TỤC THỜ BÀ
‘NGŨ HÀNH NƯƠNG NƯƠNG’
Ở nước Việt xưa, trong các tín ngưỡng dân gian thì so với các
tục thờ Thổ Địa, Tài Thần, Chúa Xứ Thánh mẫu.v.v…, tục thờ Ngũ Hành Nương Nương
– tức thờ Ngũ Hành (vật chất) như một nhóm năm vị nữ thần – đã xuất hiện muộn
hơn. Đến năm Duy Tân thứ năm (nhằm năm 1911), triều đình nhà Nguyễn đã sắc
phong chung cho năm Bà là các “Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng
Thượng Đẳng Thần”, phân ra: Thổ Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh
Phi, Thủy Đức Thánh Phi và Mộc Đức Thánh Phi. Còn đối với bá tánh, dân mình
luôn tin rằng các Bà có những quyền năng nhất định đối với các nghề liên quan
đến đất đai, củi lửa, kim khí, nước nôi và cây gỗ, tức đây là nhóm thần linh có
thể phù hộ cho đám nông dân, ngư dân, thợ thủ công…, nói chung là hầu hết tầng
lớp thứ dân trong xã hội cổ xưa.
Trước kia, Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ trong những am,
miếu, điện…, phổ biến nhất là các ngôi miếu lớn, nhỏ mà người dân quen gọi ngắn
gọn là “miếu Ngũ Hành” hay “miếu Bà” – hiếm khi nghe kiểu gọi “miếu năm Bà”.
Tiến về phương Nam, đến vùng đất Gia định cũ, rồi TP HCM ngày nay (mở rộng từ
đô thành Sài Gòn cũ), tục thờ Bà Ngũ Hành càng được quãng bá rộng rãi, những
ngôi miễu Bà xuất hiện khắp nơi, nhất là ở các vùng nông thôn và vùng ven đô.
Ban đầu, người ta thờ Bà bằng bài vị chữ Nho, nhưng mấy mươi năm
gần đây, bài vị lần hồi được thay bằng tượng tô, đúc bằng xi măng. Cần để ý là
từ màu sơn thân tượng cho đến màu y áo, khăn choàng khoác ngoài, ở mỗi Đức Bà
(tức mỗi Hành) đều có màu chủ đạo riêng biệt, đó là: Kim Bà màu trắng, Mộc Bà
màu xanh, Hỏa Bà màu đỏ, Thủy Bà màu đen (hoặc tím) và Thổ Bà màu vàng.
Ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định cũ, do phần lớn giới trung
lưu và giới bình dân (tiểu thương, sản xuất tiểu/thủ công nghiệp, buôn gánh bán
bưng, lao động chân tay…), thường cùng tin là Bà Ngũ Hành linh hiển, nên từ xa
xưa, trước ngày 30/4/1975, miễu Bà được cất, dựng rải rác, liền kề nhau ở khắp
các thôn ấp, đường phố. Như ở quận Gò Vấp (thuộc tỉnh Gia Định cũ, vùng đất vốn
có rất nhiều chùa, miễu), ở một đoạn đường Nguyễn Thái Sơn giáp đường Lê Lợi
thuộc phường 3, chỉ nội trong hai khu phố kề nhau đã có tới 4 chỗ thờ Bà Ngũ
Hành, gồm một miễu ở mặt tiền đường và ba cái kia thì khuất trong ngõ hẻm, cách
nhau chỉ chừng 500 – 600 mét. Xưa nay, trong đất thổ cư, vườn tược của mình,
nhiều nhà giàu đã cúc cung dựng miễu thờ Bà, như ở vùng quận 9 (gần Trường Bộ
Binh Thủ Đức cũ) hiện nay, có những ngôi miễu Bà thật nhỏ, có khi chỉ bằng cái
tủ áo, được cất ngay cạnh ao nuôi cá và chuồng gà vịt. Có nơi Bà được gia chủ
thờ riêng một miễu, cũng có nơi thờ chung với Thổ Địa, Quan Công, Mẹ Thai Sanh…
Còn ở các nơi thờ phượng công cộng là các ngôi đình làng, kiểu thờ “quần tiên,
chư thần” càng phồn tạp hơn. Mang danh nghĩa “đình” là dành thờ Thành Hoàng (vị
nhân thần bảo hộ cho làng, xã), nhưng trong đình thì ngoài bệ thờ Thành Hoàng,
luôn luôn có thêm bàn thờ, trang thờ Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh, Thổ Địa,
Tiền Hiền, Hậu Hiền, Linh Sơn Thánh Mẫu.v.v… Ở những ngôi đình cổ, như đình
Minh Hương Gia Thạnh (ở quận 5, xây năm 1797) , đình Phong Phú (ở quận 9, xây
năm 1937), đình Phú Nhuận ( 150 năm tuổi), đình An Phú (ở quận 12, khoảng 250
năm tuổi).v.v…, thì hằng năm, bá tánh cùng vía Bà cũng lớn không thua gì lễ vía
Thành Hoàng địa phương.
Một điểm đặc biệt nữa là dù chỉ thuộc về tín ngưỡng dân gian chứ
không thuộc hàng “chư Phật” trong Phật giáo, Bà Ngũ Hành vẫn được thờ trong
chùa (chính danh là cửa Phật), có điều phải là những ngôi chùa cổ (theo Đại
Thừa). Như trong khuôn viên một số ngôi cổ tự như chùa Phổ Đà Quan Âm (quận Gò
Vấp), chùa Vạn Thọ (quận 1), chùa Bình An (quận Bình Tân), chùa Bửu Long sơn tự
ở tận Dĩ An (Bình Dương).v.v…, những ngôi miễu Bà được bá tánh cúc cung quanh
năm hương khói… Còn ở những ngôi chùa tạm gọi là ‘tân thời’, mới cất gần đây
như trường hợp chùa Quảng Đức (mới xây dựng sau 30-4 ở quận 3), không thấy có
những am, khám thờ các vị thần bên tín ngưỡng dân gian, như Bà Ngũ Hành, Quan
Công, Linh Sơn Thánh Mẫu…
Được thờ cúng từ ở những ngôi miếu khang trang, lộng lẫy, cho
đến những bàn thờ, trang thờ nhỏ bé, đơn sơ tại tư gia, có thể nói “Bà” là nhóm
thần linh rất gần gũi với bá tánh. Thậm chí ở vài cái miễu trong ngõ hẻm – có
khi nhỏ, hẹp đến nổi chỉ bằng chừng 2-3 chiếc chiếu đôi trải ra – miễu vẫn còn
là “hộ khẩu 1 người” bởi người coi sóc miễu ăn ở, sinh hoạt luôn ở phía sau bàn
thờ Bà.
Theo đúng tục lệ thì lễ vía Ngũ Hành Nương Nương là vào ngày 19
tháng Ba âm lịch hằng năm, nhưng có vài nơi cúng trễ hơn, như ở ngôi miễu Bà
nẳm ở đường Phan Văn Khỏe, gần chợ Bình Tây (cất năm 1970), lại cúng Bà vào
ngày 23 tháng Ba.
Cũng theo đúng lệ thì vào kỳ vía, các miễu Bà phải mời đám bóng
rỗi – pêđê nam – đến hát, tế, múa dưng bông…thật tưng bừng, thu hút rất đông bá
tánh xa, gần đến coi. Trước vía 1- 2 ngày, bà con bổn đạo thường cùng nhau “đấp
y cho Mẹ”, là nghi thức lau chùi, sơn sửa, thay áo, mảo mới cho các pho tượng
Bà…
Diệp Minh Hải giới thiệu
Tác giả: Phạm Nga - Nguồn: Việt Luận
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét