“NGỤY
SỬ”, “LẬT
SỬ”
Ở ĐÂU
Gần 10 năm nay một nhóm người trên mạng xã hội, đứng đầu là một số
cựu tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam ra sức hô hào đấu tranh chống
"nguỵ sử", "lật sử".
Điểm cốt yếu nhất mà họ cáo buộc các nhà sử học dân sự là bỏ không
dùng các cụm từ "nguỵ quân",
"nguỵ quyền" mà thay vào đó
là các cụm từ "quân đội Sài Gòn"
và "chính quyền Sài Gòn" để
chỉ chính thể cầm quyền ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
Theo họ như thế là sai, là xuyên tạc lịch sử, là phủ nhận tính
chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là tạo ra tính chính
danh cho chính thể ở Sài Gòn vv...
Mục đích của tất cả chiến dịch tuyên truyền của họ là gì?
Họ cố tình lờ đi một sự thật là: nhiều bộ sách do Bộ Quốc phòng
chỉ đạo nội dung đã đi đầu trong việc bỏ dùng các từ "nguỵ quân",
"nguỵ quyền".
Bộ Bách khoa toàn thư lịch sử quân sự Việt Nam, bộ Lịch
sử Tây Nam Bộ kháng chiến và nhiều công trình khác do Nhà xuất bản Quân
đội Nhân dân xuất bản trong suốt nhiều năm qua cũng đều sử dụng các từ "chính quyền Sài Gòn", "quân đội Sài Gòn".
Hoá ra âm mưu của họ thật thâm độc và nguy hiểm! Họ tấn công giới
sử gia dân sự và Bộ Giáo dục và Đào tạo, lớn tiếng kêu gọi chống "nguỵ sử", "lật sử" là gây sức ép dư luận để
cuối cùng sẽ lòi ra sự thật là chính Bộ Quốc phòng đã đầu têu, mở đường cho
hiện tượng nguy hiểm này!
Họ đang chĩa mũi dùi tấn công vào Bộ tổng hành dinh đấy!
Dưới đây là đường link dẫn tới bài viết của đồng chí Nguyễn Thị
Kim Ngân, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội nhân dịp kỷ
niệm Phong trào Đồng khởi. Trong đó bà Kim Ngân cũng không dùng "nguỵ quyền" mà dùng các cụm từ
"chính quyền tay sai",
"chính quyền Sài Gòn",
"Chính quyền Mỹ - Diệm" để
chỉ chính thể ở Sài Gòn hồi đó.
Vậy chả lẽ bà Chủ tịch Quốc hội cũng là "nguỵ sử" à!!
--------------------------
PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI - NƠI TỎA SÁNG
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ
tịch Quốc hội
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam
Lời tòa soạn - Nhân kỷ niệm 60 năm Phong trào Đồng khởi (17-1-1960 - 17-1-2020), hôm
nay 19-12, tại tỉnh Bến Tre, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp Ban Tuyên giáo
T.Ư, Tỉnh ủy Bến Tre tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia, với chủ đề: “Phong
trào Đồng khởi 1960 - Bước ngoặt của cách mạng miền nam”. Chúng tôi trân trọng
giới thiệu toàn văn tham luận của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại hội
thảo.
Cách đây 60 năm, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Lao
động Việt Nam, quân và dân ta đã làm nên cuộc Ðồng khởi vĩ đại, đập tan từng
mảng lớn bộ máy chính quyền cơ sở của địch ở nông thôn, giành quyền làm chủ của
nhân dân trên phạm vi rộng lớn, đưa cách mạng miền nam từ thế giữ gìn lực lượng
sang thế tiến công chiến lược, tạo bước ngoặt quan trọng của cách mạng miền
nam. Thắng lợi của phong trào Ðồng khởi bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được phát huy cao độ là nhân tố cơ bản, cội nguồn
sức mạnh giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành được thắng
lợi vẻ vang.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước,
dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển một nền văn hóa bền vững, giàu bản
sắc. Hạt nhân của nền văn hóa ấy là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh
kiên cường, bất khuất, sớm biết dựa vào sức mạnh đoàn kết để giành độc lập dân
tộc, giữ vững non sông, bờ cõi; dũng cảm, thông minh trong chiến đấu, cần cù,
sáng tạo trong lao động, sản xuất. Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
lịch sử Việt Nam, là cơ sở hình thành và phát triển hệ thống các quan điểm, lý
luận về dân tộc, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, văn hóa, giáo dục, quốc
phòng, nghệ thuật quân sự... Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành chuẩn mực cao nhất
của đạo lý, lẽ sống, phẩm chất của mỗi người dân Việt Nam; là động lực nội sinh
to lớn tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,
xây dựng và phát triển đất nước. Phong trào Ðồng khởi ở miền nam cuối năm 1959,
đỉnh cao là năm 1960 chính là sự kế thừa, phát triển lên tầm cao mới chủ nghĩa
yêu nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Nhằm chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến
miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, ngăn chặn làn sóng cộng sản xuống
khu vực Ðông - Nam Á, từ năm 1954 đến năm 1959, cùng với tăng cường lực lượng
quân đội, thiết lập bộ máy thống trị từ trung ương đến cơ sở, Mỹ và chính quyền
tay sai ráo riết thi hành chính sách khủng bố, thẳng tay sát hại hàng vạn người
kháng chiến cũ và đàn áp dã man đối với đồng bào miền nam yêu nước. Song, sự
tàn bạo của quân thù không thể nào khuất phục được tinh thần yêu nước, ý chí
chiến đấu của quân và dân ta, không thể nào phá được "thế trận lòng
dân" và làm nguôi đi chí căm thù của hàng triệu trái tim, khối óc nguyện
chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, cho khát vọng hòa bình, thống
nhất non sông. Trong gian lao, thử thách, đồng bào, chiến sĩ miền nam vẫn giữ
vững niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng, vào thắng lợi cuối cùng của
sự nghiệp cách mạng; vừa tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định
Giơ-ne-vơ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, đấu tranh chống khủng bố, chống
chính sách "tố Cộng, diệt Cộng" của địch, vừa tích cực chuẩn bị thực
lực, sẵn sàng tiến công kẻ thù khi có chủ trương mới của Ðảng.
Trước yêu cầu bức thiết của cách mạng miền nam
và trên cơ sở phân tích khoa học, biện chứng về so sánh lực lượng, vững tin vào
sức mạnh của toàn dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu giải
phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc, Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp
hành T.Ư Ðảng Lao động Việt Nam (khóa II) đã khẳng định: "Con đường phát
triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền
về tay nhân dân… lấy sức mạnh quần chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị
của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền
thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân
dân" (1).
Ý Ðảng hợp lòng dân. Nghị quyết 15 của Ðảng như
một luồng sinh khí thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng trong đồng bào
miền nam. Nhân dân và lực lượng vũ trang đã kết thành một khối đại đoàn kết,
thống nhất, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiến hành đồng khởi trên khắp vùng nông thôn miền nam, tiêu biểu
là cuộc nổi dậy ở Bác Ái (2-1959), khởi nghĩa ở Trà Bồng (8-1959), trận đánh ở
Giồng Thị Ðam - Gò Quản Cung (9-1959), trận Xẻo Rô (10-1959), trận Tua Hai
(1-1960)… Ðặc biệt là cuộc đấu tranh đồng loạt và mạnh mẽ trở thành cao trào
Ðồng khởi ở Bến Tre (1-1960). Từ Bến Tre, phong trào như "triều dâng thác
lũ", nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền đông
Nam Bộ, miền trung và Tây Nguyên, lôi cuốn hàng vạn, hàng triệu người, không phân
biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái cùng chung sức, đồng lòng
đứng lên khởi nghĩa, tạo nên một phong trào cách mạng mạnh mẽ, rộng khắp, hết
đợt này đến đợt khác, lần lượt san phẳng đồn bốt địch, xóa bỏ ách kìm kẹp của
chính quyền Mỹ - Diệm, giành quyền làm chủ quê hương. Ðến cuối năm 1960, nhân
dân miền nam đã làm tan rã trên hai phần ba chính quyền địch ở nông thôn, thành
lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã trên tổng số 2.627 xã ở miền nam.
Nét đặc sắc trong nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo
khởi nghĩa là căn cứ vào đặc điểm chiến trường, so sánh tương quan lực lượng
giữa ta và địch, yếu tố địa - chính trị, địa - quân sự, cấp ủy đảng và nhân dân
các địa phương đã vận dụng rất sáng tạo, linh hoạt các phương thức đấu tranh
của Ðảng vào thực tiễn của từng địa phương; kết hợp nhuần nhuyễn, khéo léo các
hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Kế thừa nghệ thuật đánh
giặc độc đáo của dân tộc, trong đấu tranh cách mạng, quần chúng nhân dân đã
sáng tạo ra nhiều cách đánh rất linh hoạt, sáng tạo, như dùng mưu để đoạt bốt,
chiếm đồn địch; vận dụng tài tình ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh
vận); tổ chức "tản cư ngược" nhằm đấu tranh, gây sức ép buộc địch
phải rút quân. Lực lượng vũ trang các địa phương đã vận dụng sáng tạo các hình
thức chiến thuật, đánh giặc theo "muôn hình, vạn trạng", bằng mọi thứ
vũ khí có trong tay. Thế trận khởi nghĩa toàn dân rộng khắp của ta đã khiến cho
địch không thể nào tập trung lực lượng đối phó, không thể phát huy được ưu thế
về lực lượng và vũ khí, trang bị hiện đại.
Ðặc biệt, sự ra đời, phát triển rộng khắp của
"Ðội quân tóc dài" là một sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật tổ chức,
sử dụng lực lượng, khẳng định vai trò của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc. "Ðội quân tóc dài" lên đến hàng vạn người, được
tổ chức thành nhiều bộ phận, hỗ trợ, phối hợp với nhau rất chặt chẽ. Tuy không
có tấc sắt trong tay, nhưng "Ðội quân tóc dài" có sức mạnh phi
thường, triển khai hiệu quả cả ba mũi giáp công chính trị, binh vận và vũ
trang; đấu tranh phá "ấp chiến lược", chống hành quân càn quét, chống
dồn dân, bắt lính của chính quyền Sài Gòn. "Ðây là một binh chủng đặc biệt
trong đấu tranh chính trị với địch, một sáng tạo độc đáo của đồng bào miền nam
trong thời kỳ chống Mỹ"(2). "Ðội quân tóc dài" là biểu tượng
sinh động của truyền thống toàn dân đánh giặc, "giặc đến nhà đàn bà cũng
đánh" của dân tộc ta.
Thắng lợi của phong trào Ðồng khởi đã khẳng
định sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam, của trí tuệ và bản
lĩnh con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Dưới ánh sáng đường lối
chính trị, quân sự đúng đắn của Ðảng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, sức mạnh
toàn dân đánh giặc, sức mạnh vật chất và tinh thần, cả thế, lực và thời cơ, cả
lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng... đã được kết tinh, tỏa sáng,
phát huy lên tầm cao mới. Ðó còn là thắng lợi của đức hy sinh, bản lĩnh dám
nghĩ, dám làm, năng lực vận động, tổ chức, sử dụng lực lượng của các cấp ủy
Ðảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Không nắm vững quan điểm cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân, không biết dựa vào dân, phát huy tinh thần yêu
nước, ý chí độc lập, tự do của nhân dân, thì không thể lãnh đạo, chỉ đạo một
phong trào Ðồng khởi thành công lớn như vậy.
Ðồng khởi thắng lợi đã đánh dấu bước phát
triển nhảy vọt của cách mạng miền nam: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến
công liên tục, từ thế đấu tranh chính trị là chủ yếu chuyển sang đấu tranh
chính trị, kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa của quần chúng kết hợp
với chiến tranh cách mạng, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ không thể cứu vãn nổi của
chế độ thực dân mới ở miền nam. Ðồng khởi đã tạo nên một vùng giải phóng rộng
lớn, hình thành hệ thống căn cứ địa cách mạng làm hậu phương tại chỗ cho cuộc
đấu tranh cách mạng lâu dài. Ðặc biệt, từ thắng lợi của phong trào Ðồng khởi,
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam ra đời, đáp ứng kịp thời yêu cầu
phát triển của cách mạng và là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
Ngày nay, hòa bình, hợp tác, phát triển là xu
thế chủ đạo, nhưng tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến rất phức tạp,
thay đổi nhanh chóng và khó dự báo. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra
nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức trên mọi lĩnh vực đời sống
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã
đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt; thế và lực của đất nước
không ngừng nâng lên, uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Ðảng, toàn dân và
toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và đang đặt ra không ít
khó khăn, thách thức cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại.
Kế thừa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ
nước của dân tộc, phát huy tinh thần Ðồng khởi, chúng ta cần tập trung thực
hiện tốt những nội dung sau:
Một là, quán triệt, thực hiện nghiêm chủ
trương, đường lối của Ðảng về phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng,
an ninh trong tình hình mới.
Nhờ có chủ trương, đường lối cách mạng đúng
đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và xu thế vận
động, phát triển của thời đại, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi khó
khăn, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Ðảng là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Ngày nay, để thực hiện mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục
quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Ðảng, nhất là Nghị
quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, các Nghị quyết của Ban Chấp hành
T.Ư Ðảng khóa XII, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết T.Ư 8 (khóa XI) về
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới... Ðồng thời, quán triệt, thực
hiện nghiêm Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo
vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến
lược bảo vệ an ninh quốc gia... đã được Bộ Chính trị thông qua; các luật, bộ
luật, nghị quyết và chính sách về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo
dục, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh… đã được Quốc hội và Chính phủ ban
hành.
Tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy
tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị
tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chủ động đấu tranh, phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu. Ðẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới,
sớm hoàn thành các mục tiêu đề ra; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất
lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục cơ cấu lại tổng thể và
đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; chú trọng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Thu
hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, sức sáng tạo của nhân dân. Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc...
Cùng với các nhiệm vụ trên, phải tuyên truyền,
quán triệt cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân về mục tiêu, nhiệm vụ, quan
điểm, sức mạnh và phương thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Ðảng
trong tình hình mới. Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế
trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Nêu cao
tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế
lực thù địch, phản động. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Ðảng, Nhà
nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Hai là, tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước,
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhờ
phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường, nhân dân ta đã vượt qua
mọi khó khăn, thách thức làm nên phong trào Ðồng khởi vĩ đại và nhiều chiến
công hiển hách khác. Tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là
sức mạnh vô địch không thế lực nào có thể ngăn nổi.
Ngày nay, để phát huy tinh thần yêu nước phải
làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc,
tự hào về truyền thống đánh giặc, giữ nước của ông cha ta cho các tầng lớp nhân
dân; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội mà Ðảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Kiên
quyết bảo vệ đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Ðảng; giữ vững sự lãnh
đạo của Ðảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Mỗi người dân, dù ở cương vị nào
cũng đều phải thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm công dân; có ý chí, niềm
tin, khát vọng vươn lên để cùng tạo nên một cuộc "Ðồng khởi mới" trên
tất cả các lĩnh vực, quyết tâm đưa nước ta thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình,
từng bước vươn lên sánh kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước là sự nghiệp của toàn dân. Do đó, phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh của ý
chí, nghị lực, sự năng động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân; tạo điều kiện
thuận lợi để mọi người dân và doanh nghiệp không ngừng đổi mới, sáng tạo, khởi
nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Chú trọng công tác giáo dục - đào tạo,
phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao đủ khả năng "đi tắt đón đầu" trong nghiên cứu, làm
chủ và ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào sản
xuất, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an
ninh.
Thường xuyên chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn
kết máu thịt giữa Ðảng với dân, quân với dân, đoàn kết rộng rãi tất cả các tầng
lớp, giai cấp trong xã hội, các tôn giáo, các thành phần dân tộc, kiều bào ta ở
nước ngoài. Ðặc biệt, phải coi trọng xây dựng, giữ gìn đoàn kết, thống nhất
trong Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của hệ thống tổ chức
Ðảng. Ðảng phải thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đủ
năng lực và uy tín để định hướng, quy tụ, tập hợp, phát huy hết thảy tinh thần
yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Cơ sở tạo nên đoàn kết bền vững, lâu dài là
phải xây dựng đất nước vững mạnh toàn diện, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm
mẫu số chung; kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội để mọi người dân đều được hưởng thành quả của công cuộc đổi
mới, "không ai bị bỏ lại phía sau". Ðảng và Nhà nước phải có chính
sách tạo việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát
triển kinh tế, sản xuất. Thực hiện tốt xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã
hội, chăm lo sức khỏe, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất
là người có công với cách mạng, đối tượng chính sách, người nghèo, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, căn cứ cách mạng…
Ðồng thời, xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo
đảm dân được biết, được nói, được bàn, được kiểm tra, giám sát.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, cùng với phát huy nội lực, tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, phải
không ngừng tăng cường, củng cố đoàn kết quốc tế, làm cho ta thêm bạn, bớt thù,
tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Trong quan hệ đối ngoại phải quán triệt phương châm "dĩ
bất biến, ứng vạn biến", giữ vững nguyên tắc chiến lược; mềm dẻo, linh
hoạt về sách lược; tích cực chuyển hóa đối tượng thành đối tác, gắn chặt lợi
ích đối tác với lợi ích quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước.
Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, toàn diện, ngày càng hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới.
Trong phong trào Ðồng khởi, nhờ phát huy nhân
tố chính trị - tinh thần, biết động viên, tổ chức lực lượng, xây dựng được thế
trận toàn dân đánh giặc; kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa đấu tranh chính trị
với đấu tranh vũ trang, tiến công địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân
sự và binh vận),... quân và dân ta đã làm nên một kỳ tích lịch sử. Ngày nay,
tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, khó lường;
hình thái chiến tranh có sự thay đổi, phát triển mới. Ðể bảo vệ đất nước từ
sớm, từ xa, chúng ta phải chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện,
ngày càng hiện đại, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc.
Trước hết, phải quán triệt quan điểm xây dựng
nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Ðảng, toàn
dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó, Quân đội nhân dân là lực
lượng nòng cốt. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trên tất cả các lĩnh vực
quân sự, chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ,
an ninh, đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... Ðó là một
nền quốc phòng mang tính toàn dân, toàn diện, do nhân dân tiến hành, đặt dưới
sự lãnh đạo của Ðảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, các cơ
quan, ban, bộ, ngành làm tham mưu.
Trong xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh,
phải đặc biệt chú trọng công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm
lực chính trị - tinh thần vững chắc làm cơ sở, nền tảng để xây dựng các tiềm
lực khác. Theo đó, cần tập trung xây dựng Ðảng, Nhà nước thực sự trong sạch,
vững mạnh gắn với chăm lo đời sống của nhân dân, xây dựng "thế trận lòng
dân" vững chắc, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân đối với
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Chủ động phòng, chống và đấu tranh có hiệu quả
với âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, thúc đẩy
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của các thế lực thù địch.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng
hiện đại, không chỉ đơn thuần đảm bảo vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại cho
lực lượng vũ trang, mà phải nghiên cứu phương thức tác chiến, nghệ thuật quân
sự phù hợp để đối phó hiệu quả với chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ
cao. Vì thế, chúng ta phải tiếp tục tổng kết những kinh nghiệm xây dựng thế
trận chiến lược, thế trận toàn dân đánh giặc trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc; đồng thời, phải nghiên cứu, nắm chắc diễn biến của tình hình làm cơ sở
cho việc bổ sung, hoàn chỉnh lý luận xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đủ sức đánh bại các cuộc chiến
xâm lược của kẻ thù.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phải kết hợp
chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, tạo sức mạnh tổng
hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trước hết, phải làm tốt công tác
quy hoạch và tăng cường xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, nhất là ở vùng
sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. Bố trí, xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân vừa có diện rộng, vừa có chiều sâu, bảo đảm hợp lý trên từng địa bàn, hướng
chiến lược. Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nhất là trên các địa bàn trọng
điểm. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, trong đó đặc biệt chú
trọng xây dựng "thế trận lòng dân", "xây dựng cơ sở xã, phường,
an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu", tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền
quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân.
Bốn là, xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt
là Quân đội nhân dân, Công an nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại" đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới.
Trước kẻ thù xâm lược sử dụng lực lượng quân
sự, vũ khí trang bị hiện đại, tiến hành đàn áp nhân dân, tàn phá xóm làng, nhân
dân miền nam không có con đường nào khác là phải vũ trang khởi nghĩa. Nhận thức
được vai trò của lực lượng vũ trang, Xứ ủy Nam Bộ và cấp ủy đảng các địa phương
đã chủ động chăm lo xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cả về số lượng,
chất lượng, vũ khí trang bị, huấn luyện. Trong phong trào Ðồng khởi, lực lượng
quyết định giành thắng lợi là lực lượng chính trị của quần chúng, nhân dân,
song nếu không có bộ đội chủ lực Miền, lực lượng vũ trang của các địa phương,
thực hiện đòn quân sự hỗ trợ thì khởi nghĩa không thể thành công và bảo vệ được
thành quả cách mạng.
Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới, chúng ta cần tiếp tục quán triệt, nắm vững đường lối
chính trị, quân sự của Ðảng, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh
toàn diện, có cơ cấu, thành phần hợp lý, chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu
ngày càng cao. Cùng với xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, lực lượng
dự bị động viên hùng hậu, phải tập trung xây dựng Quân đội nhân dân, Công an
nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại" theo
tinh thần Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng.
Trước hết, phải xây dựng lực lượng vũ trang
vững mạnh về chính trị tư tưởng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng,
Nhà nước và Nhân dân. Giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Ðảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước
đối với lực lượng vũ trang. Tăng cường công tác đảng - công tác chính trị; xây
dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, nhạy
bén, quyết đoán trước mọi diễn biến của tình hình. Xây dựng Ðảng bộ Quân đội,
Ðảng bộ Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, năng lực lãnh đạo ngang tầm với
yêu cầu nhiệm vụ.
Cùng với nâng cao trình độ chính quy, Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân phải tiếp tục đẩy mạnh việc điều chỉnh tổ chức,
sắp xếp biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh, có sức chiến đấu cao, phù hợp với
điều kiện mới. Ðặc biệt, phải nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện; tích
cực, chủ động ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào quá trình huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng nâng cao trình độ tác
chiến, kỹ năng sử dụng vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại cho các
quân chủng, binh chủng, lực lượng đã được hiện đại hóa. Coi trọng nâng cao chất
lượng công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh
bảo đảm tốt cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ khác.
Trước tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có
những diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, lực lượng vũ trang phải mài
sắc tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động nắm, dự báo chính xác tình hình,
sớm phát hiện, nhận rõ kẻ thù; xác định, đánh giá đúng đối tượng và đối tác
trong từng thời điểm; chủ động về tư tưởng, lực lượng, thế trận; phối hợp, hiệp
đồng chặt chẽ và xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh,
không để đất nước bị động, bất ngờ.
Phong trào Ðồng khởi đã trở thành một biểu
tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, mãi mãi là niềm tự hào của các
thế hệ hôm nay và mai sau. Kỷ niệm 60 năm phong trào Ðồng khởi là dịp để toàn
Ðảng, toàn dân và toàn quân ta tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ, cán bộ,
chiến sĩ và nhân dân đã cống hiến, hy sinh xương máu làm nên chiến thắng vẻ
vang này và các chiến công vĩ đại khác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước; đồng thời nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện hơn
tầm vóc, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, rút ra những bài học kinh
nghiệm quý để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Phát huy tinh thần Ðồng khởi, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta
tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Ðảng; phát
huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn
diện, ngày càng hiện đại; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại có chất lượng tổng hợp và sức chiến
đấu ngày càng cao; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
(1) Ðảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðảng toàn
tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Tập 20, tr. 82.
(2) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực
thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và
bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 185.
-----------
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Cuộc chiến tranh
Biên giới 1979l
- Không được quên
tội ác của bá quyền Trung Quốcl
- Trận chiến cầu
Khánh Khê và giờ học lịch sửl
- Vị Xuyên ơi! Nỗi
đau không quên!l
- Bàn thêm về nước
Nam Việt của Triệu Đà và lịch sử nước Việt Naml
- Gạc Ma - Nỗi đau
không được quênl
- Vai trò của Mao
Trạch Đông trong chiến dịch tiến chiếm Hoàng Sa năm 1974l
- Cuộc chiến chống
quân Trung Quốc xâm lược: Hoàng Sa năm
1974l
- Vạch trần dã tâm
thâm đọc của Trung Quốc nhằm độc chiếm biển Đôngl
- Sự thật về quan
hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năml
Trần Chí Cường giới thiệu
Tác giả: Phạm Tung - Nguồn: facebook
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.





0 comments:
Đăng nhận xét