MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
SAU TAI NẠN CHẾT NGƯỜI
CÓ PHẢI LÀ TIỀN LỆ NGUY HIỂM
Nhiều người cho rằng nếu vụ ông Nguyễn Sỹ Cương được miễn trách
nhiệm hình sự thì sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, thậm chí có ý kiến nói rằng
từ trước đến nay chưa từng có vụ án giao thông gây hậu quả nghiêm trọng nào
được giải quyết như vậy.
Thực tế không phải vậy.
Khoản 3, Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 là một quy định mới so với
Bộ luật Hình sự 1999.
Theo đó, người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô
ý, nếu đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và
được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị
miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Tôi cho rằng đây là một quy định rất nhân văn.
Trong thực tế hành nghề, tôi đã từng tham gia giải quyết một số
vụ tai nạn giao thông mà một bên là gia đình nạn nhân hoặc một bên là người gây
ra tai nạn.
Có vụ tôi bảo vệ cho bị hại, có vụ lại tư vấn cho phía gây tai
nạn. Khi tai nạn xảy ra hoàn toàn do vô ý, người gây tai nạn thực sự ăn năn,
bồi thường đầy đủ và chính gia đình nạn nhân cũng không muốn đẩy thêm một người
vào tù, thì pháp luật cần dành cho họ một con đường để giải quyết hậu quả bằng
hòa giải.
Chỉ khi trực tiếp chứng kiến những gia đình rơi vào hoàn cảnh ấy
mới thấy quy định này có ý nghĩa như thế nào. Một người đã chết hoặc mang
thương tật là mất mát không gì bù đắp được.
Nhưng trong nhiều trường hợp, việc đưa thêm một người vào tù
chưa chắc đã làm hậu quả ấy vơi đi.
Và khoản 3 Điều 29 không chỉ nằm trên giấy thực tế nó đã được áp
dụng trong thực tiễn xét xử.
Một ví dụ là Bản án số 16/2022/HSPT của Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Kạn, cụ thể như sau:
Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 06/7/2021, Đỗ Văn H điều khiển ô tô
trên đường BOT Thái Nguyên – Chợ Mới. Khi cách xe mô tô phía trước khoảng 8–10
m, H thấy xe này rẽ trái. Do không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách an
toàn, H đánh lái sang trái, lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 0,8 m và xảy
ra va chạm.
Người điều khiển xe mô tô tử vong sau đó.
Cấp sơ thẩm tuyên H phạm tội theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS
và xử phạt 13 tháng tù.
Sau khi bị cáo kháng cáo, gia đình bị hại xác nhận đã nhận đủ
160 triệu đồng bồi thường, tiếp tục giữ nguyên đơn bãi nại và đề nghị miễn
trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cấp phúc thẩm xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu do lỗi vô ý,
thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, không có tình tiết tăng nặng;
đồng thời người bị hại cũng có một phần lỗi.
Tòa sửa bản án sơ thẩm và áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS để miễn
trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Khi tôi dẫn bản án này, một số bạn phản biện rằng vụ án đó khác
vụ ông Nguyễn Sỹ Cương vì người bị hại cũng có lỗi.
Điểm này tôi đã trao đổi như sau:
Bị hại có lỗi không phải là điều kiện bắt buộc của khoản 3 Điều
29.
Điều luật yêu cầu người phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý; đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường hoặc khắc
phục hậu quả; đồng thời được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ tự
nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Điều luật không đặt ra thêm điều kiện rằng bị hại phải có lỗi.
Trong Bản án 16/2022/HSPT, lỗi của bị hại là một tình tiết được
Tòa cân nhắc khi quyết định có áp dụng cơ chế miễn hay không. Đó là chuyện khác
với việc coi lỗi của bị hại là một điều kiện pháp lý bắt buộc.
Nếu vẫn cho rằng phải có lỗi của bị hại mới được áp dụng khoản 3
Điều 29, có thể tham khảo thêm Bản án số 11/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của TAND
huyện Phúc Thọ.
Người bị hại trong vụ án này là người ngồi sau xe và bản án
không xác định chị có lỗi đối với tai nạn. Tòa vẫn áp dụng khoản 3 Điều 29 để
miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Những bản án này được tôi dẫn ra để chứng minh một điều rất đơn
giản khoản 3 Điều 29 đã được áp dụng trong thực tiễn đối với những vụ tai nạn
giao thông gây hậu quả chết người.
Tôi không nói các vụ án đó giống hoàn toàn vụ ông Nguyễn Sỹ
Cương, càng không coi chúng là án lệ buộc cơ quan tố tụng phải giải quyết tương
tự.
Còn một vấn đề khác đang được nhắc đến khá nhiều người gây tai
nạn có “rời khỏi hiện trường” hay không.
Điểm c khoản 2 Điều 260 không quy định rằng cứ rời khỏi hiện
trường là mặc nhiên bị xử lý theo khoản 2.
Điều luật đòi hỏi tình tiết “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm
hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn”.
Vì vậy, muốn áp dụng tình tiết định khung này phải chứng minh
được những dấu hiệu mà điều luật quy định, chứ không thể chỉ từ việc một người
rời khỏi hiện trường rồi suy ngược ra mục đích trốn tránh trách nhiệm.
Đến thời điểm chưa có kết luận chính thức của cơ quan tiến hành
tố tụng về tình tiết này, tôi cho rằng chúng ta không nên tự bổ sung nó vào hồ
sơ rồi tranh luận như thể đó đã là một sự thật được chứng minh.
Ngược lại, nếu sau này cơ quan điều tra xác định hành vi thực tế
thuộc khoản 2, Điều 260 thì vấn đề hoàn toàn khác khi khoản 3, Điều 29 không
còn đáp ứng điều kiện để áp dụng, bởi tội phạm thuộc khoản 2, Điều 260 không
còn là trường hợp tội nghiêm trọng do vô ý theo phạm vi mà khoản 3, Điều 29 cho
phép miễn trách nhiệm hình sự.
Tương tự, tư cách đại biểu Quốc hội, đảng viên hay các yêu cầu
về tiêu chuẩn đạo đức có thể đặt ra những vấn đề riêng về trách nhiệm chính
trị, kỷ luật hoặc đánh giá của dư luận.
Nhưng đó không phải căn cứ để tự động thay đổi cấu thành tội
phạm hay khung hình phạt.
Bộ luật Hình sự không quy định một người giữ chức vụ thì cùng
một hành vi đương nhiên phải chịu một khung hình phạt nặng hơn.
Sở dĩ tôi mất công tìm và đăng các bản án là để mọi người nhìn
thấy pháp luật thực sự được vận hành như thế nào, thay vì chỉ tranh luận từ cảm
giác rằng “như thế là quá nhẹ” hay “trước giờ làm gì có ai được như vậy”.
Các bạn có thể hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của tôi.
Nhưng nếu muốn phản bác về mặt pháp lý thì ít nhất phải tách được ba thứ điều
kiện mà luật bắt buộc, tình tiết mà Tòa án có thể cân nhắc và dữ kiện thực tế
đã được chứng minh.
Cũng cần nhấn mạnh một việc nữa khi phân tích rằng một người có
khả năng được miễn trách nhiệm hình sự theo một quy định của pháp luật không
đồng nghĩa với việc khẳng định người đó đương nhiên sẽ được miễn.
Khoản 3 Điều 29 dùng từ “có thể” nên Quyết định cuối cùng vẫn
phụ thuộc vào kết quả xác minh sự việc, tội danh và khoản áp dụng, việc khắc
phục hậu quả, ý chí thực sự của bị hại cùng toàn bộ các tình tiết của vụ án.
Đạo đức và lẽ phải là những nền tảng quan trọng của pháp luật
nhưng khi bước vào một vụ án hình sự, cảm nhận của số đông không thể thay thế
chứng cứ, cấu thành tội phạm và các điều kiện luật định.
Dư luận có quyền đặt câu hỏi, thậm chí phải đặt câu hỏi khi thấy
một vụ việc có dấu hiệu bất thường đó là lẽ đương nhiên, tôi ủng hộ và vẫn lên
tiếng thường xuyên khi thấy bất cập hoặc vướng mắc pháp lý.
Nhưng dư luận không thể thay cơ quan điều tra xác định sự thật
và cũng không thể thay Hội đồng xét xử quyết định một người có tội hay không.
Nếu chúng ta đòi hỏi pháp luật phải được áp dụng nghiêm minh thì
yêu cầu đó phải đi theo cả hai chiều không để một người đáng phải chịu trách
nhiệm thoát khỏi trách nhiệm, nhưng cũng không vì người đó đang bị dư luận phẫn
nộ mà tước đi một cơ chế pháp lý mà Bộ luật Hình sự cho phép họ được hưởng.
--------
Ps: Nên đọc kỹ bản án bên dưới.
-------------
Trần Chí Cường giới thiệu
Tác giả: Luật sư Trần Đại Lâm - Nguồn: Facebook
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.








0 comments:
Đăng nhận xét