CÁCH LUẬN ĐẠI TIỂU HẠN
TRONG TỬ VI ĐẨU SỐ
Trước khi đi vào chi tiết đoán Đại, Tiểu hạn chúng ta nên nhơ kỷ
các cách sau đây, vì nó thuộc về phạm vi lý giải của âm dương ngũ hành, của
mệnh sao có liên quan với nhau.
Dương nam, Âm nữ hạn gặp được Nam đẩu tinh thì tốt.
Âm nam, Dương nữ hạn gặp được Bắt đẩu tinh thì tốt.
Bắc đẩu ứng tốt xấu mạnh ở 5 năm về trước của Đại hạn;
Nam đẩu ứng tốt xấu mạnh ở 5 năm về sau của Đại hạn
Lương hạn : Đại, Tiểu mà gặp Trúc la (tức Sát, Phá, Tham) mà gia
thêm Cự môn, Linh Hỏa thì xấu xa, tai biến, khong kể xiết.
Lưỡng hạn của người Giáp rất kỵ Thiên thương và Thiên sứ đóng
cung zdần. Người tuổi Canh kỵ gặp Thương sứ ơ cung Thân.
Lưỡng hạn trùng phùng ở cung Tí mà gặp Thương, Sứ Kình, Đà, Tuế
thì có thẻ nguy đến tánh mạng.
Thương ở cung Tí, Thìn, Mão, Ngọ, Mùi; Thiên sứ ở Dần, Thân, Tỵ,
Hợi mà gặp phải Thái tuế thì tai họa ghê gớm. Nếu lưỡng hạn trùng phùng mà
không cso sao giải cứu thì nguy đến tính mệnh.
Người tuổi Thân mà đến lưỡng hạn gặp Thiên thương rất hại, tai
họa liên miên.
Người tuổi Thin, Tuất, Sửu, Mùi mà lưỡng hạn gặp Kình, Đà, không
hề gì, trái lại nếu có Tử, Phủ, Xương, Khúc thì lại là hoạnh phát.
Hạn gặp Thất sát có gia Hình, Hổ, Quan phủ ở cung hãm thì dễ mắc
vòng lao lý.
ĐẠI TIỂU HẠN PHÁT
Tử, Phủ, Vũ, Tướng có sao Lộc, Long Phượng, Tả Hữu nhất định
phát giàu có lớn.
Nguyệt Đồng Cơ Cự có Khoa Quyền Lộc, Tướng ấn, Khôi Việt, Tả Hữu
sẽ thăng quan, hoặc đại đăng khoa
Cự Nhật có song Lộc, Sinh Vượng, Tả Hữu sẽ phát mạnh về buôn
bán.
Cơ Nguyệt Đồng Lương có Xương Khúc, Hồng Đào, Tam Hóa sẽ phát
công danh và giàu có.
Sát Phá Liêm Tham có Tả Hữu, Quyền Lộc, Khôi Việt phát về kinh
doanh.
ĐOÁN CÁCH Ở ĐẠI TIỂU HẠN
Bị chú: khi thấy Đại Tiểu hạn có cách cuộc như trên mà đoán vè
tang sự , phải chú ý các cách mới dùng. Ví dụ: Ở cung phụ mẫu có sẵn cách Cơ
Nguyệt Đồng Lương rồi, thì năm Tiểu hạn găp cách Hình Đà Không Kiếp Tang Hổ,
mới đoán là có đại tang được, chứ trùng cách thì không thể đoán được như thế.
Khi luận đoán còn phai chú trọng đến phi Cửu tinh xem có gặp cùng lúc ác tinh
vào Tiểu hạn không và phải lưu Đại hạn cem có thật là cắc ám chăng, nếu lưu Đại
hạn mà gặp được cung sáng sủa thì cách đoán cũng lấy đó mà chế biến. Nếu cát
tinh chiếm 2/3 thì sự xấu cũng nhờ đó chế giảm, nếu ngược lại hung tinh chiếm
2/3 thì có thể quyết đoán đích xác.
CÁC CÁCH DÙNG CHO ĐẠI TIỂU HẠN:
Đăng khoa hay Thăng chức : Hạn cần có Đào Hồng, Xương Khúc, Khôi
Việt, Khoa Quyền hoặc thêm Thai Cáo, Quốc ấn.
Hôn phối: Phải xem chính cung Phối năm ấy hay Đại Tiểu hạn có:
Sát phá Liêm đào;
Vũ Diêu Lộc Mã Hỉ Đào (hay Hồng)
Tả Hữu Hồng (hay Đào) Thiên Hỉ;
Long Phượng Hỉ thần
Đào Hồng, Nhật Nguyệt (hay Diêu Hỉ)
Sinh con: Xưm ở Tiểu hạn có : Phủ Tướng Long phượng ngộ sao
Thái; Nhật Nguyệt, Khoi Việt ngộ Hồng Đào Thanh Long Đế vượng ngộ sao Thai Quan
Phúc, Tả Hữu, Hồng Hỉ
Thanh Long, Lòng trì, Thiên mã ngọ Sinh hay Vượng. Quan Phúc,
Tấu thư, Hỉ thần.
Tình duyên: dang díu: Nếu số người mà cung Thê có Tả Hữu Hồng
Đào chiếu, mà đến
Tiểu hạn lại gặp các dâm tinh thì thế tất phải dang díu thêm nợ
tình duyên.
Nếu cung Thê có Thất sát đóng thì đến 5 thiếp cũng chẳng vừa;
nếu cung Thê có Thai Toạ Sinh Vượng thì là kẻ lan man về đường tiểu thiếp.
Về cung duyên dang dở: Phần nhiều những đàn ông hay đàn bà cao
số là do cung Phối. Khi cung Phối có cách sau đây thì thường phải chịu nhiều
cay đắng trong việc hôn nhân, và khi đến hạn gặp phải tất phải sinh ly hay tử
biệt.
Cung Phối có Cô Quả ngộ Không Kiếp Kình Đà Không Kiếp ngộ Tuần
Triệt Tang Hổ ngộ Đại Tiểu hao;
Hình Diêu, Thiên khong ngộ Hóa Kỵ; Thất sát, Phá toái ngộ Hư
Khốc; Linh Hỏa, Kình Đà, Không Kiếp, Cự môn, ngộ Linh Hỏa
Đại Tiểu hạn thất lợi: Khi găp các cách cuộc sau đây thì thất
lợi cho Đại hạn hay Tiểu hạn
Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật mà gặp Kình Đà, Không Kiếp hay
Phá toái, Kiếp sát thì dễ tàn tật, mất cướp
Sát phá Liêm Tham mà gặp Nhị tam Không, Linh Hỏa Kình Kỵ hay Đại
tiểu Hao Hình, Sát Phục binh, Tang Hổ thì tù ngục vong gia
Tử Phủ Vũ Tướng găp phải Tam Không, Kiếp Kỵ Hình Đà hay gặp Linh
Hỏa Tang Diêu thì bị giáng chức, phá tài.
Cự Cơ, Đồng Lương mã gặp Kình Đà Không Kiếp, song Hao, Phá toái,
Kỵ thì phá tài hay bị thương tật.
Nguyệt Đồng Cơ Cự mà gặp Không Kiếp Đẩu quân, Tuế, Kỵ, thì bị
kiẹn cáo hay giáng chức.
Nhật Nguyệt gặp Không Kiếp Thiên diêu hay gặp Linh Hỏa, Cô Quả
thì đau mắt có thể mù.
Phá Liêm Tham gặp Diêu Kỵ, Mộc dúc dễ bị bỏng.
Thiên Đồng gặp Kình Kỵ, Mộc Hỏa Không Kiếp hoặc là Cự Kỵ Tuế Đà
Không Kiếp thì dễ chết đuối.
Tiểu hạn găp Tang Hỏa Linh mà nhất là đóng cung Điền trạch thì
dễ bị cháy nhà, hay sản vật.
Cơ Lương đóng Thìn Tuất mà Tiểu hạn đến đó gặp phải Tang Điếu,
Tuế, Khôcs Hư thì bị ngã từ cao xuống.
Sát Phá Liêm Tham găp Tang Hổ Kình Đà Điếu khách hay là Tham
lang gặp Hổ, Điêu, Ly Tuế ở cung Thìn Tuất thì bị xe cán hay thú cắn.
Kinh Không Kiếp gặp Quan phù hay Tử Phù, Trực phù mà có Phục
binh thì phòng có kẻ chực hãm hại.
Tham Liêm đóng Tỵ, Hựo hoặc Tham vũ đóng ở Dần Thân mà gặp phải
Kỵ, Đà, Không Kiếp tất mắc tù tội
Sát Phá Tham hội Tang Hổ Khốc Khách, Đà, Thiên thương tất gặp
lắm tai ương.
Tham Liêm, Kình Đà, Hỏa Linh; Kỵ Kiếp Thiên Không tất bị ốm đau
nặng.
Đại Tiểu hạn có tang: Khi xem thấy Đại Tiểu hạn có các cách sau
đây hải phòng tang sự:
Nhật Nguyệt ngộ Đà la, Thiên không, Hóa kỵ
Phủ Tướng ngộ Cô Quả, Thiên Không, Kiếp sát
Phủ Tướng ngộ Tang Hổ, Khốc Hư, song Hao
Sát Phá Liêm Tham ngộ song Hao, Tang Hổ hay Kình Đà, Khong Kiếp,
Khốc Hư.
Cô Quả, Đào Hồng, Thiên không, Hóa Kỵ
Tử Phú Vũ Tướng ngộ Cô Quả, song Hao
Nhị tam Không ngộ Tang Hổ, Điếu Tuế
Hình Diêu, Kình Đà Không Kiếp, Tang Hổ có đại tang.
Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Đại Tiểu hạn (hay Tang Hổ) có đại tang.
khi cung Mệnh Thân sáng sủa, mà đến Đại Tiều hạn lại rực rỡ, thì
được gọi đó là cách “thêm gấm thêm hoa” (Cẩm thượng thêm hoa)
khi cung Mệnh Thân hắc ám, nhưng đến được Đại Tiểu hạn rực rỡ
gọi là “Rồng mây gặp hộ” (Phong vân tế hội). Nhưng nếu gặp Đại Tiểu hạn tốt vừa
thì gọi là “Cây khô lại gặp mùa Xuân” (Khô mộc phùng Xuân)
lúc thiếu thời gặp Đại Tiểu hạn xấu, nên vất vả lao lung, nhưng
về sau gặp toàn hạn tốt nên phát đạt hanh thông thì gọi là “áo gấm về làng” (Y
cẩm hoàn hương)
tiểu hạn một năm tốt lại một năm xấu, nên gọi là cách “Bóng sao
vờn ánh nước” (Thuỷ thượng giá tinh)
tiểu hạn được nửa năm tốt lại nửa năm xấu, nên gọi là cách “ngày
đêm tranh sáng tối” (Nhật dạ giao tranh)
hạn số may và rủi liên tiếp nối nhau gọi là cách “ Đi tìm không
gặp thầy thuốc” (Bỏ số vô Y)
tiểu hạn có Lộc Mã Sát hội lại gặp Tam không nên chẳng làm được
nên trò trống gì cả nên gọi là “Lộc Mã bị nguy” ( Lộc xang Mã khốn)
hạn gặp Tứ Phái Hồng Đào, Quyền Lộc lại gặp Tam không, Địa Kiếp,
Kiếp sát gọi là “Vua đi xe giả” (Quân Vương nguỵ giả) có thay đổi công việc mà
chẳng ra gì cả
TUỔI VỚI HẠN KỴ:
Tuổi gặp những năm kỵ thì nên phòng những tai ương vặt v. v. . .
Nếu tiểu hạn lại xấu nữa thì rất đáng ngại Tuổi Tí kỵ năm Dần
Thân, Tí, Ngọ Tuổi Dần, Mão kỵ năm Tỵ, Hợi Mão Dậu
Tuổi Sửu, Ngọ kỵ năm Sửu Ngọ và kỵ gặp thất sát Tuổi Tỵ kỵ năm
Tỵ và hạn đến cung Tỵ
Tuổi Thìn kỵ năm Thìn và hạn đến cung Thìn Tuất Tuổi Mùi kỵ năm
Dậu và Hợi và kỵ gặp Kình dương Tuổi Than kỵ năm Dần Ngọ và kỵ gặp Linh Hỏa
Tuổi Dậu kỵ năm Mão Dần và kỵ găp Kình Đà Tuổi Tuất kỵ năm Tỵ Thìn Tuất và kỵ
gặp Kình Đà Tuổi Hợi kỵ gặp năm Tỵ và Kình đà
Nếu đại hạn 10 năm tốt đẹp, rực rỡ, mà gặp Tiểu hạn xấu cũng
chẳng đáng lo làm gì, vì chính cái rực rỡ của Đại hạn 10 đã giải cứu cho Tiểu
hạn xấu của năm ấy một phần lớn.
Nếu đại hạn 10 năm mà xấu mà gặp được Tiểu hạn tốt cũng bị chiết
giảm rất nhiều
LIÊN HỆ GIỮA ĐẠI VÀ TIỂU HẠN
Cũng như Tiểu hạn một năm tốt mà lưu Nguyệt gặp tháng xấu cũng
chẳng đáng ngại. Trái lại nếu Tiểu Hạ xấu mà lưu nguyệt được tháng tốt cũng chả
đựơc lợi là mấy.
LIÊN HỆ GIỮA HẠN VÀ NĂM TUỔI:
Khi xem Đại Hạn hay Tiểu hạn mà gặp năm tuổi (căn cứ vào vòng
Thiên bàn bên trong địa bàn). Ví dụ năm 49 tuổi là năm đến cung tuổi của mình;
vậy phải xem coi năm ấy có những sao gì? Nếu gặp cát tinh hội hợp hay hung tinh
đắc cách thì phải hơn những năm tốt khác. Nhưng nếu gặp ác tinh thì xấu hơn
những năm xấu khác.
Nhất là Đại Tiểu hạn trùng phùng thì tốt hay xấu cùng gia tăng
kinh khủng. Ví dụ tuổi Mùi mà đại hạn và tiểu hạn cùng về cung Mùi ở Thiên bàn.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ
PHỐ CHIỀU HÀ NỘI thơ Đặng Xuân Xuyến:
Mai Sơn giới thiệu
Tác giả: Dịch Lý Huyền Cơ - Nguồn: Tử Vi
thực hành
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét