“TIẾNG
VỌNG”
TRONG NHỮNG NGÀY GIÔNG BÃO
(Về bài thơ Tiếng vọng của Nguyễn Quang Thiều)
Theo tâm sự của Nguyễn Quang Thiều thì bài thơ viết về một kỉ
niệm rất thật của anh từ thời thơ ấu. Sau này nhớ lại, anh đã viết về cái
“tiếng vọng” từ “miền tuổi thơ xa xít” ấy.
Con chim sẻ nhỏ chết
rồi
Chết trong đêm cơn bão
về gần sáng
Đêm ấy tôi nằm trong
chăn nghe cánh chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã
giữ chặt tôi
Và tôi ngủ ngon lành
đến lúc bão vơi.
Chiếc tổ cũ trong ống
tre đầu nhà chiều gió hú
Không còn nghe tiếng
cánh chim về
Và tiếng hót mỗi sớm
mai trong vắt.
Nó chết trước cửa nhà
tôi lạnh ngắt
Một con mèo hàng xóm
lại tha đi
Nó để lại trong tổ
những quả trứng
Những con chim non mãi
mãi chẳng ra đời.
Đêm đêm tôi vừa chợp
mắt
Cánh cửa lại rung lên
tiếng đập cánh
Những quả trứng lại lăn
vào giấc ngủ
Tiếng lăn như đá lở
trên ngàn.
Hãy tạm gác lại tâm sự của tác giả để đọc bài thơ như một văn
bản. Văn bản ấy có hai phần. Toàn bộ phần đầu là kể chuyện, là thơ có yếu tố tự
sự. Kể lại câu chuyện có thật nhưng vẫn thành thơ, bởi trong lời kể ấy người ta
nhận ra được tâm trạng xa xót, băn khoăn, dằn vặt khôn nguôi của người kể
chuyện. Thử đọc câu đầu, nếu là kể thuần túy thì chỉ là một thông báo: “con chim sẻ nhỏ chết”. Tác giả chỉ thêm
chữ “rồi”vào cuối thì cái thông báo
khô khan, vô cảm kia đã thành thơ, rung lên một tiếng than ngỡ ngàng, tiếc
nuối: “Con chim sẻ nhỏ chết rồi”. Câu
thơ thứ hai: “Chết trong đêm cơn bão về
gần sáng” cũng thế, một thông báo về bối cảnh đã thành thơ nhờ sự lặp lại
của từ “chết”. Chữ “chết” lặp lại ấy như là sự dằn lòng, dằn
vặt, nghe như tiếng nấc nghẹn của chủ thể trữ tình. Cứ thế, cả câu chuyện đều
thấm đậm nỗi buồn âm ỉ của người kể: “Không
còn nghe tiếng cánh chim về/ Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt”.
Cái hay của phần đầu này là do giọng điệu. Các thông báo sự kiện
thấm đẫm tâm trạng, cảm xúc bởi giọng kể chậm, trầm buồn. Các chữ “lạnh ngắt” và nhất là “lại tha đi” trong câu “Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt/ Một con
mèo hàng xóm lại tha đi” làm cho lời kể thật ngậm ngùi, kể mà như đang
khóc. Câu kết phần kể cũng đượm xúc cảm tiếc nuối, hẫng hụt bởi chữ “mãi mãi”: “Nó để lại trong tổ những quả trứng/ Những con chim non mãi mãi chẳng ra
đời”.
Tất cả thông điệp tư tưởng thẩm mĩ của bài thơ dồn vào 4 câu
cuối: “Đêm đêm tôi vừa chợp mắt / Cánh
cửa lại rung lên tiếng đập cánh/ Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ/ Tiếng
lăn như đá lở trên ngàn”.
Ở đây không còn giọng kể bình thường mà là giọng điệu trữ tình
thực sự. Không còn nhịp chậm buồn thể hiện tâm trạng thổn thức, ăn năn, day dứt
nữa mà là sự hoảng hốt, bàng hoàng trong giông bão. “Tiếng đập cánh” của con chim đã chết, “tiếng lăn” của những quả trứng không bao giờ được nở, những quả
trứng mồ côi lăn lóc dữ dội trong giấc ngủ nhà thơ “như đá lở trên ngàn”...“Tiếng
đập cánh”, “tiếng lăn” của những
quả trứng đã trở thành nỗi ám ảnh triền miên: “đêm đêm” là thường xuyên, “vừa
chợp mắt” là thường trực. Chúng đã biến thành giông bão, thành trận cuồng
phong rung lắc và lay thức liên tục tâm hồn người viết; chà xát mãi vào vết
thương lòng; khoét sâu mãi vào một lỗi lầm không làm sao sửa được.
Sự việc một con chim sẻ nhỏ bị chết trong đêm giông bão với
người đời thì có là gì; được mấy người đã nghĩ về sự việc ấy? Nhưng với nhà thơ
nó đã thành cơn bão lòng ghê gớm. Đó chính là cái làm nên sự khác biệt của tâm
hồn thi nhân, sự khác biệt giữa lòng nhân hậu, vị tha và sự vô cảm, dửng dưng.
Tâm trạng của chủ thể trữ tình từ buồn bã, day dứt đến run sợ, kinh hoàng không
chỉ vì cái chết của con chim nhỏ mà đó còn là sự run rẩy của nhà thơ trước sự
vô tình, vô cảm của con người. Nó trở thành tiếng vọng luôn nhắc nhở người viết
và người đọc: hãy vun trồng thiện tâm từ những điều bình thường, nhỏ nhặt.
“Tiếng vọng” ở đây là tiếng vọng của một kỉ niệm buồn, tiếng
vọng từ linh hồn những sinh linh bé nhỏ; tiếng vọng của lương tri, của lòng
nhân ái, vị tha...Và day dứt, âm vang hơn cả là tiếng vọng của một tâm hồn nhạy
cảm, luôn biết phản tư, tự kiểm, tự phán xét chính mình. Là người, nếu ai cũng
có và nghe được tiếng vọng ấy thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao nhiêu.
*
Tôi vẫn nghĩ văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới (từ 1987 đến
nay) văn xuôi, nhất là truyện ngắn, có nhiều thành tựu khẳng định được sự đổi
mới hơn thơ. Trong việc đổi mới thơ Việt Nam hiện đại, những sáng tác của
Nguyễn Quang Thiều là một nỗ lực lớn trong việc thử nghiệm thơ không vần. Không
phải anh không biết làm các thể thơ truyền thống; cũng không phải tất cả các
bài thơ hiện đại của Nguyễn Quang Thiều đều thành công... nhưng ít nhất anh
cũng có những bài thơ hay; chỉ cần đọc kĩ như Maiacopxki từng đề nghị: “Hãy đọc thơ tôi 5 lần trước khi anh bỏ”.
*.
Mỹ Đình, Hà Nội 17- 07- 2026
ĐỖ NGỌC THỐNG
------------
Trần Văn Tình giới thiệu
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống - Nguồn: facebook
Ảnh minh họa, từ trái sang phải: con gái nhà thơ Anh Thơ, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa và Vũ Quần Phương.
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.



0 comments:
Đăng nhận xét