NGUYỄN AN NINH: DÙNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NƯỚC PHÁP ĐỂ CHẤT VẤN NƯỚC PHÁP - Tác giả: Phạm Văn Ba ; Trần Triệu Long giới thiệu

Leave a Comment

 

                  (Nhà văn hóa Nguyễn An Ninh)


NGUYỄN AN NINH: DÙNG

NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NƯỚC PHÁP

ĐỂ CHẤT VẤN NƯỚC PHÁP

 

(Tác giả Phạm Văn Ba)

Ngày 15/9/1900, Nguyễn An Ninh ra đời tại quê ngoại ở làng Long Thượng, Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, nay thuộc xã Phước Lý, tỉnh Tây Ninh.

Ông chỉ sống 43 năm, mất tại Côn Đảo năm 1943, nhưng cuộc đời ngắn ngủi ấy đi qua gần như tất cả những dòng tư tưởng đang lay động Việt Nam đầu thế kỷ XX: dân chủ, chủ nghĩa dân tộc, tư tưởng khai sáng Pháp, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx, tôn giáo và phong trào giải phóng thuộc địa.

Ở Nguyễn An Ninh có một nghịch lý rất đáng suy nghĩ.

Ông học ở Pháp, học luật tại Paris, đọc Rousseau và các nhà tư tưởng phương Tây, viết báo bằng tiếng Pháp, sử dụng những khái niệm tự do, bình đẳng, dân chủ mà chính nền giáo dục Pháp truyền bá. Nhưng cũng chính bằng những công cụ ấy, ông trở thành một trong những người phê phán mạnh mẽ chế độ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ.

Nghịch lý ấy thực ra không phải là mâu thuẫn. Nguyễn An Ninh không chống “nước Pháp” bằng cách phủ định nước Pháp. Ông phân biệt nước Pháp của Rousseau, của tư tưởng Khai sáng, của Cách mạng 1789 và những lý tưởng tự do-bình đẳng-bác ái với nước Pháp của bộ máy thuộc địa ở Đông Dương. Và ông làm một việc đặc biệt sắc sảo, đó là dùng chính những giá trị mà nền Cộng hòa Pháp tuyên xưng để chỉ ra sự phản bội những giá trị ấy của chế độ thuộc địa.

Nếu tự do là quyền phổ quát của con người, tại sao người Việt Nam không được tự do? Nếu bình đẳng là một nguyên tắc của nền Cộng hòa, tại sao ở thuộc địa lại tồn tại một trật tự phân biệt giữa người cai trị và người bị trị?

Trong một bức thư gửi nhà văn Pháp Léon Werth (1878-1955). Nguyễn An Ninh từng viết một câu gần như cô đọng toàn bộ thái độ ấy: “Sự áp bức đến với chúng ta từ nước Pháp, nhưng tinh thần giải phóng cũng vậy.”(L’oppression nous vient de France, mais l’esprit de libération aussi).

Dùng những giá trị của nước Pháp để chất vấn nước Pháp

Nguyễn An Ninh sang Pháp học luật khi còn rất trẻ. Điều quan trọng ông mang về không chỉ là kiến thức pháp luật hay một tấm bằng đại học, mà còn là một cách nhìn khác về con người và xã hội.

Nếu quyền tự do là của con người chứ không phải ân huệ của nhà cầm quyền, nếu mọi công dân phải bình đẳng trước pháp luật, nếu quyền lực nhà nước phải chịu sự giới hạn của pháp luật, thì những nguyên tắc ấy không thể chỉ đúng ở Paris mà mất hiệu lực khi sang tới Sài Gòn.

Nguyễn An Ninh không phủ nhận văn hóa Pháp chỉ vì nước Pháp đang thống trị Việt Nam. Ông làm một việc khó hơn: tiếp nhận những giá trị tiến bộ của chính nền văn hóa ấy để phê phán chủ nghĩa thực dân. Đó là một lựa chọn trí thức đáng chú ý.

Chống lại sự thống trị của một quốc gia không nhất thiết phải phủ nhận mọi giá trị đến từ quốc gia ấy. Người bị trị thậm chí có thể lấy chính những nguyên tắc mà kẻ thống trị tuyên bố để chất vấn họ.

Một tờ báo tiếng Pháp chống chế độ thuộc địa Pháp

Ngày 10/12/1923, tại Sài Gòn, Nguyễn An Ninh cho ra số đầu tiên của La Cloche Fêlée-Tiếng chuông rè. Tên tờ báo gợi từ bài thơ La Cloche fêlée của Charles Baudelaire. Nhưng có một chi tiết còn thú vị hơn tên gọi ấy. Đó là ngay trên tờ báo có dòng: Organe de propagande des idées françaises (Cơ quan truyền bá những tư tưởng Pháp).

Một tờ báo do một trí thức Việt Nam sáng lập, viết bằng tiếng Pháp, công khai đối lập với chính quyền thuộc địa Pháp, lại tuyên bố mình truyền bá “những tư tưởng Pháp”.

Thoạt nhìn, đó gần như là một nghịch lý. Nhưng “những tư tưởng Pháp” mà Nguyễn An Ninh muốn nói tới không phải tư tưởng của những viên chức thuộc địa. Đó là tinh thần Khai sáng, những quyền tự do dân chủ và các giá trị mà nền Cộng hòa Pháp tuyên bố bảo vệ.

Bởi vậy, La Cloche Fêlée đặt chính quyền thuộc địa trước một câu hỏi rất khó né tránh: nếu nước Pháp thực sự tin vào những giá trị ấy, tại sao người Việt Nam lại không được hưởng chúng?

Tiếng Pháp vì thế mang một thân phận đặc biệt. Nó là ngôn ngữ của chính quyền thuộc địa, nhưng đồng thời trở thành ngôn ngữ để chống lại chính quyền thuộc địa.

Người Pháp đem tiếng Pháp đến Đông Dương như một phần của hệ thống cai trị. Nguyễn An Ninh chiếm lĩnh chính ngôn ngữ ấy và biến nó thành phương tiện phản biện quyền lực.

Rousseau đi vào đời sống chính trị Việt Nam

Một ảnh hưởng quan trọng đối với Nguyễn An Ninh là Jean-Jacques Rousseau, đặc biệt là Du contrat social (Khế ước xã hội), tác phẩm mà ông đã dịch sang tiếng Việt.

Đây không đơn thuần là chuyện dịch một cuốn sách triết học mà Rousseau đặt ra một câu hỏi căn bản: quyền lực chính trị từ đâu mà có?

Nếu quyền lực không phải đặc quyền tự nhiên của vua chúa hay người cai trị mà phải dựa trên cộng đồng những con người tự do, thì khi tư tưởng ấy bước vào một xã hội thuộc địa, nó lập tức nảy sinh một câu hỏi khác: Người Việt Nam có quyền quyết định vận mệnh của mình hay không?

Một tác phẩm triết học châu Âu, khi bước sang tiếng Việt, vì thế có thể mang ý nghĩa chính trị mà chính bộ máy thuộc địa không mong muốn.

Đó cũng là một nghịch lý của nền giáo dục thuộc địa. Người ta có thể mở trường để đào tạo một tầng lớp phục vụ bộ máy cai trị, nhưng không thể hoàn toàn kiểm soát những gì xảy ra khi con người bắt đầu đọc, so sánh và tự suy nghĩ.

Một dân tộc muốn tự do phải có khả năng tự suy nghĩ

Ngày 15/10/1923, tại Hội Khuyến học Nam Kỳ ở Sài Gòn, Nguyễn An Ninh diễn thuyết bằng tiếng Pháp về lý tưởng của thanh niên An Nam. Bài diễn thuyết sau được đăng trên La Cloche Fêlée và về sau được chính ông chuyển sang tiếng Việt có tiêu đề “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam”.

Ông không muốn thanh niên chỉ học để lấy bằng, tìm một chức việc rồi yên ổn trong trật tự thuộc địa. Ông đòi hỏi ở họ một “cao vọng” lớn hơn: mở rộng trí tuệ, vượt khỏi những khuôn mẫu cũ, tiếp xúc với thế giới và xây dựng một nền tri thức của chính dân tộc mình.

Trong bài diễn thuyết ấy có một ý đặc biệt đáng chú ý: một nước dù có được tự chủ mà vẫn phải hoàn toàn nhờ vào học thức của nước khác thì cũng chưa thể thật sự tự do. Như vậy, tự do đối với Nguyễn An Ninh không chỉ là giành lại quyền lực chính trị.

Một dân tộc muốn thực sự tự do còn phải có khả năng tự suy nghĩ. Đây có lẽ là một trong những phần sâu nhất trong tư tưởng của ông. Ông không chỉ muốn giải phóng đất nước khỏi sự thống trị bên ngoài, mà còn muốn giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc trong đầu óc.

Bởi thế ông phê phán lối học từ chương, tâm lý trọng bằng cấp, địa vị và những khuôn phép khiến cá nhân không dám vượt ra ngoài cái đã có. Ông đề cao việc đi, đọc, học hỏi thế giới, nhưng mục đích cuối cùng không phải để trở thành bản sao của phương Tây. Học thế giới là để có khả năng đứng bằng đôi chân của mình.

Một thế hệ chiếm lĩnh ngôn ngữ của người cai trị

Nhìn Nguyễn An Ninh một mình sẽ chưa thấy hết ý nghĩa của hiện tượng này. Hãy đặt ông cạnh Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền. Họ khác nhau về tuổi tác, con đường tư tưởng và sau này có những lựa chọn chính trị không giống nhau. Nhưng trong những thập niên đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong môi trường Paris, họ gặp nhau ở một điểm rất đáng chú ý: sử dụng chính tiếng Pháp và không gian công luận của nước Pháp để nói về quyền của người Việt Nam.

Phan Châu Trinh dùng những tư tưởng dân chủ để phê phán cả chế độ thuộc địa lẫn nền quân chủ cũ.

Phan Văn Trường sử dụng kiến thức luật học và báo chí Pháp ngữ để chỉ ra những mâu thuẫn của chế độ thuộc địa.

Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, từ báo Le Paria (Người cùng khổ) đến Le Procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp), đưa lời tố cáo chủ nghĩa thực dân vào chính không gian công luận của nước Pháp.

Nguyễn Thế Truyền cũng hoạt động mạnh trong báo chí Pháp ngữ và phong trào chống thuộc địa.

Nguyễn An Ninh đem dòng tư tưởng ấy trở về Sài Gòn, đưa nó vào báo chí, diễn thuyết và đời sống chính trị Nam Kỳ. Ở đây đã diễn ra một sự đảo chiều rất đáng chú ý. Ngôn ngữ vốn được đưa tới thuộc địa như một phương tiện của quyền lực đã được những người bị trị chiếm lĩnh và biến thành phương tiện phản biện quyền lực. Tiếng Pháp không còn chỉ là tiếng nói từ chính quốc truyền xuống thuộc địa mà nó bắt đầu trở thành tiếng nói từ thuộc địa vọng ngược về chính quốc.

Không chỉ giành quyền nói, mà giành quyền định nghĩa

Có lẽ đây là điểm làm Nguyễn An Ninh vẫn đáng đọc sau hơn một thế kỷ. Cuộc đấu tranh của ông không chỉ nhằm giành quyền phát biểu trong một hệ thống do người khác thiết lập. Sâu hơn, đó còn là cuộc đấu tranh giành lại quyền định nghĩa những khái niệm mà chế độ thuộc địa thường tự nhận về mình: Thế nào là văn minh? Thế nào là tự do? Ai có quyền nói về dân chủ? Một chính quyền có thể tự nhận mình mang “văn minh” đến cho một dân tộc khác nếu đồng thời tước bỏ quyền tự do của dân tộc ấy hay không?

Nguyễn An Ninh không chấp nhận để những khái niệm ấy thuộc độc quyền của người cai trị. Ông lấy chúng ra khỏi diễn ngôn thuộc địa và trả lại cho ý nghĩa phổ quát của chúng. Bởi vì nếu tự do chỉ dành cho người Pháp mà không dành cho người Việt, thì nó không còn là tự do phổ quát.

Nếu bình đẳng dừng lại ở biên giới thuộc địa, thì nó không còn là bình đẳng. Và nếu văn minh cần đến sự phục tùng của một dân tộc khác, thì chính khái niệm văn minh ấy cần phải được xem xét lại.

Học từ thế giới mà không đánh mất mình

Nguyễn An Ninh không lựa chọn giữa hai cực: đóng cửa để bảo vệ truyền thống hoặc Tây hóa để trở thành bản sao của phương Tây. Ông muốn người Việt Nam bước ra thế giới, tiếp nhận những thành tựu tư tưởng của nhân loại, nhưng cuối cùng phải xây dựng được đời sống tinh thần và nền tri thức của chính mình.

Bởi vậy, có thể nhìn hành trình của ông qua một chuỗi tưởng như nghịch lý: Học luật Pháp để chất vấn chế độ thuộc địa Pháp. Đọc Rousseau rồi đưa Rousseau đến với người đọc Việt Nam. Làm báo bằng tiếng Pháp để chống lại sự thống trị của thực dân Pháp. Tiếp nhận tư tưởng phương Tây để tìm con đường tự chủ cho người Việt Nam. Nhưng sâu xa hơn, Nguyễn An Ninh cho thấy một điều khác: Tiếp nhận văn hóa không đồng nghĩa với phục tùng văn hóa. Học ngôn ngữ của một nền văn minh không có nghĩa là trao cho nền văn minh ấy quyền suy nghĩ thay mình.

Một dân tộc trưởng thành không phải là dân tộc từ chối những gì đến từ bên ngoài. Đó là dân tộc đủ bản lĩnh tiếp nhận, lựa chọn, tranh luận và biến tri thức của thế giới thành tri thức của chính mình.

Chính vì thế, Nguyễn An Ninh không phải là câu chuyện giản đơn về một trí thức “Tây học chống Pháp”. Trường hợp của ông cho thấy một hiện tượng sâu sắc hơn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX: người bị trị không chỉ chống lại quyền lực của người cai trị; họ còn chiếm lĩnh ngôn ngữ, luật pháp và những giá trị tư tưởng của chính người cai trị để buộc quyền lực ấy phải đối diện với những mâu thuẫn của mình.

Hơn một thế kỷ sau, câu chuyện Nguyễn An Ninh vì thế vẫn chưa cũ. Ông không chỉ dùng tiếng Pháp để chống chủ nghĩa thực dân Pháp mà ông còn cùng một thế hệ trí thức Việt Nam đã làm một việc quan trọng hơn, đó là biến ngôn ngữ của người cai trị thành ngôn ngữ của người phản biện, rồi từ đó giành lại quyền tự mình nói về tự do, văn minh và tương lai của dân tộc mình.

-------------

Nguồn:https://www.facebook.com/ba.phamvan.1612/posts/pfbid02RfBKvA7miiZXuk2gWCb2MfZ8xBBwqJkNYBBtKq15sVpbAs4ZaxkyH9YUMUm2GBskl

 

 

 

 

Trần Triệu Long giới thiệu

Tác giả: Phạm Văn Ba - Nguồn: Facebook

Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet

Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.

0 comments:

Đăng nhận xét