CHUYỆN VĂN THI SĨ
(kể rất thật chuyện về bạn thơ văn)
*

Dịch giả ĐOÀN MẠNH THẾ:
DAO SẮC KHÔNG GỌT ĐƯỢC CHUÔI
*
Năm 1998, lần đầu gặp, thấy anh phong độ, trẻ trung, nghĩ anh chắc chỉ ngoài bốn mươi tí ti nên gọi anh xưng em ngọt sớt. Mãi sau này biết tuổi, ngại quá, xin chuyển sang xưng cháu gọi chú cho phải đạo thì anh gạt: - “Đừng gọi tớ là chú, già lắm. Tớ hơn cậu chưa đến 30 tuổi, đang quen anh anh em em, chuyển sang xưng hô chú cháu nghe buồn cười...” . Ừ. Tặc lưỡi, cũng như dịch giả Trần Đình Hiến đi! Bố cũng anh xưng em. Con (con vợ lớn của dịch giả Trần Đình Hiến) cũng anh xưng em. Năm thỉnh mười thoảng mới gặp, gọi anh xưng em cũng chẳng chết hàng tôm hàng cá nào, cốt vui vẻ khi gặp mặt, công việc được như ý, là ổn. Từ đấy, lại anh anh em em, nhiều lúc rượu vào còn hứng lên cốc đầu “ông anh” như gõ đầu trẻ, rồi tưng tửng phán: - “Số anh sau này cũng thê lương lắm. Vợ bỏ! Con chê! Về già sống cảnh đói nghèo, đơn độc!”. Anh cười khì khì: - “Chú biết cái đếch gì mà phán! Lại nghe thằng Hà (con thứ 2 của anh) nói khi rượu vào chứ gì? Ừ. Số anh nó nhọ như thế nên cố tích đức để cải số đây. Mà số chú sau này cũng nhọ lắm, sướng hơn anh về vật chất nhưng tinh thần cũng sẽ mệt mỏi đấy.”.
“Phán” là thế nhưng bụng bảo dạ, anh ấy sẽ sướng chứ chẳng khổ như “sách nói” đâu. Nhà cửa có mấy cái, ở Hà Nội, ở cả Hải Phòng. Lương hưu kha khá, lại dịch sách đều đều, cờ bạc thì không, gái gú chỉ giỏi võ mồm. Đến cả rượu cũng chỉ thi thoảng làm một, hai chén cho “có phong trào”,  để “giữ quan hệ”...  Người như thế, cuối đời sao khổ được! Ấy vậy mà đùng cái năm anh 65 tuổi, chị lôi anh ra tòa, nhất quyết “đường ai nấy đi”. Con cháu, họ hàng tham gia thế nào, chị vẫn cứ khăng khăng: - “Không yêu nhau nữa thì giải phóng cho nhau. Già rồi nên càng cần được sống cho riêng mình, càng cần được sống thanh thản. Sống được bao năm nữa mà cứ phải gượng ép cho khổ!”. Điên tiết, anh cũng “hâm hâm” lên, họa luôn: - “Bà không còn yêu tôi nữa, thì thôi, ra tòa.”. Thế là anh chị ly hôn! Thế là anh khăn gói lên Hà Nội sống kiếp độc thân... Chẳng bao lâu, ngôi nhà “đắc địa” ở phố “Hàng...” cũng lại phải bàn giao cho “người khác”. Anh thành kẻ trắng tay. Là kẻ coi nhẹ đồng tiền, anh tặc lưỡi: - “Người còn chẳng tiếc, tiếc đếch gì tài sản!”, rồi lầm lụi về ngôi nhà cũ nát của bố mẹ ở Hồng Mai để tá túc...
Sáng nay đến thăm anh, sững người khi tận mắt được “mục sở thị” ngôi nhà anh ở. Ngồi đến tiếng đồng hồ mà vẫn không biết có nên gọi nơi anh đang tá túc là nhà không nữa? Tuổi đã cao, sức đã yếu, mỗi bận mưa gió thì thế nào...?
Tiễn khách ra cửa, anh cứ mãi phân trần: - “Số anh nó khổ vậy, đành chịu. Trách ai hả chú? Mấy thằng em chú (con của anh), cũng có nỗi khổ của chúng nên anh không làm phiền chúng. Trời cho anh sống vượt tuổi thất thập cổ lai hy mà vẫn khỏe mạnh thế này là anh sướng lắm rồi...”
Cả ngày nay, cứ bần thần nghĩ về anh: Giỏi như anh, tử tế như anh và am tường lý số như anh, vậy mà vẫn phải chấp nhận sự an bài của thiên định đặt vào thế hãm địa...!
Tối nay. Cho cu cháu đón anh đến nhà chơi, cũng chỉ biết nhắc anh cố giữ gìn sức khỏe, đề phòng 2 pháp lệnh ngày càng nổi rõ, chạy sâu vào khóe miệng...
Anh ừ mà nghe ầng ậc tiếng nước mắt!                                    .
*.                                    
Hà Nội, ngày 06 tháng 10 năm 2015
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Chuyện về “bạn”
NGUYỄN THANH LÂM
*
Năm kia, muộn hơn chặp này khoảng mươi ngày thì phải, lão đến nhà thi sĩ Nguyễn Thanh Lâm chơi. Anh em lâu ngày mới gặp nên có nhiều chuyện để nói, nhưng chuyện gì thì chuyện, hai anh em cũng quay về chuyện Tử Vi Lý Số, xem thời gian tới bố con lão nên làm những gì và tránh những gì.
Lần đấy, sau vài câu chuyện về nhà nọ nhà kia, anh bấm bấm ngón tay rồi hỏi:
- Có muốn nghe anh nói sang năm vận hạn thế nào không?
Lão cười, bảo:
- Đến thăm anh toàn được lãi thế này thì tháng nào cũng nên đến hầu chuyện anh, anh nhỉ?
Anh giãy nảy lên:
- Thôi! Cậu tham thế? Sang nhà anh chơi chỉ muốn nghe anh nói về kinh nghiệm xem tử vi mà chẳng bao giờ mời anh bữa nào cả.
Lão gãi gãi đầu, giả đò:
- Thì tí nữa anh em mình tìm quán nào ngồi lai rai vậy?
Anh bĩu môi:
- Mẹ! Biết anh đếch uống được bia rượu nên toàn mời đi nhậu! Đểu!
Lão cười:
- Thì anh vừa bảo em chẳng chịu mời anh bữa nào cả mà?
Anh nhăn mặt:
- Thằng khỉ! Biết gu của anh rồi mà cứ giả vờ! Mày bị “xịt” chứ anh có bị “xịt” đếch đâu mà ngồi cùng chiếu!
Lão hì hì cười:
- Hỏi thật anh nhé. Không sợ chị à?
Anh khẽ rướn mắt nhìn lão, rồi lim dim mắt, thủng thẳng:
- Cậu nhầm! Chị cậu hơi văn minh đấy. Với lại, đi này nọ với gái mà để vợ biết thì còn đáng mặt đàn ông không?
Anh đang cao hứng thì chị về.
Thấy chị vào, anh hắng giọng:
- Nói rồi. Vận Đào - Hồng - Hỷ sang năm sẽ không có đâu, cậu đừng có mong! Thằng Cô - Quả nằm phưỡn bụng thế kia thì đố cậu bước qua nó được, cứ là chấp nhận cô đơn lẻ bóng hết năm Giáp Ngọ… Này, cái thằng Cô - Quả không chỉ cản phá tình cảm đôi lứa đâu. Nó còn cản phá, gây rắc rối các mối quan hệ khác cũng ác liệt đấy. Tóm lại là sang năm Giáp Ngọ cậu đen lắm, thất bại toàn tập về chuyện tình cảm, luôn sống cô đơn, buồn bực.
Quay sang chị, anh bảo:
- Chiều vợ chồng mình đến thăm bác Long (nhà thơ Chử Văn Long). Bác ấy ốm mấy ngày rồi.
Chị cười:
- Vâng! Anh em nhà anh cứ bàn luận chuyện lý số đi. Em ra chợ mua ít quà, rồi chiều vợ chồng mình sang thăm bác ấy.
Chị đi rồi. Anh lại thủng thẳng:
- Cậu nghiên cứu về lý số mà cứ thích cãi cùn với mệnh số. Mấy lần giới thiệu cho cậu, toàn các cháu sinh năm 87, 88, xinh, trẻ, ngoan, hợp với căn số của cậu mà cậu cứ giãy nảy lên. Lần thì kêu trẻ quá, xinh quá, chắc gì sẽ là vợ của em? Lần thì Mệnh hội họp nhiều dâm tinh như thế, em lại yếu khoản kia có mà “nuôi con người” à... Bị anh phản bác, không lại được thì cãi cùn, em biết số em cưới vợ lần 2 rồi cũng lại bỏ, mấy thằng con đều sống với mẹ của chúng, em thui thủi sống một mình mà con cái lại bất hòa, không giỏi giang nên thôi “nhịn tập 2” để cu Tuấn Hưng đỡ khổ... Nghe muốn cho cậu mấy cái bạt tai. Viết sách, cậu vẫn khuyên đọc giả là lựa theo số để sống tốt hơn thế mà cậu lại cưỡng lại số mệnh thì không được. Với lại, số cậu đi tiếp tập 2, biết cách lái sẽ ngon chứ không xấu như thế đâu...
Hôm nay cũng vậy, lão vừa điện đến, nhờ anh chút chuyện. Tư vấn xong, anh lại chuyển sang chuyện tử vi:
- Này, sang năm cậu gặp nhiều chuyện khá rắc rối đấy. Tình cảm đã chả đâu vào đâu mà còn dính chuyện lôi thôi, không khéo phải lôi nhau ra tòa. Mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, tuy cậu không thua nhưng cũng khá là mệt mỏi. Năm nay cậu còn tạm được, chứ sang năm thì Kình Dương chềnh hềnh như thế, lại hãm địa, tại NGỌ, gặp Tuế, Phá, Thiên Hình, Kiếp, Không, Song Hao... hội họp sẽ đau đầu lắm. Thôi, hôm nào đến anh. Ngồi làm ấm trà, anh em đàm đạo chuyện nọ chuyện kia chứ cứ gặp nhau qua điện thoại thế này có khi chạm mặt lại chẳng nhận ra là anh em nữa.
Lão vâng vâng dạ dạ, chưa kịp mời anh trưa thứ 7 này đến nhà lão làm vài chén rượu quê thì anh đã tiếp lời:
- Bận trước mưa như thế nên anh không đến nhà cậu được. Thông cảm nhé. Định mời anh cuối tuần đến nhà dùng cơm à? Trưa thì được chứ tối anh ngại đi lắm. Rét.
Lão cười, hỏi:
- Sao anh biết?
Anh hề hề cười, rồi mắng:
- Thằng khỉ. Anh em chơi với nhau gần hai mươi năm rồi mà lại thắc mắc điều đó. Cậu điện đến, đúng lúc anh cũng nghĩ tới cậu nên “bấm quẻ”, biết cậu điện cho anh “động” tới 2 việc, trong đó có một việc là ăn uống.
Đang định chào anh, rồi cụp máy thì anh tiếp:
- Cậu còn nhớ cô bé T. ở Phương Liên - Đống Đa không? Cô bé có cái răng khểnh, sinh năm 1988 đấy. Ừ. Cũng lại bỏ chồng rồi. Cung phu của nó nát quá nên khó lái lắm. Đã Cự, Kỵ đồng cung, lại hãm địa, trong khi Mệnh, Thân, Phúc đều xấu như thế thì gia đạo chắp nối nhiều lần là phải. Ngày đó, cậu cưới nó thì cả cậu và nó có khi giờ đều ổn vì cậu đã qua gãy đổ hôn nhân, các cung Phúc, Mệnh, Thân và Thê của cậu có thể “bù trừ” phần nào cho các cung Phúc, Mệnh, Thân, Phu của nó. Tiếc là ngày đó cậu sợ nó xinh quá, cậu sẽ không giữ được vợ nên viện cớ thằng cu con không cho cưới để ngãng ra. Vụ đó, anh ngại với mẹ con cô bé đó mãi.
Tưởng anh sẽ cụp máy, anh lại tiếp:
- Cái thằng Cự Môn, Hóa Kỵ là khốn nạn lắm, dù có đắc địa thì khi đóng ở Phu - Thê cũng gây những trắc trở cho gia đạo, nhất là khi đồng cung thì phá hại càng lớn. Thằng Thiên Hình cũng ghê gớm ra phết. Khi đi với sao tình dục, Thiên Hình làm cho tình duyên bị trắc trở, tan nát... Đấy là xét về lý thuyết, còn khi luận giải phải linh hoạt vào sự hội tụ của các sao tại bản cung mà suy luận. Cậu nên nhớ: Tử vi là dòng sông, là biển cả mênh mông. Cậu muốn giỏi tử vi phải hóa thân vào tử vi như là cá mới biết nỗi lòng của nước, nỗi lòng của biển của sông. Nguồn gốc của tử vi là Kinh Dịch. Linh hồn Kinh Dịch là thời và Kinh Dịch là hóa sinh, biến thiên, bất biến và vô lượng biến dịch.
Rồi anh cười, chốt:
- Thôi, trưa thứ 7 gặp nhau đàm đạo tiếp. Anh thấy cậu có vẻ lấn cấn phí điện thoại rồi.
Cụp máy, lão cứ lẩn thẩn nghĩ, sao bạn tri kỷ của lão toàn là bạn vong niên, bạn cao tuổi nhỉ? Bạn ít tuổi hơn tri kỷ với lão cũng có nhưng không nhiều, ít lắm.
Lôi lá số ra. Nhìn vào cung Nô, cung Di, thấy lão đã có ít các mối quan hệ xã hội, mà trong các mối quan hệ ấy, lão thường bị “kẻ dưới chơi đểu”... Thảo nào, lão thường nhận được tình tri kỷ ở những “bạn cao niên”!
*.
Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Nhà thơ
VÀ CHUYỆN “GÁI GÚ”
*
Nhà thơ Đỗ Hoàng vừa về thì ông đến. Không bấm chuông, ông cứ đứng trước cửa toáng lên réo:
- Hoàng ơi! Hoàng!... Sao không có ai ra mở cửa thế này. Cái thằng này! Hoàng ơi! Hoàng...
Đứng trên ban công tầng 2, tôi vội với xuống:
- Chú ơi! Anh Đỗ Hoàng vừa về. Anh ấy nhắn lại nếu rảnh thì chú qua nhà anh ấy chơi. 
Ông gắt giọng:
- Cậu xuống đây gặp tôi đi. Đứng trên đấy mà trả lời người lớn thì mất lịch sự quá.
Cửa vừa mở, chưa kịp nói câu xin lỗi, ông đã hất hàm hỏi:
- Này! Thế cậu với Đỗ Hoàng có quan hệ với nhau kiểu gì thế?
Tôi cười:
- Cháu quen biết anh ấy từ thời học Đại học.
Ông nhìn tôi, vẻ nghi hoặc, dài giọng:
- Cậu cũng học Đại học?
Tôi cố nhịn cười, trả lời:
- Vâng! Cháu cũng trầy trật 4 năm mới xong Đại học đấy ạ.
Ông nheo mắt, hất hàm:
- Thế có biết làm thơ không?
Tôi thật thà:
- Dạ! Cháu cũng chỉ mượn thơ để giãi bày tâm sự của mình thôi. Mà... Chú là nhà thơ Trần Lý?
Ông nghiêm nghị:
- Trần Đình Lý! Tiến sĩ, nhà thơ Trần Đình Lý. Cậu réo tên tôi kiểu đấy rất thô thiển và mất lịch sự. Thế cậu cũng có thơ đăng ở trang của Đỗ Hoàng phụ trách à? Mà sao cậu không mời tôi vào nhà ngồi nói chuyện, cứ để tôi đứng ngoài đường thế này thì tệ quá.
Tôi gãi đầu, thành thật:
- Cháu tưởng chú vội, với lại, chú cháu mình chưa biết nhau nên cháu ngại. Giờ chú nói vậy, cháu mời chú lên tầng 3, chú cháu mình ngồi uống trà, hàn huyên đôi ba câu chuyện.
Vừa ngồi xuống ghế, ông vỗ vai tôi:
- Này, bỏ xưng hô chú cháu đi, nghe xa cách lắm. Anh em cho tình cảm.
Đưa nước mời ông, tôi tủm tỉm:
- Dạ. Chắc cháu tầm tuổi con út của chú?
Ông cười:
- Không! Cậu tầm tuổi con gái lớn của tôi. Các cụ nói không sai, con cái là tài sản quý lúc về già. Tôi có 3 đứa con, 2 gái một trai, đứa nào cũng ngoan ngoãn, nên người. Các cháu ngoại tôi tuyệt vời lắm. Ngoan, xinh và học giỏi. Mà cậu có mấy con? Thằng cu vừa rồi đẹp trai và ngoan nhỉ? Rất lễ phép! Cậu này! Giàu nghèo không quan trọng. Con cái ngoan ngoãn và thành đạt mới đáng để tự hào chứ mấy thằng trọc phú, con cái hư hỏng, văn hóa lùn tịt thì có gì để tự hào. Ấy thế mà cái bọn người đấy lúc nào cũng hợm hĩnh, ra vẻ ta đây, hình như họ không biết xấu hổ cậu ạ. 
Rồi như chợt nhớ ra chuyện quan trọng, ông nhìn tôi, ngập ngừng:
- Vừa rồi cậu nói cậu cũng biết làm thơ đúng không? Thế thì tôi đọc cậu nghe bài thơ tôi vừa viết tối qua, rồi cậu cho lời nhận xét thật khách quan nhé.
Tôi vội chối từ:
- Ấy chết. Chú đừng bắt cháu làm việc đấy. Cháu cảm thơ kém lắm ạ. Với lại, khả năng ăn nói của cháu cũng có vấn đề nên chú cháu mình ngồi uống nước nói chuyện khác đi ạ.
Ông nhìn tôi, vẻ khó hiểu:
- Làm thơ mà không thích nói chuyện về thơ thì làm thơ làm gì? Cậu có phong cách hệt thằng con trai tôi. Nó không thích nói chuyện về thơ ca nhưng lại thích nói chuyện về kỹ thuật vi tính, làm ăn, đại loại là những chuyện xã hội... Thằng ấy giỏi phết cậu ạ. Tự lập. Không thích dựa dẫm bố mẹ. Năm ngoái, vợ chồng nó mua được căn hộ hơn 6 tỷ bằng tiền kiếm được trong 3 năm đấy. Nó bảo không thích ở chung với bố mẹ nên hai vợ chồng nó phấn đấu kiếm tiền mua nhà rồi ra ở riêng. Giờ còn có 2 vợ chồng già, nhà thì rộng rãi, nhiều khi cũng thấy trống trải lắm. 
Ông ngập ngừng một lúc rồi hỏi:
- Cậu có hay đi đổi gió không? Là đi này kia với em út ý.
Thấy tôi bưng chén nước kề môi, cứ tủm tỉm cười, ông vội nói:
- Chắc vợ chồng cậu hạnh phúc lắm nên không đi đổi gió chứ gì? Không có chuyện đó thì làm thơ mất hay, sáo lắm. Không có cảm hứng thì ra thơ sao được. Lẩn thẩn hết. Tôi đây này. Cái khoản gái gú còn máu hơn Đỗ Hoàng nhiều. Vợ tôi, bà ấy cũng hiểu chồng mình là giới văn nghệ sĩ nên cái khoản lãng mạn này kia không thể thiếu. Bà ấy cũng văn minh lắm, không ghen, không abc gì. Biết tỏng là tôi có bồ bịch mà tảng lờ cứ như không. Mà quái lạ. Chồng là nhà thơ mà vợ lại không thích nghe thơ mới oái oăm. Nhiều đêm, chợt nảy ra tứ thơ hay, quay sang nói với bà ấy thì bà ấy lại gắt: Ông lặng yên cho tôi ngủ. Thơ thẩn cái gì. Cậu thấy có bực không?
Nhấp ngụm trà. Ông lại hỏi dồn: - Thế vợ cậu không phản đối cậu làm thơ à? Thằng cu con cũng không thích thơ đúng không?
Khi biết tôi đang độc thân, ông chùng giọng:
- Ừ, thế lại hay. Thoải mái cặp bồ, chả lo ai quản, chả lo làm tổn thương ai. Tôi nhiều lúc cũng muốn có bồ bịch bằng chúng bằng bạn nhưng ngại bà nhà tôi buồn nên khước từ hết. Nhà thơ mà. Nhiều gái mê lắm nhưng mình phải nghĩ đến tâm trạng của vợ con chứ...
Ông buông dở câu nói bằng tiếng thở dài.
Biết là phút thật lòng của ông nên tôi lảng sang chuyện khác để ông đỡ ngại chuyện chiến tích em út (gái miệng) của các nhà thơ. Chừng tiếng sau, vãn chuyện, ông đứng dậy ra về.
Vừa khóa cửa, chưa kịp bước lên cầu thang, tôi đã nghe tiếng ông oang oang điện cho nhà thơ Nguyễn Đăng Hành: - Ông Hành à! Tôi là Trần Đình Lý đây! Hôm nào tôi sang ông đàm đạo thơ rồi cùng nhau đi cưa gái nhé... Ừ. Nhà thơ mà! Gái gú không có thì ra thơ sao được! Lẩn thẩn hết!
*.
Hà Nội, chiều 16 tháng 03.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Chữ TÔI, chữ TA
VÀ CÁI TÂM LÀNH
*
Chiều qua, 12/09/2017, tôi nhận được thư (email) của nhà thơ Nguyễn Khôi gửi, cùng tới 27 email khác, với những bức xúc:
S.O.S. Tố cáo v.v. Xuyên tạc "Chân dung Nhà văn...":
                             ---------
Kính gửi: - Nhà thơ Phạm Đức Nhì (Hoa Kỳ)
                - Các Bạn thơ...
Sáng nay 12/09/2017. Nguyễn Khôi tôi nhận được thư của anh Lê Vy (1938, bạn Sơn La cũ/ đồng hương "bà xã Nguyễn Khôi" /Hải Phòng) từ thành phố Hồ Chí Minh, toàn văn Tiểu luận "Thơ sẽ đi về đâu?" của Nhà thơ Phạm Đức Nhì... Phần cuối bài có:
"CHÚ THÍCH:
1. Mới đây nhà thơ Nguyễn Khôi đã khắc họa “Chân Dung Nhà Thơ Việt Đương Đại” trong đó ông viết về nhà thơ Đinh Thị Thu Vân - được đánh số thứ tự 71 - như sau:
Đinh Thu Vân tự bị lừa
Thơ gom đem dán chẳng vừa con tem.
Ông đã ngạo mạn và nhẫn tâm đạp cả một đời thơ của Đinh Thị Thu Vân xuống tận bùn đen. Không biết ông dựa vào đâu để đưa ra nhận định ấy. Nhưng dù dựa vào đâu chăng nữa nhận định như thế cũng hơi quá … tự tin.”
Nguyễn Khôi tôi rất bất ngờ là "Chân dung 99 Nhà văn Việt Nam đương đại" mà Nguyễn Khôi đã công bố trên gần 30 trang Web trong và ngoài nước, (Mời xem: /chan-dung-99-nha-van-viet-nam-uong-ai.html), đã in/ tự xuất bản và gửi tặng trên 300 người trong và ngoài nước... không hề có chân dung Đinh Thị Thu Vân, mà chỉ có:
    *71 - BẢO SINH
Công tử không "bát phố"
Về nuôi chó...lừng tên
Hỗn danh “thơ Sinh chó"
Lên nóc tủ ngồi Thiền.
Thú thực là với Nguyễn Khôi tôi xưa nay chưa hề biết Đinh Thị Thu Vân là ai  và cũng chưa từng đọc thơ của chị này (vì ở Việt Nam có hàng vạn Nhà thơ...)
 Không hiểu vì động cơ gì mà Nhà Thơ Phạm Đức Nhì đã "bịa" ra 2 câu thơ trên về Đinh Thị Thu Vân rồi gán cho Nguyễn Khôi, rồi căn cứ vào đó mà phê phán hạ nhục, vu cáo / đặt điều về Nguyễn Khôi một cách độc ác?
Tìm hiểu, thì ra nhà thơ Phạm Đức Nhì đã “gắp” 2 câu thơ của nhà thơ Đỗ Hoàng “nhét vào tay” nhà thơ Nguyễn Khôi rồi thản nhiên: “Mới đây nhà thơ Nguyễn Khôi đã khắc họa “Chân Dung Nhà Thơ Việt Đương Đại” trong đó ông viết về nhà thơ Đinh Thị Thu Vân - được đánh số thứ tự 71 - như sau:
Đinh Thu Vân tự bị lừa
Thơ gom đem dán chẳng vừa con tem.
Ông đã ngạo mạn và nhẫn tâm đạp cả một đời thơ của Đinh Thị Thu Vân xuống tận bùn đen. Không biết ông dựa vào đâu để đưa ra nhận định ấy. Nhưng dù dựa vào đâu chăng nữa nhận định như thế cũng hơi quá … tự tin.”
(THƠ SẼ ĐI VỀ ĐÂU - Phạm Đức Nhì)
Và tôi chợt nhớ tới những “va chạm” từ nhà thơ Phạm Đức Nhì với 2 tác gia được bạn đọc trân quý: Nguyễn Bàng - Châu Thạch, mà thấy se lòng về cái tâm, cái tình của người cầm bút.
Chuyện chả có gì, cũng bình thường thôi khi theo tác gia Nguyễn Bàng thì “cách ứng xử” của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Kiên với nhà thơ lão niên Nguyễn Khôi chưa “được đúng” nên đã góp ý thẳng và rất thật. Người “trong cuộc” là ông Nguyễn Ngọc Kiên chưa lên tiếng thì nhà thơ Phạm Đức Nhì (07/02/2017) đã “xông vào” chỉ trích, “răn dạy” ông Nguyễn Bàng “đừng mang tuổi già ra hù dọa lớp trẻ”. Trước đó, đầu năm 2016, ông Phạm Đức Nhì cũng “nhảy vào” “bình nhăng tán cuội” - (chữ dùng của nhà thơ Phạm Đức Nhì) bài “Lan man lần cuối về bình luận thơ văn” (Nguyễn Bàng) để “đả kích” cách cảm thơ của tác giả Nguyễn Bàng. Tưởng 2 ông sẽ “cạch mặt nhau” nhưng thật mừng là sau vụ đó, tình bạn thơ văn của 2 ông được bồi đắp. Cuối năm 2016, về thăm lại Việt Nam, ông Phạm Đức Nhì và ông Nguyễn Bàng đã dùng cơm thân mặt cùng thân hữu của ông Nguyễn Bàng tại Sài Gòn, vậy mà đầu năm 2017, “mượn” chuyện “Đầu Xuân thì thầm với nhà thơ Nguyễn Khôi” (Nguyễn Ngọc Kiên), nhà thơ Phạm Đức Nhì (sinh năm 1952) liên tiếp “tung chưởng” để “răn dạy” tác gia Nguyễn Bàng (sinh năm 1938) bằng thái độ và lời văn khiến không ít bạn đọc phải lè lưỡi, lắc đầu. (Mời xem: /ghi-chep-tu-cuoc-tranh-luan-au-xuan-ang.html). Người Việt Nam ta, xưa nay đều trọng cái tình, cái nghĩa. Không ruột già máu mủ, không hàng xóm láng giềng, chỉ quen biết nhau qua internet nhưng đã ngồi cùng nhau nâng ly chúc cho tình bằng hữu thì cái tình ấy thật trân quý. Vậy mà, cái tình ấy lại vô cớ bị rẻ rúng bởi chính người lẽ ra phải nâng niu, gìn giữ.
Rồi đến chuyện tác gia Châu Thạch. Cũng chỉ từ lời nhận xét của ông trên facebook về bài viết “Show, Not Tell Trong Thơ” của ông Phạm Đức Nhì, mà theo lời ông Phạm Đức Nhì thì lời nhận xét đó, đại ý: “Thơ Việt Nam là thơ Khăn Đóng Áo Dài mà cứ lấy áo Vest trùm lên thì kỳ quá. Lại còn đụng đến cả cụ Nguyễn Du nữa!” đã được chính ông Châu Thạch xóa đi sau đó. Vậy mà ông Phạm Đức Nhì cho nằm lòng lời nhận xét không vừa ý để vài ngày sau (10/08/2017), ông đăng đàn diễn thuyết bằng bài viết cả ngàn chữ để “giáo huấn” cách cảm thụ văn thơ “có vấn đề” của “nhà phê bình văn học Châu Thạch.”. Đáp lại, ông Châu Thạch chỉ nhẹ nhàng như bản tính vốn ôn hòa, điềm đạm xưa nay của ông: - “Tôi chỉ viết cảm nghĩ về những bài thơ mà mình yêu thích. Thấy đâu viết đó cho vui đời mà thôi rồi gởi đến Ban Biên Tập các trang web giao cho họ định đoạt bài mình. Thế thôi. Vậy cho nên đừng gọi tôi là nhà mà gọi tôi là "lão già" thì tuyệt cú mèo.”. Vâng! Trước đấy, khoảng cuối năm 2015 (tháng 10), ông Phạm Đức Nhì cũng “khúc mắc” với ông Châu Thạch về chuyện bình thơ và cũng qua vụ việc đó tình bạn thơ văn của 2 nhà phê bình văn học được vun đắp, mà như ở đâu đó ông Phạm Đức Nhì đã từng vài lần cất tiếng ngợi ca đó là một tình bạn văn chương đẹp. Vâng! Lại “vậy mà”, cái “tình bạn văn chương đẹp của 2 nhà phê bình văn học” đã bị chính người trong cuộc hất toẹt chỉ vì một lời nhận xét (sau đó đã được xóa đi) trên facebook của “người bạn kia” không vừa ý “người bạn này”. Ôi! “Tình bạn văn chương đẹp” giá chỉ bèo vậy thôi sao?!
Tôi đắn đo khi ngồi gõ bài này vì nhớ lời nhắc nhở của một người thầy chân kính, ông là giảng viên ngữ văn ở một trường Đại học phía Nam: - “Xuyến à, mình có đọc những bài bình thơ của ông Nhì, ông này giỏi cảm nhận và nắm vững một số lý thuyết, tuy nhiên không phải cái gì ông ấy cũng biết. Chẳng hạn chê câu kết bài thơ Ngọn cỏ của Hoàng Bắc chứng tỏ ông ấy chả hiểu gì về HHĐ cả. Bài thơ đó phải Inra Sara bình mới hết ý. Vậy chả nên tranh luận với ông ấy làm gì cho mất thì giờ, để chơi sướng hơn.”. Và lời nhận xét hết sức dí dỏm của bạn Nguyễn Hùng Dũng (micdung71@gmail.com): - “Tôi cũng đọc nhiều bài phê bình của bác Phạm Đức Nhì, thú thiệt tôi không thích lối phê bình theo kiểu công thức gia chánh, bao nhiêu muối, đường, tiêu, bột ngọt... Lại nữa, bài phê nào lời chê cũng đều vượt quá lời khen, có bài bác ấy chê những 30 dòng, mà chỉ khen có 3,4 dòng. Nhưng nếu xét trên một bình diện nào đó, thì bác ấy cũng từ tấm lòng thẳng thắn, thành tâm của mình mà thôi. Và chắc chắn những bài thơ mà bác ấy chê nhiều, đều là những bài thơ hay... Thì tại sao chúng ta không thấy cái dụng ý của bác ấy là muốn giúp người làm thơ và cả người thưởng thức thơ thấy được sự vi diệu tinh tế trong thi ca...”, trong cuộc tranh luận đầu năm 2017 xoay quanh Đầu Xuân thì thầm với nhà thơ Nguyễn Khôi” của tác giả Nguyễn Ngọc Kiên nên tôi lần lữa, lần lữa. Nhưng rồi tôi lại nhớ, hình như tôi cũng đã đọc được những lời ca ngợi nhà thơ Nguyễn Khôi của nhà thơ Phạm Đức Nhì, ngỡ nhà thơ lão niên đã như bức tượng đài bất khả xâm phạm trong sự tôn kính của nhà thơ Phạm Đức Nhì, vậy mà đùng cái, nhà thơ lão niên bị nhà thơ Phạm Đức Nhì “nhét vào tay” 2 câu thơ của Đỗ Hoàng, khiến ông phải kêu cứu tới bạn bè: - Không hiểu vì động cơ gì mà Nhà Thơ Phạm Đức Nhì đã "bịa" ra 2 câu thơ trên về Đinh Thị Thu Vân rồi gán cho Nguyễn Khôi, rồi căn cứ vào đó mà phê phán hạ nhục, vu cáo / đặt điều về Nguyễn Khôi một cách độc ác? nên tôi chịu khó ngồi gõ lại vài chuyện xoay quanh “tình bạn văn chương của nhà thơ Phạm Đức Nhì”, lấy đó làm bài học để nhắc nhở bản thân: Cuộc đời chỉ tốt đẹp và có ý nghĩa hơn khi ta sống bằng cái tâm lành.
Vâng! Chữ TÔI, chữ TA chỉ đẹp lên và có ý nghĩa khi được trân quý bởi cái TÂM lành!
*
Hà Nội, chiều 13 tháng 09 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Đọc ĐỖ HOÀNG “cảm”
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG?
*
Nguyễn Bình Phương là nhà thơ tên tuổi nhưng tôi chưa đọc thơ (văn) của ông, đơn giản vì không có nhu cầu. Trang blog Đặng Xuân Xuyến cũng đã đăng mấy bài viết về ông, có trích dẫn thơ ông một vài đoạn, một vài bài nhưng khi đưa bài lên trang, tôi chỉ đọc lõm bõm cho việc dàn trang nên cũng mù tịt về thơ Nguyễn Bình Phương. Trong số 5 bài viết về thơ Nguyễn Bình Phương đã đăng trên blog Đặng Xuân Xuyến thì có đến 4 bài của nhà thơ Đỗ Hoàng, bạn cùng khóa Viết Văn IV với ông.
Chả hiểu Đỗ Hoàng sao lại ghét Nguyễn Bình Phương đến thế? Ngày học Đại học Văn Hóa, tôi biết Nguyễn Bình Phương nhưng không giao tiếp, quan hệ. Thấy ông là người lành lành, kiệm lời, có vẻ sống nội tâm, mà theo thiển nghĩ của tôi thì người sống nội tâm dứt khoát không thể ứng xử xuề xòa, bốc đồng, dễ “gây thù chuốc oán” với người khác (kinh nghiệm của tướng thuật (tướng tâm) cho rằng: người sống nội tâm một khi đã thù ai thì thù thậm sâu, đã ra đòn với ai thì đòn ấy thật hiểm). Còn Đỗ Hoàng, dù tiếp xúc ít nhưng với cá tính bộc trực, ruột để ngoài da, tôi nghĩ sẽ khó có chuyện Đỗ Hoàng để bụng thù ai được lâu. Vậy mà đọc 4 bài Đỗ Hoàng “cảm” thơ Nguyễn Bình Phương, tôi thấy lạ lắm. Việc khen - chê khi cảm nhận thơ văn là chuyện bình thường nhưng cả 4 bài đều viết theo lối áp đặt, bới lông tìm vết để chửi và chửi thì mối quan hệ của 2 ông chắc có nhiều uẩn khúc? Nhiều lần muốn hỏi Đỗ Hoàng nhưng ngại Đỗ Hoàng cho là người nhiều chuyện nên thôi, cứ để lửng lơ thắc mắc: dù gì thì cũng là đồng môn đồng khóa, nỡ nào phang nhau đến cạn chữ tình?!
Nói thật, đọc Đỗ Hoàng “chửi” Nguyễn Bình Phương tôi thấy Đỗ Hoàng ngoa ngôn lắm, nhiều khi ông “chửi” lấy được:
Nguyễn Bình Phương phải thực sự cầu thị đi học lại một cách nghiêm túc chương trình tiếng Việt từ cấp một đến cấp 3 (phổ thông trung học), chương trình lớp 2 cấp một trở lên có học âm Hán Việt, để khi nói khi viết, khi đặt câu cho chính xác, tránh sơ suất như vừa nêu trên! Sau đó rồi hãy làm thơ. Vì làm thơ không phải làm xiếc chữ viết tù mù hổ lốn uốn éo, kém học như vậy.” (Dịch thơ Viêt ra thơ Việt - Dịch Vô lối Nguyễn Bình Phương)
Hay những câu miệt thị, kiểu cả vú lấp miệng em:
Tôi đồ rằng tác giả Buổi câu hờ hững có thể bị tâm thần hoặc là bị chấn động thần kinh, tâm hồn bất định. Nhiều bài viết rất thiểu năng trí tuệ, giả đò (giả vờ): Buổi câu hờ hững, Phân chim, Chân dung khi trống trải, Khoảng giữa, Nói với em từ nơi trống trải, Hỏi…”. (TỰ BẠCH THỜI BÌNH - vô lối, nông cạn, hời hợt, kém học, phi văn chương)
Thậm chí, cả những câu chợ búa ông cũng chẳng từ:
Đọc bài vô lối ngu tối “Em và hoa” của Nguyễn Bình Phương có cảm giác như khi đánh xi giày đi hội ra đường dính vào đống cứt chó. Một cảm giác tởm lợm khó chịu, hôi hám, bẩn thỉu rủi khi mình bị vướng vào!”. (Em Và Hoa - Vô lối ngu tối của Nguyễn Bình Phương).
Đọc 4 bài, thấy ít lắm những câu Đỗ Hoàng dịu giọng một chút, ví như trích dẫn dưới đây:
Nguyễn Bình Phương muốn mình tạo ra cách nghĩ, cách nói cho khác người, chứng tỏ ta là loại siệu việt, loại nghìn năm mới có một nhân vật như ta (!). Nói thật ra đó là cách nghĩ cách nói của một kẻ ngu độn, càng nghĩ càng nói kiểu này bạn đọc hiểu biết họ cười vào mũi, họ sẽ phỉ nhổ không thương tiếc.
Chưa hết, tác giả cho “cuộn lên”: “Cuộn lên một cái cây chưa tỉnh táo/ Cuộn lên những quả chuông vang reo trận mưa rào/ Ngân nga giọng của trăng sao”. Tiếng nói của em có màu sắc mới cuộn lên như bão vậy. Tiếng nói mà cuộn được những quả chuông reo vang trận mưa rào thì tiếng nói ấy phải hơn cả sói tru, hổ gầm; bét thì cũng phải như Trương Phi gầm thét trên cầu Trường Bản làm kẻ địch sợ mất vía vỡ mật mà chết! Người đẹp  -  em ấy sẽ là người “lỗ mũi mười tám gánh lông” “bánh đúc em xới cả lò, rượu tăm em uống mười vò không say(!). Thân thể em thì khủng long thời tiền sử cũng không so nổi(!)
Chưa hết, tác giả lại nhân cách hóa loài thỏa mộc “cuộn lên cái cây chưa tỉnh táo”. Cái cây chưa tỉnh táo này ở đâu ra? Vì sao nó chưa tỉnh táo? Nó uống nhiều rượu hay bị người đẹp bỏ rơi? Toàn là viết và nói ba lăng nhăng, dớ dẩn, tối tăm hủ nút!”. (Em Và Hoa - Vô lối ngu tối của Nguyễn Bình Phương).
Mà cũng lạ. Bị “chửi” như vậy mà (hình như) Nguyễn Bình Phương cũng không lên tiếng. Không biết Nguyễn Bình Phương ngại chuyện cãi cọ là mấy chuyện chỉ của cánh “đàn bà” nên chịu trận hay Nguyễn Bình Phương nghĩ ông là bậc chính nhân quân tử nên ông “đếch” thèm chấp “cái thằng” Đỗ (Chí) Hoàng? Hoặc trước kia ông có lỗi với Đỗ Hoàng nên giờ “cái thằng” Đỗ (Chí) Hoàng “huyếnh lên” “chửi” quá cũng đành chịu...
Tôi chả tin vào mấy lý do Đỗ Hoàng ghét Nguyễn Bình Phương như ông đã viết trong Em Và Hoa - Vô lối ngu tối của Nguyễn Bình Phương:
Không ai ghét gì người thiểu năng trí tuệ, người không thông minh, không ai thù gì người thiếu năng lực, người văn hóa, học vấn thấp; người ta cảm thương nữa là đằng khác. Nhưng phải căm ghét và thù hận những kẻ ngu dốt, vô văn hóa, vô học ở trong cái cơ chế xin cho bằng mánh khóe luồn lách, lưu manh, man trá, xảo trá, che đậy sự ngu dốt của mình bằng vỏ bọc chức quyền, tiền bạc, lợi dụng truyền thông tung hứng lăng xê mình lên trời xanh, những kẻ ấy phải lên án và vạch mặt chúng ra. Nguyễn Bình Phương, Hoàng Quang Thuận… là những đứa như thế!
Nguyễn Bình Phương cứ viết điên loạn tù mù, vô học, vô văn hóa, in hết bài này đến bài khác, báo này đến báo khác, giải thưởng này giải thướng khác, luận văn thạc sỹ này đến thạc sỹ khác viết về thơ Nguyễn Bình Phương rồi thăng trật chức này chức khác. Thử hỏi có nguy cho nhân quần không?”.
Vì những “nguy” đó đưa ra rất gượng ép, chứa nhiều ấm ức cá nhân nên chả thuyết phục. Chẳng có lẽ quá rảnh rỗi, Đỗ Hoàng “ngứa mồm” ngửa cổ “chửi” chơi Nguyễn Bình Phương cho vui?!
*.
Hà Nội, 22 tháng 11 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Chuyện về Thầy xem tướng
BÙI CAO THẾ
*
Anh, nhà thơ, nhà tướng thuật, nhà phong thủy học... Ái Nhân BÙI CAO THẾ là đồng hương xã với tôi. Cha anh là người thôn Gia Cốc (làng Cốc), mẹ anh là người thôn Đỗ Thượng (làng Đọ), chị cùng mẹ khác cha với anh là người thôn Đỗ Hạ (làng Đá), thôn tôi. Anh hơn tôi cũng kha khá tuổi nên thủa nhỏ, tôi chỉ biết anh qua lời khen của làng xóm: hiền lành, chăm chỉ và học giỏi.
Lớn lên, tôi đi lính, học Đại học, rồi lập nghiệp ở Hà Nội, về quê chỉ chớp nhoáng. Anh cũng thoát ly, xa quê từ rất sớm. Thế nên, tôi chỉ bập bõm biết về anh. Nghe làng xã kể thì đời anh cũng nhiều lao đao, lận đận. Tốt nghiệp Học Viện Chính trị Bắc Ninh năm 1987, anh vào làm giảng viên một trường Đại học Quân sự trong Nha Trang thì cuối năm đó anh bị tai nạn giao thông, rồi một năm sau (1988) anh bị thần kinh, phát điên. Người ta đồn, không phải anh điên vì tình mà có lẽ vì học nhiều, đọc nhiều nên bị ngộ chữ. Nghe kể, lúc điên, anh cứ trần như nhộng, chạy lăng quăng khắp nơi, nghêu ngao mấy câu “cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao” rồi ré lên cười, rồi nức nở khóc. Có lúc, anh vỗ ngực, nhận mình là “thần tiên giáng thế”, là “Ngọc Nữ cô nương” đầu thai xuống nhân gian để cứu độ chúng sinh, rồi múa may quay cuồng, rồi trèo vắt vẻo lên ngọn cây, ngồi líu lo những lời ca chỉ mình anh “hiểu”. Mẹ anh, cạn khô nước mắt vì xót con. Chị anh, rộc người, héo rũ vì thương thằng em hóa dại. Anh cứ điên điên khùng khùng, cứ chợt ré lên khanh khách cười, rồi lại thổn thức từng chặp, từng chặp, cứ thế, gần mười năm dở điên dở dại. Hết dặt dẹo Hưng Yên, lại dật dờ ra Quảng Ninh, rồi lang bạt lên tận Lào Cai, Yên Bái để anh tự cười, tự khóc với bóng của chính mình. Rồi anh gặp chị, vợ anh bây giờ, khi những cơn điên mà dân gian xót xa gọi là “Trời đày” chợt lắng xuống. Bìu díu, đưa nhau về ngõ 399 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội cùng góp sức nhóm bếp dựng nhà. Anh hết điên từ đấy và tự dưng biết xem bói, rồi nổi danh là thầy phong thủy, là tướng thuật gia, là thầy cúng trừ tà, bốc bát nhang mát tay, nhiều phép thuật... Anh làm thơ, nghe kể, từ trước lúc anh bị điên. Giờ tỉnh, không bị điên, anh vẫn làm thơ, nhưng hăng hơn, say hơn, say lắm, còn tự phong cho mình là Vua Mộng của Cõi Trời, trót say rượu đánh rơi chén ngọc nên đáp xuống Cõi Người đi tìm chén ngọc mà phiêu bồng cùng thơ phú. Anh đã ra 8 tập thơ và dõng dạc tuyên bố, sẽ ra 10 tập thơ hoặc hơn nữa, hơn nữa... Tiền thì có lúc anh đủ tiêu, có lúc thiếu khi mua đồ nhưng thơ thì anh nhiều lắm, dồi dào như mạch ngầm tuôn chảy... Mến anh, người quê tôi gọi anh bằng cái tên “Thế điên” trìu mến. Cư dân trên facebook quý anh, rúc rích gọi anh là “Vua Mộng” như lúc hứng lên anh tự ban tự nhận. Bạn bè thì tếu táo bông đùa kêu anh là “Thế hâm”, “Thế dở”. Còn tôi, vẫn quen gọi anh là “Anh Thế”, như ngày còn bé tẹo, ở quê.
Tiếng là đồng hương xã, cùng ở Hà Nội, cách nhau chừng 45 phút đi xe máy nhưng bao năm nay, phải quyết tâm lắm tôi mới đến thăm anh được 2 lần:
Lần thứ nhất: sau nhiều lần hò hẹn, sáng 12 tháng 08 năm 2014, tôi mới sang thăm anh.
Lần ấy, khi đến, anh đang xem bói cho mấy khách ở Thanh Hóa. Nghe anh tư vấn cho khách: - “Hạn năm 49 tuổi là hạn về sức khỏe, về tính mạng nên em phải thật cẩn trọng mấy vấn đề đó nhưng nếu vợ chồng em khởi công làm nhà hoặc sửa nhà năm 49 tuổi này thì không ngại, lại rất tốt.”. Tôi thầm nghĩ, năm 49 tuổi, Hạn có sao Thái Tuế chủ về quan sự, khẩu thiệt, hao tốn tiền bạc, ốm đau, tang chế… nên dân gian mới tránh làm nhà, sửa nhà vì lo lắng do vất vả mà suy kiệt sức khỏe dẫn đến đổ bệnh, nguy hại đến tính mạng. Và trong quá trình thi công sẽ có nhiều rủi ro, bất trắc nên người ta nghĩ cần đề phòng ốm đau bệnh tật, nguy hại đến tính mạng vẫn là hơn, vì thế mới kiêng. Nhưng nếu nhà có điều kiện kinh tế, không phải lo lắng chuyện tiền bạc, thợ thuyền, không phải trực tiếp trông coi, đốc thúc việc thi công thì có thể “mượn tuổi 49” làm nhà, cho “hao tốn tiền bạc”, để “của đi thay người” mà tránh họa. Đấy là cách chọn lựa đáp án của số phận đã được thiên định để thuận theo số, không nhất thiết phải làm thầy mới biết. Nghĩ vậy, nên tôi không đề cao vị trí làm “thầy” của anh lắm.
Ngồi chừng hai mươi phút, khách về, anh tiếp chuyện tôi. Có lẽ do bệnh nghề nghiệp, hoặc biết tôi không thích đàm đạo chuyện thơ văn nên anh nhìn tôi, phán: - “Cung Nô của chú xấu lắm. Là người sống tình cảm nên chú hết lòng với bạn bè chiến hữu nhưng lại hay bị bạn bè phản bội, chơi đểu lắm. Đểu ở chỗ là toàn những thằng mà chú hết lòng vì nó, coi nó như ruột thịt, thậm chí cưu mang còn hơn ruột thịt...”. Năm này, năm nọ... chuyện nọ, chuyện kia.... Anh nói cứ như là tôi đã kể cho anh nghe. Tôi ngớ người vì anh đoán quá chuẩn, nhưng rồi tôi nghĩ, người cùng xã, nghe chuyện từ người làng xã nên anh biết, nói đúng cũng phải thôi. Rót rượu, rồi giục tôi nâng chén, anh thủng thẳng: - “Cưới vợ đi chú. Gà trống nuôi con cực lắm.”. Tôi cười, thoáng chút ngạc nhiên: - “Bác làm thầy xem tướng, biết cung Thê của em nát bét như thế mà lại khuyên em cưới vợ nữa? Người không biết về tướng thuật khuyên em đã đành, bác là người sành tướng thuật sao lại khuyên em như thế?.”. Anh tủm tỉm: - “Ừ. Biết là cung Thê của chú xấu lắm, xấu tai xấu hại, xấu hơn cả cung Nô nhưng chú làm sao cải số được. Tuổi còn trẻ, sự nghiệp đang phát triển, còn rất nhiều những tham-sân-si với đời, chú ạ.”. Tôi trầm ngâm: - “Em đã giải tán Công ty từ đầu năm ngoái, chỉ giữ lại Nhà sách Bảo Thắng, chắc vài năm nữa sẽ giải nghệ xong.”. Anh nhếch miệng: “Chú chỉ giỏi xạo. Nghe mọi người nói Công ty của chú cũng lớn lắm, có thị phần toàn quốc mà nói giải tán công ty như kiểu buôn thúng bán mẹt... Chú nói chuyện cũng hài nhỉ...”. Tôi khẽ cười, lặng im, không trả lời. Chừng mười phút, khi đã nhìn kỹ mặt tôi, anh gật gù: - “Như thế là chú chọn lựa hoàn cảnh để thuận theo Số Mệnh chứ không phải chú cải số, không phải chú cãi Mệnh. Chú chọn tự hành xác, tự cầm tù bản thân để không tù mà như tù, không tu mà như tu, vẫn thuận theo số mà tránh được những rắc rối với pháp luật ở hậu vận, hạn chế những đổ vỡ thêm về tinh thần. Tất cả vì cậu ấm. Chấp nhận những thua thiệt của bản thân để con cái được yên ổn nhất, an toàn nhất. Ừ. Cách đó cũng được nhưng phải thật kiên trì và chịu khổ nhiều lắm. Cung Di, cung Nô như thế, chú phải quyết tâm nhiều lắm mới làm được. Khó lắm chú ạ. Sợ chú không làm được, rồi thêm khổ. Luật Trời, khó lái lắm, dù là lái theo số Mệnh. Sơ sẩy một chút, là rách việc lắm, nhục lắm....”. Đến đây, thì tôi thực tin anh là người am hiểu về tướng thuật, làm thầy “giúp thiên hạ” cũng phải.
Tiễn tôi lên đầu ngõ, thấy tôi có vẻ còn băn khoăn, anh hỏi: - “Chắc chú lấn cấn về thế đất nhà anh?.”. Tôi thật lòng: - “Em thấy khí âm vẫn nhiều lắm dù anh đã thiết kế phòng ốc, bài trí cây cảnh để khắc phục.”. Anh chậm rãi: -“Lúc mua đất, làm gì có tiền mà anh được quyền lựa chọn. Thế đất xấu nhưng tiền không có, đành nhắm mắt mua để giải quyết chỗ ăn chỗ ở. May là chỗ quen biết nên người ta chịu bán nợ cho đấy. Biết khắc phục bằng thiết kế phòng ốc, bài trí cây cảnh cũng không thể giải quyết triệt để được thế đất “ao tù” này, nên anh khắc phục thêm bằng 2 chữ Thiện Tâm, hy vọng “ao tù” sẽ thành “huyệt tụ”. Ơn trời. Về đây hơn mười năm, anh đã trả hết nợ mua đất, xây được ngôi nhà mấy tầng, tuy còn nhiều khó khăn nhưng anh cũng đã lo cho chị và 2 cháu có cuộc sống tạm ổn”. Về nhà, tôi ngẫm nghĩ mãi những điều anh nói. Trang Đặng Xuân Xuyến cũng đã đăng mấy bài anh chấp bút về phong thủy nhưng các bài viết (của nhiều tác giả, không riêng tác giả Ái Nhân - Bùi Cao Thế) thường nặng tính lý thuyết, “phô trương học thuật” để đề cao cái “tôi” của tác giả, nên nếu không được “mục sở thị” thực tiễn ứng dụng lý thuyết phong thủy vào cuộc sống thì khó đánh giá được “tay nghề” của tác giả. Tôi yêu thích văn hóa tín ngưỡng nên tự thu lượm kiến thức từ sách vở, từ học hỏi, anh làm thầy, là người kiếm tiền của thiên hạ từ những kiến thức phong thủy ứng dụng vào cuộc sống thì đương nhiên kiên thức về phong thủy anh hơn tôi hẳn “cái đầu”, nhưng những gì tôi kiểm chứng ở lần gặp này, dù chưa nhiều nhưng quả thật anh là người thực tài về xem tướng, còn phong thủy vẫn lợn gợn vài ba dấu hỏi.
Lần thứ hai tôi sang thăm anh là ngày 14 tháng 07 năm 2017, cũng để tặng anh tập thơ Cưỡng Xuân vừa ra.
Ngồi chưa ấm chỗ, anh đã “soi” tôi, rồi túc tắc: -“Cung Tài của chú đang vượng, sáng lắm, dạo này được khen nhiều cũng phải. Nhưng vượng chỉ được một thời gian ngắn nữa sẽ bị ám khí lấn vào, cẩn thận kẻo bị kẻ tiểu nhân phá bĩnh. Cung Tài của chú lạ lắm, sáng mà lại hãm, luôn bị tiểu nhân chọc phá. Phần do chú thẳng quá, thật quá, sống không khôn khéo. Phần do thiên hạ hiểu sai, suy diễn không đúng nên ghen ghét. Mà nếu có gọi cung Tài của chú là cung Chiêu Thị Phi cũng chẳng ngoa...”. Tôi không hoài nghi lời anh “phán” dù không tự xem tướng (mặt) được vì bị bệnh mù màu (không xem được họa - phúc qua ám tướng), nhưng tôi “linh cảm” được điều đó từ những chiêm nghiệm của bản thân. Rồi anh “khoe” chuẩn bị ra tập thơ thứ 8, tôi thật lòng: - “Sao anh không gộp làm 1, 2 hoặc 3 tập thật đầy đặn làm kỷ niệm, chứ thơ ai mua mà in lắm thế, tốn tiền.”. Anh bần thần, nhát gừng: - “Cũng là trời đày cả thôi. Vì đam mê mà chú. Cũng như chú, cũng in hàng bao nhiêu đầu sách đấy thôi.”. Tôi cười, nửa đùa nửa thật: - “Thơ thẩn vừa vừa thôi anh, suốt ngày lướt mây lướt gió như thế, rồi khổ chị, khổ các cháu.”. Anh nhìn xa xăm, uể oải: - “Với lại, phải ra nhiều tập thơ, phải tạo được “hiệu ứng” thì mới được xét kết nạp vào Hội Nhà Văn. Hôm nọ, có người nói với anh là họ phải mất hàng trăm triệu mới được xét kết nạp vào Hội đấy.”. Tôi tròn mắt nhìn anh, không ghìm được chua xót: - “Sao phải khổ thế anh? Người ta cố chen vào Hội để hưởng quyền lợi, bổng lộc của chế độ chứ anh vào chỉ để giải quyết chuyện “con gà”, chuyện “một miếng giữa đàng” thì vào làm gì.”. Nhấp chén rượu, vẻ không ưng, anh chuyển đề tài về xem tướng, luận số nhưng chắc vẫn còn nhiều lợn cợn về chuyện thơ văn nên chưa được mươi phút, anh đã quay lại đề tài cũ: - “Chú làm thơ, viết văn chỉ để giải khuây khác với anh viết thơ, làm văn vì đam mê nên không thể áp đặt quan niệm về Hội của chú vào anh được. Chú có thể dị ứng với từ Hội này, Hội kia, người này, người nọ, nhưng cũng không nên áp đặt với anh, với mọi người như thế. Với lại, chú mới làm thơ có mấy năm nay, chứ anh làm thơ từ thời chú còn cởi truồng...”. Định phân trần với anh vài câu để anh không hiểu lầm, không giận thì 3,4 khách xem của anh vào, nhìn tôi, anh nhẹ nhàng: -“Anh bận rồi, chú lên tầng hoặc kiếm chỗ khác ngồi chơi nhé.”.
Tôi chào anh về. Ra đầu ngõ, gặp mấy thanh niên quãng mười tám đôi mươi, tưởng tôi là khách đến xem, dừng xe hỏi: -“Chú ơi, thầy Thế xem có chuẩn không ạ?”. Tôi thật thà: -“Chú không phải là khách xem bói nhưng chú thấy nhà thầy Thế có nhiều khách đến xem lắm.”.
Về nhà rồi mà tôi mãi vẩn vơ: Sao anh không tranh thủ lúc còn trẻ, lúc đương được Trời cho nhiều lộc lá mà chuyên tâm vào việc “ăn mày lộc Thánh” để tạo tích lũy, phòng lúc ốm đau bệnh tật, ham mấy chuyện thơ phú hão làm gì? Vài năm nữa, khi tuổi cao, sức yếu, lộc Trời cho đến lúc phải cạn, phải kiệt mà nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như bước dồn vó ngựa thì sao? Nhưng rồi, tôi nghĩ: Đời mà! Mấy ai dễ vất bỏ được những Tham - Sân - Si ngồn ngộn trước mắt ra ngoài vòng danh lợi để an nhiên tự tại với cuộc sống thanh bần? Dù anh có là thầy tướng số đang được nhiều lộc lá Trời cho, thì dao sắc vẫn không gọt được chuôi, anh vẫn chỉ là một trong những con thiêu thân đang luẩn quẩn chạy vòng quanh bánh quay định sẵn của số phận.
Anh, tôi và bao người khác, chỉ là những con thiêu thân nhốn nháo chạy vòng quanh chiếc đèn cù số phận. Biết đấy nhưng giãy không ra. Muốn thoát nhưng càng vẫy vùng thì sợi dây “nghiệp chướng” càng thêm xiết chặt. Không biết thì sao cũng được nhưng biết rồi thì thôi đành lựa cách để thuận số mà sống. Bất chợt, tôi nhớ tới câu đám trai làng thường tếu táo: “Vui nhưng đừng vui quá!”. Vâng! Có lẽ nên vậy chăng với số phận của mình?!
*.                                    
Hà Nội, 28 tháng 01 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.

TƯNG TỬNG 7 CHUYỆN ...
CÙNG NGUYỄN ĐĂNG HÀNH
*
1.
Khi đọc Trần Đăng Khoa viết về tâp "Bảy Sắc Mơ" của Ái Nhân (Bùi Cao Thế) đăng trên trang blog Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành mắng tôi đã hùa vào với nhà thơ Trần Đăng Khoa để bêu xấu bạn anh - Ái Nhân Bùi thi sĩ: 
- Cả bài dài hàng mấy nghìn chữ, lão Khoa không thèm đả động đến 1 câu thơ của tay Thế “hâm”, toàn tán hươu tán vượn về bùa mê thuốc lú của nàng thơ với mấy thằng dở người,... khác đếch gì lão Khoa chửi tay Thế đã không biết làm thơ còn mắc bệnh ngộ chữ. Chú là chỗ anh em đồng hương với tay Thế, không gạt bài ấy đi mà lại hùa vào với lão Khoa, đưa bài lên trang web làm trò cười cho thiên hạ?
Tôi phân trần: 
- Em điện cho anh Thế, nói bài của anh Khoa rất hay, nhưng trang nhà không có mục thư giãn cuối tuần ... Anh Thế bảo kệ, cứ đưa lên cho vui. Em biết làm sao? 
Anh mắng xối xả: 
- Chú ngụy biện. Sao chú không nói toẹt ra bài ấy Trần Đăng Khoa "chê khéo" Bùi Cao Thế là không biết làm thơ.
Rồi anh đột ngột đổi chuyện:
- Trang Văn đàn Nguyễn Nguyên Bảy giới thiệu 3 bài thơ: Quê Nghèo, Dấu Hỏi và Hồn Quê của chú in trong tập sách "Thơ Và Bạn Thơ 8", ghi là tác giả gửi đăng, không ghi người chọn như các tác giả khác. Chú gửi bài để đăng trong tập sách đó à?
Tôi trả lời:
- Em gửi bài đăng trên trang đó cho vui chứ không gửi để in "Thơ Và Bạn Thơ". Chắc chú Bảy chọn mấy bài đó đưa vào. 
Anh trầm giọng:
- Các tác giả khác thì ghi người chọn nhưng với chú lại ghi tác giả gửi đăng, có phải chủ ý để người đọc hiểu sai về chú...
Tôi cười lớn:
- Anh cứ quan trọng hóa vấn đề. Chú Bảy không có ý đó đâu...
Anh lẩm bẩm: - Chú thật thà quá. Rồi cụp máy

2.
Mươi hôm sau, anh điện cho tôi, vẻ rụt rè: 
- Anh hỏi câu này, chú trả lời thật nhé. Bài "Ẩm trời" của chú, đáng mấy điểm.
Tôi có chút ngập ngừng:
- Tự chấm điểm thì em không biết cho điểm mấy nhưng bài đó cũng thường thôi, không thể là hay.
Anh ồ lên, lanh lảnh:
- Vậy mà bác Châu Thạch khen hết lời.
Tôi cười, nửa phân trần:
- Chú Châu Thạch khen hay ở phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt chứ không khen bài thơ "Ẩm trời" hay.
Anh chậm rãi:
- Anh nghĩ bác Châu Thạch vì quý người mà quý thơ. Bác Châu Thạch nhiều bài bình rất sâu, rất hay, anh rất phục, nhưng đọc mấy bài bình kiểu quý người quý thơ như thế không sướng.
Rồi giọng anh lanh lảnh, vút lên:
- Anh mới đọc mấy bài bình thơ của ông Bùi Đồng. Cha này bình tốc độ, tài tử, không ngại va chạm. Bình chưa sâu nhưng đọc dễ chịu. Không như ông “người quen” õng ẹo của chú, quý ai thì bốc thơm lên tận chín tầng mây, ghét ai thì đạp người ta xuống tận chín tầng địa ngục. 
Tôi ngớ người, hỏi: 
- Người quen? Là ai vậy?
Anh cười cười: 
- Chú cứ giả bộ. Tay đấy chơi thân với lão dị hợm, vợ không lấy, cứ suốt ngày vỗ ngực nhận mình là đệ nhất thiên hạ triết học. Hai thằng đấy xoắn lấy nhau, tạo thành cặp bài trùng, suốt ngày nhòm ngó thiên hạ, ai không vừa ý là ngoạc mồm chửi người ta. Lão Trần Mạnh Hảo ông ổng chửi người khác về thơ phú kém cỏi còn nghe được, chứ 2 tay này, thơ văn cũng thường mà cứ lộng ngôn, rống lên chửi người khác thơ văn chẳng ra gì. Thật là trò rẻ tiền.
Tôi ngắt lời: 
- Chuyện của thiên hạ, kệ người ta, anh nhiều chuyện làm gì.
Anh sẵng giọng: 
- Anh là bạn chú. Tay õng ẹo Đỗ Hoàng cũng là chỗ chú quen biết, anh mới nhắc. Chú bênh mấy tay đấy à.
Không để tôi phân trần, anh cụp máy. Tôi gọi dăm bảy lần anh cũng không chịu nhấc máy.

3.
Khi bài "Mơ quê trong "Xóm Cỏ" của Nguyễn Khôi" lên blog Trang Đặng Xuân Xuyến, anh điện cho tôi, chùng giọng: 
- Anh có lỗi với bác Nguyễn Khôi. Khi đọc "Chân dung 99 nhà văn Việt Nam đương đại", anh không ưng cách bác Khôi vẽ mấy chân dung nhưng chỉ nghĩ trong đầu. “Thầy” Hoàng Xuân Hoạ điện cho anh, giãy nảy lên là "tầm cỡ tao mà ngồi cùng chiếu với mấy thằng bạn rượu của tay Khôi à!". Anh hỏi là ai? “Thầy” Hoạ bảo: "Thằng Xuyến và mấy thằng ngồi uống rượu với tay Khôi ở nhà nó đấy. Chúng nó là bạn rượu nên bốc thơm nhau ghê quá. Thằng Văn Thùy, cả đời thơ chỉ được mấy bài làng nhàng, tay Khôi cũng xếp nó ngồi cùng chiếu với tao, với ông Nguyễn Nguyên Bảy? Bắt chước người ta vẽ chân dung nhưng vẽ chân cẳng mặt mũi có ra hồn đâu. Hành làm một bài thế này... thế này... đập thẳng tay vào.". Anh nhận lời nhưng không viết theo ý “thầy” Hoạ vì viết thế thì mất dạy với bác Khôi. Anh viết theo cảm nhận của anh nhưng vì không cân nhắc, đã có những câu thất lễ với bác Khôi. Cũng vì không viết theo ý “thầy” Hoạ nên “thầy” ấy cạch mặt anh từ bữa đấy. Hôm gặp bác Khôi ở nhà chú, định xin lỗi thì bác ấy chửi anh là thằng lưu manh. Anh đau quá, không nói được lời xin lỗi.
Tôi bảo: 
- Sao anh không điện xin lỗi chú Nguyễn Khôi.
Anh trầm giọng: 
- Thôi, khi nào gặp bác Khôi, chú xin lỗi giúp anh. Hoặc, nếu viết bài nào về bác Nguyễn Khôi thì chú chêm lời xin lỗi hộ anh.
Tôi vội ướm:
- Em định làm một bài, tập hợp 7 tâm sự của anh qua điện thoại như thế này, ý anh thế nào? 
Anh cười: 
- Chú cứ viết đúng sự thật, đừng gia giảm, mặc ai chửi anh cũng được. Nhưng chú nên học cách viết bỗ bã, lỗ mãng, đề cao cái tôi cực đoan như tay Phạm Đức Nhì, đọc thấy đầy chất lưu manh, đểu cáng trong đó mới sướng.
Tôi bật cười:
- Nói Phạm Đức Nhì đề cao cái tôi cực đoan còn được, chứ nói Phạm Đức Nhì là lưu manh, đểu cáng ... thì không ổn.
Anh ngắt lời:
- Chú sợ bị Phạm Đức Nhì chửi tiếp như hồi chú "bênh" bác Nguyễn Khôi à? Anh thấy lạ, vụ đấy, bác Khôi gửi thư kêu cứu tới mấy chục bạn mà không ai lên tiếng. Chú là "bạn" mới quen trên facebook lại đứng ra “đòi lại sự công bằng” cho bác Khôi? Chiến hữu của bác Khôi toàn người tên tuổi lừng lẫy văn đàn, người ta chẳng lên tiếng, chú thá gì mà nhảy vào đánh nhau với “cối xay gió”? Nói thật, chú ăn chửi của tay Nhì cũng đáng. Anh hỏi thật nhé. Sau vụ bị tay Nhì chửi rát mặt, bác Khôi có cám ơn chú nửa lời không? Chú đã thấy chú ngu chưa?
Có lẽ sợ tôi phản bác, anh cụp máy luôn. Nhất quyết không nghe máy khi tôi điện đến.

4.
Khi bài "Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc" của tác giả Nguyễn Bàng lên trang blog Đặng Xuân Xuyến được vài ngày, anh điện cho tôi, giọng không vui:
- Sao chú lại đưa tâm sự riêng của bác Nguyễn Bàng về bài "Biển của Nguyễn Thanh Lâm trong RỪNG XANH MƯA" lên các trang mạng thế? Bác Nguyễn Bàng góp ý riêng mà chú chưng ra với mọi người làm gì?
Biết anh thật lòng nên tôi giãi bày:
- Anh biết đấy, giờ mấy ai thật lòng như chú Nguyễn Bàng. Người ta chỉ nói với nhau những lời có cánh, dại gì chỉ ra những điểm yếu, những hạn chế của người khác để "mua" sự phiền phức. Em chia sẻ góp ý của chú như là bài phản biện để bạn đọc cùng thưởng thức. Em tin bài viết của chú sẽ hữu ích cho bạn đọc.
Có vẻ chưa an tâm, anh gặng:
- Thế chú có đặt cương vị nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm khi đọc "Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc" sẽ phản ứng thế nào không?
Tôi chậm chậm trả lời:
- Cũng vì ngại anh Lâm không vui nên em lừng khừng thời gian khá dài không đưa bài lên trang. Nhưng anh biết tính anh Lâm rồi đấy: Thẳng tính và cầu thị, hơn nữa, góp ý của chú Nguyễn Bàng nhiều tính xây dựng, cũng nhẹ nhàng, chân thành nên sau vài tháng đắn đo, em chủ động gửi các trang mạng.
Anh có vẻ vẫn chưa an tâm, gặng tiếp:
- Thế ông Lâm nói thế nào? Chú chưa hiểu ông Lâm bằng anh đâu. Thẳng tính nhưng khi không vừa ý ai thì nghỉ chơi luôn. Hôm anh với chú tranh luận bài "Mợ Hữu" của Trần Nhuận Minh, anh điện cho ông Lâm để tham khảo ý kiến, ông ý mắng anh vỗ mặt: - Xuyến nó bình thế là OK rồi còn tranh luận đéo gì nữa. Rồi cụp máy. Anh điện lại mấy lần, ông ý không thèm nhấc máy.
Rồi anh chuyển giọng thủ thỉ:
- Anh vừa đọc mấy bài ông Nguyễn Xuân Dương bình "Hương Quê", "Tâm Sự Nàng Thúy Vân"... có vẻ là ông ấy nghiêng về "tán thơ"?
Tôi cười: 
- Theo em thì đấy là mấy bài cảm nhận thăng hoa cả về cảm xúc và ngôn từ. Rất lãng tử mà tinh tế, phóng bút mà sâu sắc. Không phải là những bài "tán thơ". 
Anh bât cười: thật á? rồi cụp máy.

5.
Sáng 30.11.2018, rất sớm, anh đã điện cho tôi:
- Chú có biết Nguyễn Thế Duyên không? Hắn vừa chửi Nguyễn Hoàng Đức đã ngu dốt, còn mất dạy dám đòi lật đổ tượng đài Nguyễn Du. "Thầy" Hoạ chịu khó nâng bi thằng cha Nguyễn Hoàng Đức này lắm. Một chặp cũng nhắng nhít đòi lật đổ tượng đài Nguyễn Du. Loại theo voi hít bã ý mà. 
Tôi ngắt lời:
- Nói chuyện khác đi anh ơi. Em không thích nghe chuyện kiểu này đâu.
Anh ha hả cười:
- Chú dị ứng với "thầy" Hoạ à? Anh nhớ chú bị “thầy” Hoạ chửi vỗ mặt khi đề tặng “thầy” ý bài thơ "Thế gian say".
Tôi giãi bày:
- Thấy chú ấy hay viết status phê phán thói hư tật xấu trong xã hội nên em mới đề tặng, biểu thị sự quý mến, đồng cảm của em.
Anh cười lớn, giọng phấn chấn:
- Nhưng “thầy” Hoạ lại tưởng chú đá đểu bệnh cuồng vĩ của “thầy” ý vì bài thơ của chú có câu "đập chén trở cờ". Mắc bệnh cuồng vĩ, có tật giật mình, suy từ ta ra người ý mà. Thích được khen lắm. Chê thơ Chử Văn Long, Trần Quang Quý, Nguyễn Quang Thiều,... Già rồi còn đú đởn thơ phú yêu đương, nghe giả cầy lắm. Buồn cười ở chỗ là không biết sự vô duyên của mình lại xăng xái chê người khác...
Để cắt chuyện, tôi vội "rủ rê":
- Chủ Nhật về Ân Thi chơi đi. Chiều nay em về, sáng thứ hai mới lên Hà Nội.
Anh hề hề cười:
- Hết năm nay anh mới rảnh. Hôm nọ, Văn Thùy điện cho chú nhưng chú không nghe máy. Ông ý đến tặng anh tập thơ hơn nghìn trang, coi như là tổng hợp sáng tác cả đời của Văn Thùy, trong đó in 3 bài bình thơ Văn Thùy. Bài của Trần Đăng Khoa không biết Văn Thùy có cắt bỏ đoạn nào không nhưng bài của chú ông ý bỏ hết những đoạn chú chê. Anh bảo cắt bỏ phần chê làm bài viết của nó mất tính xây dựng, Văn Thùy nói, "nó chê tao phũ phàng quá, tao cắt bỏ cho đỡ tức.". 
Hôm qua, anh vào trang Đặng Xuân Xuyến, đọc Sương Nguyệt Minh nhưng mới đọc mấy bài. Chú thấy văn của Sương Nguyệt Minh thế nào?
Tôi hỏi lại:
- Anh đọc bài viết về Nguyễn Hoàng Đức chưa? Dí dỏm, hay mà thâm.
Anh hỏi dồn:
- Thế truyện ngắn của hắn thế nào? Có xứng với giải thưởng không?
Tôi thật lòng:
- Em đọc vài truyện ngắn của anh ấy nhưng không thích.
Anh gặng hỏi:
- Nghĩa là chú chê truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh?
Tôi cười:
- Anh không nên suy luận kiểu quy chụp như thế. Thích hay không thích là một chuyện. Còn khen hay chê lại là chuyện hoàn toàn khác. Em mới đọc vài truyện, sao đưa ra lời nhận xét chung về truyện ngắn của anh ấy được.
Anh tiếp lời:
- Anh thấy Trần Mạnh Hảo "phang" Sương Nguyệt Minh rất xác đáng. “Bộ 3 chọc ngoáy" đã ghi điểm trong việc chỉ đích danh bọn "Văn Chương Giả Cầy".
Rồi đột ngột, anh chuyển "đề tài":
- Hôm nọ, tay Thế "hâm" phàn nàn chú lấy thông tin từ bọn đố kỵ với hắn nên viết chuyện điên của hắn chưa chuẩn. Hắn điên nhưng không cởi truồng, không vắt vẻo ngồi hát những câu vô nghĩa. Cũng không ré lên cười một mình rồi nhận là "Ngọc Nữ cô nương". Hắn bảo: "Xuyến nó phóng bút, làm hỏng hình ảnh của em.".
Tôi trả lời:
- Anh Thế điện trách em chỉ nghe người làng xã kể mà không hỏi lại anh ấy, làm hình ảnh anh ấy bị méo mó. Anh ấy bảo, lúc điên là lúc trí tuệ anh ấy cực thăng, diễn thuyết rành rẽ, mạch lạc, bảo vệ quan điểm đến cùng. Những lúc điên, anh ấy thường tìm gặp các lãnh đạo để góp ý về chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược đào tạo con người, góp phần làm giàu cho địa phương, cho đất nước, được mọi người tán thưởng rầm rầm... Em nói: Anh điên nhưng tỉnh quá, thế thì ai tin?
Anh thủ thỉ:
- Mà anh thấy, Ái Nhân vẫn không chịu tỉnh chú ạ. Vẫn cứ lên facebook cãi với mọi người là hắn không điên như chú viết. Hắn điên theo kiểu của vĩ nhân tỉnh lẻ, của nhà thông thái cơ... Nặng lắm rồi chú ạ. Anh quý Thế "hâm" ở sự ngây thơ. Hắn ngây thơ tin 100% những lời còm khen hắn đẹp trai, thơ hay rồi hồn nhiên đem đi khoe. Lạ thế.
Ngần ngừ một lát, anh hỏi:
- Chú nhớ hôm uống rượu ở nhà chú, "thầy Hoạ" rối rít khen thơ chú không?
Tôi ngớ người một lúc, rồi trả lời:
- Em không, vì lúc "trà dư tửu hậu", những chuyện xã giao thì nhớ làm gì.
Có vẻ không hài lòng, anh chùng giọng:
- Hôm đấy, "thầy" Hoạ xin tập bản thảo thơ của chú, nói "về đọc lại để bình mấy bài thơ của Xuyến vì chú đồng cảm với mấy bài thơ đó lắm", thế mà về nhà, "thầy" Hoạ liên tục điện, bảo: "Hành đừng bình thơ của thằng Xuyến, tự hạ thấp Hành đấy. Nó biết đéo gì về thơ mà bình? Chỉ có bọn đéo hiểu gì về thơ mới xúm vào bình thơ của nó.". Anh nói là Xuyến có khiến em và bác bình thơ của nó đâu, thích mấy bài thơ đó thì em bình. Thế là "Thầy" Hoạ mắng anh là thằng điên.
Tôi phá lên cười:
- Nói chuyện khác đi anh. Nghe mấy chuyện đó, em không khoái.
Một thoáng ngập ngừng, anh mới hỏi:
- Chú thật sự không giận "thầy" Hoạ chứ?
- Vâng. Chẳng lẽ anh vẫn chưa hiểu tính em sao.
Anh lẩm bẩm: lạ nhỉ. Rồi cụp máy.

6.
Chiều ngày 03.12.2018, anh điện cho tôi, thắc mắc:
- Chú gây thù chuốc oán gì với tay Việt Thắng trong Sài Gòn mà chiều qua hắn điện chửi chú ghê quá. Hắn chửi chú xấc xược khi phác họa chân dung Văn Thùy, đá xoáy nỗi đau cả đời của Văn Thùy. Anh bảo hắn đọc chậm lại bài thơ "Văn Thùy dị nhân", ngẫm kỹ rồi hãy chửi thằng Xuyến. Bài thơ ấy Xuyến nó viết bằng sự trân trọng, cảm mến, xót thương từ đáy lòng. Văn Thùy rơi nước mắt khi đọc lời bình của Nguyễn Đăng Hành Chử Văn Long đấy... Hắn cười: "Em biết rõ về thằng này. Hắn là đồng hưong huyện với Văn Thùy, cách nhà Văn Thùy có mấy cây số mà hắn chơi Văn Thùy quả đắng quá.". Thông cảm, vì Việt Thắng thần tượng Văn Thùy ghê lắm. Với hắn, Văn Thùy lung linh như một tượng đài.
Hắn còn tranh luận với anh về “bộ 3 chọc ngoáy” thích vén váy lên làm loạn xã hội. Chú đã đọc thơ Bành Thanh Bần chưa? Thơ ấy mà thằng cha Nguyễn Hoàng Đức khen không tiếc lời là cả thế kỷ may ra mới kiếm được 3 thi sĩ có tài thơ “nặng ký” như thế. Thằng điên! Khen thế không sợ trẹo mồm à? Cả lão Trần Mạnh Hảo nữa. Thơ của nhà thơ khiếm thị Việt Anh, cũng thường thôi, thế mà lão cúi xuống, phùng mang trợn mắt, dồn hết công lực thổi bay Việt Anh lên tận chín tầng mây là một thiên tài thế kỷ. Đúng là thằng điếm bút, loạn ngôn! Hắn coi thiên hạ mù hết nên vung vẩy khen như con điếm ve trai.
Tôi bật cười, hỏi bộ ba đó có thù oán với anh à? Chuyện của người ta, anh “ôm” làm gì. Anh ngắc ngứ chút, rồi chậm rãi:
- Thì cũng từ thằng cha Vũ Việt Thắng, chiều qua hắn chửi chú chán chê xong quay ra ca ngợi “3 ả” hết lời nên anh thấy chướng tai mới kể cho chú.
Tôi nhớ, có lần anh nói anh Việt Thắng chê tôi “làm thơ mà không theo luật, hình như thằng này không biết luật”. Tôi thật lòng: Anh Việt Thắng nói đúng đấy. Ngay cả thể thơ Lục Bát, em cũng không biết thế nào là lỗi Lạc Vận, thế nào là lỗi Phong Yêu. Anh cười, chửi tôi là thằng ba xạo.
Lần này cũng vậy. Tôi lại cười, nhắc anh như lần trước:
- Lần sau anh Việt Thắng điện tới thì nhờ anh nói giúp em lời cám ơn anh ấy. Nếu không quan tâm tới em thì anh ấy chả nói những câu xây dựng thế đâu.
Anh lẩm bẩm: - Ừ, ừ... rồi cụp máy.

7.
Sáng ngày 23.12.2018, anh điện cho tôi, giọng nhiều tâm sự:
- Anh đọc trận quyết chiến giữa ông Châu Thạch với ông Nguyên Lạc bên Mỹ về bài "thơ Đường hậu hiện đại" của Châu Thạch thấy buồn thì nhiều, cười thì không được. Đều trên dưới 80 tuổi rồi mà chửi nhau như dân chợ búa trên facebook. Ông Nguyên Lạc thâm và đểu khi dùng thái độ nhã nhặn, lịch thiệp để ra đòn với ông Châu Thạch. Lại được ông Phạm Đức Nhì ma mãnh mượn thơ của ông Chu Vương Miện tung cú sút chiếm thế thượng phong. Ông Châu Thạch lụy chữ tôi quá mà làm hỏng hình ảnh lâu nay xây dựng là người hiền hòa, trọng nghĩa. Lại thêm ông Lang Trương chỉ biết ra đòn bằng những lời bù lu bù loa nên thế trận nghiêng hẳn về phía Nguyên Lạc. Ai cũng biết ông Nguyên Lạc mượn bài viết để “chơi” ông Châu Thạch, đẩy mình lên cao nhưng nếu ông Châu Thạch nhã nhặn trả lời thì mưu kế của ông Nguyên Lạc thất bại. Tiếc quá. Tiếc quá. Trận chiến này ông Châu Thạch mất nhiều quá. 
Tôi trầm ngâm:
- Em có biết chuyện đó nhưng không thể còm...
Anh ngắt lời:
- Chú không tham gia là đúng. Con người ta khổ vì lụy chữ tôi nhiều quá.
Rồi anh cao giọng:
- Anh thấy ông Phạm Ngọc Thái cư xử khá hay. Bị ông Nguyên Lạc xỏ xiên thậm tệ nhưng ông ấy không thèm lên tiếng, vẫn tiếp tục "tự sướng" kiểu điên khùng của riêng mình ông ấy, hành động đó khác gì ông ấy chửi Nguyên Lạc: mày sủa kệ mày, tao đi cứ đi. Bị Nguyên Lạc nhục mạ là kẻ cuồng vĩ, không biết bình thơ,... nhưng ông Phạm Ngọc Thái kệ, cứ "tự sướng" tiếp, thế là ông ấy khác gì đã trả lời ông Nguyên Lạc: mày cũng giống tao nhưng chó hơn tao là mày vấy cứt vào người khác để mày được thơm hơn. Vụ này, ông Nguyên Lạc thua trắng ván.
Rồi anh hỏi tôi:          
- Chú đã tập hợp bài trao đổi giữa anh với chú về mấy chuyện thế này chưa?
Tôi trả lời:
- Chốc em ghi lại cuộc nói chuyện này là xong. Chiều hoặc tối em chuyển anh đọc qua facebook ở chế độ BẠN BÈ CỤ THỂ. Sau 7 ngày, nếu anh không ý kiến chỉnh sửa gì thì em sẽ đưa lên trang phụ CHUYỆN BẠN VĂN và cho bài hiện ở TRANG CHỦ vào dịp Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi - 2019, 
Anh khẽ ừ... rồi hỏi tôi:
- Chú định làm kiểu phỏng vấn à? Như thế thì vô duyên, mà cũng giả tạo lắm.
Tôi trả lời:
- Em kể lại 7 cuộc điện thoại anh tâm sự về những "nhân vật" em có quen, biết hoặc có nghe tên tuổi họ nhưng chỉ đả động đến chuyện văn chương. Chuyện "thâm cung bí sử", em nghe chỉ để biết thôi....
Anh ngắt lời:
- Anh cũng định nhắc chú điều đó nhưng chú nhớ là phải ghi đúng những câu chữ anh nói. Anh biết, anh sẽ bị nhiều người chửi nhưng không sao. Sự thật cần phải được tôn trọng chú ạ.
Tôi vâng dạ với anh nhưng thú thật vẫn lợn gợn những e ngại.
*
Chiều nay, 30 tháng 12.2018, sau 7 ngày bài đưa lên trang facebook ở chế độ BẠN BÈ CỤ THỂ, tôi điện hỏi anh đã đọc kỹ chưa? Có cần chỉnh sửa gì không? Anh hề hề cười:
- Chú là thằng nhát gan. Sợ bị nghe chửi lây nên cố tình viết nhẹ đi. Những người biết anh, người ta không nhận ra anh vì chú vẽ anh ngoan hiền quá, không đúng chất ngông nghênh bất cần của anh. Thôi, chú cứ đưa bài này lên trang đi. Anh (cười) chịu khó mang tiếng là thằng ngoan hiền cũng được.
Ngồi đọc lại, tôi thấy, hình ảnh anh có chút nhạt nhòa vì sự “ngoan hiền” thật.
*.
Hà Nội, chiều 30 tháng 12.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


THƯA CHUYỆN CÙNG BẠN ĐỌC ...
VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC
*
Thật sự là tôi không thích đọc những bài viết chuộng lối "tầm chương trích cú" nên ngày 14 tháng 02 năm 2019, khi nhà thơ La Thụy gửi qua email, ngó thấy tên tác giả bài viết là Nguyên Lạc, tôi liền nhấn chuột thoát ra để vào đọc thư khác. Sở dĩ như vậy là vì gần đây, vào cuối năm 2018, vô tình đọc 2 bài viết của tác giả Nguyên Lạc, cũng do nhà thơ La Thụy gửi qua email, tôi đã phát hãi khi phải đọc những đoạn "tầm chương trích cú" mà nhiều người đã biết hoặc không cần phải biết, được ông Nguyên Lạc sử dụng na ná kiểu "Sơn Đông mãi võ", “lên gân dạy đời” dành cho những nạn nhân không chỉ là nhà phê bình văn học Châu Thạch, nhà thơ Phạm Ngọc Thái hay Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại, Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền,... mà với tất cả những ai đọc 2 bài viết đó. 
Tôi không có ý định "trả lời" bài: VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO BẾN LẠ” vì không muốn bị cuốn vào những tranh cãi làm phí phạm thời gian bởi mấy việc chẳng đâu vào đâu với ông Nguyên Lạc. Nhưng sớm hôm nay, 16 tháng 02.2019, một người bạn khuyên tôi nên có đôi lời với bạn đọc đã đọc "VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC "THUYỀN NEO BẾN LẠ" CỦA PHÚC TOẢN" của blog Trang Đặng Xuân Xuyến và các trang web thân hữu nên tôi ngồi gõ đôi dòng.
Tôi lọc ra mấy điểm ông Nguyên Lạc nêu trong bài dài vài nghìn chữ: VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO BẾN LẠ”, rườm rà vì "tầm chương trích cú" đến hơn nửa dung lượng bài viết, để thưa cùng bạn đọc. 
.
I.
Ông Nguyên Lạc viết:
Theo tôi, ở đây phải dùng chữ ƠI hay ÔI để tán thán sự buồn mới đúng: Ơi (ôi) em!/ ơi (ôi) anh! chúng ta đành phải xa nhau rồi.v.v... Buồn, bất lực là hai chữ này.
Chắc có lẻ nhà bình luận hiểu chữ Ơ rộng nghĩa hơn tôi!
Tuy câu thơ bị khuyết điểm nhỏ này, nó cũng tạm coi là đạt.”
.
Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:
Tôi nghĩ, hẳn khá nhiều người đều hiểu:
- Ơ là tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên trong những tình huống bất ngờ mà chủ thể chưa có thời gian cảm nhận để có phản ứng thích hợp.
Ví dụ: Ơ... sao ngu thế
- ÔI là tiếng thốt ra biểu lộ xúc động mạnh mẽ trước nỗi đau đã thấm sâu hoặc trước điều không ngờ.
Ví dụ: Ôi! Hắn đểu thế!
Trong trường hợp của bài thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" thì từ Ơ được nhà thơ Phúc Toản sử dụng hợp với hoàn cảnh của nhân vật trong thơ nên hay hơn rất nhiều so với dùng chữ ÔI như ông Nguyên Lạc bày vẽ.
Còn chữ ƠI thì sao?
- Ơi là cảm từ, là khẩu ngữ dùng để gọi (hoặc đáp) một cách thân mật, thân thiết, ví như: Tuấn ơi, Minh ơi, Hùng ơi... Cũng có khi dùng với ý than vãn, ví như: Trời ơi!, Cha Mẹ ơi!...
Nếu thay chữ Ơi như bày vẽ của ông Nguyên Lạc:
Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơi! Lấy chồng...”
thì câu thơ thành vô duyên, ngớ ngẩn khi nhân vật trong thơ đang xót xa vì tình yêu tan vỡ.
.
II.
Ông Nguyên Lạc viết:
a. "Gừng cay, muối mặn xát lòng"
Câu thơ này có chính xác ở trường hợp này không?
Xin mời nhà bình thơ đọc trích đoạn này:
 [...Như đã nói trên, quan hôn tang tế không thể nào không có rượu. Nhất là ngày "loan phụng hòa minh" và đêm "động phòng hoa chúc"
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say...
Với tục lệ Việt Nam cổ truyền thì lễ động phòng cần có: Chỉ đỏ hoặc chỉ ngũ sắc gọi là dây tơ hồng, đĩa muối với dăm lát gừng tươi, chai rượu Hồng Đào đính kèm một chiếc chung. Chú rể buộc tơ hồng vào cổ tay nàng dâu và ngược lại. Rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa. Xong, cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga:
Tay bưng đĩa muối chấm gừng,
Tình nồng nghĩa mặn xin đừng bỏ nhau
(Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu - Phanxipăng)[2]
Ở đây chàng trai và cô gái "động phòng, hợp cẩn" lúc nào mà nhai muối/ gừng xát lòng? Nhà bình thơ có chú ý đến điều này không?
.
Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:
Tôi thật sự ngạc nhiên trước "sự hiểu" hoặc rất là ngây thơ, hoặc rất là máy móc, hoặc là cố tình "bẻ cong" của ông Nguyên Lạc. Đoạn ông trích dẫn trên, có chăng chỉ là đoạn văn mô tả tập tục cưới hỏi của người bản địa, đó là tập tục cưới hỏi của người dân xứ Quảng, không phải là phong tục cưới hỏi truyền thống của người Việt Nam.
Quê tôi, quê nhà thơ Phúc Toản hay quê của nhiều người khác trong lễ Hợp Cẩn đâu có dùng rượu Hồng Đào bởi rượu Hồng Đào là một "đặc sản" của tỉnh Quảng Nam, không phải là rượu cưới truyền thống của người Việt? Cũng đâu có nghi thức “cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga: Tay bưng đĩa muối chấm gừng, / Tình nồng nghĩa mặn xin đừng bỏ nhau” sau khi đã “rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa”? 
Dân gian dùng vị mặn của muối, vị cay của gừng đưa vào ca dao, tục ngữ làm hình ảnh tượng trưng cho tình nghĩa sâu đậm, thắm thiết, khó quên của tình yêu đôi lứa, của tình nghĩa vợ chồng đã gắn bó cùng nhau trải qua những đắng cay, được mất... của cuộc đời - một tượng hình rất dân dã, chân thực mà sâu sắc. Việc nhà thơ Phúc Toản dùng vị mặn của muối, vị cay của gừng vào thơ, để xót xa mối tình khắng khít, sâu đậm bị tan vỡ đâu có sai?!
Thật là buồn cười khi ông Nguyên Lạc ngô nghê cho rằng câu "gừng cay, muối mặn" chỉ được dùng khi trai gái đã thành vợ thành chồng.
.
III.
Ông Nguyên Lạc viết:
b. "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..."
Theo chủ quan tôi câu này có vấn đề ở hai điểm:
- Hai chữ ở cùng một câu (Nỗi) là điều các nhà thơ nổi tiếng khuyên nên tránh.
- "Nỗi mừng"? Người yêu vu qui đi lấy chồng mà mừng? Cũng lạ?
Nhà bình luận, bạn đã nói đây là cuộc hôn nhân "không tình yêu", vậy thì cả 2 đều phải buồn chứ làm sao mà có chữ "mừng" ở đây? Nếu nói "mừng" thì không thật lòng, không đúng cảm xúc của hai người yêu nhau.
- Nếu "mừng" này ở chàng trai thì câu này có nghĩa là chàng vừa buồn vì tiếc và vừa "mừng" vi "tống khứ" cô gái được phải không? Tình yêu chân thật?
- Nếu "mừng" này ở cô gái thì sự "không chân thật" trong tình yêu càng rõ ràng. Cô gái thoát nợ!
Nhà binh thơ có thể nói (hay đoán) "nỗi mừng" là ngoài mặt của cô gái, còn trong lòng thì buồn. Làm sao biết được trong lòng của người khác?
Trong câu thơ, nếu một vài chữ có thể gây ra sự suy nghĩ tiêu cực của độc giả thì nên tránh đừng dùng, phải dùng chữ có nghĩa chính xác. Đừng chủ quan theo ý mình, nên dự phòng những vấn đề rắc rối có thể sảy ra.
Theo tôi (xin nói chỉ là chủ quan) phải thay chữ nào khác phù hợp với ý tứ bài thơ để giải quyết các vấn đề nêu trên:
Thí dụ như dùng chữ bâng khuâng ta giải quyết được điệp từ và chuyện rắc rối lẫn lộn giữa buồn/mừng nêu trên. Lúc này câu thơ sẽ như thế này:
Bâng khuâng cứ nhói vào trong nỗi buồn...
Đây chỉ là thí dụ gợi ý, quyền là ở tác giả bài thơ, ông là người "sáng tạo"
Để tránh việc người khác (trong đó có thể có nhà bình thơ) cho rằng sự thay thế chữ khiến "lợn lành thành lợn què", tôi sẽ phân tích chữ "nỗi" và chữ "niềm" cho rõ ý.
.
Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:
Ở mục trên (mục b), ông Nguyên Lạc soạn lại và phát triển thêm từ những comment trao đổi với tôi dưới bài viết "VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC "THUYỀN NEO BẾN LẠ" CỦA PHÚC TOẢN" đăng trên trang Văn Nghệ Quảng Trị ngày 20 tháng 01 năm 2019. 
Tôi không trả lời lại mà copy 2 comment của tôi trên trang Văn Nghệ Quảng Trị như sau:
Comment 1: 
- Thưa chú Nguyên Lạc!
Đúng là “Hai chữ ở cùng một câu ̣(NỖI) là điều nên tránh” nhưng ở câu thơ này, chú Phúc Toản đã (chủ ý) đặt đối trọng “nỗi buồn” - “nỗi mừng” giữa “anh” và “em” (chứ không phải chỉ riêng tâm trạng chàng trai) để nhấn sâu hệ lụy nỗi đau của cuộc hôn nhân không tình yêu, như thế theo cháu lại thành hay đấy ạ.
Comment 4:
- Vâng! Thưa chú Nguyên Lạc!
Cháu cũng trả lời chú lần này lần cuối vì chú và cháu có cách hiểu khác nhau nên cứ trao đổi sẽ mất nhiều thời gian, mà cũng sẽ làm phiền người khác.
1. Thì hẳn câu thơ "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." diễn tả tâm trạng chàng trai nên nhà thơ mới dùng từ NỖI mừng mà không là NIỀM vui hoặc chữ nào khác. Vì lẽ ra chàng trai cũng như mọi người đến dự hôn lễ của cô gái để chúc mừng hạnh phúc của cô gái nhưng trong hoàn cảnh trớ trêu cô gái lại là người yêu (của mình) nay “theo thuyền neo bến lạ” thì chàng trai sao vui được? Còn cô gái, nhân vật chính của ngày đại hỉ, người chàng trai nói là “nỗi mừng”, (thân bằng quyến thuộc của cô gái sẽ nói là ngày vui, niềm vui) thì trong nghịch cảnh ấy đâu có thể vui khi gặp chàng trai? Và cả những người biết chuyện tình của hai người đó nữa, thấy cảnh đấy ai chẳng có phút trầm buồn? 
Thế nên cháu mới viết:
“Tôi nghĩ, ở câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...", dù nhà thơ Phúc Toản chỉ nói về nỗi đau đang cứa vào trái tim của riêng "anh" thì người đọc vẫn cứ liên tưởng, vẫn cứ hình dung đấy là nỗi đau đã lan tỏa, đã xâm chiếm cả không gian ngày "em" làm lễ Vu Quy. Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với một người đàn ông xa lạ.
Vâng. Câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..."đã đích thực chỉ ra là vậy.”
2. Câu thơ "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." theo ý cháu không nên thay thế chữ MỪNG bằng “chữ “bâng khuâng” hay chữ nào đó” vì nếu không khéo sẽ rất dễ “lợn lành thành lợn què” đấy ạ.".
Còn giả dụ nếu theo bày vẽ của ông Nguyên Lạc thì sao?
Hẳn ai cũng hiểu BÂNG KHUÂNG là cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau, không rõ ràng khiến tâm trạng gần như ngẩn ngơ. Như thế, nếu thay chữ BÂNG KHUÂNG theo bày vẽ của ông Nguyên Lạc:
“Bâng khuâng cứ nhói vào trong nỗi mừng...”
sẽ không diễn tả được tâm trạng giằng co nửa cười nửa khóc của chàng trai trong ngày đại hỷ của cô gái, chẳng khác gì việc cố tình tạo hình cho nhân vật: giữa mùa hè mặc quần đùi, khoác áo bông, chạy lông nhông ngoài đường phố.
.
IV.
Ông Nguyên Lạc viết:
LỜI KẾT
Lâu lắm rồi, tôi thường gặp câu nầy: "Dưới ánh sáng..." "Nhờ ơn..." gì gì đó...tác giả mới viết được bài này... Và những lời "hít hà" khen các bài văn thơ của của những người ve cổ áo veston trước ngực có logo "quốc huy sao vàng" (cấp lãnh đạo). Ai mà dám nói thật, ai mà dám chê trong thời này? Vì sợ, vì muốn lấy lòng để được hưởng chút "ơn mưa móc". (Về vụ "sợ" hình như nhà văn Tô Hoài đã có lần thừa nhận, nếu tôi nhớ không lầm)
Nhưng bây giờ là thời khác, không thể làm giống thế được, phải "lương thiện" với lòng, phải "chính danh" là trí thức là nhà bình luận . Nhà bình luận nên nhớ lại “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán đã nhắc ở trên.
Một nhà thơ đã viết:
Ta tìm ta bắt, trong thơ...
Những con sâu chữ, lơ mơ "ra rìa"
                            (Hà Nguyên Du)
Đúng, phải tìm bắt sâu chữ: Trong vườn hoa nghệ thuật, văn thơ, người bình luận giống như người làm vườn, phải chăm sóc vung trồng và tìm bắt những con sâu để cho cây hoa tươi tốt, nở ra những những nụ hoa đầy hương sắc cho đời.
Trên trang nhà Đặng Xuân Xuyến, nhìn kỷ thấy trên ngực (cổ áo Veston cà - vạt) của nhà thơ Phúc Toản có logo "quốc huy sao vàng"[1].
Hãy trân trọng gìn giữ tiếng nước ta. Tiếng Việt mà bị tiêu diệt thì dân tộc Việt sẽ tự nhiên biến mất y như Học giả Phạm Quỳnh đã từng nhận xét. Hãy bảo về sự trong sáng của tiếng Việt. Nên cẩn trọng về tính chính xác của nó nếu không sẽ dẫn đến "văn nạn" "bút máu" mà tôi đã đề cập trong bài viết "VĂN NẠN VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ(3)
Mời đọc trích đoạn:
[... Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ NGHĨA. CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Và cuối cùng với hàng chữ "Kim loại màu vàng" mà "ai đó" ghi khi kiểm kê vàng của người dân miền Nam trong đợt "cải tạo tư sản" 1976.
VĂN NẠN (cũng được gọi là ÁN VĂN), nói nôm na là những vụ án liên quan đến chữ nghĩa, văn chương, văn nghệ... Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập. Chết mà không biết mình vì sao bị chết...]
Đừng như hai ngài Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại và Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền, những người mắc bệnh VĨ CUỒNG (mégalomanie, megalomania) muốn làm mai một nó.
.
Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:
Tôi sống ở Hà Nội, đã bỏ cơ quan nhà nước (Viện Sử học) để làm dân lao động tự do, đã viết những: Quê Nghèo, Bạn Quan, Quan Trường, Tôi Nghe, Tôi Thấy... và không thích tham gia bất kỳ hội - nhóm - đảng phái nào. Còn nhà thơ Phúc Toản, là cán bộ hưu trí, sống tại Bắc Ninh, mới kết bạn facebook với tôi chừng năm nay, vô tình đọc và đồng cảm với "Thuyền Neo Bến Lạ" mà tôi viết đôi dòng cảm nhận. Bài viết ấy cũng chỉ là chia sẻ vài cảm nhận của người đọc với tác giả thơ, có ghê gớm gì đâu mà ông Nguyên Lạc phải "thốt lên": "Bài bình thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" của nhà thơ kiêm nhà bình luận Đặng Xuân Xuyến được đăng trên trang nhà anh và rất nhiều trang Web trong cũng như ngoài nước. Nó là Top Hít và được các fans anh "hít hà" khen thưởng." rồi dành hẳn mục LỜI KẾT, dễ đến hơn nghìn chữ trong bài viết vài nghìn chữ để bóng gió, quy chụp tôi là kẻ nịnh nọt, mắc bệnh cuồng vĩ như ông đã từng chụp mũ ông Châu Thạch, ông Phạm Ngọc Thái trong 2 bài viết mà nhà thơ La Thụy đã vô tình chuyển qua email tới tôi. 
Thật nực cười!
Nếu là người bình thường sẽ không có lối suy diễn biến thái, bệnh hoạn khi cố tình quy chụp hoặc bóng gió quy chụp người khác là nịnh nọt, là mắc bệnh cuồng vĩ kiểu "suy bụng ta ra bụng người" như ông Nguyên Lạc.
Muốn phất cao ngọn cờ “yêu thương thơ văn cùng với niềm trân trọng sự chính xác và trong sáng của tiếng Việt thân yêu” để đánh trống, giong cờ hiệu triệu mọi người cùng theo làm một cuộc “Cách Mạng” như ông Nguyên Lạc rùm beng thì tối thiểu ông Nguyên Lạc phải làm được 2 điều:
- Hiểu mình nói gì, viết gì.
- Bỏ thói “suy bụng ta ra bụng người”
Nhưng tôi tin đó là 2 điều quá xa xỉ với ông Nguyên Lạc!
*.
Hà Nội, sáng 16 tháng 02.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


CHUYỆN ‘SƯ PHỤ’ CỦA
NHÀ THƠ NGUYỄN ĐĂNG HÀNH
*
Sáng ngày 07 tháng 07 năm 2019, tầm 9 giờ anh đến nhà tôi ở phố Nguyễn Văn Trỗi theo lời hẹn. Bắt tay anh, tôi nói: - "Em có mời anh Đỗ Hoàng. Chốc gặp nhau, anh có ngại không?". Thoáng chút bối rối nhưng nét mặt anh rất nhanh tươi trở lại: - "Không sao! Chuyện thật người thật thì có gì tớ phải ngại.", rồi chậm chậm bước lên tầng.
Vừa gặp Đỗ Hoàng, anh đã quày quả trách tôi:
- Chú viết “Tưng tửng 7 chuyện cùng Nguyễn Đăng Hành” như thế hại anh quá. Nhiều người hiểu sai nói anh thế này thế kia..
Tôi ngớ người, phân trần:
- Em viết nhẹ đi rất nhiều so với lời anh nói. Anh mắng em hèn, không dám trich dẫn 100% lời anh vì sợ mọi người chửi, sao giờ lại trách em?!.
Không trả lời tôi, anh cười rất tươi với nhà thơ Đỗ Hoàng, giọng hồ hởi:
- Anh Đỗ Hoàng, bác Chử Văn Long, bác Nguyễn Khôi là 3 sư phụ em rất kính trọng! Đời em chỉ tôn kính 3 sư phụ đây thôi!
Rồi vồn vã chuyển đề tài thăm hỏi, luận bàn thơ phú. Tôi tròn mắt nhìn anh: Chẳng có lẽ tôi đang nghe nhầm?
Tôi nhớ, lần đầu anh rủ nhà thơ Hoàng Xuân Họa đến nhà tôi ở phố Nguyễn Văn Trỗi, Hà Nội. Vừa nhấp ngụm trà, anh hắng giọng, vẻ mặt cảm động:
- Thầy Hoàng Xuân Họa đây là sư phụ tớ rất tôn kính! Sư phụ dạy tớ nhiều chiêu thức làm thơ lắm. Tớ rất biết ơn sư phụ!
Rồi hai tay nắm chặt vào nhau, anh chớp chớp mắt, khiến nhà thơ Hoàng Xuân Họa lặng người vài nhịp thở mới run run gõ gõ ngón tay xuống bàn:
- Hành cứ quá lời nên thế... Mình giúp Hành được bao nhiêu đâu....
Ở làng Đá, quê tôi, cũng hơn một lần anh chém tay quả quyết:
- Tớ chơi với rất nhiều nhà thơ, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi thành phần nhưng nói thật với cậu, chỉ bác Văn Thùy đây mới đáng mặt để tớ tôn làm sư phụ. Thơ của sư phụ Văn Thùy tuyệt vời lắm, đọc sướng lắm, khoái lắm, vào lắm...
Chỉ vài lời thế thôi đã giúp không khí đang tẻ nhạt vì người nào người nấy còn mải giữ kẽ tức khắc trở nên rôm rả, náo nhiệt, những câu thơ tếu, những chuyện lạ đời được "dị nhân" Văn Thuỳ kể nghe dí dỏm hơn, có lửa hơn và “bạn rượu” cũng hào hứng tán thưởng hơn.
Rồi bận nữa, cũng tại nhà tôi ở phố Nguyễn Văn Trỗi, anh rổn rảng trước nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm:
- Thầy Lâm là nhà “Hà Nội học”, là sư phụ kính trọng của tớ! Thơ của thầy đầy chất trí tuệ, đầy chất Thiền, rất đại chúng mà cũng rất bác học. Thơ như của thầy khó làm lắm. Không phải ai cũng làm được đâu. Vì thế, thơ của thầy rất kén bạn đọc. Phải có trình độ uyên bác, có khả năng cảm thụ văn học sâu sắc mới cảm được thơ của thầy. Mấy ông thơ Câu lạc bộ, thơ vườn... mà gặp được thơ của thầy Lâm thì thích lắm, mừng như bắt được vàng nhưng hiểu được thơ của thầy thì mấy nhà thơ vườn đó còn lâu, có mà mãi ú ớ như vịt nghe sấm.....
Anh say sưa như cử tọa lên đồng, khiến nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm thỉnh thoảng lại tháo kính, dụi dụi mắt, ngài ngại:
- Hành khen quá lên vậy, tớ ngượng ....
Rồi, có lần anh vung tay hào hứng:
- Đời anh may mắn được kết giao với nhà thơ Phạm Tiến Duật, được ông dạy nhiều chiêu thức làm thơ lắm. Dù luôn miệng chửi thơ anh là thơ con cóc, không xứng với thơ mấy Câu lạc bộ "trăm hoa đua nở" nhưng duy nhất ông mới đáng mặt là sư phụ của anh!...
Tôi ngẩn người với thắc mắc: Anh lắm sư phụ vậy? Sao ai anh cũng bảo là sư phụ duy nhất thế? Phải lặng ngồi đến gần tiếng đồng hồ tôi mới vỡ lẽ vì nhớ ra lần anh bị nhà thơ Nguyễn Khôi mắng là “thằng lưu manh chốn ngoại ô”, anh đã ghé tai tôi thủ thỉ:
- Bác Nguyễn Khôi khôn lắm, không chê ai trước mặt vì không muốn làm mất mặt người ta nên ai cũng quý bác ấy. Lần này chắc bác ấy bực lắm nên mới mắng tớ như vậy. Tớ thì khác, ai tớ cũng tôn làm sư phụ, cho họ sướng ngất ngây. Mình mất gì đâu ngoài lời khen mà lại được họ quý. Chú cứ thẳng ruột ngựa như thế sẽ bị nhiều người ghét lắm.....
Tôi thừ người khá lâu mới thấm được bài anh dạy: Đó là nghệ thuật trong giao tiếp, đánh thẳng vào điểm yếu của người đối diện là “cái tôi” thích được ca tụng, tôn thờ. Những lời khen có cánh đó làm cho người ta thấy được trân trọng, dù biết đó chỉ là những câu nói xã giao nhưng tâm trạng vẫn thoải mái, nói chuyện vẫn rôm rả hơn. Các cụ chả đã dạy: "Lời nói chẳng mất tiền mua / lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" đấy thôi.
Bái phục anh! Bái phục nhà thơ Nguyễn Đăng Hành! Nhưng thật lòng, đã quen với cách sống nghĩ sao nói vậy, giờ có bắt học anh rồi thưởng lớn chắc tôi cũng làm không được bởi như cổ nhân đã đúc kết: “Giang sơn dễ đổi / Bản tính khó dời.”.
Tôi cứ vẩn vơ từ ngày đó đến giờ, giá anh là doanh nhân hoặc chính khách, có lẽ anh sẽ rất thành công!
----------
Mời nhấp chuột đọc thêm:
*.
Hà nội, ngày 12 tháng 01 năm 2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.
 .




-----------------------------------
Đang cập nhật
.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét