TỬ VI NGHIỆM LÝ TOÀN THƯ - Tác giả: Thiên Lương (Sài Gòn)

Leave a Comment

TỬ VI NGHIỆM LÝ TOÀN THƯ 
                          - tác giả: Thiên Lương -

Trân trọng giới thiệu tập sách: TỬ VI NGHIỆM LÝ TOÀN THƯ của cố tác giả Thiên Lương.
Hy vọng bạn đọc sẽ thu lượm được nhiều điều bổ ích cho việc tự học và trau dồi kiến thức tử vi qua cuốn sách quý này.
(Nguồn ảnh: Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc)
Tác giả: THIÊN LƯƠNG
Tên thật: Lê Hữu Khải
Sinh năm 1910 tại Hưng Yên
Tản cư vào nam năm 1954
Mất năm 1984 tại Sài Gòn.
*****
PHẦN DẪN NHẬP
Từ nhiều lâu nay, người đời vẫn nhìn khoa đẩu số tử vi trong một thành kiến hạn hẹp: môn bói toán của giới huyền cơ đạo thuật. Nhân quan thế tục là đòi phải có chứng minh cụ thể, là đòi cho thấy rõ những tương quan hiệu quả. Lại nữa, tinh thần duy vật lý Tây phương đã uốn nắn đầu óc con người thời nay, là phải khoa học hóa mọi vấn đề, thế nhưng khoa học hóa một hiện tượng vật lý, thì chỉ cho biết cái tất yếu tương đối, nhưng vẫn còn vất vả để tìm ra chân lý đích thực. Cái gì điều hướng nét dịch động của vũ trụ? Khoa học gia nguyên tử sẽ kiêu hãnh mỉm cười: - CON NGƯỜI
Câu trả lời thật là đầy đủ, bởi thế giới vật chất chỉ nhận biết được, khi có sự hiện hữu của nhân loại, và trí khôn nhân loại đã giúp công không nhỏ vào việc này.
   Nhưng, thưa chưa cần thiết bằng câu trả lời: - SỐ MỆNH CON NGƯỜI.
Số mệnh con người giải thích bậc trên cái dịch động của vũ trụ, và phản hồi lại: lẽ biến dịch của đất trời ảnh hưởng tới mọi sinh hoạt của cá nhân. Đây là tương quan hai chiều của một khoa học biện chứng, lấy nền tảng mọi hoạt đông của nhân văn. Vấn đề sẽ được nói giản dị hơn: số mệnh con người, chỉ là một chuỗi dài những biến cố của cá nhân, tạm gọi là sử mệnh. Việc tìm biết sử mệnh chính là công trình thuộc lý đoán.
Trong muôn ngành lý đoán số mệnh, có thể có CHÂN có GIẢ, có thể dựa trên dữ kiện cố định hay dữ kiện tình cờ, có thể trực giác có thể luận giải… Khoa TỬ VI được coi là ngành học có nhiều nét tân kỳ nhất, bởi đặc tính sau:
-  Dựa vào các dữ kiện thời gian cá biệt tương đối của mỗi người (năm, tháng, ngày, giờ sinh âm lịch).
- Không làm mất ý nghĩa của tự do cá nhân trong dòng sứ mệnh mỗi người.
- Tố cáo những bản năng tiềm ẩn của mỗi người  (khoa tính tình học).
- Nhận biết vòng thịnh suy của đời người, để tập luyện một nhân sinh quan dấn thân tại thế.
Lẽ huyền vi của vũ trụ là cái thao thức lớn nhất, mà các nhà khoa học lẫn thần học đều cố gắng giải thích. Vấn đề lớn này thuộc phạm vi triết học, quyển sách nhỏ này xin miễn bàn tới. Nhưng ở đây chỉ trình bày 4 đặc tính nêu trên, để gọi là thiện chí của người ham mê thâm cứu tử vi, muốn đóng góp trong muôn một:
1. ĐỘ XÁC SUẤT CỦA MỖI NGƯỜI
Muốn lập thành bản số Tử vi cho mỗi người, phải hội đủ bốn yếu tố thời gian (tính theo âm lịch): năm, tháng, ngày và giờ sinh. Đã đành rằng nhân loại ngày nay có trên 3 tỷ người, và có thể cùng trong giờ sinh của ngày, hằng trăm vạn trẻ em nam, nữ ra đời… nhưng ít ra , ta phải công nhận mỗi bản số trên nửa triệu bản số (tính tròn một chu kỳ sinh hóa đông phương là 60 năm) đã khác biệt nhau khá nhiều chi tiết của vị thế tinh đẩu, do đó, độ xác suất của bản số cá nhân đã bàng bạc vạch ra một dòng sử mệnh, nên hiểu như một khuynh hướng hay dự án được cao xanh đề nghị cho mỗi người.
2. TỰ DO CÁ - NHÂN TRONG DÒNG SỬ - MỆNH
Nguyễn Du tiền bối thâm thúy bộc lộ câu: “có trời xanh mà cũng có ta”, thật rất ý nghĩa và minh xác rất nhiều khoa học cho khoa tử vi. Bấy lâu nay, người đời thường có thành kiến sai lầm về bói toán:
- Một là, cho rằng: nếu người có số mệnh thật, thì quả đáng buồn cho những ai bị an bài xấu, chỉ có kẻ có số mệnh tốt mới nên sống hay sao?
- Hai là, coi bói để mong được chỉ vẽ những đạo thuật hoán cải phần số của mình, để mong định mệnh mình thăng tiến hơn?
Tử vi lý học không có những xảo thuật, và cũng không chủ trương nhận chịu toàn bộ những an bài của định mệnh. Mười hai cung trên bản đồ số tử vi, chỉ là 12 dự án được vạch ra, hay chính xác hơn, là chỉ có mười một dự thảo của thiên định, còn một cung (phước Đức) đóng vai trò bổ khuyết, đính chính cho các dự thảo nói trên (đức năng thắng số). Trong nhân quan của thế tục, đời sống là một trường tranh đấu sinh tồn, và tự do là quyền năng của cá nhân, đời ta là do tay ta xây dựng. Khoa tử vi có đồng quan điểm này, nhưng tích cực hơn ở chỗ: giúp người biết số nhìn thấy trước, để tùy nghi quyết định (xin xem kỹ phần luận về vòng Thái Tuế và vòng an thân). Ý thức tự giác cao độ phải thành khẩn mà nói rằng: nên có đối với người hâm mộ tử vi, bằng không thì lại dẫm lên vết xe trái lệch của giới đạo thuật huyền cơ.
3. KHOA TÍNH TÌNH HỌC TIỀM ẨN.
Cái sinh hoạt vương đạo của người xưa là biết số để dùng người, biết số để tri kỷ hoặc xa lánh kẻ gian ngoan, biết số để biện minh cho những oan ức của đấng anh hùng, người cái thế (xin xem bản số danh nhân Điêu Thuyền, Tào Tháo …). Bởi tử vi giúp người thâm cứu lý giải rõ rệt những bản năng tiềm ẩn trong mỗi bản số. Nhân tính bổn ác hay bổn thiện được loan báo đầy đủ như một lời cảnh giác, để chính đương sự tự thắng mình trước (xin xem vòng Thái tuế với vòng an mệnh và bộ sao Thiên Không, Hồng, Đào). Bản năng tiềm ẩn cộng với nền giáo dục học đường và xã hội sẽ tạo ra nhân tính mỗi người trong đời sống. Và do đó, khoa tử vi càng nên được phổ cập trong sinh hoạt truyền thống đại chúng.
4.  NHÂN SINH QUAN DẤN THÂN
Đời người có sinh và có tử, khi thịnh rồi lúc suy, người biết số không phải chỉ cầu thái độ vụ lợi.
Thói thường cho rằng: tin lý số là sống tiêu cực, là thoái hóa dị đoan. Thực ra nghiên cứu đẩu số là thái độ khôn ngoan của người biết sống. Mỗi cuộc đời có một sử mệnh, vậy thì tri mệnh là để kịp thời và bình tĩnh đón nhận những biến cố của đời sống, để thong dong suy ngẫm lẽ cùng thông biến dịch kiếp nhân sinh. Cái tinh hoa của người thâm cứu tử vi là tập xem thường mọi sự, biết ta là gì rõ hơn trong cuộc vận hành sinh, lão, bệnh, tử. Vả chăng, kẻ sĩ khi nổ lực tri thiên mệnh, chính là để coi vinh nhục cùng một gốc, vậy lý gì đến sự mất còn của bản thân? (xem kỹ vòng Lộc tồn và vòng Thái Tuế).
Trong tinh thần dọn mình, và biết rõ tha nhân hơn, thiết tưởng người say mê nghiên cứu tử vi nghiệm lý, phải được kể là một hành động thành khẩn và can đảm.
*.
Xuân Giáp - Dần - 1974
THIÊN LƯƠNG

LỜI MỞ ĐẦU
Sau một thời gian trình bày những lá số danh nhân và cổ nhân trên Khoa Học Huyền Bí, tôi đã được các thân hữu ở xa thì viết thư, ở gần thì lại chơi nhà khuyến khích nên viết về các nguyên tắc của số Tử vi mà mang xuất bản thành sách. Tự nghĩ mình căn bản đọc sách chẳng được bao nhiêu, nhất là kinh dịch là nguồn gốc của ngành gọi là huyền bí của Á Đông, nên không giám, trong tâm tâm mang rìu thô kệch ra múa vụng về trước mắt các vị rành nghề. Đến nay vì lời thúc bách ngày một quá nhiều, không thể trả lời riêng từng vị một, nên cũng xin mạo muội cố viết nên cuốn sách này gọi là đền đáp lòng chiếu cố của các vị xa gần thường có lời khuyến dụ kỳ vọng.
Thấy rằng đã có một số sách Tử vi đã xuất bản, sách nào cũng có chỉ dạy các cách lập thành, dạy an sao giảng nghĩa các tính cách của sao, nên cuốn này, tôi xin bỏ qua các phần đó, vì quý vị đã rành tử vi hay mới học, chắc vị nào cũng đã có vài ba quyển có sẵn cách thức chỉ bảo rồi.
Ở đây tôi chỉ xin trình bày những điểm nào, tôi thấy có thể bổ khuyết trong các trường hợp sách in lầm hoặc là sơ sót bỏ qua hay cố tin ở đường lối của sách cũ bị tam sao thất bản làm lệch lạc ý nghĩa của lý học. Và chỉ xin bàn luôn cách thức phân tách luận giải những phần nào tôi có thể làm được từ trước tới nay theo ý kiến riêng của tôi.
Xin thành thật cám ơn các thân hữu xa gần và xin lỗi quí vị cao minh nếu có điều sơ sót của cuốn sách nhỏ bé này làm mất thời giờ của quí vị đọc nó.

PHẦN I
Những chỗ sai lầm về: AN SAO LẬP SỐ
Như ở lời mở đầu, mục đích của cuốn sách này chỉ là phụ giải những gì còn trong vòng huyền bí những sách trước đây vì một lẽ gì đã không luận bàn đính chánh, nay tôi xin trình bày thêm phần nào hay phần nấy. Vậy từ cách an sao thiết lập số cũng chỉ xin trình bày những cách thức an sao lập thành theo thiển kiến kinh nghiệm riêng những chỗ nào khác với những trường hợp trước mà thôi .
 Sau khi kẻ khung, chia khung lá số thành 12 ô, ghi tuổi, tháng, ngày giờ, an mệnh, thân, lập cục rồi thì an sao Tử vi như sau:

 Thường thường cứ an theo chiều thuận nghĩa là sau Tử vi cách 03 cung đến Liêm Trinh, cách 02 cung đến Thiên Đồng, tuần tự tới Vũ Khúc, Thái Dương, cách 01 cung đến Thiên Cơ, như thế không phải là không được, vẫn trúng chỗ không sai. Nhưng tôi có ý trình bày Tử vi là một môn Lý học Đông phương thì cái gì cũng phải để ý phân tách Âm Dương trước để nhắc nhở trí nhớ người học số phải suy nghĩ đến lẽ Âm Dương để mà tiến tới .
 
Như hình vẽ ở trên ta thấy 14 chính tinh chia làm hai nhóm: 
a)      Nhóm TỬ VI an theo chiều nghịch.
b)      Nhóm THIÊN PHỦ an theo chiều thuận.
Hai thế đứng trái nghịch nhau để cho ta nhận định không nên bỏ lơ cái ý niệm chính trái nghịch của Âm Dương mỗi lần suy tính phán xét .
VÒNG TRÀNG SINH
Vòng TRÀNG SINH an theo cục
Người Dương Nam, Âm Nữ theo chiều thuận như dưới đây:
-                 KIM tứ cục      an Tràng Sinh tại cung   TỴ
-                 MỘC tam cục          --               HỢI
-                 HỎA Lục cục          --               DẦN
-                 THỦY nhị cục         --               THÂN
-                 THỔ ngũ cục           --              THÂN
Người Âm Nam, Dương Nữ theo chiều nghịch như dưới đây:
-                 KIM Tứ cục  an Tràng Sinh tại cung    DẬU
-                 MỘC tam cục          --            MÃO
-                 HỎA Lục cục          --            NGỌ
-                 THỦY nhị cục         --            TÍ
-                 THỔ ngũ cục           --            TÍ
An Vòng Tràng Sinh như trên thì Dương Nam, Âm Nữ hoặc Âm Nam, Dương Nữ sao Mộ luôn nằm tại Tứ Mộ ( Thìn Tuất Sửu Mùi ). Đó là trúng cách hợp lý sao Mộ phải ở Mộ địa là nơi xuất phát ra và rồi cũng là nơi tập trung tại đó của các hành khác ( Kim Mộc Thủy Hỏa ).
KÌNH DƯƠNG – ĐÀ LA
Kình dương – Đà la là hai sát tinh an ở trước và sau Lộc Tồn, cũng phải theo chiều thuận hay nghịch của Dương Nam Âm Nữ ( thuận) và Âm Nam dương nữ ( nghịch) mà thay đổi vị trí .
Như tuổi Giáp Ngọ có Lộc tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà la ở Sửu của người Dương Nam. Nhưng Dương nữ thì Kình Dương phải ở Sửu và Đà la ở Mão ( theo chiều nghịch ) nghĩa là Kình Dương lúc nào cũng đồng cung với Lực sĩ, không bao giờ có Đà la ở chung với Lực Sĩ.
THIÊN KHÔI – THIÊN VIỆT
Bộ Khôi Việt an theo hàng Can của năm sinh
   Tuổi                    Khôi                             Việt
Giáp, Mậu             Sửu cung                     Mùi cung
Át, Kỷ                    Tý cung                       Thân cung
Bính, Đinh             Hợi cung                     Dậu cung
Canh, Tân             Ngọ cung                     Dần cung
Nhâm, Quý           Mão cung                    Tỵ cung
Vì có một số sách đã in lầm tuổi Giáp Mậu Canh có Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi, còn lại mốt tuổi Tân có Thiên Khôi ở Ngọ và Thiên Việt ở Dần. Vậy theo sự phân phối trên đây thì đồng đều cho cả bốn tuổi Giáp Mậu và Canh Tân .
TỨ HÓA
An Tứ - Hóa vào những cung có các sao như sau theo hàng CAN của tuổi:
TUỔI         LỘC               QUYỀN           KHOA            KỴ
GIÁP         Liêm Trinh       Phá Quân        Vũ Khúc          Thái Dương
ẤT             Thiên Cơ          Thiên Lương   Tử Vi                Thái Âm
BÍNH        Thiên Đồng     Thiên Cơ         Văn Xương      Liêm Trinh
ĐINH        Thái Âm          Thiên Đồng     Thiên Cơ         Cự Môn
MẬU         Tham Lang      Thái Âm          Hữu Bật          Thiên Cơ
KỶ             Vũ Khúc          Tham Lang      Thiên Lương   Văn Khúc
CANH       Thái Dương    Vũ Khúc          Thiên Đồng     Thái Âm
TÂN          Cự môn           Thái Dương    Văn Khúc        Văn Xương
NHÂM      Thiên Lương   Tử Vi               Tả Phụ            Vũ Khúc
QUÝ          Phá Quân       Cự Môn          Thái Âm          Tham Lang
Có trường hợp đã để Tuổi Nhâm có Hóa Khoa đứng theo Thiên Phủ không phải là Tả phụ. Theo như bản ở trên sự phân phối đứng cặp với 14 chính tinh còn có 2 bộ trung tinh có tính đặc biệt được nhập bọn là Tả - Hữu và Xương - Khúc. Vậy Tuổi MẬU đã để Hữu Bật có Hóa Khoa, tất nhiên tuổi NHÂM phải để T ả Phụ có mặt cho đủ bộ như Xương - Khúc có đầy đủ cả đôi.
LƯU HÀ
Lưu Hà là sát tinh luôn luôn phối hợp với Kiếp Sát đóng thế gọng kìm như hai lưỡi kéo của tử thần an theo hàng CAN của tuổi đúng trái nghịch Âm Dương cứ hai tuổi một theo chiều thuận .

Thấy bộ Hỏa - Linh có chỗ an theo vị trí cố định thì Linh Tinh rất ít khi có dịp hồi chánh để làm nghĩa hiệp và thiệt thòi cho 9 tuổi Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi . Tưởng an theo giờ sinh là trúng lý hơn, vẫn theo chiều thuận của Dương Nam, Âm Nữ và nghịch theo Âm Nam,dương Nữ .
Tuổi Dương Nam, Âm Nữ
Thân Tý Thìn       bắt đầu từ cung cung Dần tính thuận đến giờ sinh an Hỏa
Thân Tý Thìn       bắt đầu từ cung cung Tuất tính nghịch đến giờ sinh an Linh
Dần Ngọ Tuất      bắt đầu từ cung cung Sửu tính thuận đến giờ sinh an Hỏa
Dần Ngọ Tuất      bắt đầu từ cung cung Mão tính nghịch đến giờ sinh an Linh
Tỵ Dậu Sửu          bắt đầu từ cung cung Mão tính thuận đến giờ sinh an Hỏa
Tỵ Dậu Sửu          bắt đầu từ cung cung Tuất tính nghịch đến giờ sinh an Linh
Hợi Mão Mùi        bắt đầu từ cung cung Dậu tính thuận đến giờ sinh an Hỏa
Hợi Mão Mùi        bắt đầu từ cung cung Tuất tính nghịch đến giờ sinh an Linh
Tuổi Âm NamDương Nữ 
Cùng ở những cung như trên tính chiều thuận và nghịch trái lại cho cả 12 tuổi và 02 sao.
LA – VÕNG
Chỉ khi nào có Đà la ở cung Thìn hay cung Tuất mới được coi là có La - Võng.
                  
                                  PHẦN II:
Phân tích GIẢI LUẬN
Số tử vi là một sản phẩm thoát thai do triết học đông phương lấy Âm dương làm căn bản phân tách ngũ hành biến dịch sinh khắc thì thiết tưởng bất kỳ mộ nhận định nào cũng phải theo sự trình bày hợp lý của lẽ Âm dương trước, rồi ngũ hành sau.
Bắt đầu đặt vấn đề: Tử vi là thái cực sinh lưỡng nghi, và chia ra tứ tượng của bộ chính tinh.


Thái Dương
A
Phá Quân
B
Thiên Cơ
C
Tử Vi
Thiên Phủ
D
Vũ Khúc
D



2
Thái
Âm
D
Thiên Đồng
D
Tham
Lang
D
Thất Sát
D
Thiên Lương
A
Liêm Trinh
Thiên Tướng
D
Cự
Môn
A

Hình vẽ 1: Minh định thế đứng của 14 chính tinh để thấy sự phân chia ra âm dương ước định sự phản ứng mỗi vận hành ở thế nọ chuyển gặp thế kia để không nên quan niệm lá số 4 cách số khác nhau là Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương. Như trên chỉ là mới chia thành Tứ Tượng, còn phân tách ra bát quái …… cho đến cách còn một sao gặp nhau cũng có phản ứng nhỏ nhoi tỉ mĩ. Sự trình bày này không ngoài ý nhắc nhở nên đặt vấn đề âm dương quan hệ trước nhất mới rõ được mức độ đối kháng vận hành (phân tách thế đứng).
Hình vẽ 2: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham và Cơ Nguyệt Đồng lương, chỉ là thế lưỡng nghi thái cực. Thế đứng ở thiên luôn luôn riêng biệt không bao giờ có sao ở phe này đứng chung với sao ở phe kia. Những phản ứng do vận hành phải căn cứ vào sự phân chia tứ tượng, bát quái, v.v.. nên kết quả nặng nhẹ (trình bày ở thiên bàn bảng 2) ví như sắp xếp lại sao ở hình 2, dương một bên, âm một bên, thấy rõ hai hình sẽ ăn khớp nhau.
Về tính cách và ý nghĩa của sao, sách nào ngày nay cũng dịch chép lại các bản cổ xưa, hẳn y như nhau cả, tôi chỉ xin phân tách ý nghĩa và cách áp dụng cách nào khi luận đoán một lá số: Sách số nào cũng nói như xem một cung mệnh phải bao quát: Chính cung, 2 cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp. Vậy tại sao lại là tam hợp, xung chiếu, và nhị hợp, ảnh hưởng mỗi cung thế nào?
Trong 12 cung của thiên bàn có 4 cung thổ (2 cung dương Thìn Tuất, 2 cung âm Sửu Mùi) là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác và rồi cũng là chỗ tập trung về đó. Phối hợp với 8 cung Hợi Tý (Thủy), Dần Mão (Mộc), Tỵ Ngọ (hỏa), Thân Dậu (Kim) thành 4 cục (Cục-diện, quy-chế)
A. Thân-Tý-Thìn: Thủy (Nhờ Thân thổ để cho Thân tràng sinh của Thủy làm Thủy được đầy)
B. Dần-Ngọ Tuất: Hỏa (Nhờ Tuất thổ để cho Dần tràng sinh của Hỏa làm cho Hỏa được vượng)
C. Tỵ-Dậu-Sửu: Kim (Nhờ Sửu thổ để cho Tỵ tràng sinh của kim làm cho Kim được thịnh)
D. Hợi-Mão-Mùi: Mộc (Nhờ Mùi thổ để cho Hợi tràng sinh của mộc làm cho mộc được tốt)
Bốn cục là cái thế tam hợp căn bản của tử vi đẩu số. Ba cung tuy khác hành mà đứng chung trong thế liên minh có một hành chung cùng ba cục kia ganh đua luân chuyển sinh khắc lẫn nhau biến đổi.


Nhị Hợp là cái thế chỉ có sinh không có khắc, một là sinh nhập, hai là sinh xuất, vẫn là cái thế tương sinh có nghĩa là vẫn có tính bù qua đắp lại cho nhau. Như:
1. Mệnh ở Tỵ thì phải sinh xuất cho Điền
2. Mệnh ở Ngọ thì được sinh nhập ở Phụ
3. Mệnh ở Mùi thì phải sinh xuất cho Bào
4. Mệnh ở Thân thì được sinh nhập ở Tử
5. Mệnh ở Dậu thì phải sinh xuất cho Ách
6. Mệnh ở Tuất thì được được nhập ở Nô
7. Mệnh ở Hợi thì phải sinh xuất cho Điền
8. Mệnh ở Tý thì được sinh nhập ở Phụ
9. Mệnh ở Sửu thì phải sinh xuất cho Bào
10. Mệnh ở Dần thì được sinh nhập ở Tử
11. Mệnh ở Mão thì phải sinh xuất cho Ách
12. Mệnh ở Thìn thì được sinh nhập ở Nô
Các thế nhị hợp chỉ có sinh tương sinh nhập ở nhị hợp Phụ, Tử và Nô và sinh xuất cho Điền, Bào và Ách, vẫn là trong nội cảnh của Mệnh .

Còn cung xung chiếu tức là Thiên Di là đối tượng khắc, một là khắc xuất hai là khắc nhập, tức là phải tranh đấu. Nếu thắng (khắc xuất) mọi sự được dễ dàng vẻ vang, bằng như bị bại (khắc nhập) mọi sự thua thiệt và khó khăn, chứ đừng tưởng có Khoa Quyền Lộc mà mình được đương nhiên hưởng thụ.


Thủy khắc Hỏa là Mệnh bị khắc nhập luôn luôn bị người ta khống chế coi thường. Mệnh này muốn thắng phải có điều kiện khác. Vậy Thiên Di là kẻ đối phương chứ không phải là của mình .
Căn bản chánh yếu của Mệnh là tam hợp (Mệnh Quan Tài), nhị hợp (sinh) là thế phụ thêm bớt tình thế của Mệnh, còn tuyệt đối Thiên Di (khắc) là đối thủ rồi .
GHI ĐẠI HẠN
Sau khi an xong hết các sao là ghi đại hạn ở trong thiên bàn để biết thời gian 10 năm một được hanh thông hay bế tắc . Điều quan trong là Đại hạn hướng dẫn người ta theo mức độ 100% so với tiểu hạn phải nằm trong đó chỉ có 10%. Nếu như ghi sai thì sự thành bại trật hết . Tôi thấy hiện hành có 2 cách ghi:
(a) Bắt đầu từ cung Mệnh tùy theo Cục và Dương nam, Âm nữ theo chiều thuận tới Phụ Mẫu, Phúc Đức … mỗi cung 1 giai đoạn, trái lại Âm nam, Dương nữ theo chiều nghịch đến Bào, Phu hay Thê.
(b) Bắt đầu từ cung Phụ Mẫu hoặc cung Huynh Đệ mà đi theo chiều thuận hay nghịch như trên có nghĩa là sai biệt một cung, như đáng lẽ từ Mệnh xuất phát , trường hợp này lại bắt đầu từ Phụ Mẫu hay Huynh Đệ khởi hành tức là trật 10 năm .
Tôi xin thưa là cách thứ hai (b) là sai 100% , Qúy vị độc giả đọc tiếp tới chỗ trình bày về vòng Thái Tuế thì sẽ thấy ngay đâu là trúng trật . Chỉ xin tóm tắt vì người tuổi gì khi tới đại hạn của năm tam hợp tuổi phải đắc thời, hanh thông không nhiều thì ít còn tùy theo một vài yếu tố như Tuần Triệt hay Không Kiếp và vị trí Mệnh, Thân, chứ không thể không có hài lòng .
MỆNH - THÂN
Người ta thường nói Mệnh là mạng người quy định chỉ có ảnh hưởng cho nửa cuộc đời về trước nghĩa là từ lúc ra đời cho tới tuổi ngoài 30. Còn Thân là cuộc đời nối tiếp thời gian của Mệnh cho tới khi nhắm mắt nhập thổ . Theo thiển kiến tôi nghĩ:
Mệnh là định mệnh theo khuôn viên đã sắp xếp cho cá nhân đó nhập thế cuộc ở vào một tình cảnh nào, giàu hay nghèo, thảnh thơi hay vất vả . Còn Thân là “TA” là hành động của cá nhân định mệnh đó, có chấp nhận theo định mệnh hay chống chọi lại . Đành rằng có số mệnh, cá nhân cũng có quyền suy tính hành động nên mới có trường hợp khôn dại đều chết chỉ biết là sống . Phải chăng số là cây kim la bàn luôn luôn giao động người biết thì thấy hướng mà đi, còn không thì ráng mà chịu. Là do Thân tùy theo vị trí Mệnh Thân đồng cung hay Thân ở Di, ở Phúc Đức, ở Quan Lộc, Phu Thê để cho người đó trình bày quyết định tư tưởng mình. Theo thời gian khi một người đã có tư tưởng để quyết định cho đời mình không có gì ràng buộc phải là tuổi ngoài 30. Vậy nếu Mệnh là định mệnh, Thân là TA hành động .
VỊ TRÍ MỆNH - THÂN
Một lá số đặt trước mặt không khác gì người đứng ngắm một ngôi nhà . Cái nhà này cao hay thấp, làm bằng vật liệu nhẹ hay đúc xi măng cốt sắt, có thuận tiện cho công việc làm ăn lập nghiệp không . Đó là vị trí của cung Mệnh, Thân an ở trong thiên bàn .
Mười hai cung trong thiên bàn không phải là nhất định cung này tốt, cung kia xấu.  Sự xấu tốt phải tùy thuộc tuổi của người có số mà mệnh đã ngự tọa ở chỗ đất lành hay dữ cho tuổi đó.
Tuổi là tên năm sinh do hàng Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và hàng Chi (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) phối hợp lại gọi là nạp âm. Ví dụ như tuổi Giáp- Tí, thiên can là Giáp, Địa chi là Tí, Nạp âm Giáp – Tí.
Vì lẽ đó phải chăng mới có 3 vòng Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh để phân tách Thiên  can, Địa chi, nạp âm của tuổi đời với cung an Mệnh.
THÁI - TUẾ
Cung Thiên bàn đã ấn định tên vị trí theo địa chi nhất định. Lúc lấy số tuổi gì thì ghi Thái Tuế ở vào vị trí có tên của nó như người ta sinh ra đời ở trong đất nhà của mình hay đẻ đường lạc danh - bộ tùy theo Mệnh Thân có trúng tam hợp tuổi hay không?

Thái Tuế là ngôi vị có tính cách thịnh vượng cao cả của người thọ lãnh nhiệm vụ chủ quyền chỉ huy công việc có ảnh hưởng bao trùm sâu rộng trong quần chúng. Mệnh nào đóng trúng Thái Tuế hoặc trong tam hợp tuổi (Thái Tuế) của mình là người đó đã được sắp xếp mọi sự thỏa mãn như mình ở đất nhà mình, dầu tốt xấu gì cũng thuộc quyền của mình, mình toàn quyền sử dụng theo ý muốn không phải e dè ai như là người ở nhờ hay thuê mướn tức là thỏa mãn, hài lòng tùy theo vị trí mức độ để mình thụ hưởng, dĩ nhiên là nhà mình, mình ra công bù đắp, chứ không có ý phá hoại. Đó là tư –cách của cá –nhân ở vị trí Thái Tuế .

Tỵ


Ngọ

Mùi

Thân

Thìn



Tên vị trí trong
Thiên bàn

Dậu

Mão


Tuất

Dần


Sửu


Hợi
Người tuổi Dần Ngọ Tuất             Mệnh ở trong tam hợp   Dần Ngọ Tuất
Người tuổi Thân Tí Thìn              Mệnh ở trong tam hợp   Thân Tí Thìn
Người tuổi Tỵ Dậu Sửu                Mệnh ở trong tam hợp    Tỵ Dậu Sửu
Người tuổi  Hợi Mão Mùi             Mệnh ở trong tam hợp Hợi Mão Mùi
12 vị trí của vòng Thái Tuế 

Thí dụ tuổi tí Mệnh được ở Tí cung là trúng ngay Thái Tuế. Ba vị trí của tam hợp là: (Hình 1) 
- Thái Tuế: đầy lòng tự hào, coi mình như có sứ mạng làm việc chánh đáng.
- Quan Phù: hành động chánh đáng với suy tính kỹ càng, thận trọng.
- Bạch Hổ: gắng công làm việc chính đáng với bất kể giá nào.
Ba vị trí Tỵ Dậu Sửu của tuổi Tí là ba vị trí được hưởng sinh nhập (Hình 2)
- Thiếu Dương: sáng suốt hơn người
- Tử Phù: hơn người nhưng thường bị kẹt
- Phúc đức: muốn hơn người ăn chắc là phải có đức độ, trọng thần quyền đạo đức.
Ba vị trí Dần Ngọ Tuất của tuổi Tí là 3 vị trí bị xung khắc tức là bất mãn (Hình 3)
- Tuế Phá: bất mãn, hận lòng muốn đả phá quật ngược
- Điếu Khách: bất mãn, thường hay lấy lời lẽ thuyết phục phân trần
- Tang Môn: bất mãn mà vẫn nặng lo toan tính toán
Ba vị trí Hợi Mão Mùi của tuổi Tí là 3 vị trí bị thua thiệt bị sinh xuất (Hình 4)
- Trực Phù: phải chịu thiệt thòi mà không được thù lao xứng đáng
- Thiếu Âm: dễ lầm lẫn, tin người mà thành khờ dại
- Long Đức: an ủi vì thua thiệt mà tu, bon chen cũng không đến đâu. 
Vòng Thái Tuế đưa con người vào 12 thế đứng như trên của bốn tam hợp có nghĩa như sau:
Nhìn vào 4 hình vẽ:
HÌNH 1: Ba vị trí Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ luôn luôn được hưởng bộ sao Long Phượng Hổ Cái (thỉnh thoảng mới có ba) là bộ sao đưa người ta đến vinh dự hưng vượng may mắn bằng thế này hay thế khác tức là làm cho người ta thỏa mãn hài lòng.
HÌNH 2: Ba vị trí Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức luôn luôn có tam, tứ đức có nghĩa là định mệnh đã cho số được ở thế sinh nhập, tinh khôn hơn người thì số phải trọng nhân hậu đạo đức, nếu không chỉ Thiên Không (đứng sát với Thiếu Dương) thi hành sứ mạng nghĩa là cũng không đến đâu.
HÌNH 3: ba vị trí Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách luôn luôn có Thiên Mã là nghị lực, mẫn cán có nghĩa là đương số ở trong tình trạng bất mãn chống đối phải cho họ có nghị lực, mẫn cán mới được việc, còn tùy theo Thiên Mã đó có phải của họ hay không lại là việc thành bại quyết định.
HÌNH 4: Ba vị trí Trực Phù, Thiếu Âm, Long Đức là ba vị trí bị sinh xuất thua thiệt, lầm lẫn, hữu công vô lao thường được an ủi bằng Lộc Tồn của tuổi Bính Đinh Mậu Kỷ Nhâm Quý tưởng không ngon lành gì. Nó chỉ là miếng mồi thơm nhưng ở trong đã có chất độc (Hà - Sát). Không ham, nên chọn con đường chánh đã vạch sẵn Long Đức là hơn hết (tự an ủi mà tu).
Vì lẽ vị trí tam hợp Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ là vị trí may mắn thuận tiện đi đến vinh quang, cho nên mỗi khi đại vận chuyển đến đó, bất kể là mệnh đóng ở vị trí nào (Tuế Phá, Thiếu Dương hay Trực Phù) người có số vẫn được hài lòng thỏa mãn. Như trên đã nói về phần ghi đại hạn thì cách thứ nhất (a) bắt đầu ghi ngay ở cung mệnh tuần tự theo chiều thuận hay nghịch mỗi khi gặp tam hợp Thái Tuế là phát vinh quang, là trúng thời gian tuổi thật của đương số.
LỘC TỒN
Trong Tử Vi có 2 thứ Lộc: Lộc Tồn và Hóa Lộc. Hóa Lộc là lộc do công khó nhọc làm ra. Lộc Tồn là thiên lộc được ấn định theo hàng thiên can của tuổi, là lộc định mệnh đã đặt sẵn ở thiên bàn ban phát cho từng hạng người đã được sắp xếp theo tuổi nhất định ở vị trí nhất định, nếu kẻ bàng quan lạm dụng sẽ có hậu quả để bù trừ. Đây là một căn quả của luân hồi không thể tham sân si mà được. Lộc Tồn được đặt theo hàng can của tuổi, đứng trong thiên bàn theo vị trí ngũ hành, đắc cách hay không ở thế âm dương thuận nghịch.
Lộc  Tồn tuổi Giáp  ở Dần                     Lộc Tồn tuổi Kỷ     ở Ngọ
Lộc Tồn tuổi Ất       ở Mão                    Lộc Tồn tuổi Canh  ở Thân
Lộc Tồn tuổi Bính   ở Tỵ                       Lộc Tồn tuổi Tân    ở Dậu
Lộc Tồn tuổi Đinh   ở Ngọ                    Lộc Tồn tuổi Nhâm ở Hợi
Lộc Tồn tuổi Mậu    ở Tỵ                       Lộc Tồn tuổi Quý    ở Tí
(a) Tuổi Giáp có Lộc Tồn ở Dần chỉ dành riêng cho người Giáp Dần, Giáp Ngọ và Giáp Tuất được hưởng trọn vẹn thiên lộc mà mệnh phải ở trong vị trí tam hợp Thái Tuế, nếu ở vị trí khác chỉ khi nào gặp mới thọ hưởng. Còn tuổi Giáp Thìn, Giáp Thân, Giáp Tí kể như là nghịch cảnh vì ở vị trí Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách.
(b) Tuổi Ất có Lộc Tồn ở Mão thì chỉ có tuổi Ất Mão, Ất Mùi, Ất Hợi được hưởng trọn vẹn thiên lộc và cũng phải ở vị trí tam hợp Thái Tuế. Nếu ở vị trí khác cũng chỉ khi nào gặp mới hưởng . Ngoài ra tuổi Ất Tỵ, Ất Dậu, Ất Sửu kể là nghịch cảnh vì ở vị trí như Giáp Thìn, Giáp
Thân, Giáp Tí: Tuế Phá, Tang Môn, Điếu khách không được đầy đủ hoặc ở trong có sự gì người đời phải đặt dấu hỏi (?) .
(c) Tuổi Canh, tuổi Tân có Lộc Tồn ở Thân, Dậu cũng cùng trường hợp như 2 tuổi Giáp, tuổi Ất phải là tuổi Canh Thân, Canh Tí, Canh Thìn, Tân Tỵ, Tân Dậu, Tân Sửu mới đặc cách thọ hưởng Lộc Tồn. Còn Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất và Tân Hợi, Tân Mão, Tân Mùi đều đứng ở nghịch vị trí là Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách phải chịu cùng cảnh ngộ của Giáp Thân, Giáp Tí, Giáp Thìn và Ất Tỵ, Ất Dậu, Ất Sửu.
(d) Còn sáu tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý là 6 tuổi có Lộc Tồn ở Tỵ, Ngọ, Hợi, Tí là 4 vị trí (Bính Mậu một vị trí ở Tỵ, Đinh Kỷ một vị trí ở Ngọ, Nhâm một vị trí ở Hợi, Quý một vị trí ở Tí) đều ở trong cảnh âm dương phản nghịch vì tuổi Bính (Dương Hỏa), tuổi Mậu (Dương Thổ) lại ở Tỵ cung là âm hỏa. Tuổi Đinh (Âm Hỏa) Kỷ (Âm Thổ) lại ở cung Ngọ là Dương Hỏa. Tuổi Nhâm (Dương Thủy) ở Hợi là Âm Thủy, tuổi Quý (Âm Thủy) ở Tý là Dương Thủy.
Vòng Lộc Tồn dầu có sắp xếp theo chiều thuận hay nghịch cùng ở trong thế đứng:
a) Bác Sĩ, Tướng Quân, Bệnh Phù  + Lộc Tồn
b) Lực Sĩ, Tấu Thư, Đại Hao + Kình Dương
c) Thanh Long, Phi Liêm   + Phục Binh
d) Tiểu Hao, Hỉ Thần, Quan Phủ  + Đà La
12 sao chia cho bốn tam hợp ta thấy:
1. Lộc Tồn, Bác Sĩ, Tướng Quan, Bệnh Phù ở thế chủ chốt quang minh nhân hậu (Bác Sĩ), hiên ngang (Tướng Quân) dầu có bị suy tàn (Bệnh Phù)
2. Kình Dương, Lực Sĩ, Tấu Thư, Đại hao là tư thế của kẻ ăn no vác nặng (Kình, Lực) có cố gắng học hỏi (Tấu Thư) cũng không đến đâu (Đại Hao)
3. Đà La, Quan Phủ, Hỉ Thần, tiểu Hao là tư thế của kẻ lầm lì làm ra vẻ hào phóng (Hỉ Thần) cũng chỉ trong đom đóm (Tiểu Hao) ngoài bó đuốc (Quan Phủ) cho thị phi đàm tiếu.
4. Thanh Long, Phi Liêm, Phục Binh là tư thế của kẻ có gặp bước may làm việc như vũ bão cướp thời gian (Phi Liêm) cũng chỉ là nhất thời (Phục Binh)
TRÀNG SINH
Lộc Tồn được an định theo thiên can, Thái Tuế theo địa chi. Tràng - Sinh được sắp xếp theo cục của tuổi ở vị trí an Mệnh, tức là lấy Thiên can của tuổi biến định từ Dần đến vị trí địa chi của cung an Mệnh mà quyết định, có ý nghĩa người đó hình thành do cha (thiên can) mẹ (địa chi) phối hợp ở miếng đất mệnh cư ngụ để bắt đầu diễn biến cuộc đời tức là theo nạp âm (can chi phối hợp) của vị trí và nạp âm của tuổi số mà kết đoán luận sánh.
Ở đây vòng Tràng Sinh ta thấy là cái hình bóng tóm tắt của vòng Thái Tuế và Lộc Tồn hợp nhất, chứng tỏ thánh nhân sáng lập ra tử vi đã phân tách từng phần
(Can và Chi) kỹ càng, lại tóm hợp (nạp âm) cặn kẽ cuộc đời cá nhân sống ở kiếp người cố tránh sơ sót, dầu rằng Tử Vi chỉ đem lại kết quả tương đối (tổng kết lá số là 518 400 cái).
Vòng Tràng Sinh bắt đầu từ:                   
Tràng Sinh: Khôn lớn
Mộc Dục: Dậy thì
Quan Đới: Sự nghiệp
Lâm Quan: Hãnh diện
Đế Vượng: Oanh liệt
Suy: Biếng nhược
Bệnh: Tàn tạ
Tử : Mãn kiếp
Mộ: Chôn vùi
Tuyệt: Đứt đoạn
Thai: Tái sanh

Dưỡng: Bồi đắp
Nhìn vào hệ thống từ Tràng Sinh đến Dưỡng thấy có một chuỗi thời gian nối tiếp nhau có lớp lang diễn biến nên tôi có ý kiến không dùng đến tam hợp để luận xét, chỉ dùng hành của Mệnh sinh khắc với hành của cung hòa hợp với sao của vòng sao này đóng ngay tại đó để biết thân thế người đó sống ở đất ấy tình cảnh ra sao (không gian) biến dịch theo thời gian qua các cung khác cũng vậy. Nhưng cái quan trọng tóm tắt nhiều ý nghĩa vẫn là sao (sao vòng Tràng Sinh) ở Mệnh là căn bản. Như trên tôi đã trình bày vòng Tràng Sinh là hình bóng hợp nhất của hai thế Thái Tuế và Lộc Tồn.
Lộc Tồn là hạnh phúc của cá nhân do thiên can là cha sinh tạo truyền.
Thái Tuế là bẩm sinh hình hài tư cách do địa chi là mẹ dưỡng nuôi bồi đắp dạy dỗ mất nhiều thời gian từ khi thai nghén đến lúc ra đời nên cái quan hệ của Thái Tuế ở vị trí đóng Mệnh như đã trình bày ở mục Thái Tuế là rất quan hệ mật thiết của đương số.
Vòng Tràng Sinh là một các vòng kín nối liền bắt đầu từ Tràng Sinh đến Tuyệt tưởng là hết rồi. Cái tài tình của Thai Dưỡng là lại đứng liền ngay bắc qua nối tiếp với Tràng Sinh để tiếp tục thế đi luân chuyển bất tận, tỏ rõ luân hồi tiền kiếp của một nhân sinh, phải chi bắt đầu từ Thai Dưỡng rồi tuần tự đến Tuyệt thì có lẽ người đời chết là hết.
Với vòng Tràng Sinh thiết tưởng rồi sau này người ta có thể khám phá ra tiền kiếp và hậu lai bằng luật thừa trừ Luân hồi quả báo như hiện nay ở Hoa Kỳ đã thực nghiệm thấy. Bằng chứng có một hồ sơ khổng lồ còn lưu trữ tại thư việc Virginia Beach, tiểu bang Florida làm tài liệu soi kiếp. 
HỒNG LOAN, ĐÀO HOA, THIÊN KHÔNG
Sau ba vòng Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh đến bộ ba Hồng Loan, Đào Hoa và Thiên Không không kém phần quan trọng ở trong số. Nó có những vị trí dành riêng rõ rệt để nó hành động với khả năng tính cách riêng biệt tốt xấu, dầu rằng bộ ba này thường xuyên gặp nhau, đồng cung hay chiếu. Nhưng chủ quyền của sao nào ở vị trí đã quy định dành riêng thì sao đó làm chủ, hai sao kia chỉ là phụ thuộc có tánh cách tham mưu phò tá.
1. Vị trí của Hồng Loan: Trọng đức 
2. Vị trí của Đào Hoa: Mưu sĩ 
3. Vị trí của Thiên Không: Tàn phá


1. Bốn cung Dần Thân Tị Hợi là 4 góc Thiên bàn, một khi có Thiên Không là có ngay Hồng Loan ở ngay đồng cung hay xung chiếu là vị trí của Hồng Loan làm chủ, Thiên Không chỉ là khách. Ở đây Hồng Loan đóng vai chánh với 2 phụ tá diễn tả tính cách sắc sắc không không là người có giác quan bén nhạy, từ tâm, không "tham sân si", trọng đức lớn có nghĩa là tư cách của người tu hành, thấy ra hiểu rộng.
2. Bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là vị trí cố định của Đào Hoa (Đào Hoa chỉ ở 4 cung này) được hai phụ tá kia phò giúp (Hồng - Không: sắc không) nhưng quyền chỉ huy quyết định là của Đào Hoa thành ra đạo đức ranh mãnh, đạo đức giả hiệu, mưu sĩ quỷ quyệt.
3. Bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là vị trí của trường hợp nào cũng chỉ một mình Thiên Không tung hoành, hai phụ tá lạc lõng xa với (Hồng Loan ít khi gặp, chỉ có Đào Hoa thường xuyên tam hợp). Tính cách cố hữu của Thiên Không đã là hung (không) lại ở chổ một mình một chợ tha hồ ra oai tác hại vì nhiều khi vắng bóng Hồng Loan (trung) chỉ một mình Đào Hoa (nịnh) đưa đẩy thì vị trí này là vị trí nguy khốn cho người đời do Thiên Không gieo họa.
Bộ ba Hồng Loan, Đào Hoa, Thiên Không vẫn có tính cách dẫu gì cũng là hư không, nhưng người đạo đức coi phú quý như phù vân không màng tưởng, là cái không cao cả. Kẻ mưu sỹ quỷ quyệt trăm khoanh tứ đốm xoay sở cho lắm lãnh hậu quả là "Không" bù trừ. Hạng tàn ác đến đâu gieo tàn phá khủng khiếp cũng chỉ còn "không" trơ trọi. Thiết tưởng người sáng suốt vẫn được sống yên lành là trường hợp của Hồng Loan. 
LƯU HÀ - KIẾP SÁT
Trong Tử vi có bộ lục sát Không Kiếp, Kình Đà, Linh Hỏa là một đoàn quân xông pha nhiều lúc phải tùy thuộc cấp chỉ huy mới nên kết quả đáng kể.
Bộ Lưu Hà Kiếp Sát cũng là bộ sát tinh thường xuyên đứng với Thiên Không, đứng vai Thẩm Phán giữ cán cân thăng bằng cho bộ luật thừa trừ định mệnh cho từng hạng tuổi như sau:

CAN CHI
Giáp -------------     cho người ---------------Thân Tý Thìn 
Ất Kỷ ------------------------------------------- Tỵ Dậu Sửu 
Bính Canh ------------------------------------- Dần Ngọ Tuất 
Tân --------------------------------------------- Hợi Mão Mùi 
Đinh Quý -------------------------------------- Hợi Mão Mùi + Tỵ Dậu Sửu 
Mậu Nhâm ------------------------------------ Thân Tý Thìn  + Dần Ngọ Tuất 
Lưu Hà là sao Thủy an theo hàng Can của tuổi luôn luôn ở nghịch địa âm dương như
Tuổi Giáp (dương)                     thì Lưu Hà đóng ở     Dậu (âm cung) 
Ất (âm)                            thì Lưu Hà đóng ở      Tuất (dương cung) 
Bính (dương)                  thì Lưu Hà đóng ở      Mùi (âm cung) 
Đinh (âm)                       thì Lưu Hà đóng ở      Thân (dương cung) 
Mậu (dương)                  thì Lưu Hà đóng ở      Tỵ (âm cung) 
Kỷ (âm)                          thì Lưu Hà đóng ở      Ngọ (dương cung) 
Canh (dương)                thì Lưu Hà đóng ở      Mão (âm cung) 
Tân (âm)                        thì Lưu Hà đóng ở      Thìn (dương cung) 
Nhâm (dương)               thì Lưu Hà đóng ở      Hợi (âm cung) 
Quý (âm)                        thì Lưu Hà đóng ở     Dần (dương cung) 
Kiếp sát là sao Hỏa an theo hàng chi của tuổi luôn luôn ở nghịch địa âm dương như:
Tuổi Dần Ngọ Tuất (Dương) ------ thì Kiếp Sát an ở ------ Hợi (Âm) 
Tuổi Thân Tý Thìn (Dương) ------- thì Kiếp Sát an ở ------ Tỵ (Âm) 
Tuổi Tỵ Dậu Sửu (Âm)------- ------ thì Kiếp Sát an ở ------ Dần (Dương) 
Tuổi Hợi Mão Mùi (Âm) ----------- thì Kiếp Sát an ở ------ Thân (Dương)
Biết rằng Lưu Hà là Thủy, Kiếp Sát là Hỏa đều đứng ở nghịch địa âm dương theo Can Chi ấn định có tính cách hung bạo hội lại như 2 lưỡi kéo tử thần thi hành án lịnh sau khi Thiên Không phán quyết cho Là can nhân có thực tội .
Như mục Lục Tồn ở trên đã nói chỉ có bốn tuổi Giáp Ất Canh Tân đứng tam hợp tuổi có Lục Tồn mới được hưởng Lộc Tồn trọn vẹn, còn ngoài ra chỉ là nhất thời và gánh chịu hậu quả bù trừ, còn Lộc Tồn của năm tuổi Mậu, Kỷ, Bính Đinh Nhâm Quý là ở trong trường hợp có Lưu
Hà, Kiếp sát canh gác 6 kho vàng đó. Kẻ nào đụng chạm đến mà Thiên Không không ngăn cản được thì Lưu Hà Kiếp, Sát nổ súng. Cũng có một vài trường hợp giảm khinh nhẹ tay cho những tuổi Đinh Hợi Mão Mùi và Quý Tỵ Dậu Sửu.
THIÊN MÃ
Thiên mã ở trong Tử vi là một viên ngọc quý. Viên ngọc quý này chỉ thấy ở trong hoàn cảnh trái nghịch tức là phần tinh anh có sắp đặt cho hạng người bất mãn ở phần đất Tuế-Phá Tang-Môn, Điếu-Khách của vòng Thái tuế. Nếu hạng người này không có Mã thì làm sao mà sống ở đời. Phải chăng thánh nhân xưa đã có chí hướng dân chủ (dân vi quí). Phe Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ là phe lãnh đạo, cầm quyền được Long-Phượng, Hổ Cái là cái thế uy nghi tốt đẹp thì phe đối kháng là phe Tuế-Phá, Tang-Môn, Điếu-Khách phải để cho họ có Thiên Mã là bộ máy có động lực mạnh để quật lại bên kia. Việc thành bại lại là việc của thời gian. Cái đáng quý của Thiên Mã là ở chỗ đó.
Thiên Mã chỉ ở bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi phân phối đều cho 12 địa chi thuận âm dương mà nghịch phái
Tuổi Dần Ngọ Tuất      Thiên Mã ở cung    Thân
         Thân Tý Thìn          -----------------      Dần 
         Tỵ Dậu Sửu             -----------------      Hợi 
         Hợi Mão Mùi          -----------------       Tỵ
Nhìn vào vị trí của Thiên Mã đóng ta thấy ngay sự trái cựa căn cứ theo địa chi tam hợp của tuổi số mà an Thiên Mã ở trong địa chi tam hợp đối kháng.
Tuy Thiên Mã là hành hỏa nhưng đóng ở bốn cung có bốn hành riêng biệt thì chủ nhân muốn làm chủ thực sự Mã ấy phải là đồng hành với chỗ nó ở, công việc mình làm mới có kết quả tốt đẹp .
Đã gọi là Dịch mã, Mã đóng ở bốn cung phải có đắc dụng đồng đều ở mỗi cung như đã phân chia số tuổi quy định, không lẽ gì Mã ở Hợi lại gọi là Mã cùng đường vô dụng. Nếu vậy thiệt hại cho ba tuổi Tỵ Dậu Sửu có Mã cũng hư không mà còn bị bế tắc là khác.
Vậy Mã ở bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi có nghĩa như sau:
1. Thiên Mã ở Dần: Chính thức thuộc quyền sử dụng của người mạng Mộc, bạc nhược với người tuổi Kim, vất vả với người mạng thủy, điêu linh cho người thổ, làm lợi cho người mạng hỏa.
2. Thiên Mã ở Tỵ: Chính thức thuộc quyền sử dụng của người mạng Hỏa, làm lợi cho người mạng Thổ, vất vả cho người mạng Mộc, điêu linh cho người tuổi Kim, bạc nhược cho người tuổi Thủy.
3. Thiên Mã ở Thân: Chính thức thuộc quyền sử dụng của người mạng Kim, làm lợi cho người tuổi Thủy, vất vả cho người mạng Thổ, điêu linh cho mạng Mộc, bạc nhược cho người mạng Hỏa.
4.  Thiên Mã ở Hợi: Chính thức thuộc quyền sử dụng của người mạng Thổ, Thủy, làm lợi cho người mạng Mộc, vất vả cho người mạng Kim, điêu linh cho người mạng Hỏa.

   (Còn vài chi tiết đặc biệt ở Dịch Mã tiếp theo ở mục Tuần Triệt)
LỤC SÁT TINH: KHÔNG KIẾP – KÌNH ĐÀ – LINH HỎA
Lục sát tinh là một lực lượng có đặc tính riêng biệt, nói là đưa đương số bộc phát vinh quang (trường hợp đắc địa) không phải là không có; nhưng nói chung cái lợi không có là bao, mà cái hại rất khó lường nên mới có tên là Sát tinh. Sự thật bộ này phải có bộ chỉ huy cứng rắn, quyết liệt mới đắc dụng. Một là thành công vũ bão, hai là phá tan tận diệt, là bộ 3 Sát Phá Tham.
Không Kiếp – Kình Đà – Linh Hỏa là 3 quân đoàn riêng biệt, cần phải có cấp bậc chỉ huy chính cống trực tiếp riêng của nó mới hiệu nghiệm. Ngoài ra, vá víu lấy chỉ huy quân đoàn này sang điều động quân đoàn kia cần chắc là kết quả không bao nhiêu (dầu lợi hay hại). Vậy phải như thế nào ?
Không Kiếp thành đoàn quân có thành tích dữ nhất, Phá Quân mới cai trị đắc lực. Ví như mệnh có Phá Quân mà đi đến hạn Không Kiếp phải là có chuyện sống chết, hay dỡ tùy theo từ Bộ tư lệnh đến quân đoàn đắc địa hay hãm địa (ở đây mới là trường hợp họ gặp nhau ở đại vận).
Kình Đà là quân đoàn có đôi phần nới tay do có bậc thượng tướng nghiêm chỉnh chỉ huy là Thất Sát. Nếu Thất Sát đứng cặp với Thiên Hình thì dũng mãnh hơn.
Linh Hỏa là tôi tới trung thành của cấp chỉ huy tài tử Tham Lang.
Giữa 3 quân đoàn này với cấp chỉ huy thì Phá Quân là ngang tàng liều lĩnh nhất, nên thường thay cho Thất Sát, trường hợp vắng mặt, chỉ huy Kình Đà vẫn đắc dụng hiệu lực như thường. Trái lại, Tham Lang gặp Không Kiếp, Kình Đà chẳng ra sao. Và Thất Sát gặp Không Kiếp - Linh Hỏa cũng không hiệu nghiệm cho lắm.
PHÁ TOÁI
 Phá Toái là một bàng tinh có ý nghĩa như cái tên của sao đã mang là phá tán tan nát và vị trí đóng cũng rất hạn chế là ba chổ Tỵ Dậu Sửu, ít chổ nhất trong các sao của Tử Vi mà xem ra hành động không phải tầm thường.
Thấy Phá Toái là hành Hỏa đới Kim nên ba vị trí Tỵ Dậu Sửu đối với nó coi như là thuận lợi cho nhiệm vụ không có gì cản trở (Tỵ – Hỏa, Dậu – Kim, Sửu – Thổ).
Đó là hao tán tinh, tức là không bao giờ phò trợ, chỉ làm ngang trái tư cách chính diệu hiền hậu (Tử Phủ, Cơ Lương). Trái lại tăng thêm sức mạnh cho bộ tinh đẩu hùng dũng là Sát Phá Tham, nhất là Phá Quân là cha ruột. Xét rằng ba vị trí của Phá Quân tại Tỵ Dậu Sửu đều hãm hết (Vũ Phá ở Tỵ, Liêm Phá ở Dậu), Tử Phá ở Sửu là đắc địa nhưng có nghĩa tư cách vẫn không đẹp, là thần bất trung, tử bất hiếu, không hơn gì Vũ Phá và Liêm Phá. Như đã có ý là muốn để Phá Toái giúp Phá Quân đắc lực trong cái thế "Toái quân lưỡng Phá", phải để ý đến các trường hợp sau:
- Mệnh có Vũ Phá thì phải là các tuổi Tí Ngọ Mão Dậu (Dậu đẹp nhất).
- Mệnh có Liêm Phá thì phải là các tuổi Dần Thân Tỵ Hợi (Tỵ đẹp nhất).
- Mệnh có Tử Phá thì phải là các tuổi Thì Tuất Sửu Mùi (Sửu đẹp nhất).
Một khi đã thấy có bộ Sát Phá Tham ở trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu thì phải để ý ngay Phá Toái, tùy tuổi tùy vị trí mà nhận định mức độ hay dỡ, ít nhất kết quả cũng ở trên các bộ Sát Phá Tham ở mọi chỗ hãm khác.
CÔ THẦN – QUẢ TÚ
Cô Quả là hai tiếng thường dùng để chỉ hạng người cô đơn, khắc nghiệt là do 2 sao Cô Thần - Quả Tú ghép lại.
Sự thật cốt cách của chúng có phải nhất định như thế không ? Nhận xét kỹ vị trí của 2 sao đó, thấy Cô Thần luôn đóng ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi, và Quả Tú chỉ ở Thìn Tuất Sửu Mùi luôn luôn ở thế tam hợp với nhau. 8 vị trí này có cả dương lẫn âm, và cũng không tùy thuộc tuổi dương hay tuổi âm để ấn định chổ đứng cho cả 2 sao. Biết rằng cứ 3 tuổi (địa chi) của số nối liền nhau thì Cô Thần đứng ngay cung chặn đầu và Quả Tú ngồi ngay cung chặn đuôi như 3 tuổi Dần Mão Thìn, Cô Thần ở Tỵ (đầu) – Quả Tú ở Sửu (đuôi); 3 tuổi Tỵ Ngọ Mùi, Cô Thần ở Thân (đầu), Quả Tú ở Thìn (đuôi); 6 tuổi kia, cứ 3 tuổi một cũng có Cô Thần Quả Tú chặn đầu đuôi như thế.
Nhìn vào những vị trí của 2 sao này thấy rất thua thiệt nên nó mới thành nghiệp ngã và cô đơn. Không bao giờ Cô Quả đóng trong tam hợp Thái Tuế, mà chỉ ở 3 thế: Thiên Không – Tuế Phá – Trực Phù làm cho người có số sống như trong trơ trọi và khó khăn bất mãn. Nếu có hưởng Lộc Tồn chỉ là hưởng trong nghịch cảnh, tưởng không tốt đẹp gì.
Bốn vị trí Dần Thân Tỵ Hợi của riêng của 4 tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi là được cởi mở. Ở đây Cô Thần gặp Thiếu Dương là sáng suốt nhân hậu và là vị trí của Hồng Loan đứng cặp với Thiên Không (sắc sắc không không) là thành địa của những bậc từ thiện bác ái, nhìn cuộc đời bằng mọi cách bao la, sự vật có cũng là không, không vẫn là có.           
Trong 4 vị trí Dần Thân Tỵ Hợi của 4 tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì 2 vị trí Dần Thân có đủ bộ Cô Thần, Thiếu Dương, Hồng Loan, Thiên Không. Vị trí Hợi có ba là Cô Thần, Thiếu Dương, Thiên Không nhờ thế xung Hồng Loan ở Tỵ (Tỵ Dậu Sửu: Kim) quá bén nhạy nên người có số ở Hợi (Hợi Mão Mùi: Mộc) dễ sáng suốt để trở thành đạo đức. Còn cung Tỵ cũng vậy chỉ có Cô Thần, Thiếu Dương, Thiên Không nhờ thế xung Hồng Loan ở Hợi đưa lên nhưng hơi yếu vì Mộc không ép buộc được Kim và có sao cố định là Phá Toái (ở trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu) khiến nhiều khó khăn ngang trái mới thành chánh quả trọng lẽ hiếu sinh.
Vậy chỉ có 4 vị trí này của Cô Thần, Quả Tú của 4 tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi là không khắc nghiệt cô đơn, lại còn là chổ tiềm tàng sáng suốt, chí công chỉ đạo theo thứ tự như sau:
1- Vị trí ở Dần: lòng cởi mở tuyệt thế. 
2- Vị trí ở Thân: lòng cởi mở đương nhiên 
3- Vị trí ở Tỵ: lòng cởi mở bén nhạy 
4- Vị trí ở Hợi: lòng cởi mở phải chịu sự thử thách.
THIÊN KHỐC - THIÊN HƯ
Thiên Khốc là âm kim, Thiên Hư là dương thủy
Khốc Hư là hai bại tinh chỉ có ở bốn chỗ Tý Ngọ Mão Dậu là có tư cách đưa thân thế người có số được hãnh diện với đời. Đem Khốc Hư ra phân tách tại sao chỉ có 4 chỗ Tý Ngọ Mão Dậu được gọi là đắc địa và tại sao gọi là bại tinh.
Vì Khốc Hư bắt đầu từ cung Ngọ mà đi theo chiều thuận, nghịch của âm dương, mỗi sao đi 1 chiều hướng riêng, chỉ có cung Ngọ và Tý là 2 sao đồng cung và khẳng định là ở vị trí Tuế Phá (bất mãn cực độ) vì tuổi Tý Khốc Hư ở Ngọ và tuổi Ngọ Khốc Hư phải ở Tý và các vị trí kia của các tuổi khác cũng vậy luôn luôn đóng ở phía đối kháng nên phải khoác cái áo lấy tên là bại tinh.
Người Khốc Hư Tý Ngọ được hãnh diện, dầu là bất mãn, vì là có Thiên Mã và Điếu Khách thường trực trong thế tam hợp để đưa danh tiếng người này lên với đời. Còn thành công đến mức độ nào hay thất bại hoàn toàn là do Thiên Mã có phải là ngựa, nghị lực thực sự của người có số hay không tức là Thiên Mã ở Dần phải của người tuổi Mộc và Thiên Mã ở Thân phải là người tuổi Kim mới đắc cách.
Biết rằng Thiên Khốc là Âm Kim phải đi theo chiều nghịch thì chỉ có người tuổi âm mới là thuận cách vì Thiên Khốc được đứng trong tam hợp tuổi này (vòng Thái Tuế) nhất là hai tuổi Mão Dậu, Thiên Khốc đứng cặp sát nách với Thái Tuế. Hai vị trí này đưa thanh thế của người danh chính ngồn thuận của người có tư cách không hèn, có tài biện thuyết khuất phục được chúng nhân. Còn các Dương cung tức là các tuổi Dương Thiên Khốc đứng ở thế thường xuyên trái nghịch với Thái Tuế, phải nhờ nghị lực của Thiên Mã trợ giúp như hai cung Tý Ngọ, sở dĩ kém Tý Ngọ vì không có Hư đồng cung với Tuế Phá (Lãnh tụ đối lập).
Còn Thiên Hư không bao giờ xa cách Tuế Phá là tư cách của người ôm hận, bất mãn nên trong số bao giờ cũng sắp sếp cho có Thiên Mã để làm việc.
Vậy Khốc – Hư là tư cách của bại tinh và chỉ hãnh diện được ở bốn cung Tý Ngọ (lãnh tụ đối lập) và Mão Dậu riêng cho Thiên Khốc được danh chánh mà thôi.
TUẦN - TRIỆT 
Tuần Triệt trong tử vi, từ cổ xưa đến nay không thấy sách nào nói đến cái sứ mạng rành mạch của hai sao này làm việc, mà xem ra nó lại có một nhiệm vụ như khá quan trọng trong cách phán quyết của nó, nay tôi chỉ xin trình bày một ít ý kiến gọi là phân tách kinh nghiệm của tìm tòi.

Nhìn vào vị trí của hai sao này đóng ở Thiên Bàn, Triệt theo hàng Can của tuổi ấn định vị trí hai tuổi một chỗ đứng tức là có 5 vị trí cho 10 Can.
Tuổi    Giáp Kỷ                          Triệt ở               Thân Dậu
-           Ất Canh                                                     Ngọ Mùi
-           Bính Tân                                                   Thìn, Tỵ
-           Đinh Nhâm                                                Dần Mão
-           Mậu Quý                                                    Tý Sửu 
Chỉ còn sót lại 2 cung Tuất Hợi là không có Triệt.
Thấy rằng như Triệt ở Thân Dậu nghĩa là phân chia ranh giới giữa hai cung Dương và Âm của hai tuổi Giáp (Dương) và Kỷ (Âm) thì anh hưởng tất nghiêng về tuổi đương số Giáp (Dương) hay Kỷ (Âm) để khép khín lại có nghĩa là chặn đứng theo chiều thuận hay nghịch, cắt ngang mọi liên lạc nên mới có nghĩa là Triệt Lộ và cũng vì thế tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng (Tất cả hung dữ chiếu lại đều được bình an) vì Triệt đã khép kín cửa, quân trộm cắp chỉ còn nước đứng ở ngoài đường. Phần ở trong có những gì phải thu dọn xáo trộn, cảnh trí là cảnh nhà gặp lúc biến bị phong tỏa (Triệt) vì một lẽ gì tịch biên hay tẩy uế thiếu vệ sinh .
Còn Tuần chiếm nhiệm cả 5 vị trí như của Triệt và thêm một vị trí giữa Tuất Hợi nghĩa là 6 vị trí đều nhau. Mỗi vị trí đều đứng cuối một con giáp trên và là đầu một con giáp dưới. Như tuổi Giáp Ngọ thì Tuần đóng ở Thìn Tỵ tức là sau Giáp Ngọ và là đầu Giáp Thìn, có nghĩa là cây cầu bắc nối hai con giáp để luân chuyển thời gian bất tuyệt. Vậy Tuần chỉ là cái gạch nối 2 quãng thời gian hai con Giáp (Tuần Không) như một cái xe đang chạy ngon trớn lúc gặp cây cầu bắc nối hai bờ sông, tất nhiên xe phải siết thắng bớt tốc độ để lên cầu qua sông .
Xin định nghĩa Triệt là Triệt Lộ không vong là phong tỏa khép kín cắt đứt liên lạc, là cái thắng trước của xe.
Còn Tuần là Tuần trung không vong là cây cầu nối tiếp giữa hai đoạn là kìm hãm bớt từ từ, lâu dài, cầm chừng là cái thắng sau của xe.
Hai cái đó đều có nghĩa là không. Cái “không” của Triệt là tan nát biến thể thành không. Cái không của Tuần là trung gian kiềm chế không cho phép quá trớn cũng là không.
Một vài trường hợp của Tuần Triệt như đóng ở Mệnh làm thí điểm, điều chính yếu là phải phân biệt âm dương để biết mức độ ảnh hưởng nặng nhẹ. Dương nhân theo chiếu thuận là đến cung Dương đụng ngay Triệt. Người Âm theo chiều nghịch là đến cung Âm bị Triệt chặn ngang, thì ảnh hưởng đương đầu phải là nặng quá bán (70%). Trường hợp vận hành cũng vậy, cung trước là đường giao thông đi tới đèn đỏ trước mặt, cung sau là quãng đường đã vượt qua đèn.
Mệnh bị Triệt đời phải chịu nhiều khó khăn lúc niên thiếu, bị Tuần thì luôn luôn bị trục trặc kìm hãm lúc bắt tay thực hiện công việc. Nếu bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần Triệt phá nhau để cho đương số được thong thả.
Trường hợp Tuần – Triệt phá nhau như sau:
a)      Mệnh có một Triệt hay một Tuần khi gắp đại vận gặp Tuần hay Triệt là đương nhiên người được thỏa mãn, chỗ này cái nọ tháo gỡ cái kia.
b)      Thân bị một Triệt nếu gặp Tuần sớm quá không tháo nổi, phải đến vận ngoài 30 tuổi trở đi mới thành công.
c)      Mệnh, Thân bị cả Tuần lẫn Triệt tức là không còn gì để tháo gỡ, ngay khi đến đại vận tam hợp tuổi, ảnh hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% là tối đa.
d)      Ba trường hợp trên người Dương đóng cung Dương, người Âm đóng cung Âm bị Triệt hay Tuần đương đầu.
e)      Người Dương đóng cung Âm, người Âm đóng cung Dương có Triệt hay Tuần khi đại vận gặp Tuần hay Triệt (nghĩa là bị Triệt gặp Tuần, bị Tuần gặp lại Triệt) thời vận tốt mở làm hai lần chậm chậm ở hai cung đại vận gặp Tuần hay Triệt ở giữa.
Trường hợp Thiên Mã đóng ở 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi như ở mục Thiên Mã đã nói:
Mã ở Dần phải là người tuổi Mộc mới làm chủ và sử dụng nó thành công. Mã ở Tỵ cho người Hỏa mệnh, Mã ở Thân của người Kim mạng, Mã  ở Hợi cho người Thủy, Thổ mạng. Bốn con Mã này bị Triệt là con Mã què, ngựa ăn hại, nếu gặp Tuần lại có trường hợp đắc dụng .
Biết rằng Tuần là cây cầu bắc nối 2 giai đoạn đường đời, 2 vị trí :
a)      Thì Thiên Mã ở Dần bị Tuần lại là Ngựa chiến của người Hỏa Mệnh.
b)      Thì Thiên Mã ở Tỵ bị Tuần lại là Ngựa bạch của người Kim Mệnh.
c)      Thì Thiên Mã ở Thân bị Tuần lại là Ngựa ô của người Thủy, Thổ Mệnh.
d)      Thì Thiên Mã ở Hợi bị Tuần lại là Ngựa ăn no của người Mộc Mệnh.
Tuy nhiên trước khi Mã đắc dụng, phải chùng một bước mới nhảy thành công.
(p/s: Xem thêm:
TƯ THẾ CỦA TỪNG NHÓM TINH ĐẨU
Ở phần phân tách luận đoán, việc đầu tiên đem Tử vi chia thành Lưỡng nghi, Lưỡng nghi phân ra tứ tượng, rồi tuần tự ra bát quái v.v.. thì thấy đâu nào là phe phái và sự phản ứng khi chúng gặp nhau. Cũng như một gia đình có nội ngoại, con cháu sau này ngày một sanh sản ra xa lần nhau, sự phân biệt vẫn là nội hay ngoại khiến sự sinh khắc chế hóa nặng hay nhẹ là cùng phe hay khác phái.
Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham là một trong lưỡng nghi khi chuyển vận gặp nhau vẫn ít thay đổi, dễ dàng hơn là gặp Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật
Trái lại Cơ Nguyệt Đồng Lương vận hành đụng nhằm Sát Phá Liêm Tham tất nhiên phải có sự đụng chạm nặng vì là 2 thế cờ đặc biệt khác nhau như nước với lửa, phần thiệt hại vẫn là phần của kẻ yếu.
Tư thế của Tứ tượng muốn được hoàn mỹ cũng như triều đại nào phải có tối thiểu bầy tôi chân tay đắc lực của họ mới thành công:
a)      Bộ Tử - Phủ - Vũ - Tướng : Cần nhất Tả - Hữu, Thai – Tọa .
b)      Bộ Sất – Phá – Liêm – Tham : Cần nhất là Lục Sát – Tinh, Thai – Cáo
c)      Cơ – Nguyệt - Đồng – Lương : Cần nhất là Xương – Khúc, Khôi – Việt
d)     Cự - Nhật : Cần nhất là Hồng – Đào , Quang – Quý
e)      Riêng bộ Nhật – Nguyệt, nếu có lạc hãm, ngoài bộ Hồng – Đào – Hỉ, ít nhất phải đứng cặp với một trong ba bộ hợp cách với nó là : Xương – Khúc, Long – Phượng, Quang – Quý cũng kể như là người có tư cách, dầu có ở hoàn cảnh nghèo túng cũng không hèn .
Bộ Khoa Quyền Lộc cho những cách trên như gấm thêu hoa là tư thế của người gặp vận hội tốt .
Bộ Long - Phượng - Hổ - Cái là nhân phẩm của cá nhân chính phái.
Còn cái chân giá trị thực sự tương xứng với địa vị và lòng ngưỡng mộ trọng đãi được thế nhân cảm phục là ở 3 bộ:
Nhật - Nguyệt  : Thông minh sáng suốt
Tả Hữu            : Tài năng quán xuyến
Thiên Mã         : Nghị lực cần mẫn
Số Khổng - Minh quân sư nhà hậu Hán đắc bộ 3 này. Theo thiển kiến bộ 3 này là 3 viên ngọc quí của Tử -Vi, chứng minh đương số là người có thực lực, chỉ cần có 1 trong 3 bộ này cũng đủ hơn cái bả vinh hoa (Khoa Quyền Lộc) về phần thực sự giá trị.
THIÊN HÌNH và HÓA KỴ: 
Ngoài bộ Lục Sát - Tinh và Lưu Hà, Kiếp Sát, hung tinh đáng kể là Thiên Hình (Kim) và Hóa Kỵ (Thủy):
Người tuổi Giáp Ất hay mạng Mộc khi gặp Thiên Hình phải coi chừng né tránh, ngay cả Thiên Tướng cũng bị Thiên Hình khuất phục.
Người Tuổi Bính Đinh hay mạng Hỏa gặp Hóa Kỵ cũng vậy.
Sức đàn áp của hai sao này đốt với 2 hạng người kể trên bị khắc chế quá mạnh như mèo gặp chuột, dầu có no mồi cũng dỡn vài quyền cước chơi. Trường hợp giảm khinh là số đến vận tốt và Hình đắc địa (Dần Mão Dậu Tuất),  Hóa Kỵ (Thìn Tuất Sửu Mùi) như có ý rộng lượng với kẻ dưới tay.
Người Hình Riêu Không Kiếp (hãm) là hạng người dễ bị lây vạ, là oan nghiệp níu kéo, trong những vụ tai nạn chung, những người này phải là tiên phong chịu trận. Còn Liêm Tham Tỵ Hợi gặp Hóa Kỵ được giảm sự lo ngại những tai nạn xảy đến là cái thế thăng bằng chỉ có 2 tuổi Kim và Hỏa mới được giảm khinh ở đây không phải cho hết các tuổi đủ mọi hành .
MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
Mục này tôi kính dâng hương hồn cụ Ba La, bậc tiền bối đã khuyến khích tôi muốn học Tử Vi phải suy luận tìm tòi và hé mở cho tôi ít ánh sáng về cảnh phân biệt Mệnh Vô Chính Diệu như tôi đã có hỏi cụ trong bài tôi viết về cụ “Ông Vua Tử Vi Bất Đắc Chí” trong Khoa Học Huyền Bí số ra ngày 18-2 -73.
Cái gì của cụ phải song phẳng trả về cụ dầu ít dầu nhiều cũng là cái gia tài tinh thần riêng của cụ . Vậy xin có mấy hàng chữ kính hoàn.
Thật tình mà nói, trong Tử Vi khó nhất là Mệnh Vô Chính Diệu, rất khó phân tách với vài câu: Phi bần tắc yểu, mệnh đắc Tam không nhi phú quí khả kỳ, cứ tưởng thấy mình có Tuần, Triệt, Thiên , Địa Không là đắc cách rồi, ai ngờ là một cái hố rất lớn.
1. Mệnh Vô Chính Diệu là mệnh vắng bóng chính tinh như cái nhà mượn nóc dựa ghé vào nhà người lợp mái trên để ở, nếu không có cây xà, những đòn tay cứng đóng chắc làm sao chống chọi được với mưa tuôn gió bão. Điều kiện trước nhất là phải có sát tinh hợp hành của mệnh đắc địa làm nòng cốt thủ mệnh mà không bị Tuần Triệt xâm phạm tức là cách hung tinh độc thủ như trường hợp vua Lê TháiTổ anh hùng cứu quốc, tuổi Ất Sửu KIM mệnh đóng ở Dậu (kim cung tam hợp Thái Tuế) được Bạch Hổ khiếu tây phương cách (kim đắc địa).
2. Thứ đến là cách Nhật Nguyệt tịnh minh (Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi) đồng chiếu lên mệnh ở Mùi có Hóa Kỵ đắc Tuần là tinh anh của Nhật - Nguyệt được Tuần câu hút với mây lất phất óng ánh ở nền trời hư không.
3. Phải là Hỏa - mệnh, có một Không đắc địa thủ, hai Không tam - hợp không có trung tinh đắc cách mới là trúng cách đắc Tam Không
4. Mệnh có một Không thủ, hai Không tam hợp mà có hung tinh hay trung tinh đắc cách là cách Kiến Tam Không (đời chỉ là hình thức, không có miếng gì).
5. Mệnh có sát tinh khắc mệnh, hai Không tam hợp chiếu là cách Ngộ Không (yểu tử).
6. Mệnh không có sát tinh đắc địa tọa thủ, lại bị sát tinh khắc mệnh thủ, hợp chiếu lại xung sát phải có Triệt ngay mệnh mới mong giải thoát.
7. Mệnh có sát tinh đắc cách thủ, lại bị sát tinh khắc mệnh thủ, hợp chiếu lại có trung tinh đắc cách, nếu mệnh có Tuần kể như hão huyền.
8. Mệnh không có sát tinh đắc cách, không có Không, trông cậy vào hợp chiếu có trung tinh đắc cách không bị phá hư (nghĩa là không có Tuần Triệt).

Tóm lại: chỉ có người Hỏa mệnh mới đắc Tam Không (trường hợp 3) và người Kim mệnh được sát tinh đắc cách đắc địa độc thủ được hưởng vô chính diệu trường hợp đặc biệt. Còn trường hợp được Nhật (Mão) Nguyệt (Hợi) đồng chiếu lên Mùi cho tất cả mọi người. 
ĐỊNH DANH VỊ TRÍ CỦA TINH ĐẨU
Tử Vi: uy nghi, đức độ chủ quyền lộc, Phúc Đức (Nam Bắc đẩu, Dương Thổ) 
-     Miếu địa   : Tỵ Ngọ Dần Thân             -     Bình Hòa: Mão Dậu
-     Vượng địa: Thìn Tuất                           -     Hãm địa: không
-     Đắc địa     : Sửu Mùi Hợi Tí
Thiên Phủ: Chủ tài lộc, trung hậu hiền lành (Nam bắc đẩu, Âm Thổ)
-     Miếu địa   : Dần Thân Tý Ngọ
-     Vượng địa: Thìn Tuất                           -     Bình Hòa: Sửu Mão Dậu
-     Đắc địa     : Mùi Tí Hợi                        -     Hãm địa: không
Vũ Khúc: chủ tài lộc (Bắc Đẩu – Âm Kim)
-     Miếu địa   : Thìn Tuất Sửu Mùi            -     Đắc địa      : Mão Dậu
-     Vượng địa: Dần Thân Tí Ngọ               -     Hãm địa    : Tỵ Hợi
Thiên Tướng: Quyền tinh uy dũng (Nam Đẩu – Dương Thủy)
-     Miếu địa   : Dần Thân                           -     Đắc địa: Sửu Mùi Tị Hợi
-     Vượng địa: Tý Ngọ Thìn Tuất              -     Hãm địa: Mão Dậu
Thất Sát: Quyền tinh, uy dũng (Nam Đẩu – Dương Kim)
-     Miếu địa   : Dần Thân Tí Ngọ             -     Đắc địa: Sửu Mùi
-     Vượng địa: Tỵ Hợi                              -     Hãm địa: Mão Dậu Thìn Tuất
Phá Quân: Dũng mãnh, hao tán (Bắc Đẩu – Âm Thủy)
-     Miếu địa: Tí Ngọ                       -     Đắc địa: Thìn Tuất
-     Vượng địa: Sửu Mùi                 -     Hãm địa: Dần Thân Tỵ Hợi Mão Dậu
Liêm Trinh: Chủ quan lộc, Tù tinh (Bắc Đẩu – Âm Hỏa)
-     Miếu địa   : Dần Thân                        -     Đắc địa: Sửu Mùi
-     Vượng địa: Thìn Tuất Tí Ngọ             -     Hãm địa: Tỵ Hợi Mão Dậu
Tham Lang: Chủ họa phúc, Hung bạo (Bắc Đẩu – Âm Mộc đới Thủy)
-     Miếu địa: Sửu Mùi                               -     Đắc địa: Dần Thân
-     Vượng địa: Thìn Tuất                           -     Hãm địa: Tỵ  Hợi Tí Ngọ Mão Dậu
Thiên Cơ: Chủ huynh đệ, Mưu cơ, Phúc thọ (Nam Đẩu – Âm Mộc)
-     Miếu địa   : Thìn Tuất Mão Dậu          -     Đắc địa: Ngọ Tí Sửu
-     Vượng địa: Tỵ Thân Mùi                     -     Hãm địa: Dần Hợi
Thái Âm: Chủ điền tài (Bắc Đẩu – Âm Thủy)
-     Miếu địa   : Hợi Tí                              -     Đắc địa: Sửu Mùi
-     Vượng địa: Dậu Tuất Thân                  -     Hãm địa: Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ
Thiên Đồng: Chủ phúc thọ (Nam Đẩu – Dương Thủy)
-     Miếu địa   : Dần Thân      -     Đắc địa: Mão Tị Hợi
-     Vượng địa: Tí                   -     Hãm địa: Ngọ Dậu Thìn Tuất Sửu Mùi
Thiên Lương: Chủ phúc thọ, phụ mẫu (Nam Đẩu – Dương Mộc)
-     Miếu địa   : Ngọ Thìn Tuất                   -     Đắc địa: Sửu Mùi
-     Vượng địa: Tí Mão Dần Thân              -     Hãm địa: Tỵ Hợi Dậu
Cự Môn: Chủ điền, thị phi (Bắc Đẩu – Âm Thủy)
-     Miếu địa   : Mão Dậu                           -     Đắc địa: Thân Hợi
-     Vượng địa: Tý Ngọ Dần                      -     Hãm địa: Tỵ Thìn Tuất Sửu Mùi

Thái Dương: Chủ quan lộc (Nam Đẩu – Dương Hỏa)
-     Miếu địa   : Thìn Ngọ                          -     Đắc địa: Sửu Mùi
-     Vượng địa: Dần Mão Tỵ                      -     Hãm địa: Thân Dậu Tuất Hợi Tý
Địa Không, Địa Kiếp       : Hỏa, đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi Kình Dương          : Kim đới Hỏa, đắc địa ở Thìn Tuất Sửu Mùi
Đà La                     : Kim đới Hỏa, đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi
Linh Tinh              : Hỏa đới Kim đắc địa ở Dần Mão Tỵ Ngọ
Linh Tinh              : Hỏa Thìn Tuất Sửu Mùi
Song Hao               : đắc địa Dần Thân Mão Dậu
NGŨ HÀNH TRUNG TINH
Tả Phù        : Dương Thổ đới Kim                         Hóa Khoa        : Thủy
Hữu Bật     : Dương Thổ đới Thủy                        Hóa Quyền      : Mộc
Văn Xương: Dương Kim đới Thổ                         Hóa Lộc          : Mộc đới Thổ
Văn Khúc   : Âm Thủy đới Hỏa                             Đào Hoa          : Mộc
Thiên Khôi : Dương Hỏa đới Kim                         Hồng Loan      : Thủy
Thiên Việt  : Dương Hỏa đới Mộc                        Tam Thai, Bát Tọa: Thổ
Long Trì     : Thủy                                                  Thai Phụ          : Thổ đới Kim
Phượng Các: Mộc                                                   Phong Cáo      : Thổ đới Thủy
Ân Quang   : Mộc Thiên Quý  : Thổ 
BẢNG KÊ HẠN HÀNH CHUYỂN ĐẾN CUNG NHẬP HẠN
Như người tuổi Dần Ngọ Tuất chuyển đến cung: 
- Hợi Mão Mùi được sinh nhập
-Thân Tý Thìn bị khắc nhập
- Tỵ Dậu Sửu khắc xuất mà sa lầy
Còn 3 tam hợp tuổi kia cũng vậy, cứ lấy hành của tam hợp tuổi mà sinh khắc với 3 tam hợp cung còn lại mỗi khi chuyển vận hạn.
HẠN TAM TAI
TUỔI                                  NĂM HẠN
Thân Tý Thìn                     đến Dần Mão Thìn      là 3 năm tam tai.
Dần Ngọ Tuất                     đến Thân Dậu Tuất     là 3 năm tam tai.
Hợi Mão Mùi                     đến Tỵ Ngọ Mùi         là 3 năm tam tai.
Tỵ Dậu Sửu                        đến Hợi Tý Sửu          là 3 
NĂM HẠN VÀ NĂM XUNG
TUỔI
HẠN
XUNG
Dần Thân
Ngọ
Sửu
Sửu Ngọ

Dần
Tỵ Hợi
Thân
Mão
Tỵ Hợi
Dậu
Thìn

Tut
Tỵ

Hợi
Ngọ
Sửu Ngọ

Mùi
Dậu Hợi

Thân
Ngọ
Dần
Dậu

Mão
Tuất
Tỵ
Thìn
Hợi

Tỵ


PHẦN III
CÁCH TÍNH PHẠM GIỜ KIM SÀ
Trẻ mới sanh nên tính xem có khó nuôi hay dễ nuôi là cách tính giờ Kim sà và giờ Quan sát.
Kim - Sà thì bắt đầu từ cung Tuất kể là năm Tí đếm theo chiều thuận mỗi cung một năm đến năm sinh ngừng lại. Lại bắt đầu từ cung đó tính nghịch mỗi cung là một tháng tới tháng sinh ngừng lại . Lại bắt đầu từ cung đó tính thuận mỗi cung là một ngày tới ngày  sinh ngừng lại. Lại bắt đầu từ cung đó tính nghịch đi mỗi cung là một giờ tới giờ. Khi tới giờ sinh thấy đúng cung THÌN TUẤT là phạm giờ cho con trai, nếu cung SỬU MÙI là con gái phạm giờ. Ngoài ra không đúng 4 cung THÌN TUẤT SỬU MÙI kể như là dễ nuôi.

GIỜ QUAN SÁT XEM BẢNG SAU ĐÂY
THÁNG SINH         GIỜ SINH
01                                                       Tỵ là giờ QUAN SÁT khó nuôi
02                                                       Ngọ    --------------------------
03                                                       Mùi    --------------------------
04                                                       Thân   --------------------------
05                                                       Dậu    ---------------------------
06                                                       Tuất   ---------------------------
07                                                       Hợi    ---------------------------
08                                                       Tí       ---------------------------
09                                                       Sửu    ---------------------------
10                                                       Dần    ---------------------------
11                                                       Mão   ---------------------------
12                                                       Thìn   ---------------------------
CÁCH TÍNH XEM NĂM TUỔI BỊ KIM LÂU KHÔNG NÊN LÀM NHÀ:
8         17          26          34
43        TỐN                  52
9          18            27           36
44         LY                        53
1          10         19          28
37         KHÔN               46
54
7         16          24          33
42         CHẤN              51
60
5           15           25           35
45          TRUNG              55
2           11         20         29
38          ĐOÀI               47
56
6         14          23          32
41        CẤN                  50
59
4           13           22           31
40          KHẢM                49
58
3           12          21         30
39          CÀN                 48
57
Xem tuổi nào phạm vào cung CÀN KHÔN CẤN TỐN là phạm giờ Kim - Lâu không nên làm nhà năm đó.
                           
                          PHẦN IV: Luận giải
MỘT SỐ LÁ SỐ MẪU

Một vị đại hùng đại lực đại bi
- Thưa Tiên sinh, sau một thời gian theo dõi đọc Khoa Học Huyền Bí nhất là số J1 ngày 15 -10 -1973 vừa rồi, tôi đánh bạo đến đây cầu mong tiên sinh chỉ bảo cho biết thêm về Tử vi.
- Bạch đại Đức, hôm nay đại Đức chiếu cố đến thật là vinh dự cho tôi, biết đâu sau khi ra về Đại đức sẽ thấy thất vọng, cái tôi chỉ là thiểu học không căn bản. Sở dĩ tôi dám mạo muội trình bày ý kiến không ngoài mục đích tìm thầy mở lối .
- Xin tiên sinh đừng quá nhún nhường, tôi thật tình là một người tìm học Tử vi. Hôm nay có mang theo một lá số mà tôi cố công sưu tầm theo sự hiểu biết của tôi, mong Tiên sinh giải đáp cũng như những lá số Tiên sinh đã phân tách lâu nay trên Khoa Học Huyền Bí để là thước ngọc khuôn vàng cho mức học của tôi. Không nói ra, chắc sau khi xem, Tiên sinh cũng biết đây là số của Đức Thế Tôn mà đời tôi đã trao trọn theo giáo thuyết của Ngài. Căn cứ theo năm sinh của Ngài là năm 563 trước dương lịch ( Mậu Tuất ) lấy ngầy 08 tháng Tư giờ Ngọ để lập thành, mong rằng Tiên sinh cứ trung thực thử phân tách may ra tôi được thêm phần nào ánh sán
Sau khi tiếp chuyện vị Đại Đức không quen biết, không dám phụ lòng người đã thành thật chiếu cố, để đền đáp công người đã đến tận nhà khuyến khích. Được biết lá số của Đức Phật, tôi đã cố tìm kiếm những điểm chính nào mà Ngài đã hơn người là Tuệ giác.
Tuổi Mậu Tuất, Mệnh Thân đồng cung tại Hợi, ở vị trí sáng suốt cùng với thiên địa cảm thông, như người có sứ mạng , có sự đồng minh của thiêng liêng để dìu dắt nhân loại (Thiếu Dương được Hồng Đào Hỉ). Thiên Không ở đây mới thật vấn đề tài tình. Ở vị trí Dần Thân Tỵ Hợi, Thiên Không phải phụ thuộc Hồng Loan, dầu đồng cung hay xung chiếu, là bổn tình người không ham phù vân, tự tu tự tỉnh biết trọng cái lý công bằng thiên nhiên, hễ vay là phải trả, muốn là phải khổ, mọi sự vật đều là Không, là chân lý vô thường của nhà Phật, là chân lý thường diễn biến hàng giờ hàng phút, tất cả không có gì là không biến dịch từ cái sinh đến cái diệt cứ liên tục thay nhau bất tận của cái thế luân - hồi.
Phủ phùng Không là cái phủ trống rỗng , là cái không có gì, ngay cái Mệnh của Ngài coi cũng là Không, thiết tưởng Hồng – Lộc xung chiếu, Ngài còn thiết gì mà không ngăn cách bằng Tuần, huống chi Hồng - Lộc là miếng mồi ở trong có thuốc độc (Hà - Sát) với Ngài là bậc Tuệ giác làm sao mà không coi thường gạt bỏ.
Thiên Không đã tài tình mà Cô Thần ở đây không kém phần đặc sắc . Người ta thường nói Nam kỵ Cô, Nữ kỵ Quả thì lý đương nhiên là người cô quạnh cho đến cả vợ con ruột thịt đồng bào nhân loại, có cũng như không, không vẩn là có ở đây nó là thế (Hồng – Không, Sắc Sắc Không không). Như vậy Ngài đâu có lẻ loi , vẫn sống với nhân loại đại đồng, dầu Đông hay Tây, Nam hay Bắc, dưới nhãn tuệ của Ngài (Thiếu Dương, Thiên Hỉ) đều là con người nay kiếp này, mai kiếp khác cũng như nhau, Ngài vẫn có một tình âu yếm nhân hậu (Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức).
Khoa, Đào, Việt, Tả - Hữu là vạn năng của Phật , dầu ở khía cạnh nào vẫn là tập trung ở cái nhân tứ đức, cái Tuệ giác quản thông của Ngài cùng trời đất (Thân Mệnh đồng cung).
Thiên Tướng cung Quan ở Mão là Thiên Tướng hãm , nếu là tuổi khác không được Thiếu Dương, không được Tứ Đức, có lẽ đây là một ông thấy tướng số có hạng. Với Đức Phật như lá số này ( Mậu Tuất) chỉ là một ông thầy tu khiêm tốn không uy quyền , không ép buộc, không khuyến dụ ai phải theo mình, ai hỏi thì nói, nói rồi coi cũng như không nói. Thiên Tướng đây có tính cách bình dân muốn để quần chúng tự ý giải thoát mình , chứ Ngài không muốn cho mình là người sáng ban phát ơn huệ cho ai là người mê muội. Cái phẩm cái của Thiên Tướng (Mão Dậu) nó giản dị cặp thêm Thiên Quan có ý nghĩa thông cảm trời cao (Dương) , Thiên Phúc đất rộng (Âm) là sứ mạng của người thông đạt lý lẽ âm dương muốn mọi người hết mê để tự thành Phật hết cả. Nó thong thả tự do tự mình cởi mở lấy mình , ngay cả những lời Ngài nói đừng có tin ngay. Chừng nào thấy chắc chắn có giá trị thì hãy theo, cũng có nghĩa răn bảo người ta chớ đừng sùng tín dễ dàng để rồi dễ thành thành kiến sai lạc nô lệ cho 1 học thuyết luân lý hay tôn giáo.
Căn cứ theo số này người Dần Ngọ Tuất vận hành đến Tỵ Dậu Sửu là phải khắc phục và bị sa lầy, biết rằng Ngài giác ngộ từ năm 29 tuổi và dấn thân vào khổ hạnh hành xác mất 6 năm tức là giai đoạn 22-31 mất 3 năm chót và 3 năm giai đoạn đầu 32-41. Ngài đắc đạo năm 35 tuổi thành một vị Thế Tôn ở vị trí Quan Phù, Thái Tuế, Bạch Hổ cùng ảnh hưởng của Thái Dương ở Dần là mặt trời ló dạng ở chân trời, rồi từ đó mà đi cho đến ngày tịch ở 80 tuổi ở cung Ngọ được nhân loại tôn sùng kính bái cho tới ngày nay trên 2.500 năm.
Đời Đức Thế Tôn Thích Ca dĩ nhiên Ngài thành Phật là ở Tuệ Giác hơn người (Thân Mệnh đồng cung ở vị trí Thiếu Dương, Thiên Hỉ, hội đủ Tả -Hữu, Khoa, Đào, Việt, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức và có cả bộ Thiên Quan, Thiên Phúc) mới dứt bỏ được địa vị cao sang vợ đẹp con khôn phải là một người hùng , không ỷ lại vào đâu để tìm chân lý là người có nghị lực, song rồi chỉ có một hoài bão sao cho nhân loại được giải thoát trần ai khổ ải là đại từ bi.
Bạch Đại Đức , theo lá số này, cứ theo thiển kiến của tôi, có lẽ hình ảnh Đức Thế Tôn có phần in đúng. Thì dĩ nhiên sự giác ngộ sâu rộng của Đại Đức đã tiến gần Đức Thế Tôn  . Vậy để tạ lòng chiếu cố , tôi xin tóm tắt trình Đại Đức, không dám nào đánh trống qua cửa nhà sấm.

Một lá số Vô Chính Diệu đắc cách:
ĐỨC HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
Hưng Đạo Vương là tước vị của hoàng thân Trần Quốc Tuấn , một vị danh tướng nhà Trần có chiến công không kém phần quan trọng và hiển hách so với các vị anh hùng dân tộc như Đại đế Quang Trung, Lê Thái Tổ. Ngài là vị anh hùng đuổi quân xâm lăng Mông Cổ , chứ không phải chỉ là một vị linh thần như một số người hiểu lầm dưới một khía cạnh đánh phạt tà ma cứu nhân độ thế với uy hiệu là Đức Thánh Trần.
Theo một số dã sử, ngài tuồi Mậu Tý (1228 TL) , sanh ngày 30 tháng chạp giờ Ngọ, quy thần ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300 TL) hưởng thọ 72 tuổi.
Tuổi Mậu Tý thân mệnh đồng cung tại Mùi Vô Chính Diệu là vị trí của người đã chấp nhận với định mệnh lấy đức nhân hậu làm chủ đích, dầu thân phận có phải hy sinh cũng không ngại. Vì thế đương số mới ghi được câu nói bất hủ : “Nếu Bệ hạ muốn hàng Mông Cổ xin trước hãy chém đầu tôi đi đã rồi sau sẽ hàng cũng không muộn”. Ăn nhịp với câu cứng cỏi bất khuất của Thái Sư Trần Thủ Độ : “Đầu thần chưa rơi xuống đất thì xin Bệ Hạ đừng lo”.
Người Vô Chính Diệu Hỏa mệnh đắc Tuần câu hút Nhật Nguyệt tịnh minh Mão Hợi phải nói là cách Vô Chính Diệu tuyệt hảo , một sự thông minh quán chúng, một đức độ chính đính sánh với trời cao đất rộng (Song long Quan Phúc); còn Hồng – Việt Tả Hữu Khoa - Quyền, một khả năng văn võ toàn tài quyền uy đúng mực.
Đây có phải là một vị Thiên tướng xuống trần như đế - sử đã nói: lúc có mang An Sinh vương Vương phu nhân nằm mơ thầy thiên thần sinh đầu thai , đến lúc sinh ra Vương có hào quang mùi thơm ngào ngạt. Lên 6 tuổi đã biết làm thơ và hay bày chơi đồ bát trận (Nam Hải Dị Nhân của Phan Kế Bính.
Lòng chính đính của Vương ngay cả ở bộ tinh đẩu giáp 2 bên mệnh Thai, Tọa, Quang Quí phá tan cả nghi vấn Tử - Phá là hoàn cảnh bất hạnh Vương phải gánh chịu một trong hai điều bất trung hay bất hiếu . Vì nhà Trần,  theo sử liệu có sự lỉnh kỉnh trong Hoàng tộc nên khi Đức Ông An -  Sinh Vương – Liễu lúc sắp qua đời có trối trăn cho Vương là phải giải hận cho ông. Nên lúc phò xa giá Nhân – Tôn chạy loạn vào Thanh Hóa, Vương phải bẻ gãy mũi gươm ở tay để tránh điều nghi kỵ và tỏ lòng trung thành minh bạch của Vương như đôi vừng Nhật Nguyệt ở số định, tưởng sự chân thành này không còn bút nào tả hết, và công nghiệp vang dội cũng không biết nói thế nào tả đủ với Tuần của Hỏa mệnh.

Đem so sánh với số Vô Chính Diệu của Lê Thái Tổ Kim – mệnh đắc Bạch Hổ cư Dậu , lá số vị Đại đế cứu quốc cũng được Nhật Nguyệt ở Sửu chiếu lên. Người tuổi Sửu đứng ở Dậu là cái thế của người làm việc chính nghĩa . Kim – mệnh đóng Kim – cung ở thế Kim , đối phương ở Mão (Mộc) khó nói ở yên không thể không bị khắc chế. Nếu thêm Tuần thị lại giảm uy danh của Bạch Hổ độc thủ tuy là câu hút được Nhật Nguyệt dễ dàng, vậy không nên quan niệm tính ở “Không” mà định giá trị của số Vô Chính Diệu.


Đại đế Lê Thái Tổ với Bạch Hổ ở bản mệnh Kim, được Nhật Nguyệt ở Sửu, binh quyền ở Tỵ đủ cái nghĩa một vị Đại đế anh hùng thời cuộc, còn Hưng Đạo Vương Vô Chính Diệu không có nòng cốt một sát tinh đắc địa hợp mệnh của tuổi Hỏa, phải mượn thế Thái – Dương nhờ Tuần thâu hút, dẫu Tuần là Hỏa, cũng là một số đắc cách, phải nhìn nhận là kém số vua Lê lợi vì không đắc sát tinh đắc địa độc thủ mất đi phần uy nghiêm bố cục. Nhưng được Tuần lôi kéo Nhật Nguyệt nhất là Nhật ở Mão , Nguyệt ở Hợi là vị trí tuyệt phần của thông minh,  sáng suốt hơn hẳn bất cứ vị trí nào của bộ Âm – Dương. Huống chi bồi thêm Tả Hữu Hồng – Việt Khoa – Quyền dư tài làm một vị nguyên soái thông văn đạt võ điều khiển thiên binh vạn mã. Chỉ hiềm vị trí ở Mùi là luôn luôn ở thế bị động chỉ tìm cách chống đỡ (Mộc) thế công ở Sửu (Kim) . Đối phương từ Đồng – Cơ đến Hà – Sát, Kiếp – không, Toái – Kỵ, một đoàn quân từ cấp chỉ huy đến ba quân chỉ biết đem rải khắp đó đây sự khủng khiếp mạnh ai nấy vơ vét, rồi ra cũng chẳng nên trò trống gì ở vị trí Thiên – Không chính vị (Thìn Tuất Sửu Mùi).
Quân Nguyên bắt đầu khơi quân sang xâm chiếm vào tháng 10 năm Quý Mùi (1283) cho đến trận thất bại cuối cùng ở Bạch Đằng Giang vào tháng 3 năm Mậu Tý (1288), tức là giai đoạn Hưng Đạo Vương đi vào cung Tý (56 – 65) tức là giai đoạn thẳng thế nhất đời của Vương ở thế chính Thái Tuế, chứ bộ Sát Phá Tham này chẳng có gì là tốt đẹp (hãm địa) quân thần tả sứ thiếu be bét, được một Linh (Thìn) phụ tá cho cấp chỉ huy mặt trên Tham – Lang là hợp cách, còn Thất Sát , Phá Quân như là chịu trận không một chút khả năng chống đỡ, hèn chi Vương phải mấy phen phò giá rời bỏ Long Thành.
Đứng về phương diện số, trường hợp Vô Chính Diệu như 2 lá số của Lê Thái Tổ và Hưng Đạo Vương phải kể là 2 trường hợp đắc cách nhất. Một đằng tuổi Kim đắc sát tinh đắc địa thủ mệnh, một đằng Hỏa mệnh đắc Tuần thâu hút Âm Dương là 2 kiểu điển hình xếp theo giá trị. Dĩ nhiên hai số này phải sắp xếp sau số của Đại đế Quang Trung tuổi Nhâm Thân (Kim), mệnh đóng ở Thân (Thái - Tuế)  có Thất – Sát thủ mệnh (Kim). Nguyên một chi tiết nhỏ cũng đủ thấy một vị anh hùng không biết cái thua là gì.
Xét về công – nghiệp thì Đại vương Quốc Tuấn với cái thân thế là một danh thần phải kể là quá lớn lao đối với tổ quốc dân tộc thì ngàn thu hương khói chỗ Linh – địa Vạn – Kiếp cũng là rất xứng đáng với lòng dân thờ kính, tuy vậy vẫn còn lẽ thiệt thòi, so sánh với 2 vị Đại đế , phải chăng là ở vị trí Long Đức, định mệnh đã đặt để.

LÊ THÁI TỔ
Một vị đế vương mệnh vô chính diệu
Thái Tổ khởi nghĩa tại đất Lam Sơn (Thanh Hóa) ròng rã 10 năm đánh đuổi quân Minh sau 13 năm đô hộ, khai sáng cho một triều đại gần 4 thế kỷ (360 năm). Ngài trị vì được 6 năm và thọ 49 tuổi (50 tuổi là lão, 49 tuổi còn là yểu).
Nói đến triều đại và công nghiệp của Thái Tổ, ai ai cũng phải công nhận là 1 triều đại chính thống có công đuổi xâm lăng lấy lại độc lập cho giang sơn đất nước. Sau này bao lần vật đổi sao dời hết Nguyễn đến Trịnh , rồi sau đến Tây Sơn vẫn lấy danh nghĩa là phù Lê diệt Tặc (Trịnh hay Nguyễn).
Vậy thời lá số của Ngài hẳn là đặc biệt . Mà đặc biệt thật: Ngài tuổi Ất Sửu, sanh ngày 6 tháng 8 giờ Tí. Thân Mệnh đồng cung tại Dậu, Vô Chính Diệu, không có một không nào thủ mệnh hay chiếu.
Đây là một cái mệnh đặc biệt, tuy Vô Chính Diệu nhưng quả là đắc chính diệu. Kim mệnh âm nam đắc Bạch Hổ Dậu cung cùng Phi Liêm, Phượng Các, Giải Thần đủ tư cách là một nhà đại ái quốc, đại anh hùng cứu quốc, cắn răng chiến đấu, hăm hở dũng mãnh vô cùng.
Đối cung Cự, Cơ, Lộc tồn, Hóa lộc là cả một cái thế cai trị độc đoán, thực dân bóc lột vững như thành đồng vách sắt . Nhưng nhìn vào cái thế cờ, Thái Tổ tuy là yếu, vẫn ở cái thế lợi là Kim khắc Mộc với bộ Tứ - Hóa , mỗi vị trí đều có cái đắc dụng riêng như Khoa ở Ách (Tử - Tướng ngộ Hình đắc Khoa khả giải). Kỵ ở Quan (Nhật – Nguyệt đắc địa, Thanh Long đắc Hóa Kỵ).
Trong 10 năm tranh đấu, tám năm ở cung Ngọ bị khắc nhập cả thời gian lẫn không gian, rất nên nguy khốn vô cùng. May mà người Vô Chính Diệu gặp hạn Sát Phá Tham đắc địa nhưng đều bị kềm chế hết thảy (Thất –Sát ngộ Triệt, Phá Quân ngộ Tuần, Tham Lang ngộ Thiên Không) nên cứ cù cưa và phải chịu đựng sự gian lao, chờ cơ hội thuận lợi. Phải chờ qua đại vận ở Tỵ cung và cũng phải qua đến 2 năm sau mới thành công và ở ngôi được 6 năm đến năm 49 tuổi là băng hà. Tam – Hóa Liên Châu ở Thìn phải công nhận là quý, là tấm bảo quốc huân chương cho người được hãnh diện mang nó đang đứng ở chỗ thanh thiên bạch nhật, ớ Ách cùng với Khoa Giáp Quyền Lộc đã cứu Vương bao nhiêu lần, nhất là trận bao vây ở Chí Linh tháng 4 năm Mậu Tuất hết lối thoát, nhờ có ông Lê Lai đổi áo Vương mới thoát được.
Thiên Đồng là phúc tinh đóng ở Phúc Đức là đúng cách; nhưng tại sao lại bị Tuần làm giảm cả bộ tướng ẩn . Nó là một uẩn khúc của Thái Tổ nhà Lê sau 10 năm chính chiến, không muốn kéo dài cuộc can qua, sai sứ sang Tàu cầu phong, nhưng vua nhà Minh không chịu, cứ bắt phải con cháu nhà Trần làm vua nước Nam mới được. Năm lần 7 lượt sự quy lụy đó đủ giảng cho thấy là Thiên Đồng, Tướng – Ấn bị Tuần là thứ cách. Có phải là cái nghiệp của những nhà khai sáng cho mỗi triều đại, sau khi đã bình định xong đất nước cứ hay hãm hại công thần, những người đã cùng mình vào sinh ra tử nằm gai nếm mật, để đưa mình lên địa vị tột đỉnh cao sang.

Vua Lê Lợi cũng không thoát khỏi cái nghi ngờ quàng siên ấy, nên đã giết oan 2 ông Trần Nguyên Hãn và Phan Văn Xảo chỉ vì sự gièm pha của phường múa rối. Có lẽ đó cũng là luật thừa trừ của cán cân công lý thiêng liêng nên Ngài phải chịu sự mất sớm 1 năm trước khi được đến cõi thọ.



Nỗi lòng cụ
PHAN THANH GIẢN
Cụ Phan Thanh Giản là một nhân vật của lịch sử. Cuộc đời cụ từ lúc tay buông xuôi cho đến nay đã có nhiều nhận xét tùy theo thời cuộc, công luân ca ngợi cũng lắm và chê bai cũng không phải là không có. Giữa lúc con cháu xúm quanh cái thây cụ Phan khóc lại là chính lúc triều đình nhà Nguyễn nghị luận về tội trạng của người để mất ba tỉnh miền Tây - Nam    bằng cái án không được tốt đẹp: Tước bỏ chức vị, đục bỏ tên trong bia hàng tiến sĩ (1867). Rồi 19 năm sau (1886), vua Đồng Khánh lên ngôi lại cùng triều thần xét lại cho là cụ không tội, phục chức cũ và dựng bia tiến sĩ lại. Đến nay biết bao cuộc biến đổi mà nghệ thuật phê bình cũng lắm đổi thay. Đứng trước một vụ án danh dự, thiết tưởng bản số của cụ là chiếc phóng ảnh trong hay đục là trách vụ của những ai thông hiểu nên đem ra phân tách giúp lịch sử rộng đường phán quyết
Mới đây có một vị độc giả khoa học huyền bí, ở Vĩnh Long ho biết cụ Phan Thanh Giản sinh năm Bính Thìn (1796) ngày 12 tháng 10 giờ Tỵ. Ông mong rằng số có thể soi tỏ nỗi lòng của người đã khuất cách đây trên khoảng 100 năm. Vì là vụ án lịch sử, cũng xin mạo muội gọi là tiếp tay một vị nào đó.
Nhận thấy Mệnh ở Ngọ và Thân ở Thìn là hai vị trí có thể nói là tương phản, là nỗi lòng của người yêu nước, lo dân mà phải bó tay trước định mệnh. Thất sát (mệnh) ở Ngọ là vị hung tinh đắc địa có bầy tôi trung thành là Thiên Hình kế cận, bộc lộ tính cách một danh nhân không bao giờ từ nan, một sự khó khăn giám cản ngăn, giám can thiệp mọi sự việc trên bước đường đời mệnh danh là quốc kế dân sinh không có công ích. Tư tưởng (thân) bị triệt là cách của tử vi chiến đấu bị thất bại. Nhưng ở đây lại khác, tư tưởng mắc La Võng (Đà La, Địa kiếp) phải có Triệt tháo gỡ, cố chiến đấu cũng chỉ là vô vọng (Tử-Tướng vẫn ở thế bị triệt), chỉ được cái tiếng là người làm việc cho chính nghĩa (Thái Tuế).
Từ bộ Sát Phá Tham đắc địa có Sát Tinh phù trợ đến bộ Tử Phủ, Vũ Tướng bị cả Triệt lẫn Tuần đủ nghĩa là định mệnh chỉ cho phép cụ thành danh gánh vác việc đời mà không cho phép cụ được hài lòng (Tang Môn) với chính nghĩa mình phục vụ. Ở đây (mệnh) được tinh đẩu mất vị trí , (thân) được vị trí hỏng tinh đẩu. Thật là định mệnh khắc khe, chứ bản tâm là người có thừa thiện chí với trách nhiệm nghĩa vụ thì hiển nhiên không thể căn cứ thành quả mà kết án được. Tại sao cả một nước yếu kém không kình chống lại cuộc xâm lăng, lại đi buộc tội một ông già chân yếu tay mềm để mất đất ?
Cái thế tam hợp mệnh là cái thế của người lo toan triền miên (Tang môn) với Thất Sát, Thiên Hình anh hùng bao nhiêu thì Kình - Lực đem lại hậu quả vô vọng bấy nhiêu. Tham Lang, Đại Hao (đắc địa) càng trổ tài thu vén bao nhiêu thì Mã Khúc Khách Tuyệt càng đày ải thân thể bấy nhiêu, đến quan cung lưỡng phá (Phấn Quân, Tuế Phá) biết bao là hùng tráng, cứng cổ cũng không phải là lý do mấy ông mão cao bào tía ngồi tán láo bẻ hành bẻ tỏi cho là phản trắc, tự ý nhượng đất cho quân cướp nước. Thử hỏi người Thổ mệnh Thân lại đóng ở Thái Tuế có thể nào hành động của phường Phá Quân ở Tuất, huống chi Phá Quân ở đây đã bị Thiên Tài lột xác mất rồi, chung quy chỉ là oan nghiệp (Hình Riêu Không Kiếp) cụ đã hứng phải nên phải hứng chịu.
Cụ Phan Thanh Giản được hai giai đoạn (24-33 và 64-73) là hai cung Thân và Tý , Đậu Tiến sĩ độc nhất danh dự cho miền Nam năm cụ 29 tuổi rồi năm năm sau chìm nổi trong biển hoạn thăng giáng không ngừng, xét ra chỉ vì Thất Sát, Thiên Hình là bản tính của người cương nghị, không thể làm ngơ, không lời ngăn cản ngay cả với vị chúa tể quốc gia, như trường hợp ngăn cản vua Minh mạng năm 1836 muốn tuần du Ngũ Hành Sơn lúc dân chúng đang lo cày cấy, đem lại cho cụ bị biếm chức thành một thuộc viên lo công việc quét dọn bàn ghế ở công đường ngay tại chỗ cụ đang nhậm chức. Đời cụ tính ra có đến bốn lần bị giáng chức vì Hình Sát dám ăn nói, dám can thiệp bất cứ chuyện gì, bất kế là đối chọi với ai, và cũng vì Kình Lực mà công lao đến đâu cũng hầu như không được nhắc đến, và cũng vì Tử - Tướng bị triệt cuộc đời lao đao như người bại trận.
Đáo vận 64-73 là giai đoạn chót cuộc đời, người tuổi Thìn đi đến Tý là một điều hay. Thân bị Triệt đến đây đắc Tuần là cách mở lối dương danh tuần tự tiến bước, từ chức Thượng Thư Hình Bộ sung Cơ Mật và Toàn Quyền Phó Sử Kinh Lược Nam kỳ, Tổng đốc Gia Định rồi Vĩnh Long cho đến ngày về Thần.
Là người của lịch sử trả qua ba đời vua Minh mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Cụ Phan Thanh Giản tất niên là người thấu đáo những gì từ cái yếu kém của tổ quốc đến cái hùng mạnh của kẻ xâm lăng, từ cái lo cho dân được ấm no đến cái mềm dẻo ngoại giao, cho đất nước đỡ thảm hại vì chiến bại, thiết tưởng người cầm cân về quyền uy cũng như người cầm bút phẩm bình phải có công tâm thấu hiểu những ngõ bí của bị can. Công tố viên phải là một người có một nghệ thuật sâu rộng , một tâm hồn trong sạch, một cái vốn khá đầy đủ về sử học, biết đặt địa vị mình trong hoàn cảnh người lịch sử. Đổ tội cho ông già đáng lẽ được hưởng cảnh diễn viên chờ ngày xuống lỗ , mà phải cáng đáng việc lấp biển, vá trời. Huống chi trách vụ phải đảm nhiệm, đảm nhiệm để mà chết thì còn gì cao đẹp , cảm động thiết tha hơn nữa.
Trước khi chết còn trối chăng con cháu sau này không được hưởng một đặc ân gì của kẻ cướp, mà vẫn giữ được hòa khí với họ cho dân đỡ lầm than, cho nước có thời gian tính toán liệu thế ngăn cản ngoại xâm.
Ta rõ cái chết của cụ Phan Thanh Giản để tỏ lòng trung với nước, mà vẫn được người Pháp kính trọng là cái thế kẹt của Tử-Tướng bị Triệt ở La Võng, mà không từ chối nhiệm vụ gánh vác là Hình - Sát của người nặng lo (Tang Môn) để rồi kết liễu cuộc đời can đảm bằng chén thuốc độc (Hóa Kỵ đặc biệt của tuổi Bính Đinh) nó hãnh diện hiển hách vạn lần tấm kim khánh khắc bốn chữ "Liêm, Bình, Cẩn, Cán" của Vua Tự Đức ban khen lúc trấn nhậm. Vậy người của lịch sử phải hứng chịu búa rìu của lịch sử đẽo gọt , nhưng biết được uẩn khúc và trạng thái nêu ra , đó mới chính là lời vàng nét ngọc đáng ghi vào sử học.


UY VŨ BẤT KHUẤT CỦA 
PHAN CHÂU TRINH
Nói đến cụ Phan Châu Trinh thì bất kỳ người Việt Nam nào, dẫu là hạng người nào đều nghiêng đầu kính trọng. Kính trọng không phải là ở oai ông Nghè Phó bảng, dẫu có liên trúng tam-nguyên như cụ Yên Đổ cũng chỉ là phần nào , mà là ở cái Phan Châu Trinh bất khuất uy vũ.
Năm 1946, trong một cuộc câu chuyện về thời cuộc , cụ Huỳnh Thúc Kháng đi kinh lý có nhắc đến cụ Tây Hồ, và cụ cho biết cụ Tây Hồ sinh năm Nhâm Thân ngày mồng 5 tháng 8 giờ Dậu. 
Nhìn vào cung mệnh của cụ đóng ở cung TÝ thấy ngay là một nhà ái quốc  . Một người yêu nước lao đao tranh đấu đến cũng dẫu là ở hoàn cảnh nào , nếu là cô đơn độc mã cùng không lùi (tuổi Nhâm Thân có Phá Quân cư TÝ thủ mệnh) . Cái hay là Phá Quân cư TÝ kìm hãm được Kình Dương , trái lại Kình Dương phải phò tá cho Phá Quân thêm Xương – Khúc, Thai - Tọa (văn mà võ, võ mà văn). Thật là cứng đầu , cứng cổ chỉ biết có lẽ phải, có non sông là trọng .
Liêm Trinh, Thiên Tướng cư ”Thân” ở cung Ngọ tả rõ một đời cách mạng bất mãn, chính đại quang minh , nhưng hết kế kha thi chỉ còn biết đả kích bằng lời nói, mà đả kích thật dữ (Điếu khách + Tử). Lập luận đúng lý bất kể là nơi nào, khi còn ở trong nước, bài “Đầu Pháp chính phủ thư”, lúc ở ngục Sante ở Pháp lá thơ phản đối tòa án binh ghép tội thông đồng với giặc Đức cho đến bài “Thất Điểu” buộc tội vua Khải Định làm nhục quốc thể ở nơi kỳ hội chợ Marseille năm 1922. Phải chăng là cái gan lì bất khuất của Phá Kình cư Tí.
Cung Quan lộc của Cụ là cả một vấn đề, Tham Lang (Vượng-Địa), Hoa Cái, Bạch Hổ nếu muốn xuất chính làm quan tưởng dễ dàng như trở bàn tay. Nhưng thân thể là thân thể của người bất mãn , thêm Phúc Đức, “Tử Vi, Thiên Phủ, Mã, Quyền ngộ Triệt” thì còn gì là oai vệ lên xe xuống ngựa với quyền hành hách dịch. Nghịch lại Tham Lang ngộ Hình – Kỵ, Bạch Hổ, Đường Phù thì lại làm nghề ở tù nhưng tù chúa, tù cha thiên hạ .
Cũng ở Côn Lôn ở tù mà được ở nhà ngoài , không ăn cơm tù, không làm việc của tội nhân (theo cụ Huỳnh thuật lại) cho nên khi về an trí tại Mỹ Tho cụ thấy cái cảnh như giam lỏng lại đòi đi ở tù Côn Lôn, nếu không thì phải cho đi qua Pháp. Qua Pháp mà nào có yên đâu , cũng phải 10 tháng trong ngục Sante. Nghĩ thật là làm nghề ở tù , nhưng không hề bị hành hạ mà còn giám kình chống với chủ ngục bằng tài hùng biện lỗi lạc (Tuế, Hổ, Phù, Xương, Khúc).
Trình bày cái bất khuất của cụ Phan Châu Trinh bằng lá số tử vi trên đây, lòng không khỏi bùi ngùi tưởng nhớ năm 1926 cùng các bạn học sinh, sinh viên khắp Trung Nam Bắc đều một lòng đeo băng tang làm lễ truy điệu cái tinh thần ái quốc, tận tụy hy sinh cả một đời, cho đến khi nhắm mắt còn có câu:
Xin các ông đừng mong gì ở tôi, nay tôi sắp chết, việc nước là việc chung của toàn thể quốc dân, người này trông ở người khác làm sao được

Phải chăng lời nói bất hủ đó đã treo cao tấm gương thúc đẩy đồng bào phải tự lực , tự tôn của một nhà đại ái quốc.

Cố liệt sĩ lãnh tụ
NGUYỄN THÁI HỌC
Mùa thu 1948 hồi cư về Hà Nội , tôi được gặp một người bạn ở đường Duy Tân (Phố Huế cũ) gần ngay nhà thuốc ông Nhượng Tổng, một nhà văn sáng lập ra Nam Đồng Thư Xã và là một đảng viên thân hữu của cố lãnh tụ Nguyễn Thái Học. Một dịp may để tôi tìm biết ngày sanh tháng đẻ của vị thủ lãnh Việt Nam Quốc Dân Đảng  . Ông Nhượng Tổng cũng chỉ cho biết, theo cụ bà thân sinh ra ông Học có nói là sanh ra ông lúc tảng sáng, tuổi đích thực là Quý Mão và ông chỉ còn nhớ mài mãi con số 13 trùng phùng với con số 13 liệt sĩ  đã tử tiết ở Yên Bái.
Thật là cảnh người đi đường trường gặp cảnh sa mù dầy đặc, tôi cũng cứ ghi vào sổ tay chờ có dịp may nào tra cứu thêm. Năm ngoái tôi có đọc cuốn “Những mảnh gương Tân Việt” cùng ông Nhượng Tổng viết thấy ghi ngày sanh ông Nguyễn Thái Học là 1-12-1902 và có chua thêm tuổi Quý Mão, đem đối chiếu sang ngày âm lịch thấy 13 tháng 10. Vậy có phải số của liệt sĩ đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng là tuổi Quý Mão ngày 13 tháng 10 giờ Mão. Tôi mong rằng quý vị nào biết được chi tiết nào đích xác về 4 yếu tố năm tháng ngày giờ xin cho biết để góp thêm tài liệu cho lịch sử sau này .
Tuổi Quý Mão mệnh lập tại Thân, và Thân đóng tại Dần.
Vị trí của Mệnh là vị trí của người thức thời sớm tinh khôn nhưng ở cái thế bị kẹt cứng , còn vị trí ở Thân là vị trí của người phải trực tiếp hy sinh đời sống cho công cuộc mình hành động.
Tử Vi, Thiên Phủ tuy không phải là mình, nhưng nhờ cái thế sinh nhập không phải là không đắc lợi điểm , nên đương số phải là đủ tư cách một cách chánh nhân quân tử, một bậc đàn anh nhân hậu đầy đủ uy tín (Tướng Ấn, Nguyệt Đức), gan lì (Tử). Tiếc rằng bộ Tử-Phủ đắc địa lại gặp bộ Không-Kiếp cũng đắc địa thành ra người quân tử phải gian nan và nguy khốn nữa là khác  .  Thất Sát ở Dần mới chính là ông , một người bản tính thì nhu khi hành sự lại rất cương, nhiều mưu cơ can đảm thêm Hình ở Ngọ oai phong lẫm liệt như thiên thần giáng thế. Ta phải hỡi ơi khóc than ở cái thân số Sát tọa thủ : đó là một cách Yểu mà hóa công đã khuôn xếp từ Mệnh đến Thân nên ông không thể trường tồn được cùng với đất nước trong khi còn cần nhiều những trang thanh niên đầy chí khí nhiệt huyết như ông.
Tướng-Ấn ngộ Tử ở Mệnh, Liêm Tướng, Lộc Tồn ngộ Triệt ở Quan, Vũ Khúc Thiên Không ngộ Tuần ở Tài, có phải là một thủ lãnh, một đảng trưởng của một hội đảng chỉ có thể thành công trong vòng bí mật mà thôi.

Phúc Cung rất đẹp với Song Long Riêu Kỵ (có nghĩa ông thành nhân) ta phải cau mày bực bội ở cái suy Tham Lang, Riêu Kỵ (không thành nhân) , có lẽ ông đã tiên liệu trước nên thường phát xuất ra câu “Không thành công thì thành nhân”. Trong cái thế tam hợp này ta phải đế ý đến cung Thê : Phá Quân (Ngọ), Hình Riêu, Kiếp-Kỵ. Cái dây oan nghiệt đã cố kéo đến một người chắc không phải là bà Nguyễn Thị Cửu một hiền phụ ông đã suy tính rất thấu đáo phải ly dị trước khi ông lập Đảng bí mật để khỏi phiền lụy đến bà sau này.  Phá Quân ở đây phải là người tài giỏi gan góc với tuổi Quý Mão rất tương khắc (tương sinh), bất khuất hoạt bát (Phá Quân + Hóa Lộc + Thiếu Âm ở Ngọ) coi sự sống chết như giấc ngủ thường ngày; đây phải là bà Nguyễn thị Giang thường gọi là cô Giang, một đồng chí tận trung với Đảng đã nhận một khẩu súng sáu và hứa “nếu chẳng may đảng trưởng chết vì nước thì Giang cũng xin chết theo chồng với khí giới này”. Về sau bà đã tự xử đúng như lời đã hứa .
Đời của liệt sĩ Nguyễn Thái Học phải nói là người sớm giác ngộ (Đại vận 13-22) ở trong cái thế Thái Tuế , Thiên Khốc, Long-Phượng-Hổ-Cái . Từ năm 1926 là lúc liệt sĩ 23 tuổi vận chuyển sang  cung Ngọ là thời gian bắt đầu hy sinh lo việc nước . Sau lần gặp viên toàn quyền Varenne ông thấy không thể nói miệng với thực dân , để rồi đi đến cuộc khởi nghĩa đêm mồng 9 tháng 2 năm 1930 ở Yên Bái bùng lên như 1 tiếng sấm đêm đông. Đại vận Sát Phá Liêm Tham đắc địa, tiếc rằng một Địa Kiếp, một Hỏa Tinh (đắc địa) bị lạc lõng trong cái cảnh người chỉ huy lại không phải là vị trực tiếp điều khiển binh chủng của mình như Phá không phải là chỉ huy của Hỏa, Sát với Địa Kiếp, Tham mắc tay với Kỵ, nên mặt trận chính là Phá Quân phải bất lực với Hỏa Tinh và thất bại trước Thiên Hình mà thọ khốn (Tuyệt). Tính theo thiên thời và địa lợi, nhà liệt sĩ của ta đều ở cái thế bị sinh xuất (thời gian) và khắc nhập(không gian).
Lòng thành thực kính phục những dị nhân liệt sĩ như Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh một lòng sắt đá vì nước vì dân, mồi phú quí bã vinh hoa không sao lay chuyển như những tấm gương sáng ngời không bợn chút bụi trần hoen ố, kẻ hậu sinh chỉ còn biết bổn phận phải nêu cao tinh thần hy sinh phong phú, ý chí bất khuất hào hùng của người đã khuất.



Người ôm hận suốt đời là
Cụ PHAN KHẮC SỬU
Nhân sĩ miền Nam Việt Nam , nếu là người khó tánh, đếm trên đầu ngón tay phải kể là có cụ Phan Khắc Sửu. Một ông già ốm o đầu bạc lại thêm đôi mắt cận thị , ấy thế mà gan cùng mình.
Theo người thân cận cụ cho biết cụ sanh ngày 7 tháng 5 giờ Mùi tuổi Tân Sửu  . Mệnh lập tại Hợi 
Nhìn vào thấy ngay là một người ở cái thế bất mãn, nghị lực ghê gớm  . Phấn đấu thật lòng vì nước vì dân, chỉ biết có nói , nói ai nghe được thì nghe, không nghe thì đành chịu . Tài ba như Gia Cát Khổng Minh biết nhà Hán hết thời và công mình làm chỉ là việc của người ném bùn sang ao , cũng có lòng phấn đấu vì tình nghĩa của Lưu Huyền Đức.
Tình của cụ Phan Khắc Sửu phải chăng là tình non sông mà nghĩa của cụ là nghĩa đồng bào. Thân cư Phúc Đức đóng ở cung Sửu đứng ở cái thế chính nghĩa minh bạch.
Tiếc rằng cụ không đủ tài ba (thiếu Tả-Hữu) chứ nghị lực có thừa (Mã Tràng-Sinh ở Hợi đắc Khoa).
Đời cụ chỉ trông vào có một chữ Tân cho nên Đồng Cự ở Sửu được cái thế Song Lộc , Long Phượng Hổ Cái, là phần vinh dự đền bù cho cụ chỉ được ở cái địa vị khiêm nhượng là một vị quốc trưởng Quyền, phù hợp với Nhật xuất Phù Tang bị nước biển Đông tràn ngập (Hóa Kỵ) ở cung Quan Lộc.
Kể về thời thì không thấy cụ đắc thời một lúc nào hết , họa chăng là giai đoạn còn là bạch diện thư sinh, học hành được thành đạt với tấm văn bằng kỹ sư để giới thiệu với quốc dân.
Còn lại suốt 30 năm tranh đấu vì nước vì dân , tuyệt không một dấu vết gì gọi là hài lòng cho kẻ sĩ. Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn hợp số nhất thì ôi thôi Tướng-Ấn dính chùm cũng bị Tuần Triệt kẹp cứng  . Long , Phượng, Hổ, Cái, Khoa, Quyền, Lộc chỉ đem lại cái kết quả là tiễn đưa cụ bằng lễ quốc tang huy hoàng.
Cả nước thương tiếc cụ là một người có lòng với đất nước nhưng không có thời  .
Cụ Phan khắc Sửu cũng giống như cựu hoàng Bảo Đại được một cung Thê là nổi bật . Một đằng đúng tư cách đầy đủ là một bà Hoàng Hậu . Một đằng đủ tài ba một bà nội trợ , buôn đông bán tây, một thân một mình tần tảo lo cho đủ chi dụng của gia đình để cho cụ khỏi bận tâm vì sinh kế mà lo việc nước.

Ngày nay cụ ở suối vàng, xin cụ phò hộ cho cụ Bà mạnh khỏe buôn may bán đắt. Việc nước, xin thưa cụ đã có người khác.




        NGUYỄN HẢI THẦN

làm chính trị nhẹ dạ.
Cụ Nguyễn Hải Thần, tên thực là Vũ Hải Thu, người ta thường nhắc đến cụ với danh hiệu là cụ Tú Đại Từ. Một chiến sĩ cách mạng ngót 50 năm tranh đấu cho chủ quyền quốc gia hết với thực dân ngoại xâm lại đến chánh quyền cộng sản chuyên chế  .
Cụ tuổi Mậu Dần, sanh ngày 25 tháng 7 giờ Tuất. Mệnh lập tại Tuất, Thân cư Ngọ cho ta thấy cụ là một nhà đại ái quốc. Thái Dương lạc hãm thủ mệnh hay cả tin . Với Tả-Phù, Văn Khúc, Tấu Thư, Hoa Cái, cụ là người có tài về văn học, lại đi phụ tá cho bộ Cự Nhật nên cụ tốt nghiệp tại trường võ bị Hoàng Phố (Trung-Hoa) và sau vì quen biết với các nhà cách mạng Tôn Dật Tiên và Tưởng Giới Thạch mời cụ lãnh vai giáo sư chính trị tại trường này.
Cụ luôn luôn mạo hiểm với mưu trí của bậc anh hùng (Bạch Hổ + Kình Dương) giám một mình tự tay ám sát viên toàn quyền albert Sarraut tại trường thi Hương Nam Định và tự đảm chỉ huy công đồn Tà Lùng Cao Bằng, nhưng không thành công, nhưng cũng thành danh, và cái danh hiệu Nguyễn Hải Thần từ ngày đó thay hẳn cho cụ Tú Vũ Hải Thu chìm đắm trong đêm tối.
Một nhà ái quốc hăng say làm việc (Mệnh) như cụ có tài thao lược tính toán (Thân) cương quả và vẫn không thành công vì cái thế đối phương ở thế khắc nhập mà mình lại vắng bóng những cứu cánh để thành công (Khoa Quyền Lộc) so ra thấy chẳng hơn kém gì là bao, dầu là dưới thời trực thuộc thực dân hay chuyên quyền cộng sản :

NỘI (Hỏa)                        NGOẠI (Thủy)

Thái Dương lạc hãm         Thái Âm lạc hãm ngộ Đà đắc Khoa + Quyền

Tả Phù                   Hữu Bật

Hoa Cái (chính nghĩa)       Tang Môn (ngụy quyền).
Cụ xuất dương theo cách mạng từ năm 26-27 tuổi nhưng tính về thời gian đắc cách của cụ phải là 42-51 cũng chỉ đem lại cái tên Nguyễn Hải Thần, một nhà đại cách mạng nổi danh (Thái Tuế, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư) mà vô thực (Bệnh) phải luôn luôn lánh nạn sang nước người (Đại Hao) cho đến năm 1946 là giai đoạn 62-71 về nước. Tuy gặp Khoa Quyền, Hữu Bật, Bát Tọa, Thai Phụ ở cái thế binh quyền phụ giúp, thật ra vẫn ở cái thế đối cục thêm Đà, Tang, Khốc phá rối nên cũng không thành cơm cháo gì, cụ đành đi luôn cho đến ngày mãn phần.
Với bộ Âm-Dương lạc hãm của cụ mà thầm trách hóa công trớ trêu sao đã sanh ra tuổi Mậu Dần lại bắt phải gặp Thái Dương ở chỗ lạc hãm, mà bộ sao này rất cần cho các nhà cách mạng để xét đoán công cuộc mà hành động, không thể mỗi việc tin người, không sáng suốt để đưa đến thất bại. Âu cũng là cơ trời đặt cụ vào cái khuôn làm nhà đại cách mạng mà không phát cho Quyền Lộc .
Có lẽ ám sát viên toàn quyền Sarraut và việc cầm quân công phá Tà Lùng cũng chỉ là vội tín. Người Thổ Mệnh gặp Thái Dương còn gì bằng, tiếc rằng lạc hãm không phù trợ được bao nhiêu, thành ra thất thế với một Thái Âm (Thìn) đắc Khoa Quyền ở cái thế thượng phong mà khắc chế. Thật ra Thái Âm Thìn cung ngộ Đà còn tồi tệ gấp bội Thái Dương ở Tuất với người Dương mệnh .
Năm 1945 quân đội Trung Hoa sang giải giới quân Nhật ở Hà Nội cho đến vĩ tuyến 16 là cơ hội rất thuận lợi cho các nhà cách mạng quốc gia đứng lên lập chánh quyền.


Không hiểu sao với tư cách là chủ tịch Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, cụ lại chần chờ quá tin ở Khâm sai Phan Kế Toại sẽ nhường quyền cho phe quốc gia với chánh nghĩa được đồng minh chấp thuận, để rồi phe đối phương phỗng tay trên mất. Đến sau ngày quân Pháp đổ bộ ở Bắc Việt, cụ Nguyễn Hải Thần vẫn cứ tin ở sự hợp tác của phe nghịch nên tham gia chánh phủ liên hiệp chống kẻ thù chung. Rốt cuộc phe quốc gia bị hãm vào cái thế lưỡng đầu thọ địch bị đào thải trước khi họ thanh toán nhau . Tôi còn nhớ bài thơ của cụ Nguyễn Hải Thần gởi cho cụ Trần Trọng Kim năm 1946 sau khi chạy về Liễu Châu:
Bốn chục năm nay vì nước nôi
Nước nôi chưa mạnh quyết chưa thôi
Đà Long phất trận gươm ba tấc
Nam Định tương bom lửa một mồi
Cha đứa cắn gà cam cõng rắn
Mẹ thằng giầy mả dám đem voi
Nào ai mãnh sỉ mưu thần đó
Góp sức dun tay để cứu đời.
(Một cơn gió bụi của TTKim)
Cả cuộc đời của cụ Nguyễn Hải Thần chỉ là một chiến sĩ cách mạng có tâm quyết đấu tranh cho chính nghĩa quốc gia, và cũng rất tiếc cho những nhà cách mạng mà bị bộ Âm - Dương lạc hãm như cụ Nguyễn Hải Thần.

Một ông Thủ tướng bất đắc dĩ
Cụ TRẦN TRỌNG KIM
Ngày tôi còn là một học sinh trường tiểu học, cụ Trần Trọng Kim  đã là một vị thanh tra học chỉnh Bắc Việt. Cụ là một nhân vật thành đạt do Tây học, mà cụ lại kính ông Khổng, trọng ông Mạnh hơn ai. Cứ xem bao nhiêu danh phẩm cụ trước tác ta thấy cụ chuyên tâm khảo cứu về sử học và cổ học Á Đông . Cụ tuổi Quý Mùi sanh ngày 18 tháng 5 giờ Hợi .
Tuổi Mùi mệnh đóng ở Mùi là vị trí của người con dân đất nước, khuôn thiên đã dự liệu cho người này một cái trách nhiệm gì, trong một thời buổi nào đó phải có gì với núi sông. Tuy là vô chính diệu được Hoa Cái (Mộc) là nòng cốt rồi, Cự - Cơ ở Mão bồi đắp thêm thành một cái thế vững mạnh sáng tỏ của một danh nhân quân tử đứng trên lập trường chính nghĩa quốc gia (Thái tuế).
Cụ có đủ một bộ văn tinh làm một học giả rất đúng cách, cái tài của cụ là cái chịu khó góp nhặt tìm tòi (Mã ở Thân, Tả - Hữu giáp mệnh), tiếc rằng bộ Âm - Dương của cụ chỉ là phản ánh mượn, không được ở Mão và Hợi chiếu lên, nên sự thành danh hay sáng suốt của cụ đều do hoàn cảnh tạo nên, cứ như ý cụ không muốn phô trương. Có thế mới hợp Thân ở Tỵ được Thiên Lương chính hiệu có nhãn là người muốn an thân, vui thú cảnh thư thái. Nhưng tạo hoá chẳng chịu nào, là cái vị trí nó buộc cụ phải lâm vào thế bất mãn, chỉ còn biết phân trần sau này bằng bút trên trang giấy hay những giây phút giữa chỗ thân bằng quyến thuộc thổ lộ một vài câu tâm tình.
Một người như Lệ Thần Tiên Sinh trên bản số này, với cái tâm - chí quyết làm một học giả thì thành một học giả thực chất trăm phần trăm (Thiên Lương, Hồng - Khôi - Việt, Xương - Khúc, Long - Phượng) nhất là người Mộc mệnh ở Mùi gặp Quang - Quý bén nhạy vô cùng, thêm phần thanh cao hiền hậu.
Có ai ngờ rằng một ông già trên 60 tuổi chỉ biết quanh năm ngày tháng chỉ muốn hưởng sự an nhàn với hết chồng sách này sang đống sách khác, hết tìm cái tinh thần triết nhân này lại kiểm cái thời gian của triều đại nọ để phân tách thêm vào những câu nhận xét khách quan đúng mực, mà thành một vị Thủ tướng trong vòng bốn, năm tháng rồi thản nhiên đứng lên, dẫu sao cũng ít nhiều ân hận.
Lúc ấy cụ 62 tuổi, đem so vào bản số thời gian 56-65 ở cung Dần, người vô chính diệu gặp hạn Sát - Phá - Tham đắc địa là một dịp hay, lại thêm Lưu Hà nằm sẵn chờ đón Thanh Long. Tham Lang (Mộc đại diện cho Mệnh) chơ vơ Hoả Tinh đứng xa vời, vào bè với Phá Quân, Địa Kiếp hờm sẵn, còn lại Hoá Kỵ tha hồ múa gậy vườn hoang làm tình làm tội Tham Lang (Phương diện sao). Cụ ở vào cái thế sinh xuất (thời gian) chỉ là giai đoạn làm cỗ cho người (riêng phần cụ) . Biến chuyển của thời cuộc khiến chính quyền đến tay cụ là người thành thực không có thủ đoạn lừa bịp làm sao chống đỡ lại thế cờ lúc đó.
Thái Tuế - Hóa Quyền ràng ràng ở mệnh, thời cuộc sao không đưa đến trước đó 10 năm để cụ cầm quyền một phen cho biết. Giai đoạn này đến cao xanh cũng phải khoanh tay trước cái hưng vượng của thể nhân (46-55).

Phải chăng đất nước là cái thế chủ động, đang lúc quằn quại dưới gót giầy thực dân thì con dân như cụ dầu thời vận đẹp cũng là đẹp cho cho mình mà thôi không làm được trò trống gì cho tổ quốc, có chăng về phần tinh thần; cũng như đại vận 56-65 tiểu vận năm ất Dậu thật là rực rỡ cũng chỉ là giấc mơ hoa còn làm cho mình phải phiêu lưu nguy hiểm nữa là khác.

Những người như cụ Trần Trọng Kim, ông Nguyễn Tường Tam… Thái Tuế đóng in ngay trước ngực, dầu là vô chính diệu, luôn luôn là một nhân sinh phải có gì với núi sông, ví là ở cấp bực hạ đẳng trong xã hội tuỳ theo công việc lớn nhỏ quan hệ, ít ra cũng không kém tư cách hay hư hèn.
Hồi tưởng lại ngày còn cắp sách đến trường cùng các bạn bè vui đùa học tập có lần Lệ Thần Tiên sinh đến thanh tra trường tôi với một phong nghi nghiêm chánh mà ôn hậu . Ngày nay phác hoạ cụ bằng vài lời thô sơ, mong rằng hương hồn tiên sinh cảm thông cho đệ tử không giám nào chấm số cho thầy mà không ngoài chỗ dụng ý hoài niệm một vị nghiêm sư khả kính, dần trúng đó là sự thật, nếu sai đó là trò bất tài, xin thầy thứ lỗi.

         NGUYỄN TƯỜNG TAM
Văn hào hay chính khách
Mùa thu năm 1932, ông Nguyễn Tường Tam đứng ra tục bản tờ Phong Hoá. Ông tạo ra ba nhân vật Lý Toét, Xã Xệ, và Bang Banh là những nhân vật điển hình của xã hội thời đại, để châm biếm với ý định để những người đại biểu cho những nhân vật đó, tự sửa chữa lấy mình.
Tờ báo tiếp tục được chừng 4 năm rồi bị đóng cửa, nhưng tiếng tăm ông Nhất Linh cũng đã đủ lắm rồi, khắp nước chỗ nào cũng nói đến Lý Toét.
Ông tuổi Bính Ngọ, sanh ngày 25 tháng 7 giờ Dần. Mệnh ông ở cung Ngọ vô chính diệu đắc Nhật Nguyệt chiếu Hư không, thông minh có thông minh, nhiều khi như mụ, nhưng tiếng tăm có thừa.
Ông đắc cách một nhà văn (Văn Khúc - Mộc Dục ở Ngọ miếu địa) một nhà văn có nghệ thuật hay đả phá như cho mình có nhiệm vụ phải làm (Thái Tuế, Kình Dương).
Vì Mệnh ông ở Ngọ , ông không thể không nặng lòng với đất nước, bất cứ hoàn cảnh nào. Ông đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, thành ra ông lao mình vào chính trị. Ông làm báo , làm sách, cùng một mục đích là tạo sửa cho cái quốc tuý, quốc hồn một ngày một tiến bộ đẹp đẽ như người.
Nhìn vào cung Thân thấy cũng như cung Mệnh, một người đường đường chính chính yêu nước , một người hoàn toàn thấy phải phụng sự cái chính nghĩa việc nước việc dân, ông tính toán suy tư ghê gớm lắm.
Tiếc rằng đời ông cả Mệnh lẫn Thân luôn luôn trong hoàn cảnh ở thế yếu chống lại kẻ cường quyền đủ phương thế đè bẹp mình, mặc dầu kẻ đối nghịch không phải là mạnh lắm.
Ông không phải là không có thời . Quãng thời gian ở cung Quan tức từ 44-53 tuổi, có thể nói là thời gian ông phụng sự quốc gia dân tộc, có chăng chỉ là văn học.
Từ 1926-1933, những tác phẩm: Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt đó là những tác phẩm tự giới thiệu với đồng bào, có tôi đây Nguyễn Tường Tam xin ra mắt đồng bào (Phúc Đức). Từ 1950-1960, những tác phẩm: Viết và Đọc tiểu thuyết, Giòng sông Thanh Thuỷ, ông đã thành công trong giai đoạn ở cung Quan.
Giòng sông Thanh Thuỷ là bộ sách có lẽ ông cảm thấy đời sống chính trị nó tàn ác quá, dầu là người cùng nước với nhau mà không đồng chánh kiến.
Ông chán nản, sống chìm trong những khu rừng lan Đà Lạt cùng với gió sớm mây chiều, suối reo thác đổ. Tưởng nếu ông cứ tiếp tục đời văn nghệ với đời sống thần tiên đó nhưTrương Lương, chắc là còn lắm điều hay.
Nhưng người này không thể sống một cuộc đời phó mặc sự tồn vong quốc gia cho người khác được. Những người đã viết ra những giòng văn tha thiết đến đời sống quê hương, hẳn là có cảm tình phong phú, quan tâm đến vận nước mạng dân. Nên một khi đã nghe, đã thấy cái gì trái tai gai mắt là xông ngay vào can thiệp, coi đó như là phận sự phải làm, bất chấp sự nguy nan. Đó là người Mệnh đóng đúng Cục.
Phải chăng thời của ông là thời của người được hưởng khô khan như kẻ ẩn dật (trường hợp Bảo Đại được truất phế), chứ không phải là của người lên xe xuống ngựa, tiền hô hậu hét. Đã tưởng ông lâm nguy ngay ở vận 34-43 (Sát Phá, Tham + Không, tuổi Bính ngộ Hoá Kỵ) Mệnh thuỷ còn trường, đáo nhập Kim cung, cao sanh còn thấy ông chưa xong sứ mạng của văn hào, cho ông sống thêm 20 năm nữa để cho tròn phận sự của một công dân có lòng nhiệt thành để tô điểm cho sơn hà, nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.

Có phải ông Nhất Linh, ông đã thành danh văn hào hơn là thành công trên trường chính trị.

Đức ông Kỹ Ngoại Hầu CƯỜNG ĐỂ 
là người sáng suốt
Sau khi được biết lá số của cụ Phan Bội Châu, lòng tôi vẫn ước mong được thấy số của ông Cường Để Kỳ Ngoại Hầu, người đã cùng cụ Phan sáng lập ra Việt Nam Quang Phục Hội, một cơ sở cách mạng khuyến khích nhân tài đông du chống Pháp.
Cũng là một mối duyên lành, tết Quý Sửu này , tôi được tiếp mấy ông bạn ở Huế có đưa cho tôi ngày giờ năm tháng sanh của ông Kỳ Ngoại Hầu, tuổi Nhâm Ngọ, ngày 11 tháng Giêng giờ Dậu và ước mong được thấy trình bày ở mục tử vi danh nhân trong giai phẩm Khoa Học Huyền Bí . Sau vài buổi tìm tòi để khớp ngày sanh tháng đẻ ở một số sách sử ở thư viện, tôi thấy có thể là đúng nên xin có ít lời trước hết cảm ơn mấy ông bạn đã khuyến khích và xin có bài như sau:
Tuổi Nhâm Ngọ mệnh đóng ở Tỵ là cả một cái thế hy sinh trực tiếp đời mình với xã hội, cho xã tắc non sông, nếu là bực dũng sĩ hùng anh. Cự Môn thủ Mệnh không phải là sao của mình, được cái thế sinh nhập hiềm vì hãm địa phải kể như không chính tinh (vô chính diệu) hợp với bộ Hình Riêu oan nghiệp nên phải lang thang phiêu bạt cô đơn. Ở đây ông nhờ có Thiên Cơ để ông nổi bật thành người có chí khí biết quyền biến, nhân hậu gia tăng phước thọ (Thiên Thọ).
Thân ông ở Hợi là cái thế kẹt cứng của tuổi Nhâm Ngọ, của người khôn biết hành động trông xa thấy rộng, nhưng phải bó tay càng hoạt động càng đâm vào tình trạng chết chẹt. Bao nhiêu tinh thần ông dồn vào bộ Âm Dương hãm địa đắc Thiên Tài và Đào Hoa Triệt (vuốt đuôi ) ở trong cái thế tam hợp của Phúc Đức, Thiên Lương là linh hồn ông thọ đắc Song Lộc Tướng ấn, Tứ Đức.
Ông được các bậc liệt sĩ cách mạng suy tôn làm thủ lĩnh, lấy danh nghĩa người hoàng tộc nhất là ngành trưởng của dòng Nguyễn Phúc cho dễ làm việc. Phúc Đức này đẹp thì có, nhưng chỉ là hình thức, tam hợp cục đều bị khắc chế suy tàn (Suy , Bệnh, Phủ, Tướng, Triệt, Hà, Sát) thành ra công cuộc cách mạng của ông chỉ là tiếng chuông cảnh tỉnh quốc dân đồng bào, chứ thật ra không có kết quả cụ thể là bao. Nếu biết ra, ông nên ở địa vị khiêm nhường một chút như quyền thủ lãnh hay phó lãnh tụ, có lẽ công cuộc còn tiến triển hơn là ông đóng vai chủ tịch (Tướng quân bị triệt), âu cũng là số đời ông phải vất vả và công cuộc cách mạng chỉ có kết quả thế thôi.
Cung Nô là cả một bộ Tử Phủ Vũ Liêm đắc cách mà không làm được việc (Tử Phủ Quyền bị triệt). Cái thế của Vũ Khúc tung hoành rất đắc lực với Long Trì , Hữu Bật, Ân Quang. Hoa Cáilại bị ở hoàn cảnh địa võng (Đà La) bao vây bởi Hoả Tinh, Hoá Kỵ.
Các đồng chí như cụ Phan Bội Châu, Hoàng Trọng Mậu, Tăng Bạt Hổ nổi bật lên cung Nô này là những bậc đa tài, bền chí kiên quyết đứng trên cái thế chính nghĩa sáng ngời ở Ngọ (Liêm, Tướng, Đế Vượng, Thái Tuế). Còn ông chỉ là người đứng lên làm hội chủ (Quốc ấn) cho dễ ăn nói ở chỗ ngoại giao, thật sự ông thiếu khả năng tổ chức (không Tả - Hữu).
Ách cung được Phá Quân miếu địa điều khiển thêm Hoá Khoa phò trợ là một cách tiêu hao tài tình, nên bao lần phiêu lưu Nhật Bản, Hong Kong cũng như 3 tháng trở về thăm nước nhà , 8 tháng Âu du giám mạo hiểm để chân dạo chơi trên hảI cảng  Marseille mà người Pháp đều không sao săn bắt được. Bộ Sát Phá Tham này nhất là Phá Quân cư Tí miếu địa không biết sợ là gì và cũng tỏ rõ tất cả khả năng sở trường của Phá Quân Miếu địa ở Ách phá hết cả tai ách nên ông thoát nạn như thường.
Vận hành với bản số này chỉ có hai giai đoạn 16-25 và 56-65 là đắc thời. Giai đoạn trên gặp lúc cụ Phan Đình Phùng định đưa ông ra bưng để thế chân vua Hàm Nghi bị bắt theo lời hứa của cụ thân phụ ông là cụ Hàm Hoá Hương Công. Chẳng may cụ Phan Đình Phùng chết nên việc ra đi phải đình lại đến 1903 tức là năm ông 20 tuổI gặp cụ Phan Bội Châu được đặt lên địa vị hội chủ Việt Nam Quang Phục, từ đó bắt đầu cuộc đời phiêu lưu cho cách mạng. Phải chăng ông chỉ được cái phần vinh dự là một vị hội chủ cách mạng trên cái danh hiệu chính nghĩa của dân tộc (Liêm Tướng, Thái Tuế, Đế vượng) không thể thành công được (Tử Phủ bị Triệt + Vũ Khúc, Hữu Bật ở địa võng  (Đà La) Hoả Tinh, Hoá Kỵ phá).
Giai đoạn sau cũng ở trong cảnh tam hợp đó đến cung NÔ. Những nhà cách mạng rường cột phần thì bị bắt như cụ Phan Bội Châu, phần thì bị chất như Phạm Hồng Thái, phần chán nản bỏ đi như cụ Nguyễn Thượng Hiền, một số ra đầu thú với Pháp, trình bày cái cảnh Nô cung bị địa võng thêm Hỏa Tinh, Hóa Kỵ phá hoại .
Nhưng dịp may không thể bỏ qua tức là năm 1939 thế chiến thứ 2 phát khởi. ông đã 57 tuổi được quân đội Phù Tang ủng hộ, phải cải tổ lại Hội thành Việt Nam Phục quốc Đồng Minh Hội có ý đoàn kết quốc gia cho dễ hoạt động. Thuận tiện rất thuận tiện, nhưng trong cái địa võng của cung Nô, phe trục Đông Kinh, La Mã, Bá Linh lại thua, ông chịu ảnh hưởng. ở nước nhà tên tuổI ông đã được quốc dân mong chờ sẵn sàng đón rước vị minh chủ cứu nước, thành ra ông chỉ thành danh chứ không thể thành công cho đến khi nhắm mắt qua đờI năm 69 tuổI ở nơi đất khách quê người.
Còn những giai đoạn trên cung Nô là những thời gian tuổi Nhâm Ngọ bị khắc nhập hoặc bị khắc xuất sa lầy, không thời ông đành khoanh tay, mặc dầu có dịp thuận tiện là kỳ thế chiến 1914-1918.
Phải chăng số của Đức Ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là số của người thiệt thòi, từ cái mệnh trực tiếp phải hy sinh, dầu rằng thông minh có thừa để toan tính lợi hại, cho đến lúc hành động (Thân) biết trông xa hiểu rộng cũng không sao ra thoát được cái thế kẹt của vị trí Thân đóng Hợi của tuổi Nhâm Ngọ.
Một chỗ ngồi quốc dân dành cho ông trong hàng liệt sĩ là ông làm cách mạng sáng suốt (Thái Dương ở Hợi đắc tài, Thái Âm ở Mão đắc Đào Hoa). Ông từ chối mọi lời đường mật của viên toàn quyền Albert Sarraut hiến ông mọi sự vinh quang nếu ông trở về. Ông từ chối là ông biết hành động đúng lẽ thừa trừ của số đã định. Hoá - công vạch ra hai con đường để ông lựa chọn: Song Lộc đi với Kiếp Sát, Lưu Hà. Ông đi theo con đường Thiên Không ở Tứ Mộ là con số không bạch định. Ông vui lòng cam chịu đường sống hẩm hiu.
Có phải là do bộ Âm Dương phi thường của người làm cách mạng để ngày nay tên ông ghi vào các đường phố, các đô thị lớn nhỏ của đất nước và cái vết dơ trong lịch sử mà tiền nhân dòng họ Nguyễn Phúc bị mang tiếng mở cửa rước giặc vào nhà tạo thành một cuộc ngoại bang đô hộ trên dưới 100 năm cũng đã được gột rửa phần nào trong trắng.
Lòng tôi thầm kính phục ông ở chỗ đó.
Cái đáng trọng của 
cụ Nguyễn Công Trứ: NGHỊ LỰC
Hy Văn tiên sinh chào đời năm 1778 là năm Mậu Tuất ngày 01 tháng 11 giờ Thìn, tức là năm đầu Thái Đức Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn xưng vương cho đến khi khôn lớn trên 20 năm có thể nói là một khoảng thời gian bất hạnh cho tiên sinh gặp cảnh gia biến đi đổi với đất nước suy tàn vì nội chiến, nhưng có lẽ cũng là một dịp để rèn luyện chí con người mà sau này ta được thưởng thức những bản hùng ca:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Trong cuộc trần ai ai dễ biết
Rồi ra mới rõ mặt anh hung,
Nhìn vào Mệnh, Thân (cả vị trí lẫn sao) của tiên sinh thấy cả một cái thế bất mãn của người muốn mang chí để lấp biển vá trời. Tử Tướng ngộ Tuần là một sự bực bội vô cùng của kẻ sĩ phải đứng khoanh tay vì Hữu Bật bị Triệt. Vì thế mỗi khi có dịp trị loạn dẹp giặc, là tiên sinh tình nguyện xin đi liền . Cũng là một cái hay, mỗi lần ra quân là mỗi lần thắng cuộc, có phải cái thế của Thân Tí Thìn dễ dàng đàn áp Dần Ngọ Tuất.
Đối cục đâu phải tầm thường Sát Phá Tham đắc địa nhưng thiếu sát tinh đắc cách phò trợ, Kình Dương ở Ngọ nhập bọn với Lực Sĩ, Bạch Hổ ngộ Thiên Tài đủ nghĩa của tư cách anh hùng rơm hung hăng sống ngoài vòng pháp luật, chỉ làm tai hại cho Thất Sát - Phá Quân  mà thôi, một Tham Lang đứng đứng cặp với Hao ở Dần không đủ đối phó. (Lê Duy Lương ở Thanh Hoá, Phan Bá Vành ở Nam Định, Nùng Văn Vân ở Tuyên Quang, giặc biển ở Quảng Yên và loạn quân Chân Lạp ở miền Nam). Mạnh nhất là Lê Duy Lương dựa trên cái thể chính nghĩa, con cháu nhà Lê phục hưng (Thái Tuế).
Toàn bộ Mệnh Thân tiên sinh chỉ trông nhờ vào một Thiên Tướng, cái hại của Tuần làm cho Tiên sinh phải trầy trật, gian nan, nhưng cái hay của Tuần là phá vỡ La Võng (Đà la) để mở đường cho tiên sinh tiến thân hòa hợp với Hữu bật bị Triệt đắc Khoa ở Tí giải tỏa.
Vị trí của tuổi Mậu Tuất đóng ở Thân là vị trí của người bất mãn, thường thốt ra những lời biếm trách nhưng đứng cặp với Mã và Khốc lại là cái thế ngông bằng những câu văn (Văn Khúc)  khí phách một trượng phu. Người đời nói tiên sinh nổi tiếng về những bài ca trù (hát ả đào) luôn luôn lấy hoàn cảnh mình ra thổ lộ tâm tình của Tử-Tướng ngộ Tuần.
Thật ra rất khó phân tách cái Thân của tiên sinh với Tử-Tướng mắc La Võng (Đà La) nếu không có Tuần sao làm nên việc, mà Tử-Tướng ngộ Tuần là 1 điều thiệt thòi cho tiên sinh. Mỗi khi lên nắm quyền một địa vị lớn thì khó mà thụ hưởng vinh quang, vì lẽ đó đời tiên sinh đã bị ba lần giáng chức .
Cũng nhờ Liêm Trinh thủ mệnh dầu không phải là nòng cốt, muốn giữ cho đúng nghĩa chữ Liêm, đương số cũng phải nhọc công hao tổn bồi đắp mới thành, vì người Mộc mệnh Dần Ngọ Tuất đứng ở thế Thân Tí Thìn dễ bị thất chí, mà Thân còn đóng ở vị trí Phá- Hư cũng dễ bị lôi cuốn vào vòng rối loạn. Phải chăng Liêm-Trinh đắc dụng để tiên sinh được tiếng là người phục hưng chính quyền quân chủ tập trung bằng những câu:
Tang bổng hồ thì nam nhi trải
Cái công danh là cái nợ nần
Nặng nề thay đôi chữ quần thần
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ.
Vì nội chiến quá lâu , dân tình đau khổ quá nhiều, nhân tâm biến đổi .
Một vụ điển hình có tên Nguyễn Trang môn đệ của Lý Trần Quán, bắt chúa Trịnh Khải nộp cho vua Tây Sơn và trả lời cho thầy học bằng câu: “Thương chúa không bằng thương thân, sợ thầy không bằng sợ giặc” đã tỏ rõ sự phá sản tinh thần đạo đức đến bực quá thấp trong quần chúng, ngay cả người đã có cắp sách đến xin thầy năm ba chữ của Thánh hiền; cũng không giữ được giáo lý thì với tư cách của Liêm Trinh thủ mệnh, Tử-Tướng ngộ Đà đắc Tuần ở Thân không cho phép Phá-Hư làm nghịch cảnh, ta phải chịu đó là một nghị lực (Thiên Mã).
Vốn là một nhà Nho bị phá sản của thời cuộc , cả tinh thần lẫn vật chất, Mệnh Thân đều đóng ở vị trí bấp bênh trên cái thế nghiêng ngửa đời sống, cái nghị lực này không phi thường hơn người, làm gì không thành một Nguyễn Hữu Cầu, một Cao Bá Quát. Mã Khốc Khách thân cung đưa cái thế Liêm Trinh lên tột đỉnh , phơi bày từ vua cho đến dân cái lòng trinh bạch của nhà Nho rất ngông.
Trường hợp Tuyệt- Hao ở đây xin thưa rằng Tuyệt ngự Kim cung Hao ở đắc địa không thể gán cho chữ xảo quyệt huống chi Liêm Trinh chỉ huy đứng đó thì sự khôn ngoan đa mưu túc trí mới là đúng nghĩa  .
Cuộc đời tiên sinh có 3 giai đoạn đắc chí , nhìn vào số thấy ngay hai giai đoạn trong tam hợp tuổi là Tuất (23-32) và Dần (63-72). Giai đoạn trên đương tuổi thiếu niên đắc chí về học được thầy quý bạn phục , làm danh dự cho nhà trường với bản điều trần “Thái Bình Thập Sách” dâng vua Gia Long lúc tuần-du được cả vua lẫn triều đình lưu ý. Giai đoạn sau đường công danh tiến bước cho đến lúc về hưu an dưỡng tuổi già, tuy có một lần bị cách hết chức tước, biếm làm lính thú, nhưng chỉ trong 8 tháng được phục hồi chức vị , làm việc ngay tại chỗ để tiên sinh được rửa tiếng.
Còn 1 giai đoạn đặc biệt tiên sinh được thỏa chí nam nhi là giai đoạn ở Tí cung (43-52), đây là trường hợp tuy trái với tam hợp tuổi Dần Ngọ Tuất mà còn bị thế Thân Tí Thìn khắc nhập, tiên sinh được đắc hưởng do chính bộ máy Tuần-Triệt thi hành sứ mạng mở rộng cửa danh dự đón rước tiên sinh chiếm giải-nguyên tuần tự thụ lãnh chức vị Hình-Bộ Tham-Trí sung Dinh-Điền Sứ, bước hoạn lộ thẳng ngay không một mảy may ngừng trệ.
Giai đoạn rắc rối nhất là Sửu cung (53-62) Dần Ngọ Tuất đáo Tỵ Dậu Sửu kể là sa lầy, tiên sinh bị giáng chức hai lần và phải xông pha nhiều chiến trận.
Hầu hết những bài ca trù của cụ Nguyễn Công Trứ toàn bộc lộ cái chí Nam Nhi , với hận ngông của kiếp hàn-nho, tỏ rõ tuổi Tuất mà Mệnh lập Thân cung tiềm tàng một nghị lực quá cao cả (Mã Khốc Khách) sóng đôi với Thân: Tử-Tướng ngộ Tuần, nhịp điệu cùng với Quan cung bị Triệt, đắc Khoa ở Tý. Bao nhiêu yếu tổ đủ giảng cái thân thế của một nhân-sinh:
Trót sinh ra thời phải có cái chi chi
Chẳng lẽ tiêu lường ba vạn sáu
Truyện đố kỵ sá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung
Cho rõ mặt tu mi nam tử
Trong vũ trụ đanh là phận sự
Phải có danh mà đối với núi sông

Đi không chẳng lẽ lại về không .

Ông NGUYỄN PHAN LONG
Một chính nhân liêm khiết
Năm 1936 là năm quốc dân hiểu rõ ông Nguyễn Phân Long là người thế nào hơn bao giờ hết . Ông là 1 người ôn hòa nên cái lòng yêu nước của ông nó cũng trầm tĩnh không có quá khích bạo động nên người đời dễ nghi ngờ lầm lẫn về ông . Hồi ấy có phong trào Đông Dương Đại Hội để người dân thuộc địa có dịp trình bày các nỗi cơ cực của mình lên chánh phủ bình dân Pháp . Ông Nguyễn Phan Long hợp tác với nhóm ông Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu là linh hồn của phong trào không nài gian nguy tranh đấu, tạo được một tiếng vang đồng bào thức tỉnh hiểu ông nên uy tín ông tăng lên rất nhiều từ đó.
Ông tuổi Kỷ Sửu (1889) sanh ngày 24 tháng 5 giờ Dần .
Người tuổi Kỷ Sửu, Âm Nam, Hỏa mệnh đóng ở cung Thìn là tất cả trái số (Tuổi Kỷ kể như không Lộc Tồn, Tỵ  Dậu Sửu đóng ở Thân Tí Thìn là sinh xuất, người Âm, mệnh Hỏa đóng Dương thổ cung, nghịch tất cả Âm Dương ngũ hành), ngay cả bộ chính tinh cũng ở trong nghịch cảnh nốt. Phải nói người này phải có một âm đức và phải có một uẩn khúc gì vay trả của kiếp luân hồi nên mới sống được với đời . Trường hợp này với Thiên Đồng thủ mệnh, theo cụ Ba La, cụ cho là vô chính diệu hẳn là cách phi bần tắc yểu.
Thiên Đồng tuy là khắc mệnh nhưng được trung tinh đắc cách bộc lộ cả tư cách một văn nhân có tài hơn người và đặc biệt là liêm khiết cần kiệm (Thiên Đồng, Tả Phụ, Khoa, Khôi, Việt, Xương).
Cũng Thiên Đồng này làm cho người ta dễ hiểu lầm ông đeo tiếng thị phi là người của tư bản đảng Lập Hiến thân chính quyền thực dân và thân thế của ông cũng phải trôi nổi mới hay, có nghĩa là ông chánh-quản người miền Nam mà sanh trưởng tại miền Bắc đến khi thành danh mới trở về Nam.
Cái vị trí Mệnh này là cái vị trí của người nhẹ dạ dễ tin đưa ông đến chỗ nhiều lúc như bị lợi dụng, mà phần chắc là ông không thể lợi dụng được ai để mình thụ hưởng lợi lộc gì. Bao nhiêu đó là phần số của Thiên Đồng hãm (Thìn) luôn cả vị trí phối hợp với nhau (Thiếu Âm) . Nêu không nghèo thì phải đi đến con đường yểu.
Có lẽ vì bị một lầm hai lỡ nên ông sống một cuộc đời khắc khổ tự kiềm chế, tin tưởng ở Thần quyền, đạo đức, đó là phần Thân của ông (Long Đức). Nhưng Cơ -Âm lại bị Triệt khiến ông thành một tín đồ của đạo giáo (cả vị trí Thân lẫn sao).
Nhìn vào cả vị trí Mệnh lẫn Thân chỉ thấy toàn là cái gì bạc bẽo bất hạnh của người có tài, bị đặt ra đời hứng chịu mọi sự thiệt thòi, chỉ còn một con đường thoát trông cậy vào Thiên Lương ở Tí (cung sinh sao, sao sinh mệnh) được bộ trung tinh phò trợ đưa lên là một văn nhân có thực tài dĩ nhiên là quý hiển.
Nhận định theo bản số lập thành thấy giai đoạn 43-52 cái thế Thiên Lương sáng tỏ rõ ràng trong tam hợp mệnh (chứ không phải tam hợp tuổi) cái lòng trinh bạch của một văn nhân đa tài xuất chúng (Tả Phù, Khoa, Xương, Khôi, Việt). Nhưng giai đoạn này chỉ đem thân phục vụ cho đời mà thù lao không tương xứng (sinh-xuất). Nghịch cảnh nó vẫn bám sát ngay ở thời gian 33-42 ở cung Sửu gặp bộ Sát Phá Tham hãm địa còn thêm một bầy sát tinh cung hãm (Không, Kiếp, hỏa, Kình, Hình). Đáng lý ra người Tỵ Dậu Sửu khi vận hành gặp tam hợp Thái Tuế là phải có gì cho mình hãnh diện với đời (ở đây gặp ngay Thái Tuế) .
Ông Nguyễn Phan Long chỉ thỏa cái mộng ước của ông là đào tạo mầm non mở trường dạy học và làm báo . Ông đều đạt tới đích với trường trung học Nguyễn Phan Long và tờ báo Echo Annamite thay đổi hẳn lập trường  từ thế thân chánh quyền hồi ông Võ Văn Thơm làm chủ nhiệm qua tư thế đối lập ôn hòa của người dân cô thế.
Vốn Mệnh ở tình trạng Cơ Nguyệt Đồng Lương hãm, vận chuyển đến cảnh hung ám Sát Phá Tham hãm hẳn là hai thế tuyệt đối phản nghịch (100%) khác biệt tất nhiên phải có hậu quả tai hại cho kẻ yếu là Cơ Nguyệt Đồng Lương, huống chi còn một bầy sát tinh phò tá cho hung tinh, tưởng cái phản ứng tai hại không biết thế nào mà đo lường (xin nhận kỹ Thất Sát có Hình, Phá quân có Kình, Không, Kiếp, Tham Lang có Hỏa đều hãm địa hết). Ấy thế mà Thái Tuế, Long Phượng Hổ Cái thêm Quyền Lộc cũng đủ tư thế làm lệch đòn cân kéo phần thắng lợi cho đương số đạt được mục đích ước muốn, để rồi ông lấy đà sẵn trớn nhảy vào nghị trường sau này với những hành động can thiệp cương quyết đáng khích lệ hoan hô như hai vụ của nhóm tư bản Pháp muốn độc quyền thương cảng Sài Gòn về vận tải và khai thác độc quyền sản phẩm nước mắm cá bạc là hai việc có hại cho quyền lợi người lao động và lương thiện thấp cổ bé miệng. Ông đều phất cờ thắng trận .
Sau này ông được mời tham gia chánh phủ Bảo Đại với chức vụ Ngoại Trưởng (1949) và Thủ Tướng Chính Phủ (1950) . Cả hai chức vụ cũng chỉ có mấy tháng rồi từ chức vì ông biết không tìm  thấy đường thuận lợi cho tổ quốc, mình chỉ là bù nhìn bị lợi dụng thì tốt hơn rút lui không làm. Đấy là thời gian khắc xuất, Phủ Tướng Sinh Vượng, Thai-Tọa cũng không thuận lợi đối với mạng sống mặc dầu ông sẵn có thiện chí có Thiên Mã đồng hành, nhưng ông là người hành Hỏa vị trí không cởi mở cho Mã này dễ dàng thành công (Mã ở Hợi phải là người mạng Thủy).
Mười năm cuối cùng đời ông ở cung Tuất có Cự Môn hội với Suy, Tướng, Ấn, Hông, Đào, giai đoạn này theo một số người cho biết ông được cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trọng đãi như một vị cố vấn tối cao, mỗi khi có việc gì đích thân Tổng thống lui tới, rồi ông qua đời năm 1960 hưởng thọ 71 tuổi.
Ông Nguyễn Phan Long cùng như ông Trần Trọng Kim là hai nhân vật đứng lên lập nội các chính phủ đều ở tuổi ngoài 60 và cũng chỉ trong vòng mấy tháng . Lệ Thần tiên sinh ở trong nghịch thời gian Thân (thực hành) ở vị trí bất mãn, còn Nguyễn Quân hoàn toàn trong nghịch số từ tuổi Kỷ Hỏa Mệnh đóng Thổ cung có Thiên Đồng, Thanh Long thủ mệnh, rồi đến Cơ, Âm (Thân) bị Triệt, trông cậy một Thiên Lương ở Tí với bộ Khôi, Việt, Xương, Tả Phù thành một nhân si đa tài đủ tư cách một quý nhân liêm chính. Cái thiệt thòi nhất là cả hai vị trí Mệnh (Thiếu Âm), Thân (Long Đức) cho đến vận hành kể là hợp tuổi nhất (Sửu) cũng ở thế hắc ám hung sát tinh, mà rồi giai đoạn chót Cự Môn Suy tuy đắc cách, sau khi hai tay buông xuôi cũng còn thị phi về Tướng, Ấn, Thiên Không, Kiếp Sát, Hóa Kỵ, một nghi vấn bí mật bao phủ cái chết.

Xin để lịch sử sau này phê phán.
Tôi minh oan 
cho nhà học giả PHẠM QUỲNH
Nhà học giả Phạm Quỳnh bị thảm sát đến nay đã trên 27 năm, nay lại có dư luận hỏi nhà học giả đó có công hay tội đối với đất nước. Trên diễn đàn chính trị cũng như văn học đã có những cuộc tranh luận sôi nổi, nhưng chưa kết thúc .
Tôi nhớ lại cách đây 22 năm, một hôm có mấy người bạn gặp nhau bàn luận về số tử vi. Có một ông bạn đưa ra lá số tuổi Nhâm Thìn sanh ngày 26 tháng 12 giờ Dần nói là số của nhà học giả Phạm Quỳnh.
Bữa nay tôi có trình bày ra đây mong rằng các nhà cao thâm về số Tử vi xin cho những lập luận xác đáng.
Căn cứ trên những trình bày của lá số, tôi không biết năm tháng ngày giờ có đúng hay không (theo như báo Văn học đã nói là khai sanh ngày 1 tháng 12 năm 1891) nhưng trên các tài liệu sách báo nói về tiên sinh thì đều nói là sinh năm 1892 tức năm Nhâm Thìn như lá số ở đây đã ghi. Vậy căn cứ theo như lá số này tôi xin có một ít nhận xét như sau:
Tiên sinh tuổi Nhâm Thìn mà Mệnh đóng ở cung Hợi là một cái thế éo le , định mệnh đã đặt tiên sinh vào cái thế kẹt của cuộc đời. Đã là đời tài hoa và có thực tài , thông minh có thừa như tiên sinh bẩm tính thì cương nhưng hành động lại nhu.
Gặp thế nước nhà gặp nhiều việc phi thường dồn dập, tự biết mình không thể hành động được như Hoàng Hoa ThámPhan Đình Phùng hay Trương Công Định hay bạo hổ băng hà nói toạc móng heo như Phan Chu Trinh. Nghĩ ra cũng chỉ là cảnh tỉnh quốc dân .
Vốn mình bẩm sinh ra là nho sinh theo nghiệp bút nghiên, tưởng trả nợ nước non bằng bút nghiên có lẽ là đúng cách.
Tiên sinh ca tụng truyện Kiều có thể tiên sinh đã thấy thân thể mình . Cái tính cách cô Kiều đàn ngọt , hát hay đa tình đa cảm có khác gì thân thế tiên sinh (Tả Hữu Hồng Đào Khôi Việt). Cô Kiều bán mình chuộc tội cho cha có khác gì tiên sinh buộc mình phải hợp tác với thực dân để làm văn hóa cho đất nước . Tiên sinh đã thốt ra câu: “Người ta bảo tôi bán nước khi tôi ra đời nước đã mất rồi còn đâu mà tôi bán”. Thật là chua cay .
Cho hay thân thế cô Kiều bao lần làm vợ khắp người ta, sau khi ân oán trả đền rốt cuộc cũng đến sông Tiền Đường rủ sạch mọi nợ đời thì tiên sinh cũng bao lần Tổng Thư Ký này, Chủ tịch nọ cho đến Thượng Thơ Ngự Tiền Văn Phòng rốt cuộc rồi cũng bị thảm sát, tưởng cái thế kẹt của tiên sinh đáng thương tiếc hơn là hài tội.
Cái “Thân” của tiên sinh lại đóng ở cung Mão lại ở cái thế kẹt hơn là cái “Mệnh” ở cung Hợi (cả hai phương diện cung và sao) . Mặc dầu có Hóa Khoa nhưng Tướng Quân, Thiên Khôi bị Triệt vuốt đuôi (phải kể là trường hợp nhẹ) . Trông vào Phúc Đức đẹp thì có đẹp cái thế Nhật Nguyệt đắc địa đắc “Tuần-Không” chiểu hư không chi địa, nhưng ô hô “Kình Sát Kiếp Riêu” kề bên phát rồi phải sát. Huống chi “Lưu Hà, Kiếp Sát” tọa thủ ngay tại Mệnh cũng như bản án tử hình (trường hợp án treo) đã dán ngay trước ngực từ ngày oe oe mang tiếng khóc đầu tiên ra đời.
Nói tóm lại số này là số của hạng người đa tài nhưng bạc mệnh , biết ra mà tu sớm mặc cho nắng sớm mưa chiều (Hồng Loan ngộ Thiên Không) mới mong thoát khỏi. Cho hay:
Mồi phú quý nhử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh….

Xét cho kỹ, mấy ai là kẻ si mang lấy nghiệp vào thân mà không phấn đấu cho đời biết tay. Nhưng càng phấn đấu nghiệp quả càng sa lầy. Thân thế sự nghiệp của nhà học giả Phạm Quỳnh chỉ là hy sinh phụng sự cho đời, còn đời đối với mình chỉ là thiệt thòi và bạc bẽo.
HOÀNG CAO KHẢI
Công thần của thực dân xâm lăng
Hậu bán thế kỷ 19 đất nước ta bị dày xéo bởi đế quốc ngoại bang tìm kiếm thuộc địa, muốn tránh cái nạn vong quốc đã có những bậc anh hùng liệt sỹ như Thủ Khoa Huân, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật đứng lên quyết đem gan óc, phơi bày với giang sơn . Đồng thời lúc đó cũng có một hạng người vì một lý do gì, danh lợi hay thù oán cá nhân, hay uất hận về một phương diện nào, cam tâm làm tay sai cho kẻ xâm lăng chống lại tổ quốc nối giáo cho giặc để mau bình định đất nước, hầu cầu hưởng sự vinh quang như Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, HoàngCao Khải.
Hoàng Cao Khải được đặc quyền kinh lược Bắc Kỳ như một vị Phó Vương. Theo sách báo thời Pháp thuộc, ông sinh năm Canh Tuất ngày 18 tháng 3 giờ Tý.
Mệnh lập tại Thìn, thân mệnh đồng cung tỏ rõ cho thấy người này quyết tâm đả phá tất cả những gì mình đã hận , đã gặp trái ý, mà trời cũng chiều lòng cho họ thành công.
Người mạng Kim Vũ Khúc thủ Mệnh còn gì bằng , chắc như nhà đúc có cốt sắt đúng lượng. Quốc Án giáp Hồng Đào cùng Quyền, Khoa, Lộc tam hỏa liên châu, ôi chao là đẹp. Cung Quan Tử Phủ Đẩu Quân Lộc Mã Khốc Khách tưởng cũng đến thế là cùng .
Lại thêm Văn Khúc đứng cùng Vũ Khúc, Hữu Bật cư Quan, văn võ toàn tài, tiếc rằng là hậu sinh không được thấy cái tài kinh bang tế thế diệt đồng bào của họ Hoàng ra thế nào lúc bấy giờ.
Cứ nhìn vào lá số này phải phục họ Hoàng có tài thực lực và cũng chịu cho Hóa công đa khéo tạo ra cái người này với đủ tư cách hình thức tốt đẹp mới tạo nổi cho nước Việt nam 100 năm Pháp thuộc sau này, Vũ Khúc Thìn, Kình Dương, Hóa Kỵ nhị Hợp chiếu (sinh nhập) thật là một luỡi dao bén bọc trong cái túi gấm tam hóa liên châu, Quốc Ấn Hồng Đào.
Thân Mệnh đồng cung Thìn, người này cho đến khi xuống lỗ vẫn còn hận, có lẽ quan thầy chỉ chiếu với chức quận công kinh lược thế thôi, chứ thâm tâm họ vẫn không tín nhiệm và coi rẻ là khác (Bệnh Phù, Tuế Phá, Thiên Hư phá cách).
Phải công nhận ông này cũng đa dầy công tu mấy kiếp trước nên mới có cái mệnh đẹp như gấm thêu hoa này , đến cung tật Ách vào sanh ra tử (Hình sát) vẫn có Song Hao và Thiên Không bám chặt. Nếu ông tu thêm 30 năm nữa cho thành chánh quả hãy xuống trần gian này thì ngày nay trên khắp các nẻo đường các thành phố Việt nam đều có ghi tên Hoàng Cao Khải đời đời kiếp kiếp ngang hàng với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh có lẽ còn có tượng đồng bia đá biên khắc tổ quốc thọ ơn nữa là khác.
Ngồi ngắm lá số, tôi không hiểu tại sao lại có lá số đẹp đến thế, trách thầm hóa công sao lại cay chua nặn ra ông vào năm Canh Tuất thành ra đẹp cũng như không . Tạo hóa bày ra lại xóa ngay tức khắc cái nhân vật này, chắc là có cái nhân quả bí mật gì, hay ông chỉ là con bài của thời cuộc tạo nên. Nhưng người như ông Quận Công Hoàng Cao Khải không phải là một không biết, cũng cửa Khổng sân Trình như ai:

Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào
Ông NGUYỄN VĂN HUYỀN
có nên làm chính trị không?
Từ ngày thành lập nền đệ nhị cộng hòa Việt nam, hẳn không ai là không biết về cái ông Chủ Tịch Thượng Viện Quốc Hội  cao nhỏng cao nhong ốm o như đi không muốn vững (Ông tuổi Quý Sửu sanh ngày 12 tháng 11 giờ Dần).
Mệnh ông ở Tuất cho thấy là người có tác phong đạo đức, sao Thái Âm miếu địa thông minh quán chúng, ông trông xa thấy rộng là cái điểm của định mệnh đặt ông ở đó.
Đồng Lương cư Dần , “Thân” ông là chánh nhân quân tử biết lấy lễ đãi người, khiêm cung xử thế, không hiểu ông làm chánh trị bằng cách nào?
Ông làm  nhà tu thì đúng hơn (Tứ Đức +Thiên Quan Quý Nhân). Có phải ông còn nặng nợ với duyên kiếp, với thế nhân nên Tuần ngăn cách Hồng Loan với Thiên Không . Điều chắc chắn ông được người ta quý ông ở tư cách và mến ông về tánh tình .           
Nói thẳng thừng nếu ông ham hống hách, trên đường chính trị, tưởng không những không hạp với ông là người dễ nhạy cảm, sống về tinh thần cao thuợng hơn là quyền lợi cá nhân. Ông không thể phản ứng khác hơn là định mệnh mà cao xanh đa đặt ông ngồi vào cung Tuất. Ông nhờ phước đức quá ư rực rỡ (Cự Môn ở Tí đắc Triệt, Quyền, Lộc, Tướng, Ấn, Xương, Khúc, Quang, Quý).
Thôi làm chức chủ tịch thượng viện Quốc Hội như thế là đủ lắm rồi 
Đời ông có sự éo le thường làm ông như thấy có cái gì như là thiếu thốn, đó là đời sống cô độc, ngay như con ông cũng không thể cùng ông chung sống được. Con ông tu được là hạnh phúc.
Con ông tu thay cho ông, mà tu này không phải như thế nhân tu ngồi chắp tay cầu nguyện cho quốc thái dân an. Tu này đắc cách, tu muốn thật sự cứu vớt chúng sinh khỏi ngu tối, muốn cải cách dạy đời (Tử vi, Phá Quân, Hình-Lộc).
Hẳn đời ông đã thấy kẹt ở cung Tử, nhưng ông là người biết lấy từ bi bác ái làm trọng thì con ông nếu được đắc vị cao cả trong nghiệp tu, tưởng ông cũng thỏa mãn tinh thần, còn hơn là gây nghiệp quả về chánh trị.
Hay ông còn tư tưởng cao xa hơn: Quốc gia hung vong, thất phu hữu trách”. Đã đóng vai trò người dân có học mà học cao không lẽ làm ngơ trước thế nước nghiêng ngửa, dầu sao thì bổn phận công dân trước đã. Có lẽ đó cũng là định mệnh của người số mà Thân bị Tuần.
Ác thay cho  số hoa đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như không
Người ta thường nói nhân sĩ hay có những cuộc sinh hoạt tinh thần, thường tìm những cái hay cái thú ở Mỹ thuật, văn chương mà đem lòng băn khoăn đến việc nước việc đời. Nhưng với cụ Huyền (trên 60 tuổi lão rồi) tôi xin thưa thật vận cao sang gần mãn rồi, nếu để Tuần ngăn cách Hồng Loan với Thiên Không thì Lưu Hà, Kiếp Sát làm sao chịu nổi.
HỒ HỮU TƯỜNG, 
nhà tu ép xác
Một người đã từng có những giấc mơ hoa biện thuyết, khắc phục tất cả nhân sĩ Trung Hoa, đại náo Hoa Kỳ và bỡn Nga Sô, bằng một danh hiệu quá ư khiêm nhượng, là một tên Mõ của làng Cổ Nhuế, không phải là không có tham vọng quá lớn. Ông Hồ Hữu Tường quả đã coi trời bằng vung .
Không biết ai nghĩ sao, chứ tôi đa xem được số ông gần 20 năm, vẫn cho ông là lấy sai giờ: Tuổi canh Tuất, sanh ngày 29 tháng 3 giờ Mão chứ không phải giờ Dần.
Vị trí Mệnh ông ở cung Sửu đắc Tham Vũ, Tam Hóa Liên Châu, giáp Nhật Nguyệt . Kể ra ông cậy tài, ôm ấp một hoài bão lớn lao là phải.
Coi đối phương không có đồng cân nào, nhưng khi bắt tay thực hành đều thấy thất bại, trái lại bên đối phương luôn luôn đè bẹp mình, là vì cái vị trí Thân của ông nó khốn nạn thế. Nếu Mệnh ông ở Dần (theo giờ Dần) thì ông đâu có bị cái tiếng Tào Tháo bất phùng thời, cho đến cái Thân ông ở Ngọ Tử Vi có bị Triệt đi nữa thì cũng ngàn thu sử sách ghi Hồ Hữu Tuờng, một chiến sĩ quốc gia chân chính.
Bây giờ tôi chắc rằng mỗi khi ông suy nghĩ lại bao nhiêu việc từ trước đến nay ông đều đi lầm đường hết có phải không ông Tường ?
Đó là cái vị trí của Mệnh ông nó bắt ông như thế . Bây giờ ông tỉnh ngộ, ông khoác áo cà sa, cổ đeo chuỗi hạt, tôi xin phục ông là người biết phận của mình. Đó cung là cái “Thân” của ông nó sớm thức tỉnh ông cũng là tại vị trí đóng Thân.
Tôi đồng ý Tam Hóa Liên Châu chỉ là chiếc huy chương mập mờ óng ánh để ông đi đêm, cho nên nó không giúp cho ông được việc gì, kể cả sự học hành không thành công mỹ mãn. Long Phượng gíap công phù trợ cũng chẳng thấm vào đâu; nếu mệnh ông là Cơ Lương còn hay hơn là Tham Vũ. Cho đến bộ Âm Dương cũng như bó đuốc lúc cháy lúc tắt, nhưng tạo cho ông được cái tiếng là nói được nhiều người tin nghe (Khoa-Kỵ ở tí).
Đất nước chấp nhận tên tuổi ông rất sớm, vì thế có lẽ ông coi thường mọi việc . Ông phải hứng chịu hậu quả 30 năm lên thác xuống ghềnh, rồi mang án tử hình ở giai đoạn 46-55. Có người nói ông giỏi về toán học, nhâm độn ông biết cả . Giai đoạn đó sao ông không tu ? Lại có người nói Mệnh ông đắc Tham-Vũ, đắc Tam hỏa liên châu thì đến hạn Sát Phá Liêm Tham, Tử Vi, Hồnng Loan, Quyền Lộc Mã Khốc Khách, ông muốn mượn đầu heo nấu cháo, thử phất cờ gióng trống một phen coi thời vận. Nếu không được đế thì cũng được vương cho đời biết mặt.           
Bước sang cung Ngọ đời ông thấy lên hương, đắc cử dân biểu một cách làm chơi ăn thiệt. Đời ông sắp sửa sang giai đoạn mặc áo cà sa, cổ đeo chuỗi hạt, lần lần đi tới, ông thực hành là vừa, dầu ông thực tâm hay đóng kịch không cần biết. Nhưng ông phải đóng trò như vậy . Thôi giấc mộng Phi Lạc sang Tàu, đại náo Hoa Kỳ, bỡn cợt Nga Sô nên dẹp bỏ.
Nếu ông muốn ngông chơi thì ngông như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu , đời đục thì ông trong, đời ham danh lợi, ông sống ở thế giới tinh thần, thanh danh sẽ trở lại với ông.






Người của bóng tối
Ông NGÔ ĐÌNH NHU
Trong 10 năm của nền đệ nhất cộng hòa, ông Ngô Đinh Diệm làm Tổng thống, có người nói ông Ngô Đinh Nhu đã làm một vai trò bao sân rất quan trọng trong hậu trường chính trị. Cái người ông Ngô Đinh Nhu có được như thế không ? Ta thử phân tách số ông, tuổi canh Tuất sinh ngày 5 tháng 9 giờ Thìn.
Mệnh lập tại Ngọ, thân đóng cung Dần cho ta thấy đương số có những hành động khá đặc biệt liên quan đến quốc gia đại sự . Liêm-Tướng không phải là bộ sao nòng cốt đắc cách của tuổi Canh Tuất, trái lại Liêm Trinh ở đây không thể không gây khốn đốn mà Thiên Tướng cũng không thể không làm phiền não cho ông. Huống chi Liêm Tướng bị Triệt thì đương nhiên đương số không muốn xuất đầu lộ diện ở chỗ thanh thiên bạch nhật phải kế là cái may số còn dài. Với Khôi, Xương, Thiên Phúc là một gã bạch diện thư sinh hiền hậu, nhưng Tử, Binh, Đẩu Quân bên trong dấu kín một tư ý sâu sắc nguy hiểm và khắc nghiệt.
Thân ở Dần với Tử Vi, Thiên Phủ là một nhàn cảnh của Tử Vi, nhưng Tuần khiến ông không thể thư thái và phải bận rộn phù hợp với vị trí ở Dần của tuổi Canh Tuất là người suy tư tính toán rất kỹ. Vậy Mệnh Thân này cho ta thấy một người thủ lãnh, làm việc mải miết trong bóng tối với tất cả cơ mưu, như một cơ quan đặc biệt để kình chống tiêu diệt đối phương, nếu là một nhà chính trị.
Cung Quan của ông cố vấn Ngô Đinh Nhu là một cung Quan khá khác thường, từ Vũ khúc rất đắc lực với Kim mệnh, còn Thái Tuế, Thanh Long, Hoa Cái, Hữu Bật là môt cảnh trình bày có tính cách bán quân sự rất thành công hiển hách một thời. Ngoài ra tam hỏa liên châu (Quyền giáp Khoa Lộc) ở Tuất là cách oai quyền của người làm việc trong bí mật mà thôi, không thể tốt đẹp hữu hiệu với thế giới bên ngoài.
Từ Mệnh, Thân đến cung Quan tam hợp cục chỉ rõ là một người hình dạng học trò, đạo mạo mà ở trong chứa chấp một tư tưởng mưu mô khủng khiếp chỉ huy đắc lực một cơ quan bí mật, nhưng sự nghiệp không có bao nhiêu (Tử phủ ngộ Tuần).
Bào cung và Tai Ách trong tam hợp cục có những Cự Môn phùng Hỏa, Cơ ngộ Kình (Dậu) Hình Riêu là những nghiệp quả nguy hiểm trùng phùng, mặc dầu Quang Quý Khoa che chở cũng không lại Phúc cung nhị hợp (Thất sát, Thiên hình, Tuyệt) nhất là Lộc Tồn, Mã Khốc Khách (chủ cô) phát rồi sẽ sát.
Sau ngày 1-11-1963 cuộc lật đổ Ngô triều thành công, có dư luận cho rằng một phần lỗi lớn quy trách nhiệm ở bà Trần Lệ Xuân quá hợm hĩnh khinh thường thời cuộc. Tiếc rằng không được biết số riêng của bà, nhưng cứ cung Thê của ông Nhu cũng tạm thời thấy bà tham vọng tự hào khiêu khích vô cùng với Tham Lang (Thìn) Tướng Ấn giáp Hồng Đao, Lộc Mã Khốc Khách, mượn cái thế chánh quyền ngựa xe hống hách, có biết đâu ở cái thế Phá cách (Tuế Phá-Thiên Hư) suy tàn đã bất tín nhiệm (Bệnh Phù) mặc dù ở thế Thìn vẫn trên tay chén ép thế Tuất, trái lại Tuất cung ở thế bị khắc nhập nhờ có Vũ Khúc (Kim) quật ngã lại Tham Lang (Mộc) cùng với Thái Tuế, Thanh Long, Hoa CáiHoa Quyền, Hữu bật, được tiếng danh chánh ngôn thuận.





Tính về thời gian ba vận đầu từ 13-22, 23-32, 33-42 cứ một vận xấu lại một vận đẹp, cái đẹp là đẹp thế thôi, Phúc cung vẫn ở cái thế bề ngoài (phá cục khó Khăn).Vận hành 33-42 không chết là nhờ thế Song Nữ (Kim mệnh đáo Dậu cung) trợ lực thêm Khoa, Phùng Quang quý.
Đắc cách nhất và thành công quá rực rỡ là 43-52 . Như trên đã nói Liêm Tướng không phải là sao nòng cốt thủ mệnh, cho đến Tử vi, Thiên Phủ  ở Thân cung vậy, nhưng một khi đã lỡ khoác chiếc áo Liêm Tướng, Tử Phủ vẫn phải chịu ảnh hưởng của Liêm Tướng bị Triệt, Tử Phủ bị Tuần. Nay gặp Vũ Khúc phải thành công một chuyến như tiếng pháo của Nguyễn Hữu Chỉnh đời Tây Sơn rồi ra sao sẽ quyết định sau . Người này bền bỉ được 10 năm là nhờ hành động trong bóng tối cho đến năm 54 tuổi sang đại vận Thiên Không và nhất là gặp Thái Dương ở Hợi đắc Thiên Hỉ mạng Canh Tuất khó chu toàn.
Nhận xét lá số của ông cố vấn Ngô Đinh Nhu thấy ông là một tôi trung thần trung với anh đứng trên phía chánh nghĩa quốc gia . Nhưng công của ông cũng như công của quân sư Gia Cát đời Hậu Hán, trung với vua Chiêu Liệt rồi ra cung là công cốc… Ông đứng ở Ngọ với Liêm Tướng Triệt, Thái Tuế Vũ Quyền (chánh nghĩa) Hữu Bật Tuần bị bó tay thì không thể nào thắng nổi Phá Quân , Thất Sát, Tham Lang, Tướng Ấn, Lộc Mã Khốc Khách Tả Phù.
Đã gần 10 năm ông đã ở thiên đàng với đấng thiêng liêng lúc này không biết có còn bất bình với cung Quan của mình không hiếu sao đã đẹp như thế: Vũ Khúc (Tuất) Thái Tuế, Thanh Long, Hoa Cái, Hóa Quyền mà lại lọt mất Quốc Ấn giáp Hồng Đào về tay Thê cung cùng Tham Lang lạc phụ họa thêm thế xe xuống dốc mang lụy ngàn thu phẫn uất khôn giải.

Vị tu sĩ nào đây?
Mới đây tôi có nhận đuợc phong thơ của một ông bạn không quen biết có ý muốn tôi tô một vài nét chấm phá cho một lá số tuổi Quý Hợi sanh ngày 24 tháng 11 giờ Mão. Ông cho tôi biết đó là một lá số của một vị tu hành nổi tiếng trog dịp tranh đấu cho Phật Giáo duới thời đệ nhất Cộng Hòa, đã được báo giới thế giới đề cao, nhất là báo Mỹ.
Riêng tôi rất kính ngưỡng đức Đại Hùng, Đại Lực, Đại Bi, luôn luôn ý thức những hành động, những lời giảng dạy của Phật làm khuôn vàng thước ngọc cho mình noi theo, nhung xin nói thật ít khi tôi đi chùa, trừ những nơi danh lam thắng cảnh như Hương Tích (Bắc Việt), Non Nước (Đà Nẵng) và Phật đài (Vũng Tàu) có đôi ba lần vãng cảnh, nên tôi không đuợc hân hạnh quen biết một vị Thượng Tọa nào cả, và cũng không biết cá nhân mấy ông tu hành đạo đức ra sao.           
Nay đuợc lá số này tôi không biết là số của vị nào, thấy hay hay có nhiều tình tiết đi sát với thời gian trong 10 năm nay nên xin chiều ý ông bạn có nhã ý biên thơ riêng cho tôi. Vậy xin có một vài nhận định như  sau:
Mệnh Quý Hợi đóng ở Dậu có Tử-Tham thủ mạng là số của người yếm thế kể cả hình thức sao đến vị trí Mệnh đóng . Nhưng chính bộ Tử-Tham không phải là nòng cốt của người Mệnh này, phải tính tới bộ Vũ Phá ở Tỵ. Tử vi ở đây chính ra là vì sao chỉ huy Mệnh nhưng bị Tham lang làm lung lạc, mà chính Tham Lang này cung không đủ sức để phá cách Tử Vi nên tuổi Quý Hợi phải mệt mỏi vì Tham Lang, bộ sao này vì thế thành ra nửa trắng, nửa đen khiến bộ Vũ Phá đủ tư thế cuớp quyền chỉ huy mạng này. Phải nói hành động của người này chính là Vũ Phá .
Người này tu chỉ là hình thức khoác áo Tử Tham mà để tranh đấu riêng tư cho mình, cho bè phái mình, cho tư tưởng tham vọng mình rất quyết liệt. Tam Hóa Liên Châu ở Mệnh (Hóa kỵ giáp Khoa Quyền ở Dậu) có nghĩa là người này đã ôm một mối hận óan hờn chứa chấp một mưu cơ thâm trầm thầm kín, quấy phá bằng hành động có khi cũng không được đẹp đẽ, được nổi danh (Toái Quân Luỡng Phá) bằng lối kích thích người ta (Điếu Khách), Thân vô chính diệu ở Mão đắc Tràng Sinh (Thủy) hành động ở trên cương vị từ thiện, nhân hậu có tính cách chính nghĩa, nhưng suy tư tính toán ghê gớm là cái vị trí đó của tuổi Quý Hợi. Trong tam hợp cục của Thân (hành động) Thiên Tướng, Kình-Lực, Thái Tuế, Hình, Riêu càng hành động bao nhiêu càng gây nghiệp quả bấy nhiêu, mặc dầu lấy cái thể chính nghĩa mà dựa.
Khách quan mà nói, ông là người có nghị lực, nghị lực vào hạng khá dễ thành công (Quang Quý) phải dựa vào thế ngoài phụ giúp, chứ ông không tài tổ chức (Mã thiếu Tả Hữu). Nếu ông được đà thắng nước thì lại hay ẩu, đó là tính cách của Vũ Phá . Vì thiếu bộ Âm Dương nên ông kém sáng suốt.
Được liệt vào hàng giáo phẩm cao cấp như ai (Thiên Phúc Quý Nhân, Phong Cáo, Đường Phù) đối với ông chỉ là hư danh cho đến Tử Tham ông coi chỉ là chiếc áo khoác bề ngoài. Thâm tâm Vũ Phá Hóa Kỵ một uẩn khúc khó ai biết nổi người bí mật này . Có thế mới chọi lại được người trong bóng tối của Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đinh Nhu .
Năm 1963 đương số tranh đấu được thành công tiếng tăm lừng lẫy là năm 40 tuổi ở trong đại vận 33-42 ở Ngọ gặp Thái Dương đắc Hoả Tinh.


Tuy vậy có biết đâu chỉ là quân bài bị lợi dụng trong cái thế sinh xuất tính theo thời gian của tuổi Quý Hợi đáo Ngọ cung, ở trong còn nhiều quỷ kế (Cô Quả Phục Binh Không Kiếp). Lúc này đang ở trong đại vận 43-52 ở cái thế khắc nhập thân bại danh liệt, nhất là từ năm 1966 đương số bước qua đại vận mới này 43 tuổi, hoạt động ráo riết tưởng sự thành công cũng dễ dàng như mấy năm trước, nhưng có lẽ gặp người đối đầu là Thổ Mệnh lại là lúc hưng thời. Ông đành xẹp luôn cho đến nay, một đôi lúc cung cố phát pháo mở cờ ra quân bởi không thời thôi cung đành nằm co êm hơi lặng tiếng.
Để đền đáp lại sự chiếu cố trong muôn một của ông bạn, tôi chỉ có thể vạch được dăm ba nét cục mịch, mong rằng ông bạn hiểu cho . Xin kính chào ông bạn .

Một nhà văn thực tế kinh doanh
ông NGUYỄN VĂN VĨNH
Dưới thời Pháp thuộc, tổ quốc Việt Nam, ở mỗi miền Trung cũng như Nam hay Bắc, đã khai sanh ra những nhân vật nếu không liệt vào hạng danh nhân cũng được gọi là nhân tài thường sản xuất ra có cặp. Khắp nước người dân tôn kính Cụ Phan Bội Châu bao nhiêu thì không quên ngưỡng vọng cụ Phan Châu Trinh, ở miền Nam một khi nghĩ đến ông Bùi Quang Chiêu là liên tưởng ngay đến ông Nguyễn Phan Long, thì ở miền Bắc nói đến ông Phạm Quỳnh thì nhớ ngay đến ông Nguyễn Văn Vĩnh. Trước đây tôi đã có dịp trình bay hai cụ Phan và ông Quỳnh, nay tôi nói đến ông Vĩnh
Ông Nguyễn Văn Vĩnh tuổi Nhâm Ngọ (1882), sanh ngày 30 tháng 4 giờ Dậu, nghĩa là ông hơn ông Phạm Quỳnh 10 tuổi.
Tuổi Nhâm Ngọ mệnh vô chính diệu ở cung Thân, Thân đắc Đồng Lương ở Dần. Ở đây có thể nói hai vị trí đi song đôi với nhau, mặc dầu Tang Môn vẫn là thế nghịch cúa Bạch Hổ và Thân cung ở thế đàn áp Dần cung.
Người này sanh ra đời ở hoàn cảnh cứ canh cánh lo âu tính toán (Mệnh) mà khi tính toán rồi là thực hành lao đầu vào làm việc (Thân).
Mệnh vô chính diệu thấy Tang Môn nằm chình ình (Mộc) nghiễm nhiên đóng vai chủ động cho đương số (Mộc Mệnh) .
Người ta thường nói gặp Tang Môn, Bạch Hổ đắc địa ở Mão Dậu, Dần Thân, cũng nên phân tách cho rõ hơn: Bạch Hổ (Kim) đắc địa ở Thân Dậu (Kim), còn Tang Môn (Mộc) đắc địa ở Dần Mão (Mộc) thì Tang Môn ở đây là trong nghịch cảnh hội với Đại Hao, Địa Kiếp (Hỏa) một bầy hung hãn dầu là hai sao này đều đắc địa phải kể là đắc Tuần ngự chế (bớt sinh xuất) nếu Triệt thì hết thảy từ Mã, Trường Sinh, Hao, Kiếp, Tang Môn gì đều tan nát hết. Với cái mệnh vô chính diệu đắc Tuần này (tạm kể chỉ vì Hỏa mệnh hay Kim mệnh mới toại nguyện) bảo toàn được chủ đích là sự lo toan để cho Thân kinh doanh sự nghiệp dầu có bôn ba đây đó xủng xông pha không quản ngại.
Cũng nên kể Thiên Mã này chính lẽ không phải của ông, bằng ông cố sử dụng thì chỉ mất công sự nghiệp trồi trụt không có gì là bền vững mà ông còn lao tâm khổ xác vì ông là Mộc mệnh. Nhưng Tuần này còn Lưu Hà có lúc đắc dụng.
Ngắm đến Thân ở Dần Đồng Lương đắc cách, phải nhìn nhận ông được thành danh là vì Đồng Lương được cơ âm cũng đắc cách hợp chiếu. Bộ Cơ Nguyệt Đồng tối hảo chỉ có ở Dần đủ cả nghĩa một sức thông minh hơn người và một văn nghiệp xuất chúng . Mà nào ông có theo hẳn văn nghiệp (Đồng Lương Triệt) định mệnh đặt ông là phải âu lo toan tính, trí óc ông là làm việc thực tế kinh doanh cho nên lời văn của ông cũng giản dị bình thường, hoạt bát, nó không chứa đựng nhiều từ ngữ nặng nề như một số đồng nghiệp cùng thời. Ngay đến tư tưởng của ông cũng thực tế hơn ông Phạm Quỳnh chủ trương lập luận muốn giữ phần nào chủ quyền hình thức bằng thuyết lập hiến . Trái lại ông Nguyễn Văn Vinh nói huỵch toẹt là đã bị trị thì áp dụng chương trình trực trị cho rồi, ăn thua ở chỗ thực tâm của kẻ cầm quyền và dân trí , đừng nên nửa trắng nửa đen thành không đi đến đâu. Có lẽ vì thế người đời mới gán cho hai ông là thân Pháp bán nước.
Cái nỗi khổ của ông Quỳnh là tin vào lòng nhân hậu và khả năng của mình (Thiên Lương, Tả Hữu) . Nước dầu đã mất, nhưng tiếng nói của dân Việt Nam còn là còn …Đối với một văn nhân trong nghịch cảnh (tuổi Nhâm ở Hợi) kể cũng đáng thương, ông Vĩnh cũng vậy: Nước Việt Nam sau này hay dở là ở chữ quốc ngữ. Hai ông chủ trương nên bảo toàn tiếng nói mẹ đẻ làm sao cho nó đừng mất và phổ biến rộng ra là được, cũng như cụ Phan Chu Trinh thường nói:Điều làm trước là khai thông dân trí đã.
Cái chủ trương kinh doanh của ông Vĩnh không phải là không có hậu ý (Thân trong tam hợp tuổi không phải là không chính nghĩa . Chỉ vì Thân (Đồng Lương) bị Triệt mà sự nghiệp ông không toại khi trồi khi trụt (Mã mượn) với ông ta thấy con đường văn nghiệp chỉ là phương tiện, cái chí hướng kinh doanh mới là mục đích xa xăm của ông. Không phải là ông không biết thân
phận của kẻ mất nước (thế Tang Môn) cho nên ông cố hành động theo con đường chính nghĩa (Bạch Hổ) với riêng tư của ông tưởng không phải là không có tâm hồn với đất nước.
Đời ông đi vào cung Tuất là giai đoạn bắt đầu làm báo (1908) đạt được chí hướng của mình với nhiều hy vọng sau này (Thái Âm miếu địa đắc Long Trì) bị Đà La không hẳn là La Võng nhưng cũng là một trong tam ám của Thái Âm chỉ phần nào ngăn trở con đường tiến thân thỏa mãn của ông . Bước sang cung Điền chỉ là khai sơn phá thạch, giật gấu vá vai đem cái chí kinh doanh ra thực hành rầm rộ, theo một số người cho biết thì ông làm việc ngày đêm bất kể, chưa được hưởng thụ gì thì tuổi 45 cứ một ngày lội một dòng nước ngược luôn cho đến năm 54 tuổi (1936) ông trút hơi thở cuối cùng ở Hạ Lào. Đây cũng là một trường hợp tuổi Nhâm vận hành gặp Lộc Tồn, Lưu Hà, Kiếp Sát, Thiên Không ông mới chỉ là gây dựng sự nghiệp còn thiết trước hụt sau . Nếu được đầy đủ cho mình hưởng thụ ngôi cao quý có lẽ cao xanh đã đoản mệnh sớm hơn.
Cho hay đó chỉ là con đường rẽ mà thôi . Vì thân ông bị Triệt thì làm sao ông mở máy chạy tốc độ không khỏi trục trặc lúc ban đầu hay bước tiến đầu phải mất nhiều thời giờ hơn người khác, một phần mệnh ông (Mộc) đáo Thủy cung không đến nỗi đoản mau phải chờ đến cung Quan (cũng Thủy) Kình, Hình một cặp song kiếm phi đao kẹp cổ mạng Mộc, cũng phải chờ đến năm giao vận là năm tính sổ 10 năm thiếu đủ phải thanh toán cho sòng phẳng
Người Mộc mệnh vô chính diệu rất khó tìm được hung tinh đắc địa thủ vai cho xứng đáng làm nên trò hơn Tang Môn đắc Tuần . Còn Thiên Mã ở đây chỉ là Mã mượn của người Kim Mệnh cũng nhờ Tuần cho ông mượn được phần nào nghị lực : Đại Hao, Địa Kiếp ngộ Tuần cũng phần nào tiết chế sự tiết khí của mệnh. Nhưng cung Quan Cự Môn Kình Hình không gì ngăn cản, Thái Dương vượng địa cũng Phượng Riêu đắc cách ở Tài tức là cái hung chung chiếu dàn cảnh kiến nhất không , cuộc đời bôn ba như mộng ảo, phú quý là phù vân. Chỉ tiếc cho thân ông đựơc Thiên Lương vượng địa bị Triệt , cái thế chính nghĩa (Thái Tuế) đứng với Thiên Cơ đắc địa hẳn ông đã tính toán với một hoài vọng lớn lao cho dân cho nước đến khi nhắm mắt qua đời ông ôm theo không ai hiểu rõ (Thái Âm miếu bị Đà ám).

Phải chăng cái dự tính của ông Nguyễn Văn Vĩnh hãy còn trong bí mật mà tôi tin là không phải như người ta đã nghĩ về ông.


Số phận hẩm hiu của thi sĩ
NGUYỄN KHẮC HIẾU
Có phải người ta biết đến thi si tửu đồ Tản Đà bằng bút hiệu nhiều hơn là tên Nguyễn Khắc Hiếu, vì thế mới có con đuờng Tản Đà ở Chợ Lớn ngay chỗ thuờng ngày các vua nhậuchén chú, chén anh, có lẽ để thỏa mãn hương hồn nhà thơ, vì rượu là người bạn hình bóng là nguồn cảm hứng, là phương tiện thần diệu mà tiên sinh thích thú để ngâm với đời:
Say sưa nghĩi cũng hư đời
Hư thời hư vậy, say thời cứ say
Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cuời.
Thi sĩ Tản Đà sinh năm 1888 (Mậu Tí ngày 29 thang 4 giờ Tuất) vốn có truyền thống nho phong, tổ tiên sáu đời chuyên nhau chiếm bảng vàng Tiến sĩ, đến đời tiên sinh như thấy cả một sự xuống dốc rõ ràng (cung Phúc).
Tuổi Mậu Tí mệnh ở Mùi vô chính diệu nhìn vào không thấy một hung tinh đắc địa nào đồng hành với Mệnh. Một bầy trung tinh đắc cách mà đa số lại là Thổ và Thủy. Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu Mệnh cũng không . Truờng hợp này nếu không có Tuần kể là một mệnh yểu cầm chắc . Vậy có phải là kiến nhất không , hèn chi tiên sinh cho đời là một giấc mộng lớn, tháng ngày thoảng qua là giấc mộng con. Tôi xin bái phục tiên sinh ở chỗ này:
               Người đời thử ngẫm mà hay
      Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê
                  Còn ai ai tỉnh ai mê
      Những ai thiên cổ đi về những đ
Cái tài của tiên sinh phải nói là Thiên Phủ đặc biệt (Tả Hữu, Song-Long mộc dục) về thi văn (Khoa Hồng Việt) nó khác hẳn thi tài của Lý Bạch đời Đường (Tả Phù Văn khúc Mộc Dục) bắt nguồn mượn ở cảnh bao la hùng vĩ cẩm tú của giang sơn Hán tộc như nhạc điệu rền vang với dư âm dài, vắn (Mã Khốc Khách). Cái Thiên tài của Tản Đà tiên sinh nó biến đổi thiên hình vạn trạng từ những giọng sầu bi ai oán đến những tiếng trào lộng khôi hài đều có cái thanh cao khí tiết chứa đựng một tâm hồn lãng mạn êm đềm như tiếng sáo diều nhẹ nhàng uyển chuyển (Khoa Hồng Việt) . Có một điều cả hai thi nhân giống nhau là cùng nhờ men rượu (Mộc dục) để gẩy khúc tơ lòng .
Cái Mệnh của Tản Đà là cái mệnh của người bảo tồn nề nếp đạo đức phong nho (Đẩu Quân, Long Đức) cung vì thế cái thân hành động dễ bị hắc lờ lợi dụng (Thiếu Âm) vì đời quay cuồng trong nhân-dục tư-lợi mà tiên sinh cứ khăng khăng ôm sống ở thế giới tinh thần (Quan Phúc). Vì cái Mệnh vô chính diệu được Tuần đóng khiến Thiên Phủ ở cung Quan đem lại cho tiên sinh một đời túng thiếu triền miên (Tứ chính giao phù kỵ nhất không chi trực phá).
Nhìn vào lá số thấy tiên sinh không đuợc một chút gì gọi là gỡ gạc của số, từ vòng Thái Tuế, vị trí mệnh Long Đức (tu vì thiệt thòi), Thân thiếu âm (hành động lầm lỡ) vòng Lộc Tồn tuổi Mậu, vòng Tràng Sinh mệnh đặt ở thế suy tuổi hỏa đóng cung thổ, cả một cái thế bất lợi của một kiếp nhân sinh:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
Tuyệt mù biển nuớc non mây
Kiếp người này thấy rất nghèo, có nghĩa là rất cần tiền mà hóa ra không cần tiền (Phủ phùng không, Quan Phúc, Quang Quý), không vì tiền mà xóa bỏ nhân cách, có lẽ vì thế tiên sinh cứ điềm nhiên bình tĩnh sống (Thai Tọa) không hấp tấp vội vàng, và tùy theo hứng thú mới hành động. Năm 1927, Tản Đà vì ân tình tri ngộ với ông Diệp Văn Kỳ, rời bỏ xứ Bắc vào Nam, đảm nhiệm tờ phụ truong cho tờ Đông Pháp thời báo, nhiều lần báo lên khuôn mà bài thì không có, tiên sinh cứ đủng đỉnh ngồi nhậu trả lời cho người đến lấy bài: “Làm thơ, viết văn đâu phải là bửa củi mà cố bửa cho xong”. Đã biết bao lần tiên sinh thất bại trên đường sự nghiệp làm An nam tạp chí. Nghĩ lại những: Giấc mộng lớn, Khối tình con, Trần ai tri kỷ, gì, gì… là những giai phẩm để lại cho người được hưởng cái thi diệu tuyệt vời, trái lại mình chỉ là một con Tuần-không rất lớn.
Bỏ đi giai đoạn đầu (6-15) tuổi thơ ấu, từ 16 đến 46 có 4 giai đoạn, tiên sinh chỉ đắc ý có vận đầu cũng lại vô chính diệu. Người vô chính diệu đến hạn vô chính diệu hẳn là dầu có đắc chí thì cũng chỉ ở phần tinh thần, Cũng như Nguyễn Công Trứ làm rạng danh một nho sinh với bài điều trần “Thái Bình Thập Sách” thì Tản Đà cũng đắc chí bằng bài luận “Âu Á nhị châu hiện thế“ được các học quan sĩ phu đương thời tán thưởng và được tờ báo Trung Hoa đăng vào mục xã thuyết. Còn 3 vận sau: Song- Lộc, Liêm-Phá, Không Kiếp hãm địa, rồi đến vô chính diệu ở Dần Ngọ Tuất trái với tuổi Thân Tí Thìn, chót hết là Thiên Phủ, Tuyệt bị Tuần không thu hút là một chuỗi ngày ảm đạm, tiên sinh nhờ chị Hằng cho theo lên cung Trăng ngày 7-6-1939 hưởng thọ 51 tuổi.
Thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu đã ví cuộc đời chỉ là giấc mộng có phải thi sĩ đã quá yếm thế không ? Người ở thế sinh xuất thì hiển nhiên ở thế thiệt thòi , trường hợp Tản Đà lại quá éo le mệnh vô chính diệu ở trong cảnh có Tuần cũng hại mà không Tuần càng hại hơn .
Định mệnh đặt tiên sinh vào cảnh có Tuần để bù trừ với cái tài mà tiên sinh đã có Thanh Long, Long Đức, Tả Hữu, cái tài mà không thể lấy gì mà đo lường được bằng điệu nghệ thi văn (Khoa Hồng Việt), Hỏa mệnh gặp Tuần là đắc cách (nổi danh) lại phá cách Thiên Phủ (nghèo) bởi lẽ đó tôi phục tiên sinh chắc đã tự tính Hà Lạc biết số mình đến ngày tàn, thôi đành hành nghề xem số cho người (Thiên Tướng Hãm) như Khương Thái Công lúc vận bĩ làm nghề bói toán để dung thân.
Lòng Tản Đà trước sau vẫn nuôi một hoài bão khác mà người đời cho là ông đi lạc hướng (Thiếu Âm) là ông muốn cùng nàng thơ tạm biệt, là một văn nhân tiền phong phất cờ dóng trống, ông cố mày mò cho ra An Nam tạp chí năm lần bảy lượt để bày tỏ nỗi lòng của một kẻ không phải chỉ biết nẩy khúc hận lòng bằng lời thánh thót, cũng biết mang tiếng nói rắn rỏi trung thực của người dân yêu nước trước cảnh nhà xiêu, nước đổ. Thiết tưởng ông có khéo diễn đạt thế nào cũng không bằng:
Nuớc non nặng một lời thề
Nuớc đi đi mãi chẳng về cùng non
Nhớ lời nguyện ước thề non
Nuớc đi chưa lại non còn đứng không.
Tiên sinh tin ở sự tuần hoàn sinh hóa trong vũ trụ, nước chảy ra biển rồi cũng có lúc mưa về nguồn như tình non nhớ nước luôn luôn hồn hậu và bất tuyệt. Thi sĩ Tản Đà có phải là hậu thân của Lý Thái Bạch là Lý Bạch tiến chứ không phải thối lui trong nghệ thuật.


         CỤ NGUYỄN XUÂN CHỮ 
 MỘT NHÂN SĨ NGHÈO
Cụ Nguyễn Xuân Chữ quê ở Nam Định nguyên là một y sĩ đông dương, sau trở thành một Bác sĩ chuyên khoa trông mom về bệnh  ung thư. Tôi được biết cụ và kính trọng như một vị sư thúc vì cụ Nguyễn Xuân Châu anh cụ là thầy dạy anh họ tôi. Trên 40 năm trước cứ mỗi vụ hè cụ Chữ thường về chỗ cụ Châu dạy học là tỉnh quê tôi nghỉ dưỡng sức và hay dạo chơi đông ruộng nên tôi được biết cụ có tinh thần khảng khái bất khuất hơn người khiến tôi kính trọng cụ như một bậc thầy.
Sau vụ di cư năm 1954, tôi được gặp cụ ở Bịnh viện Bình Dân, tình nghĩa thầy trò vẫn khắn khít, cụ cho biết cụ tuổi Kỷ Hợi sanh ngày 06 tháng 7 giờ Tuất.
Vị trí Mệnh cũng như Thân đóng trong thế Dần Ngọ Tuất của người Hợi Mão Mùi là vị trí của người đừng mong gì sự hưởng thụ bằng người chứ đừng nói ưu tiên trên người.
Trường hợp cuộc đời của cụ Chữ cũng không khác gì học giả Phạm Quỳnh đáng nên mang ra so sánh . Một người tuổi Thân Tý Thìn cả  Mệnh Thân đều ở Hợi Mão Mùi, một người Hợi Mão Mùi, cả Mệnh Thân đều ở Dần Ngọ Tuất cũng là thế ngựa bước thụt lui, xe chạy giật hậu. Ông Phạm Quỳnh tai hại hơn là Mệnh ở Long Đức (biết trọng đạo) nhưng Thân lại ở thế Trực Phù tức là ông có khôn khéo hành động gì thì kết cũng phải hy sinh thua thiệt. Cụ Chữ trái lại Mệnh ở Trực Phù (bị thua thiệt) Thân được ở Long Đức là đường lối biết để mà tu.
Thật là Trời định mệnh, còn có ta hành sự, cho biết dầu muôn sự tại trời mà hậu quả vẫn phải có cái ta nhúng tay vào mới kết thúc nên nỗi.
Thượng Chi tiên sinh nhờ Thuỷ mệnh đóng ở Hợi , dầu có bị Thiên Lương thủ mệnh cũng là chỉ kiếp tằm nhả tơ. Cụ Chữ Mộc mệnh bị Vũ Khúc khắc nhập trầm trọng là cung sinh sao, sao khắc mệnh, cuộc đời phải lao đao hàn vi ngay từ thủa thiếu thời. Cụ nhờ cậy vào một Thiên Tướng trợ lực để bảo tồn danh dự cho Liêm Trinh . Phải chăng là vị trí của Long Đức .
Phần vị trí là phần quan trọng đã không được hài lòng rồi bây giờ lại kiểm đến bộ tinh đẩu, thấy hình thức rất là tốt đẹp: Tử Phủ Vũ Tướng cách phò tá có Tướng - Ấn, Tả - Phủ, Song Lộc thật quả là đẹp về phương diện hình thức, nếu phân tách kỹ ra cũng thấy gì lợi lộc gì cho đương số.
Vũ Khúc mếu địa ở Tuất mượn sức Thổ cung làm điêu đứng Mộc mệnh . Tử Phủ Đế Vượng, Tướng Ấn cung Quan phải nói là chức phận Tể tướng, một Hoá Kỵ thành giấc mộng mơ hoa . Lộc Tồn ở Ngọ cư Tài trong nghịch cảnh của tuổi Kỷ . Bao nhiêu đó tưởng đẹp ở đâu và tốt ở chỗ nào .
Đời cụ Nguyễn Xuân Chữ chỉ đắc ý có một giai đoạn ở Mùi trong tam hợp tuổi đắc Thiên Lương là sao thủ đắc cho mệnh được Thái Âm ở Mão và Thái Dương ở Hợi là hai vị trí hãm của bộ Nhật Nguyệt này, nhờ có Long Phượng là một trong ba bộ sao đắc cách cho Nhật Nguyệt dầu là hãm địa (Xương Khúc, Long Phượng, Quang Quý) ngoài bộ tam minh Hồng Đào Hỉ đem lại Quang huy như đắc điạ là ngày cụ thành tài ở trường thuốc ra là một vị y sĩ.
Cũng như cụ Nguyễn Xuân Châu anh cụ là một nhà ái quốc kín đáo trầm lặng trong những hành động giúp đỡ đồng bào tuỳ theo hoàn cảnh và phương tiện
Người ta thường thấy giả như có một người kéo xe bò lên dốc trong lúc đó có cụ đi đường là thế nào cũng thấy cụ cũng sắn tay áo phụ đẩy cho hết quãng đường dốc. Nhiều khi cụ thấy ông em còn quá nông nổi có những hành động lộ liễu cụ chỉ khuyên: Chú không nên nóng nảy, mình là dân của một nước bị trị, dân trí hãy còn thấp kém, vấn đề đoàn kết chưa có được trong khi còn có bao nhiêu kẻ cầu cạnh làm thân trâu ngựa cho ngoại bang, mình không nên để cho thực dân nó hành hạ giết chóc mình như súc vật, chỉ nên làm sao thức tỉnh đồng bào bằng cách cụ thể nhất là giúp đỡ nhau giữa chỗ nhỉ mục quan chiêm để mọi người hiểu lần lần đi đến chỗ làm việc lớn. Cụ Chữ là một người hăng hái luôn luôn chống đối kẻ lộng hành bất kể kẻ đó là người nào, nên ít khi cụ được bổ nhiệm làm việc ở trung châu mà, chỉ là một Y sĩ luôn phiên ở thượng du nước độc thường ngày gặp gỡ người thiểu số.
Năm 1945 cụ được 46 tuổi đất nước gặp nhiều nhiễu nhương thay đổi . Nhật chiếm Đông Dương, rồi phải đầu hàng Đồng Minh, cụ Trần Trọng Kim được giao phó lập nội các, người lãnh vai trò khâm sai Bắc Phần là ông Phan Kế Toại, trước kia ông là công chức thời Pháp thuộc được tiếng là thanh liêm, nhưng tánh tình yếu nhát. Cụ Nguyễn Xuân Chữ lúc đó là một người trong Uỷ ban chánh trị Bắc Việt phải cáng đáng cùng với Bác sĩ Phạm Hữu Chương là Đổng lý Văn phòng. Tình trạng cụ không khác gì địa vị khó khăn giáo sư Hồ Văn Ngã đảm nhiệm chức vụ quyền khâm sai Nam bộ . Cụ cố công lèo lái được chừng 4 tháng đến chiều 18 tháng 8 năm 1945, vị khâm sai đại thần lẩn trốn, Bắc Bộ Phủ bỏ ngỏ, cụ Chữ bị đối phương đưa đi giam giữ một nơi.
Cảnh ngộ đó đủ giảng nghĩa cho lá số này, tuổi Kỷ Hợi Mệnh Thân đều lập ở Tuẩt Ngọ. Trông vào thấy tranh cảnh trình bày quá ư rực rỡ: Vũ Khúc miếu địa thủ mệnh. Liêm Trinh Thiên Tướng đắc địa thủ Thân, Tử Phủ, Đế Vượng, Tướng Ấn ở Quan.
Nếu như tạo hoá đổi tuổi Kỷ Hợi của cụ sanh ra chỉ 5 năm trước là năm Giáp Ngọ thì khi nhắm mắt qua đời chắc cụ mỉm cười đắc ý của nam nhi chí khí, dầu có ở trong cảnh bần hàn của Vũ Khúc, Hoá Lộc, Lộc Tồn thủ Thân Mệnh chỉ là cái hộp bánh bên ngoài hào nhoáng có giấy bóng kính bọc hộp, có dây lynon đỏ cột thành bông hoa mà bên trong bánh chỉ làm bằng bột bắp, bột gạo hạng cho gà ăn.
Trường hợp cụ Nguyễn Xuân Chữ, tuổi Kỷ đắc Lộc Tồn mà không được thụ hưởng và Hoá Lộc ở Mộ cung gặp luôn sao Mộ dầu Vũ Khúc đứng cặp cũng bị chôn vùi lấp kỹ. Chắc cụ cũng không hận gì cho lắm . Cụ còn tự hào ở Thân (Long Đức) trình bày cho quốc dân biết cái cảnh nghèo của một nhân sĩ tranh đấu tận tuỵ cho quốc gia đến lúc đậy nắm ván thiên với hai bàn tay sạch, không thành công chỉ vì trái số và không thời.



CHÚT LÒNG TƯỞNG NIỆM 
VỊ NỮ VĂN THI HÀO TƯƠNG PHỐ
Ngày 17 tháng 12 năm 1973, một số vị lão thành văn thi sĩ có tổ chức một buổi tưởng niệm Tương Phố phu nhân, nhà nữ văn thi hào vang bóng một thời, làm tôi nhớ một buổi chiều thu năm Mậu Thìn (1928 ) được thưởng thức “Giọt Lệ Thu”, một tuyệt phầm khiến lòng phải nao nao, mắt không khỏi vòng quanh ẩm ướt. Hình bóng bà lúc đó vòng quanh hiện ra trong đầu óc tôi, mặc dù không được quen tên biết mặt. Một vóc dáng thanh mai tuấn tú âu sầu trước khóm liễu rủ xác sơ sau một trận thu phong tàn nhẫn.
Nay cũng xin góp cùng quý vị đàn anh về một phương diện nào đó gọi là chút lòng hoài mộ một bậc chị, một văn gia đã reo rắc vào tâm hồn cái nên thơ phong phú của một tình thương, cái cao cả tinh thần cùng với cái tốt đẹp của văn chương mỹ thuật.
Tôi mày mò tìm số của bà và được biết bà ra đời năm Đinh Dậu (1897) ngày 22 tháng 11 giờ Mão. Âm Nữ, Hoả Mệnh, Thổ Cục. Mệnh an ở Dậu, Thân toạ ở Mão.
Người Âm Nữ tuổi Dậu, Mệnh ở ngay Dậu, một cặp Thái Tuế, Thiên Khốc ở ngay Mệnh là thấy ngay tư thế một nữ nhân đa sầu đa cảm, nói năng bặt thiệp của hạng phụ nữ cao đẳng trong xã hội với tư cách bất khuất, đầy lòng tự hào, không bao giờ chịu sự hư hèn làm giảm giá trị, cùng Thiên Việt là Tinh Đẩu về văn chương mỹ thuật. Tiểu Hao Mão Dậu là một sự thông minh lanh lợi lưu loát, phải chăng đây là phẩm giá chánh của bà mà khuôn thiên đã ấn định (Mệnh) .
Mệnh vô chính diệu tuổi Hoả được Thái Tuế, Thiên Việt (Hoả) làm nòng cốt là bộ sao quý cách của khách văn chương đúng mức, một tài hoa thiên phú, cũng Thai Phụ, Long Phượng,Hoa Cái, Bạch Hổ có tính cách cao sang của hạng khuê các lan đài, Thiên Tướng ngộ Tuần, Thiên
Phủ phùng Suy một ý nghĩa trong trường hợp vô chính diệu kiến không là cảnh dẫu là trướng gấm rũ lá vẫn là thanh bạch giữ sao cho phải nếp nho phong hiền thục cho đủ.
Nhìn đến cung thân là cái thân thế chính xác của bà thì hỡi ơi Tử Tham dở dang mọi lẽ . Nếu là Tham Lang sinh nhập bị Triệt không cho phép, bằng như Tử Vi sinh xuất cũng ở thế bó gối yếm thế, đi đôi cùng với vị trí Mão (Tuế Phá) là vị trí của người hận đời mà vẫn chịu ép một bề không thể vượt quá khuôn khổ của mặc khách tao nhân (Xương Khúc, Khôi) vẫn là Triệt ngăn cản. Cứ như vị trí Phá Hư là vị trí của người ôm hận dám làm đảo điên cả xã hội, trường hợp quận công Hoàng Cao Khải (Mệnh Thân đồng cung Phá Hư) đến cao xanh cũng thuận ý trước cái hận nào đó của ông, như quân sư Gia Cát Khổng Minh ôm mộng phá định mệnh, cố ý cướp quyền tạo hóa (Thân ở Phá Hư) cũng đành thúc thủ mang hận theo cùng số kiếp, tưởng cái vị trí Thân của Tương Phố phu nhân thật nan giải khạc không ra và nuốt cũng không đành. Nếu không là một văn nhân nữ sĩ, với cảnh Tham Linh Sát Hình thế nào cũng có phen gươm đao nửa gánh giang sơn một chèo, ngang dọc đông tây, trần ai nào biết trên đầu có ai.
               Trời thu ảm đạm một màu
               Gió thu hiu hắt thêm sầu lòng em
               Tràng thu bóng ngả bên thềm
               Tình thu ai để duyên em bẽ bàng
Anh ơi, thu về như gợi nỗi thương tâm. Mỗi độ thu sang em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu , nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại. Hỏi ba sinh hương lửa thời ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau. Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu xui nên chăn gối vừa êm lửa hương mới bén, sắt cầm dìu dặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn bình tan gương vỡ cho người dở duyên……
Thật là ai oán, thật là lâm li, tôi xin thú thật, đến nay mỗi lần đọc lại “Giọt Lệ Thu” vẫn thấy lòng nao nao, nước mắt lại muốn chạy quanh vẫn như ngày nào năm xưa, thương cảm đến một tao nhân khuê các chẳng may gặp cuộc trần duyên éo le. Có người nói bà khóc đây tuy là khóc chồng mà thật ra bà khóc giang sơn gấm vóc trong cảnh suy vi bị trị. Có lé không phải không đúng , một người như Tương Phố phu nhân đã biết trọng cái sinh hoạt tinh thần hơn là thường tục chẳng lẽ lại không biết yêu nước mến nòi xứng đáng là một phụ nữ của xã hội văn minh thường thiết tha đến văn chương thế cuộc.
Nay gặp lá số này, không khỏi hận thay ai với cái vị trí Tuế Phá của  thân người bạc phận. Đã sinh ra kiếp người (Mệnh) đính chính khí phách (Thái Tuế) đa tài nghiệp bút (Thiên Việt) gặp cảnh trái ngang, làm gì mà không đem cái sở trường của mình ra phơi bày oán trách, đầy đủ nghệ thuật làm cho lòng người khác cũng phải vì mình xúc cảm (Xương Khúc Khôi, Tang Mã) Thiên Mã ở Hợi (nghệ thuật) là con Mã của bà bị sa lầy, phải là người Thủy Mệnh mới đắc dụng. Ở đây chỉ khơi cho bà những dòng yếm thế, một dây một buộc khó giằng cho ra .
Nhìn thấy vận hành 15 – 24 ở Tuất là giai đoạn khắc nhập chủ chốt là Thiên Đồng hãm, mọi sự diễn biến trước tốt với Khoa Quyền Lộc Hồng Đào Quốc Ấn, cuối vận phải có những việc không hay lo buồn là tính cách bất trắc của Thiên Đồng hãm song song cùng Thiên Không ở Thìn Tuất Sửu Mùi, đủ nghĩa bà lấy chồng năm 18 tuổi, góa chồng năm 23 tuổi.
Thật là một giấc mơ kể từ lúc bước chân lên xe hoa đến ngày vành khăn sô chít ngang đầu với Liên Sát Linh Hình của cung Phối.
Người Mệnh vô chính diệu Hỏa mệnh được Thái Tuế Thiên Việt là quý cách của khách văn chương có tinh thần khí phách không hèn, chỉ hiềm Thân Tử Tham bị Triệt lại là vị trí Tuế Phá ôm hận khôn nguôi với những lời than trách bất hủ đầy nghệ thuật (Xương Khúc Khôi, Tang Mã, Khách).
               Thu về đẹp lứa duyên ngâu
               Năm năm ô thước bắc cầu Ngân giang
               Đôi ta ân ái lỡ làng
               Giữa đường sinh tử đoạn trường chia hai
               Anh vui non nước tuyền đài
               Cõi trần hương lửa riêng ai lạnh lùng
               Nhân gian khuất nẻo non hồng

               Trăm năm nào kiếp tấm lòng bơ vơ



       CHẮC LÀ SỐ CỦA 
NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU
Thưa vị nữ độc giả, tôi có nhận được thơ của bà khuyến khích và bà có hỏi tuổi Giáp Dần, nữ mệnh sanh ngày 20 tháng 12 giờ Mùi là số làm Hoàng Hậu phải không ?
Xin thưa, trước hết ở nước Việt Nam ta ngày nay không thể có Hoàng Hậu, trừ phi là công dân của Nhật, Anh, Thái và một ít nước Bắc Âu, Trung Đông và tuổi Giáp Dần năm nay đã 61 tưởng đã quá nhiều tuổi, còn sơ sinh thì năm nay mới là Giáp Dần. Nói về số thì số giống nhau có nhiều, không phải mỗi người một lá số riêng biệt, sở dĩ có sự khác nhau trong đời sống là ở yếu tố mà cũng là yếu tố huyền bí, tức là nhân quả tiền kiếp nên mới có câu “Đức năng thắng số” và bên địa lý phong thủy có câu “Tiền tích đức hậu tầm long”. Vậy cứ theo lá số này tôi xin trình bày:
Tuổi nữ Giáp Dần Nữ Mệnh đóng ở Ngọ là vị trí của người đáng bậc hàng chị trong xã hội, về phương diện xử thế, một người luôn luôn cố suy nghĩ sao cho xứng đáng với tư cách và địa vị của mình, nhưng Thân lại đóng ở Thân là nỗi niềm của người thất vọng chán nản. Vì có Phượng Các nên không thể có những hành động quá khích, và có lẽ nghiệp quả (Hình Riêu Không Kiếp) mà cam chịu không lột xác làm điều thế nhân thường tình (Phượng Các ngộ Triệt).
Thân Mệnh đều vô chính diệu là một điểm kém, tuy nhiên vô chính diệu đắc Nhật-Nguyệt chiếu lại là một cách sang. Nòng cốt cho Mệnh là Long Trì, cho Thân là Phượng Các (sinh-xuất)chứng tỏ một vị mệnh phụ đài các trang trọng. Người này nổi bật lên có đôi mắt mặc dầu Thái Dương ngộ Kỵ, Thái Âm ngộ Tuần còn Lộc Tồn, còn Thanh Long, còn Mệnh Thân Long Phượng không thể nói là kém quang huy, đặc biệt có Tràng Sinh thành mắt dài có đuôi. Đây là cặp mắt phụng khóe thu ba dợn sóng khuynh thành vẫn ở trên tư cách đường bệ của người chính đính (Thái Tuế, Đế Vượng).
Về hình thức Á-Đông phải công nhận đây là một người đẹp, không phải liễu yếu mềm rũ hay phốp pháp gân guốc Tây phương, có vẻ thanh mai khỏe mạnh (Hỏa đắc địa ở Ngọ của tuổi Giáp Dần), uy nghi oai vệ (Tướng Ấn). Tiếc rằng một Long Trì làm nòng cốt không đủ tư thế ngăn cản Địa Kiếp (hãm) và Hỏa tinh vào bè với nhau hãm hại. Một trường hợp Vô Chính Diệu, Thủy mệnh (khó khăn) Long Trì quá yếu chỉ câu được bộ Nhật Nguyệt đắc cách để chiếm lấy một địa vị cao sang, cuộc đời rồi như mộng ảo, bôn ba không bần thì yếu.
Thân cũng như Mệnh vô chính diệu, nhờ là Cung Phúc Đức, mà Phúc Đức không có cách gì qua mặt được vô chính diệu đắc Nhật-Nguyệt chiếu ở Ngọ và Thân. Người này nhờ Thân dựa Phúc Đức, con nòi cháu giống có tiếng tăm danh vọng trong xã hội. Tuy trong tình trạng chua cay bất mãn (Phá, Hư) vẫn phải đóng vai trò đủ tư cách của người cao cả không thể làm những việc gì để phạm mất danh dự được .
Chồng là một hiền nhân khôn khéo khỏe mạnh (Cơ Lương Thìn Tuất ) bệ vệ thành thật ( Mộ, Bát Tọa) có tâm hồn lo âu bao la như buồn nhát ( Tang Môn, Thiên Khốc) hai bên đã gặp nhau trong trường hợp tình cờ rồi hẹn ước (Phục Binh) mà nên tương đắc và trọng nhau (Thủy Mệnh gặp Cơ Lương) .


Quyền Lộc chỉ là phù phiếm (nhị hợp sinh nhập) không thể gây những nguy hiểm tàn ác (Liêm Phá ngộ Triệt) là may, kể gì đến thành công trong những lo toan, còn có thể đi đến chỗ phá sản, nhưng dầu sao vẫn được hưởng trong cảnh vinh hiển thanh nhàn (Mộ + Bát Tọa). Nếu trí nhớ tôi không lầm, hồi ông Bảo Đại làm vua tại Triều Đình Huế cách đây trên dưới 40 năm ông có gặp một đóa hoa lan giữa cảnh đồi xinh đẹp Đà Lạt, rồi ông si mê mơ ước. Ông có yêu cầu hoàng gia và triều đình phong làm Hoàng hậu, nếu không được, ông tuyên bố : “ở vậy suốt đời”. Hồi đó báo chí chỉ có nói là hoàng hậu kém đức vua một tuổi nghĩa là tuổi Giáp Dần
Thưa bà độc giả, có phải đây là số của Bà Nam Phương Hoàng Hậu nên bà mới đặt câu hỏi : “... có phải là số làm Hoàng Hậu?”

ĐIÊU THUYỀN 
là người thế nào?
Hai tiếng Điêu Thuyền, cái danh từ xưa nay cửa miệng thế gian thường ám chỉ cáo tính cách khinh khi gán cho những kẻ hư thân trắc nết, những người ăn nói trước sau dối trá. Sự thực Điêu Thuyền là người thế nào ?
Là một vũ nữ đàn ngọt hát hay để cho quan Tư Đồ Vương Doãn dùng là phương tiện lật đổ loạn thần Đổng Trác và củng cố ngôi vương cho vua Hiến Đế nhà Hậu Hán. Cô có phải là người đáng để cho hậu thế chê bai không ?
Theo sách số cổ truyền: Điêu Thuyền tuổi Nhâm Tuất sinh ngay 23 tháng 8 giờ Dần. Mệnh lập tại Mùi, Thân đóng ở Hợi là hai vị trí của người đàn bà khôn, sáng suốt, phúc hậu, tin có lẽ phải của thần quyền, mặc dầu Cự-Đồng hãm, đối với tuổi Nhâm không phải là không cách hay, cũng như ai được dự phần phú quí. Cô là người sống không thể không có nghệ thuật, mỹ thuật. (Suy, Lộc Tồn) với mớ tài hoa thực có (Tả Hữu, Hồng Đào, Khôi Việt) làm gì mà chẳng đổ quán siêu đình, nước nghiêng thành mất ( giáp Xương Khúc).
Đành rằng có người tài lại đẹp là khả ái, nhưng tư cách của cô có đáng để cho miệng hậu thế hậu lai khinh khi cho là phường vô hạnh ?
Xin thưa là không, có Hóa Khoa ở ngay Thân, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức phò Mệnh. Nữ nhân đắc Khoa là tối hảo cùng với tam đức có khác gì tứ đức. Một người biết sống cao cả, một hiền phụ có tâm hồn phước thiện, thế thường người có tài hay phải lụy vì tài, chẳng may sinh vào buổi nhiễu nhương, cũng biết đem thân mà đền nợ nước. Thời gian tư tưởng chánh-kiến thay đổi, ngày nay hễ ai là người có tài có chí thì khi xét đến vấn đề “Trung quân ái quốc” phải đặt thành hai vấn đề ái quốc là khẳng định, còn trung quân phải là minh quân. Ngày xưa lại khác, nước là vua, vua là nước, mặc dầu hèn nhát như Hiến Đế, kẻ tôi trung vẫn phải trung thành tuyệt đối, ví là bạo chúa như Trụ Vương, quần thần vẫn phải hy sinh cho trọn chữ trung thần. Điêu Thuyền có vì cái ngôi vua mục nát nhà Hán không giám từ nan phận đào tơ liễu yếu đối với sơn hà, phải là khen chứ sao lại chê.
Một người con gái như Điêu Thuyền phải làm nô tỳ cho Vương Doãn hẳn là xuất thân từ một gia đình khiêm nhường trong xã hội loạn lạc ( cung Phụ Vũ Tướng Hình Riêu Kỵ, Thái Dương lạc hãm ngộ Thanh Long, Thái Âm lạc hãm ngộ Linh-Đẩu) rồi nhờ ông quan Tư Đồ dạy dỗ và nhận làm nghĩa nữ, biết đâu chẳng vì tài sắc của cô rồi vì hoàn cảnh đất nước, phận liễu bồ được dịp thuận tiện gây mối éo le giữa cha con Đổng Trác, Lữ Bố, nếu không phải là người có tinh thần yêu nước đặt lên trên sự phú quí nhất thời, tìm cuộc sống theo thường tình thế nhân, làm gì có liên hoàn kế ghi vào sử sách.
Hóa Khoa ở đây không thể coi thường (Hợi) là một biển nước lũ rửa sạch tính cách dơ bẩn của Đồng Cự hãm, cho đến Hà Sát Cơ Hỏa cũng được giải nguy. Có thể nói là một người hết sức chung tình (theo tác phẩm giai nhân đời Tam quốc, tác giả Lã Quán Như cho biết : một khi đã nhận là vợ Lã Bố rồi, Điêu Thuyền hết sức giữ gìn tiết hạnh ngay từ với nghĩa phụVương Doãn cho đến sau này cùng Đổng Trác chấp cánh).
Cuộc đời trần thế giai nhân hễ gặp anh hùng như keo sơn bám chặt, chỉ tiếc rằng Lữ Bố chỉ là một chàng dũng sĩ đẹp trai vô mưu (Thái Âm lạc hãm đắc Hồng Loan, Linh Tinh đắc địa) sự nghiệp chẳng là bao (Không Kiếp) để mối tơ duyên của nàng quá dở dang, phải chăng trường hợp Phúc cung Thái Dương (Dậu) gặp Thanh Long, Không-Kiếp.
Tôi còn nhớ cụ Phan Khôi trước kia đã có lần lãnh vai trạng sư bênh vực Võ Tắc Thiên trên văn đàn Phụ Nữ Tân Văn, cơ quan của phấn son tô điểm sơn hà Nước Nam, cụ lý luận lấy công bằng xã hội, gái cũng như trai, khi đất nước gặp lúc trai ươn hèn, gái có quyền lãnh vai trò kinh bang tế thế nếu có tài, và sự thụ hưởng không lẽ không công bằng, thì Điêu Thuyền như lá số này cũng được đáng trọng đãi mến thương như ai trên đài vinh dự, thật ra không lấy gì là hư thân trắc nết. Nàng phải dùng thủ đoạn (Đào Hoa, Thiên Không) mong đem lại thanh bình cho đất nước, rồi ra Thiên Không này không thể không vì Hồng Loan dẫn dắt nàng đến mượn cửa thiền cầu mong giải thoát cuộc đời còn lại, sau khi Lữ Bố bị Tào Tháo hạ sát



       VƯƠNG MÃNG

là chính thống ngay ngụy quyền?
Vương Mãng là một quyền thần ngoại thích dưới triều mấy ông vua cuối nhà Tiền Hán, sau khi hạ ngôi Thái Tử Anh, tự xưng là Giả Hoàng Đế lấy quốc hiệu là Tân. Theo lịch sử Trung Quốc sau khi Hán Quang Võ lên ngôi thì hết thảy các cây bút phải hạ nhà Tân xuống đất đen . Điều đó ai cũng biết là quyền lực phong kiến không cho phép được nói trái ý nhà vua thì Vương Mãng hẳn là kẻ soán nghịch, cho đến nỗi nhà vua cấm hết thảy người dân nào có số Phá Quân ở Thìn Tuất đều không được thi cử gì và không được làm một chức vụ gì dầu lớn hay nhỏ.
Cứ như sách cổ để lại ta thấy có hai lá số của Vương Mãng . Một cái tuổi Giáp Thân ngày 3 tháng 9 giờ Tí, một cái tuổi Giáp Dần tháng Giêng ngày 27 giờ Tuất, nghĩa là hai tuổi xa cách nhau 30 dặm. Bây giờ chỉ còn là phân tách theo thời gian xem cái nào hợp lý.
Theo lá số tuổi Giáp Dần mệnh có Phá Quân ở Thìn là bất nhân 100% không còn gì là bào chữa nổi. Lấy thời gian vận chuyển các đại vận của số thấy sai lạc không trúng phần nào . Giai đoạn đẹp nhất là ở Ngọ, không lẽ 23 tuổi lên làm vua sau thời gian làm phụ chánh cho hai đời vua mất 7 năm và ở ngôi vua được 15 năm tức là trên 20 năm thấy không đúng và cũng quá sớm cho một người mới lớn lên không đủ kinh nghiệm lập vây cánh làm chuyện soán nghịch.
Lịch sử nói ông là cháu gọi hoàng hậu Nguyên Đế bằng cô . Từ Nguyên Đế đến Thái Tử Anh là 4 đời vua cộng tất cả là 40 năm, đem so với số tuổi Giáp Thân thấy đại vận 43 ở Thân cung là đại vận đẹp nhất đời, trước đó còn một đại vận 33 vô chính diệu được Tuần câu móc Nhật Nguyệt chiếu, tức là đương số có đủ thời gian làm chuyện lớn.
Tuổi Giáp Thân có Tử-Tưởng ở Thìn, Mệnh Thân đồng cung . Nguyên một chi tiết này cũng đáng được gọi là bực anh hùng chánh hiệu có nhãn cầu chứng tại tòa khỏi phải bàn tán dài dòng. Cái hay của người có số đứng trong tam hợp tuổi là sự thành đạt của mình bao giờ cũng phải là ngoài 40 tuổi là quãng đời có thể đã đầy đủ kinh nghiệm cuộc sống. Người hành Thủy được Thiên Tướng thủ Mệnh với tuổi Giáp được bộ Khoa Quyền Lộc, Thân Tí Thìn đóng, Thân Tí Thìn được bộ Long Phượng Hổ Cái, đó là những nét chính phụ họa thêm Hữu Bật, Thanh Long, Văn Khúc, nhất là Tài-Thọ đứng sát với Khoa ở Tí (vặn năng).
Cứ lấy số mà luận, thật tình không thấy cái bất nhân bất nghĩa ở chỗ nào . Trái lại Vương Mãng còn coi vua là nghịch triều (Phát Quân ở Tuất) ăn báo dân hại nước đeo Ấn, Quyền múa rối bất tín nhiệm (Quốc Ấn, Hóa-Quyền, Bệnh-Phù, Tang, Khốc) thì để làm gì mà không quét đi cho sạch mắt (Thân Tí Thìn : Thủy khắc Dần Ngọ Tuất : Hỏa).
Một người có học vấn (Văn Khúc) có chí lớn (Bạch Hổ) tự tin (Thân Mệnh đồng cung) cố vươn mình lên với đời ( vị trí Thìn) đủ khả năng cải tạo xã hội là cái biệt tài của Vương Mãng(Khoa, Tài Thọ ở Tài) chỉ phải cái phận số không được lâu dài khiến cái hại là cung Quan Liêm Trinh, Thái Tuế bị Triệt nên cái thế chính nghĩa bị  lu mờ bôi xóa sau 15 năm ở ngôi vua (8TL-23TL tức là từ năm Mậu Thìn đến năm Quí Mùi) rồi vua Hán Quang Võ đoạt lại.


Cứ như lá số tuổi Giáp Thân này, Mệnh ở Thìn đem Phá Quân thay thế cho Tử-Tướng thì đường số cũng không phải là kẻ nghịch thần phản chúa, mặc dầu người mạng Thủy gặp Phá Quân là Thủy, vì người tuổi gì đóng trúng tam hợp tuổi của mình không khi nào không vì chính nghĩa mà hành động, dư luận chỉ là thời gian, sự thật vẫn là sự thật. Nhà Tiền Hán từ vua Nguyên Đế cho đến Bình Đế 4 đời vua sau cũng đều là vô tài khờ dại, bọn hoạn quan chuyên quyền hại dân hại nước, thì một người có tài có chí như Vương Mãng muốn đem lại trật tự cho tổ quốc bằng cách giải quyết vấn đề xã hội dân sinh, tức là đầu óc ông đã thấy cái ánh sáng dân vi quí (dân chủ). Cái lòng tự hào (Tử-Tướng Thân Mệnh đồng cung) không thể không ra tay quét sạch dơ bẩn. Tiếc thay cung Tài Vũ Phủ Khoa Tài Thọ là cái tài đặc biệt quốc kế dân sinh chỉ vì cung Quan Liêm Trinh bị Triệt mà thành hỏng việc .
Sự thật cái chính nghĩa của tuổi Giáp Dần không phải là không có, còn tuổi Giáp Dần đặt ra (tôi xin nói là đặt ra để buộc tội người thua trận) một cái vị trí Thìn của người tuổi Dần cũng đã thấy cái khó khăn của chính nghĩa rồi (đổi cục) huống chi mệnh Thủy được gán cho Phá Quân thì chính cống bất nhân bất nghĩa còn gì để bào chữa cho nổi.  Thân cư Tài có Thất Sát ngộ Tuần, hành động gì được, có lẽ chỉ lấy miệng khoác lác (Điếu Khách) là đắc cách, đến cung Quan Tham Lang bị Triệt làm sao làm vua được 15 năm.



Việc cổ nhân cách đây 2000 năm bằng tuổi này hay tuổi khác rất khó phân thật giả, cái phần chính yếu là phân biệt kẻ gian người ngay, đấng anh hùng, phường nghịch tặc để biết đâu là triều đại chính thống, đâu là sân khấu ngụy quyền. Tam hợp Thái Tuế là cái gì hiên ngang chính đáng chẳng may có bị Phá Quân ngự trị là hoàn cảnh bó buộc bị mang tiếng với đời, chứ thâm tâm vẫn là chính đính, cái nỗi khổ về tinh thần trí não của người có số không bộc lộ ra được, chỉ còn trông cậy nhờ vào sự minh oan trên phương diện lý số, tưởng đó là phần việc của các vị Bao Công sáng suốt tinh thông huyền bí nên ra tay soi tỏ vén màn u uất như trường hợp triều đại nhà Hồ ở Việt Nam chẳng hạn.

KHỔNG PHU TỬ 
ngài nặng lo
Phu-Tử tên thực là Khổng Khâu biệt tự Trọng-Ni, ra đời tại nước Lỗ cách đây hơn 2500 năm trong thời Xuân Thu lịch sử Trung Quốc. Ngoài các khả năng đặc biệt khác, ngài còn là người tiếp tục định nghĩa rõ ràng lý học sau các Tiên Hiền khám phá ra sự biến chuyển của vũ trụ có lẽ âm dương liên quan đến việc may rủi của người ta. Đứng trước những ánh sáng chói lọi của ngôi Bắc Đẩu của dịch lý, sụ trình bày của Khổng Phu Tử không ngoài thành ý nêu cao cái kỳ công của những bộ óc phi thường và ghi nhớ tôn kính một bực thánh hiền của nhân loại.
Ngài tuổi Canh Tuất, sanh ngày 1 tháng 11 giờ Tí .
Tuổi Canh Tuất Thân Mệnh đồng cung tại Tí là người có sứ mạng phải lo lắng cho đời hết việc này sang việc khác mà không hài lòng (vị trí Tang Môn). Thiên Lương thủ Mệnh (Mộc đới Thổ) chỉ là chiếc áo phủ ngoài một pho tượng quí giá là Thai (Thổ) Phượng Các (Kim) mới là căn bản cùng với Hữu Bật, Văn Khúc, Hóa Khoa, Lộc Mã Khốc Khách, ngài nổi tiếng được liệt vào bực thầy muôn thuở.
Đời ngài trôi nổi khắp nơi hết Lỗ đến Tề, hết Vệ đến Sở, ... chỗ nào cũng bị dèm pha chỉ vì Thiên Lương ở Tí một đại thụ bồng bềnh trên biển cả đắc Mã Khốc Khách mà ngộ Kỵ, song song như có sự an bài với Thiên Đồng ở cung Quan (Thìn) cũng bất ổn nay đây mai đó với Bệnh-Phủ (không được trọng dụng) mặc dầu ngài có đủ Hữu Bật, có Thái Âm, Mã Khốc Khách là những yếu tố để trở thành những người để đời phải kính trọng thực sự. Không như Thọ đắc Quyền Lộc, người đời chỉ nể sợ e dè bề ngoài bằng quyền uy và bợ đỡ vì nhiều tiền bạc.
Thân Mệnh ngài đứng ở cái vị trí của người có ưu thế (Thân Tí Thìn khắc Dần Ngọ Tuất) mà không hài lòng (Tang Môn) vì người đời không để cho mình thực hiện theo đường lối phải đi mà lòng vẫn vấn vương lo tính làm sao cho dân cho nước được cảnh thanh bình lạc nghiệp. Cái tài của ngài phải đắc dụng vào chỗ tướng quốc (Lương Tướng Ấn) chăn dắt muôn dân, nếu như ngài được sanh ra đời trước đó 10 năm (Canh Tí) có lẽ cái mộng của ngài đã đạt. Biết rằng ngài không phải là người ôm mộng công hầu mà mê say về mộng lấy đức (Thiên Lương) để biến đổi thiên hạ, thế cho nên ngài mê giảng giải cho môn đệ là việc thường ngày. Cái khổ của ngài là vị trí Tang Môn nó không cho ngài yên trí làm việc, luôn luôn ngăn cản gây bất mãn, ngay đại vận 26-35 (Dần) là giai đoạn đắc thời nổi tiếng xuất thân ra làm quan, chỉ được ít năm vì muốn gặp 1 vị danh sư (Lão Tử) ở Lạc Dương là thủ đô nhà Chu có những kho tàng về lịch sử, văn hóa rất phong phú, một cơ hội tốt để tham quan, ngài đành phải bỏ dở công việc đang có kết quả tràn trề hy vọng. Phải chăng cũng vì vị trí bất mãn sai khiến, đừng nói gì sang giai đoạn ở Mão, Thìn cho đến hết đại vận ở Tỵ, ngài phải đóng vai trò cái thoi trong cái máy dệt của hóa công, luôn phiên đưa đẩy không đạt được ý muốn. Trở về cung Ngọ Thái Dương đó đưa ngài bước đến đường Vạn Thế Sư và cũng vì Thái Dương đó kết thúc cuộc đời với 73 (cả cung lẫn sao).
Nhìn kỹ lại số của ngày Vạn Thế Sư là cả một bức tranh tạo hóa hạ bút bằng những nét ẩn hiện phối hợp rất tài tình ở trong cái thế tam hợp Thân Tí Thìn mà tuổi lại là Canh Tuất, hiển nhiên là đứng trên địa vị ưu thế mà bất mãn; người ta vẫn trọng vọng ước ao gặp mình, thế mà khi thấy mình họ lại ngại ngùng vì lẽ này hay lẽ khác không tiện nói ra, mình lại phải rút lui.
Cái hoài bão của ngài ở trong cảnh nước loạn chia năm xẻ bảy, phải có địa vị cao như tướng quốc (Lương Tướng Ấn) mới mong làm cho nước giầu dân mạnh bằng chính trị (Khoa, Hữu Bật, Phượng) lấy đạo đức làm căn bản cho trật tự. Sự xếp đặt ở cung Quan là cái khéo cái tài: Thiên Đồng, Bệnh-Phù, Tuế Phá, Thiên Hư tức là khi đã thân chinh hóa giải không được là giải quyết bằng ngang ngược thẳng tay. Nếu thế lại trái hẳn tư cách Thiên Lương Phượng Các Giải Thần, nên phải thêm Khoa mới đúng đường hướng hòa bình êm dịu . Những nét đậm, lạt phù hợp xen kẽ nhau làm bức tranh càng thêm quí giá.
Ngài là một người giàu nghị lực (Thiên Mã ở Thân) nhiều khi như muốn thối chí (Bệnh) nhưng cố kiên trì (Lộc Tồn). Con Mã này giúp ngày thành danh (Mã Khốc Khách) hơn cả Mã của Vạn Thế Quân Sư Gia Cát ( Mã ở Hợi) nhưng ngài phải nhường bước Khổng Minh ở bộ Âm Dương hết sức quang huy ( Mão và Hợi) và bộ Tả Hữu ngay ở Mệnh, ngài chỉ có một Hữu Bật.
Xin thưa, tôi đã gặp đức thánh Khổng Phu Tử và thường đi lại giao tiếp có thể nói đã trên 20 năm nay (đọc đến đây chắc có vị mỉm cười cho là chuyện khôi hài hay mê ngủ) .
Xin thưa rằng : đây là một vị nhân sĩ  tuổi Canh Tuất sanh ngày 1 tháng 12 giờ Tí, một nhà cách mạng, bất mãn, rất trọng ân tình nghĩa lụy, chịu khép đời sống trong khuôn khổ eo hẹp dầu là thanh bần hơn phú quí phi nhân đạo.
Đây là một trường hợp người giống số nhau . Đức thánh Khổng được lưu truyền đến nay nêu cao gương cao cả của đức lớn dạy đời đối đãi với nhau, vị nhân sĩ này cũng biết trọng đức hơn tiền bạc, cũng luôn luôn không quản ngại sự khó nhọc giúp ai, không bao giờ kể công để thành dân cường nước thịnh ( ông được chân truyền về khoa địa lý chánh tông). Đức Khổng Phu Tử được cả thế giới ngày nay biết đến có lẽ nhờ địa thế phong thủy nước Tàu lớn hơn, nhân quả của ngài to tát hơn, còn vị nhân sĩ này ở vào phần đất khí thiêng sông núi có phần eo hẹp hơn và công quả tiền kiếp cũng đơn sơ hơn nên cái phần danh dự cũng chỉ quẩn quanh trong đất nước này mà thôi. Như thế số có phải là con đường đưa dắt thế nhân nếu biết mà sử dụng, và kết quả chỉ trong phạm vi tương đối mà thôi, còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố huyền bí khác mới thành được vĩ nhân.



Quân sư KHỔNG MINH 
có ý phá Định Mệnh
Nói đến Khổng Minh thì khắp cõi trời Đông Nam Á , và ngày nay có thể nói hầu hết mọi giới đều biết và công nhận đó là một quý nhân, một vị quân sư có bộ óc suy tính không ai có thể lường trước được. Thánh Thán và Mao Tôn Cương là hai nhà văn nổi tiếng về phê bình nhân vật của Trung Quốc đã phải chịu hạ bút là một kỳ nhân đệ nhất trong tam tuyệt thời Tam Quốc đứng trên hai người là Tào Mạnh Đức và Quan Vân Trường  .
Trước đây tôi đã cố đem sức mọn ra phác họa hai bức tranh của Tào Tháo và Quan Công và tự thấy quá thô sơ không tô điểm diễn tả được phần nào tư cách chính yếu của cổ nhân  . Nay đối với Khổng Minh , thật tình không biết làm sao trình bày cái tài tình của người còn gấp trăm ngàn lần đặc sắc hơn . Nhưng lòng đã nguyện , cũng xin cố gắng và xin lỗi các vị huynh trưởng trong làng bỏ qua nếu có điều gì không được thấu đáo kỹ càng.
Quân Sư Khổng Minh, tên thực là Gia Cát Lượng, sanh năm Tân Dậu (181 dương lịch) ngày 10 tháng 4 giờ Tuất.
Tuổi Tân Dậu mệnh ở Mùi, Thân ở Mão là cả hai vị trí của người không được hài lòng với ý chí của mình từ thiên định mệnh cho đến chí phấn đấu. Phải chăng ông là người sinh ra không gặp thời, đâu phải vô tài; cái tài của ông là cái tài của một tuyệt thế kỳ nhân ( Tả Hữu, Thai, Thanh Long) với sự thông minh quán chúng (Thái Dương ở Mão , Thái Âm ở Hợi đồng chiếu Mệnh Vô Chính Diệu ở Mùi). Cốt cách của ông là Thiên Lương (Mộc) cùng với Thái Dương là thiên chức của người lãnh phận sự phò tá cho các vị nguyên thủ quốc gia (Quân Sư, Thừa Tướng). Người ta thường nói Mã ở Hợi là Mã hết đường chạy, sự thực với Khổng Minh Mộc mệnh đối với cung Hợi (Thủy), Mã không phải là không đắc dụng khiến ông thành một vị ngoại trưởng có tài thuyết phục người ta cùng với Điếu Khách ở Mệnh. Thiên Mã này tài bồi nghị lực, ông càng cố gắng mẫn tiệp (Mã+Linh) bao nhiêu càng đưa ông lâm vào cảnh thân thể hao mòn gần đất xa trời ( Mệnh Mộc tiết khí Mã Linh). Thật là một tấm gương vĩ đại của một vị thừa tướng tận tụy về công cụ mà quên hẳn cái xác phàm nhân của mình.
Người có Tả-Hữu nhập Mệnh là người có tài quán xuyến mọi vấn đề, thấu hiểu cả văn lẫn võ, được Nhật Nguyệt tịnh minh hội chiếu mà Mệnh lại ở thế Vô Chính Diệu là một sự mênh mông bao quát, tức là có thể nói ông thấu hiểu hết thẩy sự việc từ hữu hình đến vô hình, từ vấn đề nhân sự đến thiên sự.
Từ lúc còn là thư sinh bạch diện ẩn dật ở núi Ngọa Long, ông đã phân tách trình bày đủ lẽ cái thế tàn của nhà Hậu Hán để Lưu Bị biết, rồi ra cái sức chống đỡ của thế nhân cũng chỉ được phần nào, tức là đất nước có gặp người tài ba khôn khéo cũng chỉ giữ được một phần ba. Cuộc gặp gỡ hai nhân vật này chứng minh cái thế chính trị sáng suốt của Khổng Minh bằng bộ Tả Hữu, Âm Dương, Thiên Mã nói lên hết thẩy mọi sự việc của suốt cuộc đời ông, một cái tài tuyệt luân của một vị thừa tướng, một vị quân sư điều khiển ba quân, thêm cả cái tài vô hình huyền bí là ông thấy thiên cơ, ông là một vị thánh sư về tướng số. Ông không biết sự biến chuyển của cơ trời, làm sao ông cầu được gió Đông Nam để thiêu đốt trăm vạn quân Tào ở Xích Bích. Sự cầu đảo gió này không biết ông có tài thực sự khiến thay đổi được khí trời trong cảnh trái thời tiết, hay ông tinh thông về thiên văn biết đến giờ đó có gió lạ, ông làm trò cầu đảo để khuất phục nhân tâm. Cũng như cái trò mượn 10 vạn mũi tên của Tào để bắn quân Tào Tháo . Nếu không biết ngày giờ đó có sa mù, quân Tào không giám xung trận, chỉ lấy cung tên đem ra bắn loạn xà ngầu khi có báo động, chỉ trong mấy tiếng đồng hồ ông có đủ số tên đem nạp cho Chu Du để cho quân có đủ tên bắn giết quân Tào khi lâm trận Xích Bích. Tôi tưởng hai sự việc này tỏ ra ông quá thấu hiểu thiên văn một cách quá tài tình .
Ngụy Diên là một viên thượng tướng được liệt đứng liền sau Ngũ Hổ lúc mới bước chân vào ra mắt Huyền Đức xin qui hàng, Khổng Minh quát võ sĩ đem ra chém đầu . Ông nói người này có xương trái khớp ở gáy tức là tướng Hình của người phản trắc không nên để . Theo tôi nghĩ không biết Khổng Minh có tài coi tướng giỏi hay không; hay chỉ là một cách hành sự răn kẻ làm tôi không nên ở hai lòng, vì Ngụy Diên vừa mới giết chủ là Hàn Huyền đem thành Tràng Sa đến dâng cho Lưu Bị để làm món quà tiến thân.
Những sự việc trên đầy là sự việc đứng về phương diện vô hình huyền bí. Còn như mưu mẹo thực hư, hư thực thật không biết đâu mà lường với Khổng Minh. Đến Tào Tháo là một nhà quân sự có hạng cũng phải mắc phải kể là quá tài tình. Một đám tàn quân bại trận thì không khi nào giám ngang nhiên chạy trên đường lớn là chỗ dễ bị phục kích, tất nhiên con nhà tướng phải cho binh tháo lui theo đường hẻm mà trong đường hẻm thấy khói lên, Tháo cho là nghi binh để nhử mình chạy qua đại lộ, vậy cứ tiểu lộ chạy là thoát, ai ngờ tiểu lộ nghi binh hóa ra thật có Quan vân Trường đứng chận. Tháo đành bó tay chịu trận. Những sự hành quân của Khổng Minh luôn luôn khiến đối phương không biết đâu mà tính.
Những điều mà tôi muốn trình bày bằng lá số này là Khổng Minh coi nhân thế không đối thủ, mà đối thủ chính cống kia là cao xanh, là trời, thượng đế nên Khổng Minh có ý kình phá định mệnh.
Biết nhà Hán đã hết vận mà còn cố công gánh vác một thời gian nữa cho Lưu Bị từ một vị hoàng thân đã trở thành một thường dân làm nghề dệt chiếu bán dép có tinh thần muốn bảo tồn đế nghiệp chiếm lại được phần ba quốc thổ.
Đương giữa mùa Đông rét cóng chỉ có gió bấc lạnh lẽo làm sao có được gió Đông Nam. Ông cầu đảo mà được chẳng là tài cướp được quyền tạo hóa làm cho đại đô đốc Đông Ngô là Chu Du kinh hãi phải than rằng: Người này có phép cướp quyền trời đất. Nếu để sống ắt gây tai họa cho Đông Ngô, ta phải giết ngay đi để dứt mối lo sau này.
Biết mệnh mình đã hết, cố tình nhương tinh cầu thọ lấy thêm 12 năm nữa và vụ đốt hang thượng-phương định thiêu chết ba cha con Tư Mã Ý trong đó có Tư Mã Chiêu là cha của Tư Mã Viêm sau thành Tấn Võ Đế thống nhất đất nước. Trong lúc lửa cháy bốn bề, địa lôi nổ tung từng đám đất thì trời mưa như trút nước. Người đời sau đã có câu : Địa lôi chống sao lại Thiên Lôi, lửa của người làm sao chống lại nước của trời. Những sự việc này Khổng Minh cố thực hiện mà không thành chẳng qua đã có định mệnh là cái vị trí của Thân ông ở Mão (Tuế Phá). Ông quật khởi chống hẳn tạo hóa đi ngược lại định Mệnh không cho phép ông thỏa mãn tức là vị trí Hợi Mão Mùi của người Tỵ Dậu Sửu nếu là thường nhân dễ gây nên loạn ý làm xằng .
Đem Quản Di Ngô và Khương Tử Nha ra sánh với Khổng Minh là một việc khó trình bày vì hai ông này là người gặp thời phò chúa cũng có thời là Tề Hoàn Công và Chu Văn Vương, kẻ nên nghiệp bá người thành nghiệp đế, hai ông được rạng danh với công-nghiệp sáng ngời.
Trường hợp của Khổng Minh là trường hợp của Văn Trọng nhà Thương phò vua Trụ và Phạm Tăng phò Hạng Vũ, một khi đã được người lấy lễ trọng đãi mình, mình chỉ còn biết đem hết sức lực khả năng ra phục vụ và cũng không đành lìa bỏ như tướng Trần Quang Diệu quyết tâm phò vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn đổ rồi rốt cuộc cùng nhà vua bị thảm hại. Có phải người đời hay trọng kẻ phù thịnh, mấy ai đã tán thưởng đến người phò suy, cũng không nên nhắm thành bại để xét tài năng của cá nhân. Gia Cát Võ Hầu là một quái kiệt đáng phàn nàn về cảnh ngộ, đáng kính về tư cách, đáng trọng về tài ba.



Trung tín, Nghĩa khí là 
QUAN VÂN TRƯỜNG
Nước Tàu vào đầu thế kỷ thứ III vua nhà hậu Hán nhu nhược bất lực trước các hoạn quan chuyên quyền, trên khắp lãnh thổ những nhóm này, đảng nọ nổi lên chống đối có rất nhiều nhân vật xuất hiện có nhiều cá tính đặc biệt và cuộc sống khá phức tạp.
Có những ông vua như Lưu Bị làm cách mạng từ thuở hàn vi rồi lên làm vua cho đến khi nhắm mắt qua đời vẫn còn ôm hận, Tôn Quyền thì cứ bình thản hưởng công-nghiệp cha, anh không tham sân si hơn nữa, còn Tào Tháo đầy thủ đoạn không thèm làm vua mà quyền hành còn hơn vị Hoàng Đế. Có những nhân sĩ như Khổng Minh, Bàng Thống, Từ Thứ ngồi trong thảo lư bấm tay biết được việc thiên hạ; Thôi Châu Bình, Tư Mã Huy trái lại bác bỏ ngoài tai chuyện phú quí, tìm cuộc sống với trời cao đất rộng. Có những bậc tư lệnh như Chu Du, Tư Mã Ý, Khương Duy hành binh đầy đủ tài thao lược, còn có cả những viên thượng tướng sức địch muôn người mà vô mưu như Trương Phi, Lữ Bố; còn biết bao nhân vật không kém tài ba trong việc bình thiên hạ ... trong đó còn có một người, nhân vật này có thể nói hầu hết dân Hán kính thờ như một vị thiên thần bằng những đức tính của một đại trượng phu : ông là nghĩa đệ của vua Chiêu Liệt với chức vị Hán Thọ Đình Hầu, người đời nay ngưỡng mộ thường nhắc đến uy danh là Quan Thánh Đế Quân, tức là Quan Công hiệu là Vân Trường.
Ông tuổi Mậu Ngọ sanh ngày 13 tháng 5 giờ Ngọ.
Tuổi Mậu Ngọ thân mệnh đồng cung tại Tí. Ông là người được coi như có sứ mạng phải đả phá kình chống tất cả những cái gì thời buổi đó tạo ra cho là chính nghĩa để giành quyền (Thái Tuế, Hữu Bật, Kình ở Ngọ) nghĩa là ông chỉ có biết nhà Hán là chính thống rồi sau đến nghĩa huynh Lưu Huyền Đức là dòng giống nhà Hán phải lập lại nghiệp đế trên đất nước.           
Phá Quân chi phối đời ông rất nghiêm luật (khắc nhập), ông đứng ở vị trí bất mãn, mà ông rất coi thường đối phương, có lẽ sau này ông thọ nạn ở Mạch Thành cũng vì cái tính quá kiêu khinh (Phá Quân, Thân Mệnh ở Tí : Thủy, Thiên Di ở Ngọ : Hỏa, cả vị trí lẫn sao). Ông có biết đâu cái chính nghĩa người đời đã cướp được ở trên cái thế hư phá, ông cố khăng khăng chống đỡ để không đi đến đâu, mà rồi ra họ sẽ cầm cự với cả cái thế mạnh bạo (Liêm Tướng, Thái Tuế, Hữu Bật, Kình, Hổ, Long, Cái; nhất là Khoa, Tài , Thọ đủ mánh khóe để mà thắng).
Phá Quân ở Tí là người thông minh, tự đắc có tài thao lược, can đảm dũng mãnh thêm Tả Hữu, Thiên Mã là những cái gì người đời phải nể phải trọng là thực tài thực lực thiên phú, chứ Phá Quân bị Tuần Triệt là xuất thân phải gặp mọi bề khó khăn, dầu có được trau dồi học hỏi cũng chẳng thâu thái là bao.
Phá Quân ở Tí là người chỉ nhìn nhận cái chính khí khi mình đã vạch ra để đi, không cần biết trên đầu có ai, ví có đưa đến chỗ chết cũng coi thường như cụ Phan Chu Trinh, tù đầy bất khuất. Quan Vân Trường khi thất thủ Hạ Bì, vì kẹt có nhị vị phu nhân của Lưu Huyền Đức phải tạm hàng Tào, nhưng ông đặt ra 3 điều kiện cho người thắng phải thỏa mãn đầy đủ, nếu không
ông chỉ có cái chết để đền bù tình tri kỷ của Lưu Bị.  Đó có phải Phá Quân cũng biết tùy thời tòng quyền, thua mà đưa điều kiện cho kẻ thắng .
Sự việc này nó có liên quan đến sự việc ngày sau trên con đường nhỏ Hoa Dung ông tha chết cho Tào Tháo để trả lại cái nghĩa kẻ địch đã đãi mình lúc trước, mặc dầu ông đã ký kết tờ cam đoan cùng quân sư Gia Cát, nếu tha Tháo phải đền mạng. Ngay cả với kẻ địch khi đã thọ ơn họ phải lấy nghĩa đền bù , cũng là tư cách của Phá Quân ở Tí. Khác với khi nhậm trấn Kinh Châu lâm vào thế bí, thôi đành chịu chết, nhất quyết không hàng Tôn Quyền, đó là khí phách cao cả của Phá Quân ở Tí.
Còn nói về trung thành thì ông phải là người trung thành số một chỉ biết có vua Chiêu Liệt là nghĩa huynh, người đã cùng ông và nghĩa đệ Trương Phi giữ lại cho nhà hậu Hán phần ba đất nước. Nghĩa huynh nói sao xin tuân theo không bao giờ từ chối và khi đã nhận sự ủy thác là chỉ còn một sống một chết. Như lần nhận sự phó thác phò nhị tẩu ở thành Từ Châu lúc chia tay cùng Lưu Bị, biết bao biến chuyển do mưu mẹo Tào Tháo bầy ra quyến rũ làm cho tình nghĩa giữa ông và Lưu Bị phải xa nhau như để ông và hai vị phu nhân chung một nhà, rồi thì ngọc ngà châu báu gái đẹp hầu non đưa đến. Đến khi được biết Lưu Bị ở Hà Bắc với Viên Thiệu, là ông nhất quyết ra đi cho bằng được, bất chấp ngàn dặm xa xôi, phò hai chị cho đến nơi trùng phùng cùng Lưu Bị. Đó cũng lại là một việc rất khó tránh của thế nhân trước bã vinh hoa phú quí, nhất là mỹ nữ, anh hùng hay dễ trí đoản.
Tiếc rằng Phá Quân ở đây chỉ là một nghĩa sĩ ở trong tình thế liên minh Thất Sát (Thân), Tham Lang (Thìn) rất sáng tỏ, Tả-Phù, Thiên Mã ở cung Thân không thành công cho người mệnh Hỏa chỉ nổi bật cái thiên tài cá nhân, không có tư thế phò tá Phá Quân nên việc lớn. Và phải chăng là vị trí ở Tí đã ngăn cản ông (tuổi Ngọ) thành thân, chỉ thành nhân với tư cách là Phá Quân Tí Ngọ. Nếu có đủ bộ sát tinh đắc địa cũng chưa chắc đã nên việc, chỉ một giai đoạn nào mà thôi vì Thái Tuế của đối phương đã nghênh ngang một cõi, dầu đắc Kình Dương Lực Sĩ, chưa hẳn đã hoàn toàn, họ cũng được giữ phần đất họ đã chiếm thành cái thế tam phân.
Sống trong thời buổi ấy, người hiểu Quan Vân Trường rõ hơn ai hết có lẽ là Tào Tháo bằng một lời thán phục đầy thủ đoạn và xác thực nhất trước mặt tất cả thuộc hạ lúc để ông đi kiếm Huyền Đức:
“Người như Vân Trường, tiền tài bất động kỳ tâm, tước lộc cũng không thể đổi ý thay lòng, không quên chúa cũ, đi ở phân minh quả là một đại trượng phu thời nay”.




        Người hùng TÀO THÁO 
có gian không?
Tào Tháo là một nhân vật có thể nói là rất quan trọng ở cuối thời Hậu Hán (25-220 Tây Lịch) đã làm tốn hao quá nhiều bút mực trong lịch sử Trung Quốc và sách vở tiểu thuyết diễn nghĩa ngày nay.  Có một số tác phẩm phê bình ông là một danh sĩ có giá trị dính liền sau quân sư Gia Cát Lượng và trên cả Quan Vân Trường, một trượng phu trung tín nghĩa khí không ai bì, là bộ ba danh nhân trong thuở bấy giờ.
Lòng tôi vẫn ước ao được thấy lá số của ông, vì một sự tình cờ mới rồi có ông bạn người Việt gốc Hoa cho biết là Tào Mạnh Đức tuổi Ất Mùi (155 TL.), sanh ngày 6 tháng 12 giờ Tuất và chết năm Kỷ Hợi (220TL) tức là thọ 65 tuổi.
Người tuổi Ất Mùi mệnh đóng tại Mão, Thân ở Hợi. Người này không hẳn là người không những chỉ nghĩ đến việc tiến thân lao đầu làm việc mà làm việc có suy tính thức thời và cũng không phải là người không có tâm hồn nghĩ đến nước đến dân (đúng Tam hợp tuổi). Vũ Sát thủ Mệnh là bức Vạn Lý trường thành dựng đứng lên con người này : Vũ khúc đắc địa, còn Thất Sát không kém phần hiên ngang đối với tuổi Ất, thực ra rất ít khi được hai sao cùng thủ Mệnh lại được đồng hành với Mệnh, nhất là mạng Kim chỉ có hai cung Mão phải là tuổi Ất và Dậu, phải là tuổi Tân Vũ-Sát mới đắc cách.
Đã là tuổi Ất Mùi mệnh đóng tại Mão có Vũ Sát thủ mệnh thêm Tả Hữu phò tá, tôi xin thú thật không biết tả sao cho hết cái đặc biệt của Tào Thừa Tướng, và thành thật phục cái người đã xắp đặt Tào Tháo đứng liền sau Khổng Minh là người có tài xét người rất giỏi, là người biết cái chân giá trị của Tào Công.
Dầu vậy Mệnh ở cung Mão đem so với đối phương (Dậu) bị ở thế khắc nhập nghĩa là mình yếu kém hơn người, nhưng Tào là người thấu hiểu biết rõ kẻ đối đầu (Phủ, Tướng, Không, Kiếp) chỉ là một đoàn người ô hợp nên vẫn thắng như thường như đuổi Đổng Trác, đánh Viên Thiệu để đưa thân thế ông lên địa vị một chánh khách quan trọng của thời cuộc.
Số người nào Mệnh Thân đã đóng đúng tam hợp tuổi là người biết mình, biết người có lòng tự hào rất cao cho nên Tháo tự đặt mình là anh hùng của thời cuộc khi đối ẩm với Lưu Bị ở Hứa Xương và lúc cầm giáo đứng ở mũi thuyền trên dãy trường giang trong trận Xích Bích bảo các tùy tùng : “Ta cầm cây giáo này phá giặc khăn Vàng, bắt Lã Bố, diệt Viên Thuật, thu Viên Thiệu, khi vào Hà Bắc lúc tới Liêu Đông vẫy vùng ngang dọc trong thiên hạ, thật chẳng phụ tài khí kẻ trượng phu”
Ta phải chịu Tháo mỗi câu nói, mỗi cử chỉ đều có suy tính đối với nhà chính trị cho là thủ đoạn (vị trí của Thân có Liêm Tham ở Hợi) và luôn luôn dựa trên cái thế mạnh của vô lực (Liêm Tham, Hữu Bật, Hỏa Tinh) mà vẫn có chính nghĩa được người theo (vị trí tam hợp tuổi). Hai việc trên không phải là không có ý dò tâm tình Lưu Bị và áp đảo khủng bố tinh tinh thần kẻ dưới tay, cũng như khen Quan Vân Trường là một đại trượng phu trung tín và nghĩa khí trước mặt thuộc hạ không ngoài cố ý nhắc nhở mấy người hãy trung thành với ta như ông mặt đỏ râu dài đối với Lưu Bị. Trường hợp này là thủ đoạn của những lãnh tụ (Vũ Sát và Liêm Tham) khác hẳn và là đàn anh của những tiểu xảo man trá của phường tiểu nhân (Không Kiếp).
Người ta chê trách Tào Tháo là gian hùng có lẽ ở bộ Sát Phá Tham hãm địa này. Xin thưa rằng, nếu là tuổi Tỵ Dậu Sửu thì thật là một tay gian hùng bất mãn, với tuổi Hợi Mão Mùi đứng ở trên cái thế chính nghĩa rõ ràng, dầu sao vẫn là người có tâm hồn phục vụ cho quê hương đất nước.
Bộ Sát Phá Tham này thêm Vũ Khúc tức là đủ bộ Kim Tinh (Vũ Khúc Âm Kim, Thất SátDương Kim) kèm thêm Bạch Hổ (Kim) thủ mệnh làm sao cản nổi người này hành động không cứng rắn mạnh tay cưa đứt đục khoét còn có tính cách thâm độc nữa là khác (Ân Tuế đóng Âm cung và Vũ Khúc lại là Âm kim) không thể nể nang cảm tình để di lụy mai hậu, xét ra cần để làm gương.
Một cái nghi án ở cung Quan Tử Phá (thần bất trung, tử bất hiếu) có Hóa Khoa với sứ mạng đủ tư cách điều chỉnh, vì thế Tào Tháo đâu có hạ bệ vua Hiến Đế để chiếm ngôi, ông vẫn bị mang tiếng gian hùng vì Liêm, Tham, Hỏa, Tướng-Ấn. Một ngôi vị thừa tướng đủ uy quyền hiếp vua kiểu chúa Trịnh và vua Lê Việt Nam lấy danh nghĩa phò vua trị loạn chư hầu, vì thế ngôi Thái Tuế mới bị triệt thành một nghi án.  
Tào Tháo xuất thân làm hiếu liêm, một chức vị hành chánh địa phương năm 20 tuổi (đại vận ở Dần) rồi thấy nó không hợp với sở nguyện của mình, ông từ chức năm 30 tuổi (đại vận ở Sửu Không Kiếp). Ông lui về đọc sách đem hết tâm trí vào việc rèn luyện về chính trị và quân sự lập đảng phái mộ quân đứng lên dẹp loạn khăn vàng đến 45 tuổi có căn bản chiếm cứ được Duyên Châu (đại vận ở Hợi) từ đó tung hoành giết Lã Bố, diệt Viên Thuật, phá Viên Thiệu cho đến 54 tuổi (năm giao vận sang Tuất) bị thua trận Xích Bích mang quân về Bắc và cái thế tam phân của nước Tàu bắt đầu hình thành cho đến khi Lưu Bị vào Xuyên chiếm thành đô lập nổi cái thế của Tây Thục kình chống với Bắc Ngụy Tào Tháo và Đông Ngô Tôn Quyền.
Tào Tháo chết năm Kỷ Hợi, hưởng thọ 65 tuổi là thời gian nhẩy đến cung Dậu. Không biết câu nói của ông thầy tướng Hứa Thiện có bị sau này sửa chữa hay không, chỉ thấy sách truyện ghi lại là Tháo rất bái phục lời nói phê bình mình: “Người là một vị tôi có tài trong thời bình, cũng là một kẻ gian hùng trong thời loạn” .
Thời đại độc tài phong kiến người thống trị luôn luôn củng cố địa vị thường dùng đủ cách ngu dân bằng mọi phương pháp có cả đạo đức, luân lý như trung quân ái quốc bắt buộc người dân dầu có tài ba cách mấy cũng phải tận tâm hy sinh tôn thờ ông vua vô tài kém đức, nếu hành động trái lại là gian hùng bá đạo bị coi là ngụy quyền.
Tào Tháo sinh vào buổi loạn ly nếu không dùng sức mạnh làm sao bình được đất nước, hầu hết các thủ lãnh chư hầu toàn là con nhà quí tộc lòng tham không đáy. Cái gương Khổng Phu Tử đời Xuân Thu muốn thực hiện hòa bình bằng giải pháp ôn hòa đều không được ai nghe , ngài đành ôm hận thành người nặng lo mà không kết quả. Vậy người hùng Tào Tháo xét theo số tưởng ghép chữ thủ đoạn thì trúng vì giang sơn tổ quốc là của chung toàn dân, không phải là cơ nghiệp dành riêng cho một dòng họ thụ hưởng ngôi cao vĩnh viễn, người có tài hoán cải được thời cuộc có lợi cho dân cho nước, dầu ít hay nhiều lâu hay mau bị gán chữ gian hùng chưa chắc đã là hợp lý.
Thế cờ giữa
HÁN CAO TỔ LƯU BANG
VÀ TÂY SỞ BÁ VƯƠNG HẠNG VÕ
Du khách năm châu ngày nay đến viếng Trung Hoa lục địa chắc không khỏi suy nghĩ trước cảnh hùng vĩ của bức trường thành vạn lý (4.800 dặm), một dấu tích độc tài của một nền quân chủ tàn bạo Tần Thủy Hoàng đã khiến chư hầu khắp nước nổi dậy có đánh đổ cho bằng được. Trong số chư hầu đó có Hán Vương Lưu Bang và Sở Vương Hạng Võ là hai đối thủ đi vào chung kết của cuộc Giang đô khảo võ để rồi người lỗi lạc chiếm ngao đầu thống nhất đất nước.
Không biết hai lá số của hai nhà lực sĩ này có đúng sự thực không, vì nếu đem so tuổi hai người thấy có sự cách biệt nhau trên dưới 30 tuổi hay là sự trình bày sau này của thế nhân bên phe chiến thắng. Cứ theo trong các sách số cổ truyền để lại đem phân tách như thấy có sự an bài của Hóa Công.
Lưu Bang tuổi Giáp Ngọ, sanh ngày 13 tháng 11, giờ Ngọ. Hạng Võ tuổi Đinh Mão sanh ngày 12 tháng 8 giờ Mão.
Hán Cao Tổ tuổi Giáp Ngọ thân mệnh đồng cung tại Ngọ, một chi tiết này cũng khá đầy đủ nghĩa như có sứ mạng thay trời mà chăn dắt muôn dân . Xuất thân từ một địa vị quá khiêm nhượng đình trưởng đất Bái, giám chống lại nhà bạo Tần là một chánh quyền đương bao trùm uy lực trên khắp đất nước, cũng như sau này khi lập được căn cứ ở Hán Trung rồi chống lại Sở Bá Vương, ông đều ở trong thế yếu (Hỏa Ngọ) so với đối phương (Tị Thủy).
Tử Vi ở Ngọ là một Đế tinh đắc quần thần khánh hội, cả một bộ chính tinh Liêm Trinh Thiên Phủ Vũ Khúc Thiên Tướng đắc cách, một đoàn những trang anh tuấn có đủ tư cách tài năng gánh vác cái việc kinh bang tế thế. Nhưng đó chỉ là ngôi vị có tính cách sinh nhập ông được hưởng sau những ngày vào sanh ra tử tranh đấu của vai trò Vũ Tướng của ông, và ông được nổi tiếng là một trang anh hùng hảo hán hào hiệp (Tả Phù) chứ không bạo hổ băng hà hùng tráng (Bạch Hổ ở Dần ngộ Bệnh).
Nhìn đến đối cục, từ Tần Thủy Hoàng trước rồi đến Sở Bá Vương sau đều ở cái căn bản của Sát Phá Tham hãm địa (ngụy quyền) xây đắp dựng nghiệp trên cái sức mạnh của võ lực mọi khía cạnh đều là ma giáo (Đế Vượng, Hữu Bật, Phục Binh, Tuế Phá, Khốc Hư) uy quyền như vũ bão (Mã, Trường Sinh, Quyền, Phi, Tang, Cơ) cùng một đám văn thần đủ khả năng đội đá vá trời (Long-Phượng, Xương Khách).
Tham Lang ở Tí là cái cách của phường gian hiểm mà không quả quyết chỉ dựa trên cái lực lượng của binh đao rồi ra Quyền Cáo bị Triệt, Long, Phượng ngộ Tuần, tuy là thế của Thủy vẫn đàn áp Hỏa, rốt cuộc cái lợi điểm chính thống vẫn về phần Thái Tuế, Tử Vi, Tướng, Ấn ở ngay Ngọ không còn hồ nghi gì lòng dân qui phục về phe nào.
Tây Sở Bá Vương tuổi Đinh Mão mệnh đóng ở Ngọ, Thân ở Tí, hai vị trí này thấy như Hóa Công đã đưa người này vào cái khuôn của bẫy lầm lẫn hắc lờ mà rồi hành động thiếu đạo đức khoan hồng (Phúc Đức ngộ Kiếp, Binh, Hình, Riêu) tránh sao khỏi sự yểu vong của Cự Môn Hóa Kỵ của tuổi Đinh Mão.


Mệnh đứng ở thế yếu (Ngọ) nhưng khi bắt tay làm cách mạng lại đứng ở thế mạnh (Tí). Trái lại mệnh mình trước kia lại đổi thành đối phương tuy ở thế yếu (Ngọ) đắc cơ đặt nên cái thế quân bình thọ đắc Khoa Quyền Lộc, Lộc Tồn, mặc dầu Tuần Triệt, tuổi Âm ảnh hưởng vẫn trên điểm số trung bình để thắng cuộc.
Hạng Võ có Thiên Cơ thủ Mệnh tuy không phải là nòng cốt của mình nhưng chính Cơ là cây cầu giúp đắc lực cho Hóa và Khoa nguồn nhiên liệu vô tận tiếp tế cho Cơ để Dưỡng Hỏa của tuổi Đinh Mão mà Sở Bá Vương được tiếng là một dũng sĩ lực năng cử đỉnh, sức khả bạt sơn, một người can đảm dũng mạnh hiên ngang vô tiền khoáng hậu.       
Sau này có dư luận kết án Thân làm hại Mệnh, thật ra Mệnh này đẹp không hẳn là đẹp, cái đẹp đặt nằm trong thế cờ lầm lẫn không dứt khoát khiến cho thân khinh thường đối thủ để mất thăng bằng mở đường cho Cự Môn, Hóa Kỵ trấn áp. Tình thế tam hợp của Thân Tí Thìn, định luật đã sắp sẵn Đào Hoa đứng cặp với Thiên Không khiến Hồng Loan ngộ Kỵ để cho Hình Riêu Hà Sát làm việc giữa lúc Thái Dương, Thiếu Dương đang lộng lẫy chỉ một trận bên Ô Giang (Lưu Hà) sụp đổ. Trường hợp này rất khó tránh, Hồng Loan ở Tí không thể đi cặp với Thiên Không được mặc dầu có Phúc Đức, Thiên Đức dẫn đường. Chỗ này là cơ sỏ vị trí của Đào Hoa rất bén nhậy với Thiên Không thành ra những sự việc của Tây Sở Bá Vương hành động đều thiếu đạo đức thiên bề thủ đoạn hà khắc mà nên nỗi.


       Tư cách của

TRƯƠNG LƯƠNG, HÀN TÍN, TIÊU HÀ
Hán Vương sau khi diệt xong Tây Sở Bá Vương lên ngôi hoàng đế, tức là vua Cao Tổ nhà Tiền Hán, có ý muốn trọng đãi cắt đất phong vương cho các bầy tôi đã phò mình nên đại sự. Những công thần này, ngoài viên võ tướng Phan Khoái là người ăn to vác nặng theo Bái Công từ thuở hàn vi không kể, những người làm nổi đình đám nên nghiệp đế cho nhà vua phải kể đến Trương Lương, Hàn Tín và Tiêu Hà.
Trương Lương là người nước Hán bị nhà Tần thôn tính. Vì cái hận vong quốc, ông quyết hy sinh sản nghiệp của một dòng khanh sĩ để làm cách mạng , tuổi Giáp Ngọ sanh ngay 6 tháng 5 giờ Thìn. 


Mệnh lập tại Dần, Thân tại Tuất, 2 vị trí này chứng minh một người dân yêu nước đến tột bực. Không giống như vị hoàng đế nhà Hán cũng tuổi Giáp Ngọ, Mệnh lập ở luôn Ngọ là cái sứ mạng của một vĩ nhân theo lệnh trời để cứu nhân độ thế. Trương Lương là một chí sĩ ở trong cái thế quốc phá gia vong làm việc nghĩa vụ (Tử Vi, Thiên Phủ, Bạch Hổ ở Dần), cái Thân ở Tuất mới thật là Trương Lương (Vũ Khúc) một nghĩa sĩ có thực lực thông văn đạt võ (Khoa, Quan Phù). Thật ra ông không phải đóng vai trò lao tâm mệt trí của Liêm Tướng. Ông chỉ là người trù hoạch các cơ cấu chính yếu để bình thiên hạ đắc nhân tâm, đắc chính nghĩa tiếng tăm lừng lẫy hiển hách (Thái Tuế).
Cái điều quan trọng mà người đời thường ca tụng nơi ông là ông thức thời không ham phú quí, sau khi thành công ông chu du thiên hạ để hưởng cái thú thanh cao của kẻ sĩ, đó là cái Thân của tuổi Giáp Ngọ đóng ở Tuất, một cái vị trí của người thức thời. Trương Lươngthành bậc siêu nhân biết đặt quyền lợi quốc gia trên quyền lợi mình .
Hàn Tín là một chúng nhân quê ở Hoài Âm, tuổi Giáp Tuất sanh ngày 5 tháng 11 giờ Ngọ. Thân Mệnh đồng cung tại Ngọ, đắc Liêm Trinh thủ Mệnh được Tướng Quân hậu thuẫn thành một cặp tướng chỉ huy hùng dũng hiên ngang. Vị trí ở Ngọ với tuổi Giáp Tuất làm cho đương số chỉ biết làm sao phải cố công hăm hở tạo sự nghiệp dẫu thời thế nào, bình hay chiến, cũng chỉ biết đem hết sức mình làm việc để đưa thân thế mình lên .
Trên mặt số Trương Lương, Hàn Tín cũng một bộ sao Tử Phủ Vũ Tướng, cùng tuổi Giáp lẽ cố nhiên là hai người cũng thành công, nhưng hàng chi của tuổi khác nhau và vị trí Mệnh Thân khác nhau thì tư cách của hai người đương nhiên cũng phải khác nhau. Trương Lươngcó Tử Phủ thủ Mệnh ở Dần là cái vị trí hăm hở làm việc trong tư thế phải hy sinh tài sản (Lộc Tồn) là người không vụ lợi . Trái với Hàn Tín, Liêm Tướng ở Ngọ có Hóa Lộc, Đẩu Quân chỉ biết quyền lợi của mình trước đã, vì thế mới hăm hở làm việc cũng trên cái danh nghĩa sáng ngời (Thái Tuế). Phải chăng vì thế mới có chuyện Hàn Tín ép buộc Hán Cao Tổ phải phong mình làm Tề Vương sau khi chiếm được nước Tề, rồi sau muốn chinh đông phạt bắc gì sẽ hay, và cũng có lẽ vì quyền lợi cá nhân sau khi Bái Công thống nhất đất nước phải tính ngay viên nguyên soái văn võ toàn tài này, nếu để lâu sau thành mối hại cho nghiệp đế của nhà Hán.


Đem so với Trương Lương, Hàn Tín là người xuất chúng, Tiêu Hà không phải là người đáng sánh, không mưu thần, không chước giỏi, không sức mạnh, không võ nghệ phi thường, vốn chỉ là một viên lại mục của một huyện đường (ngày nay là một cán bộ hành chánh), tuổi Kỷ Dậu sanh ngày 22 tháng 3 giờ Thìn, Mệnh lập tại Tí, Thân đóng ở Thân.


Được Tử Vi thủ Mệnh ở Tí thật là một người hiền hậu có thể là trung thành tuyệt đối, nhưng kém thông minh chắc ông biết ông nên cam phận thờ Phật để ăn oản.  Nó hợp với vị trí ở Tí của tuổi Kỷ Dậu là không sáng suốt cho đến cái Thân ở Thân cung là cái phần của kẻ phải hy sinh thiệt thòi trực tiếp đời mình. Đành rằng Vũ Tướng không phải là mình bị Triệt và Hóa Kỵ nên phải có những cử chỉ không được đẹp . Sau khi theo lệnh của Lã Hậu, Tiêu Hà ngấm ngầm bắt hạ Hàn Tín một cách mơ hồ là điều rất đáng tiếc.  Người đời sau chê Tiêu Hà chỉ biết trung với vua mà quên nghĩa bằng hữu . Có lẽ sau này khi thấy ông vua hạ độc thủ với hầu hết công thần, Tiêu Hà tự biết là lầm đi thờ một vị chúa không minh, cáo lão nhường ngôi vị thừa tướng . Thiết tưởng khi đã biết mình lầm thì đời cũng đã tàn mà đành im hơi lặng tiếng .
Phải chăng Vũ Tướng Hóa Kỵ ở Thân bị Triệt, Tiêu Hà đã có những hành động làm sao cho phẩm giá của mình không được cao đẹp như các bạn đồng hành có một sắc thái riêng biệt, hoặc là cao cả hay anh hùng.
*.
Xuân Giáp - Dần - 1974
THIÊN LƯƠNG



*.

ĐẶNG XUÂN XUYẾN giới thiệu
..........................................................................................................................
Xem thêm:
.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét