CÁCH ĐA PHU, NHỮNG SAO NHIỀU CHỒNG,
CÁCH ÁI TÌNH, CÁC SAO TÌNH DỤC
CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG PHU
Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc
gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có
vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn
trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên
hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai
đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn
bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ
có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.
Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn
hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài
lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà
thôi.
Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ,
chắp nối.
Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê
dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao
thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay
Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.
Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ
một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng
nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng
cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có
thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân
mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm
vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái
giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi
con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm không".
Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này
phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ,
số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.
Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia
đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.
Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám
chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có
nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.
Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì
Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám
chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ
gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen
tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn
có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường
tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.
Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có
phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi
Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa
là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng
để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu
thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng,
ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương
tích) hoặc kiện ly dị.
Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải
có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của
chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục
đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn
đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa "phu". Nếu nhân
duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép
hờ.
Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân,
còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần.
Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ
đều gặp nhân duyên ưng ý.
Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng
và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình
hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng
sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang
trái, chia ly.
Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.
Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia
đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp
ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ
hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên
cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới
hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ
hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.
CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG MỆNH HAY THÂN
Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù
đã có chồng.
Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm
đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ
Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện
của sao Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".
Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn
đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do
thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là
giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.
Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự
chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào
tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện
sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết
mê, chết mệt vì họ.
Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng
người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang
trọng.
Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái
bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình
yêu
Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội
thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng
trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái
hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử.
Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng
tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử
(sát tinh).
Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có
thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ
về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang
nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp
nối.
CÁCH ĐA PHU Ở CUNG NÔ
Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có
chồng.
Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi
tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối
kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có
Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài
khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm,
thương thầm, có khi chỉ một chiều.
Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang
chạ.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể
có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục
Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có
Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt
ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.
CÁCH ĐA PHU Ở CUNG TỬ
Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai
chồng: Thiên Tướng, Tuyệt - Thái Âm, Thiên Phúc - Cự Môn, Thiên Cơ đồng
cung - Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu - Phục Binh, Tướng Quân - Thai,
Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.
CÁCH ĐA PHU Ở CUNG THÊ CỦA PHÁI NAM
Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.
Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm
hay ngoại tình.
Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang
chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.
Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.
CÁCH ÁI TÌNH, CÁC SAO TÌNH DỤC
Những sao tình dục chung cho hai phái:
a. Những dâm tinh nặng ý nghĩa nhục dục:
Tham Lang: Chỉ sự tham dục lớn lao, nhất là khi hãm địa
thì tính nết càng sa đọa, hư đốn, lăng loàn. Thông thương, Tham Lang
chỉ hạng người dễ động tình, xấu máu về sắc dục, bị thu hút bởi
nhu cầu sinh lý và chạy theo nhu cầu này một cách mù quáng, bất
chấp đạo đức, gia đình, dư luận. Nết dục của Tham Lang (võ tinh) có
ít nhiều bạo tính, dục động, khó kìm chế. Ngoài ra, Tham Lang thụ
hưởng sinh lý một cách ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn đến bạn
đồng tình, thiếu tế nhị, cao thượng, vị tha. Tham Lang đặc biệt bất
lợi cho phái nữ. Nữ có sao này có ít nhiều đĩ tính, nếu Phúc –
Mệnh – Thân xấu và có thêm sao tình dục khác: đây là hạng gái giang
hồ. Còn Nam số có Tham Lang là kẻ ăn chơi, đàng điếm, hoang dâm, nếu
không có đủ sao mạnh chế khắc.
Thiên Riêu hãm địa (trừ ở Mão và Dậu): có ý nghĩa sinh
lý rất mạnh, chỉ sự chơi bời, sắc dục, trụy lạc, sa đọa, xu hướng
tình dục và tính nết dâm đãng. Như Tham Lang, ái tình của Thiên Riêu
bừa bãi, mạnh mẽ, đồng thời có khuynh hướng xác thịt. Đối với sao
này, không có vấn đề tình yêu lý tưởng hay tinh thần, chỉ có sự
thỏa mãn vật chất. Nếu Thiên Riêu đắc địa ở Mão và Dậu, nết tình
vẫn mạnh, chỉ được lợi là không bị tai tiếng xấu xa mà thôi.
Thai: có ý nghĩa tình dục mạnh, thiên về sự thay cũ
đổi mới và có đặc tính tái phạm, dù có cố gắng chừa.
Đào hoa: chỉ sự ham thích ái tình, tính nết trăng hoa,
đa tình, ham chinh phục để yêu và được yêu, lấy tình yêu làm lẽ sống
của tâm hồn, để thỏa mãn một tình cảm chứa chan hoặc một nhu cầu
sinh lý nồng nhiệt. Đối với Đào Hoa, hình thái của ái tình không
quan trọng bằng cường độ của ái tình nên bao giờ cũng tha thiết, đam
mê, si lụy, rung động mạnh trước ái tình và tham lam trong tình
trường. Đào Hoa không những phong phú, nhằm nhiều đối tượng cùng một
lúc mà còn lẳng lơ, sa đọa, bất chính, phi đạo đức. Sao này đại kỵ
cho Nữ Mệnh.
Mộc Dục: phóng đãng, ham muốn vật dục, khao khát yêu
đương và quyến rũ yêu đương. Tính nết sinh lý của sao này ít nhiều
hỗn loạn, không mấy chọn lọc đối tượng, bao hàm nhiều hình thái, từ
sự tự thỏa mãn đến vấn đề đồng tính luyến ái. Tình yêu của Mộc Dục
hơi quái dị, bất thường.
Mộ: sao này chỉ sự dâm đãng thông thường.
Liêm Trinh hãm địa: chỉ khi hãm địa (ở Tỵ, Hợi, Mão và
Dậu), Liêm Trinh mới có ý nghĩa dâm đãng. Đắc địa (ở Thìn, Tuất,
Tý, Ngọ, Dần, Thân, Sửu và Mùi), Liêm Trinh chỉ tính nết hào hoa
thông thường.
b. Những sao tình dục nặng ý nghĩa tinh thần:
Hoa Cái: chỉ sự khao khát tình ái, sự thích thú được
người khác phái chú ý và yêu đương, sự trêu cợt để cho bên kia phải
chết mê, chết mệt vì yêu đương. Hoa Cái chỉ sự chưng diện, tính thích
xa hoa, lộng lẫy để có một bề ngoài đài các, sang trọng, quyến rũ.
Hoa cái chỉ sự kiểu cách trong bộ điệu, trong ngôn ngữ cho đến giọng
nói uốn lưỡi, sửa giọng, lắm khi không tự nhiên, đôi khi lố bịch; sự
ham chuộng các loại thời trang.
Hồng Loan: so với Đào Hoa, Hồng Loan chỉ ái tình tương
đối có nết hạnh hơn. Hồng Loan thu hút bằng sự quyến rũ do đức tính
bên trong. Hồng Loan chỉ sự khéo léo chân tay, khéo léo ngôn ngữ, khéo
léo về dáng điệu tức là những nét duyên về công, dung và ngôn.
Văn Xương, Văn Khúc: không có ý nghĩa dâm đãng trực tiếp.
Người có Xương Khúc có tâm hồn văn chương mỹ thuật, bắt nguồn từ
những năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc, nghệ thuật, thi ca nhưng rất đa
tình, giàu tình cảm, dễ cảm xúc, tiếp nhận và tiếp phát tình cảm
rất mạnh. Người có Xương Khúc có sự nhạy cảm, sự mơ mộng, sự kể
lể văn chương, thiên hướng về cái tôi rất mạnh.
Thái Âm: chỉ sự hữu duyên, hữu tình và đa tình. Người
có Thái Âm rất lãng mạn, có khuynh hướng bộc lộ tình cảm, hay mơ
mộng viển vông, có thể dâm đãng (nếu hãm địa, ý nghĩa này rất rõ
rệt).
Những sao tình dục riêng cho nữ phái:
a. Sao đơn thủ
Cự Môn hãm địa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và Tỵ): nếu đóng
ở Mệnh, Thân của nữ số. Chỉ tâm trạng bất mãn chung chứ không nhất
thiết bất mãn về sinh lý, gặp nhiều ngang trái.
Hỏa Tinh, Linh tinh hãm địa (Tý, Thân, Dậu và Hợi): nằm
mơ thấy yêu đương.
Thiên Không ở Mệnh của Nữ số: người dâm tiện, suốt đời
bị ách gió trăng, là hàng ca kỹ, tì thiếp lăng loàn.
b. Sao hội họp:
Liêm Trinh, Tham Lang ở Tỵ, Hợi của Nữ số: vừa đắc kép,
vừa tham dâm. Sự hội tụ ở 2 cung Tỵ và Hợi, nơi cả hai đều hãm địa,
càng bất lợi cho phụ nữ: đó là những gái lầu xanh khả hữu.
Thiên Lương, Thiên Đồng ở Tỵ, Hợi: phóng túng, ham chơi.
Thiên Lương, Thiên Mã ở Tỵ, Hợi: phóng túng, ham chơi,
thay đổi bạn liên tục.
Thái Âm hãm, Đà La: đam mê sắc dục. Đà La chỉ sự bất
hạnh trong tình trường.
Thiên Đồng, Thiên Riêu: người không chung tình, thường thay
đổi tình nhân và nếu có chồng thì ngoại tình.
Tham Lang, Đại, Tiểu Hao: giống như Đồng Riêu, chỉ trường
hợp ngoại tình hay song tình, có mối tình thầm kín, được giấu diếm
kỹ, không bộc lộ. Đây có thể là người bề ngoài đoan chính nhưng bên trong
rất nồng nhiệt, chỉ phạm dâm khi có cơ hội hoặc là người đeo đuổi
một lần hai mối tình trong đó phải bảo mật một mối.
Tham Lang, Phá Quân: Phá Quân chỉ sự hao tán phu thê, đổ
vỡ về gia đạo. Đi với Tham Lang, người phụ nữ này vì tham dục nên bị
liên lụy với gia đình.
Tham Lang, Thất Sát hãm địa (Mão, Dậu, Thìn và Tuất):
nghiệp chướng về ái tình khó tránh khỏi. Nữ số có Tham, Sát ở Dần
hay Thân là người bạc tình, mới chuộng cũ vong.
Thiên Cơ, Xương, Khúc: Nếu Phúc – Mệnh – Thân xấu gặp bộ
sao này rất tham dâm. Nếu đi với Thiên Riêu hay Thai thì rất cuồng
nhiệt và lăng loàn, đôi khi bộc lộ qua dâm thư kiểu như Hồ Xuân Hương.
Tham Lang, Đào Hoa: đồng nghĩa với Liêm Tham ở Tỵ, Hợi:
người hồng nhan đa truân, gái giang hồ, phụ nữ chủ động cưới chồng.
Mộc Dục, Hoa Cái, Bạch Hổ: phụ nữ cuồng dâm, tính dâm
ăn sâu vào máu huyết, thay đổi nhân tình như thay đổi xiêm y.
Vị trí các sao tình dục:
a. Sao tình dục ở cung Nô: ý nghĩa dâm đãng của đương số
rất rõ ràng, có những mối tình ngoại hôn lang chạ, bừa bãi, không
phân biệt giai cấp, đối tượng, kiểu như chủ lấy tớ … Nết sa đọa của
đương số còn tệ hại hơn. Chỉ có ngoại lệ khi có sao khắc chế ở
Mệnh mà thôi.
b. Sao tình dục ở cung Phu Thê: hoặc vợ/chồng là người
nhiều dục tính, tham dâm, có cuộc sống sinh lý dồi dào; hoặc
vợ/chồng có ngoại tình; hoặc vợ/chồng có 2, 3 đời liên tiếp; hoặc
vợ/chồng có thể đẹp hoặc duyên dáng, hữu tình.
c. Sao tình dục ở cung Tật: đương số có những bệnh họa
liên quan đến sinh lý, tình dục, bộ phận sinh dục.
d. Sao tình dục ở cung Phúc: có thể biểu thị sự dâm
đãng di truyền trong dòng họ (nếu cung Phụ hay cung Bào cũng có những
sao này).
Những sao khắc chế tình dục:
Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương sáng sủa: tượng trưng cho sự
ngay thẳng, đoan chính, trung hậu, tiết tháo. Ba sao này quân bình được
các sao tình dục, kiềm chế được sự sa ngã đến mức độ đáng kể.
Ân Quang, Thiên Quý: chỉ phẩm hạnh, đức tính chung thủy,
sắt son, tín nghĩa, trung thành. Hai sao này tiết giảm rất nhiều ý
nghĩa trăng hoa của các sao tình dục.
Thiên Hình: chỉ sự chính trực, ngay thẳng, chính chuyên,
mực thước, có ý chí đề kháng các loại cám dỗ của ái tình.
Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Đức (Tứ Đức):
tượng trưng cho sự trong sạch, ý thức đạo đức trong vấn đề tình ái.
Phải hội đủ Tứ Đức thì hiệu lực mới đủ mạnh vì Tứ Đức chỉ đủ
để chế giảm các sao tình dục tầm thường.
Hóa Kỵ: Đồng cung với Liêm, Tham, Hóa Kỵ có thể chế
được cái xấu của Liêm, Tham nói chung và từ đó chế cả tình dục
mạnh mẽ của Liêm Tham nói riêng.
Lộc Tồn: chỉ sự chậm phát tình yêu, sự phát huy có
chừng mực của sinh lý, đồng thời cũng có nghĩa cô độc trước tình
yêu. Lộc Tồn là người kén yêu, khó khăn trong ái tình, chỉ yêu những
đối tượng chọn lọc và có nhiều tính toán trong tình ái.
Triệt, Tuần: chế khắc tính nết dâm đãng khá mạnh.
Triệt mạnh hơn Tuần mặc dù chỉ ảnh hưởng mạnh một thời gian mà
thôi. Đi với Triệt, các dâm tinh hầu như mất hết ý nghĩa, không thể
chi phối hay ảnh hưởng. Đi với Tuần, các dâm tinh vẫn còn chi phối con
người một cách tương đối vừa phải suốt đời. Tình dục gặp Tuần,
Triệt sẽ thiếu cơ hội bộc phát tự do, bị kìm tỏa trong tiềm thức,
trong tư tưởng, không biểu lộ bằng hành động. Đây là trường hợp tình
dục thiếu môi trường thuận lợi, bị ngăn trở, gặp ngang trái, bị cạnh
tranh, gặp thất bại. Mặt khác, gặp Tuần Triệt, các sao tình dục sẽ
có nghĩa là vô duyên, lỡ thì, cái duyên không có ai biết đến, không
có điều kiện để trở thành ái tình (trường hợp gái già, trai muộn).
TÌM HIỂU VẤN ĐỀ ĐA THÊ QUA TỬ VI
Tục ngữ có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay” để nói lên bản tính ghen
tuông cố hữu của giới phụ nữ có chồng. Và khổ một nỗi là các đấng lang quân đều
có tâm hồn lả lướt, không nhiều thì ít, cứ luôn đề cao “trai anh hùng năm thê
bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có 1 chồng” để tự bào chữa, khiến cho các bà vợ
lúc nào cũng nghi ngờ và theo dõi chồng. Thậm chí khoa Tử Vi cũng được các bà
chiếu cố tận tình để tìm hiểu tâm hồn thầm kín của chồng.
Vì vậy tôi xin dành trọn bài hôm nay để bàn về “đa thê” thực sự
ngõ hầu giúp được phần nào các bà biết Tử Vi đang thắc mắc về người bạn đời của
mình. Nhưng tôi cũng xin nói trước với quý bà là đừng quá câu nệ tử vi (do bất
cứ ai giải đoán) để đến nỗi “chén đĩa bay” 1 cách oan uổng thì lại còn tệ hại
hơn, vì những điều giải đoán tử vi không bao giờ có thể hoàn toàn chính xác,
nhất là khi người sử dụng không biết nắm vững.
Tôi xin tạm chia bài ra làm 2 phần:
MÔI TRƯỜNG TỬ VI THUẬN LỢI CHO ĐA THÊ
Tôi buộc lòng phải nêu ra 1 cách tương đối như vậy vì e rằng các
bà áp dụng quá máy móc, đâm ra tai hại, nghĩa là tôi chỉ muốn nói rằng, nếu đàn
ông nằm trong 1 trường hợp nào đó dưới đây có thể vướng vào vòng đa thê chứ
không phải chắc chắn, vì có nhiều yếu tố linh động gia giảm mức ứng nghiệm đi.
Tôi xin lỗi quý bạn vì sự dè dặt của tôi vì vấn đề này rất phức
tạp và dễ gây hậu quả không hay.
Thông thường chúng ta có thói quen để ý đến các sao Đào, hồng,
tả Hữu, Riêu, Mộc, Cái chiếu Thê Thiếp hoặc nô bộc hay Mệnh Thân hầu tìm hiểu
về khía cạnh đa thê. Nếu chỉ có thế thực quá dễ dàng, đơn giản, chẳng cần phải
nhờ đến thầy Tử Vi, vẫn biết rằng khi cung Thê có Đào hồng, Tả Hữu cũng hay ứng
nghiệm như vậy, nhưng nhiều trường hợp không có các sao đó mà người chồng vẫn
cứ đa thê thì làm sao ta hiểu được. Vì vậy ta cần phải phân biệt môi trường tạm
gọi là “lộ” và “ẩn”.
A – MÔI TRƯỜNG LỘ
Xét về môi trường này tương đối dễ dàng, miễn là quý bạn thận
trọng kết hợp 1 số cung và sao liên hệ là có thể thấy kết luận khá rõ rệt, vì
đã gọi là “lộ” nghĩa là không có ý nghĩa ngược lại hoặc khác đi
- Ví dụ: 1 ông chồng Mệnh có Riêu, Mộc; cung Thê có Đồng âm,
Trường Sinh, Đế Vượng; cung Nô có Tả Hữu, Đào hồng, Mộ; cung Di có Hoa Cái;
cung Tài có Song Lộc thì hơi khó tránh được vấn đề đa thê. Tại sao vậy? Vì khi
Mệnh có Riêu, mộc là tâm hồn ưa nhục dục; Cung Thê có những sao liệt kê trên là
chủ về vợ mềm yếu, không áp đảo được chồng, nhất là sao Thiên Đồng thường chủ
về canh cải, có nghĩa là vợ đổi mới hoài; Cung nô có đủ bộ sao chủ về ăn chơi,
trụy lạc và được nhiều con gái thương yêu, phù hợp với Hoa Cái cư Thiên Di là
ra ngoài được long nhiều người, bất luận nam nữ, già trẻ; trong khi đó, cung
Tài song Lộc lại càng them phương tiện thu hút phái nữ cũng như bao bọc cho họ
vì tiền bạc quá sung túc, thừa thãi…tức là quá đủ cho môi trường đa thê.
- Trường hợp ông chồng Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa; cung Nô có
Hồng Loan, Riêu hỉ; cung Quan có Tả Hữu; cung Thê có Cô Quả, Không Kiếp cũng
chẳng kém gì trường hợp trên vì khi Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa thường chủ về
hào hoa phong nhã, ưa bao dung phụ nữ, bất kể người đó là con gái hay đã có
chồng. Cung Nô có hồng, Riêu, hỉ, chủ về phụ nữ dưới quyền hoặc trong giới giao
du thiếu đứng đắn và ưa sắc dục, làm gì họ không mê dáng đẹp kiêu hùng của Khôi
Việt Đào. Trong khi đó, cung Quan lại có Tả Hữu là cách sốt sắng giúp đỡ mọi
người, dễ đắc nhân tâm nên càng them sức hấp dẫn. Còn cung Thê thì dễ làm cho
chồng xa lánh vì có Cô Quả Không Kiếp. Như thế tưởng cũng đã quá đủ yếu tố
thuận lợi cho con người đa thê
Vì mục “lộ” này khá dễ dàng nên tôi chỉ cần nêu ra 2 ví dụ và
chắc quý bạn có thể suy luận ra các trường hợp khác. Nghĩa là cứ thấy các cung
và sao lien hệ hoàn toàn bổ túc cho nhau chứ không tương phản hoặc trái ngược
nhau là dễ kết luận dứt khoát.
B – MÔI TRƯỜNG ẨN
Khía cạnh này có thể nói là rất khó tìm ra vì cần xét cả yếu tố
tâm lý. Nếu quý bạn chỉ xem phớt qua thì thế nào cũng lầm. Tôi cũng đã có lần
chỉ muốn vứt bỏ Tử Vi vì không sao tìm hiểu được khía cạnh đa thê “ẩn”. Nay tôi
xin nêu ra những ví dụ để quý bạn hiểu rõ, chứ không thể nào đưa ra 1 phương
thức tổng quát để giải đoán vì khía cạnh này rất uyển chuyển.
- Tôi có được coi lá số 1 ông chồng Mệnh rất đứng đắn, vắng bóng
hẳn các sao Đào, Riêu, mộc, Cái, Tham Lang; cung Thê cũng chứng tỏ là cô vợ
đoan trang, nết hạnh, hiền thục và còn xinh đẹp nữa (vì có Long Phượng, Khoa,
Quan, Phúc, Tứ Đức…); rồi cung Quan và Tài cho thấy đương số có chức phận và
tiền bạc; duy chỉ còn cung Nô là có Tả Hữu, hóa Quyền, Xương Khúc, Thai Tọa,
Khôi Việt – nghĩa là chưa có đủ yếu tố để đoán là đương số đa thê. Nhưng trên
thực tế, đương số lại có 3 vợ mới khổ chứ. Chính vì trường hợp này mà tôi nản
chí nghiên cứu Tử vi. Nhưng cũng chính nhờ trường hợp này mà tôi đã tiếp tục
hăng say, miệt mài với lý số khi đã được 1 cao thủ Tử Vi chỉ dẫn cách đây nhiều
năm. Thực thế, lá số trên không phải là sai trật, chỉ vì tôi đã bỏ qua 1 cung
rất quan trọng, đó là cung Tử tức. Cung này có Đẩu Quân, Cô Quả, Kình Đà cho
thấy là đương số rất hiếm con. Do đó, tuy là con người đứng đắn và biết yêu
thương vợ đoan trang, nhưng đương số vì quá ham muốn có con, bất luận trai gái
nên đã đành phải lấy them người con gái khác sau khi được sự thỏa thuận thực
tình của người vợ. Tuy nhiên, khổ 1 nỗi là với bà thứ 2 cũng chả có đứa con nào
nên đương số lại kết hôn không chính thức với 1 bà thứ 3, và bà này sinh được 1
đứa con gái. Từ đó đương số sống với cả 3 bà 1 cách thuận thảo…nếu suy nghĩ kỹ
và lý luận, các bạn thấy rằng nhờ cung Thê thuần hậu, biết điều nên đương số
mới tiện lấy vợ bé, và nhất là cung Nô quá tốt nên mới đem lại nguồn vui cho
đương số, vì hóa Quyền trong trường hợp này không còn có nghĩa là vợ bé áp đảo,
bắt nạt vợ cả mà thực ra chỉ chủ về uy tín (vì đã sinh được người con), huống
chi lại có Khôi, Việt, Thai, Tọa, Xương Khúc chủ về người có tư cách, thông
minh thì làm gì không biết cách làm vừa long vợ cả. Nói tóm lại, đầu dây mối
nhợ là do cung Tử hiếm, rồi mới nhờ đến cung nô, nhưng cũng phải xét đến cung
Tài và Quan, chứng tỏ là đương số phải đủy cả quyền quý nên mới nghĩ nhiều đến
con cái nối dõi, và mới đủ khả năng bao bọc nhiều vợ, chứ nghèo nàn làm sao
thực hiện được ý muốn của mình
- Một trường hợp khác về đa thê rất lờ mờ mà tôi đã được coi
cũng bắt nguồn từ cung Tử tức, nhưng lại không phải là hiếm con mà trái lại rất
nhiều (chắc bây giờ phải có tới trên 10 người con) vì có Tả Hữu hội Trường
Sinh, Đế Vượng (nguyên Tả Hữu cũng chủ về nhiều con, đó là cách “trập trập ưu
trung tư” theo câu phú). Nếu không nhờ có sao Phục binh hội Đào hoa, Tướng Quân
và Thai thì có lẽ không thể biết là đương số đa thê vì những sao trên thường
chủ về có con riêng, con rơi, tức là khó có 1 vợ được, nhất là khi cung Thê
không chứng tỏ là người vợ thường gần gũi chồng vì có Lộc Tồn hội Cô Quả, Đẩu
Quân, khiến cho người chồng hướng về người khác. Trong trường hợp này không cần
phải có cung Nô có yếu tố phù hợp mạnh mẽ vì cung Tử lại đóng vai trò chính
yếu. tuy nhiên, có 1 điểm khác với trường hợp trên là các người vợ nhỏ khó sống
chung được với vợ cả vì dù sao cung Thê cũng có uy lực mạnh hơn và có óc cố
chấp (cô Quả) khiến cho khó dung hòa được với cung Nô. Hơn nữa, cung Tử tức
cũng chỉ chứng tỏ có sự lén lút, vụng trộm nên mới có con riêng, con rơi…Vì
vậy, bề ngoài ta rất khó nhận thấy đương số có nhiều vợ, nhất là khi Mệnh của
đương số là những sao đứng đắn, tư cách. Sở dĩ đương số ham nhục dục nhiều là
vì cung ách có Riêu, mộc, cái hội Tham Lang tức là sự ham muốn rất kín đáo,
tiềm tang mà chỉ đương số mới nhận biết
MÔI TRƯỜNG TRỞ NGẠI CHO ĐA THÊ
A - MÔI TRƯỜNG TUYỆT ĐỐI
Trong phần này, tôi đề cập đến trường hợp rõ ràng không thể đa
thê được, nghĩa là khi ta thấy cung Mệnh và Thân chỉ có những sao đứng đắn hoặc
cô đơn, lạnh lùng; Cung Thê chứng tỏ vợ chồng thuận hòa, khắng khít; Cung Nô
không thuận lợi cho việc giao du với phụ nữ hoặc ít ra không chứng tỏ họ lãng
mạn,m đa tình hay trội hơn cung Thê, và sau hết (nếu có càng chắc), cung Tử Tức
không có gì khả nghi về 2 dòng con hoặc quá hiếm hoi
Ví dụ: Nếu Mệnh có Lộc Tồn, Vũ khúc, Thân có Thiên Phủ hội Cô
Quả chủ về đứng đắn, trung hậu, thích thanh tịnh; Cung Thê có Long Phương,
Khoa, Thai Tọa, Quang Quý chủ về hạnh phúc lứa đôi bền vững, khắng khít; Cung
Nô có Quan Phúc, bộ Tứ Đức…chứng tỏ phụ nữ giao thiệp với mình, nếu có đều biết
luân thường đạo lý, đoan trang nết hạnh, không ưa chuyện cướp chồng người, thì
làm sao ta dám nghĩ rằng đương số có vợ nọ, con kia. Nếu lại được them cung Tử
hội các soa Khôi Việt, Khoa, Quyền, Sinh Vượng…chủ về con cái đầy đàn và thành
đạt khiến cho gia đình them đầm ấm, lại còn chắc ăn hơn nữa.
B – MÔI TRƯỜNG TƯƠNG ĐỐI
Nói đến tương đối có nghĩa là các cung và sao liên hệ vấn đề trở
ngại không thuần nhất. Ví dụ được cung Mệnh đứng đắn cô đơn nhưng cung Nô lại
quá lả lướt….hoặc được cung Thê chứng tỏ vợ chồng thương yêu nhau nhưng cung
Mệnh lại biểu lộ sự đam mê nhục dục, ăn chơi trụy lạc…Gặp trường hợp như thế,
ta cần xét kỹ càng tới những yếu tố chế hóa mà tôi xin trình bày qua những ví
dụ sau:
- Tôi đề cập ngay tới yếu tố đa thê mạnh nhất là Đào hồng, tả
Hữu chiếu Thê để quý bạn thấy, để chế hóa nó ta cần phải có những khía cạnh
nào. Trong trường hợp này, chỉ cần phải có cung Mệnh và Thân hội nhiều sao cô
đơn, đứng đắn, khắc kỷ như Vũ Khúc, Lộc Tồn, Cô Quả, Khoa, Khôi việt, Quan
Phúc, Thai Tọa và cung Tử Tức không có gì khả nghi về khả năng có 2 dòng con là
đủ mức tin tưởng đương số không đa thê, dù cho cung Nô có những yếu tố chứng tỏ
sự ăn chơi chăng nữa. Vì khi Mệnh và Thân là vai trò chủ chốt không có khuynh
hướng 5 thê 7 thiếp thì các sao Đào hoa, Tả Hữu sẽ chuyển hướng hết. Lúc đó ta
có thể ước đoán là đương số khó lây vợ, cứ mai mối hết đám này tới đám khác (Tả
Hữu) và đám nào cũng xinh đẹp (Đào hồng), nhưng khi lấy được vợ rồi thì chính
mình dễ bị cắm sừng vì Đào hồng lại ứng vào vợ bay bướm. Do đó, bà nào thấy
chồng mình có trường hợp như trên, đừng bao giờ nghi ngờ chồng mà trái lại tự
kiểm điểm tâm hồn mình xem có lệch lạc không?
- Ngoài thành kiến về Đào hồng, Tả Hữu chiếu Thê trên đây, đa số
những người mới biết xem Tử vi cũng hay nghi ngờ những ông Mệnh có Đào hoa,
Riêu, Hỉ và cung Nô có Tham Lang, hồng Loan, Mộ hoặc ngược lại, cho rằng họ rất
dễ đa thê. Thật ra trường hợp trên dễ bị vô hiệu hóa vì chỉ cần cung Thê có bản
lĩnh chi phối được người chồng là đủ (ví dụ như có Hóa Quyền, Tướng Ấn, Khoa
Lộc; Lộc Tồn hội Liêm Phủ…) Khi đó ông chồng chỉ dám vui chơi trong khoảnh khắc
như đi phòng trà, khiêu vũ…chứ đâu có liều mạng ăn ở với phụ nữ khác trước
người vợ quyền uy của mình. Và có khi ngay cả vấn đề vui chơi chồng cũng phải
lén lút và giới hạn nữa. Trường hợp cung Thê không đủ áp đảo ông chồng thì cần
phải có các sao thuần hậu như Quang Quý, Long Phương, Quan Phúc, Khôi việt …để
thu hút người chồng. Ngoài ra cần phải có them những đại hạn liên hệ hỗ trợ
mạnh mẽ, nghĩa là không có các sao tạo môi trường thuận lợi cho việc ăn chơi
hoặc tình yêu nồng nàn (ví dụ như Cô Quả, Thái Tuế, Đẩu Quân, Tang Hổ, khốc
Hư). Nếu chỉ có 1 đại hạn hỗ trợ thì chưa đủ vì có người luống tuổi rồi mới đèo
bồng vợ nhỏ, nghĩa là cần có sự trở ngại cho giai đoạn từ 30-60….thì mới yên 1
bề vì í tai có vợ nhỏ trước 30 và sau 60, trừ 1 vài trường hợp cá biệt.
Qua những điều trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy rằng quyết
đoán 1 người đàn ông đa thê rất phức tạp, hấp tấp 1 chút là sai lạc dễ dàng và
còn tai hại cho hạnh phúc vợ chồng. Về phần quý bà có gia đình cũng vậy, không
nên lấy Tử Vi làm cứu cánh để nghi ngờ hoặc quá itn tưởng chồng mà đâm ra tự
mình phá vỡ hạnh phúc gia đình
(Theo tạp chí Khoa Học
Huyền Bí)
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc
bài thơ HƯ VÔ:
Mai Sơn giới thiệu
Tác giả: Phong Nguyên - Nguồn: Facebook
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét