MỘT BÀI THƠ DŨNG CẢM,
SẮC BÉN VÀ CÓ NỘI LỰC MẠNH MẼ
Tôi với nhà thơ Lê Văn Hồng cùng làng Thạch Cầu - Ngôi làng cổ
500 tuổi bên sông Hồng. chúng tôi thường hay chia sẻ đàm đạo về thơ. Hôm trước
ông có gửi tôi tin nhắn: " “Nhà văn
nghĩ gì về bài thơ đăng báo này".
ĐỐI THOẠI VỚI GIAN THAM (*)
Ô hô!
ngươi chê thơ nghèo
nhưng thơ thanh bạch
lương tâm trong sạch
bạn khắp nhân gian, ve
gái trăm miền…
Thơ dẫu không nhiều
tiền
nhưng triệu phú “lời
vàng, ý ngọc”
mỹ nữ nhân gian mải mê
tranh đọc
rắc trăng mơ màng lên
mắt ngọc
chắp cánh thơ bay tận
chín tầng trời
hò hẹn với Hằng Nga
chọc quê chú Cuội…
Chẳng như lũ ngươi mưu
mô lắm tội
gái đẹp, rượu Tây mà u
mê hóa dại
hành xử nhiễu nhương,
dặt phường vô lại
bất chấp kỷ cương làm
hại đồng bào
tội các ngươi muôn đời
sao rửa sạch?
Ta thư thái ung dung
sáng cầu lông
trưa cơm nhà
chiều đánh cờ
tối làm thơ
đêm sờ vú vợ…
Chạnh lòng thương các
ngươi một đời mắc nợ
nơm nớp sợ, lo, cơm
cân... “chăn kiến”
đầu óc các ngươi chứa
tiền và bã đậu
toan tính mánh mung,
tối ngày ăn nhậu
mắc bả hư danh, tham
vàng bỏ ngãi
lũ lượt dắt nhau dài
dài vô khám…
Trời đọa đày các ngươi
kiếp hèn ăn bám
hút máu lương dân
lương tâm mất cắp
hư danh, bon chen, luồn
lách
tội các ngươi muôn đời
quở trách
giàu sang của các ngươi
như phù du sương khói
nhơ nhuốc hư vinh…
Ta đầu đội trời, chân
đạp đất
vẫn tin cuộc đời không
phải chỉ có điêu ngoa gian trá
mà nhân tâm lương thiện
vẫn còn nhiều
Ta mơ giấc mơ quân
vương - oai phong Vua mộng
thơ bay lồng lộng giữa
trời…
Ta viết thơ yêu lũ bay
không đọc
ta vót thơ làm tên, làm
móc
bắn vào đầu lũ gian
tham, bất nhân, ô trọc
moi tim, gan, óc… lũ ma
quái giả người phơi bày cho kền kền dùng bữa!
Ta coi khinh lũ văn nô
bưng bô, xu nịnh
thơ phú ngây ngô a dua
ngâm vịnh
ngắm mỹ nữ cởi truồng
mà thủ dâm tự sướng…
A ha!
Thơ là nghiệp, là đam
mê
chắt hương đời ủ men
cất rượu
đâu cần lập thân, mưu
cầu danh lợi
Tôn vinh lòng: Nhân ái
- Đẹp - và Thơ!
*.
Vua Mộng Ái Nhân
Tôi hẹn ông sẽ đọc kỹ và đàm đạo sau với ông.
Bài thơ "Đối thoại với gian tham" của
Vua Mộng Ái Nhân thuộc thể loại thơ luận đề mang đậm tính chất chính luận và
tinh thần sử thi đương đại. Tác phẩm không nhằm mục đích khơi gợi những rung
cảm thẩm mỹ êm dịu, mà vận hành như một vũ đài tư tưởng, nơi tác giả sử dụng
chiến lược đối lập nhị phân để giải phẫu hai lối sống hiện sinh trong xã hội
hiện đại. Sự đối lập trong cấu trúc bài thơ. Thế giới của “Ta” là tâm hồn thư thái, thanh bạch, ung dung, phiêu lãng, bay tận
chín tầng trời lấy thơ làm vũ khí.
Thế giới của “lũ gian tham”
là vật chất và hư vinh. Giàu sang, nhiều tiền nhưng “nơm nớp, sợ hãi, u mê chỉ ăn nhậu, toan tính mánh mung”. Bản chất “ma quái giả người”.
Toàn bộ bài thơ được xây dựng trên một kết cấu đối lập tuyệt đối
giữa hai chủ thể: "Ta" (Đại
diện cho chính nghĩa, tri thức, lương tri) và "Lũ ngươi/ Lũ bay" (Đại diện cho tham nhũng, suy thoái, vô
lại). Sự tương phản này được đẩy lên mức cực đoan thông qua cách lựa chọn từ
vựng mang tính định tính mạnh mẽ.
Ở những câu thơ mở đầu, tác giả thực hiện một cuộc tái định
nghĩa về mặt giá trị học:
"Ngươi chê thơ
nghèo / Nhưng thơ thanh bạch
Lương tâm trong sạch /
Bạn khắp nhân gian...
Thơ dẫu không nhiều
tiền / Nhưng triệu phú 'lời vàng, ý ngọc'"
Lũ gian tham đo lường giá trị con người bằng thước đo vật lý là
tiền bạc và lấy cái nghèo của nhà thơ ra để giễu cợt. Đáp trả lại, cái tôi trữ
tình khẳng định một vị thế tinh thần vượt trội. Bằng cụm từ nghịch lý "triệu phú 'lời vàng, ý ngọc”, tác giả đã
chuyển hóa cái nghèo vật chất thành sự giàu có vĩ đại của tâm hồn. Khả năng
lãng mạn hóa thực tại ("rắc trăng mơ
màng lên mắt ngọc", "chắp
cánh thơ bay tận chín tầng trời") chính là đặc quyền của người nghệ sĩ
chân chính - thứ quyền lực tinh thần mà không một khối tài sản bất chính nào có
thể mua được.
Một trong những đoạn thơ đắt giá nhất của tác phẩm nằm ở cách
cấu trúc dòng thơ cực ngắn để mô tả nhịp sống của cái tôi:
"Ta thư thái ung dung
/ Sáng cầu lông / Trưa cơm nhà / Chiều đánh cờ / Tối làm thơ / Đêm sờ vú vợ…"
Cấu trúc dòng thơ được ngắt nhỏ thành những mảnh 3 chữ, nhịp
điệu đều đặn như đồng hồ gõ nhịp. Đây chính là biểu hiện của một nhịp sống
chánh niệm, nơi con người làm chủ thời gian và tìm thấy sự viên mãn trong
những hành vi sinh hoạt giản dị nhất. Chi tiết "đêm sờ vú vợ" đứng cạnh "tối làm thơ" là một sự táo bạo đầy dụng ý nghệ thuật. Nó kéo
thơ ca ra khỏi cái tháp ngà sáo rỗng, đưa con người về với bản tính tự nhiên,
bản năng gốc lành mạnh và hợp lẽ trời. Ngược lại, thế giới của lũ gian tham là
một sự hỗn loạn chiếm đoạt và mất kết nối:
"Toan tính mánh
mung, tối ngày ăn nhậu
Mắc bả hư danh, tham
vàng bỏ ngãi
Lũ lượt dắt nhau dài
dài vô khám… / Nơm nớp sợ, lo, cơm cân... 'chăn kiến'"
Trái ngược với sự "thư
thái ung dung". Từ láy "nơm nớp" lột tả trạng thái bất an
thường trực của những kẻ phạm tội. Chúng sở hữu "rượu Tây", "gái đẹp"
nhưng tâm trí luôn bị giam cầm trong nỗi sợ hãi ngày bị vạch trần. Sự giàu sang
của chúng bị tác giả hạ bệ xuống hàng "phù
du sương khói", một thứ "nhơ
nhuốc hư vinh" phải trả giá bằng sự tự do thể xác lẫn linh hồn nơi
ngục tối, đó là "chăn kiến"
đó là “vô khám”.
Trong "Đối thoại với gian tham", thơ
ca không còn dừng lại ở chức năng duy mỹ thuần túy, mà nó được vũ khí hóa để
thực hiện sứ mệnh thanh lọc xã hội. Khi cơn uất hận thời cuộc lên đến đỉnh
điểm, ngôn ngữ thơ của Vua Mộng Ái Nhân biến chuyển thành những mũi tên đằng
đằng sát khí:
"Ta viết thơ yêu
lũ bay không đọc
Ta vót thơ làm tên, làm
móc / Bắn vào đầu lũ gian tham, bất nhân, ô trọc
Moi tim, gan, óc… lũ ma
quái giả người phơi bày cho kền kền dùng bữa!"
Tác giả sử dụng những động từ có tính phá hủy mạnh: "vót thơ", "bắn vào đầu", "moi tim, gan, óc". Đây là biện pháp
bạo lực biểu tượng tính chiến đấu trong văn học, tương tự như những đòn trừng
phạt sấm sét trong sử thi hay truyện cổ tích dân gian. Nhà thơ tự đặt mình vào
vị trí của một đấng phán xét, lột trần lớp mặt nạ "giả người" của lũ tham quan để phơi bày bản chất "ma quái" bên trong của chúng trước
công lý của nhân dân ("phơi bày cho kền kền dùng bữa").
Không chỉ hướng mũi tên vào lũ gian tham quan trường, nhà thơ
còn dành những lời lẽ khinh bỉ nhất cho tầng lớp văn nghệ sĩ cơ hội:
"Ta coi khinh lũ
văn nô bưng bô, xu nịnh
Thơ phú ngây ngô a dua
ngâm vịnh
Ngắm mỹ nữ cởi truồng
mà thủ dâm tự sướng…"
Từ ngữ ở đoạn này mang tính trần trụi, tiệm cận với khẩu ngữ
đường phố ("bưng bô",
"thủ dâm tự sướng"). Sự thô
mộc này là cần thiết để tạo ra một hiệu ứng tẩy chay mạnh mẽ. Nhà thơ phê phán
trực diện hội chứng "văn nô"
- những kẻ dùng chữ nghĩa để liếm gót quyền lực, hoặc biến thơ ca thành thứ
công cụ kích dục tinh thần rẻ tiền.
Qua đó, tác giả khẳng định một ranh giới rõ ràng: Người làm thơ
chân chính không bao giờ quỳ gối trước tiền tài hay danh vọng. Mặc dù bài thơ
chứa đựng rất nhiều câu chữ giận dữ, căm phẫn, nhưng bản chất cốt lõi của tác
phẩm không phải là sự thù hận, mà là Lòng nhân ái và Niềm tin vào con người.
Điều này được thể hiện qua chính danh xưng và lý tưởng hiện sinh của tác giả,
đó là tư thế của người trí thức dấn thân:
"Ta đầu đội trời,
chân đạp đất
Vẫn tin cuộc đời không
phải chỉ có điêu ngoa gian trá
Mà nhân tâm lương thiện
vẫn còn nhiều"
Hình tượng cái tôi của Vua Mộng Ái Nhân được đặt ở vị trí trung
tâm, hiên ngang trong tư thế "đầu
đội trời, chân đạp đất". Quanh nhân vật tỏa ra vầng hào quang rực rỡ.
Đôi tay thi nhân đang giương một chiếc cung lớn với mũi tên được vót bằng lấp
lánh lý tưởng sáng ngời.
Thế giới của lũ gian tham bị bủa vây bởi mây mù u ám và những
chiếc bóng rạn nứt của ngục tù. Chân dung của chúng hiện lên méo đang nơm nớp
sợ hãi, co rúm trước mũi tên ánh sáng. Sự tương phản sắc nét giữa bầu trời xanh
trong lộng lẫy (nơi thơ ca bay lượn) và đầm lầy âm u đầy tiền bạc, rượu Tây hư
vinh (nơi lũ ma quái ẩn náu), mang lại một hiệu ứng thị giác cực kỳ mạnh mẽ.
Giữa một thời cuộc đầy rẫy "điêu
ngoa gian trá", cái tôi không chọn cách thỏa hiệp, cũng không rơi vào
chủ nghĩa hoài nghi hư vô. Nhà thơ vẫn giữ một niềm tin sắt đá vào sự lương thiện
của nhân tâm. Đây chính là điểm tựa nhân văn nâng đỡ toàn bộ bài thơ, giúp tác
phẩm không bị sa vào vũng lầy của sự bi quan, phẫn chí.
Bài thơ có nhạc lý mạnh. Nhạc điệu trong bài thơ là nhạc điệu
nội tại được sinh ra từ chính nhịp đập cảm xúc và chiến lược ngắt dòng đầy phá
cách, sự biến đổi tiết tấu theo biểu đồ tâm lý. Nhịp điệu của bài thơ chuyển
động linh hoạt qua ba sắc thái rõ rệt, tương ứng với sự biến đổi trong tâm thế
của nhân vật trữ tình:
Nhịp điệu tự tin, phóng khoáng (Khổ đầu): Câu thơ kéo dài, co
duỗi linh hoạt kết hợp với hệ thống vần chân ("nghèo" - "bạch"
- "sạch", "miền" - "tiền", "ngọc"
- "đọc") tạo ra một dòng
chảy ngôn ngữ cuồn cuộn, thể hiện vị thế ngạo nghễ, tràn đầy năng lượng tinh
thần của cái tôi trữ tình trước lũ gian tham.
Nhịp điệu chánh niệm, thảnh thơi (Khổ hai):
"Ta thư thái ung
dung / Sáng cầu lông / Trưa cơm nhà / Chiều đánh cờ / Tối làm thơ / Đêm sờ vú
vợ…"
Nhịp thơ đột ngột chuyển sang thể ngắt đoạn ngắn 3 chữ
(3/3/3/3/3/4), đều đặn, phẳng lặng. Cách ngắt nhịp này mô phỏng sự tuần hoàn
bình yên của thời gian, một cuộc sống làm chủ được tâm trí, đối lập hoàn toàn
với sự nơm nớp, hoảng loạn của kẻ phạm tội.
Nhịp điệu dồn dập, chiến đấu đằng đằng sát khí (Khổ năm):
"Ta viết thơ yêu
lũ bay không đọc / ta vót thơ làm tên, làm móc / bắn vào đầu lũ gian tham, bất
nhân, ô trọc..."
Câu thơ được kéo dài, dồn nén từ ngữ mang phụ âm nặng ("vót", "móc", "bắn",
"trọc", "óc"). Tiết tấu dồn dập ở đoạn này
giống như một loạt đạn bộc phát từ cơn uất hận thời cuộc, tạo ra sức công phá
trực diện vào nhận thức người đọc.
Việc mở đầu bằng các thán từ đầy tính giễu nhại và kết thúc bằng
những tuyên ngôn kiêu hãnh ("Ô hô!",
"A ha!") tạo cho bài thơ
một cấu trúc nhạc kịch. Nhà thơ không trốn sau trang giấy; Ông bước ra vũ đài,
cất tiếng cười ngạo nghễ để mở đầu và kết thúc phiên tòa phán xét đạo đức, tạo
cho tác phẩm tính trình diễn và sức lôi cuốn mạnh mẽ.
"Thơ là nghiệp, là
đam mê
Chắt hương đời ủ men
cất rượu / Đâu cần lập thân, mưu cầu danh lợi
Tôn vinh lòng: Nhân ái
- Đẹp - và Thơ!"
Người làm thơ đầy tự tin nhận mình là "Vua Mộng Ái
Nhân" - Vị vua quản trị cõi mộng và yêu thương con người. Trên ngai vàng
của cõi mộng ấy, tiền bạc của lũ gian tham chỉ là rác rưởi. Sứ mệnh của vị
"Vua Mộng" này là "chắt hương đời" để chưng cất thành thứ
rượu tinh thần cho nhân gian, để tôn vinh bộ ba giá trị bất biến của nhân loại:
Chân - Thiện - Mỹ .
Bài thơ "Đối thoại với gian tham" của
Vua Mộng Ái Nhân là một bài thơ dũng cảm, sắc bén và có nội lực mạnh mẽ. Bằng
việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa giọng điệu sử thi hào hùng với những khẩu ngữ
đời thường trần trụi, tác phẩm đã kiến tạo nên một thẩm mỹ phản kháng độc đáo.
Bài thơ để lại một bài học triết lý sâu sắc: Sự giàu sang dựa trên sự chiếm
đoạt và chà đạp lên đồng bào chỉ là thứ hư vinh phù du đem lại nỗi sợ hãi; chỉ
có lối sống tự do, thanh bạch, giữ gìn lương tâm trong sạch và dấn thân cho cái
Đẹp, cái Thiện mới là cứu cánh đích thực của một kiếp nhân sinh.
Cảm ơn thi sỹ Ái Nhân đã có bài thơ hay.
"Thơ là nghiệp, là
đam mê...
Tôn vinh lòng: Nhân ái
– Đẹp – và Thơ." không chỉ là
tuyên ngôn nghệ thuật của riêng tác giả, mà còn là điều khiến nhiều người yêu
văn chương tìm thấy mình trong đó.
Cảm ơn chú Hồng đã gửi về cho cháu bài thơ hay.
------------
(*) bài thơ đã in trên báo Người Cao Tuổi năm 2022
Bùi Ái Nhân giới thiệu
Tác giả: Vũ Minh Huệ - Nguồn: Email Nhà thơ Ái Nhân
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét