “tương sinh” Ngũ hành ấy, người ta thường chọn thế sinh nhập, nghĩa là mệnh mình được mệnh khách sinh. Ví dụ: Chủ nhà mệnh Thủy thì người xông nhà phải là mệnh Kim để Kim sinh Thủy; chủ nhà mệnh Kim thì người xông nhà phải có mệnh là Thổ để Kim được Thổ sinh; chủ nhà mệnh Hỏa thì chọn người xông nhà có bản mệnh là Mộc để Hỏa được Mộc sinh... Tất nhiên, việc chọn người dù ở thế sinh nhập vẫn phải tuân thủ theo nguyên tắc: Âm - Dương, chứ không thể cùng Âm hoặc cùng Dương. Chẳng hạn, người chủ mệnh là Âm Kim sẽ chọn người có mệnh là Dương Thổ đến xông nhà, như vậy mới hoàn mỹ...
Người xưa quan niệm, người xông nhà có bản mệnh sinh cho bản mệnh của gia chủ thì cả năm mới, gia chủ sẽ được phát tài, phát lộc, gặp nhiều may mắn. Nếu trong trường hợp không chọn được người có bản mệnh sinh cho bản mệnh của mình thì người ta thường chọn người ở thế tương hòa. Trường hợp vẫn chưa chọn được tuổi của người xông nhà ở thế tương hòa thì bấy giờ người ta mới chọn ở thế sinh xuất, có nghĩa là bản mệnh của mình sinh cho bản mệnh của người xông nhà.
Ví dụ: Chủ nhà mệnh Thủy, người xông nhà là mệnh Mộc; chủ nhà mệnh Kim, người xông nhà mệnh Thủy; chủ nhà mệnh Thổ, người xông nhà mệnh Kim; chủ nhà mệnh Hỏa, người xông nhà mệnh Thổ... Tuy năm mới có vất vả, lận đận vì bản mệnh của mình bị “hao mòn” do sinh xuất cho bản mệnh của người xông nhà nhưng công việc làm ăn vẫn được ổn định, hạnh phúc cũng được vẹn toàn.
Còn với mối quan hệ “tương khắc” của Ngũ hành thì sao? Tại sao người xưa lại kiêng kỵ chọn người xông nhà có bản mệnh tương khắc với bản mệnh của mình? Theo lý giải của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì dù ở thế “khắc xuất” hay “khắc nhập” sẽ đều bất lợi cho gia chủ: Cả năm làm ăn không được xuôi chèo mát mái, hay gặp những chuyện rủi ro, hạnh phúc gia đạo không được vẹn toàn...
Với việc chọn người xông nhà, mở hàng đầu năm, dân gian thường chỉ chú trọng tới sự sinh - khắc về đặc tính và Âm Dương của Ngũ hành làm căn bản, nhưng trong một số công việc quan trọng như kết hợp làm ăn, cưới vợ gả chồng thì dân gian lại chú trọng thêm yếu tố lý tính của Ngũ hành.

G. ỨNG DỤNG NGŨ HÀNH TRONG TỬ VI
Khi coi lá số, người luận giải bao giờ cũng ngó qua mối tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục, sao và cung an Mệnh theo quy luật sinh khắc của Ngũ hành để tìm nhanh nét phác thảo chính của cuộc đời đưong số. Càng hội tụ nhiều sự sinh nhập cho bản Mệnh thì lá số đó càng đẹp, đương số càng chiếm được nhiều lợi điểm về sự may mắn, lộc tài... Ngược lại, hành bản Mệnh càng chịu nhiều sự khắc nhập từ Cục, sao và cung an Mệnh thì lá số đó càng xấu, càng kém may mắn và bất hạnh.
Khi xét về tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục, sao và cung an Mệnh, người coi số thường chỉ chú trọng tới Cục, sao và cung an Mệnh xem sinh - khắc thế nào với hành của bản Mệnh, nhưng có người cẩn thận hơn còn xét cả mối tương quan giữa sao và cung an Mệnh cũng trong mối tương quan ngũ hành để chi tiết hơn hiệu lực của các tinh đẩu ảnh hưởng tới đương số như thế nào.
Việc xét tương quan Ngũ hành của bản Mệnh với Cục, sao và cung an Mệnh được tuân thủ theo 5 nguyên tắc sau:
A. NGUYÊN TẮC THỨ NHẤT: 
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, xét về tương quan giữa hành khí của sao và hành bản Mệnh.
Hành sao sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành sao bị hao tổn, bị chiết giảm mà ảnh hưởng xấu tốt của sao bị yếu đi nên Mệnh được hưng vượng lên, nghiã là sao làm lợi cho Mệnh cho dù đó là cát tinh hay hung tinh. Nếu là cát tinh sáng sủa thì đưa đến lợi ích trọn vẹn cho Mệnh nhưng nếu cát tinh lạc hãm thì Mệnh tuy cũng hưởng lợi nhưng không được toàn vẹn vì sao bị hãm địa. Nếu là hung tinh sáng sủa thì các tính chất tốt xấu của nó cũng khiến bản Mệnh hưng thịnh lên và nếu hung tinh lạc hãm thì cũng ít bị nguy hại hơn vì hành sao bị hao tổn nên ảnh hưởng xấu của nó không thể tác họa mạnh tới Mệnh, trong khi bản Mệnh lại được hưng thịnh vì đã được sao phù sinh.
Hành sao đồng hành cùng hành Mệnh: Trường hợp này cả hai đều được hưng vượng lên. Mọi ảnh hưởng tốt hay xấu của sao dù là cát tinh hay hung tinh lên Mệnh vẫn phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng của chúng, tuy nhiên bản Mệnh mang những đặc tính của sao nên sao đó thuộc về mình, mình hoàn toàn chỉ huy được sao một cách trọn vẹn vì thế hành khí của bản Mệnh được hưng thịnh lên, do đó hành sao đồng hành với bản Mệnh thì tốt nhất.
Hành Mệnh sinh hành sao: Trường hợp này hành khí của sao được hưng thịnh lên, trong khi bản Mệnh bị hao tổn. Vì hành khí của sao hưng thịnh lên nên cho dù cát tinh có sáng sủa cũng không đem lại lợi ích cho Mệnh mà còn làm cho Mệnh bị hao tổn khi sao phát huy tính chất của nó. Tệ hại nhất là khi hung tinh lạc hãm sẽ gây bất lợi cho Mệnh nhiều hơn do các tính chất xấu của nó phát huy ảnh hưởng.
Hành sao khắc hành Mệnh: Trường hợp này hành khí của sao vẫn giữ nguyên, nhưng bị giam cầm bó tay không hoạt động được còn bản Mệnh bị hao tổn, thiệt hại rất nhiều, có nghiã là sao hoàn toàn chủ động gây nhiều điều bất lợi cho bản Mệnh. Cho dù cát tinh miếu vượng thì mọi tính chất tốt đẹp của sao cũng không đem lại điều gì tốt lành cho bản Mệnh thậm chí còn làm cho Mệnh bị mệt mỏi, tuy nhiên vì là cát tinh nên cũng đỡ lo ngại. Còn nếu là hung tinh thì thật là bất lợi cho Mệnh, nhất là khi hung tinh hãm địa thì tính chất xấu của nó càng làm cho bản Mệnh thêm bất lợi, nguy hại.
Hành Mệnh khắc hành sao: Trường hợp này hành sao bị tổn hại, suy yếu nên cường độ ảnh hưỡng xấu tốt của sao bị giảm rất nhiều trong khi Bản Mệnh bị giam cầm bó tay không hoạt động được, nghiã là sao đó không thuộc về mình và bản Mệnh không chỉ huy được sao. Dù là cát tinh sáng sủa hay lạc hãm thì Mệnh cũng chịu ảnh hưởng không nhiều tính chất tốt (nếu sáng sủa) hay xấu (nếu lạc hãm) của sao. Hung tinh đắc địa hay hãm địa cũng vậy, do hành Mệnh khắc hành sao làm cho hành khí của sao bị suy yếu đi nhiều nên ảnh hưởng tính chất xấu tốt của sao lên Mệnh không còn là bao trong khi hành Mệnh bị giam cầm không hoạt động được nên trường hợp này cũng không tốt cho bản Mệnh.
B. NGUYÊN TẮC THỨ HAI: 
Xét tương quan giữa hành Mệnh và hành cung để xét đoán Mệnh thịnh hay suy
Hành cung sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh nhờ được hành cung sinh xuất nên bản Mệnh thêm vững chắc, hưng thịnh. Đây là trường hợp tốt nhất khi xét mối tương quan giữa hành Mệnh và hành cung.
Hành cung đồng hành cùng hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bình hòa với hành cung nên cả 2 đều hưng thịnh nên không xấu. Vì không có sự sinh - khắc giữa hành bản Mệnh và hành cung nên mối tương quan này không thật tốt, cũng không thật xấu mà chỉ ở mức bình thường. Tuy nhiên, sự bình hòa về hành cũng thêm một lợi điểm cho lá số nếu so với 3 trường hợp dưới đây.
Hành cung khắc hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị hành cung khống chế, làm suy tổn sinh khí nên xấu nhất. Trong trường hợp này, bản Mệnh luôn bị mỏi mệt, nguy hại và bất lợi nên rất cần có sự phù trợ của các sao để quân bình sự bất lợi cho lá số.
Hành Mệnh khắc hành cung: Trường hợp này hành bản Mệnh tuy khắc xuất hành cung nhưng bản Mệnh cũng không được lợi ích gì, vì để làm suy yếu hành cung thì hành bản Mệnh phải tổn hao nguyên khí nên bản Mệnh bị giam cầm, bó tay không hoạt động được. Trường hợp này tuy không phải xấu nhất nhưng cũng là điểm bất lợi cho lá số khi xét về tương quan giữa hành bản Mệnh với hành cung.
Hành Mệnh sinh hành cung: Trường hợp này hành bản Mệnh sinh xuất cho hành cung nên hành khí của cung được hưng vượng lên, tốt thêm lên nhưng bản Mệnh lại bị tiết khí, hao tán vì thế nên xấu. Đây cũng là điểm bất lợi cho lá số, rất cần có sự phù trợ của các sao để quân bình lại sự bất lợi cho lá số.
C. NGUYÊN TẮC THỨ BA: 
Xét tương quan giữa hành của tam hợp cục của cung an Mệnh với hành bản Mệnh.
Tam hợp cung Mệnh sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh được hưng thịnh nên tốt nhất.
Tam hợp cung Mệnh hòa hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh  và hành của Tam hợp cung Mệnh bình hoà, cả 2 đều được hưng thịnh lên, không có sinh - khắc nên tốt. Tuy nhiên vì bình hòa nên mức độ tốt thua kém trường hợp Tam hợp cung Mệnh sinh hành bản Mệnh.
Tam hợp cung Mệnh khác hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị suy tổn nhiều, bị chết nên xấu nhất.
Mệnh khắc hành Tam hợp cung Mệnh: Hành bản Mệnh tuy khắc thắng (khắc xuất) nhưng cũng chẳng được lợi ích gì vì bản Mệnh bị bó tay, không hoạt động được nên xấu.
Mệnh sinh hành Tam hợp cung Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị tiết khí hao tán, suy kiệt nên xấu nhì.
D. NGUYÊN TẮC THỨ TƯ: 
Xét tương quan giữa hành cung với hành sao. Nguyên tắc này tương đối không quan trọng, chỉ mạng ý nghiã gia giảm chút ít.
Hành cung sinh hành sao: Trường hợp này đẹp nhất vì sao được cung phù trợ, nuôi dưỡng, bồi đắp nên hành khí của sao được hưng thịnh.
Hành cung đồng hành với hành sao: Trường hợp này bình thường, không xấu, không tốt vì hành của cung bình hòa với hành của sao nên hành khí của sao không thay đổi.
Hành sao sinh hành cung: Trường hợp này xấu vì hành sao sinh xuất cho hành cung nên bị hao tổn, tiết khí mà yếu đi.
Hành sao khắc hành cung: Trường hợp này cũng xấu bởi hành sao tuy khắc thắng hành cung nhưng không có lợi gì vì bị giam cầm không hoạt động được.
Hành cung khắc hành sao: Trường hợp này xấu nhất vì hành sao bị khắc nhập nên thiệt hại nhiều nhất, những ý nghĩa tốt đẹp của sao đã bị khắc chế mà kém đi về hiệu lực.
E. NGUYÊN TẮC THỨ NĂM: 
Xét tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục.
Hành Cục tương đồng với hành bản Mệnh: Trường hợp này cả hai hành không có sự sinh - khắc nên cả 2 đều được hưng vượng lên nên tốt.
Hành Cục sinh hành bản Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh được hành Cục phù trợ, bồi đắp, nuôi duỡng vì thế mà được hưng thịnh nên tốt. Đây là trường hợp tốt nhất khi xét về tương quan liên hệ giữa hành bản Mệnh với hành Cục.
Hành bản Mệnh sinh hành Cục: Trường hợp này xấu vì hành Mệnh bị suy yếu do sinh xuất cho hành Cục, trong khi hành Cục được hưng thịnh (nhờ được hưởng sinh nhập) nên không tốt cho bản Mệnh.
Hành bản Mệnh khắc hành Cục: Trường hợp này cũng không đẹp vì hành của bản Mệnh tuy khắc xuất hành Cục nên cũng bị hao tổn hành khí vì thế mà bản Mệnh bị giam cầm, bó tay không hoạt động được. Dẫu vậy, trường hợp này cũng không có hại, mà chỉ ở mức trung bình.
Hành Cục khắc hành bản Mệnh: Trường hợp này xấu nhất trong mối quan hệ giữa hành Cục và hành Mệnh. Ở đây, hành khí của bản Mệnh bị suy thoái do chịu sự khắc nhập từ hành Cục.
Mối tương quan ngũ hành của bản Mệnh với Cục, sao và cung an Mệnh được giản tiện bằng những bảng dưới đây.
Lưu ý: Các ký hiệu được dùng trong Bảng tương quan về ngũ hành như sau:   => là sinh,    =  là bình hòa,      #  là khắc
Nếu cung Mệnh có 2 chính tinh đồng cung, thì chỉ cần nắm vững quy tắc sau:
Nếu bản Mệnh được phù sinh bởi 2 chính tinh là tốt nhất; nếu bị khắc cả 2 cấp là xấu nhất. Bản Mệnh được sao nào sinh thì thịnh về sao đó, bị khắc sao nào thì xấu về phía sao đó. Chỉ nên chú ý đến hệ cấp sinh, khắc thứ 2 giữa chính tinh với bản Mệnh. Sự phân biệt thêm hệ thứ nhất làm phức tạp sự đánh giá. Trên thực tế, nếu có sự sai biệt giữa 2 trường hợp, điều đó không mấy quan trọng ở cấp thứ nhất.
Nếu cung Mệnh vô chính diệu, thì chỉ cần: Hành cung Mệnh phù sinh cho bản Mệnh thì tốt, trái lại, nếu khắc với bản Mệnh thì xấu.
Tương tự, khi xét về giai đoạn hậu vận của đời người, người coi số sẽ lấy hành của Cục làm chuẩn để xem xét mối tương quan giữa Cục, sao và cung an Thân, được giản lược theo sơ đồ sau:
Nếu cung Thân có 2 chính tinh đồng cung, thì chỉ cần nắm vững quy tắc sau:
Nếu Cục được phù sinh bởi 2 chính tinh là tốt nhât; nếu bị khắc cả 2 cấp là xấu nhất. Cục được sao nào sinh thì thịnh về sao đó, bị khắc sao nào thì xấu về phía sao đó. Chỉ nên chú ý đến hệ cấp sinh, khắc thứ 2 giữa chính tinh của Thân và Cục. Sự phân biệt thêm hệ thứ nhất làm phức tạp sự đánh giá. Trên thực tế, nếu có sự sai biệt giữa 2 trường hợp, điều đó không mấy quan trong ở cấp thứ nhất… Như vậy, khi xem hậu vận con người, cần xét cẩn trọng cung Thân với Cục, lấy đó làm cơ sở chính để đưa ra lời luận giải.
.
LỜI KẾT
Như vậy, nguyên lý của Ngũ hành thật phức tạp, đòi hỏi người tìm hiểu về văn hóa dân gian phải nắm chắc những kiến thức cơ bản nhưng cũng đặc biệt linh động của Ngũ hành để vận dụng luận giải trong tùy từng trường hợp.
Khi viết về vấn đề này, chúng tôi đã cố gắng tìm đọc thật nhiều tài liệu để thể hiện sự sinh động và thật rõ ràng, đầy đủ về nguyên lý của Ngũ hành - cơ sở để lý giải mọi hiện tượng về con người và vũ trụ của người xưa - nhưng thật tiếc, nội dung tài liệu tham khảo (viết về nguyên lý Âm Dương - Ngũ hành) không nhiều mà trình độ, sự hiểu biết của chúng tôi còn nhiều hạn chế, vì thế, bài viết chắc hẳn sẽ còn nhiều thiếu sót, khiên cưỡng.
Tìm hiểu về văn hóa tín ngưỡng trong dân gian, nhất là về thuyết Âm Dương - Ngũ hành trong những điều kiện (chủ quan và khách quan) còn nhiều hạn chế như vậy nên việc làm này của chúng tôi thực không khác gì “ếch ngồi đáy giếng” nhưng vì muốn bạn đọc lần đầu tiếp cận với thuật ngữ Âm Dương - Ngũ hành sẽ bớt bỡ ngỡ, khó khăn nên chúng tôi mạo muội viết TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH, vì thế, chúng tôi mong nhận được sự lượng thứ và lời tham gia góp ý của bạn đọc về những hạn chế, sai sót của bài viết, để nếu có điều kiện, khi viết lại phần này, chúng tôi sẽ chỉnh sửa để nội dung bài viết sẽ thể hiện được đúng với tinh thần của thuyết Âm Dương - Ngũ hành.
*.
Hà Nội, xuân năm Bính Tuất (2006)
ĐặNG XUÂN XUYẾN

MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG
TRONG TỬ VI
*
Lần đầu tiếp xúc với khoa Tử Vi, không ít người sẽ bỡ ngỡ với những thuật ngữ như thủ, chiếu, lâm, tọa, giáp ... nên mỗi lần xuất hiện một thuật ngữ chưa biết hoặc không nhớ rõ lại mất thời gian tra cứu nghĩa của thuật ngữ khiến việc học bị ngắt đoạn, tản mạn, khó nhớ... trong khi những kiến thức của Tử Vi vốn dĩ đã khó học, khó thuộc.
Để thuận tiện cho bạn đọc khi tham khảo khoa Tử Vi, người viết tổng hợp những thuật ngữ thường dùng trong Tử Vi để bạn đọc làm quen với tiêu đề: MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG TỬ VI.
Sao chủ Mệnh - sao chủ Thân: Mỗi tuổi có 1 sao chủ Mệnh và 1 sao chủ Thân, được ghi ở khoảng giữa lá số, dưới những thông số: tên, tuổi, mệnh, cục. Không có sách nào nói tới ảnh hưởng của 2 loại sao này tới số kiếp của con người, nhưng tất cả các sách tử vi đều khuyên người coi số nên ghi để biết.
Cũng có sách cho rằng: Sao chủ Mệnh, sao chủ Thân được xem như chính tinh tọa thủ tại Mệnh hoặc Thân khi cung Mệnh hoặc cung Thân vô chính diện, nhưng không ghi rõ là nên luận giải như thế nào? Tóm lại, quan điểm này cũng chưa cụ thể, cũng như quan điểm các tác giả khác: nên ghi để biết.
Xung chiếu: Là cung đối diện trực tiếp với cung cần xem. Vì là chiếu trực tiếp nên cung xung chiếu quan trọng hơn hai cung tam chiếu và cung nhị hợp. Tùy trường hợp, có khi sao xung chiếu lại quan trọng, tốt đẹp hơn là tọa thủ, chẳng hạn như Thái Dương - Thái Âm tọa thủ không đẹp bằng khi chính chiếu hoặc hợp chiếu. (Theo quan điểm của cụ Thiên Lương thì cung xung chiếu là “đối thủ” của “ta”, vì thế cung chính chiếu cần cân nhắc thật kỹ khi luận giải.)
Chính tinh ở cung xung chiếu càng đặc biệt hơn khi cung chính vô chính diệu. Trường hợp này, để luận giải cung chính, Tử Vi phần lớn thường lấy chính diệu ở cung xung chiếu làm chính tinh cho cung chính, tuy nhiên sự luận giải chỉ ở mức tương đối vì chính tinh lúc này không khác gì là của vay của muợn, của “sỹ hão” nên  ảnh hưởng của chính tinh đó sẽ giảm thiểu đi khá nhiều, vì thế, rất cần cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải trong trường hợp này.
Hợp chiếu: Là 2 cung trong tam hợp với cung chính, ví dụ: Dần, Tuất hợp chiếu Ngọ; Thân, Thìn hợp chiếu Tý; Hợi, Mùi hợp chiếu Mão...
Các sao ở các cung hợp chiếu (còn gọi là tam chiếu, tam hợp chiếu) có giá trị bổ túc rất nhiều cho các sao ở cung chính. Thậm chí, có trường hợp các sao hợp chiếu lại có giá trị quyết định hơn hẳn so với các sao ở cung chính.
Tam hợp: Một lá số tử vi được chia làm 12 cung theo thập nhị chi là Tý, Sửu, Dần , Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Khi tính các sao ở mỗi cung phải tính theo tam hợp của 3 cung hội họp lại.
Cụ thể, có 4 bộ tam hợp:
Tỵ - Dậu - Sửu
Thân - Tý -Thìn
Hợi - Mão - Mùi
Dần - Ngọ -Tuất
Nhị hợp: Là những cung không thuộc xung chiếu, tam chiếu nhưng có giá trị ảnh hưởng tới cung cần xem. Thế nhị hợp cũng không thay đổi, được quy định như sau:
Tý - Sửu
Dần - Hợi
Mão - Tuất
Thìn - Dậu
Tỵ - Thân
Ngọ - Mùi.
Âm Dương thuận lý: Đó là trường hợp tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Âm. Việc thuận lý này là lợi điểm đầu tiên của đương số để độ số được gia tăng.
Âm Dương nghịch lý: Đó là trường hợp tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Dương, tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Âm. Sự nghịch lý này chính là một dấu hiệu trục trặc, bất lợi đầu tiên của lá số.
Ngũ hành tương sinh: Đó là sự tương sinh giữa Cục và Mệnh. Có thể Cục sinh Mệnh, có thể Mệnh sinh Cục nhưng tốt nhất là trường hợp Cục sinh Mệnh. Hoặc sự tương sinh giữa hành bản Mệnh với cung an Mệnh, giữa cung an Mệnh với sao tọa thủ, giữa bản Mệnh với sao tọa thủ... Tương tự, khi xem các cung khác, chẳng hạn như cung Quan Lộc, Thiên Di... phải cân nhắc kỹ mối tương quan Ngũ hành (sinh, khắc, bình hòa) của sao với cung, cung với bản Mệnh...
Ngũ hành tương khắc: Đó là trường hợp Cục và Mệnh khắc nhau. Có thể Cục khắc Mệnh, có thể Mệnh khắc Cục. Xấu nhất là trường hợp Cục khắc Mệnh (Mệnh bị thiệt thòi lớn), xấu ít hơn là Mệnh khắc Cục (Mệnh đỡ hao). Hoặc sự tương khắc giữa Mệnh với sao, cung an Mệnh với sao... Tóm lại, nếu xem ở cung nào thì xét kỹ về sự tương khắc của cung đó chứ không hẳn chỉ xét tương sinh, tương khắc của Mệnh, Cục, Sao và cung an Mệnh, an Thân.
Hung tinh: Là những sao gây: tai nạn, bệnh tật, tán tài, buôn bán thua lỗ, tù tội, tang thương, loạn trí... Tóm lại là những đau khổ, bất hạnh lớn lao cho cuộc sống con người.
Hung tinh bao gồm các sao được gọi là sát tinh, hình tinh, bại tinh...
Hung tinh đắc địa có ý nghĩa tốt, nhưng vẫn còn tiềm ẩn cái xấu. Hung tinh hãm địa gieo nhiều tai hoạ, nhất là hung tinh khắc Mệnh hay khắc Can năm sinh.
Hung tinh chỉ chịu lép vế, giảm sự tác oai tác quái khi gặp Khoa, Tuần - Triệt, Tài - Thọ, Quan Phúc.
Hung - Sát tinh ngộ chế: Hung tinh là bộ chính tinh THẤT SÁT - PHÁ QUÂN - THAM LANG, còn sát tinh gồm có: Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không, Kiếp Sát, ngoài ra còn phải kể đến Thiên Hình, Hoá Kỵ, Lưu Hà...
Gặp các hung sát tinh không có sao giải thì rất nguy hiểm. Nếu có sao giải mạnh, các hung sát tinh sẽ được hóa giải ác tính thành ra ngộ chế tức chế biến, cải trang lại, không còn nguy hiểm như ý nghĩa nguyên thủy nữa mà có khi còn tốt lên.
Những sao cứu giải mạnh gồm Tuần - Triệt, Thiên Tài, Hoá Khoa, Quan Phúc.
Sát tinh: Là những sao gây ra tai họa lớn tới đời sống con người như: chấm dứt sự nghiệp, tài sản, gia đạo, thậm chí còn mất mạng...
Được xem là sát tinh hạng nặng gồm: Địa Không - Địa Kiếp - Thiên Không - Kình Dương - Đà La - Kiếp Sát - Hỏa Tinh và Linh Tinh
Càng hội tụ nhiều sao sát tinh thì mức độ hoạ hại càng dễ xảy ra và xảy ra trên nhiều bình diện của cuộc sống. Đặc biệt, càng nhiều sát tinh hãm địa tụ tập thì những thiệt hại, những tai biến về gia đạo, tài sản, công danh, tính mạng ... càng xảy ra nhanh chóng và nặng nề, bất khả kháng.
Sự hội tụ của các sát tinh ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất về những tai họa do sát tinh gây ra. Cho dù các sát tinh có đắc địa thì tai hoạ vẫn ẩn nấp, liền kề, có chăng chỉ được hưởng sự bộc phát trong một thời gian ngắn.
Tất cả các sao khác như: hình tinh, bại tinh, hao tinh... đều do các sao sát tinh góp phần tăng cường hiệu lực.
Lục sát tinh: Gồm sáu sao: Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh.
Ngoài ra các sao Kiếp Sát (còn gọi là Địa Kiếp thứ 2), Lưu Hà, Phá Toái, Thiên Hình, Hoá Kỵ, Thiên Không, Thương Sứ, La Võng cũng được kể như sát tinh vì đặc tính sát  hại, phá phách của chúng.
Hình tinh: Là những sao ảnh hưởng đến sự tự do của cá nhân, hoặc uy tín và danh dự của cá nhân, thậm chí bị kiện tụng, tù đày...
Hình tinh được xem là các sao: Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, Thiên La, Địa Võng
Bại tinh, hao tinh: Là những sao làm cho con người bị lụn bại, hao tán về tài sản, sự nghiệp, thậm chí về cơ thể.
Được coi là hao tinh, bại tinh là những sao: Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư.
Ám tinh: Là những sao gây trở ngại, trục trặc cho con người về công danh, sự nghiệp, hạnh phúc gia đạo, uy tín và danh dự của cá nhân.
Ám tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không, Phá Quân, Thái Tuế, Tử phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ.
Văn tinh: Là những sao chủ về sự học hành, trình độ, bằng cấp, hợp với “quan văn”, như: Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Khoa, Văn xương, Văn Khúc, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Tấu Thư. Càng hội tụ nhiều văn tinh ở Mệnh (Thân) càng chỉ tài năng, học vấn uyên thâm và “quyền uy” của đương số.
Võ tinh: Là những sao chủ sự uy quyền, võ nghệ, xa hơn là sự mạnh mẽ, cứng rắn về tính cách của đương số.
Đựơc xem là võ tinh gồm những sao như: Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng, Hóa Quyền, Tướng Quân, Quốc Ấn, Thiên Mã, Thanh Long, Thiên Hình..
Dâm tinh: Là những sao ảnh hưởng đến đời sống sinh lý của con người, nhẹ thì là người sống lãng mạn, nặng thì đa dâm, sa đọa, đĩ điếm, thậm chí còn mất danh dự, thiệt mạng vì tính trăng hoa, dâm loạn.
Những sao tình dục (dâm tinh) rất nhiều, chiếm tỉ lệ 20/111 sao trong hệ thống các sao của Tử Vi (Tử Vi Việt Nam), nhưng tiêu biểu nhất cho sự dâm tính gồm các sao: Tham Lang, Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, Thai, Mộ, Liêm Trinh (hãm địa), Thái Âm (hãm địa), Hoa Cái ....
Nhìn chung, về cơ bản các Chính tinh khi hãm địa đều có thể được coi là người có nhiều ham muốn về tình dục, tuy nhiên sự ham muốn đó chỉ ở mức bình thường, không nặng nề như những sao kể trên.
Lộc tinh: Là những sao chủ về tài sản, tiền bạc mà đương số sẽ được hưởng hoặc không được hưởng, hoặc sự kiến tạo ra tài sản, tiền bạc khó hay dễ, nhiều hay ít...
Được xem là lộc tinh gồm các sao: Hóa Lộc, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Thiên Phủ.
Những lộc tinh chỉ đem đến tài lộc cho đương số khi đắc địa và không gặp sát tinh, hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
Phúc tinh: Là những sao chủ về sự hưởng ít hay nhiều? Được hưởng hay không được hưởng phúc đức của tổ nghiệp, của số phận?
Được coi là phúc tinh gồm các sao như: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Phúc, Quý Nhân, Thiên Quan, Giải Thần, Thiên Giải.
Cũng như các tinh đẩu khác, Phúc tinh chỉ thật sự hữu ích, đem lại may mắn về phúc đức, tài lộc khi đắc địa và không gặp sát tinh hoặc Tuần, Triệt án ngữ.
Trợ tinh: Còn gọi là Hộ tinh. Là những sao khi đi cùng sao xấu sẽ làm tăng ác tính của sao xấu, đi với sao tốt sẽ làm đẹp thêm những điều tốt của sao tốt.
Được xem là trợ tinh gồm các sao như: Thiên Tài, Tả Phù, Hữu Bật.
Sao thiện căn: Là những sao chủ về thiện tâm, vọng đạo, đó là các sao: Thiên Lương, Thiên Đồng,Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Hóa Khoa, Tứ Đức.
Thiên La - Địa Võng: Thiên La ở Thìn, Địa Võng ở Tuất được gọi là lưới trời. Mệnh cư ở đây ví như số mệnh bị lưới Trời bó chặt lại, không thể vùng vẫy được. Nhưng có sách nói chỉ khi nào có Đà La ở hai cung Thìn, Tuất và Mệnh cũng ở đó thì mới bị ảnh hưởng của La - Võng. Khi Mệnh ở La - Võng rất cần có Kình hội họp, nhất là Kình đồng cung để phá thế La - Võng.
Trong 14 chính tinh thì Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là bộ sao mềm dẻo, ôn hòa nên không ngại lắm khi Mệnh ở La - Võng, còn các chính tinh khác nên tránh xa, nhất là Tử, Phủ, Sát, Phá, Tham.
Chính diệu: Là các chính tinh trong hệ thống các sao của khoa Tử Vi. Tại sao lại gọi 14 sao là chính tinh (chính diệu) bởi theo quan điểm của Tử Vi thì đó là 14 sao quan trọng, quyết định số kiếp của con người. Các cung có sao chính tinh thì gọi là chính diệu tọa thủ.
Vô chính diệu: Cung vô chính diệu là cung không có chính tinh tọa thủ. Cung nào không có chính tinh thì gọi cung đó là cung vô chính diệu, chẳng hạn: Mệnh vô chính diệu, Tài vô chính diệu... Những cung vô chính diệu rất cần có sát tinh đắc địa như Không - Kiếp đồng cung, hoặc Tam Không, Tứ Không hội chiếu mới mong số kiếp được suôn sẻ, khấm khá lên được.
Cung vô chính diệu khi ở Tứ Mộ mới tốt, mới được hưởng những cách hay của các sao tam hợp chiếu. Còn tại các cung khác thì chịu ảnh hưởng của các sao ở cung trực chiếu.
Mệnh vô chính diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì mệnh vô chính diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khá mạnh mẽ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt.
Nữ Mệnh vô chính diệu thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh vô chính diệu
Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời không con hoặc vất vả về vấn đề con cái
Phụ Mẫu vô chính diệu thì cha mẹ thường thọ nhưng cha mẹ không giúp đỡ con cái được bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu được cha mẹ nhiều.
Bào vô chính diệu thì anh em không cậy nhờ được nhau.
Tật ách vô chính diệu thì ít bệnh tật
Điền vô chính diệu thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. Cũng có quan điểm cho rằng: Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn, sau đó mới giàu có dần.
Tử vô chính diệu thì khó có con, hoặc có con nhưng không nhờ được con cái.
Phúc vô chính diệu thì lại tốt.
Phu Thê vô chính diệu thường lập gia đình một cách bất ngờ.
Tam không - Tứ không: Đó là những sao: Địa Không, Thiên Không, Tuần trung không vong và Triệt lộ không vong. Đây là bộ sao có ảnh hưởng rất mạnh tới số phận của con người, làm đảo lộn giá trị của các sao đồng cung hoặc hợp chiếu. Vì vậy, bộ sao này cần được cẩn trọng khi xem lá số, nhất là 2 sao Triệt lộ không vong (Triệt) và Tuần trung không vong (Tuần).
Địa Không - Địa Kiếp là 2 phụ tinh nhưng ảnh hưởng tới số phận con người lại ngang ngửa với chính tinh, thậm chí còn làm cho chính tinh trở nên mờ nhạt khi Không - Kiếp hãm địa. Nhắc tới lũ sát tinh này, mọi người đều e ngại, thế nhưng khi có Triệt tại bản cung thì khụôg sợ tai họa do Không - Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng sức cản phá yếu hơn. Mệnh Thân có Không - Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy.
Tuỳ theo sự hội tụ của các sao đó mà gọi là đắc Nhị không, Tam không hay Tứ không.
Sự hội tụ của các sao này rất cần thiết cho các cung không có chính tinh toạ thủ.
Tứ Mộ, tứ Chính, tứ Sinh: Đây là thuật ngữ dùng để chỉ khi Mệnh nằm tại 1 cung nào đó trên lá số.
Mệnh ở tứ Sinh gồm: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Khi Mệnh an tại tứ Sinh là người có lòng tự hào, tính khoe khoang, thích được đề cao, có sức khỏe, ít bệnh tật mặc dù thường có tầm vóc nhỏ.
Mệnh ở tứ Chính gồm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Khi Mệnh an tại tứ Chính là người cứng rắn, cương trực, khảng khái và khó ai làm thay đổi được quan điểm. Người có Mệnh an tại tứ Chính thường hay được hưởng Đế Vượng nên có sức khỏe tốt.
Mệnh ở tứ Mộ gồm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
Khi Mệnh an tại tứ Mộ thì thường là người mềm dẻo, biết thân phận, không muốn phiền nhiễu ai, hay bị bệnh và sức khỏe yếu.
Trong các cung Sinh, Chính, Mộ đó đều có cung Âm, cung Dương. Các cung Dương thường kiên quyết, cẩn thận và chu đáo. Các cung Âm thì thường rộng rãi, bao dung và hòa hợp hơn.
Tọa thủ - Đồng cung: Chính tinh đóng ở một cung cụ thể thì gọi là tọa thủ. Hai chính tinh cùng đóng tại một cung thì gọi là đồng cung. Chẳng hạn khi Liêm Trinh đóng tại cung Mệnh thì nói Liêm Trinh tọa thủ tại cung Mệnh, nhưng nếu tại cung Mệnh có 2 chính tinh là Liêm Trinh và Tham Lang cùng đóng ở đó thì gọi là Liêm - Tham đồng cung tại Mệnh...
Sự ảnh hưởng của các sao đồng cung tới số mệnh con người sẽ không như nhau mà phải căn cứ vào mối quan hệ Âm Dương - Ngũ hành giữa cung, chính tinh và bản Mệnh như thế nào. Đặc biệt trong trường hợp sao đó đi cùng với các sao khác để tạo thành bộ, thành cách.
Tuy vậy, khi coi lá số, không nhất thiết chỉ chính tinh mới dùng các thuật ngữ này, mà trong nhiều trường hợp người coi tử vi vẫn thường dùng thuật ngữ đồng cung để nói về các sao (cả chính tinh, phụ tinh) khi cùng đóng trong một cung.
Độc thủ: Là một sao duy nhất đóng tại cung chính, không có sao khác để tạo thành đôi, thành cách (cục).
Lâm - Nhập: Hai thuật ngữ trên đều mang một nghĩa là sao đó đóng ở 1/12 cung của lá số. Sự khác nhau chỉ ở chỗ: Sao tốt đóng ở đâu thì gọi là lâm, sao xấu đóng ở đâu thì gọi là nhập. Tuy nhiên, thuật ngữ này ít được dùng khi coi lá số.
Hội họp: Thuật ngữ này dùng để chỉ các sao cùng chiếu về cung chính ở các thế xung chiếu, tam hợp chiếu, nhị hợp, giáp... (Duy cụ Thiên Lương lại không tính các sao ở cung xung chiếu vì cụ cho rằng cung xung chiếu là cung của “đối thủ” nên không thể tính là sao "hội họp" được.) Sự hội họp của các sao càng có giá trị quyết định tới số phận của đương số khi chúng tạo thành cách cục.
Trên lý thuyết thì các sao ở tam hợp chiếu sẽ mạnh hơn các sao nhị hợp, càng mạnh hơn các sao giáp nhưng thực tế khi các sao hội họp tạo thành cách thì sự phân biệt đó trở thành vô nghĩa.
Cách: Khi các tinh đẩu kết hợp lại với nhau làm thành một bộ sao thì gọi là cách. (Riêng với phụ tinh thì có người gọi là cách, có người gọi là cục.)
Với chính tinh, có 6 cách sau:
- Tử, Phủ, Vũ, Tướng
- Sát, Phá, Liêm, Tham
- Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương
- Cự, Nhật
- Nhật, Nguyệt
- Vô chính diệu (không có chính tinh tọa thủ)
Thường thì người ta cho cách Tử, Phủ, Vũ, Tướng là đẹp nhất, còn cách vô chính diệu là xấu nhất, nhưng thật ra 6 cách trên đều tốt đẹp như nhau nếu chúng được thập toàn. Để được thập toàn thì phải hội đủ các sao để tạo thành cách và các sao đều phải đắc địa. Nếu sao nào đó hãm địa cần phải có Tuần, Triệt làm cho sáng lại, tuy nhiên cũng không thể toàn mỹ được.
Trường hợp Vô chính diệu, để thập toàn phải đáp ứng một số điều kiện sau:
- Tuần, Triệt án ngữ tại bản cung
- Hội đủ 4 hoặc chí ít là 3 sao không: Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không.
- Nhật, Nguyệt sáng sủa hội chiếu
Với các phụ tinh thì sự kết hợp của các sao tạo thành bộ thì cơ bản thành các cách: Phú cách (giàu có), Quý cách (sang trọng), Thọ cách (sống lâu), bần tiện cách (nghèo hèn), Tạp cách (xấu nhất)
Tuy nhiên, các cách của phụ tinh chỉ có giá trị tốt đẹp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Đầy đủ: Hội tụ đầy đủ các sao để tạo thành cách.
- Đắc địa: Các sao đều phải đắc địa
- Đông đảo: Hội nhiều cách hay về bản cung
- Thuần tuý: Cách của phụ tinh phải phù hợp với cách của chính tinh.
Cục: Là yếu tố ghi ở giữa khoang lá số dùng để cứu xét tương quan giữa Cục và bản Mệnh, giữa Cục và cung Thân.
Miếu địa: Mỗi sao phải cần đứng tại vị trí của mình thì mới phát huy sức ảnh hưởng vào số kiếp của con người, làm cho cuộc sống của đương số tốt đẹp may mắn hơn. Trong những trường hợp đó gọi là miếu địa. Tuy nhiên, cũng thường thấy sách tử vi dùng các từ như đắc địa, vượng địa để diễn đạt sự đúng chỗ của các sao nhưng 2 trường hợp này không đẹp bằng miếu địa.
Hãm địa: Là sao đứng không đúng chỗ của mình nên vô ích hoặc bất lợi cho cuộc sống con người thì gọi là hãm địa. Lẽ đương nhiên khi sao hãm địa rơi vào những cung chính mà các sao đó lại thuộc nhóm hung sát tinh thì sức phá hại của chúng tới số kiếp con người tàn bạo hơn nhiều khi những sao đó nằm đúng chỗ.
Giáp: Giáp là một cung mà có các sao bộ đôi như Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, mỗi sao nằm một bên. Có giáp cung và giáp góc.
Giáp cung là cung có bộ sao kèm hai bên, nhưng trên một hàng thẳng thí dụ cung Sửu giáp Tí và Dần.
Giáp góc là giáp ở góc thí dụ các cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Giáp góc ít hiệu quả hơn giáp cung.
Có sách cho rằng: Sao giáp có khi còn mạnh hơn cả sao toạ thủ, cũng như sao chiếu có khi mạnh hơn sao đồng cung. Chẳng hạn khi Mệnh giáp Không - Kiếp chắc chắn sẽ là người nghèo khổ cho dù Chính tinh thủ Mệnh có đắc địa, phù sinh cho bản Mệnh...

LUẬN VỀ
ĐỊA KHÔNG, ĐỊA KIẾP
*
Địa Không, Địa Kiếp là 2 sao ác tinh hạng nặng trong số các tinh đẩu của khoa Tử Vi. Khi coi số, người xem rất sợ gặp phải 2 tên đồ tể hạng nặng này, nhất là khi chúng hãm địa, bởi sức phá hoại của Không, Kiếp thật tàn bạo, khốc liệt, không những ảnh hưởng trực tiếp từ tính chất côn đồ của sao tới cung, Mệnh (Thân) mà còn phá hỏng các cách đẹp khác của các tinh đẩu. Sức ảnh hưởng của 2 sát tinh này mạnh ngang ngửa với chính tinh đắc địa, thậm chí còn phá hỏng cả cách đẹp của những chính tinh đắc địa. Đây thật sự là 2 sao tàn bạo, gieo rắc những đau thương, bất hạnh, những nghiệp chướng oan nghiệt mà con người khó cưỡng chế được.
Muốn luận giải chuẩn khi coi số, người coi số phải hiểu rõ về bản chất của Địa Không, Địa Kiếp, mới hy vọng có được một phần nhỏ hữu ích cho việc cải số. Nếu làm đựơc như thế cũng đã là mãn nguyện rồi!

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỊA KHÔNG, ĐỊA KIẾP:
1.1 Hiệu lực của Địa Không, Địa Kiếp:
Địa Không, Địa Kiếp là hai sát tinh nặng nhất, mạnh nhất trong các sao xấu. Tuy chỉ là phụ tinh nhưng ảnh hưởng của hai sao này mạnh ngang ngửa với chính tinh đắc địa. Chỉ riêng một trong hai sao cũng đủ hóa giải hầu hết hiệu lực của sao tốt nhất là Tử Vi, thậm chí có thể làm cho Tử Phủ trở thành phá cách.
Ở những cung đắc địa thì Không Kiếp bén nhậy, can đảm, thành công, giầu có. Ở các cung hãm địa thì Không Kiếp trở nên ích kỷ, gian lận, lưu manh và trộm cướp bất lương, nói tóm lại, đó là tính nết của phường côn đồ. 
Do bản chất là Sát Tinh nên dù Không Kiếp có đóng ở nơi đắc địa (Tỵ, Hợi, Dần, Thân) tuy có góp phần làm gia tăng tài danh một cách nhanh chóng nhưng cái may thường đi liền với cái rủi. Sự nguy hiểm bao giờ cũng còn tiềm phục và sẵn sàng tác họa, nếu gặp hung tinh khác. 
Vị trí tốt nhất của Không, Kiếp là Tỵ. Tại đây, chủ sự hoạnh phát mau chóng và bất ngờ về quan, tài, vận hội... bộc phát chói lọi được một thời gian. 
Tại Hợi: Không Kiếp cũng có nghĩa như ở Tỵ nhưng cường độ kém hơn nhưng cũng nhờ đó mà nếu có tai họa thì sự suy trầm, xuống dốc sẽ không nhanh chóng như khi ở Tỵ. 
Tại Tỵ và Hợi, Kiếp Không bao giờ cũng đồng cung cho nên hệ số gia tăng gấp bội về lợi cũng như về bất lợi.
Còn ở Dần Thân, Kiếp - Không độc thủ và xung chiếu nên sự phát đạt không mạnh bằng ở Tỵ hay Hợi. Tuy vậy, Không Kiếp ở Dần, Thân dù có nhiều Cát Tinh cũng là một cuộc đời chìm nổi, lên xuống thất thường. Không, Kiếp ở Dần tốt hơn ở Thân. 
Kiếp, Không đắc địa gặp Tuần, Triệt án ngữ có nghĩa như hãm địa và những luận đoán phải đảo ngược. Trái lại, Kiếp, Không hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ chế giảm hay triệt tiêu sức phá hoại của sát tinh này nhưng không hẳn biến thành tốt đẹp.
1.2 Phạm vi ảnh hưởng của Địa Không, Địa Kiếp:
Vốn là sao Hỏa nên sức phá hoại của Kiếp, Không hãm địa rất mạnh, nhanh chóng và bất ngờ. Tai họa càng gia tăng cả về số lượng lẫn cường độ, cả cho mình lẫn cho người thân, thậm chí còn ảnh hưởng đến toàn thể cuộc đời, nếu gặp thêm hung sát tinh khác đi cùng hoặc không có nhiều sao cứu giải đủ mạnh. 
Sự hiện diện của Không, Kiếp ở các cung quan yếu như Phúc, Mệnh, Thân (nếu hãm địa) đánh dấu sự xuống dốc mau chóng và những tai hoạ dồn dập, bất khả kháng. Gặp nó, con người hầu như bị tràn ngập bởi các yếu tố bất khả cưỡng, không còn chủ động được trên nhiều tình huống. Nếu thiếu nhiều sao cứu giải mạnh mẽ, Kiếp Không báo hiệu cho một cái chết nhanh chóng, bất ngờ và tàn bạo. Ngay ở những vị trí đắc địa (Tỵ, Hợi, Dần, Thân), Không Kiếp vẫn tiềm ẩn sức phá hoại không nhỏ, cuộc đời vẫn gặp những đắng cay, bất hạnh như thường. 
Ngoài ra, càng về già, hai sao Kiếp, Không càng tác họa mãnh liệt hơn các hung sát tinh khác. 
Không Kiếp được ví như một nghiệp chướng bám vào con người, tượng trưng cho những trường hợp bất khả kháng, khó chế ngự. Đây thật sự là 2 sao tai họa cho con người.

II. ĐỊA KHÔNG, ĐỊA KIẾP VỚI CÁC SAO KHÁC:
2.1 Những sao chế giải sự hung hiểm của Không, Kiếp hãm địa:
Khi ở hãm địa, hai sao này tác họa rất mạnh, dù có gặp sao chế giải thì hung họa vẫn tiềm tàng, chỉ giảm bớt được ít nhiều chứ không mất hẳn. Khi gặp Không, Kiếp hãm địa, sự tốt đẹp của cát tinh bị Không, Kiếp làm giảm đi nhiều hơn là cát tinh làm mất sự hung họa của Kiếp, Không. 
Về các chính tinh, chỉ có Tử Vi và Thiên Phủ miếu và vượng địa mới có nhiều hiệu lực đối với Kiếp, Không. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng bộ Sát, Phá, Liêm, Tham là thầy của lũ sát tinh nên nếu Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, nhất là Phá Quân đắc địa sẽ khắc chế và thuần phục lũ sát tinh giảm tác oai tác quái.
Theo quan điểm của cụ Thiên Lương thì: “Không, Kiếp là ác sát không bao giờ tử tế với ai, chỉ trừ có 1 Phá Quân là vị chỉ huy tối cao trực tiếp bản tính hung bạo chỉ chuyên phá hoại. Không, Kiếp vốn là hạng dao búa hợp tình hợp cảnh nên chịu phục tùng hùa nhau gây sự chẳng lành. Trường hợp Phá Quân đắc địa hay Không, Kiếp ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi chỉ nhất thời đưa nhau lên, sau vẫn tàn tạ như mọi vị trí khác.”
“Xin thưa Tử Phủ Vũ Tướng đừng hòng lấn át Lục Sát tinh, dẫu là Tử, Phủ đắc địa gặp họ cũng đắc địa càng có sự tranh chấp quyết liệt. Nếu hoàn cảnh Tử, Phủ hãm, họ qua mặt như vào chỗ không người ngăn cản. Còn nói khi Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương gặp họ hầu như hoàn toàn bị chi phối tùy theo bộ sao Lục Sát và vị trí đắc hay hãm địa của họ”.
Về các phụ tinh có: Tuần, Triệt, Thiên Giải và Hóa Khoa là 4 sao tương đối mạnh. Những sao giải khác không đủ sức chế ngự Kiếp, Không hãm địa.
2.2 Những sao làm gia tăng ác tính của Không, Kiếp hãm địa:
Đi với võ tinh hãm địa như Sát, Phá, Liêm, Tham thì Kiếp, Không càng tác họa mạnh mẽ cả về cường độ lẫn phương diện. 
Những sát tinh hãm địa khác như Kình, Đà, Linh, Hỏa hay Tả, Hữu cũng góp phần làm gia tăng hiểm họa do Kiếp Không hãm địa gây ra. 
Những hình tinh, bại tinh... cũng góp phần làm gia tăng tác họa hung hiểm của Không, Kiếp hãm địa.
2.3 Địa Không, Địa Kiếp và các sao khác:
Nhìn chung khi Địa Không, Địa Kiếp kết hợp với sao khác để tạo thành bộ, thành cách thì phần nhiều là gây tai họa cho cuộc sống con người, nhất là khi Không, Kiếp hãm địa.
Sách Tử Vi liệt kê một số trường hợp sau:
- Kiếp, Không đắc địa gặp Tướng, Mã, Khoa thủ Mệnh: Là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly. 
- Kiếp, Không đắc địa với phi thường cách (Tử Phủ Vũ Tướng đắc địa, Sát Phá Liêm Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ): Là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, lưu danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế. 
- Không, Kiếp ở Dần Thân gặp Tử Phủ tất làm hại Tử Phù.
- Kiếp Không Tử Phủ cùng đắc địa: Gặp nhiều bước thăng trầm trong công danh, sự nghiệp, tài lộc. Nếu Tử Phủ bị Tuần, Triệt thì mối hung họa hiểm nghèo, khó tránh. 
- Kiếp Không với Kình, Đà, Hỏa, Linh: Nếu cùng đắc địa thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc địa hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu. 
- Không, Kiếp, Đào, Hồng: Gặp nhiều nghiệp chướng về ái tình, đau khổ điêu đứng trong tình duyên, phải cưới xin nhiều lần. Riêng phụ nữ, thì bị tai nạn trinh tiết (bị dụ dỗ, lường gạt, mất trinh, thất tiết, hoặc có thể bị hãm hiếp). Người có bộ sao này còn bị yểu mạng, hay mắc bệnh phong tình, phái nữ thì đa phu, hồng nhan bạc mệnh có thể là gái giang hồ, nếu chưa chồng thì là người rất lang chạ. 
- Không, Kiếp ngộ Thiên Tướng thì phải bị thần phục, sự phá hoại giảm đi nhiều. Tuy nhiên, nếu Thiên Tướng ở Mão, Dậu thì rất cần sao Thiên Tài đồng cung, nếu không Thiên Tướng này cũng chỉ là Tướng quèn không cản nổi Không, Kiếp. 
- Không Kiếp ngộ Thất Sát, Phá Quân miếu, vượng lại có thêm Tả Hữu thì uy dũng, quyền biến, sai khiến được người khác. Nhưng bản chất vẫn là bạo phát, bạo tàn. 
- Không, Kiếp đứng với Hóa Quyền là người trắc trở công danh. 
- Không Kiếp đứng cùng Tả Hữu ở Mệnh, là người tâm ý thích lừa gạt. 
- Kiếp, Cơ (hay Hỏa Tinh): Bị hỏa tai như cháy nhà, bỏng lửa. 
- Kiếp, Tham đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội. 
- Không (Kiếp), Binh, Hình, Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng, côn đồ theo nghĩa toàn diện (ăn cắp, khảo của, hiếp dâm, giết người). 
- Kiếp, Không, Tử, Tham: Cách tu sĩ nhưng vì ảnh hưởng của Kiếp, Không nên có thể kẻ tu hành này có dịp phá giới, trở lại trần hoàn. 
- Kiếp, Phù, Khốc, Khách, Cự, Nhật: Biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh. 

III. Ý NGHĨA CỦA KHÔNG, KIẾP Ở CÁC CUNG:
Hầu hết vị trí của Kiếp, Không tại các cung đều có ý nghĩa bất lợi, xấu xa và gây tai họa nặng nề. Sách Tử Vi liệt kê ảnh hưởng của Không, Kiếp tới cuộc đời của đương số trên 12 cung như sau:
BÀO: Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán; Anh chị em rặt một lũ côn đồ, đĩ điếm; Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Kiếp, Không bấy giờ giáp Mệnh). 
MẪU: Cha hoặc mẹ mất sớm, chết thảm hoặc bị hình tù, ly cách; Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
PHỐI: Sát phu, sát thê hoặc góa bụa bất ngờ; có thể không có gia đình, nếu có gia đình thì hay phải xa cách lâu dài vì tai nạn xảy ra cho 1 trong 2 người; Phải 2, 3 lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng. 
Cung Phu có Hồng Loan gặp Địa Kiếp, nếu Mệnh tốt thì sống bên nhau suốt đời, nếu Mệnh xấu thì chỉ sống với nhau được khoảng mười năm thì nhẹ là phải chia ly, nặng thì sinh ly tử biệt.
TỬ: Không con, hiếm muộn, ít con hoặc phải ở xa con cái; Sát con rất nhiều hoặc con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy; Con cái phá sản nghiệp của cha mẹ.
TÀI: Nếu đắc địa thì hoạnh phát nhanh chóng một thời nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, tích trữ, buôn bán đồ quốc cấm). Nếu hãm địa là kẻ vô sản, bần nông. 
DI: Bị chết xa nhà và chết thảm và thường chết nhanh chóng, đột tử; Bị kẻ thù hãm hại (ám sát, phục kích)...
: Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ; Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt; Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của..
QUAN: Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật; Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến; Bị mất chức ít ra một lần nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi hoặc phải lên voi xuống chó.
ĐIỀN: Nếu đắc địa, có điền sản một dạo nhưng phải mua đi bán lại nhiều lần, nếu hãm địa là người vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập... ) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội. 
PHÚC: Trừ phi đắc địa thì được hưởng lộc một thời, còn Kiếp, Không hãm địa chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện: Dòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì bệnh nan y. 
HẠN: Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ nhưng phải lâm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt hoặc phải đi xa. Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt: Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn); Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật; Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình; bị kiện cáo; Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.

IV: NHỮNG CÂU PHÚ VỀ ĐỊA KHÔNG, ĐỊA KIẾP:
- Địa Kiếp độc thủ thị kỳ phi nhân.
Có nghĩa: Mệnh có Địa Kiếp đứng một mình là người ích kỷ, luôn cho mình là phải. 
- Địa Kiếp chi đan tâm phương lẫm. 
Có nghĩa: Địa Kiếp thủ Mệnh với nhiều quí tinh thì lòng dạ sắt son, kiên định.
- Dần, Thân, Không, Kiếp nhi ngộ quí tinh thăng trầm vô độ. 
Có nghĩa: Mệnh tại Dần, Thân có Kiếp, Không tọa thủ dẫu có gặp nhiều sao đẹp hội họp thì trên đường đời vẫn gặp nhiều thăng trầm bất định, tiền tài như đám mây trôi nổi, tụ tán thất thường.
- Tỵ, Hợi Kiếp, Không nhi phùng Quyền, Lộc hoạnh đạt tung hoành. 
Có nghĩa: Kiếp, Không tại Tỵ Hợi có Quyền, Lộc hội họp tất là người tài giỏi nghênh ngang nhưng cũng lại rất bôn ba, mau phát mau tàn. 
- Kiếp, Cơ ngộ Hỏa tất ngộ hỏa tai 
Có nghĩa: Mệnh có Thiên Cơ, Địa Kiếp gặp Hỏa Tinh xung chiếu hoặc đồng cung thì thường hay gặp hỏa tai như cháy nhà, cháy xưởng hoặc bị bỏng do lửa.... 
- Nhan Hồi yểu tử do hữu Kiếp, Không, Đào, Hồng, Đà, Linh tọa thủ 
Có nghĩa: Thầy Nhan Hồi chết yểu chỉ vì Mệnh có Kiếp, Không, Đà, Linh toạ thủ. 
- Kiếp, Không, Phục Binh phùng Kình Dương nhẫn lột thượng kiếp đồ. 
Có nghĩa: Mệnh hội Kiếp, Không, Phục Binh, Kình Dương làm côn đồ kẻ cướp. 
- Mệnh cung ngộ Kiếp, Tham lãng lý hành thuyền 
Có nghĩa: Mệnh Địa Kiếp đứng cùng Tham Lang cuộc đời nổi trôi bất định. 
- Mệnh Không, Thân Kiếp lai hội song Hao, vô chính diệu thiểu học đa thành.
Có nghĩa: Mệnh tại Mão có song Hao, Địa Không đồng cung, Thân cư quan tại Mùi, có Địa Kiếp thì người tuổi Tân, Quý hay người Thủy Mệnh là người thông minh, học ít hiểu nhiều tất thành đạt quý hiển.
- Mệnh Không, Thân Kiếp lại hội song Hao ư chính diệu, thiểu học đa thành mạc ngộ Phúc Âm, Hao tinh niên thọ nan cầu vượng hưởng 
Có nghĩa: Mệnh Không, Thân Kiếp thêm song Hao mà Mệnh không chính tinh thì học giỏi. Nhưng Mệnh Không, Thân Kiếp lại tối kị gặp Đồng, Lương, Phá Quân hãm địa thì khó thọ 
- Giáp Không giáp Kiếp chủ bần tiện.
Giáp Kình giáp Đà vi khất cái.
Có nghĩa: Cung Thân hoặc Mệnh có hai sao Không, Kiếp giáp biên tất là số nghèo hèn. Nếu lại giáp Kình, Đà là số bôn ba, xuôi ngược kiếm kế sinh nhai.
- Xuất thế vinh hoa Quyền, Lộc thủ Tài Quan chi vị.
Sinh lai bần tiện, Kiếp, Không lâm Tài Phúc chi hương.
Có nghĩa: Quyền và Lộc tọa thủ miếu địa tại Tài hoặc Quan, gia hội nhiều cát tinh, nhất định đắc cách phú quý vinh hoa. Địa Không, Địa Kiếp đóng vào Phúc hoặc Tài là người vận kiếp nghèo hèn.
- Mệnh trung ngộ Kiếp, Tham do lãng lý hành thuyền.
Có nghĩa: Mệnh có Kiếp, Tham tọa thủ đồng cung, giống như ngồi thuyền trên sóng cả. Có cách này thì trọn đời lao khổ, nay đây mai đó và hay mắc tai nạn sông nước.
- Văn Xương, Văn Khúc hội Liêm Trinh táng Mệnh yểu niên.
Mệnh Không, hạn Không vô cát tấu, công danh thặng đặng.
Có nghĩa: Xương, Khúc thủ Mệnh tại Tỵ, Hợi, nếu ngộ Liêm Trinh tất bị chết yểu. Người tuổi Tân tối kỵ gặp phải cách này. Nhưng nếu được Vũ, Tướng tụ hội lại đắc cách, chủ có uy quyền. Mệnh và nhị hạn phùng Không gia Kiếp, dù được nhiều cát tinh củng chiếu thì đường công danh vẫn lận đận, cheo leo, không theo ý muốn. Hoặc có chính tinh hội tam Hóa và cát tinh mà gặp Không, Kiếp tại Mệnh và hạn, dù có chuyên cần đèn sách cũng chỉ đạt nửa vời.
- Mệnh Thân đồng cung Tỵ, Ngọ hoặc cư Tuyết xứ, vô chính tinh.
Có nghĩa: Mệnh Thân đồng cung vô chính diệu tại Tỵ, Ngọ, Hợi lại hội Mã, Linh, Hình, Kiếp, Không cùng chiếu, ví như hoa nở gặp mưa to gió lớn, tất chung thân tân khổ, hình thương hoặc yểu vong.
- Miếu nhi bất tú, Khoa danh hãm ư trung thần.
Phát bất chủ Tài, Lộc chủ triền ư nhược địa.
Có nghĩa: Hóa Khoa bị hãm với Không, Kiếp hoặc Dương, Đà đồng cung cho nên tài hoa mà yểu tử, do Khoa bị hãm với hung sát vật. Hóa Lộc không làm vượng được tài lộc vì Hóa Lộc bị nhược địa với Kiếp, Không hoặc Lộc lâm Tý, Ngọ, Mão, Dậu cũng vậy, chẳng những Lộc bị vô dụng mà còn chủ cô đơn, bần hàn nữa.
- Tý, Ngọ Tham Đào, Ất Kỷ âm nam, lập nghiệp do Thê, kiêm năng sát diệu, hành sự dụng thê.
Có nghĩa: Người âm nam, tuổi Ất, Kỷ, mệnh lập tại Tý, Ngọ hội với Tham, Đào có vợ là người đảm lược, lập thành cơ nghiệp. Trái lại, nếu hội với sát tinh là người có thể quên điều chính nghĩa, dùng vợ vào các việc mưu cầu danh lợi.
- Thân cư quan, kiến Triệt, Tuần Kiếp, Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu.
Có nghĩa: Nam số có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, buổi thiếu thời tất phải lận đận, bôn ba vì không gặp thời cơ. Nếu có được cát tinh củng chiếu, cũng phải đợi tới lúc vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạo thành cơ nghiệp.
- Đế tinh tại Tý nan giải hung nguy, lưu họa sát tinh La, Võng lao hình khôn vị thoát. Mệnh nãi Dương, Đà, Kiếp hội vi thành thọ giảm.
Có nghĩa: Mệnh có Tử Vi tại Tý là hãm, khi tốt tới vận hạn xấu nếu lại gặp sát tinh tất hung nguy, khó thoát lao tù. Nếu cung Mệnh có Dương, Đà, Địa Kiếp hội, đến hạn La Võng có hung sát tinh rất nguy cho tính mạng.
- Hạn chi Thiên Võng Khuất Nguyên tịch thủy nhi vong.
Vấn ngộ Kiếp, Không (Thiên Không), Nguyễn Tịch hữu bần cùng chi khố.
Có nghĩa: Ông Khuất Nguyên tự trầm vì nhị hạn tới cung Thìn Tuất gặp Vũ, Tham, Tuế, Tang, Điếu, Hổ ngộ hung tinh chiếu lại thành tối hung tại hạn. Ông Nguyễn Tịch lâm cảnh bần cùng vì nhị hạn gặp Kiếp, Không tọa thủ lại tính hạn lưu niên cũng có sát tinh củng chiếu nên phải chịu cảnh nghèo hèn. (Hạn gặp Không, Kiếp dù được cát tinh phù trì thì cũng không thể tránh được cảnh tiền bạc tới rồi tiền bạc lại đi).
- Âm Dương vạn sự Xương, Khúc, Kiếp, Không.
Có nghĩa: Muốn luận sự hay dở của Nhật Nguyệt thì phải xét kỹ 4 sao Xương, Khúc, Kiếp, Không. Âm Dương hội họp với Xương, Khúc là cách đẹp, còn hội với Kiếp, Không là phá cách, nhẹ thì số lận đận lao đao, nặng thì gặp tai họa.
- Nhật Nguyệt Sửu Mùi tối cần Kỵ, Không phả vi đại cát.
Có nghĩa: Nhật Nguyệt tọa thủ đồng cung tại Sửu, Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được Không Vong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêm cả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách.
- Vũ Khúc, Kiếp Sát hội Kình Dương nhân tài trì đao.
Có nghĩa: Vũ Khúc, Kiếp Sát thủ Mệnh hội với Kình Dương là người giỏi về đao pháp.
- Lộc cư Nô bộc trong hữu quan dã bôn trì.
Đế ngộ hung đồ tuy hoạch cát nhi vô đạo.
Có nghĩa: Hóa Lộc (hoặc Lộc Tồn) thủ cung Nô thì dù có được công danh cũng bôn ba, lận đận. Tử Vi ngộ Không, Kiếp suốt đời chẳng làm được việc gì nên thân. Nhưng nếu Tử Vi ngộ Hình, Kỵ hội Quyền, Lộc thì dẫu có đẹp đấy nhưng vẫn là kẻ có tâm thuật bất chính, gian manh.
- Sinh sứ Kiếp, Không thủ Mệnh do như bán thiên triết sỉ. 
Có nghĩa: Kiếp, Không thủ Mệnh ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân là nơi của sao Tràng sinh lên như diều gặp gió, xuống như chúi vào bùn đen. 
- Sinh phùng Thiên Không do như bán thiên triết sỉ.
Mệnh trung ngộ Kiếp hợp như lãng lý hành thuyền.
Có nghĩa: Mệnh có Thiên Không tọa thủ về trung vận tất phải suy giảm, nếu đắc hoạnh phát sau tất chết dữ. (Người tuổi Tý Mệnh tại Hợi, người tuổi Ngọ Mệnh tại Tỵ hay gặp cách này). Cung Mệnh có sao Địa Kiếp gia Sát, Kỵ rất hung, giống con thuyền nhỏ đi trên biển vậy.
- Hạng Vũ anh hùng hạn ngộ Thiên Không nhi thân táng quốc.
Thạch Sùng hào phú hạn hành Địa Kiếp dĩ vong gia.
Có nghĩa: Anh hùng như Sở Bá Vương, hạn gặp Thiên Không cũng phải mất nước. Giàu phú gia địch quốc như Thạch Sùng hạn phùng Địa Kiếp, gia tài tất thảy cũng tan nát.
- Khôi Việt trùng phùng Sát Tấu cố tật ưu đa.
Có nghĩa: Lưu niên Khôi Việt trùng phùng, ngộ Dương, Đà, Không, Kiếp chủ bị mang cố tật.
- Lộc chủ triều ư nhược địa, Mệnh bất chủ tài.
Có nghĩa: Hóa Lộc (hoặc Lộc Tồn) lạc hãm là bại địa, hoặc Lộc ngộ Không, Kiếp là số không làm được ra tiền của.
- Khoa danh hãm ư hung thần, miêu nhi bất tú.
Có nghĩa: Nhật cư Tuất, Nguyệt cư Mão, gặp Khoa hãm địa hoặc hội Dương, Đà, Không, Kiếp là chủ sự tài hoa mà bạc mệnh, là người có tài mà chết non.
- Kiếp, Không lâm hạn, Sở Vương táng quốc Lộc Châu vong.
Có nghĩa: Sở Bá Vương bị mất nước, cũng như người Lộc Châu chết, đều vì nhị hạn gặp Kiếp Không (hoặc Thiên Không).
- Sinh xứ Kiếp Không do như bán thiên triết sỉ.
Có nghĩa: Thân và Mệnh nếu an tại các cung hãm địa, có Không, Kiếp lâm thủ, chẳng khác gì con chim “giữa trời gãy cánh”.
- Kiếp, Không Tài Phúc chi hương, sinh lai bần tiện.
Có nghĩa: Địa Không, Địa Kiếp đóng vào cung Phúc hoặc Tài là người mới sinh ra đã chịu cảnh nghèo hèn.
- Thiên Thương gia ác diệu,
Trọng Ni tuyệt lương, Đặng Thông vong.
Có nghĩa: Hạn Thiên Thương ngộ Địa Không, Địa Kiếp, Đức Trọng Ni bị đói ở đất Tần, cũng như Đặng Thông bị thiệt mạng vì gặp phải hạn như vậy.
- Sinh phùng bại địa phát dữ như hoa.
Tuyệt xứ phùng sinh hoa như bất bại.
Có nghĩa: Mệnh ở vào hãm địa, dù có gặp được cơ hội may mắn thì cũng chóng tàn. Người Thủy Mệnh, Hỏa Mệnh nếu Mệnh ngộ sao Tuyệt tại Tý, Hợi với Không, Kiếp là được cách “tuyệt xứ phùng sinh” và được hưởng thêm cách “phản vi kỳ” nếu tam phương được Khoa, Quyền, Lộc củng chiếu.
- Thiên Đồng cư Tý, Hợi thủ Mệnh phùng Không, Kình tàn tật, cô khắc.
 Có nghĩa: Thiên Đồng thủ Mệnh tại Tỵ, Hợi hội Địa Không, Kình Dương là người tàn tật, không ưa ai, chỉ sống cô độc.
- Kiếp, Không Tỵ Hợi, Tướng, Mã đồng cư nhi hội Khoa tinh, loạn thế phùng quân.
Có nghĩa: Kiếp, Không đồng cung tại, Tỵ, Hợi gặp Tướng, Mã đồng cung và được Khoa chiếu là người có tài, gặp được quý nhân để làm nên sự nghiệp hiển hách trong thời loạn.

V. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA ĐỊA KHÔNG, ĐỊA KIẾP:
5.1: Những đặc lệ của Kiếp, Không ở Mệnh:
Theo tác giả Nguyễn Phát Lộc thì Kiếp, Không thủ Mệnh có những đặc lệ sau:
a. Mệnh vô chính diệu có Tứ hay Tam Không: Đây là một cách rất tốt về phú quý nhưng vẫn không toàn vẹn, tức là: Hoặc vất vả mới đạt danh tài, hoặc thụ hưởng không lâu bền, bộc phát giai đoạn. 
b. Mệnh Không, Thân Kiếp: Là người khôn ngoan, sắc sảo nhưng trong đời vui ít buồn nhiều, thành bại thất thường, làm việc gì cũng chóng nhưng cũng mau tàn. Nếu có Đại Tiểu Hao hội họp thì hóa giải được nhiều bất lợi và lập được công danh hiển hách. Tuy nhiên, nếu có Thiên Đồng, Thiên Lương hay Phá Quân ở Mệnh hay Thân thì yểu mạng. 
c. Mệnh Kiếp, Thân Không: Người khôn ngoan, sắc sảo nhưng bại nhiều, thành ít, chóng lên chóng xuống, thăng trầm bất ngờ, thất thường. Nếu Mệnh vô chính diệu có Đào Hồng thì yểu mạng, nếu không lúc nhỏ rất vất vả, gian truân. Nếu Mệnh, Thân có Nhật Nguyệt hay Tử Vi sáng sủa tốt đẹp thì đủ ăn đủ mặc. 
5.2: Những trường hợp ngoại biệt của Kiếp, Không:
- Người Tứ Mộ (sinh Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) không sợ Không, Kiếp lắm. Ngay cách Mệnh Không Thân Kiếp rất xấu với các tuổi nhưng với tuổi Tứ mộ này thì lại không bị xấu.
- Người Mệnh Kim, Mệnh Thổ không sợ cách Mệnh Không Thân Kiếp như các tuổi khác, ngược lại còn danh tài hoạnh phát, chung thân phú quý.
- Người sinh tháng 4, tháng 10 được hưởng cách Kiếp Không vô luận, vì những người sinh 2 tháng này được Tả, Hữu đồng cung tại Sửu, Mùi mà những người Tả Hữu Sửu Mùi này đều có tài năng khéo léo, biết tính trước ngừa sau, không quá hấp tấp vội vã, không tự tung tự tác, không sôi máu Không, Kiếp nên Không, Kiếp không gây họa! 
- Người sinh tháng Giêng, tháng Bẩy cũng không đáng ngại Không, Kiếp hành hạ vì có Tả, Hữu nằm chực sẵn tại chỗ (Thìn, Tuất) nên rất dè dặt, cẩn thận trong công việc. 
- Kiếp, Không Tỵ, Hợi phát dã như lôi nhưng chỉ người Tứ Mộ mới được hưởng trọn vẹn cách đó, còn các tuổi khác kém hơn và không được bền.
- Kiếp, Không tại Dần, Thân không gây tác hại bởi khi phù, khi diệt nên cuộc đời thăng trầm bất định, tiền tài nay tụ mai tán nhưng không bị tai họa nặng nề như 8 vị trí hãm địa khác.

LỜI KẾT:
Trong hệ thống các sao Tử Vi thì Địa Không, Địa Kiếp là 2 sao ác sát, không bao giờ tử tế với ai (trừ một số trường hợp ngoại biệt đã nêu). Cho dù ở thế đắc địa thì Không, Kiếp vẫn tiềm ẩn những tai họa có thể sẽ gây cho đương số những bất trắc, đau khổ trên nhiều phương diện mà sức người khó cưỡng chế. Còn khi hãm địa thì sức phá hại của Không, Kiếp trở nên bạo liệt, tàn ác cả về số lần họa hại lẫn cường độ gây họa trên nhiều bình diện khiến con người hoàn toàn bất lực.
Không như các tinh đẩu khác còn chịu sự khắc chế của các sao khác, nhất là các cát tinh nhưng Không, Kiếp lại rất ít sao có thể khắc chế được (phần nào) tính côn đồ, chuyên gây họa của Không, Kiếp mà ngược lại, nhiều khi cát tinh lại bị Không, Kiếp (nhất là khi hãm địa) phá hết những cách tốt đẹp, làm cho cuộc đời con người trầm luân trong đau khổ, bất hạnh.
Đây thật sự là 2 ác tinh hạng nặng của đời người. Vì thế, khi coi số cần cứu xét thật cẩn thận về thế đứng của Kiếp, Không để lời luận giải đưa ra được chính xác.
*
Hà Nội, cuối năm Quý Mùi (2004)
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TUẦN TRIỆT
VÀ NHỮNG DẤU HỎI
*
Trong Tử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng của các sao, người luận giải thường lúng túng khi gặp 2 sao Tuần - Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhất về ngũ hành và cường độ, thời gian ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số.
Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phải lưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời kết luận trong nhiều trường hợp.
Dù sao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng trong các sao của Tử Vi vì Triệt - Tuần không chỉ chi phối các cung mà còn chi phối các sao, biến tốt thành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu... nên Triệt - Tuần cần được cân nhắc cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải.
Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Triệt hành Kim (đới Thủy), Tuần hành Hỏa (đới Mộc)
Quan điểm thứ hai cho rằng: Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy.
Quan điểm thứ tư cho rằng: Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ.
Trong 4 quan điểm trên thì phần nhiều người xem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó là quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quan điểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn (nhất là quan điểm thứ tư).
Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày sơ lược một số điểm về Triệt - Tuần mà người học Tử Vi cần lưu ý.

1. ẢNH HƯỞNG CHUNG CỦA TUẦN - TRỆT:
Tuần, Triệt án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc được ước lượng như sau: 
Người Dương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ. 
Người Âm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ.
Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận (chặn) đuôi. 
Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất.
Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổi sẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khi Triệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất.
Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt tạm sắp xếp theo thời gian như sau: 
Dưới khoảng 30 tuổi: 
1. Triệt đương đầu: Mạnh nhất 
2. Triệt chặn đuôi: Mạnh nhì 
3. Tuần đương đầu: Yếu nhì 
4. Tuần chặn đuôi: Yếu nhất 
Trên khoảng 30 tuổi: 
1. Tuần đương đầu: Mạnh nhất 
2. Tuần chặn đuôi: Mạnh nhì 
3. Triệt đương đầu: Yếu nhì 
4. Triệt chặn đuôi: Yếu nhất 
Trong từng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi: Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1 tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng của Triệt giảm đáng kể. 

2. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN - TRIỆT VỚI CÁC CUNG:
Thông thường khi đóng tại cung nào thì Tuần - Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô Chính Diệu trong trường hợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coi các sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt - Tuần người coi số cũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số.
MỆNH: Tuần - Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn), Tuần - Triệt đóng tại Thân (cung an Thân) thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần - Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thì tất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân.
Nhìn chung khi Tuần - Triệt đóng tại Mệnh (Thân) thì đương số là người chật vật trong cuộc sống (hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứng đáng...), hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn (nhất là lá số có Tuần - Triệt liên cung tại Mệnh - Phụ Mẫu). Đồng thời đây cũng là mẫu người lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươn lên trong cuộc sống... nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu về Mệnh (Thân) hóa giải.
QUAN: Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường... Tùy theo bị chặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít. 
Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặp Tuần khá nhiều.
TÀI: Tuần - Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không (trừ khi vào đại vận tốt) và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụ của các sao thế nào (ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về) thì Tuần - Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng định đương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ.
DI: Tuần - Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không được lợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều. 
ĐIỀN: Tuần - Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũng như cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương số không thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về. 
PHÚC: Tuần - Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương 
PHỐI: Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ... Nếu lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tố đưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụ nhiều sao xấu. 
Cung Phu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được với nhau đến đầu bạc răng long ... 
: Tuần - Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việc trung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ. 
TỬ: Tuần - Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề con cái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc con không hợp với cha mẹ…
BÀO: Tuần - Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh (chị) trưởng nếu không đoản thọ thì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặc bất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau... 
TẬT: Tuần - Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thì đương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũng tránh được họa lớn... Trừ khi có sao kỵ Tuần - Triệt như Thiên Tướng, Tướng Quân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng. 
MẪU: Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do: Hoặc cha (mẹ) mất sớm, hoặc cha mẹ ly hôn, hoặc làm con nuôi nhà khác... Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ còn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể. 
HẠN: Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phải xét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thì phải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quan điểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này. 

3. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN-TRIỆT TỚI CÁC SAO:
Theo lý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởng của các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng: Tuần - Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm đi ảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần - Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuy nhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần - Triệt thì cũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần - Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm. 
Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứu Tử Vi. 
Có quan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồng cung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợp chiếu, như thế là không tưởng, phi lý (đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc). Còn quan điểm thứ 2 (đại diện là tác giả Việt Viêm Tử) thì rộng hơn, cho rằng hai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnh hưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quan điểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông Nguyễn Phát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”, chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm (Ông là nhà nghiên cứu, cũng là người hành nghề coi lá số Tử Vi) nhận xét: Triệt - Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệ thống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc: Ảnh hưởng tới các cung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung mà Triệt - Tuần trấn thủ.
Qua những tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lá số Tử Vi.. thì Triệt - Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung án ngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cung án ngữ.
Cũng cần lưu ý thêm rằng: Sao tại cung bị Tuần - Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần - Triệt án ngữ. Vì thế khi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hay Triệt và Triệt - Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi.
Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thì các chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần - Triệt, trong đó Sát - Phá - Liêm - Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất 
Về tính chất thì hung sát bại tinh (như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát...), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn...), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng, Đào, Riêu, Thai...) bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc...), trợ tinh (Tả Hữu)...lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)
Xét về phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt (Kim) khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh (Tuần) Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vì Tuần (Hỏa )khắc Kim trong khi đó Triệt (Kim) và Kim đồng hành), hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn (vì Triệt (Kim) sinh Thủy và Thủy khắc (Hỏa) Tuần), hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất (vì Tuần (Hỏa) sinh Thổ và Thổ sinh (Kim) Triệt).  

4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA TUẦN-TRIỆT:
1. Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần - Triệt vì gặp Tuần - Triệt làm cho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn như cung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợp Liêm - Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần - Triệt án ngữ lại trở nên tốt đẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rất cần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. (Trường hợp này nếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ.)
Hoặc Cung gặp nhiều sát tinh hội chiếu nếu được Tuần - Triệt án ngữ sẽ trở thành yên ổn rất nhiều!
2. Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần - Triệt vì sẽ đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên.
Chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần - Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí (bị hãm) và tương quan Ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần, Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần, Triệt càng xấu. 
3. Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần, Triệt cho dù là đắc địa hay hãm địa. 
4. Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó.
5. Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng (Tuần Triệt như sấm sét làm vỡ đá ra).
Bộ Nhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần, Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt. 
Bộ Ân Quang Thiên Quý đồng cung (Sửu, Mùi) chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần, Triệt không còn tác dụng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể.
6. Tuần, Triệt đứng bất cứ đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại (hành Hoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa). Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + Tuần Triệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộc Kim thì không đáng ngại những nguy hiểm do Tuần, Triệt gây ra. 
7. Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng qua được. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng yếu hơn.
Mệnh (Thân) có Không, Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy. 
8. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởng của Tuần hay Triệt. 
Tuần, Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì ảnh hưởng của Tuần, Triệt đồng cung sẽ giảm đi. 
Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi.

5. NHỮNG CÂU PHÚ VỀ TUẦN - TRIỆT:
- Mệnh Triệt Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi. 
Có nghĩa: Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên có chính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng và tăng thêm tuổi thọ.
- Mệnh Tuần Thân Triệt, hỷ đắc vân đoàn tương hội, phú quý văn tài cách phát trung niên. 
Có nghĩa: Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừng gặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy là người có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phú quý.
- Mệnh Tuần Thân Triệt, tối cần Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương miếu vượng, phú quý vinh hoa đến vãn niên. 
Có nghĩa: Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc đời mới được xứng ý toại lòng, nhất là khi về già mới được an nhàn, sung sướng.
- Phúc vô chính diệu, tu cần Không tý, kỵ ngộ Triệt Tinh.
Có nghĩa: Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵ sao Triệt trấn đóng.
- Phúc tại Tý cung. Đồng Âm Kiếp Tử, Triệt Tuần xâm, hữu học vô lương, tiện yểu cách. 
Có nghĩa: Cung Phúc đức cư tại Tý, có các sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần, Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính, thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non.
- Thân cư Phúc vô chính diệu, tối kỵ Kiếp Dương Triệt Sát. Cái ngộ Đà Không thi vị cứu cánh chi tinh.
Có nghĩa: Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp các sao Kiếp, Kình, Triệt, Sát thì rất lo ngại. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổ phò nguy, giải tỏa được các tai biến.
- Tử Phủ đồng cung, Đế vô quyền sở, nan giải tai ương do như Tuần Không xâm nhập.
Có nghĩa: Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáo nhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hành nên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp Tử Vi đóng ở cung Tý vậy.
- Sát tinh hung diệu, Triệt đầu cư lai bất cập a hành, nan phùng tai ách vận lai.
Có nghĩa: Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt án ngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnh hưởng khắc chế được mọi hung nguy.
- Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược gia cát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân.
Có nghĩa: Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bị tình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũng được mãn kiếp xum vầy với người góa phụ.
- Kiếp Kình Đế Cự suy Triệt lâm Mệnh, Tý hương, ác nhân đãng tử mãn kiếp nan toàn.
Có nghĩa: Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với các sao Kiếp, Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn nhưng khi chết rồi thể xác vẫn phải bị mổ xẻ.
- Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu.
Có nghĩa: Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tất phải lận đận, bôn ba thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cát tinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạo thành cơ nghiệp.
- Phản Hữu Hồng Loan sắc Không giác ngộ.
Có nghĩa: Thiên tướng nếu hội họp đầy đủ với 2 loại sao là sắc (Đào, Hồng, Hỷ) và Không (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) là người ví như kẻ lạc giữa bụi trần nhơ nhuốc mà tâm tư trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành.
- Quý tinh Tướng Phủ Tuần Triệt lao đao.
Có nghĩa: Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũng không đáng lo ngại lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2 quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt (Thiên Không, Địa Không cũng vậy) thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời.
- Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiến Tang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành.
Có nghĩa: Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảo toàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gối chiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất.
- Nhật, Nguyệt Sửu Mùi tối cần Kỵ, Không phả vi đại cát.
Có nghĩa: Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được Không Vong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêm cả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách.
- Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ.
Có nghĩa: Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải tha hương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồi dào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ có thể thành cơ nghiệp nơi đất khách quê người.
- Thìn Tuất Không Vong Cơ Lương tăng đạo.
Có nghĩa: Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trong các sao Không (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì lại là người thất chí, dễ chán đời đi tu.
- Nhật Nguyệt Tật Ách Mệnh phùng Không yểu dà mục cổ.
Có nghĩa: Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không), tất phải mang tật lưng vẹo, mắt hư.

6. TUẦN - TRIỆT VÀ NHỮNG DẤU HỎI:
Khi coi số, người luận giải sợ nhất trường hợp các cung cường gặp Tuần, Triệt án ngữ bởi lẽ lý thuyết Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thống nhất (thậm chí còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi gay gắt)… để làm căn cứ cho việc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định. Vì thế, người học Tử Vi, người muốn tìm hiểu về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trường hợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi một số nghi vấn sau:
1. Tuần, Triệt ảnh hưởng tới các sao như thế nào? 
Theo lý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung: Biến tốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tế thì có những trường hợp chỉ chính tinh bị ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị tác động bởi Tuần, Triệt hoặc phụ tinh bị đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại không thay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số tinh đẩu bị đảo nghĩa chứ không hẳn tất cả các tinh đẩu đồng cung đều chịu sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt... 
Để trả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôi khi trở nên mơ hồ, võ đoán.
Đấy là nói về các sao đồng cung, còn những sao ở tam hợp chiếu, xung chiếu thì sao?
Về vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫn còn mơ hồ, không cụ thể. 
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt chỉ ảnh hưởng tới các sao đồng cung chứ không đủ sức để ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu. 
Quan điểm thứ hai cho rằng: Tuần, Triệt không những ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung mà còn ảnh hưởng gián tiếp tới các sao ở các cung khác như xung chiếu, tam hợp chiếu... nhưng lại không chỉ ra sự ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thể như thế nào? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi.
2. Tuần, Triệt có chịu sự khắc chế, ảnh hưởng của các sao khác không?
Lý thuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng hay khắc chế của các sao khác tới cường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình chung đã đẩy Tuần, Triệt lên vị trí tối quan trọng, cao hơn tất cả các tinh đẩu trong hệ thống các sao của Tử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắc khi đưa ra lời luận giải. 
Trong thực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau: Có sao chịu ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng ít và thậm chí có sao không hề bị ảnh hưởng ... Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt đó? Phải chăng do Tuần, Triệt cũng chịu ảnh hưởng của các tinh đẩu khác mà sức ảnh hưởng của Tuần, Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh? Sách Tử Vi không đưa ra lời giải đáp khiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở lý thuyết nên dễ đưa ra những lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không chính xác. 
Một số nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt cũng chịu sự ảnh hưởng, tác động của các sao khác như những sao khác nhưng không chỉ ra được Tuần, Triệt chịu ảnh hưởng từ các sao khác như thế nào? Những sao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn tác động, làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộ nhận khi luận giải lá số.
3. Tuần, Triệt có làm thay đổi được cung an Mệnh khi ở thế bại địa, tuyệt địa?
Chúng ta đều biết lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của các sao chứ không làm thay đổi tính chất của các sao, có nghĩa một sao thể hiện sự gian tà, độc ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà, độc ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không thể trở thành người nhân hậu, bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm cho cát tinh đó tốt hơn lên chứ không thể biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cát tinh khi đắc địa được.
Chúng ta cũng biết lý thuyết Tử Vi chỉ rằng: Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở cho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không thể làm thay đổi tính chất ngũ hành của cung, càng không làm thay đổi bản chất của cung: Sinh - khắc hay bình hoà với hành bản Mệnh (Thân)? Phù trợ như thế nào cho Mệnh (Thân)?...
Nhưng khi coi số, nếu gặp trường hợp cung an Mệnh ở vào thế lợi địa, tuyệt địa…mà gặp Tuần, Triệt án ngữ ở đó thì luận giải sao đây? Không thể đưa ra lời khẳng định nếu cung an Mệnh ở thế lợi địa mà gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở thành bại địa, hoặc cung an Mệnh ở thế bại địa khi gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở nên vượng địa vì thực tế ngay cả các sao đồng cung Tuần, Triệt còn không đủ sức ảnh hưởng đồng đều thì làm sao ảnh hưởng, thay đổi tính chất lợi địa hay tuyệt địa của cung an Mệnh được. Hơn nữa, lý thuyết của Tử Vi về Tuần, Triệt cho rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở một phần, một giai đoạn cho cung án ngữ nên càng khó đưa ra lời luận giải cho những trường hợp như thế này.
Đây chính là khó khăn và thách đố với những ai muốn tìm hiểu, ứng dụng kiến thức của Tử Vi vào cuộc sống.
4. Thời gian và cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào?
Mặc dù lý thuyết Tử Vi cho rằng: Tuần ảnh hưởng nhẹ hơn Triệt và mạnh dần ảnh hưởng sau 30 tuổi, còn Triệt ảnh hưởng mạnh những năm đầu đời và giảm dần hiệu lực sau 30 tuổi. Nhưng Tử Vi không chỉ ra sự mạnh dần (Tuần) hay giảm dần (Triệt) diến ra như thế nào? Cường độ nặng nhẹ là bao? Nên người coi số rất khó đưa ra lời phán đoán. Hơn nữa, những khái niệm về cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt tưởng như rất cụ thể mà lại rất mơ hồ, trừu tượng nên người coi số thật khó luận giải. Chẳng hạn, sách Tử Vi nói: Người Dương nam, Dương nữ khi gặp Tuần, Triệt thì ở cung Dương sẽ chịu 70%, còn cung Âm chịu 30% cường độ, nhưng 100% cường độ được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng ra làm sao? Để qua đó hiểu được mức nặng nhẹ của 70% hoặc 30% cường độ thì rất tiếc không thấy sách Tử Vi nào đề cập đến.
Hoặc bàn về sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới số phận con người cũng nhiều ý kiến trái chiều, bất nhất. Ví dụ ở người Mệnh Kim, có 3 quan điểm:
- Quan điểm 1: Mệnh Kim không sợ Tuần, Triệt.
- Quan điểm 2: Mệnh Kim vô hại khi gặp Triệt, còn gặp Tuần thì vẫn bị ảnh hưởng như các tuổi khác, tuy nhiên cũng không đáng lo ngại lắm. 
- Quan điểm 3: Mệnh Kim nên tránh xa Tuần, Triệt vì nếu gặp sẽ thiệt thòi nặng hơn so với các tuổi khác.
Trong 3 quan điểm trên thì phần lớn những người coi số Tử Vi đồng nhất với quan điểm thứ nhất: Mệnh Kim không sợ gặp Tuần, Triệt nhưng sự bất nhất về lý thuyết, đặc biệt khi sự bất nhất đó lại có nội dung đối lập 100% như quan điểm 3 với quan điểm 1, thì vẫn gây khó khăn, nghi vấn cho người luận giải lá số.
5. Vấn đề Tuần, Triệt đồng cung thì thế nào?
Đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi trong lý thuyết của khoa Tử Vi.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt đồng cung không tháo gỡ nhau mà cộng hưởng cả mặt tốt, mặt xấu và ảnh hưởng sâu rộng hơn tới cuộc đời của đương số. 
Quan điểm thứ hai lại cho Tuần, Triệt tháo gỡ nhau nếu khi đồng cung, làm giảm cái xấu và tăng cái tốt cho đương số.
Mặc dù quan điểm thứ nhất là quan điểm của số đông, được nhiều người chấp nhận vì tính thực tiễn nhưng sự không đồng nhất về quan điểm như thế trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi sẽ gây khó khăn rất lớn cho người tiếp cận.

LỜI KẾT:
Tuần - Triệt là hai sao còn rất nhiều nghi vấn về giá trị, phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới số phận con người mà người nghiên cứu Tử Vi khó tìm được câu trả lời thỏa đáng, càng đặc biệt và thách đố với những người muốn ứng dụng kiến thức Tử Vi vào cuộc sống. 
Khi biên soạn về ảnh hưởng của Tuần - Triệt tới lá số (cung, sao), người viết rất băn khoăn, lo lắng vì kiến thức và kinh nghiệm về Tử Vi của người viết chỉ ở mức mày mò tự học trong khi môn học Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiến thức uyên bác về Dịch lý, về Âm - Dương Ngũ hành... mới có thể truyền tải được những cốt lõi mà linh hoạt và thỏa đáng về hiệu lực của Tuần, Triệt nên những kiến giải của người viết trong bài sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan và nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải “ngây ngô” của kẻ “ếch ngồi đáy giếng”...
Dù thế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ít nhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinh tế, linh hoạt đến phức tạp... của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìm hiểu. 
Nếu được vậy, người viết mãn nguyện lắm rồi.
*
Viết tại Đỗ Hạ, Quang Vinh, Ân Thi, Hưng Yên.
Tháng 07 năm 2006
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

SAO TÌNH DỤC
TRONG TỬ VI
*
Tử vi xem tình dục như một động lực chi phối mạnh mẽ tinh thần, tâm linh và thể xác của con người nên người sáng lập ra môn Tử Vi là Trần Đoàn đã mô tả đời sống tình dục của con người qua số lượng các sao tình dục khá đông trong tỷ lệ các chính tinh và phụ tinh. Với số lượng 20 sao tình dục trong 111 sao (theo lý thuyết của Tử vi Việt Nam) cho thấy quan niệm của khoa Tử Vi về ảnh hưởng của tình dục rất sâu rộng trên kiếp sống con người.
Nghiên cứu ảnh hưởng của các sao tình dục tới số phận con người, tùy theo lĩnh vực, tùy theo cách, cục mà người xem số sẽ đưa ra lời luận giải về mức độ ảnh hưởng nặng nhẹ của các sao.
Trên phương diện tình dục thì dù chính tinh hay phụ tinh đều ảnh hưởng như nhau, không như thông lệ là chính tinh thường mạnh hơn phụ tinh, và cũng không hẳn khi các sao tình dục không hội tụ tại Mệnh, Thân và 3 cung hợp chiếu Mệnh, Thân mà vội khẳng định là đương số sẽ là người “đoan trang” hoặc “diệt dục”. Có những trường hợp, các sao tình dục xa lánh các cung trên, nhưng lại hội tụ tại Nô, Tật, Phu - Thê... càng làm cho tính trăng hoa, đĩ bợm của đương số thêm mạnh mẽ, rõ rệt.
Tuy nhiên khoa Tử Vi cũng chịu ảnh hưởng bởi quan niệm đạo đức của nho giáo: trọng nam khinh nữ nên đã đặt ra nhiều sao tình dục (dâm tính) hơn cho phái nữ và tỏ ra khắc nghiệt trong đời sống tình dục với phái nữ. Chẳng hạn, nếu Mệnh nam có Đào, Hồng thì được khen là người có số đào hoa, nhưng nếu là Mệnh nữ thì Tử Vi phán luôn là người đàn bà lẳng lơ, nhiều dâm tính. Hay Cự Môn hãm địa thủ Mệnh nam thì không được coi là dâm đãng nhưng với Mệnh nữ thì lại được cho là đĩ bợm, lẳng lơ, dâm tiện. Đây là sự bất bình đẳng, thiếu công bằng của khoa Tử Vi. Thiết nghĩ, tình dục là nhu cầu chung của cả hai giới, và các sao tình dục đều ảnh hưởng tới đời sống sinh lý của con người, chi phối tình cảm luyến ái của con người, vì thế khi nhìn vào lá số, dù nam hay nữ cũng nên cân nhắc để đưa ra lời luận giải như nhau.
Dù sao, khi giới thiệu về các sao tình dục và ảnh hưởng của các sao tình dục đó tới kiếp sống của con người, chúng tôi cố gắng tuân thủ theo quan điểm của Tử Vi để bạn đọc dễ tiếp nhận khi tham chiếu với các tài liệu khác.

I. CÁC SAO TÌNH DỤC
Trước khi vào tìm hiểu các sao tình dục trong khoa Tử Vi, chúng tôi lưu ý với bạn đọc rằng: ý nghĩa của các sao tình dục sẽ liệt kê dưới đây được hiểu theo đơn thuần là ý nghĩa về sinh lý, mức độ ham muốn tình dục chưa bị chế giảm hay chịu sự khắc chế của các sao khác. Một số trường hợp, chúng tôi có đưa ra sự hội tụ của các sao, sự khắc chế của các sao sẽ làm giảm đi hoặc gia tăng hiệu lực của các sao tình dục tới sinh lý và kiếp sống của con người, nhưng chỉ mang tính chất lưu ý trong những trường hợp cụ thể như vậy. Đấy chưa thể coi là sự gia tăng hay khắc chế cơ bản với các sao tình dục.
Khi nghiên cứu về Tử Vi, sự linh hoạt và kinh nghiệm mới là điều quan trọng. Chúng tôi cũng liệt kê các sao tình dục theo sự phân biệt của Tử Vi: Sao tình dục áp dụng chung cho cả nam, nữ và những sao tình dục dành riêng cho phái nữ.
a. Sao tình dục chung cho hai phái:
Sách Tử vi phân biệt các sao tình dục theo 2 loại: Thiên về nhục dục và thiên về tâm lý. Tuy nhiên, trên thực tế sự khác biệt này nhiều lúc rất mong manh, rất dễ dẫn người xem số đưa ra lời luận giải thiếu chính xác, nếu áp dụng cứng nhắc sự phân biệt trên. Vì thế, khi giới thiệu, chúng tôi căn cứ vào ý nghĩa và mức độ dâm tính của các sao để sắp xếp mà không phân loại như các tác giả khác đã làm.
Tuy nhiên, khi tham khảo, bạn đọc không nên căn cứ vào thứ tự các sao được liệt kê dưới đây để quy kết mức độ dâm tính của đương số vì vị trí của các sao trong lá số cụ thể sẽ có nhiều thay đổi, nhất là trong trường hợp hội tụ, hoặc bị các sao khác khắc chế hay phụ thuộc vào những trường hợp ngoại biệt do cách, cục của đương số.
&- Tham lang:
Tham Lang (Tham) là sao Âm, hành Thủy, tượng trưng cho tính dâm dục. Chỗ nào có Tham Lang thì ở đó có sự tham lam (vật chất, tinh thần) và dâm đãng. Cho dù đắc địa thì Tham Lang vẫn tượng trưng cho sự tham dục không bờ bến của đương số. Nết tình của Tham Lang mang đậm dấu bạo dâm, chỉ quan tâm tới nhu cầu sinh lý của bản thân mà không để ý tới phản ứng, thái độ của bạn tình.
Vì là võ tinh, nên nết dục của Tham thường mạnh mẽ, bạo liệt, bất chấp luân thường đạo lý. Càng hãm địa, tính dâm loạn của Tham càng mạnh. Nếu hội tụ với nhiều dâm tinh khác, tính trăng hoa đàng điếm của Tham càng mạnh mẽ và khi đó, nếu không có sự khắc chế đủ mạnh của các sao khác, chắc chắn nhu cầu sinh lý của đương số sẽ trở nên dâm loạn, hoặc sống kiếp trai gọi, gái lầu xanh. Với nữ số, nếu Tham Lang thủ Mệnh, Thân sẽ là một bất hạnh lớn cho gia đạo chỉ vì nết dâm vô bờ bến của đương số, (nhất là khi hãm địa), dù có được nhiều sao khác khắc chế cũng khó mà quân bình được.
Cũng nên lưu ý rằng, khi Tham hội tụ với nhiều sát tinh thì nét dâm của đương số không mất đi, trái lại còn chuyển sang mức độ bệnh hoạn, oan nghiệt trong tình trường kiểu như: giao hoan với động vật, đồng tính luyến ái, giang hồ lãng tử, đĩ điếm.... Nhất là khi Tham cư Tí, Hợi có Kình Đà đồng cung hoặc Tham - Vũ đồng cung, gặp Phá Quân hội chiếu sẽ là người đĩ điếm, dâm loạn, luỵ thân vì sa đọa tửu sắc.
Tham rất ghét Thiên Riêu, Hóa Kỵ. Khi Tham đơn thủ mà gặp 2 ám tinh này thì đương số dễ bị tai tiếng, bị bắt bớ giam cầm vì tình và tiền. Nhưng khi Tham - Liêm đồng cung ở Tỵ, Hợi thì lại rất cần có Hóa Kỵ để hóa giải vì nếu không có sự khắc chế này thì đương số sẽ là người đàng điếm, giang hồ, dễ vướng vào vòng tù tội, bất luận là trai hay gái.
Khi đi cùng Đại, Tiểu Hao thì nết dâm của Tham không mất đi mà thể hiện ở một hình thức khác: không lộ liễu, cuồng nhiệt, biết giấu diếm những mối tình thầm kín.... Dù sao, trong trường hợp này tính dâm của Tham Lang, may nhờ có Đại, Tiểu Hao mà tai tiếng về sự cuồng dâm của đương số được giảm thiểu.
Sách tử vi cho rằng: Tham Lang ở Mão, Dậu đi với Tử Vi, là cách Tử Tham Mão Dậu là người có nhiều uẩn khúc trong tình trường, thường là những người yếm thế trong cuộc sống, rất dễ tìm đến cửa thiền (hoặc tu theo một đạo nào đó). Nếu gặp thêm Không Kiếp thì sẽ là người đi tu phá giới.
Khi Tham ở vị trí Dần, Thân cũng là dân chơi thứ thiệt, thích ăn ngon mặc đẹp nhưng sự sa đọa không như khi Tham cư tại Tí - Ngọ hoặc đồng cung với Liêm và Đào (hoặc Riêu). Còn khi Tham cư ở Tí, Ngọ thì đàn ông chơi bời phóng túng, còn đàn bà thì dâm đãng.
&- Thiên Riêu (có sách gọi là Thiên Diêu):
Thiên Riêu (Riêu) là sao Thủy, tượng trưng cho sự đa dục, chơi bời, dễ sa ngã, vô hạnh. Nếu đắc địa ở Mão, Dậu thì Riêu được ví như sen mọc trong bùn, dẫu nết tình vẫn mạnh nhưng không bị tiếng xấu là đa dâm, ham nhục dục. Còn khi Riêu hãm địa, nhất là khi đi với các sao xấu thì đương số sẽ là người đa nghi, mê tín và dâm đãng.
Cũng giống Tham Lang, ái tình của Thiên Riêu khi hãm địa rất bừa bãi, thiên về xác thịt và bạo liệt. Đối với sao này, không có tình yêu lý tưởng, tinh thần mà chỉ có sự thỏa mãn xác thịt hoặc thỏa mãn vật chất mà thôi.
Khi hội họp với các sao khác, nhất là các sao tình dục thì ý nghĩa dâm tính của Riêu càng mạnh mẽ. Chẳng hạn khi Riêu đi với Đào, Hồng hoặc Thai sẽ là người lẳng lơ, dâm đãng; đi với Thiên Đồng sẽ là người thay đào, đổi kép; đi với Xương, Khúc, Thiên Cơ thì là kẻ bị dầy vò bởi nhu cầu sinh lý.
Qua khảo cứu nhiều lá số, chúng tôi cho rằng tìm sự dâm tính của đương số nên ngó qua cung Nô, bởi cung Nô không đơn thuần thể hiện mối quan hệ chủ tớ mà còn biểu hiện đời sống sinh lý của vợ chồng, nhất là sau hôn nhân. Thực tế khi quan sát những lá số có Riêu đồng cung với một, hai sao tình dục khác tại Nô cung thì cơ bản đương số là người nhiều dâm tính, có vợ có chồng nhưng vẫn đèo bòng vài mối tình bất chính. Đây chính là lá số của loại người phong tình, đĩ bợm.
Không giống như thông lệ là khi gặp tam minh hoặc Hóa Khoa sẽ tốt đẹp lên (ít nhất là về nhân cách trong con mắt người đời) mà trường hợp của Thiên Riêu lại khác. Cụ thể, khi Thiên Riêu đi với Hoá Khoa, Vũ Khúc thì lại là người cực kỳ dâm loạn vì do học giỏi, có tài đoán trước sự việc nên càng dâm đãng, hoặc khi Riêu đi với Đào - Hồng - Hỉ thì càng trở nên gian dối và đĩ bợm.
&- Mộc Dục:
Môc Dục là sao hành Thủy, tượng trưng cho sự thay đổi, nông nổi, chưng diện, tắm rửa và cho tuổi dậy thì. Xét về tình ái, Mộc dục là sao dâm dật, phóng đãng, phong tình. Nếu đi cùng các sao tình dục khác như Tham Lang, Hoa Cái, Thiên Riêu, Thai… sẽ là người loạn dâm, thủ dâm, làm đĩ. Trên lĩnh vực tình dục, Mộc Dục là sao khá dị biệt với các sao tình dục khác.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Phát Lộc về tính dâm của Mộc Dục khá mới mẻ và khác biệt với các tác giả khác. Trong cuốn: Tử vi tổng hợp, phần Cách ái tình - Những sao tình dục, tác giả Nguyễn Phát Lộc viết: “Sao này có nghĩa phóng đãng, sự ham muốn vật dụng, sự khao khát yêu đương và quyến rũ yêu đương. Tính nết sinh lý của sao này ít nhiều hỗn loạn, không mấy chọn lọc đối tượng, bao hàm nhiều hình thái, từ sự tự thỏa mãn cho đến vấn đề đồng tính luyến ái (homosexuel). Tình yêu của Mộc Dục hơi quái dị, bất thường” - (Trang 237, sách đã dẫn)
Qua kiểm nghiệm 52 lá số có Mộc Dục thủ (hoặc chiếu) Mệnh, Thân, chúng tôi thấy quan điểm của ông Nguyễn Phát Lộc khả dĩ chấp nhận, có thể dùng để tham khảo về tính dâm khá đặc biệt của sao này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý: phải căn cứ vào mức độ hội tụ của các sao tình dục với các sao khác, nhất là các sao khắc chế tình dục hoặc hung sát tinh… để đưa ra lời luận giải. Thực tế, những lá số mà chúng tôi có cơ duyên tiếp cận với con người thực (của lá số) thì không hẳn sự hiện diện của Mộc Dục đi cùng với hung sát tinh thì đương số sẽ có đời sống tình dục quái đản kiểu tự thỏa mãn sinh lý, hoặc luyến ái đồng giới, song với kết quả 35/52 thừa nhận chuyện “gối chăn có vấn đề” thì đây cũng là điều cần lưu ý khi tham khảo quan điểm này.
Khi được hỏi về quan điểm trên của tác giả Nguyễn Phát Lộc, nhà thơ (nhà nghiên cứu tử vi) Nguyễn Thanh Lâm (Hà Nội) cho rằng: Quan điểm đó chưa thấy sách tử vi nào đề cập đến nhưng cũng nên tham khảo, lưu ý khi luận giải về đời sống sinh lý của người có sao Mộc Dục. Nhà thơ cũng bật mí kinh nghiệm: Khi Mộc Dục đồng cung với Không - Kiếp - Kỵ tại cung Tài thì chắc chắn cuộc sống gia đạo của đương số sẽ bị trục trặc ngay từ trong phòng ngủ.
Nhìn chung các lá số có đời sống tình dục kiểu Mộc Dục thường có những (nhiều) biểu hiện sau:
- Sự bất hạnh trong hạnh phúc gia đạo thể hiện ở cung Phu (Thê).
- Các hung sát tinh đi cùng Mộc Dục và các sao tình dục khác cơ bản đều hãm địa.
- Cục và Mệnh xung khắc.
- Các sao chiếu Mệnh, Thân biểu hiện tính nết trái ngược với giới tính của đương số.
- Cung Nô biểu hiện sự buông tuồng, phóng đãng, quan hệ luyến ái bừa bãi, dâm loạn.
&- Thai:
Thai thuộc hành Thổ, tượng trưng cho sự tái sinh, nẩy mầm, ngu dốt, hay nhẫm lẫn, a dua và dễ tin người. Về phương diện ái tình, Thai chủ sự dâm dật, chơi bời, tượng trưng cho vấn đề sinh lý của cả hai phái nên ý nghĩa sinh lý càng rõ rệt.
Do Thai còn có nghĩa tái sinh nên trong tình dục, Thai thể hiện sự thay cũ đổi mới và có đặc tính tái phạm, cho dù đương sự có quyết tâm tự chừa.
Khi kết hợp cùng các sao tình dục khác, mức độ dâm tính của Thai cũng sẽ không thua kém bất kỳ sao tình dục hạng nặng nào, thậm chí còn lang chạ, bừa bãi và bạo liệt hơn hẳn. Chẳng hạn, khi Thai đi cùng Riêu thì chắc chắn đó là người hết sức dâm đãng, có thể bị dày vò về sinh lý đến bệnh hoạn. Hoặc khi đi cùng Đào (Hồng) sẽ là người coi nhẹ luân thường đạo lý, lấy tình dục làm lạc thú ở đời, nên bộ sao này cũng có ý nghĩa gần giống bộ Thai - Phục - Vượng - Tướng (thất tiết). Ngay cả khi kết hợp cùng Xương, Khúc - là 2 sao tình dục thiên về tinh thần - thì đương số vẫn là người lãng mạn và dâm dật.
Giống như các sao tình dục khác, khi Thai đi cùng Không, Kiếp (hoặc các hung sát tinh hạng nặng) sẽ biểu thị cho sự oan trái, thậm chí nghiệp chướng trong tình trường như: bị hiếp dâm, chửa hoang, thất bại trong tình duyên.... Tóm lại, Thai biểu hiện cho mối tình xác thịt, cho cuộc sống sinh lý bừa bãi của con người, bất luận là nam hay nữ, vì vậy, khi tìm hiểu về cuộc sống tình ái của con người không thể coi nhẹ sao tình dục này.
&- Đào Hoa:
Đào Hoa thuộc Mộc, tượng trưng cho vẻ đẹp bên ngoài và sự ham muốn ái tình. Đặc tính nổi bật nhất của Đào (Đào Hoa) là lấy tình yêu làm lẽ sống nên thường đam mê, si lụy và tham lam trong tình trường. Sự tham lam này thể hiện ở chỗ cùng lúc yêu nhiều người, yêu say đắm hoặc mối tình này vừa chấm dứt đã bắt đầu bằng một mối tình kế tiếp. Chính vì thế mà người có sao Đào Hoa rất dễ lẳng lơ, sa đọa.
Sách tử vi cho rằng: Đào tại Mệnh thỡ xấu (mờ muội người khác), Đào chiếu Mệnh mới đẹp (người khác mê mỡnh). Nhưng nếu Đào gặp Thiên Không thì lại là người gió trăng, dâm tiện. Cũng như khi Đào gặp Thái âm hãm địa sẽ là người đa tình, dâm đãng. Còn khi đồng cung với Không, Kiếp thì tình duyên của đương số như cánh hoa tàn, héo úa.
Đặc tính của Đào là sự quyến rũ tình cảm của người khác nên Đào không bao giờ ưa Kỵ, bởi Kỵ tượng trưng cho con người ghen ghét, thị phi, mang đến ô nhục. Khi đi cùng Mộc Dục thì tính lẳng lơ, dâm đãng của Đào càng trở nên bệnh hoạn. Đặc biệt, khi Đào gặp Tràng Sinh, Đế Vượng thì tính "dâm" của đương số càng tăng thêm cơ hội....
Đào đắc địa nhất tại Mão, tức chính Đông, nơi đây Đào ví như hoa nở lúc bình minh, có vẻ đẹp rực rỡ, được mọi người chiêm ngưỡng. Đó là trường hợp của những người đắc thời về ái tình, được tôn thờ nhan sắc nhưng sự thành công về tình ái, duyên phận này cũng tùy thuộc vào thời gian, càng về già càng giảm vì hoa nào mà không tàn.
Tại Tý cung, Đào sẽ như hoa nở về đêm nên ít người biết đến. Điều này ám chỉ người có duyên ngầm, có những mối tình kín đáo. Nhưng có sách lại cho rằng: Đào Hoa tại Tí gọi là phiếm thủy, chủ dâm dật, đàn bà thỡ lóng mạn, dễ mắc vào tỡnh ỏi, nếu gặp Thiờn Khụng đồng cung thỡ tuy thụng minh nhung đường chồng con không khá, bị chồng bỏ...
Khi Đào cư tại Ngọ hoặc Dậu thì tại hai vị trí này Đào kém thi vị, bớt hấp dẫn. Đó là trường hợp những người vô duyên hoặc có duyên không phận, nhưng nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ thì sẽ trở nên hấp dẫn hơn, duyên phận sẽ tốt đẹp hơn.
Khi Đào cư tại Ngọ, gặp Tử Vi đồng cung thì đối với Nữ Mệnh gọi là Đào Hoa phạm chủ, chủ dâm dật, chỉ cách lấy nhau trái luân thường đạo lý như cách thầy lấy trũ, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau ...
Nữ Mệnh, cung Thiên di có Đào ngộ Không - Kiếp thì đương số sẽ đau khổ vì tình cảm bị bội bạc, bị hãm hiếp hoặc vướng vào lưới tình cho dù người chồng có tài ba, yêu thương hết mực.
Có sách cho rằng: Những người tuổi Tỵ - Dậu - Sửu có Đào cư Ngọ mà Mệnh an tại đấy thì tình duyên bao giờ cũng dang dở, mặc tình cho ong bướm lả lơi. Nếu Ngọ không là cung Mệnh thì cuộc sống tình cảm của đương số vẫn chịu cảnh hẩm hiu, dở dang về duyên phận.
Đào Hoa rất sợ gặp lũ hung tinh đi cùng, bởi khi đó sức quyến rũ của Đào sẽ dẫn đến những hậu quả đáng buồn: bạo dục, lắm nhân tình, đĩ điếm. Chẳng hạn khi gặp Không, Kiếp, Kình (hãm) đương số dễ bị hiếp dâm, bị oan trái trong tình trường; gặp Đà, Hỏa (Linh), Kỵ thì tình trường của đương số sẽ gặp những bất hạnh, những oan nghiệt trớ trêu khó cứu vãn. Hay khi đi cùng Liêm, Tham thì đương số là người hết sức dâm đãng, có thể làm nghề đĩ đực hoặc gái làng chơi, hoặc khi đi cùng với Thiên Đồng, Thiên Lương tại Tỵ, Hợi sẽ là người khờ dại, mắc lưới tình của kẻ thủ đoạn (trường hợp này, tử vi cho rằng chỉ khi ở Mệnh của phụ nữ nhưng theo quan điểm của người viết thì dù ở Mệnh nam cũng nên hiểu như vậy).
&- Hồng Loan:
Hồng Loan (Hồng) là sao Thủy, tượng trưng cho công dung ngôn hạnh, cho thành công trong thi cử, cưới hỏi. Đây là sao thiên về tình yêu cao thượng, quyến rũ tình yêu của người khác bằng đức hạnh, nên không dễ sa đọa như Đào Hoa.Khi Hồng Loan ở miếu địa thì chủ sự thông minh, hòa nhã, được nhiều người yêu mến nhưng ở các vị trí khác thì Hồng Loan trở nên đa đoan, dâm tà. Tuy nhiên, dù ở vị trí không miếu địa, nết tình của Hồng cũng không lẳng lơ, dâm đãng như Đào.
Không giống như các sao khác là có vị trí đắc địa và vị trí hãm địa, nhưng với 2 sao Đào - Hồng thì không có vị trí nào hãm địa.
Có quan điểm cho Hồng đắc địa tại Tý, Mão, Thìn, Ngọ và Thân (Song An Đỗ Văn Lưu trong cuốn Tử - Vi chỉ nam), nhưng có quan điểm lại cho Hồng chỉ miếu địa khi cư tại Dần, Mão, Tí và Hợi (Tử vi đẩu số toàn thư của La Hồng Tiên do Vũ Tài Lục dịch và bình chú). Sự không thống nhất về vị trí đắc địa của Hồng Loan đã gây khó khăn cho người nghiên cứu về tử vi khi muốn đưa ra lời luận giải. Đây là một trong những mâu thuẫn cố hữu không thể khắc phục của khoa tử vi. Tuy nhiên, đa số quan điểm cho rằng những vị trí tốt của Hồng Loan là 2 cung Mão, Tí và những cung ban ngày từ Dần đến Ngọ.
Khi đi chung với các sao khác, nhất là các sao tình dục, sao sát tinh thì mức độ “dâm” của Hồng thay đổi đáng kể. Chẳng hạn đi với Đào là cách Đào Hồng, mang lại sự an vui; đi với Thiên Không sẽ là người rộng lượng, không thiết tha với vật chất, dễ chán đời, dễ đi tu (khi đồng cung tại Mệnh), nhưng khi đi với các sao tình dục hạng nặng như Tham, Riêu, Thai, Mộc Dục... thì Hồng Loan sẽ trở nên dâm đãng. Còn đi chung với sát tinh sẽ là người gặp phải những ngang trái, thất bại trong tình trường.
&- Liêm Trinh:
Liêm Trinh (Liêm) là sao âm, hành Hỏa, tượng trưng cho sự tham danh vọng, quyền chức, có sức thu hút và quyến rũ người khác phái. Vì thế mới gọi Liêm là Đào Hoa thứ hai, tuy nhiên vì sự chính trực cố hữu nên nết dâm của Liêm không lẳng lơ, sa đọa như Đào hoặc các sao tình dục khác mà chỉ có nghĩa đa tình theo kiểu hào hoa thông thường mà thôi.
Sách tử vi cho rằng: Chỗ nào có Liêm Trinh là chỗ đó có bóng dáng người đẹp, vận nào có Liêm Trinh thì vận ấy có ướt át tình yêu. Cho nên tìm tình yêu không nên tìm ở Hồng, Đào mà tìm ở Liêm Trinh. Nếu Liêm Trinh đi với Đào -Hồng - Hỉ thì mối tình đoan chính và đẹp đẽ, ngược lại, nếu Liêm Trinh đi với tam ám (Riêu - Đà - Kỵ) thì là mối tình sai trái, xấu xa của kẻ cuồng dâm.
Mặc dù Liêm Trinh chính trực, thanh cao khi đắc địa nhưng khi hãm địa thì Liêm Trinh sẽ trở thành dâm đãng, nhất là khi đi đôi với Tham Lang mà không có các sao khác đủ mạnh để khắc chế thì sẽ là người tham dục vô bờ bến đến mức đĩ điếm, bất luận là trai hay gái.
Thông thường, khi đắc địa Liêm biểu hiện sự thành công về tình ái, khi ở hãm địa, Liêm trở thành người dâm đãng. Tuy nhiên, cũng có tác giả lại cho rằng: Không thấy sách nào viết về đào hoa tính và dâm tính khi Liêm ở hãm địa nên Liêm hãm địa chỉ dâm tính trong trường hợp đồng cung với Tham tại Tỵ - Hợi. Theo thiển ý của người viết, khi Liêm Trinh hãm địa, dù ở bất kỳ vị trí nào, nếu không được các sao khác khắc chế sẽ là người dâm đãng.
&- Hoa Cái:
Hoa Cái (Cái) được gọi là đài các tinh, thuộc hành Kim, tượng trưng cho sự quí phái, uy quyền, nổi danh, đỏm dáng, oai vệ và lẳng ngầm.
Trên phương diện tình cảm, Hoa Cái luôn chú trọng tới sự làm dáng, chưng diện, tạo sức quyến rũ để thu hút tình yêu của kẻ khác dành cho mình nhưng lại rất hạn chế việc trao tình yêu của mình cho người khác. Bản chất của Hoa Cái là khao khát ái tình nhưng sự khao khát ấy không phải là dành tình yêu cho người khác mà khao khát được thiên hạ chết mê chết mệt mình, để được trêu đùa, bỡn cợt trước tình cảm của người khác. Trông chờ tình yêu chân thật của sao này là điều viễn tưởng.
Khi đi cùng các sao tình dục khác, (cho dù là Tham, Riêu - những sao tình dục nặng về xác thịt và ân ái bừa bãi) thì nét kiêu bạc của Cái vẫn không thể mất. Chẳng hạn, khi đi cùng Mộc, Riêu thì đương số sẽ là người thích chưng diện, dâm đãng, có thể làm điếm nhưng là loại điếm sang, điếm cao cấp; đi cùng Tướng, Khúc, Mộc, Đào sẽ là người cực kỳ dâm đãng nhưng sự dâm đãng này theo lối vương giả, thích quyến rũ và cặp bồ với những nhân vật nổi tiếng, quyền chức, sang giàu ...
&- Văn Xương - Văn Khúc:
Văn Xương (Xương) thuộc Kim, Văn Khúc (Khúc) thuộc Thủy, cả hai sao này chủ về dục tính, đam mê, khát vọng giầu sang. Khi đắc địa thì  là người thông minh bén nhạy, hiếu học, thích văn chương, mỹ thuật nhưng khi hãm địa thì trở thành dâm đãng, nhát gan, bạc nhược.
Trên phương diện tình cảm thì Xương - Khúc thể hiện đặc tính của người có tâm hồn lãng mạn, đa sầu, đa cảm, dễ buồn, dễ giận. Đặc biệt khi hãm địa thì sẽ dễ sa đọa, lẳng lơ và dâm tính.
Mặc dù ý nghĩa tình tứ, lả lơi, hoa nguyệt của Xương - Khúc thiên về tinh thần nhưng khi đi chung với các sao tình dục khác thì sự tình tứ của Xương - Khúc trở nên dâm đãng. Chẳng hạn đi với Thiên Riêu thì đương số sẽ là người xinh đẹp nhưng lại là người dâm đãng; đi với Thai, Riêu, Mộc thì cực kỳ dâm đãng, phái nam thì có tính cách và tình yêu kiểu phụ nữ (đồng tính luyến ái, hoặc gần như vậy).
Nữ số có Xương - Khúc đắc địa thủ Mệnh, là người tuy được hưởng phú quý nhưng không thoát được tật dâm. Còn khi hãm địa, ngộ ác sát tinh sẽ là người dâm đãng, thô tiện chỉ làm tỳ thiếp, lẽ mọn. Ngay khi ở tam hợp hoặc đối cung có đủ bộ Xương - Khúc, hội với Thiên Cơ, Thái Âm cũng vẫn là người dâm loạn.
Tử vi cho rằng: Xương - Khúc thủ Mệnh là người lãng mạn nhưng khi Xương - Khúc hãm địa mà gặp Đào Hoa thì lại là người hoang tưởng và dâm đãng. Nhất là khi Xương - Khúc gặp thêm cả Đào, Riêu sẽ là người cực kỳ đĩ tính, cho dù khi ấy Xương - Khúc có đắc địa. Đặc biệt khi Xương - Khúc tại cung Quan đi cùng Riêu, Đào thì chắc chắn đương số làm nghề mãi dâm, bất luận là nam hay nữ.
Sách tử vi cũng cho rằng: khi Xương - Khúc đi cùng Đà, Kỵ, nhất là khi hội tụ đủ bộ tam ám (Riêu, Đà, Kỵ) thì nết tình không có cơ hội để bộc phát bởi đương số là kẻ sĩ ẩn dật, không cần tình yêu của người thế tục.
&- Thái Âm:
Thái âm là sao âm, hành Thủy, biểu tượng âm, đại diện cho phái nữ: hiền lành và nhu mì.
Trên phương diện tình cảm, Thái Âm (Nguyệt) chỉ sự hữu duyên, hữu tình và đa tình, đó là những người sống, lý luận và hành xử theo tình cảm, theo kiểu tâm hồn của đàn bà. Khi đắc địa, nhất là khi đóng ở cung âm thì đời sống tình cảm lãng mạn, hữu duyên, đa tình nhưng không bị tai tiếng về tình ái. Chỉ khi ở hãm địa, hoặc khi gặp nhiều sao tình dục khác thì Thái Âm trở nên dâm đãng không kém bất kỳ sao tình dục hạng nặng nào.
Sách Tử Vi cho rằng: Thái Âm đơn thủ ở Tỵ, là người nhu nhược, nhiều nữ tính, chịu nhiều cay đắng, nhất là trong tình trường. Trường hợp này rất bất lợi cho nam Mệnh, tựa như người đàn ông có đời sống tình dục quái dị, oan trái, kiểu như đời sống tình dục của sao Mộc Dục.
Khi Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung ở Dần lại gặp Xương, Riêu thì là người đa tình, sa đọa, ám ảnh về sinh lý đến mức làm thơ văn dâm tình. Nếu không gặp Xương, Riêu thì trong trường hợp này, kể cả khi đồng cung ở Thân, thì sự mơ mộng viển vông, khao khát sinh lý vẫn làm khổ đương số.
Thái Âm hãm địa gặp Thiên Lương chiếu thì đời sống sinh lý hết sức dâm đãng, thay đổi người tình như thay áo, đặc biệt xấu với nữ Mệnh.
Sách Tử Vi cũng chỉ rõ: Khi Thái Âm đồng cung với Thiên Đồng ở Tý thì đó là người phụ nữ đẹp nhưng bạc Mệnh khóc chồng, nhất là hội thờm Tang, Hổ, Khốc, Hư, Riờu thỡ lận đận về chuyện tỡnh duyờn, chuyện gia đỡnh thường không êm đẹp. Hoặc Thái Âm sáng gặp Đào - Hồng - Hỉ thì người đẹp đẽ, nổi tiếng nhưng có thể xấu về tình duyên.
Khi Thái Âm hãm địa gặp Đà La là người ham mê sắc dục, bất hạnh trong tình trường, bất luận là nam hay nữ.
&- Mộ:
Mộ là sao Thổ, tượng trưng cho sự chôn vùi, lầm lẫn, đần độn và dâm dục. Trên phương diện ái tình thì Mộ biểu hiện sự khao khát yêu đương, sự mong muốn ái tình không mấy mạnh mẽ, không mấy cuồng nhiệt như các sao tình dục khác. Có nghĩa, mức độ dâm của sao Mộ chỉ ở mức bình thường, nằm trong khuôn phép giáo lý của xã hội. Đây là nói đến tính dâm đơn thuần của sao Mộ khi không đi cùng các sao tình dục khác, hoặc không chịu sự khắc chế của các sao đi cùng.
Thực tế, Mộ không có mấy nghĩa về tình dục, nhất là khi Mộ đơn thủ.
b. Sao tình dục dành riêng cho phái nữ:
Như trên người viết đã trình bày: Hầu hết các chính tinh khi hãm địa thì ở một góc độ nào đó đều biểu thị cho dục tính của con người, bất luận là nam hay nữ. Thế nhưng quan niệm của Tử Vi, dư âm của tình dục khi chính tinh hãm địa chỉ được đề cập tới phái nữ, tuyệt nhiên không đả động gì tới phái nam. Đây chính là quan điểm kỳ thị, thiếu công bằng của khoa Tử - Vi.
Theo thiển ý của người viết, những sao tình dục được liệt kê dưới đây không hẳn chỉ dành riêng cho phái nữ mà ý nghĩa về đời sống tình dục, nhu cầu tình dục và những vấn đề liên quan tới tình dục sẽ có ý nghĩa chung cho cả 2 giới, nhưng vì quan điểm của Tử - Vi đã phân định như vậy (sao tình dục dành riêng cho phái nữ), người viết đành tuân thủ khi biên soạn để bạn đọc dễ tham chiếu với các tài liệu khác. Dù sao, người viết cũng lưu ý thêm lần nữa rằng: Đã là con người thì nhu cầu tình dục, đời sống tình cảm của mọi người sẽ như nhau, bất luận thuộc giới tính nào nên khi nghiên cứu, khảo luận về ý nghĩa tình dục của các sao tình dục không nên phân biệt giữa nam và nữ.
&- Cự Môn:
Cự Môn (Cự) là sao Âm, thuộc hành Thủy, tượng trưng cho cái mồm cho nên Cự chủ về ngôn ngữ và sự thị phi của thiên hạ.
Trên phương diện tình cảm, người Cự Môn không bao giờ chấp nhận thứ tình cảm vô tư trong sáng như người đời, tất tật đều được người Cự Môn so đo tính toán hơn thiệt. Đừng trông chờ ở Cự Môn một ân sủng vì Cự Môn chỉ có lý chứ không có tình. Đặc tính đó làm cho đời sống tình cảm của Cự luôn gặp trắc trở, nhất là khi Cự ở hãm địa. Dù ở miếu địa, mà gặp Hoá Kỵ, Cự Môn cũng trở thành một kẻ thất bại trên tình trường, còn làm người ta khinh ghét do bản chất đa ngôn, hay sinh chuyện của mình, nhất là khi nữ Mệnh gặp thêm Không - Kiếp thì sẽ là người thất trinh, thất tiết. Khi Cự hãm địa, gặp Kình, Đà sẽ là người có bệnh nan y, nếu không có bệnh thì là trộm cắp, đàng điếm, lăng loàn.
Trong cuốn Tử vi tổng hợp, tác giả Nguyễn Phát Lộc cho rằng: “Nhiều tác giả ghi nhận sao này có nhiều dâm đãng nếu đóng ở Mệnh, Thân của nữ số. Kỳ thật, sao này không mấy có nghĩa đó một cách trực tiếp. Cự Môn hãm địa chỉ một tâm trạng bất mãn nói chung chớ không nhất thiết bất mãn về sinh lý. Nữ số có Cự Môn hãm địa có thể gặp nhiều ngang trái, nhưng không hẳn là phải dâm đãng.” Theo thiển ý của người viết, quan điểm này khó chấp nhận bởi thực tế, khi quan sát những lá số có Cự Môn hãm địa ở Mệnh (Thân) nữ số thì đời sống tình dục của đương số quả thật thuộc loại lăng loàn, đĩ điếm (phần nhiều do cuộc sống lứa đôi gặp trục trặc hoặc không hòa hợp về sinh lý). Ngay trường hợp được Triệt án ngữ hoặc Lộc Tồn đồng cung mà đường tình ái vẫn mang dấu ấn của kẻ đa ngôn, dâm tiện. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp Cự Môn hãm địa tại Mệnh, Thân (nhất là khi Thân - Mệnh đồng cung) gặp Lộc Tồn đồng cung mà lại có Triệt án ngữ thì chắc chắn nữ số là người có chồng nhưng vẫn đèo bòng vài mối tình bất chính.
Rất tiếc, người viết chưa có cơ may được tiếp xúc với những lá số của nam giới ở những trường hợp tương tự nên không thể đưa ra lời kết luận có tính khái quát.
Nhiều quan điểm cho rằng khi Cự Môn hãm địa thủ Mệnh (Thân) của nữ số sẽ là người hình phu khắc tử, ưa chuyện dâm bôn, nhất là người tuổi Đinh gặp cách này sẽ là người cực kỳ dâm đãng. Thậm chí ngay cả khi đồng cung cùng Thiên Cơ tại Mão, Dậu thì tuy được hưởng phú quý nhưng vẫn là người dâm dật, ti tiện.
Như vậy, Cự Môn thật sự là sao bất hạnh với nữ số về hạnh phúc gia đình.
&- Thiên Không:
Thiên Không thuộc hành Hỏa, tượng trưng cho sự mất mát, giải thoát, hư danh, gian hùng, quỷ quyệt. Đây là sao của hạng người lưu manh, gian hùng, bất chính.
Trên phương diện tình ái, Thiên Không luôn là kẻ xảo trá, đa mưu, tìm các trò xảo thuật để mồi chài, lừa phỉnh bạn tình. Tình yêu của Thiên Không sặc mùi xác thịt và thủ đoạn. Khi đi với các dâm tinh, đặc tính thủ đoạn trong ái tình của Thiên Không càng bộc lộ. Chỉ ngoại biệt khi đi với Hồng Loan thì đời sống tình cảm của Thiên Không sẽ không có cơ hội để phát triển: xa lánh tình yêu của thế tục, thích đời sống ẩn dật, tu hành. (Mặc dù vậy, Hi Di Trần Đoàn cho rằng: Đi tu ở cửa thiền cũng vẫn bất chính.)
Nói về Thiên Không, khoa Tử Vi nhất quyết khẳng định là sao của kẻ gió trăng, dâm tiện, bi lụy vì tình khi Thiên Không đóng tại Mệnh của nữ số.
&- Hỏa Tinh, Linh Tinh:
Cả hai đều là sao Hỏa, tượng trưng cho sự tàn sát, tai họa, hỏa hoạn.
Trên phương diện tình ái, chỉ khi ở hãm địa thì Hỏa Tinh (Hỏa), Linh Tinh (Linh) mới trở thành sao dâm. Tuy nhiên, tính dâm của Hỏa, Linh không mấy lộ liễu, cuồng nhiệt như Tham, Riêu mà biểu hiện ở mức độ nhẹ hơn: hoặc tà dâm hoặc tình trường bất khiết. Nếu được các sao khắc chế, nết dâm của Hỏa, Linh sẽ giảm đi nhiều. Còn khi đắc địa, nét tình của Hỏa, Linh thể hiện ở hình thức thông thường: tơ tưởng tới chuyện ái tình hoặc hay nằm mơ chuyện yêu đương.
Với nữ số, khi Hỏa Tinh hãm địa thì dù có được cát tinh tam phương củng chiếu cũng vẫn là người dâm tiện, lắm chồng mà hiếm con. Còn Linh Tinh hãm địa, nếu được cát tinh hóa giải sẽ tránh được chốn dâm ô, nghèo khổ. Hi Di Trần Đoàn cũng khẳng định: Hỏa, Linh hãm địa ở nữ số thì sẽ là kẻ suốt đời lăng nhăng, đi tu chẳng xong mà hoàn tục thì cũng vô luận.
&- Thiên Lương, Thiên Đồng (Thiên Mã):
Nếu xét về bản chất thì Thiên Lương, Thiên Đồng và Thiên Mã không phải là sao dâm tính. Chỉ khi nào tại Tỵ, Hợi thì sự kết hợp: Thiên Lương, Thiên Đồng hoặc Thiên Lương, Thiên Mã mới ẩn chứa sự dâm. Tại 2 vị trí này (Tỵ, Hợi), Lương, Đồng (hoặc Mã) thể hiện sự ham chơi, tính phóng túng với cả nam và nữ. Tuy nhiên, khi ở nữ số thì tính phóng túng ấy mới trở nên lăng nhăng, dâm dật, thay đổi bạn tình như thay áo, còn ở nam số thì bộ sao này không mấy đúng.
Đây là bộ sao không mấy tốt đẹp với số nữ.

II: CÁC SAO HỘI HỌP VÀ Ý NGHĨA DÂM TÍNH CỦA CHÚNG
Ở phần trên, chúng tôi đã giới thiệu về các sao tình dục. Để bạn đọc tiện theo dõi khi tra cứu, chúng tôi biên soạn phần giới thiệu những bộ sao tiêu biểu, thể hiện dâm tính của con người.
Những bộ sao được liệt kê dưới đây ngoài ý nghĩa về tình dục còn có nhiều ý nghĩa khác, chẳng hạn như hình dáng, tính cách, sự nghiệp, tiền tài... nhưng trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ giới thiệu đơn thuần về ý nghĩa tình dục và những bộ sao đó chưa chịu sự khắc chế của các sao khác.
Sự hội họp của các sao tình dục đương nhiên sẽ nói lên tính trăng hoa, đàng điếm của đương số. Càng nhiều sao tình dục hội họp thì dâm tính càng thể hiện mạnh. Nếu liệt kê những bộ sao đó vừa tốn thời gian, vừa không cần thiết, vì thế, chúng tôi chỉ giới thiệu một số bộ sao tiêu biểu khi sao tình dục đi cùng với sao khác, hoặc những bộ sao không hề xuất hiện bóng dáng của sao tình dục nhưng vẫn thể hiện tính dâm của con người ở những trường hợp đặc biệt.
1. Tham,  Vũ đồng cung gặp Phá Quân: Luỵ thân vì sa đọa, tửu sắc.
2. Tham Lang, Tử - Vi đồng cung ở Mão, Dậu: Có nhiều uẩn khúc trong tình trường, là người yếm thế, dễ tìm đến cửa thiền (Nếu gặp thêm Không Kiếp thì càng chắc chắn nhưng sẽ là người đi tu phá giới. Tuy nhiên, nếu Tử Vi găp Không, Kiếp, Đào, Hồng thì lại là người yểu vong)
3. Tham, Kình (hoặc Đà) đồng cung ở Tỵ, Hợi: Giang hồ, lãng tử, hoang đàng.
4. Tham Lang, Thất Sát đồng cung: Trai trộm cướp, gái giang hồ.
5. Tham Lang, Đại, Tiểu Hao: Ngoại tình không lộ liễu, biết giấu diếm những mối tình thầm kín.... giúp đương số giảm tai tiếng về tính dâm ô.
6. Thiên Riêu, Thiên Đồng: Là kẻ háo sắc, thay đào, đổi kép như cơm bữa, dù đã có có vợ có chồng vẫn tham dâm, ngoại tình.
7. Riêu, Tam Minh (Đào, Hồng, Hỉ): Là kẻ cực kỳ gian dối và đĩ bợm.
8. Thiên Riêu, Vũ Khúc, Hóa Khoa: Vì học giỏi, có tài đoán trước sự việc nên cực kỳ dâm đãng
9. Đà La, Văn Xương: Tại hạn hoặc Mệnh là người lóng mạn, nhu cầu quan hệ tỡnh dục rất cao.
10. Kỵ ngộ Đào (Hồng): Mệnh có Hóa Kỵ đồng cung với Đào (Hồng) là người đau khổ vì tình, đàn bà thất tiết, tuổi thọ bị chiết giảm.
11. Thiên Lương, Thái Âm hãm hội chiếu: Nghèo hèn, tha phương lập nghiệp và dâm đãng.
12. Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung ở Dần, Thân gặp Xương, Khúc (Riêu): Dâm đãng, sa đọa, hay làm thơ văn dâm tình.
13. Tử - Vi, Không, Kiếp, Đào, (Hồng) đồng cung: Đa tình và yểu Mệnh.
14. Thái Âm hãm gặp sát tinh: Trai trộm cắp, gái giang hồ, đĩ điếm.
15. Thái Âm, Thiên Đồng cùng cư tại Tý, gặp Tang, Hổ, Khốc, Riêu: Rất ứng hợp với nữ số, đẹp người nhưng bạc mệnh, đa truân, suốt đời phải khóc chồng vì góa bụa liên tiếp.
16. Vũ, Sát, Phá, Liêm ở Mão: Cô đơn, bần hàn.
17. Cự Môn hãm gặp Kình, Đà: Là kẻ trộm cắp, lăng loàn, đĩ điếm.
18. Phá, Tham, Lộc, Mã: Giàu có về tiền bạc nhưng lại là người cực kỳ dâm đãng.
 19. Phá, Phục, Hình, Riêu, Tướng Quân (hoặc Thiên Tướng): Vợ chồng vì ghen tuông mà dẫn đến cảnh giết chết nhau.
20. Phá, Cái, Đào đồng cung: Dâm dục và lăng loàn, sát chồng (ứng nghiệm với nữ số).
21. Thái Dương hãm địa gặp sát tinh: Trai thì trộm cắp, gái thì đa tình, đĩ điếm.
22. Thất Sát ở Tý, Ngọ gặp Kiếp, Riêu: Nam số thì ghét đàn bà, thích sống độc thân, kiểu người đồng tính luyến ái, còn nữ số thì đa tình, đa mang.
23. Cơ, Lương ở Thìn, Tuất gặp Tuần, Triệt hay sát tinh: Gian truân, trắc trở, có số đi tu.
24. Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung tại Tý, gặp Hổ, Khốc, Riêu: Nữ số đẹp người nhưng bạc mệnh, có số khóc chồng.
25. Thiên Đồng, Thiên Lương ở Tỵ, Hợi: Đàn ông phóng đãng, đàn bà dâm dật.
26. Thiên Lương, Thiên Mã đồng cung tại Tỵ, Hợi: Đàn ông hư hỏng, đàn bà đĩ thõa và dâm tiện.
27. Cô (Quả), Đào, Mã: Nhiều nhân tình nhưng các mối tình đó đều sớm nở tối tàn. Đặc biệt nữ số có bộ sao này có thể là gái giang hồ.
28. Cô (Quả), Kỵ, Tuế: Bị bỏ rơi, thất sủng. Đặc biệt nữ số có bộ sao này có thể là gái giang hồ.
29. Đào, Hồng, Đại, Tiểu Hao: Vì tình mà phải tốn kém tiền bạc.
30. Đào (Hồng) cùng sát tinh (nhất là hãm địa): Tình trường nghiệp chướng, gặp nhiều oan trái.
31. Đào, Tràng Sinh (Đế Vượng) đồng cung: Nhiều nhân tình, và những mối tình đó đều đắc thời.
32. Đào, Thiên Mã: Thay đào đổi kép, có mới nới cũ, ưa chuyện dâm bôn.
33. Đào, Thiên Không: Có tài lừa phỉnh, lôi cuốn người khác làm trò đĩ điếm, dâm tiện.
34. Tướng, Phá, Binh, Đào, Hồng: Dâm dục quá mức, loạn luân, loạn dâm.
35. Cự, Kỵ hoặc Cự, Đào (Hồng) hay Cự Tham đồng cung: Dễ bị thủy tai, hay bị bắt bớ giam cầm. Riêng phụ nữ thì hôn nhân trắc trở, bất chính, đau buồn về gia đạo.
36. Phục, Tướng, Đào, Thai: Dụ dỗ người khác làm chuyện dâm bôn. Riêng phái nữ thì thêm bị lừa, thất trinh, thất tiết.
37. Phục, Tướng, Thai, Riêu: Gạ gẫm, bắt cóc phụ nữ làm chuyện dâm bôn. Có thể là tú ông, tú bà.
38. Thai, Phục, Vượng, Tướng: Tiền dâm hậu thú, lang chạ, có con trước khi xây dựng gia đình.
39. Thai, Không, Kiếp: Bị hiếp dâm, có hoang thai hoặc hư thai, phá thai.
40. Tuế, Đào, Hồng: Bị phụ tình, thất tình và cô độc trong tình yêu.
 41. Thiên Không, Hồng Loan: Thích ẩn dật, tu hành, không thích tình yêu người trần tục.
42. Tướng, Đào, Hồng: Đàn bà tơ duyên rắc rối, ngoại dâm, thất tiết. Đàn ông thì hoang dâm vô độ.
43. Xương, Khúc hãm địa: Mệnh có Xương, Khúc hãm địa hội nhiều sát tinh, nhất là Hóa Kỵ nên cùng khổ, cô đơn, nếu không tàn tật tất sẽ yểu tử. Riêng nữ số là người ti tiện, hoặc gái giang hồ nhưng thường chết non.

III. SAO KHẮC CHẾ DÂM TÍNH CỦA SAO TÌNH DỤC
Các sao tình dục khi hội tụ với nhau, không gặp các sao khác khắc chế thì dâm tính của đương số thể hiện mạnh mẽ và bạo liệt. Tuy nhiên, khi các sao tình dục gặp các sao khắc chế dưới đây, tùy theo sự hội tụ của các sao khắc chế mà sẽ quân bình hoặc làm giảm đi nết dâm của đương số.
Cũng cần lưu ý bạn đọc: Khi các sao tình dục bị những sao khác khắc chế, thì không có nghĩa là tính dâm đã bị tuyệt diệt, mà chỉ có ý nghĩa tình dục đã được khắc chế ấy nằm trong giới hạn đạo đức tối thiểu của xã hội.
&- Tử Vi (sáng sủa):
Tử - Vi là sao dương, hành Thổ, tượng trưng cho uy quyền, may mắn và cứu giải.
Trên phương diện tình cảm, đặc tính nổi bật nhất của sao Tử - Vi là đoan chính, ngay thẳng và trung trinh khi ở đắc địa. Đây chính là ưu điểm của Tử - Vi trong việc quân bình được các sao tình dục, kìm chế đáng kể mức độ sa ngã của đương số. Tuy nhiên, sự khắc chế đó chỉ có hiệu lực khi Tử - Vi không bị hung sát tinh xâm phạm.
Công lực khắc chế dâm tính của Tử - Vi càng mạnh hơn khi đi cùng các sao, tạo thành cách: Tử, Phủ  hoặc Tử, Phủ, Vũ, Tướng. Nhưng khi Tử - Vi ở Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) hoặc đi cùng Tham Lang, hung sát tinh... thì hiệu lực khắc chế dâm tính của Tử - Vi bị mất hẳn. 
&- Thái Dương (sáng sủa):
Thái Dưong là sao dương, hành Hỏa, tượng trưng cho sự mạnh mẽ, cứng rắn, danh vọng, tài lộc, thông minh và trung thực. Đức tính nổi bật của Thái Dương khi đắc địa là thông minh và đoan chính. Nhờ đặc tính trên mà dâm tính của các sao tình dục bị Thái Dương chiết giảm khá mạnh. Tuy nhiên, Thái Dương không thể khắc chế được dâm tính của các sao tình dục khi Thái Dương ở hãm địa. Nhất là khi Thái Dương, Thái Âm đồng cung gặp hung sát tinh hội họp thì đương số không nhận được sự cứu giải của Thái Dương mà ngược lại sẽ trở thành kẻ trộm cướp, bôn ba, dâm đãng.
&- Thiên Phủ (sáng sủa):
Thiên Phủ là sao Âm, thuộc hành Thổ, tượng trưng cho quyền lực, uy tín, thiện tâm và tài lộc. So với Tử - Vi thì Thiên Phủ thêm tính cách bao dung, phát lộc và sự bình an. Với các đặc tính đó, Thiên Phủ làm cho con người nhiều may mắn trong cuộc đời, dù ở lĩnh vực công danh, kinh tế hay tình cảm. Đặc biệt khi Thiên Phủ xa lánh Tuần -Triệt, Không - Kiếp thì Thiên Phủ là người rất đoan chính, tiết hạnh. Đặc tính nổi bật này đã giúp Thiên Phủ có hiệu lực rất lớn trong việc khắc chế, kìm hãm dâm tính của các sao tình dục.
Khi Thiên Phủ đi cùng các sao khác, tạo ra cách: Tử, Phủ - Tử, Phủ, Vũ, Tướng hay cách Phủ, Tướng thì dâm tính của các sao tình dục hầu như bị tiết giảm rất nhiều.
Hiệu lực cứu giải về dâm tính của Thiên Phủ, Tử Vi, Thái Dương khi đắc địa có công lực gần như nhau nhưng xét về công lực giải trừ bệnh tật và tai họa nói chung thì trong 3 sao trên, Thiên Phủ là sao hữu hiệu hơn cả. 
&- Thiên Hình:
Thiên Hình thuộc Hỏa, tượng trưng cho dao kéo, nóng nảy, sát phạt, trực tính và tù tội. Trên phương diện tình cảm, Thiên Hình đại diện cho đời sống tình cảm của người bộc trực, đoan chính và không lãng mạn.
Là sao thuộc võ cách nên Thiên Hình không chấp nhận lối sống tình cảm của người ủy mị, lãng mạn. Hơn nữa, trong nết tình của Thiên Hình, nổi bật nhất là sự chính chuyên, mực thước, có sức đề kháng các loại cám dỗ của ái tình bằng nghị lực và ý chí. Đây chính là lợi thế để Thiên Hình có đời sống tình cảm không sa đọa, hư hỏng, kìm hãm, khắc chế tính lả lơi, đĩ bợm của các sao tình dục.
Khi Thiên Hình đắc địa thủ mệnh sẽ là người đoan chính, còn khi hãm địa thì Thiên Hình trở thành sát phạt, cô đơn và thất bại trong tình trường nên Thiên Hình có giá trị khắc chế dâm tính của các sao tình dục khá mạnh, không kém sự kìm hãm dâm tính của các sao Tử, Phủ, Nhật đắc địa.
Có quan điểm cho rằng: Nếu Thiên Hình đắc địa mà gặp Đào, Riêu thì dù có là nữ Mệnh vẫn là người đoan trang, hiền thục. Nhưng có quan điểm lại cho rằng nếu đàn bà có Thiên Hình đắc địa thủ Mệnh mà gặp Riêu đồng cung sẽ là người: Chẳng hại chồng thì cũng phản phu. (Phú Lê Quí Đôn).
&- Ân Quang - Thiên Quý:
Ân Quang thuộc Thổ còn Thiên Quý thuộc Mộc, hai sao tượng trưng cho tính nhân hậu, từ thiện, thành tín, hiếu đễ và chung thủy. Trong đời sống tình cảm, nhất là cuộc sống lứa đôi, hai sao này thể hiện đức tính thủy chung, son sắt, tín nghĩa, trung thành, không ăn ở hai lòng, không có mới nới cũ, không phụ bạc đổi thay nên khi đi cùng các sao tình dục, đặc tính nổi trội này sẽ khắc chế được ý nghĩa trăng hoa, đàng điếm của các sao tình dục.
Nếu Quang, Quý đồng cung cùng các sao đoan chính kể trên thì hiệu lực khắc chế, kìm hãm dâm tính càng thêm mạnh mẽ, giảm thiểu khá nhiều tính ong bướm, lả lơi của đương số, tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Quang, Quý còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, không chỉ đơn thuần vào sự hội tụ của các sao khác nên khi luận giải cần thật cẩn trọng.
&- Lộc Tồn:
Lộc Tồn thuộc hành Thổ, tượng trưng cho tiền bạc, cô đơn (cô độc trong tình cảm, nội tâm) và chậm trễ. Tùy theo cung tọa thủ mà Lộc Tồn sẽ đem lại may mắn hay gây cản trở cho đương số.
Nhận xét về sự khắc chế của Lộc Tồn với các sao dâm tính, và đời sống tình dục của người có Lộc Tồn thủ Mệnh (Thân), tác giả Nguyễn Phát Lộc viết: "Đi với Lộc Tồn, các dâm tinh khó chi phối, chậm ảnh hưởng. Nhưng, Lộc Tồn không hoàn toàn có nghĩa đoan chính: sao này chỉ là cái thắng tạm thời trước ái tình, chớ không bế tỏa nết tình. Nó tượng trưng cho sự dè dặt trong ái tình, sự kén chọn ái tình, từ đó có nghĩa chừng mực và tự chế. Sự chừng mực, sự dè dặt và sự tự chế đó thường bắt nguồn từ sự khó tính của Lộc Tồn. Lộc Tồn là người kén yêu, khó khăn trong ái tình, chỉ yêu những đối tượng chọn lọc và có nhiều tính toán trong tình ái, không bừa bãi như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu. Người có sao Lộc Tồn ít yêu bằng quả tim và thể xác mà thường yêu bằng bộ óc và lý trí. Những mối tình không đúng tiêu chuẩn thì Lộc Tồn tự chế và dè dặt."
Quan điểm của ông Nguyễn Phát Lộc về ý nghĩa tình dục của sao Lộc Tồn được nhiều tác giả khác đồng thuận. Đấy cũng chính là đặc tính cơ bản của sao Lộc Tồn trước tình yêu, tình dục của đời người.
&- Hoá Kỵ:
Hóa Kỵ (Kỵ) là sao Thủy, chủ về sự đố kỵ, hay gây phiền nhiễu, ích kỷ, ghen tuông và vạ miệng, nông nổi, ưa thay đổi, nhưng lại có tài giữ được đất đai, nhà cửa.
Với đặc tính cơ bản là xấu, trừ khi Kỵ gặp các bộ sao tốt nên bản chất của Kỵ là thường gây cản trở, phiền nhiễu cho cuộc sống con người, nhất là trong lĩnh vực tình cảm. Chẳng hạn, khi nữ số có Kỵ gặp Thái Âm sẽ là người máu huyết xấu, không tốt cho việc thụ thai, sinh nở. Còn với nam số, nếu Kỵ đi cùng Riêu sẽ là người dương hư, thận suy. Khi đồng cung với Liêm, Tham thì dâm tính, cũng như những cái xấu do 2 sao này đem lại sẽ bị Hóa Kỵ khắc chế, hóa giải khá mạnh.
Đây là sao không mấy lợi cho đời sống tình cảm của con người.
&- Tứ Đức:
Tứ Đức gồm 4 sao: Long Đức thuộc hành Thủy, Nguyệt Đức thuộc hành Hỏa, Phúc Đức thuộc hành Thổ và Thiên Đức thuộc hành Hỏa. Đây là bộ sao tượng trưng cho đức hạnh, lòng từ thiện, tính nhân hậu, thiện tâm của con người. Chính vì đặc tính đoan chính, đạo đức của Tứ Đức mà nết sa đọa của con người bị kìm hãm.
Vì là những sao cứu giải nhỏ nên chỉ khi đủ bốn sao hội tụ thì hiệu lực cứu giải mới đủ mạnh để kìm chế dâm tính của các sao tình dục, tuy nhiên, sức cứu giải của bốn sao này vẫn không đủ mạnh để khắc chế các sao tình dục hạng nặng như Tham Lang, Thiên Riêu, Đào Hoa... mà chỉ có hiệu lực với các sao tình dục tầm thường.
&- Tuần - Triệt:
Triệt, Tuần là hai sao quan trọng, chi phối các cung, các sao, biến tốt thành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu. Đây là 2 sao đặc biệt nhất trong hàng sao can. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất Triệt, Tuần thuộc hành gì nên còn gây nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số.
Chúng ta đều biết: Tuần, Triệt đóng ở đâu thì ở đó có cảm tưởng tuyệt vọng, vì Triệt đồng nghĩa với tiêu tan, xóa bỏ tất cả, Tuần đồng nghĩa với giam hãm, trói buộc không tha. Do vậy, khi các sao tình dục đi với Triệt, Tuần sẽ thiếu cơ hội để bộc phát dâm tính, con người như sống trong một môi trường bị ngăn trở, ngang trái, giam hãm, o bế tình cảm. Trường hợp này, các sao tình dục hầu như khó phát huy được dâm tính.
Lý thuyết thì là vậy, nhưng thực tế, đôi khi Tuần, Triệt chỉ hạn chế dâm tính ở một chừng mực, một giai đoạn chứ không hẳn là vậy, vì còn phụ thuộc vào sự hội tụ ít hay nhiều và mức độ nặng nhẹ của các sao tình dục, cũng như các cung mà Tuần, Triệt án ngữ hoặc những trường hợp ngoại biệt mà đương số được hưởng.
Cũng chưa thấy sách nào nói khi các dâm tinh gặp Tuần, Triệt thì đương số liệu có trở thành người đoan chính hay diệt dục? Hoặc trong trường hợp Tuần, Triệt đồng cung thì dâm tính sẽ bị tuyệt diệt hay có cơ hội để phát triển mạnh hơn? Đây chính là một nghi vấn rất lớn, gây ngộ nhận khác nhau vì thiếu lý thuyết căn bản để làm căn cứ. Tốt nhất, việc nghiên cứu cụ thể lá số là điều tối quan trọng khi đưa ra lời luận giải.

LỜI KẾT:
Sự hội tụ của các sao tình dục tại Mệnh, Thân nói lên xu hướng dâm tính của đương số, càng tụ tập nhiều sao tình dục, nhất là sao tình dục hạng nặng thì đời sống sinh lý càng trở nên dâm loạn. Tuy nhiên, khi đi cùng các sao khắc chế tình dục thì tính dâm của đương số sẽ được quân bình hoặc giảm đi đáng kể.
Hoàn cảnh sống, môi trường sống và quan niệm về ái, ố, hỉ, nộ của xã hội .... cũng cần phải được lưu ý, cân nhắc để đưa ra lời luận giải. Không thể chỉ căn cứ vào biểu hiện trên của lá số mà vội đưa ra lời kết luận, vì như thế là cứng nhắc, không linh hoạt, dễ đưa ra lời luận giải không chính xác.
Chẳng hạn, có 2 lá số trùng ngày, giờ, năm tháng sinh và cùng đều là nam số, với sự hội tụ đông đảo của các sao tình dục ở Mệnh, nhưng khi luận giải không thể khẳng định cường độ dâm tính của 2 người đó như nhau. Ví dụ, 2 người đó, một người sống ở thành phố, một người sống ở nông thôn thì đương nhiên người sống ở thành phố sẽ có cơ hội để dâm tính phát triển hơn người sống ở nông thôn; người giàu có, nổi tiếng có điều kiện để tính trăng hoa đĩ bợm “phát tiết” hơn người nghèo khó, vô danh. Hay người trẻ tuổi dục tính dễ bộc phát và bạo liệt hơn người tuổi già.... Vì thế, trước khi đưa ra lời luận giải, người coi số cần cẩn thận suy xét nhiều yếu tố thì lời luận giải mới có giá trị.


VỊ TRÍ CỦA NHẬT - NGUYỆT
TRÊN LÁ SỐ
*
Khi xem lá số, điều quan trọng là phải tìm xem sao NHẬT - NGUYỆT đóng ở vị trí nào để phối hợp luận giải cùng các cung khác. Vì hai sao này tượng trưng cho ảnh hưởng của cha, mẹ, chồng, vợ và hai giòng nội, ngoại (Thái Dương biểu tượng cho người cha, người chồng, họ nội còn THÁI ÂM tượng trưng cho người mẹ, người vợ và họ ngoại) nên khi xem số phải được cân nhắc để bổ túc cho những ý nghĩa được thể hiện trong các cung Phụ Mẫu, Phu Thê, Thân, Mệnh...
Đây là hai sao tối quan trọng của khoa Tử Vi vì thông qua hai sao Nhật (Dương), Nguyệt (Âm), người xem số có thể thấy được một số nét chính về gia đình và cuộc đời  của đương số.
Chẳng  hạn: Cả hai sao Âm Dương đều miếu vượng tất lúc nhỏ đương số được bố mẹ chăm sóc chu đáo, cuộc sống có nhiều thuận lợi, nếu hãm địa thì tiên quyết đương số có tuổi thơ vất vả, hoặc khắc cha khắc mẹ. Hay với nữ số, khi NHẬT hãm địa thì tiên quyết rằng cuộc sống gia đạo sẽ gặp nhiều trắc trở, nhất là khi NHẬT hãm lại gặp sát tinh: muộn lập gia đình, làm lẽ, cô đơn, khắc chồng… Điều này càng chính xác khi NHẬT an tại cung Phu Thê hoặc Thân, Mệnh.
 Thông qua vị trí của hai sao Nhật, Nguyệt trên lá số, người xem số còn có thể phần nào đoán được tiền tài, sự nghiệp và hạnh phúc gia đạo của đương số nên việc nghiên cứu kỹ thế đứng của Nhật - Nguyệt trên lá số là điều tối cần với người xem số.

1. THẾ ĐỨNG CỦA NHẬT - NGUYỆT TRÊN LÁ SỐ VÀ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH:
Nếu Nhật Nguyệt hãm địa thì vợ chồng dễ xung khắc, dễ bỏ nhau hoặc xa cách, chia ly, nhưng nếu tại Thìn Tuất thì lại khó bỏ.
Nhật - Nguyệt đều miếu vượng thì vợ chồng khó có chuyện bỏ nhau, mà thường tương đắc, trừ phi gặp sao khắc kỵ với Nhật - Nguyệt, nhưng nếu Nhật - Nguyệt miếu vượng tại Thìn, Tuất thì vợ chồng tương đắc về sở thích nhưng lại hay tranh cãi nhau. 
Âm - Dương cách cung (ví dụ như Nhật tại Dần, Nguyệt tại Tí…) thì vợ chồng chia ly, hoặc ít gần nhau (do công vụ....).
Mệnh giáp Âm - Dương lạc hãm thì vợ chồng cũng dễ xa cách nhau hoặc chia ly, nếu gặp Tuần Triệt thì hạnh phúc gia đạo cũng bất ổn dẫn đến chuyện bỏ nhau nhưng bỏ chậm.
Nhật - Nguyệt tại Sửu Mùi thì vợ chồng thường không nhường nhịn nhau nên dễ đưa đến bất hòa. Hạn đến thì sẽ có chuyện tranh chấp giữa vợ chồng, dễ đưa đến chia ly, nếu chưa có gia đình thì không thể lập gia đình trong giai đoạn này được.
Hạn rơi vào Âm Dương thủ hạn cũng quan trọng, thông thường dễ liên quan đến chồng hoặc cha nếu gặp Thái Dương, và mẹ hoặc vợ nếu gặp Thái Âm
Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại có chuyện vấn vương về tình cảm
Âm Dương sáng sủa thì cha mẹ thông thường thọ, còn lạc hãm thì không thể kết luận về sự thọ yểu của cha mẹ được
Nữ nhân có Thái Âm lạc hãm thì kinh nguyệt không đều, ít nhất là xảy ra trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và thông thường sinh lý không mạnh, không có nhiều hứng cảm khi làm tình. Nếu Thái Âm sáng sủa thì kinh nguyệt điều hòa
Nam số có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý có vấn đề như: xuất tinh sớm, bất lực hoặc sinh lý yếu, chất lượng tinh trùng kém... Nếu Thái Dương sáng sủa thì sinh lý mạnh khoẻ, âu đó cũng là một điều kiện để đưa đến hạnh phúc gia đình được suôn sẻ.

2. SAOTHÁI DƯƠNG:
1.2- CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ SAO THÁI DƯƠNG:
Thái Dương là dương hỏa tượng trưng mắt bên trái, đại diện cho người cha, cho ánh sáng của lý trí, của sự thông minh kiêu hãnh. Thái Dương ban phát ân huệ một cách vô tư, không đòi đáp lại. Được hưởng ân huệ của Thái Dương nhiều nhất là người mệnh Hỏa, thứ nhì là mệnh Thổ, các mệnh Kim - Thủy - Mộc hưởng như nhau. Dù đóng bất cứ tại cung nào, Thái Dương cũng ảnh hưởng mạnh đến cuộc đời của đương số.
Khi gặp Tuần, Triệt nếu Thái Dương miếu vượng thì Tuần Triệt chỉ có thể gây khó khăn giai đoạn đầu, còn về sau vẫn phát triển rực rỡ, nhưng nếu Thái Dương hãm thì những cái xấu bị chế giảm bớt cho may mắn hơn, dễ chịu hơn chứ không thể làm mất hết cái hãm của Nhật để tốt lên như Nhật đắc, miếu được.
Thái Dương là Dương tinh nên chính vị ở các cung Dương, hợp với các tuổi Dương và đặc biệt phù trợ mạnh cho những người sinh ban ngày. Nam số có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý có vấn đề như: xuất tinh sớm, bất lực, ... Nếu Thái Dương sáng sủa thì sinh lý mạnh khoẻ, một điều kiện đưa đến hạnh phúc gia đạo.
Khi Thái Dương miếu vượng sẽ hóa khí là Quyền và Lộc ngoài ra còn là biểu tượng của Trí tuệ thông thái, cho nên đóng cung nào giáng phúc cho cung đó, nhưng tốt nhất là ở Mệnh hay Quan Lộc.
Thái Dương hãm, dù đóng bất cứ nơi nào cũng phải luận đoán là tuổi trẻ buồn nhiều hơn vui, về hậu vận mới được thanh nhàn. Trong trường hợp này nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là phản vi kỳ cách, gặp Tuần Triệt thì những cái xấu sẽ giảm đi. Tuy nhiên, dù có phản vi kỳ cách hay gặp Tuần Triệt thì đương số cũng phải nỗ lực nhiều mới mong được hưởng cảnh “tiền bần hậu phú”.
Thái Dương miếu vượng là người cao vừa tầm, trắng trẻo, thông minh, rộng rãi nhưng dù ít dù nhiều cũng có tính kiêu căng. Đi với Văn Xương hay Song Hao miếu là người thông kim bác cổ, học một biết mười, là người dong dỏng, dáng thư sinh và khuôn mặt đẹp. Đi cùng Đà La là người thấp vừa tầm, khôn ngoan nhưng thâm hiểm. Đi cùng Không, Kiếp thì mặt hay bị mụn, trí thông minh bình thường. Khi Không Kiếp miếu là người nóng nảy liều lĩnh, dám nghĩ dám làm. Đi với Quang Quý sẽ làm cho tính kiêu căng của Thái Dương giảm đi rất nhiều, trở nên nhân ái từ hòa hơn. Đi với Hóa Kỵ dễ mắc bệnh về trí óc và cả nghĩ.
Thái Thứ Lang cho rằng, những người có Thái Dương hãm địa thủ mệnh là những người có thân hình nhỏ nhắn, cao vừa tầm, mặt choắt, hơi gầy, má hóp, mắt lộ, thần sắc kém và da xanh xám, vẻ mặt u buồn, tính tình tuy nhân hậu, từ thiện nhưng lại kém thông minh, ương gàn, khắc nghiệt và không bền chí.
Thái Dương đắc địa trở nên khi đi với các sao Hỏa, Linh hay đóng ở những cung Dương Hỏa (?) có thể bị loạn thần, loạn trí. Những bệnh này cũng có thể xảy ra nếu Nhật hãm địa bị Tuần, Triệt án ngữ.
Những người Mệnh có Thái Dương hãm địa tại Hợi, Tý là những người nho nhã, từ thiện, say mê văn chương, triết lý nên thường là những nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng.
Chỉ khi Thái Dương ở Sửu, Mùi mà gặp Hóa Kỵ thì tốt, còn ở các cung khác rất cần tránh xa Hóa Kỵ.
Khi gặp Thiên Hình đồng cung thì chắc chắn sẽ có tật ở mắt. Thái Dương dù đắc địa hay hãm địa mà gặp Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Riêu sẽ khổ sở, vất vả, thường gặp tai nạn và tuổi thọ bị chiết giảm.
Thái Dương hãm địa mà gặp Kình (Đà), Kỵ thường là người đau mắt, cận thị, có thể bị mù và kém thông minh… nếu có thêm Hình, Kiếp Sát rất dễ bị mổ mắt.
Thái Dương đắc địa là người rất thông minh, thẳng thắn nhưng hơi nóng nảy, chuyên quyền nhưng nhân hậu, từ thiện, thích triết lý. Gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như: Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất sẽ là người giàu sang phú quý, phúc thọ song toàn.
Thái Dương ghét lũ Riêu, Đà, Kỵ vì gặp lũ Tam ám này thì bị miệng tiếng, bản thân cũng có điều mờ ám.
Nhật hãm ngộ Xương, Khúc, Tam Hóa là người có dáng dong dỏng cao, trắng trẻo, thông minh, biết tận dụng thời cơ, anh hùng trong thời loạn. Nếu Nhật hãm mà không gặp được các sao trên là người có hình thức thấp bé và xấu xí, tính đã cố chấp, ngu độn mà còn nặng bảo thủ.
2.2- VỊ TRÍ ĐỨNG CỦA SAO THÁI DƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN 12 CUNG:
Thái Dương ở Tý:
Tý là cung dương, Nhật ở đây bị hãm, rất nguy hiểm, rất cần được Tuần, Triệt án ngữ. Nhật hãm ở Tý nguy hại nhất cho người tuổi Giáp, vì tuổi Giáp khi ấy Thái Dương, Hóa Kỵ đồng cung, Nhật đã hãm lại còn gặp Kỵ nữa thì càng xấu, mặc dù Hóa Kỵ vượng ở Tý. Trường hợp này nếu có được Tam Minh sẽ làm cho Thái Dương quang đãng hơn, đương số bớt khổ hơn.
Người có Thái Dương hãm địa tại Tý thường là những người ham thích nghiên cứu văn hóa nghệ thụât, sống trung thực, rất ghét sự dối trá, gian tà. Họ là người tài giỏi nhưng bất đắc chí. Ngoại trừ người tuổi Bính, Đinh thì được giàu sang tín nghĩa, kỳ dư các tuổi khác đều không may mắn trong cuộc đời.
Thái Dương cư Tý sẽ có Cự Môn hãm địa ở Thìn tam hợp chiếu nên rất cần được Tuần, Triệt hoặc Tam Hóa hội họp để chiết giảm cái xấu của Cự, Nhật hãm địa. Trường hợp này dù có được Tam Hóa cũng không xem là phản vi kỳ cách, mà chỉ coi là cái xấu sẽ giảm đi, cái tốt tăng lên để cuộc đời đương số được dễ chịu hơn, may mắn hơn về lúc hậu vận.
Nguy hiểm nhất là gặp Đà La sẽ làm cho cuộc đời đương số hung hoạ triền miên, cuộc đời đau thương không còn gì để so sánh. (Vì ngay cả khi Thái Dương ở nơi vượng địa thì Đà La (là khắc tinh của Nhật - Nguyêt) cũng phá hết cách đẹp của đương số, nhưng nếu gặp Tứ Linh cũng làm cho bớt xấu, nếu có thêm cả Hóa Khoa nữa thì Đà La chỉ còn gây họa vừa vừa thôi, không còn là phá cách.)
Thái Dương ở Sửu:
những vị trí (tại Sửu - Mùi) này, con người còn có nội tâm đặc biệt, đó là người luôn day dứt nội tâm, cầu toàn, kiểu làm xong việc gì cũng ân hận, không làm được việc gì cũng ân hận… Tuy nhiên đây là kiểu người phong lưu công tử nhưng tuổi trẻ bất hiển công danh.
Tại cung Sửu, Thái Dương đắc địa đồng cung với Thái Âm. Lúc này hai nguồn sáng Nhật - Nguyệt phá nhau, rất cần có sao TUẦN hoặc sao KỴ đồng cung để ngăn cản sự tranh chấp giữa Nhật và Nguyệt. Sao Triệt cũng tốt nhưng không bằng hai sao trên.
Ngoài ra nếu có sao Thiên Tài cũng tốt. Nhật ở Sửu nếu không có các sao trên thì bình thường, cả đời bất đắc chí.
Tuy nhiên, nếu Nhật - Nguyệt đồng cung tại Sửu - Mùi thì ở Sửu sẽ tốt hơn ở Mùi về công danh, sự nghiệp vì lúc bấy giờ ánh trăng tuy đã tàn nhưng bình minh đang ló sáng, báo hiệu sự vất vả, khó nhọc thủa thiếu thời sẽ gây dựng được sự nghiệp cho tương lai, dầu vậy thì “cơm no áo ấm” vẫn không thể bằng khi Thái Dương cư  Mùi.
Thái Dương ở Dần:
Cung Dần là cung mà Thiếu Dương bắt đầu hình thành. Nên khi Thái Dương đóng tại đây (đồng cung với Cự Môn) là nơi vượng địa, tuy ban đầu phải vất vả, cơ cực nhưng cuộc đời càng về sau càng sung túc, vinh hiển. (Có sách cho rằng, khi Thái Dương đắc địa tại Dần sẽ là người sướng từ trong trứng sướng ra, thích văn chương nghệ thuật nhưng về già sẽ dở dang sự nghiệp. Quan điểm này khó chấp nhận bởi thực tế người có Cự - Nhật đồng cung tại Dần phần nhiều có tuổi thơ vất vả, họ được gia đình yêu quý, tin tưởng vì tài năng, đức độ và bước đường công danh, sự nghiệp của họ càng về sau càng phát đạt.)
Khi đồng cung tại Dần, CỰ - NHẬT đều vượng, sẽ giao thoa nhau tăng mạnh ảnh hưởng lên rất nhiều, không những ảnh hưởng mạnh tại chính cung mà còn ảnh hưởng mạnh đến cung xung chiếu và hai cung tam hợp. Thành ra Mệnh CỰ - NHẬT tại Dần cho các tuổi Mộ, nếu đắc vòng Thái Tuế nữa thì toàn mỹ bởi vì cung Quan ,Tài chịu ảnh hưởng của Cự Nhật chiếu đến có thể xem như có CỰ - NHẬT tọa thủ, hội thêm Long - Hổ - Cái, cung Di sẽ có Mã ngộ Khốc - Khách, được Nhật, Nguyệt hợp chiếu, chính là Thư Hùng mã vậy. Nếu Mệnh có CỰ - NHẬT không đắc Thái Tuế thì chỉ có danh tiếng, thông minh chứ không quyền cao chức trọng, giàu có. (Mệnh vô chính diệu có CỰ - NHẬT chiếu cũng rất tốt)
 CỰ - NHẬT ở Dần gặp Tuần Triệt cũng không sợ, bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, Cự Môn vượng lại rất cần Tuần, Triệt làm vỡ đá ra để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng. Nếu gặp thêm Song Hao nữa thì thật toàn mỹ. Song Hao miếu sẽ cản tác dụng của Triệt, Tuần lại làm cho Thái Dương không bị cản ngăn, ngoài ra có Song Hao Cự Môn đã đẹp lại càng thêm đẹp. Hội thêm Xương, Khúc, Tả, Hữu, Khoa, Lộc, Quyền, Khôi, Việt, Quang, Quý thì là số tối quý, làm nên sự nghiệp rực rỡ. Tuy nhiên, rất hiếm có lá số nào được như thế.
CỰ - NHẬT tại Dần rất kỵ Lộc Tồn đồng cung, vì nếu gặp Lộc Tồn đồng cung thì chẳng khác nào Ngọc Quý bị che mất. Trường hợp CỰ - NHẬT tại Dần, Thân cũng tối kỵ gặp Kình, Đà, Kỵ, nếu gặp thì sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh, Hỏa không đáng lo, gặp Không, Kiếp thì đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng. 
Khi CỰ - NHẬT đồng cung rất cần Xương, Khúc, Tả, Hữu nếu có Quang, Quý ở Quan và Di chiếu về thì làm cho Thái Dương trở nên hòa dịu hơn, bớt kiêu căng (xin lưu ý Nhật miếu vương thủ Mệnh bao giờ cũng có tính kiêu căng, không ít thì nhiều).
Thái Dương ở Mão:
Nhật ở Mão (có Thiên Lương đi cùng) là Nhật vào nơi đất Phật nên bản tính nhân hậu, vị tha, có lòng thương người và tuổi thọ tương đối cao. Khi NHẬT - LƯƠNG đồng cung ở Mão sẽ tạo thành cách Nhật xuất lôi môn. Người có cách này tất được Thái Âm miếu ở Hợi chiếu về. Nếu cung Mệnh hay Thân an ở Mùi được NHẬT -  LƯƠNG chiếu về thì gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, rất tốt. Nếu hội đủ Xương, Khúc, Khoa, Quyền, Lộc, Tả, Hữu là người rất thông minh, có tài kinh bang tế thế, hơn thế còn là người nhân hậu, bác ái.
Bộ NHẬT - LƯƠNG rất kỵ đồng cung với Hóa Kỵ và Lục Sát tinh sẽ thành ra phá cách. Nếu gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên trong trường hợp này rất cần có Tả, Hữu, Xương, Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt.
Thái Dương ở Thìn:
Thái Dương ở Thìn như Mặt Trời sáng tỏ lúc bình minh, rất đẹp, được Thái Âm miếu ở Tuất xung chiếu, hội đủ cả hai nguồn sáng Âm Dương thì thật là cực quý.
Trường hợp nếu Mệnh đóng ở Thìn sẽ được gọi là cách Nhật Nguyệt tranh huy. Người có cách này rất thông minh, nhân ái, có chí lớn hơn người. Nếu có thêm Xương, Khúc, Tả, Hữu, Quang, Quý hội tụ nữa thì thật là cực quý. Nếu lại đắc vòng Thái Tuế nữa sẽ có thêm Long, Phượng, Mã hội tụ, làm cho NHẬT - NGUYỆT đã đẹp càng thêm đẹp. Nếu không đắc được vòng Thái Tuế sẽ được đền bù bằng Tam Minh, tuy nhiên sẽ không được đẹp bằng đắc vòng Thái Tuế.
Thái Dương ở Tỵ:
Khi Thái Dương miếu địa ở Tỵ thì rất sáng, được Thái Âm cũng sáng ở Dậu hợp chiếu tạo thành cách Nhật Nguyệt tịnh minh, là người uy tín, đức độ, công danh vinh hiển, tuy nhiên sẽ không được tốt như ở Thìn, hay CỰ - NHẬT đồng cung tại Dần. Trường hợp này, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ cũng không đáng lo ngại.
Trường hợp Thái Dương ở Tỵ, nếu Mệnh an ở Sửu sẽ có sao Thiên Lương tọa thủ, thì sẽ không được hưởng cách Nhật Nguyệt tịnh minh. Dẫu vậy, đương số vẫn được hưởng sự giàu sang phú quý, dĩ nhiên là không thể bằng Nhật Nguyệt tịnh minh, Nhật Nguyệt tranh huy hay CỰ - NHẬT ở Dần.
Trường hợp Mệnh đóng tại Tỵ sẽ được Cự Môn tại Hợi xung chiếu. CỰ - NHẬT lúc này tách rời nhau ra, nên dù cả hai sao đều đắc địa cũng không thể cộng hưởng với nhau được, nên người có cách này thì chỉ giàu sang mà không phú quý. Đặc biệt khi Nhật gặp Đà La, Hóa Kỵ thì là phá cách, con người trầm luân bể khổ.
Thái Dương ở Ngọ:
Đây là nơi Thái Dương phát triển đến cực vượng, Thái Dương đóng ở đây là đẹp đẽ nhất, thường là người quyền cao chức trọng, đứng đầu một ngành, ví như mặt trời giữa trưa chói sáng, nhưng ở vị trí được gọi là "Cùng tắc biến" nên rất cần có Tuần, Triệt án ngữ hoặc Thiên Tài đồng cung để ngăn cản sức phát triển đừng lên đến cực điểm của Thái Dương, nếu không về hậu vận sẽ bất đắc chí vì theo quy luật của vạn vật thì khi đã phát triển đến cực điểm thì tất phải đến giai đoạn suy kiệt. Tuy nhiên, sao Triệt hiệu lực không hay bằng sao Tuần vì sao Triệt thì quyết liệt nhưng dễ gỡ còn sao Tuần dai dẳng khó dứt.
Thái Dương cư Ngọ (thủ Mệnh) nếu có thêm Văn Xương đồng cung thì là người thông thái và làm quan to, nếu không có Tuần - Triệt án ngữ hay Thiên Tài đồng cung thì hậu vận sẽ có lần ôm hận về công danh.
Trong trường hợp này (Nhật cư Ngọ), Thái Dương nên đóng ở cung Quan Lộc, được Cự Môn ở Tuất (Tài Bạch) chiếu về Mệnh (ở Dần) vô chính diệu là thượng cách. Cách này tốt nhất cho người mệnh Hỏa, Mệnh Kim, và cung Mệnh ở Dần rất cần có thêm Linh, Hỏa hoặc Bạch Hổ để thành cách Hung tinh độc thủ, được Cự Nhật chiếu về. Tốt nhất là sao Bạch Hổ bởi vì sẽ có Tứ Linh hội hợp, sự nghiệp rạng rỡ lâu bền. Hai sao Linh, Hỏa thì thiên về võ nghiệp, lẫy lừng lắm nhưng cuối đời chắc không toàn vẹn, có thể chết trong uất ức. Nếu có Không, Kiếp độc thủ, cuộc đời lúc lên lúc xuống, lên cũng nhanh mà xuống cũng chóng, nên ly tổ lập nghiệp thì tốt. Nếu có Kình Đà cuộc đời buồn nhiều hơn vui.
Tuy nhiên, tất cả các trường hợp trên đều là người thông minh, cơ mưu, quyền biến.
Thái Dương ở Mùi:
Thái Dương ở Sửu hay Mùi thì công danh khó hiển đạt, tuy nhiên ở Mùi không tốt bằng ở Sửu về công danh, sự nghiệp vì lúc bấy giờ mặt trời tuy chưa tắt nắng nhưng ánh sáng yếu ớt dần, báo hiệu sự nhạt nhòa lúc về già, dầu vậy thì cơm no áo ấm vẫn hơn hẳn khi Thái Dương cư Sửu. Khi Thái Dương đồng cung với Thái Âm tại Sửu, Mùi là hình ảnh tranh chấp nội tâm của người có tài mà không có đất dụng võ, cuộc đời lúc nào cũng ở thế lưỡng nan, ngập ngừng không dứt khoát.
Thái Dương cư Mùi, thường là người không bền chí, chỉ siêng năng buổi đầu, về sau lười biếng, trễ nải dở dang. Ở vị trí này, còn là người luôn day dứt nội tâm, cầu toàn, kiểu làm xong việc gì cũng ân hận, không làm được việc gì cũng ân hận… Tuy nhiên đây là kiểu người phong lưu công tử, nhưng tuổi trẻ bất hiển công danh.
Thái Dương ở Thân:
Thái Dương đóng tại cung Thân, có Cự Môn đi cùng sẽ tạo ra cách "Cự Nhật Dần Thân quan phong tam đại, thực lộc trì danh". Thực ra CỰ - NHẬT ở Thân không thể gọi là đẹp được, càng không thể so sánh với cái đẹp ở Dần vì tại cung Thân là lúc Thiếu Âm bắt đầu phát triển, Nhật bắt đầu suy tàn (tuy Nhật bị hãm nhưng cũng không đáng sợ lắm) nên sức ảnh hưởng của CỰ - NHẬT bị chiết giảm nhiều. Người có Cự - Nhật tại Thân thường có tuổi thơ được sung sướng nhưng về già thì bình thường. Họ là người học giỏi nhưng không làm nên, phần nhiều là người bất đắc chí trong cuộc đời. Họ chỉ siêng năng buổi đầu nhưng về sau trễ nải, lười biếng.
CỰ - NHẬT tại Thân rất cần gặp Đào, Hồng, Hỷ để sáng ra, và tối kỵ gặp phải lũ Tam ám sẽ làm cho cuộc đời đương số gặp nhiều oan trái.
Cũng như CỰ - NHẬT tại Dần, CỰ - NHẬT tại thân cũng tối kỵ gặp Kình, Đà và Hóa Kỵ, sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh, Hỏa không đáng lo, gặp Không, Kiếp đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng.
Thái Dương ở Dậu:
Nhật ở Dậu (có Thiên Lương đi cùng) là Nhật hãm. Dậu cũng là nơi đất Phật, cho nên ở đây tuy bị hãm nhưng bản tính vẫn là người nhân hậu, đức độ, nếu đi tu sẽ dễ đắc đạo.
NHẬT - LƯƠNG cư Dậu tất có Thái Âm hãm ở Tỵ chiếu, cách này rất cần cả Nhật, Nguyệt ngộ Tuần Triệt, Tam Minh, Tam Hóa để đương số mở mày mở mặt. Nếu không được như trên mà lại gặp Tam ám, Lục Sát tinh thì cả đời u mê, đau khổ, chỉ có đi tu mới được yên thân.
Thái Dương ở Tuất:
Người có Thái Dương ở Tuất thì chắc chắn có Thái Âm hãm ở Thìn xung chiếu. Cả hai nguồn sáng Âm Dương này đều mờ nhạt, yếu ớt nên cuộc đời đương số chắc chắn sẽ gặp những gian truân, đau khổ. Những người có Thái Dương ở Tuất thường là những người yêu thích văn chương nhưng bất hiển công danh.
Nhật ở Tuất là Nhật hãm, rất xấu, rất cần gặp Tuần, Triệt, Tam Minh, Tam Hóa hoặc Thiên Không đồng cung để những cái xấu bị chế giảm, để dễ chịu hơn. Nhưng đẹp nhất không phải là gặp Tuần Triệt mà là gặp Tam Hóa, Xương Khúc, Tả Hữu, Quang Quý, lúc này được gọi là phản vi kỳ cách. Người có cách này sẽ làm nên sự nghiệp trong thời loạn. Xương - Khúc, Tả - Hữu, Quang  -Quý miếu vượng sẽ là những trợ thủ đắc lực phò tá Nhật Nguyệt. Tuy nhiên ,có cách này tuổi thiếu niên chắc chắn khổ cực, khắc cha mẹ. Công danh phải từ trung vận trở đi mới sáng sủa.
Thái Dương ở Hợi:
Thái Dương ở Hợi là nơi tối hãm nhất của Nhật, là nơi được gọi là "Cùng tắc biến" nên rất cần gặp được Tam Hóa để thành phản vi kỳ cách. Dĩ nhiên, để được như vậy rất cần hội tụ thêm các trung tinh phò trợ. Một mình Tam Hóa sẽ không làm nên chuyện, chỉ giảm bớt những cái xấu của Nhật hãm địa để đương số may mắn hơn, dễ chịu hơn.
Người có Thái Dương hãm địa tại Hợi thường rất thích việc nghiên cứu văn chương, nghệ thuật, sống trung thực và ghét sự giả dối, gian tà.
Cũng như trường hợp Nhật hãm tại Tuất, trường hợp Nhật hãm tại Hợi cũng rất cần gặp được Tuần, Triệt, Tam Hóa, Tam Minh để chiết giảm những cái xấu, không hay do Nhật hãm đem lại.

3. SAO THÁI ÂM:
1.3- CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ SAO THÁI ÂM:
Thái Âm là biểu tượng cho Mặt Trăng, cho người mẹ, cho con mắt bên phải, tượng trưng cho văn chương, tiền bạc, cho lòng nhân hậu, dịu dàng của giới nữ. Thái Âm với Thái Dương gắn bó với nhau khăng khít để tạo nên một cái nhìn ban đầu sơ lược về cuộc đời đương số.
Thái Âm hóa khí là Lộc cho nên Thái Âm miếu vượng tốt nhất đóng ở cung Tài Bạch và Mệnh.
Thái Âm hóa ra đủ cả bốn Lộc - Quyền - Khoa - Kỵ, cho nên Thái Âm tượng trưng cả cho sự biến hóa không lường trước được.
Tử Vi cho rằng: Đàn ông có Thái Âm ở Mệnh là người rất mềm dẻo, khôn ngoan, giỏi lo làm giàu, thích văn chương nghệ thuật, còn đàn bà nếu có Thái Âm thủ Mệnh là người dịu dàng, tháo vát. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng: Những ý nghĩa đó sẽ trở nên tiêu cực, giảm ý nghĩa tốt đẹp khi Thái Âm hãm địa.
Về diện mạo người có Thái Âm thủ Mệnh thì Tử Vi (Thái Thứ Lang) cho rằng: Thái Âm sáng sủa thì thân hình to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông (có sách chép là mặt tròn), mắt sáng, thần sắc tươi nhuận. Thái Âm hãm địa thì thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài, mắt kém, thần sắc u tối. Thực ra, các ý niệm về tướng mạo trong khoa Tử Vi rất nghèo nàn, thiếu rõ rệt, thường đưa ra những lời nhận xét rất chung chung, mơ hồ, phảng phất nét đẹp của cả hai phái, rất hiếm có sự phân biệt tướng mạo của riêng mỗi phái, vì thế khi xem số, lời luận giải về tướng mạo phụ thuộc khá nhiều vào sự linh hoạt và kinh nghiệm của tùy người giải đoán. 
Vốn là sao Âm nên Thái Âm sẽ chính vị ở những cung Âm, hợp với người tuổi AAAm và phù trì mạnh cho những người sinh vào ban đêm, đặc biệt là những người sinh vào những đêm trăng thượng huyền (từ ngày 10 đến ngày 20). Nhưng có quan điểm lại cho rằng: Khi Thái Âm cư ở cung Âm thì mọi sự tốt đẹp, hay dở sẽ gia tăng so với cung Dương, chẳng hạn: Nếu tốt thì cái tốt ở cung Âm sẽ nhiều hơn khi Thái Âm cư ở cung dDương và ngược lại, khi đã xấu thì cái xấu ở cung Âm sẽ nhiều hơn khi Thái Âm cư ở cung Dương. Quan điểm này không thể chấp nhận bởi lẽ theo dịch lý thì Thái Âm là sao Âm, bao giờ cũng chính vị (và chính vị hơn) ở cung Âm (tất nhiên còn phải căn cứ vào Ngũ hành của cung và bản chất, Ngũ hành các sao đồng cung, phối chiếu mà Thái Âm cư trú), chỉ khi nào Thái Âm ở cung Dương hãm địa được Tam Minh cứu giúp thì Thái Âm mới sáng trở lại nhưng sự sáng trở lại đó cũng không được hoàn mỹ vì bản chất của Thái Âm nếu lạc hãm thì dù có được Tam Minh cứu giải cũng chỉ như một ngôi nhà được thay mái trong giông bão khi mà thực chất cái móng, cái nền ngôi nhà vẫn như cũ. Trường hợp Thái Âm lạc hãm ở cung Dương, được cả Tam Minh, Tam Hóa hội họp thì cực quý, được phản vi kỳ cách nhưng rất tiêc trường hợp này lại rất hiếm.
Trong khi Thái Dương là ánh sáng của lý trí, là biểu tượng của sức mạnh, không ngại đương đầu với khó khăn, cản trở, còn Thái Âm thì nhu hòa uyển chuyển, dễ dàng lùi bước để tiến lên về sau, vì thế mà Thái Âm sợ gặp Tuần - Triệt hơn là Thái Dương.
Ngay cả khi miếu, vượng nếu không có Xương, Khúc, Quang, Quý, Tả, Hữu đi cùng mà gặp Tuần, Triệt thì Thái Âm sẽ trở thành tối hãm, phá cách, cuộc đời bế tắc, còn khi Nguyệt hãm, gặp Tuần, Triệt thì sẽ giảm cái xấu của Thái Âm lạc hãm chứ không làm cho Thái Âm đẹp lên như đắc địa.
Không giống như Thái Dương cơ bản đều phù trợ cho tất cả các tuổi, dù ít hay nhiều nhưng Thái Âm chỉ thật sự phù trì cho người Mệnh Kim, Mệnh Thủy và Mệnh Mộc, còn người Mệnh Hỏa, Mệnh Thổ hầu như không nhận được sự phù trì, che chở của Thái Âm.
Dù ở vị trí miếu vượng, Thái Âm cũng không thể điều khiển được Hỏa, Linh trái lại còn tiềm ẩn những mối họa không nhỏ. Gặp Không, Kiếp, Kình, Đà sẽ trở thành phá cách.
Thái Âm sáng gặp Lộc Tồn thì giàu có, gặp Tam Hóa thì giàu sang, khoa bảng, gặp Xương, Khúc thì thông minh, gặp Tứ Linh thì hiển hách.
Thái Âm không sợ Hóa Kỵ khi miếu vượng, trái lại còn điều khiển được Hóa Kỵ làm cho Thái Âm thêm huy hoàng, tốt đẹp, nhất là khi Hóa Kỵ đồng cung tại Hợi sẽ thành kỳ cách, rất quý. Lúc này Hóa Kỵ mới thật sự xứng đáng được gọi là Mây Ngũ Sắc chầu Thái Âm. Tất nhiên, Thái Âm trong trường hợp này rất cần tránh xa Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh thì Hóa Kỵ mới chịu sự điều khiển của Thái Âm để trở thành Mây Ngũ Sắc trang điểm cho Nguyệt thêm lộng lẫy..
Nếu Thái Âm đồng cung với Hóa Kỵ tại Sửu, Mùi cũng thật toàn mỹ vì lúc bấy giờ Hóa Kỵ phá thế tranh tối tranh sáng của Nhật - Nguyệt làm cho Nhật - Nguyệt đều sáng lên. Nhưng khi Nguyệt ở thế hãm địa, rất cần gặp các sao Tuần, Triệt, Thiên Không, Thiên Tài hay Tam Minh để Nguyệt sáng lên mà tối kỵ gặp Hóa Kỵ, vì Kỵ sẽ làm cho Nguyệt càng thêm tối hãm.
Thái Âm được cặp Tả Phù, Văn Khúc phò tá thì thật chẳng khác gì TỬ - PHỦ có Tả Hữu, Thái Dương có Hữu Bật, Văn Xương đi cùng.
Thái Âm đi với Văn Khúc thì con gái là người xinh đẹp lại có học thức, ăn nói nhẹ nhàng, dịu dàng, còn con trai là người trắng trẻo, tuấn tú, từ thiện, nhân ái.
Thái Âm dù đóng ở bất cứ vị trí nào cũng không nên có thêm Lục Sát Tinh tụ hội (nhất là Đà La). Trường hợp gặp Kình Dương cần có thêm Phượng, Giải, gặp Không, Kiếp cần có Quang, Quý để hóa giải phần nào...
Thái Âm hãm ngộ Đà La thì dù đóng bất cứ vị trí nào trên lá số thì cuộc đời vẫn buồn nhiều hơn vui, càng tệ hại hơn khi đó là nữ số.
Thái Âm đi với Hóa Khoa càng làm tôn lên vẻ tôn quý. Đi với Hóa Lộc thì giàu có, đi với Hóa Quyền là người hơi nóng nảy, nhưng ngoài mặt bao giờ cũng thể hiện sự ôn hòa.
Thái Âm, Thái Dương đều thích có Tam Minh, Tam Hóa, Tứ Linh đi cùng nhưng gặp được Tứ Linh sẽ tốt đẹp nhất vì Tứ Linh không chỉ làm cho Nhật Nguyệt sáng ra mà còn làm cho Nhật Nguyệt càng thêm cao quý. Khi đã có Tứ Linh phù trợ thì dù Nhật - Nguyệt có gặp Sát tinh cũng bớt xấu đi nhiều, ngay cả khi gặp Đà La là khắc tinh của Nhật - Nguyệt, Tứ Linh cũng làm cho bớt xấu nếu có thêm Hóa Khoa nữa thì Đà La chỉ còn gây họa vừa vừa thôi, không còn là phá cách nữa. Nếu đắc Tam Minh mà gặp Đà La vẫn là phá cách cho dù có gặp được đệ nhất cứu giải là Hóa Khoa đi cùng.
Dù đóng ở bất kỳ cung nào, khi Thái Âm đồng cung với Thiên Hình thì cũng là người bị thương tật ở mắt. Thái Âm càng nên tránh xa lũ Sát tinh, Tam ám nếu gặp những sao này, cuộc đời đương số sẽ nghèo hèn, đầy rẫy hung hoạ, phụ nữ có thể hiếm muộn con cái.
2.3- VỊ TRÍ ĐỨNG CỦA SAO THÁI ÂM TRÊN ĐỊA BÀN 12 CUNG:
Thái Âm ở Tý:
Tại Tý là nơi vượng địa, rất đẹp cho Thái Âm, lại đi cùng sao Thiên Đồng cũng vượng địa, nên Mệnh an tại đây là người nhân hậu từ thiện. Con trai là bậc quân sư tài giỏi, ăn nói nhẹ nhàng nhưng đanh thép. Còn con gái nếu hội thêm Tang, Hổ, Khốc, Hư, Riêu thì là người rất đẹp về nhan sắc nhưng là người bạc mệnh, chuyện tình duyên đầy trắc trở.
Nếu cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm ngộ Văn Khúc chắc chắn cung Mệnh ở Dần có Cự - Nhật ngộ Văn Xương, nên con trai có cách này cũng có thể gọi là “Thiềm cung triết quế” lấy vợ là người tài năng xinh đẹp, thật là một đôi trai tài gái sắc. Nhưng nếu là nữ số có cách này sẽ không được gọi là “Thiềm cung triết quế”, tuy không được đẹp như trên nhưng cũng lấy được chồng giàu có, tình nghĩa. Nếu có thêm Kình Dương, rất cần thêm Phượng Các, Giải Thần để làm cho Kình Dương trở nên bớt hung hiểm. Vợ chồng tuy khắc khẩu nhưng vẫn sống với nhau tới đầu bạc răng long.
Nếu gặp thêm Đà La thì dẫu có Phượng Giải cũng không giải cứu được. Lúc này rất cần Quang Quý chiếu về hoặc Hóa Khoa đồng cung để giải bớt hung họa của Đà La. Dù có được thêm sự hội họp cứu giải của Quang Quý, Hóa Khoa thì tác hại của Đà La vẫn không mất hẳn.
Thái Âm ở Tý cùng với Thiên Đồng nếu ngộ thêm Tuần Triệt rất cần Văn Khúc, Tả Phù Quang Quý hội hợp chiếu về, thì sẽ chỉ trắc trở ban đầu, về sau vẫn tốt như thường. Đặc biệt sao Tuần, Triệt trong trường hợp này nếu có đủ Quang Quý Khúc Tả hội hợp về sẽ như cái phanh làm cho sao Thiên Đồng trở nên vững chãi hơn, không hay thay đổi.
Thái Âm ở Sửu:
(Xem Thái Dương ở Sửu)
Thái Âm ở Dần:
Khi cư tại Dần, Thái Âm tối hãm, rất nguy hại cho nữ Mệnh. Trường hợp này rất cần được Tam Minh, Long Phượng và Tam Hóa hội họp để phù trì, nếu không đời sẽ nhiều gian truân, hung họa.
Khi đồng cung với Thiên Cơ tại Dần, cả hai chính tinh đều hãm địa, nếu không được sự cứu giải của các trung tinh thì chắc chắn đương số là người bôn ba, lận đận, gặp nhiều tai nạn và đương nhiên tuổi thọ không cao. Nếu gặp thêm lũ sát tinh, Thiên Hình, Hóa Kỵ thì đương số là người cô độc, tật nguyền, tai họa và bệnh tật rất nặng, chắc chắn là người đoản mệnh.
Vốn dĩ là sao cơ mưu và nhân nghĩa nên khi Thiên Cơ hãm địa tại Dần, nếu hội họp thêm vài sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ thì cơ mưu và nhân nghĩa của Thiên Cơ dễ trở thành lưu manh, thủ đoạn, khiến mọi người khinh ghét.
Nếu gặp Xương, Riêu thì chắc chắn là người sa đọa, đĩ điếm, làm văn thơ dâm tình.
Dù trong bất kỳ trường hợp nào khi Cơ - Nguyệt đồng cung tại Dần rất cần có Tam Minh, Tam Hóa hội họp cùng các trung tinh khác để cứu giúp đương số giảm bớt cô đơn, nghèo nàn và tai họa.
Riêng phụ nữ, nếu gặp cách này còn thêm nghịch cảnh về chồng con, đau đớn vì tình, cuộc đời đong đầy nước mắt.
Thái Âm ở Mão:
Khi Thái Âm đơn thủ ở Mão tuy là hãm địa nhưng vì đóng tại cung Âm nên sự hung họa có phần được giảm bớt, vì thế mà đương số không phải chịu cảnh đói nghèo, khổ sở, hung họa như khi Thái Âm hãm địa tại các cung Dương. Dầu sao thì sự hiển đạt cũng chỉ ở mức trung bình, tuổi thọ cũng bị chiết giảm. Rất cần sự hội họp của các sao tốt đẹp như Tam Minh, Tam Hóa để được phù trì … và tránh xa lũ Sát tinh, Tam Ám để sự may mắn được tăng thêm, giảm thiểu bất hạnh về gia đạo, tuổi thọ.
Theo thiển ý của người viết, trong trường hợp này, dù Thái Âm cư Mão (hay Tỵ) là cung an Mệnh, Thân hay Quan, Phúc... thì đương số cũng là người phúc mỏng, lận đận về đường công danh, gia đình không được hòa thuận, bản thân cũng không được khỏe mạnh. Nếu có điều kiện nên sớm ly hương, tạo nhiều nghiệp thiện để giảm thiểu tai kiếp và được sống lâu hơn.
Thái Âm ở Thìn:
Khi Thái Âm đóng tại Thìn là vị trí lạc hãm, lại gặp Thái Dương cũng lạc hãm tại Tuất trực chiếu, cả hai nguồn ánh sáng này đều rất mờ nhạt, yếu ớt, trong khi Thìn lại là cung Dương nên Thái Âm ở đây càng xấu hơn, chỉ mang lại sự nghèo khổ, thất bại trên nhiều bình diện cho đương số.
Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thương và Hàm Chương (Tử vi khảo luận) thì người có Thái Âm đơn thủ tại Thìn sẽ hưởng “phong lưu qua thăng trầm” và “mất mát nhà cửa” (trang 194, sách đã dẫn). Quan điểm này chưa thấy sánh nào đề cập tới nhưng vì mới, lạ nên người viết lưu ý để đọc giả cân nhắc khi tham khảo.
Dù sao thì khi Thái Âm đơn thủ tại Thìn, ở vị trí lạc hãm như thế chắc chắn sẽ là người bạc phúc, nghèo khổ, phải ly tổ mới mong tạo dựng được cơ nghiệp và đỡ phải lao tâm khổ xác.
Cũng như các trường hợp Thái Âm tối hãm khác, trường hợp này cũng rất cần xa lánh các Sát tinh, Tam Ám để cuộc đời giảm bớt đắng cay, khổ cực. Nếu được Tam Minh, Tam Hóa và các sao tốt đẹp khác hội họp cứu giải thì thật không gì bằng cho đương số.
(Xem thêm Thái Dương ở Tuất)
Thái Âm ở Tỵ:
Mặc dù Thái Âm ở Tỵ là chính vị (sao Âm cư cung Âm) nhưng Ngũ hành của Thái Âm và cung Tỵ là nước với lửa nên khi Thái Âm đơn thủ tại đây là rất xấu. Người có Thái Âm đơn thủ tại cung Tỵ thường là người nhu nhược, bạc phúc, chịu nhiều cay đắng, dù là đàn ông hay đàn bà thì chất nữ tính cũng rất nhiều.
Khi Thái Âm cư Tỵ sẽ gặp Cự - Nhật đều hãm địa ở Thân hợp chiếu (thế nhị hợp). Đây là cách rất xấu của Nhật - Nguyệt, rất cần gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Thiên Không, Thiên Tài đồng cung để cứu giải. Tuy nhiên, người Âm nam, Âm nữ so với người Dương nam, Dương nữ sẽ được chiết giảm về tai ương, họa hại.
Thái Âm ở Ngọ:
Ngọ đã là nơi tối hãm nhất của Thái Âm, lại đồng cung với Thiên Đồng cũng hãm địa nên Đồng - Nguyệt tại đây chính là ở vị trí “Cùng tắc biến”. Đồng - Nguyệt trong trường hợp này phải HÓA được (thành Quyền, Lộc, Khoa, Kỵ) mới thành “Phản vi kỳ cách”. Nếu không, cuộc đời của đương số sẽ không còn gì phải bàn cãi: thất bại, họa hại triền miên và bế tắc.
Trường hợp này, nếu có thêm Kình Dương (Kình Dương thuộc Kim, cư nơi Dương Hỏa cực vượng, cho nên Kình bị hãm rất xấu, mới gọi là cách "Mã đầu đới kiếm") mà Thái Âm hóa ra được cả Khoa, Quyền, Lộc, Kỵ thì Thiên Đồng sẽ là hình ảnh tướng có thực tài, thực quyền cưỡi ngựa đi ra biên cương mà làm nên công trạng. Ngay trong trường hợp này vẫn rất cần có thêm Phượng Các, Giải Thần hóa giải để kìm hãm nguy hại còn rất lớn của Kình Dương hãm tại Ngọ. Tuy nhiên bắt buộc vẫn phải có Tam Hóa mới thành được “Phản vi kỳ cách”, nếu không có Tam Hóa thì dù Thái Âm có Hóa ra được cả bốn khí vẫn là tối hãm và nguy hại như thường.
Cũng nên lưu ý rằng: Đà La là khắc tinh của Nhật - Nguyệt nên khi Đồng - Nguyệt ở Ngọ gặp Đà La thì dù có được Tam Hóa và Phượng, Giải tụ hợp cũng là phá cách, cuộc đời vẫn vui nhiều buồn ít. Ngay cả khi gặp Hỏa, Linh, Không, Kiếp dù không xấu như gặp thêm Đà La nhưng cũng không thể gọi là “Phản vi kỳ cách” được.
Thái Âm ở Mùi:
(Xem Thái Dương ở Mùi)
Thái Âm ở Thân:
Khi Thái Âm ở Thân sẽ đồng cung với sao Thiên Cơ, ở vị trí này cả hai sao Thiên Cơ, Thái Âm đều được vượng địa nên con người có môi trường sống tốt, hay gặp may mắn, bản chất nhân từ, lương thiện, giàu có và hạnh phúc gia đình được xuôi chèo mát mái. Tuy nhiên, Cơ - Nguyệt ở Thân dù tốt đẹp đến đâu cũng là người cả nghĩ, hay ghen, vì thế rất cần có Ân Quang, Thiên Quý chiếu về mới có thể gọi là hoàn toàn tốt đẹp.
Nếu là nữ số, khi Thái Âm ở Thân ngộ Văn Khúc là người thông minh, xinh đẹp. Nếu Mệnh cư tại Thân thì cung Phu - Thê sẽ an tại Ngọ, có Thái Dương (miếu địa) ngộ Văn Xương sẽ lấy người chồng tài giỏi, bao bọc. Nếu cung Phu - Thê có nhiều cát tinh khác hội họp như Tam Hóa, Tam Minh, Long, Phượng … thì người chồng có thể làm đến bậc nguyên thủ Quốc gia. Nhưng trong trường hợp này nếu có thêm Linh, Hỏa hay Kình thì cái đẹp của Phu - Thê bị chiết giảm, vợ chồng hay khắc khẩu, nếu gặp Kiếp, Không càng xấu, gặp Đà La thì sẽ là phá cách.
Thái Âm ở Dậu:
Tại Dậu là vị trí miếu địa của Thái Âm, được Thái Dương miếu địa ở Tỵ, Thiên Lương đắc địa ở Sửu chiếu về tạo thành cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nên người có Thái Âm cư Dậu sống hiền lương, đức độ, giàu sang vinh hiển. Nếu được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp như Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất sẽ phú quý tột bực và nổi tiếng.
Trường hợp này, nếu cung Phu - Thê an tại Dậu thì cung Mệnh an tại Hợi có Cự Môn vượng địa độc thủ, được Thái Dương miếu địa tại Tỵ chính chiếu, tuy không còn là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nhưng vẫn  được hưởng giàu sang, phú quý, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến lúc mãn chiều.
Thái Âm ở Tuất:
Khi Thái Âm đóng tại Tuất sẽ được Thái Dương ở Thìn trực chiếu ánh sáng đẹp đẽ, tạo thành cách Nhật Nguyệt tranh huy. Mệnh cư Thìn nếu cung Tuất không nằm trong tam hợp Thái Tuế thì cũng được hưởng cả Âm Dương. Mệnh cư Tuất muốn hưởng được cả Thái Dương phải đứng trong tam hợp Thái Tuế. Trường hợp được hưởng cả cặp Âm Dương ở Thìn Tuất gặp Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý là thượng cách, tối quý.
(Xem Thái Dương ở Thìn)
Thái Âm ở Hợi:
Thái Âm ở Hợi là Thái Âm miếu địa, được NHẬT - LƯƠNG ở Mão hợp chiếu, tạo thành cách “Nguyệt lãng Thiên Môn” rất đẹp, nếu cung Mệnh đóng ở đây thì thật đẹp. Càng đẹp hơn nếu có Hóa Kỵ đồng cung (chỉ có người tuổi Ất mới được hưởng cách này) sẽ là kỳ cách, cuộc đời sẽ giàu sang, phú quý, sự nghiệp rạng rỡ. Cung Mệnh cư ở đây dù là trai hay gái đều tối quý, miễn là mệnh Thủy, mệnh Kim.
Khi Thái Âm ở Hợi mà Mệnh cư Mùi sẽ là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh”, người có cách này rất thông minh, phò tá cho bậc nguyên thủ quốc gia. Mệnh cư Mão thì cung Quan Lộc sẽ được Nhật Nguyệt Tịnh minh chiếu cũng rất đẹp.
*.
Hà Nội, xuân năm 2007
ĐặNG XUÂN XUYẾN

 NHẬN BIẾT MỘT SỐ HẠNG NGƯỜI
QUA LÁ SỐ TỬ VI
*
Để giản tiện thời gian cho người mới tiếp xúc với khoa Tử Vi, người viết tổng hợp cách nhận biết về một số hạng người qua lá số Tử Vi được các tác giả, các nhà coi Tử Vi đúc kết.
Thực ra sự sắp xếp, phân loại hạng người trong Tử Vi chỉ mang tính chất tương đối, khái quát nên người coi số phải thật cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải.

- NGƯỜI HƯỞNG PHÚC SỐNG LÂU:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Sinh ở phương Nam (nhà ở mở cửa hướng Nam) Mệnh có Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp toạ thủ, hay sinh ở phương Bắc, Mệnh có Tử, Phủ,Vũ, Phá, Liêm Tham sáng sủa tốt đẹp toạ thủ, như vậy được hưởng phúc và sống lâu.
Nên xem xét cung phúc đức thật cẩn thận, nếu thấy phúc đức thật rực rỡ, tốt đẹp, mới có thể quyết đoán được như trên.”

- NGƯỜI GIÀU CÓ:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Mệnh, Thân xa lánh được Đại, Tiểu Hao và Sát tinh, cung Tài Bạch rực rỡ tốt đẹp, có Tài tinh, như vậy chắc chắn là giàu có.
Tốt đẹp nhất là Nguyệt chiếu sáng cung Điền Trạch, Vũ sáng sủa tốt đẹp toạ thủ tại cung Tài Bạch ở Tứ Mộ.”

- NGƯỜI BẦN TIỆN, NGHÈO HÈN:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Mệnh, Thân không có những sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp. Xấu xa nhất là Mệnh, Thân an tại Tứ sinh gặp nhiều Sát Tinh xâm phạm. Nên xem xét ba cung Phúc Đức, Tài Bạch và Điền Trạch. Nếu tất cả đều mờ ám xấu xa, phải quyết đoán là bần tiện.”
Vậy như thế nào là người bần tiện? Trộm cắp, đĩ điếm hay gian tà, nghèo khổ? Thái Thứ Lang không đưa ra khái niệm. Các tác giả khác cũng không đề cập đến. Tất cả đều ngầm quy kết bần tiện là những người có cuộc sống cơ cực, nghèo hèn, tận đáy của xã hội. Đây là điều hết sức phi lý, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Khổng Giáo: Coi thường cuộc sống và nhân tính của người dân. Đây cũng chính là điều còn hạn hẹp về quan niệm nhân sinh của Tử - Vi: Trọng phú khinh bần.
Trong “Nhận xét số mệnh của một vài hạng người” (Tử Vi đẩu số, trang 301), Thái Thứ Lang xếp những kẻ gian tà, trộm cắp là một “hạng” người cuối cùng của xã hội. Ông cho rằng: “Mệnh, Thân có Sát, Phá, Liêm, Tham, mờ ám xấu xa toạ thủ, gặp Sát tinh hội hợp với Bại Tinh, như vậy là hạng gian tà trộm cướp.”
Sách Tử - Vi liệt kê một số bộ sao tiêu biểu như sau:
- Liêm Trinh Dần, Thân: Mệnh an tại Dần, Thân có Liêm Trinh tọa thủ, lại gặp Tuần, Triệt án ngữ là người sinh bất phùng thời nên nghèo hèn.
- Tham, Kiếp đồng cung: Mệnh có Tham Lang, Địa Kiếp tọa thủ đồng cung nên cuộc đời cùng khổ, phiêu bạt và hay mắc tai nạn sông nước.
- Tham Lang, Thất Sát đồng cung: Trai trộm cướp, gái giang hồ.
- Thiên Lương, Thái Âm hãm hội chiếu: Nghèo hèn, tha phương lập nghiệp và dâm đãng.
- Mã lạc không vong: Mệnh có Thiên Mã gặp Tuần, Triệt án ngữ là người bần tiện.
- Lộc phùng lưỡng sát: Mệnh có Song Lộc gặp Không, Kiếp đồng cung là người bần tiện. Trường hợp Hoá Lộc hay Lộc Tồn gặp Kiếp Sát và Tuần (Triệt) đồng cung thì số nghèo hèn.
- Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung ở Dần, Thân gặp Xương, Khúc (Riêu): Dâm đãng, sa đọa, hay làm thơ văn dâm tình.
- Thái Âm hãm gặp sát tinh: Trai trộm cắp, gái giang hồ.
- Kiếp, Không giáp Mệnh: Mệnh tại Tỵ, Hợi giáp Kiếp, Không là người nghèo khổ, cô đơn và vất vả.
-  Vũ, Sát, Phá, Liêm ở Mão: Cô đơn, bần hàn.
- Cự Môn hãm gặp Kình, Đà: Trộm cắp, lăng loàn, đĩ điếm.

- NGƯỜI THÔNG MINH:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Cần thiết nhất là cung Phúc Đức phải có Văn tinh toạ thủ, Mệnh, Thân lại phải có Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu hội hợp.
Mệnh Thân có Tướng Phá sáng sủa tốt đẹp toạ thủ, lại thêm Văn tinh hội hợp, như vậy rất thông minh, có nhiều mưu trí và khéo léo chân tay, nếu làm nghề thủ công cũng phát đạt, có tiếng tăm.
Thông minh đến tột bậc, nếu Mệnh, Thân có Phủ Tướng, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Long, Phượng, Thai, Toạ hội hợp.”

- NGƯỜI YỂU TỬ:
Người yểu tử được hiểu theo nghĩa của Tử Vi là người có sức khỏe không tốt, nhiều bệnh tật, hoặc bị tàn tật và tuổi thọ không cao, thường dưới 50 tuổi.
Thái Thứ Lang cho rằng: “Ba cung Mệnh, Thân và Phúc Đức đều mờ ám, xấu xa, đại hạn 10 năm cũng không được tốt đẹp, như vậy không thể sống lâu được. Sát thủ Thân nếu giàu sang tất chết non, trái lại nếu nghèo hèn thì lại sống lâu.”
Sách Tử - Vi liệt kê một số bộ sao tiêu biểu như sau:
- Xương, Khúc hãm địa: Mệnh có Xương, Khúc hãm địa hội nhiều sát tinh, nhất là Hóa Kỵ nên cùng khổ, cô đơn, nếu không tàn tật tất sẽ yểu tử. Riêng nữ số là người ti tiện, hoặc gái giang hồ nhưng thường chết non.
- Tử - Vi, Không, Kiếp, Đào, Hồng: Mệnh hội họp Tử - Vi, Không, Kiếp, Đào (Hồng) là người đa tình và yểu Mệnh. Trường hợp chỉ hội họp Kiếp, Không, Đào (Hồng) tại Mệnh thì cũng vậy.
- Kỵ ngộ Đào (Hồng): Mệnh có Kỵ đồng cung với Đào (Hồng) là người đau khổ vì tình, đàn bà thất tiết, tuổi thọ bị chiết giảm.
- Liêm, Khúc, Xương đồng cung: Mệnh an tại Mão, Dậu, Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi có Liêm tọa thủ gặp Xương (Khúc) đồng cung là người cùng khổ, hay mắc tai họa, tù tội và thường yểu tử.
- Kình Dương ở Tứ Chính: Mệnh ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu có Kình Dương hội sát tinh là người vất vả và thường chết non, nhất là khi Mệnh ở Ngọ. Còn Mệnh ở Mão. Dậu thì tuổi thọ trung bình.
- Tả, Hữu gặp sát tinh: Mệnh có Tả, Hữu tọa thủ, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa, nhất là Cự Môn, Phá Quân hãm địa, hoặc sát tinh hội họp là người cùng khổ và thường yểu tử.
- Kỵ ngộ Tuế, Đà: Cung Mệnh có Kỵ ngộ Thái Tuế, Đà La là người lắm điều, hay bị tranh chấp, kiện cáo và yểu tử.
- Kỵ ngộ Tham, Xương: Mệnh tại Tỵ có Tham Lang, Văn Xương, Hóa Kỵ đồng cung thì chết non.
- Thiên Cơ ngộ Kình, Đà: Mệnh có Thiên Cơ hãm địa, ngộ Kình (Đà) đồng cung thì yểu tử.
- Kình, Đà hãm địa hội hung sát tinh: Mệnh có Đà La hoặc Kình Dương hãm địa hội nhiều hung sát tinh, nhất là Địa Kiếp thì là người cùng khổ, hay bị tai nạn, tàn tật và thường yểu tử.
- Sát, Phá, Liêm, Tham ngộ Hỏa, Linh: Mệnh có các sao này hội họp mà đều hãm địa cả thì chết non.
- Âm Dương phản bối: Thái dương từ cung Dậu đến cung Sửu, Thái âm từ cung Dần đến cung Thân thì nghèo hèn và yểu, duy có tuổi Thìn và tuổi Tý tuy có chết non nhưng được nhiều người tiếc.
- Sát tinh thủ hoặc chiếu Mệnh: Các sao Kình Dương, Đà La, Thiên Không, Địa Không, Địa Kiếp thủ Mệnh hoặc chiếu Mệnh lại bị hãm thì chết non, duy người tuổi Ngọ, Mão và Dần tuy chết non nhưng là người danh giá.
- Thiên Không thủ Mệnh tại Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi: Mệnh có Thiên Không mà Mệnh lại an tại cung Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ lại đẻ vào các giờ ấy thì chết non, nếu gặp các sao tốt cứu giả thì tuổi thọ cũng chỉ bình thường.
- Tật cung hội họp Không, Đào:  Không Đào đồng cung tại Tật thì chết bất ngờ.

- NGƯỜI BUÔN BÁN:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Trước hết phải xem xét cung Mệnh, Thân, Thiên Di, Tài và Quan để biết qua sinh kế, nghề nghiệp đồng thời để biết có thể buôn bán được hay không?
(...) Mệnh, Thân có Tử, Phủ sáng sủa tốt đẹp toạ thủ gặp Kình đồng cung: buôn bán phát đạt, có tài kinh doanh.
Mệnh có Tham, Sát, Đồng, Nguyệt Cơ, Lương sáng sủa, tốt đẹp toạ thủ: hay tính toán, thích ganh đua, mưu cầu lợi lộc. Nếu cung Thiên Di, Tài Bạch lại có nhiều Tài Tinh, chắn chắn là buôn bán giỏi, tiền của như nước.
Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham sáng sủa tốt đẹp toạ thủ gặp Tả, Hữu hội hợp cùng với nhiều Sát Tinh sáng sủa tốt đẹp: kinh doanh buôn bán ở xa nhà, trước thành bại bất thường, sau giàu có lớn.
Những cung Mệnh, Thân, Thiên Di hay Tài Bạch an tại Tử sinh, có Không, Kiếp toạ thủ: buôn lậu rất giỏi, nhưng chẳng giữ được tiền của bền lâu.
Cung Thiên Di an tại Tứ Mộ, có Vũ toạ thủ: buôn bán giỏi và tài lộc ngày càng thăng tiến.”
Chúng tôi giới thiệu lá số của Nhà văn, nhà kinh doanh đại tài Nguyễn Văn Vĩnh (Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) qua bài luận của cụ Thiên Lương trong cuốn TỬ VI NGHIỆM LÝ: LÝ MỆNH HỌC, xuất bản năm 1974, để bạn đọc làm mẫu tham khảo.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh tuổi Nhâm Ngọ (1882), sanh ngày 30 tháng 04, giờ Dậu, nghĩa là ông hơn ông Phạm Quỳnh 10 tuổi.
Tuổi Nhâm Ngọ, Mệnh Vô chính Diệu ở cung Thân, Thân đắc Đồng - Lương ở Dần. Ở đây có thể nói hai vị trí đi song đôi với nhau, mặc dầu Tang Môn vẫn là thế nghịch của Bạch Hổ và Thân cung vẫn ở thế đàn áp Dần cung.
Người này sinh ra ở đời ở hoàn cảnh cứ canh cánh lo âu tính toán (Mệnh) mà khi đã tính toán rồi là (phải) thực hành lao đầu làm việc (Thân).
Mệnh Vô chính Diệu thấy Tang Môn nằm chình ình (Mộc) nghiễm nhiên đóng vai trò chủ động cho đương số (Mộc Mệnh). Người ta thường nói gộp Tang Môn, Bạch Hổ đắc địa ở Mão Dậu, Dần Thân, cũng nên phân tích cho rõ hơn: Bạch Hổ (Kim) đắc địa ở Thân Dậu (Kim) còn Tang Môn (Mộc) đắc địa ở Dần Mão (Mộc) thì Tang Môn ở đây là trong nghịch cảnh hội với Đại Hao, Địa Kiếp (Hỏa) một bầy hung hãn dầu là hai sao này đều đắc địa phải kể là đắc Tuần ngự chế (bớt sinh xuất) nếu Triệt thì hết thảy từ Mã, Trường Sinh, Hao, Kiếp, Tang Môn gì đều tan nát hết. Với Mệnh Vô chính Diệu đắc Tuần này (tạm kể vì chỉ có Hỏa Mệnh hay Kim Mệnh mới toại nguyện) bảo toàn được chủ đích là sự lo toan để cho Thân kinh doanh sự nghiệp dầu có bôn ba đây đó cũng xông pha không quản ngại.
Cũng nên kể Thiên Mã này chính lẽ không phải của ông, bằng ông cố sử dụng thì chỉ mất công sự nghiệp trồi trụt không có gì là bền vững mà ông còn lao tâm khổ xác vì ông Mộc Mệnh. Nhưng Tuần này còn lưu Mã có lúc đắc dụng.
Ngắm đến Thân ở Dần Đồng - Lương đắc cách, phải nhìn nhận ông được thành danh là vì Đồng - Lương được Cơ - Âm cũng đắc cách hợp chiếu. Bộ Cơ - Nguyệt - Đồng - Lương được tối hảo chỉ có ở Dần đủ cả nghĩa một sức thông minh hơn người và một văn nghiệp xuất chúng. Nhưng nào ông có theo hẳn văn nghiệp (Đồng - Lương Triệt) định mệnh đặt ông phải lo âu tính toán, trí óc ông là làm việc kinh doanh cho nên lời văn của ông nó cũng giản dị bình thường, hoạt bát, nó không chứa đựng nhiều từ ngữ nặng nề như một số đồng nghiệp cùng thời. Ngay đến tư tưởng ông cũng thực tế hơn ông Phạm Quỳnh chủ trương lập luận muốn giữ phần nào chủ quyền hình thức bằng thuyết lập hiến. Trái lại ông Nguyễn Văn Vĩnh nói huỵch toẹt là đã bị trị thì nên áp dụng chương trình trực trị cho rồi, đừng nên nửa trắng nửa đen thành không đi đến đâu. Có lẽ vì thế người đời mới gán cho cả hai ông là thân Pháp bán nước.
Cái nỗi khổ tâm của ông Quỳnh là tin vào lòng nhân hậu và khả năng của mình (Thiên Lương, Tả - Hữu). Nước dầu đã mất nhưng tiếng nói của dân Việt Nam còn là còn... Đối với một số văn nhân trong nghịch cảnh (Tuổi Nhâm ở Hợi) kể cũng đáng thương. Ông Vĩnh cũng vậy: Nước Việt Nam sau này hay dở là ở chữ quốc ngữ. Hai ông cũng chủ trương nên bảo toàn tiếng nói mẹ đẻ làm sao cho nó đừng mất và phổ biến rộng rãi là được, cũng như cụ Phan Chu Trinh thường nói: Điều làm trước là khai thông dân trí đã.
Cái chủ trương kinh doanh của ông Vĩnh không phải là không có hậu ý (Thân trong Tam hợp tuổi không phải là không chính nghĩa). Chỉ vì Thân (Đồng - Lương) bị Triệt mà sự nghiệp ông không toại khi trồi khi trụt (Mã mượn). Với ông ta thấy con đường văn nghiệp chỉ là phương tiện, cái chí hướng kinh doanh mới là mục đích xa xăm của ông. Không phải là ông không biết thân phận của kẻ mất nước (thế Tang Môn) cho nên ông cố hành động theo con đường chính nghĩa (Bạch Hổ) riêng tư của ông tưởng không phải là không có tâm hồn với đất nước.
Đời ông đi vào cung Tuất là giai đoạn bắt đầu làm báo (1908) đạt được chí hướng của mình với nhiều hy vọng sau này (Thái Âm miếu địa đắc Long Trì) bị Đà La không hẳn là La Võng nhưng cũng là một trong Tam ám của Thái Âm chỉ phần nào ngăn trở chậm bước đường tiến thân thỏa mãn của ông. Bước sang cung Điền chỉ là giai đoạn khai sơn phá thạch, giật gấu vá vai đem cái chí kinh doanh ra thực hành rầm rộ, theo một số người được hưởng thụ gì thì tuổi 45 đã đến rồi cứ một ngày một lội dòng nước ngược luôn cho đến năm 54 tuổi (1936) ông trút hơi thở cuối cùng ở Hạ Lào. Đây cũng là một trường hợp tuổi Nhâm vận hành gặp Lộc Tồn, Lưu Hà, Kiếp Sát, Thiên Không ông mới chỉ gây dựng sự nghiệp còn thiếu trước hụt sau. Nếu được đầy đủ cho mình hưởng thụ ngôi cao phú quý có lẽ cao xanh đã đoản mệnh sớm hơn. Cho hay đó chỉ là con đường rẽ mà thôi. Vì thân ông bị Triệt thì làm sao mở máy chạy tốc độ không khỏi trục trặc lúc ban đầu hay bước tiến đầu phải mất nhiều thời giờ hơn người khác. Một phần Mệnh ông (Mộc) đáo Thủy cung không đến nỗi đoản mau phải chờ đến cung Quan (cũng Thủy) Kình, Hình một cặp song kiếm phi đao kẹp cổ mạng Mộc, cũng phải chờ đến năm giao vận là năm tính sổ 10 năm thiếu đủ phải thanh toán cho sòng phẳng.
Người Mộc Mệnh Vô chính Diệu thật khó kiếm được hung tinh đắc địa thủ vai cho xứng làm nên trò hơn Tang Môn đắc Tuần. Còn Thiên Mã ở đây chỉ là Mã mượn của người Kim Mệnh cũng nhờ Tuần cho ông mượn được phần nào nghị lực, Đại Hao, Địa Kiếp ngộ Tuần cũng phần nào tiết chế sự tiết khí của Mệnh. Nhưng cung Quan Cự Môn, Kình, Hình không gì ngăn cản, Thái Dương vượng địa cùng Phượng, Riêu đắc cách ở Tài tức là cát hung chung chiếu dàn cảnh kiến nhất không, cuộc đời bôn ba như mộng ảo, phú quý là phù vân. Chỉ tiếc cho Thân ông được Thiên Lương vượng địa bị Triệt, cái thế chính nghĩa (Thái Tuế) đứng với Thiên Cơ đắc địa hẳn ông đã tính toán với một hoài vọng lớn lao cho dân cho nước đến khi nhắm mắt qua đời ông ôm theo không ai hiểu rõ (Thái Âm miếu bị Đà ám)
Phải chăng cái dự tính của ông Nguyễn Văn Vĩnh hãy còn trong bí mật mà tôi tin là không phải như người ta nghĩ về ông.

- NGƯỜI CÓ BIỆT TÀI VỀ VĂN NGHỆ:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Cần thiết nhất là ba cung Mệnh, Thân và Quan lộc phải có nhiều văn tinh hội hợp.
Tả, Hữu, Xương, Khúc: viết văn, làm thơ.
Tả, Hữu, Long, Phượng, Đào, Hồng, Thai, Toạ: vẽ giỏi.
Mệnh, Thân an tại Hợi, có Nhật toạ thủ: gặp nhiều văn tinh hội hợp nên văn chương đanh thép, lỗi lạc thuyết lý hùng hồn.”
Còn tác giả Lê Quang Tiềm trong cuốn “Tự điển Tử Vi đẩu số” và “thần số học”, cho rằng:
“Âm Dương Khôi Việt - Xương Khúc Tấu Thư - Khôi Việt Khoa Tinh - Kình Dương ngộ Văn Xương hội Tử Vi - Thiên Lương cư Hợi ngộ Thiên Khôi - Long Phượng Riêu Y Khôi Việt - Tử Vi ngộ Tấu Thư (Thần đồng phụ nhi).
Âm Dương hội Văn Xương - Hỏa Linh phùng Tuyệt, hội Khoa tinh tại Hợi (văn chương xuất chúng) - Hồng Hỷ Tấu Vũ Đào (cách ca sỹ, kịch sỹ, đào hát, minh tinh màn bạc)”.
Như thế, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho Giáo nên Tử Vi cũng coi ca múa là loại xướng ca vô loài nên khái niệm biệt tài văn nghệ chỉ hạn hẹp trong nghề viết văn, hội họa mà không đề cập đến những nghề khác trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như ca sỹ, nhạc sỹ, diễn viên… Tuy nhiên, khoa Tử Vi cũng phản ánh khả năng “nghệ thuật” của mỗi người qua ý nghĩa của các sao. Từ đó, các thầy xem số, các nhà nghiên cứu Tử Vi có thể thông qua sự hội tụ của các sao mà phán đoán đương số có khả năng nổi tiếng, thành đạt ở nghề gì.
Vì nghệ thuật đòi hỏi phải khéo léo, nhạy cảm, giỏi bắt chước, có duyên thu hút mọi người để đem lại niềm vui cho mọi người nên bất kỳ nghề nào cũng cần phải có sự hội tụ của Tấu Thư, Hồng Loan với Thiên Cơ hoặc Vũ Khúc. Sự hội tụ đông đủ các sao được liệt kê theo từng nghề dưới đây sẽ phần nào chỉ ra nghề nghiệp của đương số. Các sao càng sáng sủa thì tài nghệ càng cao, khả năng nổi tiếng càng nhiều. Dù vậy, cũng nên hiểu không hẳn sự hội tụ các sao đó ở Mệnh (Thân) và Quan Lộc thì đương số sẽ theo nghề đó mà có thể đương số có sở thích hoặc sự hiểu biết về nghề đó, nếu theo nghề đó sẽ dễ nổi danh vì biệt tài của mình.
Nhà văn, nhà báo, nhà thơ: Thiên Cơ, Thái Âm, Thái Dương, hoặc Vũ Khúc hội họp cùng Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Thiên Khốc, Thiên Hư... (Trường hợp khi Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung ở Dần, Thân gặp Văn Xương, Văn Khúc hoặc Thiên Riêu là người dâm đãng, hay làm thơ văn dâm tình.)
Chúng tôi giới thiệu 2 lá số và lời luận của cụ Thiên Lương để bạn đọc dùng làm mẫu tham khảo.
Lá số thứ nhất: Thi hào
TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

"Có phải người ta biết đến thi si tửu đồ Tản Đà bằng bút hiệu nhiều hơn là tên Nguyễn Khắc Hiếu, vì thế mới có con đuờng Tản Đà ở Chợ Lớn ngay chỗ thuờng ngày các vua nhậuchén chú, chén anh, có lẽ để thỏa mãn hương hồn nhà thơ, vì rượu là người bạn hình bóng là nguồn cảm hứng, là phương tiện thần diệu mà tiên sinh thích thú để ngâm với đời:
                  Say sưa nghĩ cũng hư đời
             Hư thời hư vậy, say thời cứ say
                Đất say đất cũng lăn quay
            Trời say mặt cũng đỏ gay ai cuời.
Thi sĩ Tản Đà sinh năm 1888 (Mậu Tí ngày 29 thang 4 giờ Tuất) vốn có truyền thống nho phong, tổ tiên sáu đời chuyên nhau chiếm bảng vàng Tiến sĩ, đến đời tiên sinh như thấy cả một sự xuống dốc rõ ràng (cung Phúc).
Tuổi Mậu Tí mệnh ở Mùi vô chính diệu nhìn vào không thấy một hung tinh đắc địa nào đồng hành với Mệnh. Một bầy trung tinh đắc cách mà đa số lại là Thổ và Thủy. Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu Mệnh cũng không . Truờng hợp này nếu không có Tuần kể là một mệnh yểu cầm chắc . Vậy có phải là kiến nhất không , hèn chi tiên sinh cho đời là một giấc mộng lớn, tháng ngày thoảng qua là giấc mộng con. Tôi xin bái phục tiên sinh ở chỗ này:
                      Người đời thử ngẫm mà hay
               Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê
                         Còn ai ai tỉnh ai mê
               Những ai thiên cổ đi về những đâu
Cái tài của tiên sinh phải nói là Thiên Phủ đặc biệt (Tả Hữu, Song-Long mộc dục) về thi văn (Khoa Hồng Việt) nó khác hẳn thi tài của Lý Bạch đời Đường (Tả Phù Văn khúc Mộc Dục) bắt nguồn mượn ở cảnh bao la hùng vĩ cẩm tú của giang sơn Hán tộc như nhạc điệu rền vang với dư âm dài, vắn (Mã Khốc Khách). Cái Thiên tài của Tản Đà tiên sinh nó biến đổi thiên hình vạn trạng từ những giọng sầu bi ai oán đến những tiếng trào lộng khôi hài đều có cái thanh cao khí tiết chứa đựng một tâm hồn lãng mạn êm đềm như tiếng sáo diều nhẹ nhàng uyển chuyển (Khoa Hồng Việt) . Có một điều cả hai thi nhân giống nhau là cùng nhờ men rượu (Mộc dục) để gẩy khúc tơ lòng .
Cái Mệnh của Tản Đà là cái mệnh của người bảo tồn nề nếp đạo đức phong nho (Đẩu Quân, Long Đức) cung vì thế cái thân hành động dễ bị hắc lờ lợi dụng (Thiếu Âm) vì đời quay cuồng trong nhân-dục tư-lợi mà tiên sinh cứ khăng khăng ôm sống ở thế giới tinh thần (Quan Phúc). Vì cái Mệnh vô chính diệu được Tuần đóng khiến Thiên Phủ ở cung Quan đem lại cho tiên sinh một đời túng thiếu triền miên (Tứ chính giao phù kỵ nhất không chi trực phá).
Nhìn vào lá số thấy tiên sinh không đuợc một chút gì gọi là gỡ gạc của số, từ vòng Thái Tuế, vị trí mệnh Long Đức (tu vì thiệt thòi), Thân thiếu âm (hành động lầm lỡ) vòng Lộc Tồn tuổi Mậu, vòng Tràng Sinh mệnh đặt ở thế suy tuổi hỏa đóng cung thổ, cả một cái thế bất lợi của một kiếp nhân sinh:
                  Kiếp sau xin chớ làm người
         Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
                 Tuyệt mù biển nuớc non mây
Kiếp người này thấy rất nghèo, có nghĩa là rất cần tiền mà hóa ra không cần tiền (Phủ phùng không, Quan Phúc, Quang Quý), không vì tiền mà xóa bỏ nhân cách, có lẽ vì thế tiên sinh cứ điềm nhiên bình tĩnh sống (Thai Tọa) không hấp tấp vội vàng, và tùy theo hứng thú mới hành động. Năm 1927, Tản Đà vì ân tình tri ngộ với ông Diệp Văn Kỳ, rời bỏ xứ Bắc vào Nam, đảm nhiệm tờ phụ truong cho tờ Đông Pháp thời báo, nhiều lần báo lên khuôn mà bài thì không có, tiên sinh cứ đủng đỉnh ngồi nhậu trả lời cho người đến lấy bài: “Làm thơ, viết văn đâu phải là bửa củi mà cố bửa cho xong”. Đã biết bao lần tiên sinh thất bại trên đường sự nghiệp làm An nam tạp chí. Nghĩ lại những: Giấc mộng lớn, Khối tình con, Trần ai tri kỷ, gì, gì… là những giai phẩm để lại cho người được hưởng cái thi diệu tuyệt vời, trái lại mình chỉ là một con Tuần-không rất lớn.
Bỏ đi giai đoạn đầu (6-15) tuổi thơ ấu, từ 16 đến 46 có 4 giai đoạn, tiên sinh chỉ đắc ý có vận đầu cũng lại vô chính diệu. Người vô chính diệu đến hạn vô chính diệu hẳn là dầu có đắc chí thì cũng chỉ ở phần tinh thần, Cũng như Nguyễn Công Trứ làm rạng danh một nho sinh với bài điều trần “Thái Bình Thập Sách” thì Tản Đà cũng đắc chí bằng bài luận “Âu Á nhị châu hiện thế“ được các học quan sĩ phu đương thời tán thưởng và được tờ báo Trung Hoa đăng vào mục xã thuyết. Còn 3 vận sau: Song- Lộc, Liêm-Phá, Không Kiếp hãm địa, rồi đến vô chính diệu ở Dần Ngọ Tuất trái với tuổi Thân Tí Thìn, chót hết là Thiên Phủ, Tuyệt bị Tuần không thu hút là một chuỗi ngày ảm đạm, tiên sinh nhờ chị Hằng cho theo lên cung Trăng ngày 7-6-1939 hưởng thọ 51 tuổi.
Thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu đã ví cuộc đời chỉ là giấc mộng có phải thi sĩ đã quá yếm thế không ? Người ở thế sinh xuất thì hiển nhiên ở thế thiệt thòi , trường hợp Tản Đà lại quá éo le mệnh vô chính diệu ở trong cảnh có Tuần cũng hại mà không Tuần càng hại hơn .
Định mệnh đặt tiên sinh vào cảnh có Tuần để bù trừ với cái tài mà tiên sinh đã có Thanh Long, Long Đức, Tả Hữu, cái tài mà không thể lấy gì mà đo lường được bằng điệu nghệ thi văn (Khoa Hồng Việt), Hỏa mệnh gặp Tuần là đắc cách (nổi danh) lại phá cách Thiên Phủ (nghèo) bởi lẽ đó tôi phục tiên sinh chắc đã tự tính Hà Lạc biết số mình đến ngày tàn, thôi đành hành nghề xem số cho người (Thiên Tướng Hãm) như Khương Thái Công lúc vận bĩ làm nghề bói toán để dung thân.
Lòng Tản Đà trước sau vẫn nuôi một hoài bão khác mà người đời cho là ông đi lạc hướng (Thiếu Âm) là ông muốn cùng nàng thơ tạm biệt, là một văn nhân tiền phong phất cờ dóng trống, ông cố mày mò cho ra An Nam tạp chí năm lần bảy lượt để bày tỏ nỗi lòng của một kẻ không phải chỉ biết nẩy khúc hận lòng bằng lời thánh thót, cũng biết mang tiếng nói rắn rỏi trung thực của người dân yêu nước trước cảnh nhà xiêu, nước đổ. Thiết tưởng ông có khéo diễn đạt thế nào cũng không bằng:
                   Nước non nặng một lời thề
             Nước đi đi mãi chẳng về cùng non
                 Nhớ lời nguyện ước thề non
        Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Tiên sinh tin ở sự tuần hoàn sinh hóa trong vũ trụ, nước chảy ra biển rồi cũng có lúc mưa về nguồn như tình non nhớ nước luôn luôn hồn hậu và bất tuyệt. Thi sĩ Tản Đà có phải là hậu thân của Lý Thái Bạch là Lý Bạch tiến chứ không phải thối lui trong nghệ thuật.”
Lá số thứ hai:
Nữ thi sĩ TƯƠNG PHỐ

Tôi mày mò cố tìm số của bà và được biết bà ra đời năm Đinh Dậu (1897) ngày 22 tháng 11 giờ Mão, Âm Nữ, Hoả Mệnh, Thổ Cục. Mệnh an ở Dậu, Thân tọa ở Mão.
Người Âm Nữ tuổi Dậu, mệnh ở ngay Dậu, một cặp Thái Tuế, Thiên Khốc ở ngay Mệnh là thấy ngay tư thế một nữ nhân đa sầu đa cảm, nói năng bặt thiệp của hạng phụ nữ cao đẳng trong xã hội với tư cách bất khuất, đầy tự hào, không bao giờ chịu sự hư hèn làm giảm giá trị, cùng Thiên Việt là Tinh đẩu về văn chương mỹ thuật, Tiểu Hao Mão Dậu là một sự thông minh lanh lợi lưu loát, phải chăng đây là phẩm giá chính của bà mà khuôn thiên đã ấn định (Mệnh).
Mệnh Vô chính Diệu của tuổi Hoả được Thái Tuế, Thiên Việt (Hoả) làm nòng cốt là bộ sao quí cách của khách văn chương đúng mức, một tài hoa thiên phú, cùng Thai Phụ, Long - Phượng, Hoa Cái, Bạch Hổ có tính cách cao sang của hạng khuê các lan đài. Thiên Tướng ngộ Tuần, Thiên Phủ phùng Suy một ý nghĩa trong trường hợp Vô chính Diệu kiến không là cảnh dầu là trướng gấm rũ là vẫn là thanh bạch giữ sao cho phải nếp nho phong hiền thục cho đủ.
Nhìn đến cung Thân là cái thân thế chính xác của bà thì hỡi ơi Tử Tham dở dang mọi lẽ. Nếu là Tham Lang sinh nhập bị Triệt không cho phép, bằng như Tử Vi sinh xuất cũng ở thế bó gối yếm thế, đi đôi cùng vị trí Mão (Tuế Phá) là vị trí của người hận đời mà vẫn chịu ép một bề không thể vượt quá khuôn khổ của mặc khách tao nhân (Xương Khúc, Khôi) vẫn là Triệt ngăn cản. Cứ như vị trí Phá Hư là vị trí của người ôm hận dám làm đảo điên cả xã hội, trường hợp Quận công Hoàng Cao Khải (Mệnh Thân đồng cung Phá - Hư ) đến cao xanh cũng thuận ý trước cái hận nào đó của ông, như Quân sư Gia Cát Khổng Minh ôm mộng phá định mệnh, cố ý cướp quyền tạo hoá (Thân ở Phá - Hư) cũng đành thúc thủ mang hận theo cùng số kiếp, tưởng cái vị trí Thân của Tương Phố phu nhân thật là nan giải khạc không ra mà nuốt cũng không đành. Nếu không là một văn nhân nữ sĩ, với cảnh trí Tham - Linh Sát - Hình thế nào cũng có phen gươm đao nửa gánh giang sơn một chèo, ngang dọc đông tây, trần ai đâu biết trên đầu có ai.
“Trời thu ảm đạm một màu
Gió thu hiu hắt thêm sầu lòng em
Trăng thu bóng ngả bên thềm
Tình thu ai để duyên em bẽ bàng.
Anh ơi, thu về gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang em lại võ lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại. Hỏi ba sinh hương lửa thời ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau. Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu xui nên chăn gối vừa êm lửa hương mới bén, sắt cầm dìu đặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn bình tan gương vỡ cho người dở duyên…”
Thật là ai oán, thật là lâm li. Tôi xin thú thật, đến nay mỗi lần đọc lại “Giọt lệ thu” vẫn thấy lòng nao nao, nước mắt lại muốn chạy quanh vẫn như ngày nào năm xưa, thương cảm đến một tao nhân khuê các chẳng may gặp cuộc trần duyên éo le. Có người đã nói bà khóc đây tuy là khóc chồng, mà thật ra bà khóc giang sơn gấm vóc trong cảnh suy vi bị trị. Có lẽ, không phải là không đúng, một người như Tương Phổ phu nhân đã biết trọng cái sinh hoạt tinh thần hơn là thường tục chẳng lẽ lại không biết yêu nước mến nòi xứng đáng là một phụ nữ của xã hội văn minh thường thiết tha đến văn chương thế cuộc.
Nay gặp lá số này, không khỏi hận thay ai với cái vị trí Tuế Phá của thân người bạc phận. Đã sinh ra kiếp người (Mệnh) chính đính khí phách (Thái Tuế) đa tài nghiệp bút (Thiên Việt) gặp cảnh trái ngang, làm gì mà không đem cái sở trường của mình ra phơi bày oán trách, đầy đủ nghệ thuật làm cho lòng người khác cũng phải vì mình xúc cảm (Xương Khúc Khôi, Tang Mã) Thiên Mã ở Hợi (nghệ thuật) là con Mã của bà bị sa lầy. Phải là người Thủy Mệnh mới đắc dụng. Ở đây chỉ khơi cho bà những dòng yếm thế, một giây một buộc khó giằng cho ra.
Nhìn thấy vận hành 15 - 24 ở Tuất là giai đoạn khắc nhập chủ chốt là Thiên Đồng hãm, mọi sự diễn biến trước tốt với Khoa, Quyền, Lộc, Hồng, Đào, Quốc Ấn, cuối vận phải có những việc không hay lo buồn là tính cách bất trắc của Thiên Đồng hãm song song cùng Thiên Không ở Thìn Tuất Sửu Mùi, đủ nghĩa bà lấy chồng năm 18 tuổi, goá chồng năm 23 tuổi.
Thật là một giấc mơ từ lúc bước chân lên xe hoa đến ngày vành khăn sô chít ngang đầu với Liêm Sát Linh Hình của cung Phối.
Người Mệnh Vô chính Diệu Hoả Mệnh được Thái Tuế Thiên Việt là quí cách của khách văn chương có tinh thần khí phách không hèn, chỉ hiềm Thân Tử Tham bị Triệt lại là vị trí Tuế Phá ôm hận khôn nguôi với những lời than trách bất hủ đầy nghệ thuật (Xương - Khúc Khôi, Tang Mã, Khách).
“Thu về đẹp lứa duyên ngâu
Năm năm ô - thước bắc cầu Ngân - Giang
Đôi ta ân ái lỡ làng
Giữa đường sinh tử đoạn trường chia hai
Anh vui non nước tuyền đài
Cõi trần hương lửa riêng ai lạnh lùng
Nhân gian khuất nẻo non bồng
Trăm năm não kiếp tấm lòng bơ vơ.
- Họa sỹ: Thiên Cơ hội Tấu Thư, Hồng Loan, Long Trì, Phượng Các, Đào Hoa
(Trong cuốn “Muốn luận đoán đúng số Tử Vi”, tác giả Huyền Vi cho rằng: Sát, Phá, Liêm, Tham hội Hồng, Đào, Long, Phượng, Tấu sẽ làm nghề họa sỹ (trang 206). Quan điểm này không chấp nhận được bởi Sát, Phá, Liêm, Tham là các võ tinh, không thích hợp với nghề họa sỹ rất cần sự khéo léo, nhạy cảm..) 
- Nhạc sỹ: Thiên Cơ hội Tấu Thư, Phượng Các, Hóa Lộc
- Ca sỹ: Thiên Cơ hoặc Vũ Khúc hội cùng Tấu Thư, Phá Toái, Phượng Các, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Hoa Cái, Thiên Riêu
- Kịch sỹ (diễn viên): Thiên Cơ, Thái Âm (hoặc Vũ Khúc) hội với Đào Hoa, Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Văn Xương, Văn Khúc… Nếu là diễn viên múa thì ngoài những sao trên cần thêm các sao Thiên Mã, Hoa Cái, Thiên Riêu
- Nữ công (hoặc thiết kế thời trang): Thiên Cơ hoặc Vũ Khúc hội cùng Tấu Thư, Hồng Loan, Kiếp Sát, Thiên Hình.
- Đầu bếp: Thiên Cơ, Thái Âm (hoặc Vũ Khúc) hội họp cùng Hóa Lộc, Tấu Thư, Hồng Loan, Long Trì, Hóa Kỵ, Thiên Trù.

- NGƯỜI CHUYÊN VỀ NGHỀ KỸ NGHỆ:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Mệnh, Thân có Tham Vũ sáng sủa, tốt đẹp toạ thủ, gặp Kình Sát hội hợp: rất tinh ý và khéo tay nên chuyên về kỹ nghệ.
Mệnh, Thân an tại Tỵ, Hợi có Vũ, Phá toạ thủ đồng cung: làm nghề thủ công rất khéo léo.
Mênh, Thân an tại Mão, Dậu, có Liêm, Phá toạ thủ đồng cung: chuyên nghề thủ công, thật tinh vi, khác hẳn những nghề tầm thường.
Mệnh, Thân có Tướng, Cơ toạ thủ, cung Tài Bạch an tại Tứ Mộ, có tài Tinh toạ thủ hay cung Thiên Di có Phủ toạ thủ: học được những nghề chân tay rất lạ lùng, không những thế lại còn có nhiều sáng kiến và sẽ nổi tiếng với những tác phẩm mình tạo nên.
Mệnh, Thân an tại Tỵ, Hợi có Liêm, Tham toạ thủ đồng cung, gặp nhiều Sát tinh mờ ám, xấu xa, xâm phạm: làm thợ rèn, nếu không cũng làm đồ tể. Nhưng đôi khi cũng thích làm ruộng, trồng tỉa hay săn bắn.
Trong những trường hợp trên đây, nếu tất cả mọi sao đều sáng sủa, tốt đẹp, phải quyết đoán là phát đạt trong nghề. Trái lại, tất cả mọi sao đều mờ ám, xấu xa, phải quyết đoán là có làm ăn vất vả mới có miếng cơm, manh áo.”

- NGƯỜI LÀM QUAN CHỨC:
Thái Thứ Lang cho rằng: “Ba cung Mệnh, Thân và Quan lộc cần phải có Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt hội hợp cùng với Khoa, Quyền, Lộc như vậy có văn chức lớn lao, được nhiều người biết tiếng. (...) Ba cung Mệnh, Thân, Quan lộc có Vũ, Tướng, Sát, Phá, Liêm, Tham sáng sủa tốt đẹp hội hợp cùng với Tả, Hữu, Thai, Toạ, Khoa, Quyền, Lộc, Binh, Hình, Tướng, ấn như vậy chắc chắn là có vũ chức lớn, có uy quyền hiển hách.
(...) Mệnh, Thân có Vũ, Tướng, Sát, Phá, Liêm, Tham sáng sủa, tốt đẹp toạ thủ gặp nhiều Sát tinh sáng sủa tốt đẹp hội hợp, chắc chắn là có uy dũng.
Quyền Thủ, Mệnh, Thân gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp nên ra ngoài có oai, được nhiều người kính nể.”
Chúng tôi giới thiệu 2 lá số và lời luận của cụ Thiên Lương để bạn đọc dùng làm mẫu tham khảo.
HOÀNG CAO KHẢI
- Công thần của thực dân xâm lăng

 “Hậu bán thế kỷ XIX đất nước ta bị dày xéo bởi đế quốc ngoại bang tìm kiếm thuộc địa, muốn tránh cái nạn vong quốc đã có những bậc anh hùng liệt sĩ như Thủ Khoa Huân, Cao Thắng, Nguyễn Thiên Thuật đứng lên quyết đem gan óc, phơi bày với giang sơn. Đồng thời lúc đó cũng có một hạng người vì một lý do gì, danh lợi hay thù oán cá nhân, hay uất hận về một phương diện nào, cam tâm làm tay sai cho kẻ xâm lăng chống lại Tổ quốc nối giáo cho giặc để mau bình định Đất Nước, hầu cầu hưởng sự vinh quang như Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải.
Hoàng Cao Khải được đặc quyền kinh lược Bắc Kỳ như một vị phó vương. Theo sách báo thời Pháp thuộc, ông sanh năm Canh Tuất ngày 18 tháng 3 giờ Tí.
Mệnh lập tại Thìn, Thân Mệnh đồng cung tỏ rõ cho thấy người này quyết tâm đả phá tất cả những gì mình đã hận, đã gặp trái ý, mà trời cũng chiều lòng cho họ thành công.
Người mạng Kim Vũ Khúc thủ mệnh còn gì bằng, chắc như nhà đúc có cốt sắt đúng lượng. Quốc Ấn giáp Hồng - Đào cùng Quyền, Khoa, Lộc Tam hoá Liên châu, ôi chao là đẹp. Cung Quan Tử, Phủ, Đẩu Quân, Lộc, Mã, Khốc, Khách tưởng cũng đến thế là cùng.
Lại thêm Văn Khúc đứng cùng Vũ Khúc, Hữu Bật cư quan, văn võ toàn tài, tiếc rằng mình là hậu sinh không được thấy cái tài kinh bang tế thế diệt đồng bào của họ Hoàng ra thế nào lúc bấy giờ.
Cứ nhìn vào lá số này phải phục họ Hoàng có tài thực lực và cũng chịu cho hoá công đã khéo tạo ra cái người này với đủ tư cách hình thức tốt đẹp mới tạo nổi cho nước Việt Nam 100 năm Pháp thuộc sau này, Vũ Khúc Thìn, Kình Dương, Hoá Kỵ nhị hợp chiếu (sinh nhập) thật là một lưỡi dao bén bọc trong cái túi gấm Tam hoá Liên châu, Quốc Ấn, Hồng - Đào.
Thân Mệnh đồng cung Thìn, người này cho đến khi xuống lỗ vẫn còn hận, có lẽ quan thầy chỉ chiếu với chức quận công kinh lược thế thôi, chứ thâm tâm họ vẫn không tín nhiệm và coi rẻ là khác (Bệnh Phù, Tuế Phá, Thiên Hư, phá cách).
Phải công nhận ông này cũng đã dầy công tu mấy kiếp trước, nên mới có cái Mệnh đẹp như gấm thêu hoa này, đến cung Tật ách vào sanh ra tử (Hình, Sát) vẫn có Song Hao và Thiên Không bám chặt. Nếu ông tu thêm 30 năm nữa cho thành chánh quả hãy xuống trần gian này thì ngày nay trên khắp các nẻo đường các thành phố Việt Nam đều có ghi tên Hoàng Cao Khải đời đời kiếp kiếp ngang hàng với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, có lẽ có tượng đồng bia đá biên khắc Tổ quốc thọ ơn nữa là khác.
Ngồi ngắm lá số, tôi không hiểu tại sao lại có lá số đẹp như thế, trách thầm hoá công sao lại cay chua nặn ra ông vào năm Canh Tuất thành ra đẹp cũng như không. Tạo hoá bày ra lại xoá ngay tức khắc cái nhân vật này, chắc là có cái nhân quả bí mật gì, hay ông chỉ là con bài của thời cuộc tạo nên. Những người như ông Quận Công Hoàng Cao Khải không phải là không biết, cũng cửa Khổng sân Trình như ai:
Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
Cái đáng trọng của cụ
Nguyễn Công Trứ: NGHỊ LỰC

Tiên sinh chào đời năm 1778 là năm Mậu Tuất ngày 01 tháng 11 giờ Thìn, tức là năm đầu Thái Đức Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn xưng vương cho đến khi khôn lớn trên 20 năm có thể nói là một khoảng thời gian bất hạnh cho tiên sinh gặp cảnh gia biến đi đôi với đất nước suy tàn vì nội chiến, nhưng có lẽ cũng là một dịp để rèn luyện chí con người mà sau này ta được thưởng thức những bản hùng ca:
 “Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Trong cuộc trần ai ai dễ biết
Rồi ra mới rõ mặt anh hùng”
Nhìn vào Mệnh, Thân (cả vị trí lẫn sao) của tiên sinh thấy cả một cái thế bất mãn của người muốn mang chí để lấp biển vá trời. Tử, Tướng ngộ Tuần là một sự bực bội vô cùng của kẻ sỹ phải đứng khoanh tay vì Hữu Bật bị Triệt. Vì thế mỗi ki có dịp trị loạn dẹp giặc, là tiên sinh tình nguyện xin đi liền. Cũng là một cái hay, mỗi lần ra quân là mỗi lần thắng cuộc, có phải cái thế của Thân Tí Thìn dễ dàng đàn áp Dần Ngọ Tuất.
Đối cục đâu phải tầm thường Sát - Phá - Tham đắc địa nhưng thiếu sát tinh đắc cách phò trợ, Kình Dương ở Ngọ nhập bọn với Lực Sĩ, Bạch Hổ ngộ Thiên Tài đủ nghĩa của tư cách anh hùng rơm hung hăng sống ngoài vòng pháp luật, chỉ làm tai hại cho Thất Sát, Phá Quân mà thôi, một Tham Lang đứng cặp với Hao ở Dần không đủ đối phó. (Lê Duy Lương ở Thanh Hoá, Phan Bá Vành ở Nam Định, Nùng Văn Vân ở Tuyên Quang, giặc biển ở Quảng Yên và loạn quân ở Chân Lạp ở miền Nam). Mạnh nhất là Lê Duy Lương dựa trên cái thế chính nghĩa con cháu nhà Lê phục hưng (Thái Tuế).
Toàn bộ Mệnh Thân tiên sinh chỉ trông chờ vào một Thiên Tướng, cái hại của Tuần làm cho tiên sinh phải chầy chật gian nan, nhưng cái hay của Tuần là phá vỡ La Võng (Đà La) để mở đường cho tiên sinh tiến thân hoà hợp với Hữu Bật bị Triệt đắc Khoa ở Tí giải toả.
Vị trí của tuổi Mậu Tuất đóng ở Thân là vị trí của người bất mãn, thường thốt ra những lời biếm trách nhưng đứng cặp với Mã và Khốc lại là cái thế ngông bằng những câu văn (Văn Khúc) khí phách một trượng phu. Người đời nói tiên sinh nổi tiếng về những bài ca trù (hát ả đào) luôn lấy hoàn cảnh mình ra thổ lộ tâm tình của Tử Tướng ngộ Tuần.
Thật ra rất khó phân tách cái Thân của tiên sinh với Tử Tướng mắc La Võng (Đà La) nếu không có Tuần làm sao làm nên việc, mà Tử Tướng ngộ Tuần lại là một điều thiệt thòi cho tiên sinh. Mỗi khi lên nắm quyền một địa vị lớn thì khó mà thụ hưởng vinh quang, vì lẽ đó đời tiên sinh đã bị ba lần giáng chức.
Cững thời Liêm Trinh thủ Mệnh dầu không phải là nòng cốt, muốn giữ cho đúng nghĩa chữ Liêm, đương số cũng phải nhọc công hao tổn bồi đắp mới thành, vì người Mộc Mệnh Dần Ngọ Tuất đứng ở thế Thân tí Thìn dễ bị thất chí, mà Thân còn đóng ở vị trí Phá Hư cũng dễ bị lôi cuốn vào vòng rối loạn. Phải chăng Liêm Trinh đắc dụng để tiên sinh được tiếng là người phục hưng chính quyền quân chủ tập trung bằng những câu:
“Tang bồng hổ thỉ nam nhi trái
Cái công danh là cái nợ nần
Nặng nề thay đôi chữ quân thần
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ.”
Vì nội chiến quá lâu, dân tình đau khổ quá nhiều, nhân tâm biến đổi. Một vụ điển hình có tên Nguyễn Trang môn đệ của Lý Trần Quán, bắt chúa Trịnh Khải nộp cho vua Tây Sơn và trả lời cho thầy học bằng câu: “Thương chúa không bằng thương thân, sợ thầy không bằng sợ giặc” đã tỏ rõ sự phá sản tinh thần đạo đức đến bậc quá thấp trong quần chúng, ngay cả người đã có cắp sách đến xin thầy năm ba chữ của thánh hiền, cũng không giữ được giáo lý thì với tư cách của Liêm Trinh thủ Mệnh, Tử Tướng ngộ Đà đắc Tuần ở Thân không cho phép Phá Hư làm nghịch cảnh, ta phải chịu đó là một nghị lực (Thiên Mã).
Vốn là một nhà Nho bị phá sản của thời cuộc, cả tinh thần lẫn vật chất, Mệnh Thân đều đóng ở vị trí bấp bênh trên cái thế nghiêng ngửa đời sống, cái nghị lực này không phi thường hơn người, làm gì không thành một Nguyễn Hữu Cầu, một Cao Bá Quát. Mã Khốc Khách Thân cung đưa cái thế Liêm Trinh lên tột đỉnh, phơi bày từ vua cho đến dân cái lòng trinh bạch của nhà Nho rất ngông.
Trường hợp Tuyệt Hao ở đây xin thưa rằng Tuyệt ngự Kim cung Hao ở đắc địa không thể gắn cho chữ xảo quyệt huống chi Liêm Trinh chỉ huy đứng đó thì sự khôn ngoan đa mưu túc trí mới là đúng nghĩa.   
Cuộc đời tiên sinh có 3 giai đoạn đắc chí, nhìn vào số thấy ngay hai giai đoạn trong Tam hợp tuổi là Tuất (23 - 12) và Dần (67 - 72). Giai đoạn trên đương tuổi thiếu niên tự đắc chí về học được thầy quý bạn phục, làm danh dự cho nhà trường với bản điều trần “Thái bình Thập sách” dâng vua Gia Long lúc tuần du, được cả vua lẫn triều đình lưu ý. Giai đoạn sau đường công danh tiến bước cho đến lúc an dưỡng tuổi già, tuy có một lần bị cách hết chức tước, biếm làm lĩnh thú nhưng chỉ trong 8 tháng được phục hồi chức vị, làm việc ngay tại chỗ để tiên sinh được rửa tiếng.
Còn một giai đoạn đặc biệt tiên sinh được thỏa chí nam nhi là giai đoạn ở Tý cung (43 - 52), đây là một trường hợp tuy trái với Tam hợp tuổi Dần - Ngọ - Tuât mà còn bị thế Thân - Tý - Thìn khắc nhập, tiên sinh được đắc hưởng do chính bộ máy Tuần - Triệt thi hành sứ mạng mở rộng cửa danh dự đón rước tiên sinh chiếm giải Nguyên, tuần tự lĩnh chức vị Hình Bộ Tham Tri Sung Dinh Điền Sử, bước hoan lộ thẳng ngay không một mảy may ngừng trệ.
Giai đoạn rắc rối nhất là Sửu cung (58 - 62) Dần - Ngọ - Tuất đáo Tỵ - Dậu - Sửu kể là sa lầy, tiên sinh bị giáng chức hai lần và phải xông pha nhiều chiến trận.
Hầu hết những bài ca trù của cụ Nguyễn Công Trứ toàn bộc lộ cáI chí nam nhi, với hận ngông của kiếp hàn nho, tỏ rõ tuổi Tuất mà Mệnh lập Thân cung tiềm tàng một nghị lực quá cao cả (Mã, Khốc, Khách) sóng đôi với Thân: Tử, Tướng ngộ Tuần, nhịp điệu cùng với Quan cung bị Triệt đắc Khoa ở Tý. Bao nhiêu yếu tố đủ giảng cái thân thế của một nhân sinh:
Trót sinh ra thời phải có cái chi chi
Chẳng lẽ tiêu lường ba vạn sáu
Truyện đố kỵ xá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung
Cho rõ mặt tu mi nam tử       
Trong vũ trụ đành là phận sự
Phải có danh mà đối với núi sông
Đi không chẳng lẽ lại về không

- NGƯỜI BẤT HẠNH TRONG HÔN NHÂN:
Đó là những người có cuộc sống hôn nhân không suôn sẻ, thiếu hạnh phúc, nhẹ thì cãi cọ, xung khắc, nặng thì: ly thân, ly hôn, góa bụa hoặc tái giá nhiều lần... Biểu hiện ở cung Mệnh, Thân và Phu - Thê là sự tụ hội của nhiều sao dâm tinh, bại tinh kết hợp với các sao chỉ sự cô đơn, thay đổi... nhất là khi tập trung  ở cung Phu - Thê.
Có quan điểm cho rằng: “Cung phu thê chỉ cho ta coi hoàn cảnh khi gặp gỡ, còn khi sống chung đã thành lập gia đình rồi thì phải coi cung Nô làm quan trọng hơn. Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng là người bay bướm... Coi ly dị khi vợ chồng đã có con thì coi cung Nô, ví dụ như Âm Dương lạc hãm cách cung và chiếu Nô thì hai đời...”. Quan điểm này khó chấp nhận bởi cung nô chỉ mối quan hệ của đương số với 4 loại người trong xã hội: Thầy, trò, bè bạn và nhân tình, chứ không thể là của người phối ngẫu nên không có chuyện “Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng là ng­ười bay bướm...”
Kinh nghiệm của các thầy tử vi cho rằng: Những người có cuộc sống hôn nhân không được viên mãn, phần lớn Nhật - Nguyệt đều hãm địa, dù an ở bất kỳ cung nào.  
Ngoài ra, sự đổ vỡ hạnh phúc gia đạo được thể hiện ở các cung sau:
- Cung Phu - Thê bị Tuần Triệt đồng cung hoặc bị Sát tinh xâm phạm hoặc bị hao, ám, bại, hình tinh đi với sao thay đổi, đau buồn, nước mắt, cô độc; hoặc có sao chỉ hai đời chồng (vợ) hoặc có sao chỉ con dị bào.
Nhìn chung, cung Phu - Thê nên tránh gặp các chính tinh: Cự Môn, Phá Quân, Thất Sát, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Tham Lang cho dù chính tinh đó có đắc địa thì hạnh phúc gia đạo cũng không được toàn vẹn, vẫn chịu những đắng cay, uất ức, tủi hờn, còn khi hãm địa thì càng khẳng định chắc chắn cuộc hôn nhân đầy đau khổ, dù có muốn níu kéo cũng sớm phải chia ly. Sự hội tụ của các sao phụ tinh khác như: Không, Kiếp, Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Thiên Hình, Cô - Quả, Đẩu Quân tại Phu - Thê càng chắc chắn đương số là người bất hạnh trong cuộc sống vợ chồng.
- Lá số hai vợ chồng có bản Mệnh khắc nhau
- Cung Phúc có nhiều sao bất hạnh về gia đạo (cao số, dang dở), trong khi cung Mệnh (Thân) lại có nhiều sao chỉ sự xui xẻo, đau thương, nhất là với nữ số.
- Có dấu hiệu ngoại tình ở Nô , Di
- Cung Tử có dấu hiệu hai dòng con
Sách Tử Vi liệt kê một số bộ sao chỉ sự chia ly:
Tử Sát: Không may mắn cho hôn sự, làm chậm trễ hôn nhân, nếu lấy vợ (chồng) sớm sẽ nhanh bỏ nhau.
Tử Phá: Hình khắc, chia ly vì không ai chịu ai.
Liêm Trinh Dần Thân: Cưới xin nham nhở (dễ chắp nối) và người phối ngẫu thường nghèo hèn.
Liêm Tướng: Không tử biệt cũng sinh ly do một trong hai bất nhẫn, nóng tính.
Liêm Tham: Dễ chia ly, có thể một trong hai bị hình tù.
Liêm Sát: Chậm có gia đình và dễ bị chia ly.
Thiên Đồng Thìn Tuất: Bất hòa dẫn tới chia ly. Một trong hai dễ thay lòng đổi dạ.
Đồng Âm cư Ngọ: Vợ dễ có lỗi mà chia ly.
Vũ Sát: Hình khắc nặng nề, gặp thêm sát tinh dễ dẫn tới sinh ly tử biệt
Vũ Phá: Nếu sớm lập gia đình cũng dễ chia ly.
Âm Dương đồng cung: Nên muộn xây dựng gia đình mới không phải chia ly.
Âm hoặc Dương hãm: Nếu lấy sớm dễ gặp trắc trở gia đạo, muộn thì đỡ hơn.
Cơ Nguyệt tại Dần: trắc trở cưới xin mà dẫn tới ly tán, sớm cưới cũng dễ chia tay.
Tham Lang Thìn Tuất: Sớm lập gia đình thì vì vợ chồng ghen tuông chơi bời mà chia ly.
Tham Lang Dần Thân: Một trong hai người có tính lăng nhăng, bạc tình mà chia ly.
Cự Môn: Cung nào cũng bất lợi cho gia đạo vì là sao kỵ vào cung Phu Thê nhất.
Cự Cơ: Dễ chia ly vì bất hòa, và nhiều khả năng có hai vợ, hoặc hai chồng.
Đồng Cự: Bất hòa, nghi ngờ nhau, gây thị phi cho nhau mà dẫn đến chia ly.
Cự Nhật: Dễ chia ly vì tính bất đồng mà cãi vã nhau dẫn đến chia ly.
Thiên Tướng hãm: Một trong hai người dễ nóng nảy, cứng đầu, gia trưởng mà chia ly.
Thiên Tướng Mão Dậu: Cưới nhau hay gặp trắc trở, muộn thì tránh được.
Thất Sát Thìn Tuất: Trắc trở gia đạo khó tránh khỏi, cần muộn lập gia đình.
Thất Sát Tí Ngọ: Phối ngẫu là con trưởng, nhưng vì cả hai đều rất ghen tuông mà chia ly.
Phá Quân Thìn Tuất: Hao tán phu thê, dễ nhiều lần lập gia đình.
Phá Quân Dần Thân: Đa phần là có ngoại tình và vì thế mà dẫn đến chia ly.

- NGƯỜI KHÔNG VỢ KHÔNG CHỒNG:
Đó là những người không hề có cuộc sống gia đình (vợ chồng), mặc dù có thể họ rất khao khát, kiếm tìm người phối ngẫu nhưng rốt cuộc vẫn phải chấp nhận cảnh chăn đơn gối chiếc.
Nguyên nhân dẫn đến cảnh “trai không vợ, gái không chồng” thì nhiều nhưng không có sách nào nói cụ thể về trường hợp không vợ không chồng sẽ biểu hiện như thế nào trên lá số nên người viết chỉ mạo muội nêu ra một số điểm cần lưu ý:
- Mệnh (Thân) có Cô Thần, Quả Tú đúng cách nam Cô nữ Quả trong khi cung Mệnh (Thân) lại hội họp quá nhiều sao bại tinh, cô độc khác.
- Cung Tử - Tức tụ tập nhiều sao hiếm muộn, tuyệt tự, lập tự.
- Cung Phu - Thê rơi vào trường hợp: hoặc chính tinh hãm địa, đi chung với các sao tình duyên bị sát tinh xâm phạm, hoặc Cô, Quả hội tụ cùng các sao bất lợi, nghịch cảnh về cuộc sống gia đạo.
- Cung Phúc xấu, với những trường hợp hoặc chính tinh hãm địa, hội tụ với các sao tình dục bị sát tinh xâm phạm, hoặc Tuần, Triệt đồng cung, hoặc hội tụ các sao chỉ sự cô độc, bất hạnh về gia đạo.
Xem số “gái già trai muộn” rất khó vì trường hợp không vợ không chồng trong xã hội tương đối hãn hữu và lý do để không có cuộc sống vợ chồng cũng khá phức tạp: có thể là người đồng tính luyến ái, có thể là người cận tình dục (thờ ơ, thậm chí còn sợ phải quan hệ tình dục với bất kỳ giới nào), có thể là người gặp phải trục trặc nào đó về cơ quan sinh dục hoặc rối loạn về chức năng tình dục... nên việc giải đoán rất dễ sai lệch.
Chỉ khi nào lá số biểu hiện đầy đủ, cơ bản những điểm bất lợi trên thì mới nên quyết đoán tình trạng không vợ không chồng của đương số. Trong thực tế, để có những lá số biểu hiện rõ ràng như vậy rất hiếm gặp, vì thế những điểm lưu ý trên cần phải được cân nhắc cẩn thận rồi mới đưa ra lời giải đoán.

- NGƯỜI ĐỒNG CÔ BÓNG CẬU:
Đó là những người ít nghĩ tới việc xây dựng gia đình, nếu có thì cuộc hôn nhân cũng không bền hoặc đời sống tình dục không hạnh phúc như những cặp vợ chồng bình thường khác, bởi trong đời sống tình cảm của họ không có tình yêu trai gái như thông thường.
Nam số có Cơ - Nguyệt - Đồng - Lương hội họp tại Mệnh lại ngộ Lục sát tinh hãm địa: Là người có tính cách õng ẹo, điêu chác như đàn bà, nếu không ái nam ái nữ thì cũng rất ít nghĩ tới chuyện vợ chồng.
Có sách cho rằng chỉ khi nào Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương và hung sát tinh đều hãm địa thì nam số mới là người đồng cô bóng cậu. Người viết cho rằng: Bản chất của Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương là nhân hậu, từ thiện và khoan dung nên không thể là đối thủ của lũ sát tinh cường bạo, sát phạt, vì thế chỉ cần Lục sát tinh hãm địa cũng đủ để khẳng định điều đó. Nếu bộ Cơ - Nguyệt - Đồng - Lương lại tối hãm thì càng lộ nguyên hình là người đồng cô bóng cậu, ái nam ái nữ dù có được nhiều sao cứu giải hội họp. Ngay trường hợp Cơ - Nguyệt - Đồng - Lương có một vài sao tối hãm, nhất là Nguyệt hãm địa, thì dù không ngộ lục sát tinh vẫn là người có đời sống sinh lý khác người: Tuy có vợ có chồng nhưng vẫn song hành, dù ít nhiều, vẫn vấn vương chuyện tình cảm với người cùng giới.
Hoặc khi nam số có Thất Sát thủ Mệnh tại Tý, Ngọ mà gặp Kiếp, Riêu đồng cung sẽ là người rất ghét đàn bà, thích cuộc sống độc thân, kiểu như người đồng tính luyến ái. Trường hợp này hoặc là người đồng tính luyến ái, hoặc là người có khuynh hướng cận tình dục (không thích quan hệ tình dục với bất kỳ giới tính nào), nhưng khả năng là người có khuynh hướng tình dục đồng giới nhiều hơn, tuy nhiên, vì Thất Sát là võ tinh, hợp với nam số nên có thể sẽ không có biểu hiện rõ rệt bằng hình dáng, cử chỉ của người đồng cô bóng cậu.
Hoặc khi Thái Âm đơn thủ ở Tỵ, rất bất lợi cho nam số, tượng trưng cho đời sống tình dục quái dị, nhu nhược, nhiều nữ tính, chịu nhiều cay đắng trong tình trường. Tuy không ẻo lả, điêu chác như trường hợp Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương ngộ Lục sát tinh hãm địa nhưng cũng không tốt đẹp gì cho nam số về đời sống tình dục cả.
Nữ số khi có Tử - Phủ - Vũ - Tướng hội họp tại Mệnh, nhất là khi Vũ - Tướng thủ Mệnh gặp Lục bại tinh hãm địa là người không thích chuyện trai gái, nếu thêm Hình, Riêu, Cô, Quả thì suốt đời không thành gia thất, hoặc nếu có thành thì cũng lận đận, cao số mà hôn nhân không bền.

- NGƯỜI CÓ SỐ TU HÀNH
Nên hiểu người có số tu hành là người hoặc xuất gia tu hành, hoặc tôn thờ và tin theo một tôn giáo nào đó, chứ không nhất thiết là phải xuất gia tu hành. Cũng không nên hiểu người có số tu hành là người theo Phật giáo hoặc Thiên Chúa giáo mà nên hiểu là người hướng theo một tôn giáo (bất kỳ) nào đó với lòng mộ đạo thành kính.
Nhìn chung, người có số tu hành thì Mệnh (Thân) thường hội họp nhiều sao thiện căn (sao tượng trưng cho bản tính nhân đức, bác ái), sao thất bại ở đời, sao cô độc và nhiều sao hãm địa. Tuy nhiên, khi Mệnh (Thân) rơi vào những trường hợp sau thì mười người sẽ có chín người xuất gia tu hành:
- Mệnh vô chính diệu ở Tuất, có Cơ, Lương ở Thìn xung chiếu hoặc Mệnh vô chính diệu ở Thìn có Cơ, Lương ở Tuất xung chiếu.
(Nhưng có quan điểm lại cho rằng, chỉ khi: Cơ, Lương ở Thìn, Tuất gặp Tuần, Triệt hay sát tinh hội họp thì đường đời mới gian truân, trắc trở, đương số mới có số đi tu.)
- Mệnh vô chính diệu gặp nhiều sát tinh hội họp cùng với Hóa Kỵ.
- Tử, Tham tọa thủ đồng cung ngộ Không, Kiếp.
(Có quan điểm lại cho rằng: nếu Tử, Tham ngộ Không, Kiếp thì dù có đi tu cũng phá giới nên rốt cuộc không có số chân tu)
- Thiên Phủ tọa thủ ngộ Tam Không.
- Thiên Không, Hồng Loan tọa thủ đồng cung (nhưng nếu Thiên Không, Hồng Loan trực chiếu thì chỉ là người mộ đạo).
Trong cuốn “Tử Vi giảng minh” soạn giả Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc cho rằng những người sinh năm Dần, tháng Thân, ngày Tỵ, giờ Hợi thì chắc chắn có số xuất gia tu hành (?). Vì chưa có điều kiện kiểm chứng thực tế, cũng chưa thấy tác giả khác đề cập đến nên người viết chép lại để bạn đọc lưu ý khi tham khảo. Tuy nhiên, theo thiển ý của người viết, phải tham chiếu thêm các cung Phụ Mẫu, Phu - Thê, Tử - Tức xem xấu tốt thế nào. Nếu 3 cung Phụ Mẫu, Phu - Thê, Tử - Tức đều có những biểu hiện bất hạnh về hạnh phúc nơi trần thế của đương số thì mới quyết đoán là người có số tu hành, còn không thì chỉ nên coi đương số là người mộ đạo.
Chúng tôi giới thiệu lá số của Phật tổ và lời luận của Cụ Thiên Lương để bạn đọc tham khảo thêm.

Lời luận của cụ Thiên Lương:
 “Tuổi  Mậu Tuất, Mệnh Thân đồng cung tại Hợi, ở vị trí sáng suốt cùng với thiên địa cảm thông, như người có sứ mạng, có sự đồng minh của thiêng liêng để dìu dắt nhân loại (Thiếu Dương được Hồng, Đào, Hỷ). Thiên Không đây mới thật vấn đề tài tình. Ở vị trí Dần - Thân - Tỵ - Hợi, Thiên Không phải phụ thuộc Hồng Loan, dầu đồng cung hay xung chiều, là bản tính của người không ham phù vân, tự tu tự tỉnh biết trọng cái lý công bằng thiên nhiên, hễ vay là phải trả, muốn là phải khổ, mọi sự vật đều là Không, là chân lý vô thường của nhà Phật, là chân lý thường diễn biến hàng giờ hàng phút, tất cả không có gì là không biến dịch từ cái sinh đến cái diệt cứ liên tục thay nhau bất tận của cái thế luân hồi.
Phủ phùng Không là cái phủ trống rỗng, là cái không có gì, hay ngay cái mệnh của Ngài coi cũng là Không, thiết tưởng Hồng - Lộc xung chiếu, Ngài còn thiết gì mà không ngăn cách bằng Tuần, huống chi Hồng - Lộc là miếng mồi ở trong có thuốc độc (Hà - Sát) với Ngài là bậc tuệ giác làm sao mà không coi thường gạt bỏ.
Thiên Không đã tài tình mà Cô Thần ở đây không kém phần đặc sắc. Người ta thường nói Nam kỵ Cô, Nữ kỵ Quả thì lý đương nhiên là người cô quạnh cho đến cả vợ con ruột thịt đồng bào nhân loại, có cũng như không, không vẫn là có ở đây nó là thế (Hồng - Không, Sắc Sắc Không Không). Như vậy Ngài đâu có lẻ loi, vẫn sống với nhân loại đại đồng, dầu Đông hay Tây, Nam hay Bắc, dưới tuệ nhãn của Ngài (Thiếu Dương, Thiên Hỉ) đều là con người nay kiếp này mai kiếp khác cũng như nhau, Ngài vẫn một tình thương âu yếm nhân hậu (Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức).
Khoa, Đào, Việt, Tả - Hữu là vạn năng của Phật, dầu ở khía cạnh nào vẫn là tập trung ở cái nhân tứ đức, cái tuệ giác quán thông của Ngài cùng trời đất (Thân Mệnh đồng cung).
Thiên Tướng cung Quan ở Mão là Thiên Tướng hãm, nếu là tuổi khác không được Thiếu Dương, không được Tứ Đức, có lẽ đây là một ông thầy tướng số có hạng. Với đức Phật như lá số này (Mậu Tuất) chỉ là một thầy tu khiêm tốn không quyền uy, không ép buộc, không khuyến dụ ai phải theo mình, ai hỏi thì nói, nói rồi cũng như không nói. Thiên Tướng đây có tính cách bình dân muốn để quần chúng tự ý giải thoát mình, chứ Ngài không muốn mình là người sáng ban phát ơn huệ cho ai là người mê muội. Cái phẩm chất của Thiên Tướng (Mão Dậu) nó đã giản dị cặp thêm Thiên Quan có ý nghĩa thông cảm trời cao (Dương), Thiên Phúc đất  rộng (Âm) là sứ mạng của người thông đạt lý lẽ Âm Dương muốn mọi người hết mê để tự mình thành Phật hết cả.
 Nó thong thả tự do tự mình cởi mở lấy mình, ngay cả những lời Ngài nói đừng có tin ngay. Chừng nào thấy chắc  chắn có giá trị thì hãy theo, cũng có nghĩa răn bảo người ta chớ đừng sùng tín dễ dàng để rồi dễ thành thành kiến sai lạc nô lệ cho một học thuyết luân lý hay tôn giáo.
Căn cứ theo số này người Dần - Ngọ - Tuất vận hành đến Tỵ - Dậu - Sửu là phải khắc phục và bị sa lầy, biết rằng Ngài giác ngộ từ năm 29 tuổi và dấn thân vào khổ hạnh hành xác mất 6 năm tức là ở giai đoạn 22 - 31 mất 3 năm chót và 3 năm đầu ở giai đoạn 32 - 41. Ngài đắc đạo năm 35 tuổi thành một vị Thế Tôn ở vị trí Quan Phù, Thái Tuế, Bạch Hổ cùng ảnh hưởng của Thái Dương ở Dần là mặt trời ló dạng ở chân trời, rồi từ đó mà đi cho đến ngày tịch ở tuổi 80 ở cung Ngọ được nhân loại tôn sùng kính bái cho đến ngày nay trên 2500 năm.
Đời Đức Thế Tôn Thích Ca dĩ nhiên Ngài thành Phật là ở Tuệ Giác hơn người (Thân - Mệnh đồng cung ở vị trí Thiếu Dương, Thiên Hỉ hội đủ Tả - Hữu, Khoa, Đào, Việt, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức và cả bộ Thiên Quan, Thiên Phúc) mới dứt bỏ được địa vị cao sang vợ đẹp con khôn phải là một người hùng, không ỷ lại vào đâu để tìm chân lý, là người có nghị lực, song rồi chỉ có một hoài bão sao cho nhân loại được giải thoát trần ai khổ ải là đại từ bi.
Na mô a di đà Phật.
Chúng tôi giới thiệu tiếp lá số của vị tu sĩ với lời luận giải của cụ Thiên Lương để ban đọc tham khảo:

Lời luận của cụ Thiên Lương:
 “Mệnh Quý Hợi đóng ở Dậu có Tử - Tham thủ mạng là số của người yếm thế kể cả hình thức sao đến vị trí Mệnh đóng. Nhưng chính bộ Tử - Tham không phải là nòng cốt của người Mệnh này, phải tính tới bộ Vũ - Phá ở Tỵ. Tử Vi ở đây chính ra là vì sao chỉ huy Mệnh nhưng bị Tham Lang làm lung lạc mà chính Tham Lang này cũng không đủ sức để phá cách Tử Vi nên tuổi Quý Hợi phải mệt mỏi vì Tham Lang, bộ sao này vì thế thành ra nửa trắng nửa đen khiến bộ Vũ - Phá đủ tư thế cuớp quyền chỉ huy mạng này. Phải nói hành động của người này chính là Vũ - Phá.
Người này tu chỉ là hình thức khoác áo Tử - Tham mà để tranh đấu riêng tư cho mình, cho bè phái mình, cho tư tưởng tham vọng mình rất quyết liệt. Tam hóa Liên châu ở Mệnh (Hóa Kỵ giáp Khoa, Quyền ở Dậu) có nghĩa là người này đã ôm một mối hận oán hờn chứa chấp một cơ mưu thâm trầm thầm kín, quấy phá bằng hành động có khi cũng không được đẹp đẽ, được nổi danh (Toái Quân Lưỡng Phá) bằng lối kích thích người ta (Điếu Khách), Thân Vô chính Diệu ở Mão đắc Tràng Sinh (Thủy) (Theo cách an vòng Tràng Sin mà số đông người áp dụng thì lá số này an Tràng Sinh ở Tỵ) hành động ở trên cương vị từ thiện, nhân hậu có tính cách chính nghĩa, nhưng suy tư tính toán ghê gớm là cái vị trí đó của tuổi Quý Hợi. Trong Tam hợp Cục của Thân (hành động) Thiên tướng, Kình - Lực, Thái Tuế, Hình, Riêu càng hành động bao nhiêu càng gây nghiệp quả bấy nhiêu, mặc dầu lấy cái thế chính nghĩa mà dựa.
Khách quan mà nói, ông là người có nghị lực vào hạng khá dễ thành công (Quang - Quý) phải dựa vào thế ngoài phụ giúp, chứ ông không có tài tổ chức (Mã thiếu Tả - Hữu). Nếu ông đã thắng nước thì lại hay ẩu, đó là tính cách của Vũ - Phá. Vì thiếu bộ Âm Dương nên ông kém sáng suốt.
Được liệt vào hàng giáo phẩm cao cấp như ai (Thiên Phúc, Quý Nhân, Phong Cáo, Đường Phù) đối với ông chỉ là hư danh cho đến Tử - Tham ông coi chỉ là chiếc áo khoác bề ngoài. Thâm tâm Vũ - Phá - Hoá Kỵ một uẩn khúc khó ai biết nổi người bí mật này.
Năm 1963 đương số tranh đấu được thành công, tiếng tăm lừng lẫy là năm 40 tuổi ở trong Đại vận 33 - 42 ở Ngọ gặp Thái Dương đắc Hỏa Tinh. Tuy vậy có biết đâu chỉ là quân bài bị lợi dụng trong cái thế sinh xuất tính theo thời gian của tuổi Quý Hợi đáo Ngọ cung, ở trong còn nhiều quỷ kế (Cô, Quả, Phục Binh, Không, Kiếp). Lúc này đang ở trong Đại vận 43 - 52 ở cái thế khắc nhập thân bại danh liệt, nhất là từ năm 1966 đương số bước qua Đại vận mới này 43 tuổi, hoạt động ráo riết, tưởng sự thành công cũng dễ dàng như mấy năm trước, nhưng có lẽ gặp người đối đầu là Thổ Mệnh lại là lúc hưng thời, ông đành xẹp luôn cho đến nay, một đôi lúc cũng cố phát pháo mở cờ ra quân bởi không thời cũng đành nằm co im hơi lặng tiếng.” 

- NGƯỜI MUỘN VỢ - MUỘN CHỒNG:
Đó là những người dù yêu nhiều, yêu rất sớm nhưng việc xây dựng gia đình lại muộn, thậm chí rất muộn. Những người có số muộn vợ muộn chồng thường cung Phu - Thê có các sao: Cô, Quả, Không, Kiếp, Khốc, Hư, Linh, Hỏa, Tang, Hổ, Kình, Đà, Tuần, Triệt và Song Hao hội họp. Càng hội họp (thủ hoặc chiếu) nhiều các sao trên thì sự muộn xây dựng gia đình càng chắc chắn.

- NGƯỜI MUỘN CON CÁI:
Tại cung Tử - Tức, càng nhiều sao sau: Tuế, Hình, Không, Kiếp, Khốc, Hư, Linh, Hỏa, Song Hao, Tuần, Triệt, Tang, Hổ, Đẩu Quân, Thất Sát, Kiếp Sát... thủ hoặc hội chiếu thì thường muộn về đường con cái, dù có lấy vợ lấy chồng rất sớm.

- NGƯỜI GIANG HỒ LÃNG TỬ:
Đây là những người vì tự ý hoặc bắt buộc, kéo dài kiếp sống sa đọa mua vui hoặc mưu sinh. Đó là những hạng playboy, playgirl....
Sách tử vi liệt kê một số bộ sao tiêu biểu về tình trạng giang hồ lãng tử như sau:
- Tham, Kình (hoặc Đà) đồng cung ở Tý, Hợi: Giang hồ, lãng tử, hoang đàng.
- Thái Âm hãm gặp sát tinh: Trai trộm cắp, gái giang hồ.
- Tham Lang, Thất Sát đồng cung: Trai trộm cướp, gái giang hồ.
- Thái Dương hãm địa gặp sát tinh: Trai thì trộm cắp, gái thì đa tình, đĩ điếm.
- Đào (Hồng) cùng sát tinh (nhất là sát tinh hãm địa): Bất hạnh và oan nghiệt trong tình trường.
- Đào, Thiên Không: Có tài lừa phỉnh, lôi cuốn người khác làm trò đĩ điếm, dâm tiện.
- Phục, Tướng, Thai, Riêu: Gạ gẫm, bắt cóc phụ nữ làm chuyện dâm bôn. Có thể là tú ông, tú bà.
- Cô (Quả), Kỵ, Tuế: Bị bỏ rơi, thất sủng. Đặc biệt nữ số có bộ sao này có thể là gái giang hồ.
- Cô (Quả), Đào, Mã: Nhiều nhân tình nhưng các mối tình đó đều sớm nở tối tàn. Đặc biệt nữ số có bộ sao này có thể là gái giang hồ.
Để quyết đoán đương số có phải là người giang hồ lãng tử hay không rất khó. Ngoài việc lá số của họ rất giống lá số của người không vợ không chồng, còn rất giống lá số của người phong tình cách nên thật khó đưa ra lời kết luận. Tuy nhiên, cần lưu ý 2 điểm sau:
- Cung Mệnh (Thân) và cung Nô có nhiều dâm tinh hội họp, lại không có sao khắc chế nên không kìm hãm được đà trụy lạc của đương số. Đặc biệt, khi cung Nô rơi vào trường hợp này thì đương số là người rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi đàng điếm, bất chấp dư luận, đạo đức.
- Cung Phu - Thê có nhiều sao chỉ sự thay đổi cụ thể như: Thiên Đồng, Thiên Mã, Song Hao. Hoặc cung Phu - Thê bị Tuần - Triệt đồng cung, hoặc bị Tuần, Triệt án ngữ, hoặc hội họp nhiều sao cô độc, bất hạnh về gia đạo ....

- NGƯỜI PHONG TÌNH CÁCH:
Là người sống lãng mạn, đa tình, lấy ái tình làm lẽ sống ở đời, không có khái niệm tình yêu chung thủy. Phần nhiều gặp Song Hao, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Riêu, Đào, Hồng, Mộc Dục, Thai, Tham, Phá, Cự, Lương và Xương, Khúc.... Hiểu đơn giản là Mệnh (Thân) hội họp rất nhiều sao tình dục, lại gặp những sao bại tinh, tam ám ... 
Sách Tử Vi liệt kê một số bộ sao tiêu biểu cho những người thuộc phong tình cách như sau:
- Tham,  Vũ đồng cung gặp Phá Quân: Luỵ thân vì sa đọa, tửu sắc.
- Thiên Riêu, Thiên Đồng: Là kẻ háo sắc, thay đào, đổi kép như cơm bữa, dù đã có có vợ có chồng vẫn tham dâm, ngoại tình.
- Riêu, Tam Minh (Đào, Hồng, Hỉ): Rất gian dối và đĩ bợm.
- Thiên Riêu, Vũ Khúc, Hóa Khoa: Vì học giỏi, có tài đoán trước sự việc nên cực kỳ dâm đãng
- Thiên Lương, Thái Âm hãm hội chiếu: Nghèo hèn, tha phương lập nghiệp và dâm đãng.
- Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung ở Dần, Thân gặp Xương, Khúc (Riêu): Dâm đãng, sa đọa, hay làm thơ văn dâm tình.
- Cự Môn hãm gặp Kình, Đà: Trai hay gái cũng đều là kẻ trộm cắp, lăng loàn và đĩ điếm.
- Phá, Tham, Lộc, Mã: Giàu có về tiền bạc nhưng lại là người cực kỳ dâm đãng.
- Phá, Cái, Đào: Dâm dục và lăng loàn, sát chồng (ứng nghiệm với nữ số).
- Thiên Đồng, Thiên Lương ở Tỵ, Hợi: Đàn ông phóng đãng, đàn bà dâm dật.
- Thiên Lương, Thiên Mã đồng cung tại Tỵ, Hợi: Đàn ông hư hỏng, đàn bà đĩ thõa và dâm tiện.
- Đào, Tràng Sinh (Đế Vượng): Nhiều nhân tình, và những mối tình đó đều đắc thời.
- Đào, Thiên Mã: Thay đào đổi kép, có mới nới cũ.
- Tướng, Phá, Binh, Đào, Hồng: Dâm dục quá mức, loạn luân, loạn dâm.
- Phục, Tướng, Đào, Thai: Dụ dỗ người khác làm chuyện dâm bôn. Riêng phái nữ thì thêm bị lừa, thất trinh, thất tiết.
- Phục, Tướng, Thai, Riêu: Gạ gẫm, bắt cóc phụ nữ làm chuyện dâm bôn. Có thể là tú ông, tú bà.
- Tướng, Đào, Hồng: Đàn bà tơ duyên rắc rối, ngoại dâm, thất tiết. Đàn ông thì hoang dâm vô độ.


Bài đọc thêm 1:
SINH CÙNG NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ
MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU
*
(Trích từ Chu Dịch Với Dự Đoán Học của Thiệu Vĩ Hoa)

Có người bạn nói chuyện với tôi về mệnh vận. Anh ta nói: tôi cực lực phản đối thuyết con người có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người nói con người có mệnh vận, thế thì những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây vì sao chỉ có một người làm vua. Nước ta có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau tí nào hoặc phân thành suy vượng được.
Tôi hỏi anh ta: ngày cùng là ngày cả thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau ? Ðất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cây thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ. Nhân thể là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu? Vì sao có người chỉ có gan mộc khối u, còn các phủ tạng khác thì lại tốt? Tôi lại nói cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn.
Ông bạn ấy nghe tôi nói đã hiểu được vấn đề và nói lại là: "Ừ, đúng nhỉ! Lục phủ ngũ tạng đều cùng một giờ sinh, thế mà lại khác nhau rất lớn, thật đáng nghiên cứu.". Tôi nói với anh ta: "Tổ tiên chúng ta từ lâu đã nghiên cứu ra rồi, đó là lục phủ ngũ tạng đều có âm dương, có ngũ hành tương sinh tương khắc, mỗi cái chủ suy vượng của 4 mùa, cho nên cùng một giờ sinh, nhưng khác nhau rất lớn".
Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:
1) Phương vị khác nhau, như phương nam là hỏa, phương đông là mộc, phương bắc là thủy, phương tây là kim. Người mệnh hỏa nhưng sinh ở phương nam hay phương bắc sẽ khác nhau. Phương nam là đất hỏa vượng, phương bắc bị thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương nam.
2) Năm mệnh của phụ mẫu khác nhau.
3) Năm mệnh của anh chị em khác nhau.
4) Năm mệnh hôn nhân khác nhau.
5) Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau.
Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
6) Nam nữ khác nhau, do đó mà có sự vận hành thuận, nghịch khác nhau.
7) Tướng mặt, vân tay không giống nhau cho nên việc làm chủ cũng khác nhau.
8) Cốt tướng của người khác nhau.
9) Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau. Ngày xưa đã có câu "Nhất mộ, nhì phòng (nhà ở), tam bát tự", tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người, thứ nhất quyết định ở phong thủy phần mộ ông cha tốt hay xấu; thứ hai quyết định ở phong thủy của nhà ở; thứ ba quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ.
Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.
10) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
11) Hoàn cảnh và điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
12) Ðiểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào nhà một người nào đó, hoặc đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đấy đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Ðông đều không đồng thời nhìn thấy vầng đỏ phía đông phòng họ rồi sau đó mang thai Mao Trạch Ðông, đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
Có một câu chuyện như sau:
Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi đã làm Hoàng đế nghĩ rằng, mình đã làm vua và những người cùng giờ sinh với mình cũng là "mệnh Hoàng đế" cả, nếu không giết hết họ sau này sẽ có người tranh ngôi. Do đó ông đã ra lệnh giết, giết loạn mà không thương tiếc. Khi giết đến nửa chừng, Chu Nguyên Chương lại nghĩ nên bắt mấy người cùng giờ sinh với ông đến để hỏi xem họ làm nghề gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Chu Nguyên Chương hỏi một người trong số đó: "Ông làm gì?" - "Nuôi ong" - "Nuôi bao nhiêu ong?" "Nuôi 9 tổ", tất cả mấy vạn con". Chu Nguyên Chương sau khi nghe vừa sợ vừa mừng: mình làm Hoàng đế thống trị cả 9 châu, 9 chư hầu. Ông ấy nuôi 9 tổ ong, có 9 ong chúa. Số ong của ông ấy nuôi và số người mình cai trị đại thể giống nhau. Xem ra mình và ông ta không đều là Hoàng đế của người cả, làm hoàng đế của người chỉ có một mình, còn người khác, có người làm vua của ong, có người làm vua của tằm, có người làm vua của cá... Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và ngừng lệnh giết những người cùng ngày sinh.
Về vấn đề vận mệnh của những người sinh đôi có giống nhau hay không?, có thể nói không hoàn toàn khác nhau. Vì cho dù cùng sinh trong một giờ, nhưng có trước có sau. Nếu không cùng sinh trong một giờ thì khác biệt còn rõ hơn nữa. Tôi đã sơ bộ điều tra thấy rõ, những người sinh đôi sau khi kết hôn thì sai lệch rất rõ, nguyên nhân là vì những người bạn đời họ chưa ít khi đều cùng một năm mệnh, cũng không thể cùng giờ sinh. Như vậy các thành viên tổ thành gia đình này phát sinh ra biến hóa, ngũ hành sinh khắc cũng đồng thời phát sinh biến hóa, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.
Vạn vật trong tự nhiên, thậm chí là trong cùng một sự vật, sự phát triển biến hóa còn không đồng đều, huống hồ những người cùng một ngày sinh làm sao mệnh vận lại giống nhau được. Do đó sự tổ hợp thiên can địa chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người là nhân tố nội tại của mệnh vận tốt hay xấu, là căn cứ của sự biến hóa, nhân tố bên ngoài chỉ là điều kiện để biến hóa. Sự sắp xếp của thiên can địa chi, khí âm dương ngũ hành có mối quan hệ rất mật thiết với con người, đương nhiên chúng ta không phủ định sự nỗ lực chủ quan. Ví dụ trong tứ trụ có tiêu chí thông tin học đến đại học, nhưng không đọc sách, không nỗ lực học tập, chắc chắn là không tốt nghiệp đại học. Do đó muốn đạt được mục địch dự tính, ngoài nhân tố tiên thiên còn phải cộng thêm sự nỗ lực của hậu thiên.
*
THIỆU VĨ HOA


Bài đọc thêm 2:
TỨ YẾU
THẬP DỤ - BÁT PHÁP
*
(Trích từ Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Hi Di Trần Đoàn)

Các sao phân phối đóng tại 12 cung, biến hoá vô cùng. Có bốn điểm trọng yếu để phân biệt:
a. Cát hung                     b. Hư thực   
c. Chủ khách                  d. Cường nhược.
Sao có sao thiện, sao ác, thiện là cát tinh, ác là hung tinh. Hung hay cát không phải chỉ căn cứ trên tính chất mỗi vị sao mà còn căn cứ trên chỗ đứng của nó đúng hay sai, miếu địa hay hãm địa.
Hư thực thế nào? Sao tốt làm miếu địa mới là thực cát, thực cát thì không hung dù gặp hung cũng chẳng sợ. Sao xấu rơi vào hãm địa mới là thực hung, thực hung thì không cát, dù gặp cát cũng khó lòng giải. Sao tốt ở hãm địa là hư cát, hư cát là không tốt, còn có thể biến cát thành hung. Sao xấu ở miếu địa là hư hung, hư hung là không hung, còn có thể biến hung thành cát.
* Chia chủ khách ra sao?
Lấy các sao ở bản phương làm chủ, các sao tại cung tam hợp hay xung chiếu là khách. Nếu như bản phương không có chính tinh tức không có chủ thì phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ, các sao cung tam hợp làm khách. Trong trường hợp cả hai cung xung chiếu cung vô chính tinh thì chỉ lấy sao khách mà luận cát hung.
Cường nhược đây ý nói cường nhược trong tương quan chủ khách. Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc hay khách chủ đều xấu là một bầy bạo nguợc thì khỏi phải đặt vấn đề cường nhược.
Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xét chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.
* Thập Dụ là gì?
Là mười điều căn bản cho việc xem số ở mỗi cung cùng với cát cung tam hợp và cung xung chiếu:
1). Bản phương tốt (cát) “do nội tự cường” mạnh từ bên trong mạnh ra.
2). Bản phương xấu (hung) là “tòng căn tự phát” hư từ gốc rễ.
3). Cung xung chiếu tốt là “nghênh xuân tiếp phúc” chờ xuân đón phúc.
4). Cung xung chiếu xấu là “đương đẩu ác bổng” giơ đầu chịu búa đập.
5). Cung tam hợp tốt là “tả hữu phùng nguyên”, lắm chân tay giúp đỡ.
6). Cung tam hợp xấu là “tả hữu thụ địch”, địch từ bên phải, bên trái đánh tới.
7). Lân phương (cung đằng trước đằng sau) tốt là “lưỡng lân tương phù” hai bên hàng xóm phù trợ.
. Lân phương xấu là “lưỡng lân tương vũ, hai bên hàng xóm mưu hại.
9). Cả bốn cung cùng tốt là “ Thiên tường vân tập” mây ngũ sắc kéo về chầu.
10). Cả bốn cung cùng xấu là “tứ diện sở ca” bị vây tứ phía không lối thoát.
* Bát Pháp là gì?
Bát pháp là tám lối định cách cục khi xem sổ. Mệnh ai cũng thế, đều có cách cục ví như hình vuông, hình tròn, to, nhỏ, đẹp, xấu, lành vỡ của đồ vật. Cách cục của mệnh nói cho hết thì nhiều vô cùng nhưng đây dùng lối quy nạp để đưa thành tám lối. Chia ra như sau:
A. Thành phá tứ pháp:
Phàm mệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp:
- Khoa Quyền Lộc Quí thì kể như cách cục thành, đáng phê mấy chữ “giao long đắc vận vũ” (con rồng gặp mây nước).
- Nếu gặp tứ hung Hỏa Linh, Dương Đà thì kể như phá cách loại “miêu nhi bất tú” (chỉ nẩy mầm mà mầm không xanh tốt).
- Nếu vừa gặp tứ hung lẫn tứ cát thì kể như trong thành có phá, chẳng khác chi “bạch khuê hữu điềm” (viên ngọc trắng bị vết nứt, vết mẻ).
Cả tứ hung lẫn tứ cát đều không thì kể là cách chưa thành nhưng không bị phá, chờ xem hạn ra sao giống như “hỗn kim phác ngọc” (vàng còn lẫn các khoáng chất tạp nhạp, ngọc chưa được lấy ra khỏi đá).
B. Cửu khí tứ pháp:
Phàm mệnh thân cung mà các cung xung chiếu tam hợp đều có hung nếu:
- Gặp Lộc Quí Quyền Khoa là cứu cách, hạn hán lâu ngày được cơn mưa “cửu hạn phùng cam vũ”.
- Gặp Hỏa Linh Dương Đà là khí cách (bỏ đi), cây gỗ mục không thể khắc đẽo làm gì được “hử mộc nan điêu”.
- Gặp vừa tứ cát vừa tứ hung là vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà “thực kê lặc”.
- Không gặp cả tứ cát lẫn tứ hung là cách “thủ tàu bão khuyết” nấn ná đợi thời.
*
HI DI TRẦN ĐOÀN

Bài đọc thêm 3:
LUẬN GIẢI VỀ PHÚ TỬ VI BIỆT CÁCH

Bài đọc thêm 4:
PHÚ MA THỊ (Tác giả: Khuyết danh)

-----------------------------------HẾT------------------------





0 nhận xét:

Đăng nhận xét