TỪ KIỀU ĐẾN NIETZSCHE:
KHỦNG HOẢNG VĂN HỌC VIỆT
*
(Bài đã đăng trên VĂN
VIỆT –
Phiên bản ngắn hơn trên BBC TIẾNG VIỆT).
Cái tật của các học giả, nói như
Nietzsche, là không viết lên được gì nếu không dựa trên trích dẫn từ sách vở.
“Bọn họ quá lạnh lùng. Mong cho sét đánh ngay vào thức ăn của họ để mồm miệng
chúng biết ăn món lửa,” Nietzsche viết. Thế còn nhà văn? Tính sáng tạo của nhà
văn là khả năng nấu nướng những gì có sẵn thành một món ăn mới. Còn những thể
loại văn chương nghèo nàn tư duy thì chỉ biết đem những vật liệu còn sống, chưa
được nấu, để như vậy và chỉ bày biện thành món ăn với thật nhiều gia vị. Có lẽ
đây là giá trị của văn chương bình dân và phổ thông. Nó mang phẩm chất tươi mát
ở nơi kỹ thuật trình bày đơn sơ và trần trụi. Nhưng chính đó cũng là khuyết
điểm lớn - những trạng thái sống sượng từ sự kiện chưa được nấu nướng và chuyển
hóa bằng ngữ văn.
Tươi sống và thiếu tư
tưởng (Tác giả Nguyễn Hữu Liêm)
Văn hóa Việt Nam – “Văn Lang” - là một
thể loại phong hóa văn chương bình dân - một quá trình dàn dựng sự thể của sự
kiện nhân sinh vào một mâm cỗ ngôn ngữ, cho thêm nhiều gia vị, và không được
chuyển hóa. Người ăn mâm cỗ văn chương tiếng Việt phải chấp nhận cái tươi mát
và sống sượng của cuộc đời làm thực phẩm cho mình. Và dù họ có nhận thấy sự
giới hạn và nghèo nàn của thức ăn sống, họ cũng không có chọn lựa nào vì con
người và văn chương Việt Nam chưa bước lên tới bình diện tư tưởng để chuyển hóa
sự thể sống sượng của sự đời. Người đọc văn tiếng Việt phải ngậm đắng nuốt cay
mà nuốt tiếp cái phong hóa văn chương hời hợt nầy.
Giá trị tư tưởng nằm ở bình diện khái
niệm và nguyên lý - tính trừu tượng của ý thức được chuyển hóa từ sự thể trần
truồng. Nó như là công việc nấu nướng vốn đòi hỏi nhiệt độ cao của lửa nhằm
chuyển hóa đồ ăn sống sang thức ăn chín cho con người. Ẩm thực là một quá trình
văn hóa đòi hỏi chuyển hóa từ nấu nướng, dọn ăn, hành vi ăn uống và sự tiêu hóa
của thức ăn khi được đưa vào miệng cho đến khi trở thành nhiệt lượng để nuôi
sống cơ thể. Khi chúng ta ăn là chúng ta tiếp thu cái gì đã được chuyển hóa
nhằm thúc đẩy một tiến trình tiêu hóa mới trong cơ thể.
Cũng như thế, khi chúng ta đi vào thế
giới ngôn ngữ, của sách vở, cái cần thiết là tư tưởng - khi cuộc đời đã được
thăng biến trên cơ sở phạm trù. Văn chương Việt Nam thiếu cái đó. Nó cứ dọn
những bữa ăn sống và tươi và đổ lên thật nhiều gia vị. Ðối với trái cây hay sà
lách thì được. Nhưng lịch sử và con người Việt Nam là thịt, là cá, là gạo đang
phơi trần trong khí hậu nhiệt đới. Nếu không nấu, không chuyển hóa, người dùng
bữa sẽ dễ bị bội thực và ngộ độc. Văn hóa Việt Nam đang bị bội thực và ngộ độc
vì khả năng tri thức dân tộc chỉ dừng lại ở biên giới văn chương – thể loại văn
chương thuần diễn tả.
Hãy nhìn Việt Nam gần suốt thế kỷ qua
cho đến hôm nay. Lâu lắm mới có một vài tác giả viết về tư tưởng, nhưng hoàn
toàn thiếu sáng tạo, và rồi bị bỏ quên. Trước 1975, ở ngoài Bắc thì chỉ có học
thuyết Marx-Lenin, vốn không thể gọi là tư tưởng vì không có tự do tư duy; còn
trong Nam thì một chút ít triết học hiện sinh từ Âu Châu nhiễm mùi văn chương
được bày biện vụng về trên các mâm cỗ với thức ăn chưa được nấu, sống sượng và
lỏng lẻo.
Cho đến giờ này, trí thức Việt hầu như chỉ
làm được ba chuyện: Làm thơ, viết truyện ngắn dạng mô tả, và dịch sách ngoại
ngữ. Đây không những chỉ là một giai tầng tri thức hời hợt, thiếu chiều sâu -
mà còn thiếu sáng tạo trầm trọng. Tất cả tạo nên một nền văn hóa chữ nghĩa
thuần trích mượn – a throughoutly derivative intellectual culture.
Chúng ta phải trân trọng và cám ơn văn
nghệ sĩ Việt. Tuy nhiên, vấn đề là ở ngay cả thượng tầng trí thức Việt Nam, họ
còn thiếu sáng tạo trầm trọng.
Câu chuyện mãi vẫn còn như thế - khi cái
phong hóa văn chương vay mượn toàn diện này trở nên một hiện tượng "văn
học." Nhìn đâu cũng thấy "văn học" - kể cả những cái gì không
liên quan gì đến văn học. Phong trào văn học và thi ca nầy trở thành chất men
chính cho thế giới tư duy Việt Nam. Muốn nói một đều gì, người Việt đều nói qua
thể dạng văn chương và thi ca để rồi nhân danh chúng là văn học. Các tạp chí ở
hải ngoại, kể cả các mạng điện tử, đều cũng chỉ chia chung một màn kịch - và
trò chơi - văn học. Cả một cộng đồng ngôn ngữ tiếng Việt bị hút hồn trong cơn
say thi ca và văn chương nhẹ cân và hời hợt nầy.
Một tầm nhìn văn chương mới
Nói như thế có bất công chăng! Đến đây
chắc có người phản biện rằng, văn chương là gì nếu không là những chuyện kể. Nó
khác với triết học hay tư tưởng - vì thơ văn khai sáng cuộc đời từ một góc độ
tiếp cận khác. Đòi hỏi thơ văn phải như là những luận đề triết học hay lịch sử,
văn hóa là lạc đề - và chưa nắm được yếu tính văn học. Có phải văn chương mang
mầu sắc triết học chỉ là một hình thức làm dáng!
Xin trả lời: Vâng, tùy tầm nhìn. Nếu ta
muốn văn chương Việt nằm mãi ở trình độ diễn tả sự kiện như những chuyện kể cho
giới bình dân thì không có gì để bàn đến. Nhưng nếu ta muốn nâng văn Việt lên
tầng cao mới thì phải nghiêm chỉnh nhìn kỹ vấn đề. Hãy đọc văn – xin được thả
vài tên quen thuộc – Dostoevsky hay Kafka, Camus hay Hesse, chẳng hạn, thì sẽ
thấy được khiếm khuyết của văn học Việt. Chỉ cần đọc một đoạn trong “Ghi chú
dưới tầng hầm” (Dostoevsky) hay “Huyền thoại Sisyphus” (Camus) để thấy văn
chương người ta đã được nấu nướng cẩn trọng như thế nào. Có thể cùng một câu
chuyện, nhưng suy tư của các nhà văn lớn luôn bao phủ hay gợi ý tinh tế một
tầng khái niệm mang giá trị hoàn vũ về con người, thực tại thế gian, và sử tính.
Còn văn chương Việt thì chỉ nằm ở tầm
diễn tả sự thể thế gian và dừng lại ở đó. Có phải nhà văn Việt Nam mang tầm
nhìn giới hạn, thiếu ý chí và khả năng sáng tạo, hay sự non yếu của tiếng Việt
đang giam cầm khả thể tầm cao? Có thể rằng, cổ thụ dưới thung lũng thấp không
thể sánh chiều cao với đồng chủng ở trên đồi – khi sàn văn hóa của dân ta còn
quá thấp, nấc thang tiến hóa tâm thức đang ở Thời quán thiếu niên, thì văn học
không thể mặc áo vượt qua đầu được. Sự thể khiếm khuyết của văn học Việt Nam có
phải chăng nó là một định mệnh văn hóa.
Với khiếm khuyết văn chương như thế, và
là một hệ quả từ đó, con người trí thức Việt ở khắp nơi, mang một năng ý lạ -
sở thích làm báo. Báo chí là một thứ văn chương, tức là, dọn các mâm cỗ chỉ có
diễn tả sự kiện còn sống sượng. Một phần nào đó thì văn thơ là một cái thói
quen, một con lộ lập danh, lập thân, xây dựng căn cước cá nhân. Sở thích làm
báo cũng như ước muốn viết văn, làm thơ - tham dự vào thời sự hằng ngày. Ðây là
cái thói quen thích ăn nhậu ở những vỉa hè ồn ào, náo nhiệt mà trong đó, con
người với cơn say tràn ngập cảm giác khích động với cái đang là. Ði vào các
làng xóm văn chương hải ngoại cũng như trong nước, khi các anh, các chị nhà
văn, nhà thơ gặp nhau là chỉ có chiếu tiệc ồn ào. Và phong hóa đó được thể hiện
trên các tờ báo, các tạp chí văn chương - với đầy thức ăn chưa được nấu. Ngày
nay thì còn nguy hơn với các trang báo điện tử trên mạng. Người ta suy nghĩ cả
mười năm mới viết được một cuốn sách, còn nhà văn Việt Nam thì chỉ viết theo
tùy hứng, thành ra những con chữ phải chạy đèn cho nội dung chuyên chở. Ngữ văn
của họ trần truồng, nhẹ hời, không có gì để suy ngẫm hay phiên giải, mà chỉ cần
đọc qua là thấy rõ hết tất cả nội dung biểu đạt.
Lấy hài ước bình dân làm vui
Nhưng dân Việt cả ba miền, viết văn, mần
thơ, hay là làm báo, đều cũng chỉ là một loại - món nợ văn chương. Dân Bắc bây
giờ bị đồng hóa bởi dân Nam qua cái bệnh nhậu, bệnh làm báo. Không những chỉ ở
trong Nam, mà là cả nước, đi đâu cũng là những bàn nhậu ồn ào, mà ở đó con
người hành động theo khuynh hướng hài ước, bình dân quá mức, thiếu cử chỉ nghiêm
chỉnh, trang trọng. Ở hải ngoại cũng thế, khi dân văn nghệ ngồi lại là biến
thành bàn nhậu. Nơi đó, thức ăn tràn ngập, mất mỹ quan – cũng như ngôn ngữ
tương tác của họ. Không thấy hội thảo nghiêm chỉnh, không có bài nói chuyện của
những khách được mời. Các xóm văn chương hải ngoại, cũng như trong nước, lấy
sinh hoạt nhậu nhẹt làm vui. Vì vậy, ngay cả ở tầm mức giao tiếp xã hội, các
cộng đồng văn chương Việt cũng vẫn ù lỳ với phong hóa bình dân. Vậy ta mong chờ
gì ở bình diện tư tưởng.
Khi văn học muốn lên cao thì các nhà lý
luận trao đổi theo phong trào trang điểm cho chữ nghĩa. Những lý thuyết thời
thượng như “giải cấu trúc” hay “hậu hiện đại” được đem ra làm phương tiện nhằm
lấy cái thấp để giải thích cái cao. Nhìn đâu họ cũng lấy chuyện dục tính, quyền
lợi kinh tế, quyền lực là cái chính để giải thích cho sự việc. Từ trong các lý
thuyết hời hợt đó, thế gian và con người không còn giá trị tinh thần, không còn
mang tầm nhìn hiện hữu trên bình diện khái niệm và nguyên lý, không có trực
giác luân thường cho ý nghĩa cuộc đời. Dù có muốn vươn lên, nhưng với khung
tham chiếu nhẹ cân như thế, nên sự sành điệu của văn nghệ sĩ Việt Nam ngày nay
là của một thể loại văn chương bình dân như là hoạt cảnh đời sống vỉa hè phố
thị.
Say đắm với chính mình
Có lần, một nhà văn tâm sự rằng khi bài
của mình được đăng lên báo hay tạp chí, ông chỉ đọc say mê bài mình viết – và
chỉ bài của mình, dù khi thảo, đã đọc nó cả chục lần. Cái thú đọc bài mình viết
trên báo cũng giống như là một cậu thiếu niên mặc áo đẹp nhìn vào gương. Không
có gì là mới hay lạ cho đối tượng cả. Nó chỉ là cái ta ngã mạn được xoa nắn,
tái dựng bởi chính ta. Ðó là cái thú văn chương trong vòng lẩn quẩn - lấy cái
hiện tại từ sự kiện quen thuộc, bày biện nó lại qua một kiểu cách ngôn ngữ
khác, để chiêm ngưỡng lần nữa. Trong thú vui này, con người bị chìm đắm vào cái
ta, không bước lên hay thoát ra ngoài vòng cuộc sống bằng tinh thần hay tư
tưởng. Văn chương thiếu tinh thần và tư tưởng không đánh thức được ai, nó chỉ
ru ngủ thiên hạ - và làm cho mình bị say đắm với chính mình.
Trở lại để trích dẫn Nietzsche lần nữa:
"Con gà mà đẻ nhiều thì trứng sẽ nhỏ đi." Cái thiếu của văn chương
Việt Nam là nhiều chữ quá mà không nói lên được điều gì. Văn chương – qua dạng
truyện ngắn thuần mô tả - làm cho người đọc bị kiệt sức. Một múi chanh của sự
thể nhân sinh – phần lớn là số vốn cuộc đời bản thân - khi vào trong tay của
nhà văn Việt thì bị vắt đến nát nhừ nhằm rút ra thêm được chút tàn lực chất
chua, chất chát. Như những tập tự truyện gần giống nhau và đồng bản chất kể lễ,
nhà văn Việt nói tới, nói lui thì cũng chỉ lập lại một âm điệu đã nhàm - cái âm
điệu bi đát, ai oán, đầy tiêu cực và thiếu tinh thần. Cuối cùng họ chỉ lập lại
chính mình.
Vẫn chỉ là những chùm cước
chú cho Kiều
Đây có lẽ là gia sản chính từ Truyện
Kiều của Nguyễn Du – văn chương chỉ diễn tả được bi kịch cá nhân trong hoàn
cảnh – situational tragedy – chứ không khai phá được một tầng nhân cách trên cơ
sở ý chí – the tragic consequences of the individual Will. Tác giả Việt bắt
buộc từng nhân vật văn chương phải mang cho mình một số phận nạn nhân, hoàn
toàn thụ động, bất lực. Thế gian chỉ là một bóng tối bao trùm mà ta không thể
khai sáng, không muốn thắp một ngọn nến xua tan màn vô minh. Thực tại như là
một con quỷ xé nát cuộc đời mà ta chỉ còn van xin ân huệ.
Từ đó, hầu hết văn chương tiếng Việt -
và sau này di cư qua Mỹ, Pháp, văn tiếng Anh, Pháp bởi người gốc Việt – vẫn chỉ
là những chùm cước chú cho Truyện Kiều. Từ trong quặng mỏ chứa thuần các lớp
thân phận, ta cứ thấy hoài một chuyện – những biến hóa chữ nghĩa được mãi khai
thác từ cái cuốc mòn văn chương nhà ta. Văn chương Việt – Việt hay Anh, Pháp
ngữ - phần lớn chỉ là những tuyển tập thú tội. Ở đó, bi đát không vươn lên được
tầm bi tráng; số phận cá nhân chỉ là một lát mỏng cắt ngang khúc cây từ hoàn
cảnh tập thể dân tộc trong sự trống vắng về ý chí tác hành bằng ý thức sử tính
và thời đại.
Đọc văn Việt thì như là nghe vọng cổ,
hay nhạc bolero – cũng như cha ông ta đọc Kiều. Nó chỉ làm cho ý chí hành động
bị tê liệt. Nói hơi đại ngôn một tí rằng, thể loại văn chương, thi phú nầy
chính là nguồn gốc sâu xa cho hầu hết những thảm kịch lịch sử Việt Nam cho đến
hôm nay - một lịch sử chỉ hoàn toàn chứa đựng những năng động thuần tình cờ,
ngẫu nhiên – mà không mang một tinh yếu ý chí cá thể. Trong khi thi ca Tây
phương biến bi kịch cá nhân thành là một nguồn kích khởi ý chí hành động; thì
ngược lại, văn thơ Việt nhấn chìm người đọc vào số phận bi đát của nhân vật.
Càng đọc thi ca Việt ta càng bị đắm mình vào cái đập nước ngôn từ do chính
chúng ta tự kiến lập lên.
Nietzsche và niềm cứu rỗi mới
Trong tác phẩm kinh điển “Sự suy tàn của
văn minh Tây phương” Oswald Spengler so sánh thi kịch Hy Lạp với Tây Âu, rằng,
“Thiết yếu tính bi kịch Tây Âu là hành động tối đa, của Hy Lạp là thụ động đến
cùng…Chủ đề (theme) thi ca Hy lạp không phải là của một tác nhân Hành động mang
ý chí dâng trào muốn phá vỡ bối cảnh khách quan hay là chinh phục con quỷ ác ôn
ngay trong lồng ngực mình - nhưng mà là của một Nạn nhân bất lực không có ý chí
khi đời sống bị hủy hoại bởi hoàn cảnh… Cái điên loạn của Vua Lear
(Shakespeare) phát xuất từ hành động bi tráng của ông ta, trong khi cơn điên
của Ajax (Sophocles) thì đã bị bối cảnh thị quốc Athens tạo tác ngay trước khi
bi kịch bắt đầu.” Một đằng, bi kịch con người Hy Lạp là nạn nhân hoàn cảnh,
trong khi ở Tây Âu là từ khí chất và ý chí cá nhân. Tức là con quỷ ác ôn đối
với Tây Âu nằm trong lồng ngực, đối với Hy Lạp lại là thế gian quanh ta.
Có thể nói theo ở đây rằng, phải chăng
tinh thần văn thơ Việt cho đến hôm nay – chỉ ở trên bình diện luân thường và
bản sắc ý chí mà thôi – một gia sản chính thống từ Truyện Kiều ở nơi chiều kích
thụ động trước thế gian, tức là, bản sắc nội dung bất lực và chấp nhận số phận
khổ đau – the will-less suffering - vẫn còn nằm ngủ quên trong Thời quán Thượng
cổ Hy Lạp từ hơn hai ngàn năm trước!
Từ “Phận đành chi dám kêu oan”(Kiều) đến
“Mẹ khỉ, cái thằng đểu này là điềm gở nhất của số phận mình” (Nguyễn Huy Thiệp)
ta sẽ thấy rằng: Cái ác, cái xấu đều ở bên ngoài ta, là từ xã hội, nơi tha
nhân. Khi sự yếu đuối ý chí được lấy làm biện minh cho thụ động trong oán hờn
liệt kháng thì thơ văn Việt chính là một lời nguyền tự đến – a self-fulfilling
prophesy.
Rất có thế vì thế mà ở Việt Nam hiện nay
phong trào dịch và đọc Nietzsche – với những khẩu hiệu tung hô mẫu người “siêu
nhân,” “ý chí quyền lực,” “vượt qua thiện-ác,” “phủ quyết tâm thức nô lệ,” “lên
án tinh thần bầy đàn” - đang khá thịnh hành. Nietzsche viết, “Cuộc đời không
chỉ là sự đáp ứng nội tâm theo nhu cầu ngoại thân, nhưng mà là của Ý chí Quyền
lực, phát khởi từ trong ta nhằm chinh phục và làm chủ nhiều hơn những gì ngoại
cảnh.” Đó có thể là câu sớ mới cho độc giả văn học hiện nay.
Hiện tượng nửa triết nửa văn với
Nietzsche nầy chính là một nỗ lực từ vô thức đi tìm một năng lực Ý chí mới -
khi văn học Việt đang thiếu những món ăn tinh thần cho một dân tộc đang muốn
vươn ra khỏi tình trạng độc tài, thiếu tự do hiện nay.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Đặng Xuân Xuyến
- Cảm nhận thơ văn 1l
- Đặng Xuân Xuyến
- Cảm nhận thơ văn 2l
Mời nghe Khề Khà Truyện đọc truyện ngắn
CHUYỆN CU TỐ LÀNG TÔI của Đặng Xuân Xuyến:
*.
Định
cư tại: thành phố San Jose,
Tiểu
bang California, Hoa Kỳ.
Email: liemesq@yahoo.com
.............................................................................................................
- Cập nhật từ email nguyenhung967812@gmail.com
ngày 03.03.2021.
- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được
sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể
hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.
0 comments:
Đăng nhận xét