CÁCH CỤC UNG THƯ QUA MỆNH, THÂN, TẬT - Tác giả: Trần Kiều Oanh ; Trần Hải Sơn giới thiệu

Leave a Comment

 


CÁCH CỤC UNG THƯ

QUA MỆNH, THÂN, TẬT

 

Trong quá trình nghiệm lý nhiều lá số có liên quan đến bệnh lý, có thể nhận thấy trục Mệnh – Thân – Tật Ách thường là nơi tập trung những dấu hiệu đáng chú ý khi luận về sức khỏe.

Đặc biệt, ở những trường hợp mắc bệnh nặng, một số tổ hợp Sát - Kỵ - Hình - Hao thường xuất hiện với mật độ cao và tạo nên những tượng ý tương đối rõ rệt.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tượng bệnh trong Tử Vi và chẩn đoán của y học hiện đại.

Tử Vi có thể dùng để luận về khuynh hướng thể chất, điểm yếu của cơ thể hoặc những giai đoạn sức khỏe dễ phát sinh vấn đề; không thể chỉ dựa vào một cách cục để kết luận một người mắc ung thư hay một loại bệnh cụ thể.

Việc tầm soát và chẩn đoán vẫn phải dựa trên y học.

 

Tượng về huyết dịch và hệ bạch huyết

Những tổ hợp như Thái Âm hãm địa, Liêm Trinh, Thiên Đồng hãm khi gặp Hóa Kỵ, Địa Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, Đà La, Phục Binh thường được chú ý khi luận về các vấn đề liên quan đến huyết dịch, dịch thể và những chứng bệnh diễn tiến âm thầm.

Thái Âm thường được dùng để tượng về dịch thể, huyết dịch và những phần thuộc tính âm; Liêm Trinh có liên hệ với huyết và những biểu hiện biến động trong cơ thể. Khi những sao này bị sát tinh, Kỵ tinh xâm phạm, tượng bệnh có thể trở nên nặng và phức tạp hơn.

Nghiệm lý thực tế xuất hiện bệnh lý ác tính thuộc máu hoặc hệ bạch huyết, có thể đối chiếu những tổ hợp này. Nhưng không nên đảo ngược quan hệ thành công thức “có bộ sao này thì tất có ung thư máu”.

 

Tượng về gan, mật và sự chuyển hóa

Các tổ hợp Tham Lang, Thiên Cơ, Liêm Trinh hội Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, Bệnh Phù, Đại Hao thường được lưu ý khi luận về gan, mật và những vấn đề liên quan đến sự chuyển hóa trong cơ thể.

Tham Lang và Thiên Cơ mang tính Mộc, khi gặp Hỏa tinh có thể tạo thành tượng Mộc bị Hỏa chế, biểu hiện trạng thái hao tổn, nóng bức hoặc biến động mạnh. Nếu lại hội Hóa Kỵ, Bệnh Phù, Đại Hao thì tượng bệnh càng trở nên phức tạp.

Trong nghiệm lý những trường hợp có bệnh lý về gan, mật hoặc khối u tại khu vực này, đây có thể là một nhóm sao đáng đối chiếu. Song mức độ nặng nhẹ vẫn phải xét toàn bộ Tật Ách, Mệnh – Thân, Tam Phương Tứ Chính và vận hạn.

 

Tượng về phổi, họng và đường hô hấp

Cự Môn, Vũ Khúc, Thất Sát hoặc Thái Dương hãm khi gặp Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, Kiếp Sát, Bệnh Phù có thể tạo nên những tượng ý bất lợi đối với vùng họng, phổi và đường hô hấp.

Cự Môn chủ khẩu thiệt, miệng, họng và những nơi thuộc về lời nói, giao tiếp; khi gặp Hóa Kỵ, Đà La có thể hình thành tượng bế tắc, uẩn kết, kéo dài.

Vũ Khúc và Thất Sát mang tính Kim, khi chịu sát tinh xâm phạm cũng thường được đem ra đối chiếu với những bệnh lý thuộc phế khí, hô hấp và phần cứng của cơ thể.

Nếu nghiệm lý gặp bệnh lý ác tính tại phổi hoặc vùng hầu họng, những tổ hợp này có thể được xem như một dấu hiệu tham khảo trong hệ thống tượng pháp, chứ không phải căn cứ chẩn đoán.

 

Tượng về xương và tủy

Nhóm Thất Sát, Phá Quân, Vũ Khúc hội Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, Kiếp Sát, Địa Kiếp thường tạo tượng tương đối mạnh về tổn thương phần cứng, xương cốt và những bệnh lý có tính phá hủy.

Thất Sát và Phá Quân vốn mang tính chất biến động, phá bỏ và tổn thương; Vũ Khúc thuộc Kim lại liên hệ với hình tượng xương cốt. Khi nhiều sát tinh cùng hội, tượng hình thương, tổn hại, phá cách càng nổi bật.

Trong những trường hợp có bệnh lý liên quan đến xương hoặc tủy, đây là nhóm cách cục có thể đem ra nghiệm chứng. Nhưng cũng cần nhớ rằng sát tinh không chỉ tượng bệnh; chúng còn có thể biểu hiện tai nạn, phẫu thuật, thương tích hoặc những biến cố khác.

 

Tượng về hệ sinh sản và tuyến nội tiết

Các tổ hợp Thái Âm, Tham Lang, Liêm Trinh đi cùng Hóa Kỵ, Thiên Diêu, Phục Binh, Địa Không, Địa Kiếp thường được chú ý khi luận về cơ quan sinh dục, sinh sản và những vấn đề thuộc nội tiết.

Thái Âm mang tính âm, có thể liên hệ đến nữ giới, dịch thể và những bộ phận thuộc tính âm; Tham Lang thường được dùng để luận về dục tính, sinh sản và ham muốn; Liêm Trinh lại liên quan đến huyết và những biến động bên trong.

Khi những sao này gặp Kỵ tinh, sát tinh, tượng bệnh có thể trở nên kín đáo, kéo dài hoặc khó nhận biết ở giai đoạn đầu. Trong nghiệm lý những trường hợp có bệnh lý ở vú, tử cung, buồng trứng hoặc tuyến tiền liệt, đây là nhóm sao đáng được đối chiếu, nhưng không thể dùng riêng để xác định bệnh.

 

Tượng về đường tiêu hóa

Cự Môn, Thiên Đồng, Tham Lang gặp Hóa Kỵ, Đà La, Bệnh Phù, Tử Phù, Song Hao thường tạo tượng không thuận đối với đường tiêu hóa.

Cự Môn chủ khẩu, Thiên Đồng mang tính thủy và sự biến động, Tham Lang liên quan đến ăn uống, dục vọng và sự hưởng thụ. Khi gặp Kỵ tinh cùng các sao hao bại, tượng ứ trệ, bất hòa, hao tổn dễ nổi lên.

Nếu đi cùng các dấu hiệu khác tại Tật Ách và vận hạn, những tổ hợp này có thể được dùng để luận về các vấn đề kéo dài ở dạ dày, ruột hoặc hệ tiêu hóa. Trường hợp nghiệm lý xuất hiện bệnh lý ác tính tại đường tiêu hóa, có thể xem đây là một hướng đối chiếu trong tượng pháp Tử Vi.

 

Điểm chung

Từ việc đối chiếu nhiều trường hợp, có thể rút ra ba điểm đáng chú ý khi luận các bệnh lý nghiêm trọng.

Thứ nhất, về bộ sao nòng cốt, những chính tinh như Liêm Trinh, Tham Lang, Vũ Khúc, Phá Quân, Thái Âm, Thái Dương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Cự Môn hãm

Đây là những tinh hệ có tính chất mạnh, biến động và dễ biểu hiện thành các tượng hao tổn, biến đổi, phá bại hoặc mất cân bằng khi gặp nhiều sát tinh.

Nhưng không nên hiểu rằng bản thân các chính tinh này là nguyên nhân của ung thư. Ý nghĩa của chúng chỉ thực sự rõ khi đặt vào toàn bộ thế sao.

Thứ hai, về cung vị, cần đặc biệt xem xét mối liên hệ giữa Mệnh, Thân và Tật Ách.

Mệnh chủ căn cơ và nền tảng con người; Thân phản ánh sự biểu hiện của bản thân trong quá trình sống; Tật Ách là cung trọng yếu khi luận về bệnh tật và những điểm yếu của cơ thể. Khi cả ba cùng xuất hiện những dấu hiệu bất lợi, tượng bệnh mới có cơ sở để được xem xét sâu hơn.

Dẫu vậy, cũng không nên tuyệt đối hóa nguyên tắc này. Có trường hợp Tật Ách xấu nhưng Mệnh – Thân có nhiều cát tinh cứu giải; cũng có trường hợp một cung đơn độc gặp sát tinh nhưng toàn cục không thành cách bệnh nặng.

Tử Vi phải luận toàn cục, không thể lấy một cung hay một bộ sao làm kết luận cuối cùng.

Thứ ba, về nhóm sao gây tác động, những bộ Sát – Kỵ – Hình – Hao - Bệnh Phù - Phá toái - Kiếp Sát,

Đặc biệt là Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Hình, Kình Dương, Địa Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, thường làm cho tượng bệnh trở nên nặng hơn.

Hóa Kỵ có thể biểu hiện sự uẩn kết, trì trệ; Đà La mang tính kéo dài, vướng mắc; Không Kiếp có tính đột ngột và hao phá; Kình Dương, Thiên Hình, Kiếp Sát thiên về hình thương, tổn thương và can thiệp. Khi nhiều tính chất này cùng hội tụ, cần đặc biệt chú ý đến sức khỏe trong những đại hạn, lưu niên tương ứng.

Tượng bệnh không đồng nghĩa với bệnh danh.

Một lá số có nhiều sát tinh có thể ứng vào bệnh tật, cũng có thể ứng vào tai nạn, phẫu thuật, thương tích, biến cố hoặc những giai đoạn hao tổn khác. Muốn phân định phải xét cung vị, tính chất tinh diệu, Tam Phương Tứ Chính, Tứ Hóa và đặc biệt là sự vận hành của đại hạn, lưu niên.

Vì vậy, giá trị của việc nhận diện những tổ hợp này không nằm ở việc dùng lá số để “đoán ung thư”, mà ở chỗ nhận ra những giai đoạn sức khỏe cần được quan tâm hơn. Khi có dấu hiệu bất thường, việc thăm khám và tầm soát y khoa vẫn là căn cứ quyết định.

Tử Vi có thể cho ta một cách nhìn về điểm yếu và thời điểm cần thận trọng; còn bệnh tật thực sự là vấn đề phải được xác định bằng y học.

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Các bài viết về khoa Tử Vi0

- Các bài viết về khoa Phong Thủy0

- Các bài viết về khoa Tướng thuật0

- Các bài viết về Tín ngưỡng0

 

Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM thơ Đặng Xuân Xuyến:


Trần Hải Sơn giới thiệu

Tác giả: Trần Kiều Oanh - Nguồn: facebook

Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet

Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.

0 comments:

Đăng nhận xét