BỆNH MÙ MÀU
CỦA NHỮNG CUỘC THI
Không biết đến bao giờ mới có thuốc chữa bệnh mù màu. Cuộc thi
“kể chuyện thời bao cấp” diễn ra thiệt là sôi nổi. Vẫn là những ngôn từ hoa mỹ,
vẫn là tư duy “nhân văn” lệch lạc kiểu nhà văn Phan Thúy Hà, chị “nhấm rượu”
Nguyễn Thị Lan Quy.
Tôi vừa đọc được một bài dự thi của tác giả Trần Thanh Hương (Hương
Trần), nhan đề NHỮNG KẺ ĐỢI CHỜ TRONG BÓNG TỐI, nhưng cảm thấy chắc chắn các
câu chuyện khác, những nội dung khác cũng sẽ tương tự mà thôi. Họ “ghi chép lại”, nói là nghe ông bà cha mẹ
kể lại một thời đói khát, bệnh tật, tăm tối không lối thoát và ra vẻ ngậm ngùi,
đau xót. Nào là: “vết thương không thể
khâu lại” “những năm tháng khó khăn
nhất”, “cảm thấy như mình đang chạm
vào một phần ký ức không thuộc về mình, nhưng vẫn khiến tim mình nhói lên”
(Hương Trần)
Những cảm xúc ấy cũng tạm ổn, trước những đau buồn, mất mát ai
mà không “nhói tim” cho được! Và mô
típ không thể thiếu trong văn chương “xã nghĩa” là lồng ghép cái “vết thương chiến tranh”, vờ bảo là không
biết, không phải đào khoét nó, (chắc là cho nó “mặn”, để được điểm cộng
chăng?):
“Có một người đàn ông
thường đứng cuối hàng. Anh ấy cụt một tay. Anh ấy là người duy nhất tôi thấy
cười vào buổi sáng. Nụ cười méo mó, như thể đã quên mất cách cười từ lâu. Một
lần, tôi thấy anh ấy nhìn chằm chằm vào vòi nước rất lâu. Lâu đến mức người
phía sau phải nhắc: "Đến lượt anh rồi". Anh giật mình, xoay người
bằng một tay, bê thùng nước lên. Tôi thấy chiếc áo anh ấy rách ở vai, để lộ một
mảng sẹo bỏng – di tích của trận bom nào đó, tôi không biết”! (Trần Thanh
Hương)
Mọi người có thấy quen quen không? Giặc nào? Chiến trường ở đâu?
… Thôi thì cũng là thời bao cấp, kệ đi! Chỉ đến khoảnh khắc quan trọng nhất,
khi tác giả “băng qua giao lộ đang bật
đèn xanh” thì mới biết cô ta MÙ MÀU!
Trời ạ, hoá ra cô ấy kể lại không phải để rút kinh nghiệm không
giẫm lên vết xe đổ mà để TRI ÂN thời bao cấp!:
“Bởi vì tôi tin rằng, để
hiểu và trân trọng những gì mình đang có, đôi khi cần phải dám nhìn thẳng vào
những gì đã mất. Không phải để sợ hãi, không phải để oán trách, mà để biết ơn –
một cách lặng lẽ và sâu sắc nhất.
[…]
Xin cảm ơn bà, cảm ơn
mẹ, và cảm ơn tất cả những "kẻ đợi chờ trong bóng tối" năm xưa –
những người đã đứng đó, lặng lẽ và kiên nhẫn, để hôm nay tôi được viết những
dòng này dưới ánh đèn, bên cạnh vòi nước chảy đầy.” (Trần Thanh Hương)
Ngôn từ hoa mỹ, tư duy cũ mòn, sáo rỗng. Trần Thanh Hương có lẽ
không hiểu thế hệ ông bà cha mẹ cô ấy không phải là “đợi chờ trong bóng tối” đâu, là u uất nhục nhằn cam chịu! Cái đói
khổ thiếu cơm ăn áo mặc, bệnh tật thiếu thuốc chữa là do đâu, vì ai chắc cô ấy
cũng không biết nên mới thành kính tri ân như vậy. Nhờ đâu cô ấy “được viết những dòng này dưới ánh đèn, bên
cạnh vòi nước chảy đầy.” cô ấy cũng không hiểu được sâu xa.
Cô ấy nói “Tôi không hỏi.
Không ai hỏi. Ở cái thời ấy, hỏi chuyện người khác là mở một vết thương không
thể khâu lại” (Trần Thanh Hương)
Rồi cũng chính cô ấy kết luận: “Có những thứ không bao giờ khô. Không phải vì chúng còn ướt, mà vì
chúng thấm quá sâu. Vào đất. Vào da thịt. Vào từng thế hệ.” (Trần Thanh
Hương)
Ủa, không hỏi, không nói, không muốn khơi dậy hận thù, không oán
trách… Vậy thi nhau kể lại làm chi?
*.
Tác giả Minh Nhiên
-------------------
Bài dự thi của Trần
Thanh Hương
Những dòng này tôi viết cho thế hệ tôi – những người sinh ra khi
đất nước đã qua những năm tháng khó khăn nhất, chỉ còn nghe kể lại qua lời ông
bà, cha mẹ.
Tôi chưa từng sống trong thời bao cấp. Nhưng tôi đã ngồi hàng
giờ nghe bà kể chuyện xếp hàng lấy nước lúc bốn giờ sáng. Tôi đã nhìn thấy mắt
mẹ đỏ hoe khi nhắc về những đứa trẻ cùng trang lứa không kịp lớn. Tôi đã chạm
tay vào những chiếc can nhựa cũ, những vết gỉ trên vòi nước, và cảm thấy như
mình đang chạm vào một phần ký ức không thuộc về mình, nhưng vẫn khiến tim mình
nhói lên.
Có những chi tiết trong bài này có thể khiến người đọc khó chịu,
thậm chí giật mình. Một chiếc chiếu cuộn trước cửa nhà. Một đứa trẻ mất đi mà
vòi nước vẫn nhỏ giọt. Một người lính trở về với cánh tay cụt và ánh mắt nhìn
xuyên qua mọi thứ.
Tôi xin phép được giữ lại tất cả.
Bởi vì tôi tin rằng, để hiểu và trân trọng những gì mình đang
có, đôi khi cần phải dám nhìn thẳng vào những gì đã mất. Không phải để sợ hãi,
không phải để oán trách, mà để biết ơn – một cách lặng lẽ và sâu sắc nhất.
Xin cảm ơn bà, cảm ơn mẹ, và cảm ơn tất cả những "kẻ đợi
chờ trong bóng tối" năm xưa – những người đã đứng đó, lặng lẽ và kiên
nhẫn, để hôm nay tôi được viết những dòng này dưới ánh đèn, bên cạnh vòi nước
chảy đầy.
---
Hải Phòng, 2026
---
NHỮNG KẺ ĐỢI CHỜ TRONG BÓNG TỐI
Hôm nay, tôi cầm chiếc can nhựa cũ lên. Nó nhẹ hẫng. Nhẹ như
linh hồn một đứa trẻ tôi từng thấy chết năm ấy.
---
Bốn giờ sáng. Tiếng đồng hồ tích kê như mổ vào màng nhĩ. Bà lay
tôi dậy. Không cần nói, tôi biết mình phải làm gì. Căn phòng tối om, mùi mồ
hôi, mùi ẩm mốc, mùi của những cơ thể ngủ chung trên chiếc giường chật chội.
Tôi xỏ dép. Bụng cồn cào. Tối qua không có gì ngoài bát cháo
loãng nấu với rau lang. Đói là thứ quen thuộc như hơi thở. Nhưng đói mà đứng
xếp hàng giữa sương muối thì là một chuyện khác.
Ra khỏi nhà, hơi lạnh phả vào mặt như ai táng một cái tát. Mồm
miệng khô đắng, khạc ra thứ nước bọt quánh đặc. Tay chân run lên, không phải vì
lạnh không thôi – đã có những năm tháng, cơ thể tôi học cách chịu lạnh – mà vì
thiếu ăn. Hồi ấy, có một thứ gọi là "đói ngấu". Nó ăn vào từng thớ
thịt, từng khớp xương. Đứng lâu, mắt bắt đầu hoa, tai ù đi như có tiếng ve kêu
giữa mùa đông.
Có lần tôi ngất xỉu ngay tại hàng nước. Tỉnh dậy thấy bà đang
bón cho tôi mấy hạt đậu phộng luộc từ hôm kia. Đậu đã chua nhưng bà vẫn giữ, vì
biết tôi sẽ ngã. "Ăn đi con. Nuốt đi. Đừng nhai, nhai lại càng đói."
– bà nói, mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Bà hết nước mắt từ lâu rồi. Hàng nước
hôm ấy, không ai nhìn tôi. Họ nhìn vào khoảng không. Ai cũng có đứa con, đứa
cháu của riêng mình. Ai cũng hiểu.
---
Có một người đàn ông thường đứng cuối hàng. Anh ấy cụt một tay.
Anh ấy là người duy nhất tôi thấy cười vào buổi sáng. Nụ cười méo mó, như thể
đã quên mất cách cười từ lâu. Một lần, tôi thấy anh ấy nhìn chằm chằm vào vòi
nước rất lâu. Lâu đến mức người phía sau phải nhắc: "Đến lượt anh
rồi". Anh giật mình, xoay người bằng một tay, bê thùng nước lên. Tôi thấy
chiếc áo anh ấy rách ở vai, để lộ một mảng sẹo bỏng – di tích của trận bom nào
đó, tôi không biết.
Sau này, mẹ tôi kể: "Nhà nó ở tận Phan Rang. Giặc đốt nhà,
chết cả vợ con. Nó đi bộ ra đây, mất một cánh tay dọc đường, không biết vì mảnh
bom hay vì nhiễm trùng. Ai hỏi, nó chỉ cười." Tôi không hỏi. Không ai hỏi.
Ở cái thời ấy, hỏi chuyện người khác là mở một vết thương không thể khâu lại.
Có những buổi sáng, tôi thấy anh ấy đứng nhìn vòi nước, nhưng tôi biết anh ấy
không nhìn vòi nước. Anh ấy nhìn xuyên qua nó, về một nơi nào đó. Một ngôi nhà
đã cháy. Một khuôn mặt đã mất. Một cánh tay đã rời khỏi thân thể từ lâu.
---
Mùa đông năm ấy, lũ trẻ trong khu tập thể chết như ngả rạ. Kiết
lỵ. Nguồn nước ô nhiễm, nhưng không ai dám nói. Nói để làm gì? Vòi nước duy
nhất là ở đó. Không lấy thì chết khát. Lấy thì... cũng chết dần.
Thằng Hùng nhà cuối dãy. Nó bằng tuổi tôi. Hai đứa thường đứng
cạnh nhau xếp hàng, kể chuyện cổ tích cho nhau nghe để đỡ buồn ngủ. Mẹ nó bảo
nó bị kiết. Ba ngày sau, nghe tiếng khóc. Tiếng khóc không phải kiểu khóc to,
mà là tiếng khóc rít lên trong cổ họng, như con thú bị thương. Sáng hôm sau,
hàng nước vẫn đông. Có người đi ngang qua nhà nó, thấy chiếc chiếu cuộn tròn
trước cửa. Họ lặng lẽ bước qua.
Vòi nước vẫn nhỏ giọt. Tích... tích... tích... không nhanh hơn,
không chậm lại. Như thể thằng Hùng chưa từng tồn tại.
---
Rồi một buổi sáng, hàng nước tan tác. Có tiếng la hét từ đầu
ngõ. Mọi người ngoái lại. Một người đàn ông được khiêng ngang trên tấm phản,
mặt đắp vải trắng. Đói. Đơn giản chỉ là đói. Ông ấy nhịn ăn mấy ngày liền để
dành cơm cho con, rồi không qua khỏi.
Đám tang đi ngang qua chỗ chúng tôi xếp hàng. Bốn người khiêng,
bước chân nặng nhọc trên mặt đường đất. Tôi nhìn tấm vải trắng phủ trên mặt
người chết, thấy nó phập phồng theo nhịp bước, như thể người ấy vẫn còn thở.
Không ai bảo ai, cả hàng nước lặng lẽ xê ra, nhường lối. Vòi nước vẫn nhỏ giọt
sau lưng. Nhỏ giọt. Nhỏ giọt.
Tôi đứng đó, tay xách thùng chưa đầy, nhìn đám tang đi xa dần.
Và tôi chợt nghĩ: một ngày nào đó, người ta sẽ khiêng tôi đi ngang qua một hàng
nước nào đó. Những người đang xếp hàng sẽ nhìn tôi một lúc rồi quay lại với cái
vòi của họ. Nước vẫn phải lấy. Cơm vẫn phải nấu. Trẻ con vẫn phải sống – nếu có
thể.
---
Người đàn bà khóc. Chị ấy ngồi bệt xuống đất giữa hàng nước, ôm
mặt. Nước không chảy. Đã hai ngày nay vòi hỏng, chưa ai sửa. Nhà chị ấy có ba
đứa con nhỏ, một đứa đang sốt. Sốt vì thiếu nước, thiếu sữa, thiếu tất cả mọi
thứ.
Chị khóc không thành tiếng. Kiểu khóc của người đã cố gắng hết
sức. Kiểu khóc của người biết rằng không còn gì để làm nữa. Kiểu khóc không cần
lau nước mắt vì nước mắt cũng là nước, và nước là thứ quý giá nhất lúc này.
Người đứng trước chị – một người đàn ông tuổi trạc bố tôi – quay
lại nhìn chị một lúc lâu. Rồi ông cúi xuống, xách thùng nước của mình lên, đổ
một nửa vào thùng của chị. Không nói một lời. Không hỏi một câu. Chỉ đổ nước
rồi xách thùng rỗng ra về. Bóng ông khuất dần trong màn sương sớm. Chị nhìn
theo, môi mấp máy, nhưng không thốt nên lời.
---
Tôi 23 tuổi, viết những dòng này trong căn phòng máy lạnh, dưới
ánh đèn led, với ly nước lọc đặt bên cạnh. Tôi có thể mở vòi bất cứ lúc nào,
uống bao nhiêu tùy thích. Tôi chưa từng phải nhịn ăn để nhường cơm cho ai. Chưa
từng thấy một đám tang đi ngang qua khi mình đang xếp hàng lấy nước.
Nhưng những thứ ấy vẫn ở đây, trong tôi. Chúng không phải ký ức
– vì tôi không sống qua thời đó. Chúng là vết thương được truyền lại. Qua lời
kể của bà. Qua ánh mắt của mẹ khi nhắc về những năm tháng ấy. Qua những chiếc
can nhựa cũ mà nhà tôi vẫn giữ, dù chẳng dùng đến.
Tôi cầm chiếc can lên. Nó nhẹ hẫng. Nhẹ như linh hồn thằng Hùng.
Nhẹ như cánh tay cụt của người đàn ông ấy. Nhẹ như những giọt nước mắt của
người đàn bà năm xưa.
Có những thứ không bao giờ khô. Không phải vì chúng còn ướt, mà
vì chúng thấm quá sâu. Vào đất. Vào da thịt. Vào từng thế hệ.
Ngoài kia, trời vừa hửng sáng.
Tôi đặt chiếc can xuống, ra ngoài ban công, nhìn xuống phố. Hàng
người đang đợi đèn đỏ. Họ đứng đó, lặng lẽ, kiên nhẫn.
Tôi bỗng thấy quen quen.
Vũ Thị Hương Mai giới thiệu
Tác giả: Minh Nhiên - Email: Facebook
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét