NHÀ HỒ
Nhà Hồ là triều đại phong kiến trong lịch sử
Việt Nam, bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi
giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi Hồ Hàn
Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407, tổng cộng là bảy năm.
Quốc hiệu Đại Việt đã đổi thành Đại Ngu năm 1400.
Thành lập
Hồ Quý Ly, trước đó mang họ Lê, được tham gia triều chính nhà
Trần, được vua Trần Dụ Tông cho
làm Trưởng cục Chi hậu và gả con gái là công chúa Huy Ninh. Sau đó Quý Ly đổi
qua họ Hồ.
Nhà Trần, sau biến cố Dương Nhật Lễ,
cái chết của Trần Duệ Tông và
sự cướp phá của Chiêm Thành,
thì ngày càng suy sụp. Thời hậu kỳ nhà Trần, mọi việc chính sự do thượng hoàng
Trần Nghệ Tông quyết định. Trần Nghệ Tông lại
rất trọng dụng Hồ Quý Ly nên khi về già thường ủy thác mọi việc cho Quý Ly
quyết định. Dần dần binh quyền của Quý Ly ngày một lớn, Nghệ Tông tuổi cao sức
yếu cũng không kìm chế nổi.
Năm 1394 Trần
Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly được
phong làm Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương,
nắm trọn quyền hành trong nước.
Vì muốn cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly buộc vua Trần dời đô
từ Thăng Long vào Thanh Hóa, sau đó giết
hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần. Tháng Hai, năm 1400, Quý Ly lúc
ấy đã 64 tuổi, bức vua Trần Thiếu Đế nhường ngôi, buộc các quan và tôn thất ba
lần dâng biểu khuyên lên ngôi. Quý Ly giả vờ ba lần từ chối, nói: Ta sắp xuống
lỗ rồi, còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới đất nữa. Rồi tự lập làm vua,
đặt niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
Làm vua chưa được một năm, theo cách nhà Trần, Hồ Quý Ly nhường
ngôi cho con thứ là Hồ Hàn Thương, làm Thái Thượng hoàng nhưng
vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc. Về phần Trần Thiếu Đế, do là cháu
ngoại nên ông chỉ phế làm Bảo Ninh đại vương và giam lỏng.
Công cuộc cải cách
Nhà Hồ có một số cải cách tích cực về hành chính, kinh tế, xã hội
như: làm sổ hộ tịch, hạn chế gia nô, lập kho dự trữ thóc gạo, định lại quan chế
và hình luật, thuế và ruộng lúa, di dân khẩn hoang, lập cơ quan chăm
sóc y tế.
Năm 1401, lập kho thường bình dự trữ thóc để ổn
định kinh tế.
Năm 1403, ban
hành cân, thước, thưng, đấu, định giá tiền giấy, cho
dân mua bán với nhau.
Tuy nhiên, các cải cách của nhà Hồ hầu như không giành được thành
công, do những thủ đoạn mà Hồ Quý Ly đã làm để lên ngôi khiến dân chúng xa lánh
nhà Hồ.
Phát hành tiền giấy
Việc đổi tiền được Hồ Quý Ly thực hiện từ trước khi nhà
Hồ được chính thức thành lập (1400). Năm 1396, tháng 4, Hồ Quý Ly khi đó
nắm toàn quyền điều hành nhà Trần bắt đầu phát tiền giấy Thông bảo hội
sao. Cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Cấm tuyệt tiền
đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh
thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội chết như làm tiền giả.
Về việc này, nhiều sử gia có những đánh giá rất khác nhau. Có
người cho rằng Hồ Quý Ly cần thu đồng để đúc vũ khí. Sau này, Hồ Nguyên Trừng là
một chuyên gia rất giỏi trong đúc súng thần công. Cũng có người đánh giá
cao cải cách tiền giấy của Hồ Quý Ly tuy rằng nó đã thất bại. Như vậy, có thể
thấy việc đánh thuế của nhà Hồ có sự phân biệt, phân loại rõ ràng hơn so với
trước đây.
Ngoại giao
Nhà Minh sau khi thống nhất Trung Quốc năm 1368 bắt
đầu có ý định nhòm ngó xuống phương nam. Trên mặt trận này, nhà Hồ đã phải nhún
nhường hết mức, thậm chí năm 1405 đã phải cắt 59 thôn ở Lộc Châu
(tỉnh Lạng Sơn ngày nay) để mong tránh được họa binh đao nhưng cuối
cùng cũng không tránh khỏi họa xâm lăng của nhà Minh năm 1406.
Đối với Chiêm Thành, quan hệ vẫn là giữa nước lớn (Đại Ngu)
và nước nhỏ (Chiêm Thành). Năm 1402, Hồ Hán Thương đem
đại quân đi chinh phạt Chiêm Thành. Hai bên đụng trận, tướng Việt là Đinh Đại
Trung và tướng Chiêm Thành là Chế Tra Nan đều tử trận. Vua Chiêm Jaya
Indravarman VII (Tiếng Việt là Ba Đích Lại) hoảng sợ, sai cậu là Bố Điền dâng
đất Chiêm Động (huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam),
một voi trắng, một voi đen và các sản vật địa phương, để xin rút quân. Bố Điền
tới, Quý Ly bắt ép phải dâng nộp thêm cả động Cổ Lũy (nay là các huyện Bình
Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Quảng Ngãi).
Khai phá vùng Quảng Nam –
Quảng Ngãi
Năm 1403, di dân không có ruộng vùng đất mới thu được sau
khi Chiêm Thành dâng nộp năm 1402, gồm 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa
tức là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng
Nam ngày nay, và huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ thuộc
tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.
Cuộc xâm lăng của nhà
Minh
Tổng động viên
Trước họa xâm lăng của nhà Minh, nhà Hồ đã phải lo củng cố
quân sự.
Năm 1404, Hồ Hán Thương cho đóng thuyền đinh sắt, có hiệu
là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, nói là chở lương,
nhưng trên có đường đi lại để tiện chiến đấu, dưới thì hai người chèo một mái
chèo. Năm 1405, Hồ Hán Thương lệnh cho những nơi đầu nguồn ở các trấn nộp gỗ
làm cọc. Châu Vũ Ninh thì cho lấy gỗ ô mễ ở lăng Cổ Pháp đưa đến cho quân đóng
cọc ở các cửa biển và những nơi xung yếu trên sông Cái (sông Hồng) để phòng
giặc phương Bắc. Tháng 6, đặt bốn kho quân khí. Không kể là quân hay dân, hễ khéo
nghề đều sung vào làm việc.
Tháng 7, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi tuần tra xem xét núi sông
và các cửa biển, ở kinh lộ, để kiểm tra xem xét thế hiểm yếu của các nơi, tháng
9 tổ chức lại quân đội. Nhà Hồ sai Hoàng Hối Khanh đốc suất dân phu
đắp thành Đa Bang (huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây ngày nay), sai
quân vệ Đông Đô đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc (ngã ba sông
Hồng chảy qua thành phố Việt Trì ngày nay) để chống thủy quân
giặc từ Tuyên Quang xuống. Tháng 7 năm 1406, Hồ Hán Thương ra lệnh
cho các lộ đóng cọc gỗ ở bờ phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang đến Lỗ Giang và
từ Lạng Châu đến Trú Giang Giang để làm kế phòng thủ.
Bại trận trước địch
mạnh
Trong khi đó, tháng 4 năm 1406, nhà Minh sai Hàn Quan và Hoàng
Trung đem 10 vạn quân ở Quảng Tây sang, mượn cớ đưa con cháu nhà
Trần là Trần Thiêm Bình về làm vua. Qua một số trận giao tranh
nhỏ, quân Hồ thắng trận, quân Minh phải giao nộp Thiêm Bình mới được rút lui.
Tháng 9 năm ấy, nhà Minh sai Trương Phụ, Trần Húc, đem 40 vạn
quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay), Mộc
Thạnh, Lý Bân cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh
(gần thị xã Hà Giang ngày nay), hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn.
Quân Minh với người đông (gấp mười lần quân Việt) thế mạnh, chỉ
trong vài ngày là chiếm được Đông Đô (thành Thăng Long).
Theo Minh sử: quân Minh
dùng hỏa khí công kích mạnh mẽ để hỗ trợ cho binh lính trèo lên chiếm mặt
thành, quân Minh thừa thế ồ ạt kéo vào thành. Tướng nhà Hồ trong thành dùng voi
chiến phản kích, nhưng quân Minh tung kỵ binh ứng chiến, ngựa của quân Minh đều
có trùm da hổ, voi trông thấy tưởng hổ thật, hoảng sợ tháo lui, quân nhà Hồ tan
vỡ, thành bị chiếm.
Quân Minh tấn công như vũ bảo, quân Hồ thất bại trong từng chiến
tuyến từ Đông Đô dài đến Tây Đô Thanh Hóa. Ngày 5 tháng 5 năm 1406, quân Minh
đánh vào cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Ngày
11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh bắt được Hồ Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ; Hồ Nguyên
Trừng ở cửa biển Kỳ La. Ngày 12, bắt được Hồ Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi
Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Nhà Hồ sụp đổ.
Trương Phụ, Mộc Thạnh sai Liễu Thăng, Lỗ Lân,
Trương Thăng, Du Nhượng, Lương Định, Thân Chí bắt giải Hồ Quý Ly và các con
cháu cùng các tướng Hồ Đỗ, Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ; Đoàn Bổng, Trần Thang
Mông, Phạm Lục Tài cùng ấn tín về Kim Lăng.
Nhận định
Công cuộc cải cách của nhà Hồ thực hiện chỉ được trong thời gian
quá ngắn ngủi. Cũng như nhiều cuộc cải cách khác trong lịch sử, cuộc cải cách
của Hồ Quý Ly vấp phải sự phản đối trong nước, nhưng không phải vì vậy mà nhìn
nhận cuộc cải cách hoàn toàn tiêu cực. Vấn đề của cuộc cải cách nhà Hồ là nó
chưa đủ thời gian để phát huy tác dụng. Mặt khác, các nhà nghiên cứu hiện đại
cho rằng các chính sách cải cách đó chủ yếu phục vụ cho lợi ích chiến tranh;
hơn thế nữa cuộc cải cách được thực hiện dồn dập trong thời gian ngắn: dùng chữ
Nôm để đề cao ý thức dân tộc, dùng tiền giấy tuy tiết kiệm nhưng dân chúng chưa
thích nghi thói quen tiêu dùng mới, hạn điền và hạn nô làm
giảm lợi ích của địa chủ, quý tộc cũ… Cuộc cải cách gây xáo trộn lớn trong tâm
lý mọi người và sự bất bình, chia rẽ sâu sắc trong xã hội.
Việc dời đô từ Thăng Long, nơi trung tâm đô hội, quy tụ nhân
tâm trong nước, vào Thanh Hóa cũng cho thấy một phần biểu hiện của sự
mất lòng dân ở vùng căn bản Bắc Bộ. Khi không có được sự ủng hộ rộng rãi của
quần chúng trong nước, nhà Hồ gặp vô vàn khó khăn khi phải chống ngoại xâm và
đã thất bại nhanh chóng, không thể duy trì được cuộc kháng chiến trường kỳ
mà nhà Lý, nhà Trần từng làm chống phương Bắc.
Trước nguy cơ can thiệp dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”
của nhà Minh, nhà Hồ không kịp thời có những điều chỉnh cần thiết để quy
tụ lòng người và có biện pháp ngoại giao mềm dẻo hơn để duy trì hòa bình cần
thiết. Trái lại nhà Hồ chủ trương dùng biện pháp cứng rắn để đối phó với kẻ
địch mạnh hơn nhiều trong khi mình chưa đủ thực lực và “chân đứng” trong nước
và hơn nữa khả năng quân sự của các nhà cầm quyền triều Hồ lại chỉ là sở đoản.
Còn một nguyên nhân khác dẫn đến thất bại của nhà Hồ. Đối với vấn
đề Chiêm Thành, nhà Hồ cũng mắc sai lầm tương tự. Trước đây khi gặp giặc mạnh,
nhà Trần chủ trương liên minh với Chiêm chứ không gây hấn; vua Đại Hành
nhà Tiền Lê rất giỏi về quân sự nhưng cũng chỉ phát binh đánh Chiêm
sau khi đã làm nhà Tống thua tơi tả phải chùn tay ở phía bắc; nhà Hồ
ngược lại vừa lập nước đã liên tiếp đánh Chiêm, tuy đất đai có được mở nhưng
sức lực hao mòn, chỗ đất mới chưa đứng vững chân được để làm nơi dung thân khi
bị phương bắc ép xuống, nước Chiêm khi đó đã thành cừu thù không thể xin nhờ
cậy.
Như vậy nhà Hồ chẳng những tự cô lập mình trong chính sách đối nội
mà trong chính sách đối ngoại cũng tự cô lập nốt. Trong không được lòng dân,
ngoài không có liên minh, kẻ địch mạnh hơn gấp mười, nhà Hồ thất bại là tất
yếu. Thất bại của nhà Hồ là bài học sâu sắc trong việc giữ nước mà nhà Hậu
Lê (tạm lập Trần Cảo) và nhà Mạc (đầu hàng nhà Minh trên danh nghĩa)
sau này đã rút ra kinh nghiệm để không mắc phải sai lầm tương tự, gây ra cảnh
“nước mất nhà tan.”
Sau 500 năm giành được quyền tự chủ, Việt Nam lại mất về
tay Trung Quốc. Sau KHúc Thừa Mỹ, tới đầu thế kỷ 15, người cai trị
Việt Nam lại bị bắt làm tù binh. Cha con Hồ Quý Ly chỉ có phong thái của những
ông vua văn trị, những ông quan mũ cao áo dài mà không phải là những chiến
tướng khi có chiến sự, do đó đều chịu trói về bắc mà không dám chọn lấy cái
chết oanh liệt khi đại cuộc không thể cứu vãn. Việc mất nước của nhà Hồ để lại
hậu quả tổn thất không nhỏ cho nước Đại Việt, nhất là về văn hoá.
Giai thoại về Hồ Quý Ly
Trong Kiên biểu tập của Chử Nhân Hoạch soạn đời nhà
Thanh có chép một giai thoại lạ lùng về Hồ Quý Ly, được Lê Quý
Đôn dẫn lại trong Kiến văn tiểu lục:
Con cháu họ Trần làm vua
nước Giao Chỉ, lúc ấy có người ở Giang Tây là Lê Quý Ly, khi còn bé
sang nước ấy buôn bán, ở thuyền lên bờ, thấy trên bãi cát có câu rằng:
Quảng Hàn cung hậu nhất
chi mai.
(Một cành mai trong cung
Quảng Hàn)
Sau Quý Ly mon men được
làm quan. Một hôm vua Trần nghỉ mát ở điện Thanh Thử, sân điện có hàng
ngàn cây quế, nhà vua ra câu đối rằng:
Thanh Thử điện tiền thiên
thụ quế
(Ngàn gốc quế trước điện
Thanh Thử)
Bầy tôi chưa ai kịp đối.
Quý Ly nhớ lại câu đã trông thấy trên bãi cát khi trước, liền đem câu “Quảng
Hàn cung hậu nhất chi mai” đối lại. Nhà vua giật mình, nói “Sao nhà ngươi biết
được việc trong cung của ta ?” Quý Ly cứ tình thực tâu bày. Nhà vua nói
“Đấy là số trời.” Bởi vì nhà vua có một cô con gái tên là Nhất Chi Mai, dựng
cung Quảng Hàn để cho ở. Nhân câu đối ấy, nhà vua liền đem cô gái này gả cho
Quý Ly.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết của
(về) tác giả La Thụy0
- Các bài viết của
(về) tác giả Lý Thành Phương0
- Các bài viết của
(về) tác giả Lương Ngọc An
0- Các bài viết của (về) tác giả Lê Hoài Nguyên0
- Các bài viết của
(về) tác giả Lê Hồng Lâm0
- Các bải viết của
(về) tác giả Lê Thanh Hùng0
- Các bài viết của
(về) tác giả Mai Văn Phấn0
- Các bài viết của
(về) tác giả Mạc Phong Tuyền0
- Các bài viết của
(về) tác giả Minh Nhiên0
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến mạn đàm về
NGƯỜI SÁT ÂM LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO:
LÝ THÀNH PHƯƠNG
Quê quán: Núi Sập, Thoại Sơn,
tỉnh An Giang.
Định cư: thành phố San Diego,
California, Hoa Kỳ.
…………………………………………………………………………
- Cập nhật từ email tranchicuong27@gmail.com gửi ngày 14.12.2025.
- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét