ĐỌC CHẬM CÙNG THỜI GIAN
Tác giả Đặng Xuân Xuyến -
Cập nhật 07/04/2026
Giữ bản
quyền: Đặng Tuấn Hưng
Địa chỉ: nhà số 7 ngõ 61 Nguyễn
Văn Trỗi,
Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội
Phần 1: GIỚI THIỆU
1. Đôi
điều khi đọc “Quảng Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ”
2. Vài
lời về tập sách “Đời tư các vị hoàng đế”
3. Vài
suy nghĩ về 4 vị tướng đại tài trong lịch sử Trung Hoa
4. Vài
lời về tập sách “Sóng gió nội cung”
5. Vài
cảm nhận khi xem phim “Bố già” (web drama) của Trấn Thành
6. Hôn
quân Lưu Tử Nghiệp và vai diễn của Trương Dật Kiệt
ĐÔI
ĐIỀU KHI ĐỌC: QUẢNG NGÃI -
CÂU
THƠ NẶNG TÌNH CỐ THỔ
Tập sách Quảng Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ
của tác giả Lê Ngọc Trác được viết theo lối giới thiệu thân thế và sự nghiệp
văn học của 31 “hồn thơ” xứ Quảng dưới dạng phê bình và cảm nhận văn học. Đây
là tập sách thứ 7 của tác gia Lê Ngọc Trác, là “khối trầm tích tình yêu” của những người con Quảng Ngãi luôn đau
đáu về nơi “chôn nhau cắt rốn”, nơi
luôn được thầm nhắc đến với lòng tự hào và thành kính: núi Ấn sông Trà.
Tuy là viết về thân thế và sự nghiệp của các
chân dung văn học với mục đích phục vụ cho việc khảo cứu chân dung văn học
nhưng tác giả Lê Ngọc Trác không viết theo lối phân mục tiểu sử (thân thế) và
sự nghiệp như các tác giả khác từng làm mà ông làm mềm hóa đi, giảm bớt sự khô
cứng của lối viết giáo khoa - khảo cứu bằng cách loại bỏ sự phân mục A, B, C...
đồng thời chuyển các yếu tố nghiên cứu thành các yếu tố cảm nhận, biến các “thông
điệp” về thân thế và sự nghiệp của các chân dung văn học khô khan thành những bài
cảm nhận văn học dung dị, liền mạch, tạo tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái cho bạn
đọc khi tiếp cận các chân dung văn học. Hiểu đơn giản và ngắn gọn là ông không
dùng lối viết biên khảo truyền thống mà khéo léo lồng tiểu sử các chân dung văn
học vào các bài viết phê bình và cảm nhận văn học, bằng tư duy và ngôn ngữ của
người nghiên cứu khoa học. Đây là thành công của tác giả Lê Ngọc Trác khi mà
biên khảo là một thể loại văn chương dễ viết nhưng lại rất khó thành công!
Bên cạnh một số bài viết khá sâu về thân thế và
sự nghiệp của nhân vật lịch sử, như: Danh thần Trương Đăng Quế - Một tâm hồn
thơ nặng lòng với quê hương, Nguyễn Vỹ - Nhân chứng của một thời,... thì đa
phần là những bài viết, tác giả Lê Ngọc Trác hướng bạn đọc chú trọng vào những
tìm tòi khám phá, những thành công của các chân dung văn học đã có đóng góp ít
nhiều cho diện mạo văn học nước nhà, ông chỉ “đá đưa” chút ít về tiểu sử nhân
vật để bạn đọc biết thêm hoặc lấy đó làm tài liệu khảo cứu với lượng thông tin
vừa đủ về một chân dung văn học. Với cách viết như vậy, bạn đọc được cảm nhận
đầy hơn, sâu hơn “sự nghiệp” văn học của các chân dung văn học mà tác giả Lê
Ngọc Trác vẫn làm tròn được tiêu chí của tập sách: cung cấp những thông tin vừa
đủ về thân thế và sự nghiệp của nhân vật như một công trình biên khảo. Thành
công này của tác giả Lê Ngọc Trác là thành công mà ngay cả những người viết
sách chuyên nghiệp cũng không dễ dàng có được, trong khi ông chỉ là “một tay chơi ngang”, viết sách bởi sự
đam mê rất Lê Ngọc Trác: viết để được học.
Điều thú vị khi đọc QUẢNG NGÃI - CÂU THƠ NẶNG
TÌNH CỐ THỔ là tác giả Lê Ngọc Trác đã rất khéo khái quát chân dung nhân vật
qua việc đặt tên tiêu đề của bài viết, ví dụ: Nguyễn Vỹ - Nhân chứng của một
thời, Thanh Thảo với những câu thơ mềm mại mà mãnh liệt, Nguyễn Thánh Ngã “gõ”
vào cõi nhân gian, Trần Phố khúc tâm tình đậm tính nhân văn, Nguyễn Tấn On -
Thấm đẫm hồn quê, Vũ Hồ với "Nỗi buồn trăm năm", Nguyễn Minh Phúc -
"Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm".... Chỉ mới đọc tiêu đề bài viết,
bạn đọc cũng đã có thể hiểu được cốt cách của chân dung văn học hoặc phần nào
thấy được diện mạo của nhân vật mà tác giả Lê Ngọc Trác sẽ khắc họa.
Với cách viết nhẹ nhàng, cô đọng và xúc tích
nhưng theo góc nhìn và cách đánh giá công tâm của người nghiên cứu khoa học,
tác giả Lê Ngọc Trác đã phác họa các chân dung văn học (xứ Quảng) trong Quảng
Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ bằng những nét vẽ chân thực, những cảm
nhận tinh tế và những cảm kích khách quan, chân thành.
Mời đọc những trích dẫn:
- “Trong
thơ Khắc Minh, âm tiết, giai điệu như những lời ru ngọt ngào, làm dịu đau
thương lòng người trong bối cảnh chiến tranh. Có lẽ, đây là nét riêng trong thơ
của Khắc Minh so với những người cùng thời. Phần lớn, thơ của Khắc Minh không
mang nặng những dằn vặt khổ đau, cô đơn hoang lạnh, rên rỉ quằn quại. Thơ Khắc
Minh nhẹ nhàng, tràn đầy tình yêu trong cuộc sống.”
“Khắc Minh không triết lý vụn trong thơ,
không đánh đố người đọc bằng câu chữ bí hiểm. Thơ của ông âm hưởng ca dao mượt
mà, như những câu hò ba lý của quê hương miền Ân Trà” (Khắc Minh - Ngọt
ngào lời ru dưới chân Thiên Bút).
- “Đứng
trước những câu thơ của Nguyễn Minh Phúc được viết ra từ nỗi nhớ quê hương tha
thiết của anh, chúng ta không cần phải "bình giảng lý luận". Ai mà đi
tìm lý lẽ của con tim. Chúng ta cứ đọc, thấm và đồng cảm với tác giả. Những
người sống xa quê như thấy mình cùng cảnh ngộ, nỗi niềm...”. (Nguyễn Minh
Phúc - "Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm")
- “Đọc thi
phẩm "Mưa hoang" của Hà Quảng, người đọc cảm nhận những cơn mưa ướt
từng câu thơ, thấm đẫm cả những trang thơ... Nào những cơn "mưa thơm"
trên cánh đồng lúa ,đồng hoa chốn quê nhà yêu thương, mưa thơm ngát hương trên
dòng sông Trà, sông Vệ, "mưa tháng Bảy, mưa tháng ba..." và "một
trời mưa nhớ" đến quặn lòng ở những phương trời cách biệt. Chúng ta còn
bắt gặp những cơn "mưa hoang" trong cuộc đời mình mà một thời
"lời môi ngọt ngào", một thời đã xa "chạm vào nỗi nhớ".
("Mưa hoang" đầy nỗi nhớ trong thơ Hà Quảng)
- “Sau khi
đọc nhiều bài thơ của Vũ Hồ, tôi nhận ra một điều: Ông là một người tài hoa
trong thơ, nhưng trong toàn bộ thơ của ông thể hiện một nỗi cô đơn - cô đơn đến
tận cùng.” (Vũ Hồ với "Nỗi buồn trăm năm")
Tuy là viết Quảng Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ
bằng sự đam mê, không chịu áp lực bởi “chuyện
cơm áo gạo tiền” làm ảnh hưởng tới độ sắc bén, mềm dẻo, linh hoạt của ngòi
bút nhưng Lê Ngọc Trác không hoàn toàn phó mặc cho cảm xúc dẫn dắt ngòi bút mà
ông đã “điều phối” những cảm xúc, “cầm cương” những thăng hoa cảm xúc để cái
tôi của tác giả Lê Ngọc Trác đứng ở vai trò của người tổng kết, ở vị trí của một
hướng dẫn viên luôn nhiệt tình đồng hành cùng bạn đọc. Đấy là sự khéo léo, cũng
là thành công của ngòi bút Lê Ngọc Trác trong việc truyền tải “ý đồ” của tác
giả Lê Ngọc Trác đến với bạn đọc qua từng bài viết, xuyên suốt “Quảng
Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ”.
Với tình yêu dành cho quê hương luôn lớn, tác
giả Lê Ngọc Trác đã cố dồn ép để đẩy niềm tự hào về quê hương Quảng Ngãi cao
hơn, xa hơn, qua số gương mặt được tập hợp trong tập sách lên con số 31, vô
hình chung, những gương mặt được chúng tôi ví là “những trái chín ép”, “những
trái tình cảm”, đã làm Quảng Ngãi - Câu thơ nặng tình cố thổ
thành sự chọn lọc của tình cảm, dễ dãi, khiến cấu trúc tác phẩm bị xộc xệch,
gương mặt các chân dung văn học trong tập sách trở nên mất cân đối. Theo thiển
ý của người viết, tập sách chỉ nên dừng ở con số 23 gương mặt thì hợp lý hơn.
Đọc nhiều và viết nhiều là ưu điểm của ông. Viết
bằng tấm lòng là điểm sáng của ông nhưng trong các bài viết của ông, đâu đó vẫn
xuất hiện một vài hạn chế: chỉ nêu hiện tượng sự việc mà không dẫn giải bản
chất của hiện tượng sự việc dù chỉ ở sự gợi mở, lưu ý bạn đọc, ví dụ như: “Thơ Nguyễn Thánh Ngã đọc xong ghim lại trong
lòng người yêu thơ. Anh đã tạo được phong cách của mình trong thơ. Thơ Hai-ku
của Nhật Bản có qui luật về số từ, nhưng khi làm thơ Haiku, Nguyễn Thánh Ngã đã
có những cách tân đầy sáng tạo. Những bài thơ Haiku của Nguyễn Thánh Ngã có một
nét rất riêng. Dường như Nguyễn Thánh Ngã muốn tạo ra một trường phái thơ riêng
của mình. Chính vì vậy, có lúc các bạn yêu thơ gọi thơ Haiku của Nguyễn Thánh
Ngã là thơ "Ô haii" (Ô hay!)”. Đọc cả bài viết, bạn đọc không tìm
được câu trả lời: “cách tân đầy sáng tạo”,
“nét rất riêng”, “trường phái thơ riêng” của Nguyễn Thánh
Ngã là thế nào. Tuy không nhiều, không lớn nhưng những “hạt sạn” như thế không
nên xuất hiện trong các bài viết của cây bút đã dày dạn bản lĩnh như tác gia Lê
Ngọc Trác vì sự xuất hiện một vài hạn chế như thế đã vô tình làm giảm tính
thuyết phục của cả bài viết.
Và đấy cũng là hạn chế mà tác gia Lê Ngọc Trác
cần khắc phục để những tác phẩm của ông được tròn trĩnh hơn.
*.
Hà Nội, chiều 06 tháng 10 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI
LỜI VỀ TẬP SÁCH:
ĐỜI
TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ
(LỜI
GIỚI THIỆU cuốn ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ,
Nhà
xuất bản Văn Hóa Thông Tin, xuất bản năm 1997)
ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ là tập V của bộ
sách "CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC" do Nhà xuất bản Văn hoá
Thông tin - Nhà sách Bảo Thắng liên kết xuất bản, giới thiệu các gương mặt hôn
quân vô đạo trong gần một trăm quân chủ phản diện mà bộ sách đề cập. Nếu các
tập trước bạn đọc đã làm quen với những vị hoàng đế hoặc ít hoặc nhiều có những
cống hiến nhất định trong lịch sử Trung Quốc nhưng vì một vài lý do nào đó:
Hoặc kiêu căng ưa xiểm nịnh, hoặc không thể vượt quá phạm vi mà điều kiện lịch
sử cho phép nên buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị, thì ở tập sách này bạn đọc
sẽ gặp những vị hôn quân ngu muội, bạc nhược, với những việc làm xằng bậy, quái
đản dẫn đến sự diệt vong của một vương triều mà trước đó tổ tiên của họ đã cống
hiến nhiều cho lịch sử Trung Quốc.
Trước hết phải nhắc đến Lưu Sưởng, vị hoàng đế cuối cùng của
vương triều Nam Hán, đã tự phế truất cơ nghiệp của ông cha bằng những việc làm
xằng bậy, những điều luật quái gở, những hành vi hoang dâm vô đạo trong quãng
đời xưng "trẫm" của mình.
Lịch sử phong kiến Trung Quốc nói riêng, lịch sử
phong kiến thế giới nói chung hẳn không có vị đế vương thứ hai ra điều kiện
tuyển dụng làm quan trong triều thì trước hết phải tự thiến, nếu không tự thiến
được thì triều đình sẽ thiến hộ như hôn quân Lưu Sưởng. Và cũng không có vị đế
vương nào lại tuyển dụng những ai thật đẹp trai, thật giỏi chuyện ái ân vào
cung "hầu hạ chuyện gối chăn" với những phi tần được vua
sủng ái. Vậy mà hôn quân Lưu Sưởng lại làm cái chuyện quái đản ấy. Tệ hơn nữa,
đốn mạt hơn nữa, tên hôn quân vô đạo này lại thích thú những trò quái
vật: Chung chăn gối với thần dân trăm họ bất kể thân phận sang hèn ra sao,
miễn là y đạt được khoái cảm; hành lạc tập thể để y ngó nhìn bình phẩm,
tùy theo sự điêu luyện mà phạt roi hay ban thưởng...
Ngán ngẩm thay cho vương triều Hán với
"thâm cung bí sử" đã ẩn giấu biết bao chuyện xằng bậy
của Hán Thành Đế Lưu Ngao không chỉ đắm chìm trong nhục dục với các phi
tần mỹ nữ như: Hứa thị, Phi Yến, Hợp Đức... mà còn “bắt” những thanh niên đẹp
trai như Trương Phóng, Thuần Vu Trường... vào hậu
cung làm "thiếp yêu", khiến cả triều đình dở mếu dở cười
khi chứng kiến những mối tình chàng - chàng chướng tai gai mắt, giờ lại thêm
những "thú vui quái đản" của hôn quân Lưu Sưởng khiến người đọc
lắc đầu khi ngẫm về lịch sử vương triều Hán.
Hầu như suốt chiều dài lịch sử vương triều Hán,
suốt từ thủa Lưu Bang chém rắn phất cờ đến ngày Lưu Thiện nhục nhã quỳ gối dâng
giang sơn xã tắc cho dòng họ Tư Mã, không hiếm những hôn quân vô đạo kiểu như
Lưu Sưởng với đời sống tình dục quái đản, loạn luân, coi thường đạo lý nhưng có
lẽ, chỉ có Lưu Sưởng mới "nổi đình đám" với đạo luật quái
gở và những thú vui mất hết tính người như thế. Cuộc đời của y là cuộc đời độc
nhất vô nhị của kẻ hoang dâm vô đạo mà cổ kim chưa hề từng có.
Cao Vĩ,
Hậu chủ Bắc Tề lại nghiện những việc làm xằng bậy dẫn đến nước Bắc Tề vốn đang
cường thịnh chỉ trong khoảng thời gian Cao Vĩ chấp chính phải lâm vào cảnh đói
nghèo tang tóc, dân chúng oán thán, triều đình rệu rạo, để rồi triều chính
phải "bàn giao cho người khác, chịu chết thê thảm trong tay Vũ Văn
Ấp". Vị hôn quân trẻ con này đã không từ một việc làm bần tiện, vô học nào
để đạt được những khoái cảm rồ dại, những nhục dục thấp hèn. Đường đường là một
đấng quân vương, vậy mà Cao Vĩ lại bày trò chơi ngu muội: Vua đóng giả đầy tớ, ăn
xin, bề tôi đóng giả chúa thượng, người bố thí. Trong suy nghĩ của Cao
Vĩ, Tư Mã Trung thời Tây Tấn là kẻ ngu xuẩn vì đã hỏi cận thần câu
hỏi quá ngớ ngẩn: "Tiếng ếch kêu là của công hay của tư?". Hắn
biện rằng: "Có lẽ Tư Mã Trung chưa bao giờ trông thấy con ếch? Thằng cha
thật đáng thương! Như Cô gia đây vừa có khả năng làm vua, lại vừa có khả năng
làm thằng ăn mày, thử hỏi xưa nay mấy ai làm nổi?" Hắn thật khoan khoái
với suy nghĩ của mình nên càng hăng hái trổ tài ăn xin làm cho quần thần phải
dở khóc dở cười.
Đứng trước ba quân để uý lạo tướng sĩ. Cao Vĩ
không làm được như ông tổ của y là Cao Hoan cao giọng ngâm bài ca trước quân
lính, để khích lệ ba quân xông pha nơi chiến trận, mà y lại cười phá lên khi ba
quân im phăng phắc đang cúi đầu chờ hiểu dụ. Tiếng cười ngu xuẩn của Cao Vĩ đã
thức tỉnh những tướng sĩ đang mông muội trung thành với Bắc Tề: Không thể bỏ
vợ, bỏ con xông pha nơi chiến trận để giữ ngai vàng cho tên hôn quân vô lại!
Lòng quân tan rã, chỉ sau hai tháng (tháng 12 năm 577), hôn quân Cao Vĩ trở
thành tù binh của Bắc Chu, đưa vương triều Tề đi vào dĩ vãng.
Có người cho rằng, nếu Cao Vĩ nghe lời Hũ
Luật Hiếu Khanh nhìn nhận đúng mực đề nghị của trung thần: Thuộc lòng bài
từ do Hũ Luật Hiếu Khanh soạn rồi ngâm, lại thêm vài giọt nước mắt trước ba
quân tướng sĩ thì làm gì mà không giữ được tông miếu tổ tiên. Chúng tôi thì cho
rằng, điều đó không bao giờ có được, bởi một kẻ lấy thoả mãn nhục dục làm lẽ
sống như Cao Vĩ thì làm sao chú tâm tới việc quốc gia đại sự. Đứng trước nguy
cơ nước mất, bất chấp lời khẩn cầu thống thiết của Hũ Luật Hiếu Khanh: Hãy học
thuộc bài Từ rồi uý lạo tướng sĩ giữ vững cõi bờ, y vẫn đùa bỡn với Phùng Thục
phi thì làm sao mà nước không mất. Hơn nữa, bộ óc đần độn đến xơ cứng của y,
một bài Từ thật ngắn mà không nhớ nổi (Dưới chân thành, địch đánh dữ. Nguy
nan lắm, trông vào các ngươi. Tầng mây thấp, tầng sương dầy, phá được giặc rồi,
ta cùng vui) thì y làm sao giải quyết được việc quốc gia đại sự. Một hôn
quân như vậy thì nhà Tề sớm bị diệt vong là điều dễ hiểu.
Còn Bắc
Tề Văn Tuyên Đế Cao Dương lại là kẻ tâm thần, hành động ngang
ngược, cuộc đời của vị hôn quân này chỉ mải mê với hai thú vui đó là uống rượu
và giết người. Thời gian tiếm quyền ngồi trên ngôi báu, mỗi khi uống rượu vào
là Cao Dương thẳng tay chém giết. Để bảo toàn tính mạng cho những cung nữ, hoạn
quan hầu hạ Cao Dương và cũng nhằm để thoả mãn nhu cầu chém giết của vị đế
vương tàn bạo, Bộ Tư pháp buộc phải đưa những "tử tù", thậm chí
cả những kẻ phạm pháp nhưng chưa xét xử vào cung theo hầu Cao Dương đế để mỗi
khi tên hôn quân nổi "máu điên" sẽ có thú để “giải sầu”.
Thời gian đó "Bộ Tư pháp" Bắc Tề đưa ra một quy định: Những phạm nhân
đi theo nhà vua (một ngày) mà không bị giết thì coi như vô tội và được tha.
Thật là một điều luật nực cười, báo hiệu một thể chế chính trị thối nát, đang
rệu rạo chờ ngày sụp đổ.
Cao Dương không chỉ giết những cung ngự tù (phạm
nhân cung cấp cho nhà vua) những hoạn quan, cung nữ để mua vui mà với tất cả
mọi người đều bị y khinh rẻ "dù đó là mẹ đẻ, mẹ vợ, gươm trong tay,
đầu thiên hạ, oán hận có kể gì".
Tháng 10 năm 533, một hôm Cao Dương đột
ngột đến nhà mẹ vợ (thân sinh ra Hoàng hậu Lý Tố Nga - người được Cao
Dương sủng ái), không hiểu Lý phu nhân đã động đến dây thần kinh nào của Cao
Dương mà y giật lấy cung tên từ tay vệ sĩ bắn một phát trúng mặt Lý phu nhân,
rồi quát: - "Trẫm mà say thì bất chấp cả mẹ đẻ, mụ là cái thá
gì?". Trước đó ít ngày, mẹ đẻ của Cao Dương là Lâu Thái hậu vì thấy y suốt
ngày uống rượu, say sưa chém giết, bỏ bê triều chính nên cho gọi đến để nghĩ cách
răn đe, vừa giơ gậy doạ đánh thì tên hôn quân nghịch tử lớn tiếng mắng chửi:
- "Đồ chết dẫm! Định đánh trẫm hả? Ít hôm nữa sẽ gả ngươi cho bọn rợ
Hồ, xem ngươi có còn hung hăng nữa thôi". Thật là một tên hôn quân vô
đạo, ngay cả người đẻ ra y mà y còn ngang ngược xúc phạm thì thử hỏi xã hội có
còn kỷ cương, phép tắc?.
Lưu Dục,
ông vua Lưu Tống thời Nam Triều cũng là một vị vua hôn quân tàn bạo. Thời gian
chấp chính của ông ta thật ngắn ngủi nhưng với quãng thời gian ấy, Lưu Dục đã
"kịp" làm những việc kinh thiên động địa mà hậu thế sau này phải lè
lưỡi lắc đầu. Trước khi chết, Lưu Bị dặn con trai của mình là Lưu
Thiện: - "Việc thiện dù nhỏ, đừng nghĩ nhỏ mà không làm, việc ác
dù nhỏ, đừng thấy nhỏ mà làm". Hai trăm năm sau, Lưu Dục vị đế vương của
triều Lưu Tống lại ngang nhiên bài trừ việc thiện, chạy theo việc ác dẫn đến
cái chết thê thảm, kết thúc cuộc đời chuyên làm điều xằng bậy của y vào ngày 8
tháng 7 âm lịch năm 477.
Có thể nói, tính ngông ngênh, ngang ngược của
Lưu Dục so với Cao Dương có phần nào dễ chịu hơn, nhưng công bằng mà nói
thì "kẻ tám lạng người nửa cân" thật khó mà phân định.
Lưu Dục rất thích thú trong việc chém giết
người, với hắn niềm khoái cảm chỉ đạt tới cực điểm khi chứng kiến sự chết chóc,
bị hành hạ thân xác của người khác. Hắn ngang nhiên như Đôngkixốt dưới ngòi bút
Xen Văngtéc điên cuồng chém giết người dân vô tội trên đường hắn gặp. Hắn ngang
ngược biến điện Kim Loan thành nơi nuôi lừa, biến Long Sàng thành nơi buộc
ngựa. Chốn tôn nghiêm của triều đình, đã bị Lưu Dục biến thành nơi chăn nuôi
súc vật: Cùng ở với người, cùng thiết triều với Thiên Tử. Thật khó bắt gặp một
vị đế vương khác lại có thú chơi ngông cuồng và thất học như hôn quân Lưu Dục.
Hắn không chỉ thích chém giết người, thích nuôi
lừa, nuôi ngựa ở nội điện mà hắn còn thích ăn trộm con gái, ăn trộm súc vật của
dân lành. Vụ trộm nổi "đình đám" trong cuộc đời làm vua càn quấy của
y đã được sử sách ghi lại tiếng nhơ cho muôn thuở, đó là vụ trộm chó ở chùa Tân
An vào ngày 7 tháng 7 năm 477, ngày mà âm lịch gọi là Khất Xảo. Hôm đó, sau
cuộc mây mưa tình ái với ái nữ của Hữu vệ Dực Liễn Doanh, hắn lặng lẽ cùng bọn
du côn vào chùa Tân An bắt trộm chó về làm thịt, rồi sai người đến chùa bắt vị
sư trụ trì chùa Tân An đến cùng ngồi uống rượu thịt chó. Vị cao tăng kia vì sợ
oai Lưu Dục đã không giữ được giới luật tối thiểu và ngay trong đêm ấy,
vị "hỗn thế ma vương" Lưu Dục đột nhiên bạo bệnh mà chết.
Cái chết của Lưu Dục đến giờ vẫn còn nhiều giả
thiết được đặt ra, nhưng cho dù thế nào thì vị "hỗn thế ma vương"
chấm dứt sự hiện diện ở cõi đời cũng là điều đáng mừng cho thần dân Lưu Tống,
mở ra một trang sử mới với vị đế vương mới, để rồi lại xuất hiện kẻ hôn quân
mới. Nhưng dù thế nào đi nữa, thì đó vẫn là điều tất yếu phải xảy ra trong
trong dòng chảy của lịch sử phong kiến Trung Quốc.
Đọc ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ hẳn bạn đọc
sẽ phì cười khi "gặp mặt" mẹ con hôn quân Lưu
Hồng - ông vua thứ 12 đời Đông Hán, được người đời phong danh
hiệu “Tổ sư của ngành keo kiệt” - thi nhau mua quan bán tước. Chuyện
tưởng chỉ có trong văn học dân gian nhưng thật trớ trêu đó lại là sự thật được
ghi chép rõ ràng, đầy đủ trong chính sử Trung Hoa làm hậu thế (Trung Hoa) sau
này phải gục đầu tủi nhục.
Làm Hoàng đế thì hết thảy tài sản trong xã tắc
là của vua thì Lưu Hồng cần gì tiền mà phải cho bán quan bán tước? Vậy mà Linh
đế Lưu Hồng lại làm cái việc mà từ thủa Bàn cổ khai thiên lập địa đến bấy giờ
chưa ai dám nghĩ đến chứ đừng nói dám làm. Với lối sống bản năng của những kẻ
“đầu đường xó chợ”, Linh đế Lưu Hồng không từ bất kỳ thủ đoạn nào để vơ vét tiền
của của muôn dân cho vào hầu bao, nhằm thoả mãn dục vọng bẩn thỉu, ti tiện của
y. So đo tính toán từng ly từng tý trong chuyện giành lợi lộc chưa hẳn đã là
"biệt tài" duy nhất của hôn quân thất học này mà Lưu Hồng còn
nổi danh biến Ngự hoa viên rộng mấy dặm trở thành kẻ chợ tấp nập
chuyện mua bán, đổi chác từ thượng vàng hạ cám tới nhân phẩm của con người. Nếu
Lưu Dục, ông vua Lưu Tống thời Nam Triều nổi danh với chiến tích biến điện Kim
Loan thành nơi nuôi lừa, biến Long Sàng thành nơi chăn ngựa thì với Lưu Hồng,
Ngự hoa viên trở thành kẻ chợ với thập cẩm trò nhố nhăng chối tai, nhức mắt, và
đều tạo thành tiếng nhơ muôn thủa trong lịch sử Trung Hoa về dòng họ Lưu lố
lăng và đốn mạt.
ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ đề cập đến mười lăm
quân chủ phản diện, đặc trưng cho đời sống sa đoạ và tàn bạo của những kẻ
thường tự vỗ ngực, xưng danh "thiên tử", thay trời hành
đạo, chăn dắt con dân". Thấp thoáng trong chốn thâm cung hào nhoáng mà sặc
mùi son phấn là những con quỷ đội lốt người, đắm chìm trong nhục dục, ra sức tác
oai tác quái, mất hết luân thường đạo lý, như: U Vương Cơ Cung Niết vì đắm say
sắc đẹp của Bao Tự mà thả hổ hại con, hay như Hán Hậu chủ Lưu Thiện ở ngôi mấy
chục năm chẳng làm nổi trò trống gì ngoài việc quỳ gối xưng thần, dâng nộp cơ
đồ tông miếu tổ tiên để kéo dài kiếp sống. Hoặc như Tấn Huệ đế Tư mã Trung là
một ông vua bù nhìn, đần độn ngu xuẩn đến lạ lùng. Mười mấy năm trời ngồi trên
ngôi báu chỉ để làm con rối cho thiên hạ giật dây. Chính lệnh ban ra đều do
người khác ban bố, khắp nơi đói rét, lại hỏi một câu kỳ quặc: - "Sao không
ăn cháo thịt?". Những ông vua như vậy thử hỏi làm sao mà sinh linh không
điêu đứng, loạn lạc không xảy ra, lòng người không ly tán!
ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ là tập V của bộ
sách CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC giới thiệu mười lăm quân chủ phản
diện kiểu như vậy. Có thể trong số mười lăm vị quân chủ đó, có vị đế vương ban
đầu chưa phải là hôn quân, đứng ở một góc độ nào đó họ có những đóng góp nhất
định cho lịch sử Trung Quốc, như Vương Mãng giành lấy chính quyền không
phải để thoả mãn dục vọng cá nhân mà để tái tạo "nền văn minh thượng
cổ". Sau khi nắm quyền thống trị, ông ta thực thi một loạt chính sách mới
đi trước thời đại, mang hình thái của chủ nghĩa xã hội (không tưởng)... Nhưng
rất tiếc, những vị đế vương có tài tề gia trị quốc như vậy không nhiều và những
biểu hiện đó, nếu có cũng không nhiều trong cuộc đời xưng đế của họ, để cuối
cùng, họ trở thành những kẻ hôn quân, hậu thế ngàn đời sau còn nguyền rủa.
Chúng tôi hy vọng với tập sách này, đặc biệt là
qua thân phận và những việc làm xằng bậy của những tên hôn quân trong lịch sử
phong kiến Trung Quốc, bạn đọc sẽ tìm ra được nguyên tắc sống cho mình, sao cho
cuộc đời hữu ích. Và chúng tôi cũng tin rằng bạn đọc sẽ tâm niệm cùng chúng
tôi: Việc thiện dù nhỏ đến mấy cũng cố mà làm, việc ác dù nhỏ thế nào cũng
quyết không làm, để cuộc đời này không có những kẻ hôn quân, hôn thần bất nhân
bất nghĩa.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc
tập ĐỜI TƯ CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ do Trần Đình Hiến dịch thuật.
*.
Hà nội, ngày 12 tháng 02 năm 1997
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI
SUY NGHĨ VỀ 4 VỊ TƯỚNG ĐẠI TÀI
TRONG
LỊCH SỬ TRUNG HOA
(LỜI ĐẦU SÁCH cuốn KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG VÀ
NHỮNG TỂ TƯỚNG ĐẠI TÀI ; Văn Hóa Thông Tin ;
1997)
CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC là bộ sách dài nhiều tập, do
Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Nhà sách Bảo Thắng liên kiết xuất bản, giới
thiệu gần một trăm quân chủ phản diện, đại diện cho những mặt trái, những hậu
quả tất yếu của chế độ thế tập quyền uy trong suốt quãng thời gian dài dằng dặc
mà chế độ phong kiến "trị vì".
Thật là sai sót nếu bộ sách CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC chỉ
giới thiệu những hôn quân vô đạo, những kẻ đã cản trở bước tiến của lịch sử,
phản lại lợi ích của dân tộc Trung Hoa vì những thú chơi ngông cuồng, rồ dại,
những dục vọng về quyền lực, ái tình đến bệnh hoạn của các đế vương mà không
giới thiệu những đấng quân vương có tài tề gia trị quốc, xứng đáng được nhận sự
tôn vinh của lịch sử là thánh vương, là minh quân như Vũ, Thương, Tống Tổ... Và
sẽ càng sai sót nếu CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC không giới thiệu những gương
mặt tận trung với nước, hết lòng vì giang sơn và xã tắc (Trung Hoa) của các bà
hoàng hậu, các thừa tướng, đại thần đã hết lòng giúp rập quân vương điều hành
triều chính.
KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG VÀ NHỮNG VỊ TƯỚNG ĐẠI TÀI
là tập tiếp theo của bộ sách CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC giới thiệu bốn vị
tướng lừng danh trong lịch sử Trung Hoa về mưu lược dụng binh, về lòng bao
dung, đức độ, về sự cúc cung tận tuỵ với giang sơn xã tắc (triều đình) để lại
tiếng thơm cho muôn thuở. Họ như những vì sao lấp lánh chiếu toả. Năm tháng
trôi đi, vật đổi sao dời nhưng tên tuổi và sự nghiệp bất hủ của họ sẽ
mãi không thể xoá nhòa trong dòng chảy của lịch sử đất nước Trung Hoa.
Lật từng trang sử, các sử gia Trung Hoa đã làm sống lại
một Gia Cát Lượng dụng
binh như thần, quyết chí hiến thân, không hề núng nao ý chí. Ông là nhà chính
trị, nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc, là hoá thân của trí tuệ dân tộc Trung
Hoa. Những chiến lược quân sự mà Gia Cát Khổng Minh vạch ra đã trở thành những
trước tác bất hủ. Đọc Khổng Minh Gia Cát Lượng của Hàn Phấn Phát, tuy
không có những chương đoạn hào hùng, sôi động, những tình tiết ly kỳ huyền hoặc
như Tam quốc Diễn nghĩa của La Quán Trung, nhưng người đọc vẫn cảm
nhận được tài năng xuất chúng, chí khí phi phàm của Khổng Minh và trân trọng
một Gia Cát Lượng mà Hàn Phấn Phát đã phác hoạ. Ở đây, ta gặp một Gia Cát Lượng
không bị ngòi bút cường điệu hoá nên Gia Cát Lượng của Hàn Phấn Phát rất đời
thường mà lại vĩ đại, ta thấy gần gũi, giản dị và chân thực hơn những gì mà La
Quán Trung đã viết: Bình thường, giản dị nhưng cũng phi thường, thông minh và
đầy bí ẩn. Nói như thế, không có nghĩa là chúng tôi đánh giá giá trị tư tưởng
và nghệ thuật của hai tác phẩm, so sánh những thành công của hai tác giả vì Tam
quốc Diễn nghĩa là một tác phẩm văn học thuộc dạng tiểu thuyết cổ điển, kết hợp
giữa dã sử và tín sử, được liệt vào kho tàng văn hoá Trung Quốc, đồng thời cũng
là tài sản của văn hoá thế giới. Còn Khổng Minh Gia Cát Lượng của Hàn Phấn Phát
là một công trình khoa học, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của một danh
nhân, với cách nhìn nhận, đánh giá của một nhà khoa học hiện đại. Chúng tôi cho
rằng những phác họa của Hàn Phấn Phát không làm mất đi hình ảnh dụng binh kỳ
diệu đến bí ẩn của Gia Cát Lượng mà ngược lại càng làm cho hình ảnh nhà mưu
lược kỳ diệu này thêm sức sống. Và đấy chính là một đóng góp của Hàn Phấn Phát
cho đương đại những tài liệu quý giá về cuộc đời và sự nghiệp của một bậc tiền
bối.
Tiêu Hà,
một khai quốc công thần của nhà Hán, đã phò tá Lưu Bang từ lúc cơ hàn, phải
sống nương nhờ vào sự cưu mang của những hiền nhân quân tử đến tận khi lập nên
nghiệp bá với lòng cúc cung tận tụy của một công thần ái quốc, một trung thần
hiếm có. Cho tận đến lúc tàn hơi kiệt lực, Tiêu Hà vẫn luôn canh cánh bên lòng
trách nhiệm phò tá "Thiên tử" giữ yên cuộc sống ấm no cho muôn họ, để
lại cho hậu thế một nguồn sáng chiếu rọi về tình người, tình đời và lẽ sống cao
đẹp không thể phai mờ. Ai đó đã nói: Có Tiêu Hà mới có nhà Hán, quả thật nếu
nhìn nhận ở một góc độ nào đó thì câu nói đó không phải là cường điệu. Thủa Lưu
Bang còn cầu bơ cầu bất, còn dưới trướng của Tiêu Hà đã được Tiêu Hà ban cho
nhiều ân sủng: Coi như tình huynh đệ, lo chuyện trăm năm, bàn mưu tính kế giúp
Lưu Bang tạo lên nghiệp lớn. Từ cuộc khởi nghĩa ở huyện Bái, đến tận sau này
khi Lưu Bang đã bình định xong thiên hạ, Tiêu Hà luôn luôn ở bên để hiến kế
dâng mưu, hết lòng lo cho nghiệp bá của tiên chủ nhà Hán. Công lao to lớn của
Tiêu Hà với nhà Hán thật nhiều, nhưng chỉ kể một vài công trạng của ông với Lưu
Bang trước khi lập nên nhà Hán cũng đủ thấy điều mà ai đó đã nhận xét không
phải là không có căn cứ:
- Cưu mang và khích lệ nghiệp lớn trong ý chí của Lưu Bang.
- Lo chuyện trăm năm cho Lưu Bang và Lã Thị.
- Tiến cử và lưu giữ Hàn Tín giúp Lưu Bang lập nên nhà Hán.
Chúng tôi cho rằng: Tiêu Hà và Hàn Tín là hai trụ cột chính
giúp Lưu Bang thu phục được thiên hạ, nhưng chúng tôi không cho rằng: Có Tiêu
Hà mới có nhà Hán vì nếu nhìn nhận và đánh giá như vậy thật là phiến diện. Công
trạng và đức độ của Tiêu Hà với vương triều nhà Hán quả thật không nhỏ nhưng
bên cạnh Lưu Bang đâu thiếu những anh hào? Sở dĩ Lưu Bang thu phục được thiên
hạ là bởi ông ta đã biết sử dụng tài năng thiên bẩm của những hiền nhân quân tử
quy tụ dưới trướng sao cho đúng với khả năng của họ. Tiêu Hà rất giỏi về cơ
mưu, Hàn Tín rất giỏi về chiến trận nhưng cả hai không có cái mà Lưu Bang có,
đó là những âm mưu, thủ đoạn chính trị mà bất kỳ một chính trị gia nào cũng
phải có. Cái chết oan nghiệt của Hàn Tín và những ngày tháng sống cảnh "cá
chậu chim lồng" của Tiêu Hà là bằng chứng cho tài năng hoạt động chính trị
của Hán Cao Tổ, cũng có nghĩa là Tiêu Hà và Hàn Tín chỉ có thể là người
"giúp việc" cho “Thiên tử” mà thôi.
Với gần 80 trang sách, Mục Bình Triều đã cung cấp cho độc
giả những dữ liệu lịch sử quý báu về cuộc đời và sự nghiệp lừng lẫy chiến công
của vị thừa tướng khai quốc, một công thần tận trung, tận nghĩa đã phò tá Lưu
Bang bình định được thiên hạ, đó là Tiêu Hà! Một con người cả đời liêm khiết,
trong sạch, hết mình vì dân vì nước dù những năm tháng cuối đời, để bảo toàn
mạng sống cho bản thân và gia tộc ông đã buộc phải tự làm lu mờ hình ảnh của
mình mà lẽ ra một con người như ông không nên làm vậy, nhưng cho dẫu có bàn
luận thế nào thì hậu thế vẫn cảm thông với ông trong điều kiện lịch sử lúc bấy
giờ và những chiến tích của ông, tấm lòng của ông mãi để lại tiếng thơm trong
lịch sử Trung Hoa.
Cũng trong tập sách này, chúng ta được gặp danh tướng Trần Bình, người cũng có công rất lớn
trong việc giúp Lưu Bang thu phục thiên hạ.
Có thể nói, trong số những danh tướng lừng lẫy chiến công,
hiển hách công trạng thì Trần Bình là một danh tướng được yên ổn nhất sau khi
Lưu Bang đã lập xong nghiệp bá. Không như Tiêu Hà phải sống cảnh "cá chậu
chim lồng" suốt ngày nơm nớp lo sợ bị tiên chủ nhà Hán "phế
diệt", cũng không giống như Hàn Tín "chuốc hoạ vào thân", bị chu
di cả họ mà Trần Bình cả đời được nhà Hán trọng dụng, được tôn lên tận mây
xanh, thậm chí đến cả đời con đời cháu sau này vẫn được thừa tập hầu tước.
Trong "Sử ký Tư Mã Thiên" phần Cao Tổ
bản kỷ có ghi lời Hán Cao Tổ khi ông ta cùng các hạ thần thảo luận: "Sở dĩ thắng Hạng Vũ mà lấy được thiên hạ là
do: Ăn nói giỏi có mưu sĩ Trương Lương, tể tướng có Tiêu Hà, đại tướng có Hàn
Tín. Ba người này đều là kiệt xuất, trẫm biết dùng họ cho nên được thiên hạ".
Căn cứ vào đó, có người cho rằng Trần Bình không bị Lưu Bang "phế bỏ"
bởi ông không thuộc "tam kiệt", không phải là đối thủ của Lưu Bang
trong việc củng cố ngôi đế của mình, cũng có nghĩa họ cho rằng Trần Bình chỉ là
một vị tướng chứ không thể là một danh tướng xứng đáng nhận sự tôn vinh của hậu
thế. Chúng tôi cho rằng: Trong quá trình phò tá Lưu bang thu phục thiên hạ, các
danh tướng đều có những đóng góp nhất định của họ vào lịch sử, không thể đem
những công lao, chiến tích, "mọi người đều nhìn thấy" để so sánh,
bình phẩm về tài năng, đức độ giữa các danh tướng. Đại tướng Hàn Tín sở dĩ được
đương đại đánh giá là một đại tướng cực giỏi bởi chiến trận đánh đông dẹp bắc
lừng lẫy chiến công của ông dễ được mọi người nhìn thấy còn Trần Bình, ông là
một nhà chính trị chứ không phải là một nhà quân sự vì lẽ đó mà những
"chiến tích" của ông, đương thời khó nhìn thấy hết.
Trong chiến tranh Hán-Sở, Trần Bình hiến rất nhiều kế mà mỗi
kế đều có sự liên quan đến sự sinh tử, tồn vong của Vương triều nhà Hán, và đặc
biệt nhất là sau khi Hán Cao Tổ tạ thế, Trần Bình đã cùng các vị trung thần dẹp
loạn các Chư Lã (dòng họ của Lã Thái hậu), giữ nguyên ngôi "Thiên tử"
cho các ông vua nhà Hán: Huệ đế, Thiên đế, Văn đế... bằng những mưu quốc xuất
chúng.
Trong suốt cuộc đời làm tướng của mình, Trần Bình có những
đóng góp rất lớn cho vương triều nhà Hán, tuy nhiên những mưu kế mà ông hiến
cho Hán Cao đế, cũng như các "Thiên tử" sau này của nhà Hán quả thật
còn nhiều điều mà hậu thế còn bàn cãi về tài năng và đức độ của ông, nhất là kế
bắt Hàn Tín ở đầm Vân Mộng đã làm cho một vị đại tướng hết lòng trung thành với
cơ nghiệp nhà Hán phải chịu cảnh chết không nhắm được mắt. Nhưng cho dù thế nào
đi nữa, thì chúng tôi cũng tin rằng những người bàn luận, tranh cãi về ông cũng
sẽ tán đồng quan điểm của chúng tôi: Ông là một nhà chính trị tài giỏi, hết
lòng với giang sơn nhà Hán, những lỗi lầm mà ông mắc phải trong cuộc đời làm
tướng là điều có thể cảm thông được bởi ở cái chế độ thế tập quyền uy ấy mạng
người thật sự là khó bảo toàn, cho dù đó có là Thiên tử, mà đã là con người thì
ai chẳng muốn bảo toàn mạng sống ?!.
Lịch sử phong kiến Trung Quốc đã ghi lại những tích về sự
lộng quyền, can thiệp vào triều chính, làm cho xã tắc bị nghiêng ngả, sụp đổ
của những tên thái giám nửa nam nửa nữ lòng dạ độc ác như Triệu Cao, Hoa Hâm...
Với ba tấc lưỡi, cùng với lòng đố kỵ hẹp hòi, chúng đã mê hoặc các đấng quân
vương để "thanh trừng" những trung thần ái quốc, những danh tướng lẫy
lừng chiến tích để thoả mãn nhục dục của những kẻ nô tì thèm khát quyền lực.
Khấu Hoài -
một danh tướng thời Bắc Tống, suốt đời ấp ủ chí lớn để mong được cống hiến sức
lực cho đất nước nhưng con người tài cao chí lớn, liêm chính cương trực ấy đã
bị xã hội Bắc Tống đen tối hủ bại với những kẻ thống trị u mê nhu nhược, tin
yêu gian thần, thái giám, ngược đãi, đày ải làm cho hoài bão của ông không thực
hiện được.
Sáu mươi năm sống với trần thế, ông đã từng được Tống Thái
Tông tin yêu trọng dụng, ban cho nhiều ân sủng nhưng cũng chính tài năng và đức
độ của ông đã làm cho Tống Thái Tông nhiều phen tức giận dẫn đến việc nhiều lần
bị giáng chức. Tính cương trực thẳng thắn của Khấu Hoài còn tự làm hại ông
nhiều hơn nữa khi Tống Chân Tông cả nghe lời gièm pha của những kẻ ham sống sợ
chết, bụng dạ tiểu nhân, ghen ghét hiền tài, nên đã giáng chức ông từ một Tể
tướng oai liệt xuống làm Chi Châu ở Tương Châu. Cuộc đời hoạt động chính trị
của ông thật chông gai, gấp khúc, biết bao sóng gió của chính trường cố trào
lên để hòng nhấn chìm thân thế và sự nghiệp của ông nhưng tất cả chỉ làm cho hình
ảnh của ông rực sáng hơn, nhân cách cao đẹp của ông càng rõ nét và trở thành
bất tử.
KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG VÀ NHỮNG TỂ TƯỚNG ĐẠI TÀI là tập mở
đầu cho phần hai của bộ CHUYỆN CÁC VỊ VUA TRUNG QUỐC, do nữ dịch giả Tô Thị
Khang dịch thuật, giới thiệu bốn vị tướng lừng danh trong lịch sử phong kiến
Trung Hoa về tài cao, đức trọng, về những cống hiến lớn lao cho các vương triều
phong kiến nói riêng và lịch sử trung Hoa nói chung.
Chúng tôi tin rằng cuốn sách nhỏ này sẽ cung cấp cho bạn đọc
những thông tin giá trị, những chứng cứ khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của
các danh tướng trung Hoa suốt đời tận tuỵ vì dân, vì nước (Trung Hoa) mà các
cuốn sách khác chưa đề cập đến hoặc đề cập đến còn ở mức độ nào đó.
Trân trọng giới thiệu KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG VÀ NHỮNG TỂ
TƯỚNG ĐẠI TÀI do nữ dịch giả Tô Thị Khang dịch thuật.
*
Hà Nội, ngày 3 tháng 4 năm 1997
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI
LỜI VỀ TẬP SÁCH:
SÓNG
GIÓ NỘI CUNG
(Thay
cho lời nói đầu cuốn SÓNG GIÓ NỘI CUNG)
Lịch sử
phong kiến Trung Quốc là lịch sử thay đổi liên tục các vương triều, các
"thiên tử". Mỗi triều đại, mỗi quân vương, nhìn chung chỉ tồn tại với
quãng thời gian ngắn ngủi. Sở dĩ các vương triều chết yểu do nhiều nguyên nhân
nhưng cơ bản là do người kế vị sau đó, sau vị vua khai quốc một vài đời đã
không xứng đáng là "con trời" để "thay trời hành đạo",
"chăn dắt muôn dân". Họ là những kẻ hoặc ngu đần, bạc nhược hoặc bất
tài, hoang dâm, hoặc kiêu căng, ưa xiểm nịnh, bụng dạ tiểu nhân... nên trong
thời gian tại vị đã làm đảo điên xã hội, gây ra bao thảm cảnh mà "thần và
người đều căm giận" nên đã bị "trăm họ" phế truất vai trò của họ
ra khỏi chính trường.
Chế độ
phong kiến là chế độ thế tập quyền uy nên quyền lực của nhà vua là tối thượng.
Nền chính trị tập quyền khiến các đế vương không cần sức kiềm chế. Một đấng
minh quân hết lòng chăm lo đến muôn dân, xã tắc sẽ ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ
và hành động của các cận thần dưới quyền, làm cho muôn dân no ấm, đất nước được
cường thịnh, nhưng một vị hôn quân thì xuất phát từ ân oán cá nhân, tin dùng
bọn xiểm nịnh làm cho muôn dân điêu đứng, đất nước bị loạn lạc, triều chính bị
tan nát để rồi dẫn đến sự diệt vong vương triều.
Dương
Long Diễn, đường đường là một quân vương, mà bị cha con Từ Tri Huấn phỉ báng,
làm nhục. Thời gian ở ngôi đế vương của ông ta dễ đến mười năm nhưng chưa một
lần Dương Long Diễn thực sự được làm thiên tử. Bản chất hèn mạt, ham sống sợ
chết đã biến ông ta thành kẻ hầu hạ cho cha con họ Từ, làm đảo lộn luân thường
đạo lý: Bề tôi bỡn cợt thiên tử, đại thần đánh đập nhà vua.
Chu Cẩn
vì dốc lòng phò tá nhà Ngô mà ra tay tiễu trừ Từ Tri Huấn, nhưng thật nực cười,
trớ trêu, vị đế vương bù nhìn Dương Long Diễn (Ngô Cảnh Đế) đã quay lưng phản
bội lại sự cúc cung, tận tuỵ quên mình của các trung thần nghĩa sĩ, dẫn đến cái
chết thê thảm của đại tướng Chu Cẩn và mấy chục trung thần.
Lưu
Sưởng, vị hoàng đế cuối cùng của vương triều Nam Hán là một vị đế vương ngu
muội và lẩm cẩm. Cuộc đời của y là cuộc đời của những việc làm xằng bậy, những
điều luật quái gở, tàn ác, những hành vi hoang dâm vô đạo. Từ thời Bàn Cổ khai
thiên lập địa đến Tam Hoàng Ngũ đế, rồi đến tận bấy giờ chưa có một đế vương
nào lại ra điều kiện tuyển dụng làm quan trong triều thì trước hết phải tự
thiến, nếu không tự thiến được thì triều đình sẽ thiến hộ, vậy mà Lưu Sưởng lại
ban ra cái chiếu chỉ chết người ấy.
Quái
đản và vô đạo hơn nữa, Lưu Sưởng còn bắt bề tôi giao hết xe ngựa, áo cầu cho
nhà vua sử dụng, còn chuyện chăn gối của “thiên tử” thì “trẫm” vui lòng dùng
chung với thần dân trăm họ. Bản thân Lưu Sưởng không những dâm dật, thiện nghệ
trong chuyện làm tình mà còn rất thích xem người khác hành lạc. Nhà vua thường
xuyên tuyển những đám thiếu niên hư hỏng cho cặp đôi với cung nữ, từng đôi,
từng đôi trần truồng mà làm tình ở hậu viên để nhà vua thưởng thức, tùy theo sự
điêu luyện mà phạt roi hay ban thưởng. Tệ hơn nữa, Lưu Sưởng còn cho tuyển
những diện thư (đĩ đực) thật đẹp trai vào cung để chăn gối với Mị - Trư (người
được vua sủng ái nhất). Thật là trường hợp độc nhất vô nhị mà cổ kim chưa hề
có.
Võ Tắc
Thiên, vị nữ hoàng đế đầu tiên và duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc
đã không từ một thủ đoạn tàn khốc nào để đả kích và tiêu diệt những kẻ đối lập
về chính trị để dần dần chiếm đoạt ngôi báu. Thời gian ở ngôi đế vị, Võ Tắc
Thiên có nhiều cống hiến cho lịch sử Trung Quốc, nhưng những việc làm tàn bạo
để củng cố địa vị của bà thì mãi mãi lịch sử Trung Quốc còn nhiều đàm luận.
Từ địa
vị một tài nhân, Võ Tắc Thiên bước dần lên ngôi hoàng hậu để rồi từ đó trèo lên
chiếc ngai vàng, tự xưng là hoàng đế. Bà không những thẳng tay đàn áp những
người đối nghịch, (cho dù đó là người trong gia tộc) mà ngay cả con cái đứt
ruột đẻ ra, bà cũng thẳng tay trấn áp. Việc trả lại triều chính cho nhà Đường,
loại bỏ đế hiệu, trở lại ngôi hoàng hậu lúc cuối đời là biểu hiện sự bế tắc,
khủng hoảng về tư tưởng của Võ Tắc Thiên. Điều đó cho thấy dù Võ Tắc Thiên có
là một bậc kỳ tài, có thể lập lên những kỳ tích trong lịch sử nhưng bà cũng
không thể thoát khỏi sự trói buộc về tư tưởng trọng nam khinh nữ, không thể vượt
quá phạm vi mà điều kiện lịch sử cho phép, buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị
với tư thế của kẻ chiến bại.
Những
ai đã đọc và hiểu về lịch sử vương triều Tây Tấn, hẳn sẽ không quên câu chuyện
về Huệ Đế Tư Mã Ai (tức Tư Mã Trung) khi còn làm Thái tử đã hỏi cận thần những
câu hỏi ngớ ngẩn: - “Tiếng ếch kêu là của công hay của tư?”. Dân tình đói khổ,
hôn quân Huệ đế lại phán một câu thật nực cười: - “Sao không nấu cháo thịt mà
ăn?”. Huệ đế Tư Mã Ai là ai? Xin thưa đó là hoàng thượng của nhà Tây Tấn! Là
chồng của người đàn bà thác loạn trong tính giao: Giả Nam Phong!
Sống
cạnh một hôn quân ngu ngốc, ngớ ngẩn như Tấn Huệ Đế, người đàn bà “mặt hai màu”
ấy đã viết vào lịch sử Trung Quốc những dòng nhơ bẩn, với những tội ác không
thể tha thứ. Vì hoang dâm vô độ, ả đã giết biết bao thiếu niên xinh đẹp, sau
khi đã hầu hạ chăn gối qua đêm cho ả. Không những tàn bạo trong tính giao, Giả
Nam Phong còn làm biết bao điều bạo ngược: Ra lệnh bắt giam thái hậu Dương
Chính vào cung Vĩnh Ninh rồi bỏ chết đói; Thẳng tay giết chết những trung thần
tài giỏi không thuộc phe cánh của mình; Đầu độc thái tử, biến dần Thái tử từ
người có tư chất, ham học hỏi, nhân nghĩa thành kẻ bạo ngược, hoang dâm và bần
tiện để rồi chọn đúng cơ hội ra tay tàn sát. Chén thuốc độc mà Tấn Huệ Đế ban
cho (thực ra là của Triệu vương Tư Mã Luân) đã kết thúc cuộc đời người đàn bà
bạo ngược, hoang dâm và tàn ác có một không hai trong lịch sử Trung Hoa. Cái
chết của Giả Nam Phong cũng đồng thời kéo theo chấm dứt sự tồn tại của nhà Tây
Tấn, đưa đất nước Trung Hoa vào một thời kỳ hỗn loạn: Nam Bắc phân liệt kéo dài
suốt 400 năm.
Chu Do
Kiểm, vị vua cuối cùng của vương triều Minh kế nghiệp tổ tiên khi đất nước ngày
một sa sút, các mâu thuẫn xã hội phát triển gay gắt, các thế lực chính trị đang
trong tình trạng quyết đấu một mất một còn. Những năm đầu nắm quyền bính, Minh
Nghị Tông đã mang hết khả năng của tài trai, sức trẻ phụng sự cho xã tắc, đưa
vương triều Minh tránh được nguy cơ của sự diệt vong, tiến lên một bước. Nhưng
thật đáng tiếc, ông vua trẻ tuổi này đã sớm hỉ hả trước những thành tựu của
mình để lao vào trò chơi quyền lực, tin yêu hoạn quan, bỏ bê triều chính. Mười
bảy năm làm vua, Chu Do Kiểm đã đuổi hơn 50 người ra khỏi nội các, thay đổi các
thượng thư như đèn cù, không khống chế được tài chính quốc gia, giết và bãi
chức rất nhiều trung thần tài giỏi, đặc biệt là giết oan Viên Sùng Hoán một
danh tướng dũng cảm, lắm mưu nhiều kế, hiếm có bấy giờ để sau mười bảy năm cầm
quyền, Chu Do Kiểm vị vua thứ tư của vương triều Minh đã để mất nước, tự kết
thúc cuộc đời bằng sợi dây treo cổ.
Ngũ Tử
Tư, một trung thần của vương triều Ngô, có nhiều công lao trong việc xây dựng
và bảo vệ triều đại nhà Ngô. Ông là nỗi khiếp sợ của cả vua tôi Việt Vương, là
niềm tin và ý chí của người dân nước Ngô, thế nhưng chỉ vì nóng nảy, trực tính
mà đang là “tướng phụ” đầy quyền uy phải chấp nhận hình phạt tự xử của Ngô Phù
Sai. Chiến trận đã sinh ra “tướng phụ”, gươm đao và hào khí của chiến trường đã
tạo ra một Ngũ Tử Tư đại tài, dũng mãnh nhưng rồi cũng chính gươm đao ấy đã kết
thúc cuộc đời ông trong nỗi đau của trần thế, trong tiếng nức nở nghẹn ngào của
người dân nước Ngô và trong tiếng rên rỉ của một triều đại phong kiến đã đến
ngày mạt vận. Những giọt nước mắt hối hận của Phù Sai không thể làm sống lại
một Ngũ Tử Tư trung thần, ái quốc, không thể làm dịu đi nỗi uất hận của người
dân nước Ngô và càng không thể vực dậy được vương triều Ngô đã đến ngày tận
thế.
Khuất
Nguyên, một chính trị gia uyên bác thời chiến quốc rất giỏi về ngoại giao, có
tài về chính trị, ông đã nhận thấy: Nước Sở có giàu mạnh lên mới có thể thoát
khỏi sự uy hiếp của nước Tần. Vì vậy ông đã đề xuất những chính sách:
"Liên Tề chống Tần", "Cải cách những tệ hại về chính trị để chấn
hưng đất nước" được Sở Hoài Vương tín nhiệm. Nhưng chẳng bao lâu, Khuất
Nguyên gặp phải sự chống đối kịch liệt của tầng lớp quý tộc hủ bại, sợ cải cách
vì sợ ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân nên đã đặt điều vu khống, bài xích
ông trước mặt Sở Hoài Vương khiến Sở Hoài Vương đày ông biệt xứ.
Dời
khỏi vũ đài chính trị, ông trở thành "kẻ bị biếm thích". Cuộc sống
của người bị lưu đày biệt xứ khốn quẫn vô cùng nhưng nỗi đau duy nhất, cao hơn
nỗi khổ nhục của kẻ bị đày biệt xứ là nỗi đau phải chứng kiến sự diệt vong đang
đến dần của nước Sở - nơi ông đã yêu thương, hi sinh đến trọn đời. Đô thành
nước Sở bị quân Tần chiếm đóng đã kết thúc vương triều Sở, cũng đồng thời kết
thúc cuộc đời và lý tưởng cao đẹp của Khuất Nguyên dưới dòng sông Mịch La cuộn
trào sóng hận. Sở Hoài Vương! Vị đế vương thích nghe những lời phỉnh nịnh ngọt
ngào kia dẫu có chết đến nghìn lần cũng không thể chuộc lại những lỗi lầm mà y
đã mắc phải.
Ở chế
độ mà đế vương có quyền hạn tối thượng ấy, không những sinh mạng của mọi người
khó bảo toàn mà thậm chí đến sinh mạng của đấng chí tôn cũng khó được bảo đảm
vì những âm mưu cung đình cứ ngấm ngầm tạo dưỡng trong nội bộ vương triều từng
giờ từng phút. Chế độ thế tập quyền uy đã sản sinh ra những âm mưu, thủ đoạn,
những việc làm bất nhân, bất nghĩa, chà đạp lên luân thường đạo lý. Chỉ vì
chiếc ngai vàng, vì chỗ ngồi quyền lực mà gia đình tan nát, nồi da xáo thịt:
Cha giết con, em giết anh, con giết bố... dẫn đến cảnh đất nước loạn lạc. Đi
hết tập sách này, bạn đọc sẽ thốt lên đau đớn, phẫn nỗ: Đâu rồi tính người ở
những ông vua? đâu rồi phụ tử tình thâm - đặc trưng cơ bản của xã hội loài
người - ở các hoàng tộc?
Bộ sách
"CHUYỆN VUA CHÚA TRUNG HOA" ghi chép gần một trăm quân chủ phản diện
kiểu như vậy. Họ là những kẻ đại diện cho thế lực thống trị thối nát ở Trung
Quốc từ xã hội nô lệ đến chế độ phong kiến. Trong số những vị hôn quân đó, có
những vị đế vương trong những năm đầu nắm quyền bính là những ông vua sáng
suốt, có nhiều công tích, hoặc đứng ở mặt nào đó là những thiên tài nhưng hoặc
do kiêu căng, dâm dật, hoặc do ân oán cá nhân, hoặc do bị lung lạc bởi hoạn
quan, ngoại thích mà trở nên bạo ngược, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan; nhưng có
những vị đế vương ngay từ ngày mới được kế vị đã lao vào ăn chơi đàng điếm,
không có ý chí, thậm chí còn có ngớ ngẩn, đần độn trong hành xử... nên trong
thời gian tại vị họ chỉ biết lao vào những lạc thú riêng tư, bỏ bê triều chính,
xáo trộn xã hội, dẫn đến sự sụp đổ cả một vương triều.
Công ty
Văn Hóa Bảo Thắng trân trọng giới thiệu với Quý bạn đọc: "SÓNG GIÓ NỘI
CUNG", tập đầu của bộ sách 15 tập về “thâm cung bí sử” của các ông hoàng
bà chúa (Trung Hoa) như thế, do Lý Khắc Cung dịch thuật.
*.
Hà nội,
ngày 17 tháng 04 năm 2002
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
VÀI
CẢM NHẬN KHI XEM PHIM
BỐ
GIÀ (WEB DRAMA) CỦA TRẤN THÀNH
BỐ GIÀ (Web drama) là bộ phim giải trí, đậm đặc chất thương
mại, thực hiện rất kỹ ngay từ khâu viết kịch bản. Từ việc quy tụ các ngôi sao
"ăn khách", các "hiện tượng mạng" đã được Trấn Thành cẩn
thận "đo chân đóng giày" (cho diễn viên thể hiện) với từng hình tượng
nhân vật để hút fan tới rạp, đến việc lồng quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ...
vào phim đều được tác giả kịch bản kiêm nhà sản xuất Trấn Thành khéo léo
"bày binh bố trận" theo đúng chiến lược kinh doanh của một doanh
nghiệp.
Kịch bản được viết theo kiểu "đo chân đóng giày"
cho từng vai diễn nên các diễn viên có nhiều đất diễn để tròn vai. Ví như: “Má
Ngọc Giàu” diễn tự nhiên, rất đời, khiến những tình tiết trong các phân đoạn có
sự xuất hiện của nghệ sĩ Ngọc Giàu trở nên chân thực, sống động. Hay như Khả
Như xuất hiện chỉ thoảng qua nhưng cô vẫn kịp để lại dấu ấn khó quên bởi sự
xinh đẹp và nét duyên của cô trong vai diễn có nhiều nét hài tình huống. Hoặc
Trúc Nhân, chàng ca sĩ nổi đình đám với những ca khúc: "Bốn
chữ lắm", "Thật bất ngờ".... vẫn nhí nhố
đáng yêu trong tạo hình một chàng "bóng
lẹo hám trai"....
Sở dĩ phim Việt Nam những năm gần đây thường bị khán giả quay
lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó có khâu kịch bản thiếu thực tế, không đưa
được hơi thở thực của cuộc sống vào trong phim... "BỐ GIÀ" (Web
drama) của Trấn Thành đã làm rất tốt ngay từ khâu viết kịch bản, đã đưa được
những lát cắt "phổ cập" của cuộc sống vào trong phim mà các gia đình
người Việt Nam ít hay nhiều đều có.
Báo chí ca ngợi Trấn Thành quá nhiều khi anh đảm nhận vai
ông bố (Ba Sang) trong BỐ GIÀ chiếu ở rạp, coi đó là “hiện tượng”, và khen ngợi Trấn Thành thực sự đã trở thành “diễn viên ngôi sao”... Chưa xem phim BỐ
GIÀ chiếu ở rạp nên tôi không biết Trấn Thành có xứng đáng với những lời khen
ngút ngàn về diễn xuất như vậy hay không nhưng xem BỐ GIÀ (Web drama) thì tôi
thấy anh đã hoàn thành vai diễn khá tốt.
Tuy vậy, xem Trấn Thành diễn trong BỐ GIÀ (Web drama), tôi
thấy anh trội về diễn hài nhưng đuối về diễn bi. Chẳng hạn, ở cảnh quay Sang
(Tuấn Trần) chịu thay ông Thành (Trấn Thành) nhát dao đâm trả thù của bọn cướp,
Trần Thành diễn khá đơ, nhất là khi quay cận cảnh khuôn mặt ông Thành, Trấn
Thành không những để lộ khả năng diễn bi không giỏi còn “tố” tay nghề nghiệp dư
của anh. Cũng may, chỉ sau vài nhịp, Trấn Thành đã nhập vai trở lại, cùng Tuấn
Trần lấy nước mắt của khán giả. Ở những thước phim này, diễn viên trẻ Tuấn Trần
vào vai khá nhuyễn và chính sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý của cặp đôi bố con
Thành - Sang đã cống hiến cho khán giả những thước phim "chân thực",
lột tả được tình cha con đang hiện hữu trong cuộc sống đời thường.
Hay như ở những thước phim cuối của tập 4, ở cảnh quay Sang
(Tuấn Trần) đặt con dao ở bàn và nói: -“Ba
sinh một đứa con, ba cho nó sự sống nhưng ba không cho nó sống theo cách mà nó
muốn sống thì lấy lại đi!”. Ở cảnh quay này, đạo diễn cho ông Thành đấm
Sang 2 cú đấm không đủ mạnh chỉ mang tính chất hù dọa vì tức giận rồi đổ sập
người xuống là hợp lý, phù hợp với tâm lí và tính cách của ông Thành: ngoài
cứng trong mềm, yêu con hết mực; vì bực mà đánh con nhưng vẫn sợ con đau nên 2
cú đấm "tung ra" chỉ "nửa vời", rồi bất lực đổ gục người
xuống. Ở cảnh quay này, Trấn Thành chưa diễn bật được: thành trì cứng rắn của
người cha gia trưởng và cố chấp (vì sợ con không phát triển được sự nghiệp sẽ
nghèo khổ) bị thách thức, bị đe dọa sụp đổ (nhưng chưa sụp đổ) trước phản kháng
của Sang. Hình ảnh ông Thành, qua cách diễn của Trấn Thành đã trở thành ông bố
nhu nhược, yếu đuối, dễ đầu hàng, thoái lui. Tôi nghĩ, đấy không phải là hình
tượng nhân vật trong ý đồ của tác giả kịch bản, của đạo diễn phim BỐ GIÀ (Web
drama). Và tôi thấy cũng lạ là Trấn Thành diễn nội tâm không giỏi mà đạo diễn
(hình như) lại thích khai thác quay cận cảnh những cảnh đòi hỏi diễn viên phải
là người thực sự có nghề! Rất may, Trấn Thành cũng có những thước phim diễn nội
tâm khá tốt, ví như khi phân đoạn Sang nằm cấp cứu trong bệnh viện (tập 5):
người xem đã thấy được những đau đớn, những giằng xé, những ân hận, xót xa và
nỗi bi ai tuyệt vọng trong con người ông Thành qua ánh mắt, giọng nói và nét
mặt của diễn viên Trấn Thành.
(Vai Sang, một trong những vai chính của BỐ GIÀ (Web drama),
do diễn viên trẻ Tuấn Trần đảm nhiệm cũng để lại ấn tượng tốt với người xem.
Tuy nhiên, vai diễn này cũng có những hạt sạn để người xem dễ dàng nhận ra đấy
là sản phẩm tay nghề của diễn viên nghiệp dư ví như khi ở phân đoạn Sang tập
bài cùng nhóm nhạc, vô tình bị bố Thành (Trấn Thành) bắt gặp, ở cảnh quay này
Tuấn Trần diễn (bị) thoát vai, người xem không thấy nhân vật Sang mà chỉ thấy
người mẫu Tuấn Trần đang làm mẫu ảnh.)
Xem 5 tập BỐ GIÀ (Web drama), đã thấy rõ những nét diễn
chuyên nghiệp của diễn viên Trấn Thành nên tôi tin: khoảng thời gian từ 2020
với BỐ GIÀ chiếu trên mạng đến 2021 với BỐ GIÀ chiếu ở rạp, đủ để một người đa
tài và đầy tham vọng chinh phục những thành công như Trấn Thành có thể tỏa sáng
như những lời khen của báo giới.
Viết vài cảm nhận khi xem phim BỐ GIÀ (Web drama) để tặng
con trai yêu Đặng Tuấn Hưng khi 2 giờ sáng thấy con viết trên tin facebook: “Xem phim Bố Già (chiếu rạp) thấy nhớ Bố quá”.
*.
Hà Nội, chiều 29 tháng 04-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
HÔN
QUÂN LƯU TỬ NGHIỆP
VÀ
VAI DIỄN CỦA TRƯƠNG DẬT KIỆT
- Viết tặng con yêu Đặng Tuấn Hưng -
Theo chính sử Trung Hoa thì Lưu Tử Nghiệp, tự Pháp Sư, là
con trưởng của Hiếu Vũ đế (vua Lưu Tuấn) và Vương Hoàng hậu. Nghiệp sinh năm
449, chết năm 465, ở ngôi vua chưa đầy hai năm. Mẹ của Lưu Tử Nghiệp là một phụ
nữ hiền thục, có công rất lớn trong việc củng cố ngôi Thái tử và đưa Lưu Tử
Nghiệp lên ngôi Hoàng đế.
Theo sách Sử Trung Quốc thì Lưu Tử Nghiệp "ít tuổi mà cường bạo, khi lên ngôi thì sự
ngang ngược lại càng quá quắt, thông dâm với cả chị ruột là Sơn Âm công chúa”
đều do Hoàng hậu Vương Hiến Nguyên sinh ra. Lưu Tử Nghiệp còn đưa em gái ruột
của vua cha (Hiếu Vũ đế) là công chúa Tân Sái Trường (còn gọi là Tân Thái) vào
cung lập làm "tiểu thiếp". Khi bị chú rể phát hiện, Lưu Tử Nghiệp đã
thằng tay tàn sát cả gia đình chú rể.
Sử Trung Quốc còn chép: “Nhà
vua dạo chơi ở Trúc Lâm đường trong Hoa Lâm Viên, bắt các phi, cung nữ và tả
hữu cởi truồng theo sau, hoặc bắt một số nữ hành lạc với một nam, hoặc một số
nam hành lạc với một nữ. Lại bắt cung nhân cởi truồng giao cấu với dê đực, khỉ
hoặc chó, lại trói ngựa đặt nằm ngửa trên mặt đất, bắt cung nhân lõa thể mà
giao hợp với ngựa. Một cung nữ không chịu, liền bị chặt đầu.”
Như vậy, Lưu Tử Nghiệp không chỉ là kẻ loạn luân mà đích
thực y còn là kẻ thác loạn trong tính giao.
Hình tượng hôn quân Lưu Tử Nghiệp trong bộ phim PHƯỢNG TÙ
HOÀNG (52 tập, phát sóng năm 2017) được các nhà làm phim Trung Quốc tái hiện
không hoàn toàn dựng theo chính sử, mà gia giảm “cốt truyện” để “biến tấu” hình
ảnh Lưu Tử Nghiệp bớt xấu xí và tàn ác trong mắt khán giả. Các nhà làm phim đã
đưa tính chân thực xuống hàng thứ yếu nên gia giảm (hư cấu) nhiều tình tiết “cốt
truyện” về Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp trong các mối quan hệ “mắt xích” với Lưu
Sở Ngọc, Lưu Úc, Lưu Hưu Nhân... để tái hiện hình ảnh Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp
“cũ mà mới”, “quen mà lạ” với khán giả là những bạn đọc có sự hiểu biết về
triều Lưu Tống là khá mạo hiểm, rất dễ thất bại khi công chiếu nhưng khi phim
được khởi chiếu, xem Trương Dật Kiệt thể hiện hình ảnh "thằng vua trẻ con
ngang ngược tàn ác" Lưu Tử Nghiệp thì khán giả dù khó tính cũng trầm trồ
trước tạo hình Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp mới nhưng không lạ, quen mà không cũ
qua diễn xuất “đóng đinh cho vai diễn” của nam diễn viên còn quá trẻ Trương Dật
Kiệt.
Trương Dật Kiệt sinh năm 1999, bắt đầu tham gia đóng phim
năm 2010. Khi tham gia phim PHƯỢNG TÙ HOÀNG anh mới 16-17 tuổi, đã thể hiện
xuất sắc vai diễn, làm sống lại một Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp tàn ác, phóng
túng, loạn luân và bất đạo như trong chính sử (Trung Quốc) và làm mới hình ảnh
hôn quân Lưu Tử Nghiệp với những trắc ẩn, đáng thương của “vị đế vương trẻ con
đa nhân cách Lưu Tử Nghiệp”.
Xem Trương Dật Kiệt diễn, khán giả như đang được chứng kiến
cuộc đời thực của Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp, với những hỉ nộ ái ố của một vị vua
trẻ con trong độ tuổi mới lớn, ở tâm lý tuổi nổi loạn, muốn khẳng định cái tôi
chủ quyền tối thượng của mình. Bực đấy, căm tức đấy nhưng rồi người xem cũng
động lòng trắc ẩn với những uẩn khúc, những bi thương trong quãng đời quá ngắn
ngủi nhưng cũng có quá nhiều việc làm xằng bậy, càn quấy của hôn quân Lưu Tử
Nghiệp.
Tôi đã bị “Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp” hớp hồn ngay từ những
thước phim đầu với cách nhếch miệng cười khẩy, cách phụng phịu bực tức, cách
hất tay đuổi cung nữ... đều mang dáng dấp còn “trẻ con” của hôn quân Lưu Tử
Nghiệp. Ở những thước phim này, người xem thấy một đế vương còn “con nít”,
phách lối kiểu con nít, vẫn phảng phất còn chút ngây thơ, chút bản tính lương
thiện khiến người xem ghét đấy mà cũng thương đấy nhưng đến những thước phim sau
đó, ở phân đoạn Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp cho gọi “2 con lợn” (cách Nghiệp gọi 2 chú ruột của y) đến để y “kiểm tra”
thể trạng trước ngày “cho lên vỉ nướng”,
Trương Dật Kiệt đã làm người xem bất ngờ về tài biến hóa hình tượng vai diễn đa
nhân cách của anh. Vừa mới hí hửng cười ngặt nghẽo trêu chọc “con lợn” Trư Vương Lưu Úc (tức Lưu Tông
Minh Đế, người kế ngôi vua sau khi Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp đã bị giết chết)
với vẻ khoái chí của "con nít” ở độ tuổi mới lớn, nhưng khi nghe Kiến An
vương Lưu Hưu Nhân (diễn viên Khương Bành) lớn tiếng hạch tội: - “Lưu Tử Nghiệp! Ngươi vừa đăng cơ liền vội
vàng giết chết huynh đệ ruột của mình. Bây giờ với các thúc thúc của ngươi, sỉ
nhục đủ điều, hận không thể giết họ nhanh hơn chút. Rốt cuộc bọn ta đã làm sai
điều gì mà ngươi đối xử với bọn ta như heo như chó. Ngươi đừng có quên đây là
thiên hạ của nhà họ Lưu không phải của một mình Lưu Tử Nghiệp ngươi đâu. Ngươi
cứ cốt nhục tương tàn như vậy, tung hoành ngang dọc khiến người trong thiên hạ
không yên ổn rồi!”, đã chuyển phắt sang sắc mặt lạnh tanh rồi chiếu ánh mắt
đằng đằng sát khí tiến về phía Kiến An vương Lưu Hưu Nhân với tác phong lạnh
lùng, bình thản của kẻ quyền uy tối thượng: - “Ngươi nói lại lần nữa xem! Ngươi không nói ta còn không biết đó chứ!
Ngươi bất mãn với ta nhiều như vậy sao?”. Tưởng sẽ giết chết ngay Kiến An
vương Lưu Hưu Nhân nhưng Lưu Tử Nghiệp lại phá lên cười, thích thú với trò tiêu
khiển mới khi phát hiện Trư Vương Lưu Úc (diễn viên Lưu Ân Thượng) vì sợ quá mà
tè ra quần. Sự độc ác, tàn bạo của Lưu Tử Nghiệp được đẩy lên điểm tận cùng khi
trêu đùa đã chán chê Trư Vương Lưu Úc, y liền tiến tới Kiến An vương Lưu Hưu
Nhân, chiếu ánh mắt sắc lạnh cùng giọng nói rành rẽ nặng những âm khí chết
chóc: “Được rồi! Đợi Trư Vương giải quyết
xong việc lớn, 2 các ngươi lại cùng nhảy lên vỉ nướng xem nào. Ta lại rất muốn
nhìn xem Hoàng thúc ngươi lúc ở trong lửa nóng có thể kiên cường giống bây giờ
hay không?”. Rồi phá lên cười đắc thắng bằng vẻ mặt hả hê của một thằng trẻ
con độc ác.
Xem Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp, tôi thích cách diễn của
Trương Dật Kiệt ở những phân đoạn mà cái ác của Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp được
đẩy đến đỉnh điểm như khi y cho gọi 2 chú ruột là Lưu Úc và Lưu Hưu Nhân đến để
y kiểm tra “thể trạng” trước ngày “cho lên vỉ nướng”, hay khi Lưu Tử Nghiệp
hành xử bất đạo, thảm sát hàng loạt cung nữ ngay ngày đầu Đại tang Thái Hậu (mẹ
đẻ của y), hoặc khi y ra lệnh giết hết đám trẻ hát bài đồng dao “Hoàng đế thật hoàng đế giả”... Sự phẫn
nộ trước những việc làm tàn ác, bất đạo của khán giả với Lưu Tử Nghiệp được
Trương Dật Kiệt đẩy lên điểm đỉnh cao trào nhưng cũng (gần như) liền ngay sau
đấy Trương Dật Kiệt lại “hạ nhiệt” sự phẫn nộ đó bằng những diễn xuất “bao
biện” cho cái ác của Lưu Tử Nghiệp được phát sinh từ sự phách lối, ngang ngược
bởi tâm hồn bị khuyết tật của một đứa trẻ. Ở các phân đoạn này, Trương Dật Kiệt
đã để tính cách “vẫn còn trẻ con” chi phối những hành động bộc phát của Lưu Tử
Nghiệp khi yêu, khi ghét, khi giận dữ, khi làm các việc tàn ác, bất đạo...
khiến người xem vừa căm, vừa hận, vừa ghét, vừa động lòng trắc ẩn thương Lưu Tử
Nghiệp. Đành rằng tạo tính cách cho hình tượng nhân vật Tiền Phế đế Lưu Tử
Nghiệp là do ý tưởng của tác giả kịch bản và ý đồ của đạo diễn nhưng với sự
nhập vai của diễn viên Trương Dật Kiệt thì ý đồ đó không những đã thể hiện sắc
nét mà còn được thăng hoa xuất sắc qua diễn xuất đóng đinh cho vai diễn của
Trương Dật Kiệt. Xem Trương Dật Kiệt diễn, người xem ngộ ra điều: Cái ác không
phải tự nó sinh ra mà nó được bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa do chính
con người (trong đó có cả những nạn nhân) góp phần khởi tạo, bởi con người vốn
dĩ như người xưa đã nói: “Nhân chi sơ
tính bản thiện”.
Một điểm nhấn trong thành công ở vai diễn Tiền Phế đế Lưu Tử
Nghiệp là Trương Dật Kiệt diễn nội tâm rất giỏi, nhất là khi xem những phân
cảnh ở những phân đoạn có sự xuất hiện nhân vật Lưu Sở Ngọc (diễn viên Quan
Hiểu Đồng) người xem cảm nhận được bản chất hiền lương vẫn còn sót lại, với
những khao khát yêu thương được sẻ chia, được bù đắp bên cạnh sự nổi loạn phách
lối của tính cách ngang ngược, hung ác... trong con người đa nhân cách của quân
vương trẻ con Lưu Tử Nghiệp. Những thể hiện xuất sắc qua sắc thái của ánh mắt,
nụ cười, hay cái cau mày, nhếch miệng hoặc cử chỉ nũng nịu, đến cái mím môi,
quắc mắt khi trở mặt... đều rất có hồn ở từng phân cảnh cụ thể của diễn viên
Trương Dật Kiệt đã dẫn dắt người xem cùng dõi theo sự phát triển kịch tính của
nhân vật.
Xem những bộ phim như thế này mới thấy BỐ GIÀ của Trấn
Thành, một bộ phim làm hao tốn kha khá giấy mực và thời gian tranh luận của
những người làm điện ảnh ở Việt Nam đầu năm 2021, còn đứng ở vị trí bên dưới
xa... xa lắm.
*.
Hà Nội, sáng 04 tháng 11-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Phần 2: CẢM NHẬN
1. Bài
thơ “Lửng đèo tình khúc” của Phạm Thành
2. Mơ
quê trong “Xóm cỏ” của Nguyễn Khôi
3. Về
câu kết 2 bài thơ “Thăm bạn” và “Đồng vọng” của nhà thơ Đồng Thị Chúc
4. Bài
thơ “Phiên chợ Dào San” của Trương Hữu Thiêm
5. Đọc
“Mợ Hữu” của Trần Nhuận Minh
6. “Ngẫm
chiều” - Bài thơ độc đáo của Bùi Cửu Trường
7. Bài
thơ “Khóc chồng” của Đồng Thị Chúc
8. Bài
thơ “Quê choa” của Đinh Sỹ Minh
9. Bài
thơ “Cái tôi” của Ái Nhân Thi Sỹ
10. Vài
cảm nhận khi đọc “Thu vàng phố cũ” của Hoàng Xuân Sơn
11.
“Lạc” của Khét
12.
“Đau đến lơ ngơ” cùng Nguyễn Đức Hạnh
13. Bài
thơ “Hương Dương Cầm” của Nguyễn Thanh Lâm
14. Đọc
“Tình nhân ơi” của Trần Hạ Vi
15. Vài
cảm nhận khi đọc “Gọi đêm trở gió” của Bùi Cửu Trường
16. Đọc
“Quê trong phố” của Nguyễn Xuân Môn
17. Vài
suy nghĩ khi đọc lão Gàn chửi quan tham
18. Vài
suy nghĩ khi đọc “Thuyền neo bến lạ” của Phúc Toản
19. Đọc
“Rét Bân nhớ Mẹ” - Ngày 8 tháng 3
20, Cảm
đọc gã khờ trong “Mộng mị” của Nhụy GiaLai
21. Đọc
“Tháng 4 màu nhớ” của Phạm Đức Mạnh
22. Như
một bài tập làm văn - Thơ Trần Vấn Lệ
23. Vài
cảm nhận về 2 bài thơ tình của cậu học trò lớp 12
24. Cảm
nhận ngắn về bài thơ “Nói với mẹ - mùa xuân”
25. Cảm
nhận ngắn về bài thơ “Đóm đóm tuổi thơ”
26. Vài
cảm nhận về 2 bài thơ viết về chiều 30 Tết
27. Thơ
viết về Mẹ của Đồng Thị Chúc
28. Đọc
“Cõng Mẹ” của Nguyễn Văn Song
29. Vài
suy nghĩ về mấy câu kết bài thơ “Khóc giữa ban chiều”
30. Vài
cảm nhận khi đọc “Thăm bạn” của Đồng Thị Chúc
31. Vài
suy nghĩ khi đọc truyện ngắn “Đùa của tạo hóa”
32. Gặp
Trần Quang Đạo trong mưa Xuân
BÀI THƠ “LỬNG ĐÈO TÌNH KHÚC”
CỦA PHẠM THÀNH
Tôi đọc bài thơ Lửng Đèo Tình Khúc của nhà thơ Phạm
Thành cách đây chừng tháng, hơn tháng. Cũng định viết vài dòng cảm nhận khi đọc
Lửng
Đèo Tình Khúc nhưng lúc đó lưng tôi đau quá nên tạm lưu bài thơ vào mục
xem sau để khi nào lưng bớt đau sẽ viết vài dòng cảm nhận.
LỬNG
ĐÈO TÌNH KHÚC
Vẻ đại ngàn dường như pha loãng
Trưa Đèo Cà nắng cũng ngập
ngừng hoang
Kìa, gái Tày đợi ai mà bồn chồn
tròn bóng
E ấp khăn thêu gợi những nét
rằm
Nhí nhảnh kèn lá giọng chòe lửa
Vui mùa vàng rưng rức những bậc
thang
Bỗng đàn môi vọng từ nơi bờ
suối
Mắt gái cười lúng liếng cả
hoang sơ
Chao ôi! Tình rừng quyện độc
đáo đến không ngờ.
*
PHẠM
THÀNH
Đọc 3 chữ "ngập
ngừng hoang" trong câu: "Trưa
Đèo Cà nắng cũng ngập ngừng hoang", tôi nhớ tới câu thơ cũng độc đáo
của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm trong bài thơ Hương Dương Cầm:
"Tiếng Dương Cầm
loang loáng ướt
Ngập ngừng rơi."
Hai chữ "ngập ngừng" được 2 nhà thơ sử dụng đều
làm cho câu thơ sống động đến mê hoặc người đọc. Với "ngập ngừng rơi"
của "Tiếng Dương Cầm loang loáng ướt",
Nguyễn Thanh Lâm đã biến Hương Dương Cầm thành vẻ đẹp của
tình yêu và nỗi nhớ rất đặc trưng riêng của người Hà Nội. Còn với "ngập ngừng hoang" của "nắng" "trưa đèo Cà", Phạm Thành không chỉ thổi vào Lửng
Đèo Tình Khúc vẻ đẹp hoang sơ quyến rũ với những phóng khoáng rất đặc
trưng của nắng gió đại ngàn mà còn “pha
loãng” làm mềm mại, sống động hơn chất hoang sơ của núi rừng bằng hiện diện
của con người qua cách nói gián tiếp ở 2 câu đầu bài thơ bằng những cặp từ “pha loãng”, “ngập ngừng hoang”. Từ "hoang"
ở câu thơ "Trưa Đèo Cà nắng cũng
ngập ngừng hoang" khiến người đọc lâng lâng tâm trạng cũng muốn phiêu
cùng "nắng đèo Cà" để được
"ngập ngừng hoang".
Bốn câu thơ:
"Kìa, gái Tày đợi
ai mà bồn chồn tròn bóng
E ấp khăn thêu gợi những
nét rằm
Nhí nhảnh kèn lá giọng
chòe lửa
Vui mùa vàng rưng rức
những bậc thang"
Có thể tách ra đứng riêng thành một bài thơ.
Với cách dùng chữ độc đáo, lạ mà hay ở 4 câu thơ này: "bồn chồn tròn bóng", "giọng chòe lửa", "rưng rức những bậc thang"... Nhà
thơ Phạm Thành đã khắc họa chân dung thiếu nữ Tày hồn nhiên những nét tươi xinh
tuổi mới lớn, đượm cùng vẻ đẹp hoang sơ “rưng
rức” của núi rừng. Bốn câu thơ đã vẽ một bức tranh sống động với ăm ắp
những nhạc, những họa, đã gieo vào hồn bạn đọc những rung cảm tươi tắn khó
quên.
Câu: "Kìa, gái
Tày đợi ai mà bồn chồn tròn bóng" viết thật tự nhiên, tỏ sự ngạc nhiên
và thích thú của thi nhân trước hình ảnh thiếu nữ Tày đang "bồn chồn" ngóng đợi người yêu. Bốn
chữ "bồn chồn tròn bóng"
nói được thật nhiều điều về không gian, thời gian và tâm trạng nhớ nhung, chờ
đợi... của thiếu nữ. Cách ngắt câu bằng dấu phẩy (,) giữa "Kìa" với "gái Tày đợi ai mà bồn chồn tròn bóng" không chỉ làm tăng sự
ngạc nhiên của thi nhân với “trưa đèo Cà”
mà còn khe khẽ bật lên thanh âm như một tiếng reo thi vị.
Bài thơ sử dụng những cặp từ láy, những động từ: "ngập ngừng", "rưng rức", "bồn chồn", "lúng liếng", "e ấp", "nhí nhảnh" rất đắc dụng, làm sáng lên vẻ đẹp hồn nhiên trong
trẻo của thiếu nữ miền sơn cước!
Hai câu:
Bỗng đàn môi vọng từ nơi
bờ suối
Mắt gái cười lúng liếng
cả hoang sơ
Đã chuyển nhịp bài thơ, thay cảnh bài thơ bằng một cái kết
viên mãn, thật đẹp cho thiếu nữ “bồn chồn
tròn bóng” ngóng đợi người yêu. Câu “Mắt
gái cười lúng liếng cả hoang sơ” níu hồn người đọc.
Theo tôi, bài thơ kết thúc ở đây thì thật hay, thật đẹp.
Tiếc là, nhà thơ Phạm Thành lại cho thi nhân chen vào lời cảm
thán: "Chao ôi! Tình rừng quyện độc
đáo đến không ngờ." để kết thúc Lửng Đèo Tình Khúc đã phá vỡ mất kết
cấu toàn bích của bài thơ.
*.
Hà Nội, sáng 12 tháng 11-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
MƠ
QUÊ TRONG “XÓM CỎ”
CỦA
NGUYỄN KHÔI
--------------------
XÓM CỎ
"Khóm
tre già đợi gió đứng bên ao"
- Anh Thơ
(Tặng: Đặng Xuân Xuyến)
-------
Mơ...
được bỏ Cao Tầng về Xóm Cỏ
Ngồi
bờ đê hít thở với sông dài
Ngắm
dáng con đò trước cầu cao ngạo nghễ
Bãi
ngô non thấp thoáng bóng ai...
Ta
là kẻ lạc loài chán chê Phố Thị
Chàng
Nhà Quê mê kéo vó đêm
Thả
hồn thơ cùng chị Hằng "tăm" cá
Cánh
tay trần "cất" cả ánh trăng lên...
Ta
muốn quên cái thời đang biến động
Chỉ
vài hôm đã sạch lũy tre làng!
Cánh
đồng xanh đã thành Đô Thị Mới
Ở
giữa quê như chẳng có Quê Hương?!
Còn
chút hẻo lẻ loi chòi Xóm Cỏ
Ta
ra đây ngụ với Bác cu Bần
Nuôi
vịt, trồng rau...xuống sông kéo vó
No
cái mùi Hoa Cỏ nức hương xuân...
*
Bắc Ninh, 12 tháng 03.2016
NGUYỄN KHÔI
LỜI BÌNH:
Lẽ thường, người ta mơ "từ quê" được "ra
tỉnh", để được sống không khí náo nhiệt, sầm uất nơi phố xá, thị
thành, thì nhà thơ Nguyễn Khôi lại mơ bỏ phố về làng, ngược với lẽ thường của
nhân thế:
Mơ… được bỏ Cao Tầng về
Xóm Cỏ
Ngồi bờ đê hít thở với
sông dài
Ngắm dáng con đò trước
cầu cao ngạo nghễ
Bãi ngô non thấp thoáng
bóng ai...
Nhà thơ tự nhận mình "là kẻ lạc loài chán chê Phố Thị" nên mới mơ khác lẽ thường ở
đời: "bỏ Cao Tầng về Xóm Cỏ",
để được là:
Chàng Nhà Quê mê kéo vó
đêm
Thả hồn thơ cùng chị
Hằng "tăm" cá
Cánh tay trần
"cất" cả ánh trăng lên...
Những câu thơ đẹp, hàm súc và tươi tắn chất thôn quê.
Những hình ảnh lãng mạn mà khỏe khoắn, phóng khoáng mà dung
dị đời thường của “Chàng Nhà Quê”
đượm hồn quê trong giấc mơ quê.
Tôi ngẩn ngơ với câu: “Cánh
tay trần “cất” cả ánh trăng lên...”.
Nét tài hoa của nhà thơ Nguyễn Khôi ở những câu thơ này là
sử dụng câu chữ rất "đắc địa", đặt đúng vị trí, đúng hoàn cảnh, đúng
ngữ cảnh, không thể xáo trộn, thay đổi. Ví như câu: "Cánh tay trần "cất" cả ánh trăng lên..." nếu bỏ hoặc
thay chữ "trần" bằng một
chữ khác thì hình ảnh "cánh tay trần"
rất đẹp, gợi nét vạm vỡ, phong trần và đậm đặc chất đàn ông sẽ không còn nữa,
câu thơ sẽ thiếu “lửa”, nhạt đi và kém hay. Hoặc nếu thay từ "cất" bằng một từ khác thì câu thơ:
“Cánh tay trần “cất” cả ánh trăng lên...”
vốn hút hồn người đọc bởi hình ảnh thơ mộng, đẹp phóng khoáng kiểu Chử Đồng Tử
an nhiên tự tại giữa bãi Tự Nhiên: “cất”
cả ánh trăng lên...” sẽ không còn
nữa, câu thơ cũng vì thế mà mất hay, hết duyên.
Ta đọc tiếp khổ thơ thứ 3 xem nhà thơ nói gì:
Ta muốn quên cái thời
đang biến động
Chỉ vài hôm đã sạch lũy
tre làng!
Cánh đồng xanh đã thành
Đô Thị Mới
Ở giữa quê như chẳng có
Quê Hương?!
Ồ. Thì ra nhà thơ mơ bỏ Phố Thị về Xóm Cỏ là xót xa vì sự đô
thị hóa "lũy tre làng" nhanh quá, khủng khiếp quá, còn hơn cả tằm
"ăn rỗi": “Chỉ vài hôm đã sạch lũy tre làng”. “Mái rạ, bờ tre”, nét đặc trưng bao đời
của làng quê Việt chỉ trong "chốc
lát" đã biến mất. Câu “tắt lửa
tối đèn có nhau” sâu nặng tình làng nghĩa xóm "ngoảnh đi ngoảnh
lại" chắc cũng chẳng còn ý nghĩa. Nhà thơ xót xa, "muốn quên cái thời đang biến động"
nhưng làm không được, khiến nhà thơ rưng lệ, ngậm ngùi: "Ở giữa quê như chẳng có Quê Hương?!"
Chẳng có đau xót nào lớn hơn khi "Ở giữa quê" mà "như
chẳng có Quê Hương?!". Một dấu hỏi, một dấu chấm than đặt ở cuối câu
như mũi khoan xoáy vào thẳm sâu nỗi xót xa khi nhà thơ phải chứng kiến sự đổi
thay đang tàn phá chất quê, hồn quê của “cái
thời đang biến động”.
Nhà thơ dồn liên tục, liên tục tâm trạng xót xa của kẻ cô
đơn, lạc lõng bằng một loạt tính từ: "chút",
"hẻo", "lẻ loi"... đặt liền nhau, đứng
trong cùng một câu thơ, để sự cô đơn, nỗi bi thương, tuyệt vọng của kẻ vô gia
cư ngay trên chính quê hương mình thẩm sâu vào trái tim người đọc. Ôi, đã
"còn chút hẻo", nhà thơ lại
bồi thêm hình ảnh "lẻ loi"
của "chòi Xóm Cỏ" trong
cùng một câu: “Còn chút hẻo lẻ loi chòi
Xóm Cỏ”, rồi nhấn nhá thêm bằng giọng ngạo nghễ, bông đùa: “Ta ra đây ngụ với Bác cu Bần.”. Khiến
người đọc se lòng với những quặn thắt: Có ai thất thế ra nhập nhóm người vô gia
cư lại thản nhiên như vậy? Có ai sa cơ "nhập hội" mấy "bác thằng bần” lại bỡn cợt như thế?
Không. Đấy là nhà thơ đang cố mượn giọng bông đùa để bỡn cợt, giấu đi nỗi đau
đang bóp nghẹt trái tim.
Ở 2 câu cuối, ở khổ thơ khép lại bài thơ, nhà thơ lại vẽ
tiếp một giấc mơ quê, một giấc mơ không thể đơn giản hơn nữa, không thể nhỏ bé
hơn nữa bởi những hình ảnh trong ước mơ rất đời thường, đời thường đến lam lũ
mà đau đáu những khát khao trong trẻo của hồn quê, chất quê:
Nuôi vịt, trồng
rau...xuống sông kéo vó
No cái mùi Hoa Cỏ nức
hương xuân...
Ôi, giấc mơ giữ lại chút hồn quê, chất quê của nhà thơ
Nguyễn Khôi, hay đúng hơn là nhà thơ cất tiếng nói thay ước mơ giữ lại được
chút hồn quê, chất quê trên mảnh đất thôn quê, của những người dân lam lũ mà
nặng lòng da diết với quê hương, ở “cái
thời đang biến động" này sao mà lệ mặn ngược vào tim?!
Bởi, là mơ đấy, là khao khát chỉ “tầm thường” thế đấy mà
cũng e khó thành!
Ôi! Những giấc mơ quê trong thời đại kim tiền!
*
Hà Nội, chiều 23 tháng 09 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VỀ CÂU KẾT 2 BÀI THƠ
'THĂM BẠN' VÀ 'ĐỒNG VỌNG'
CỦA NHÀ THƠ ĐỒNG THỊ CHÚC
Khi đọc cảm nhận của tôi về bài thơ "Thăm
Bạn" của nhà thơ Đồng Thị Chúc, nhà thơ Khang Minh có chút băn
khoăn về câu kết bài thơ: “Phải chi nữ sĩ
Đồng Thị Chúc cho thêm hai câu kết nữa thì hay quá Đặng Xuân Xuyến, vì đọc tới
câu "Một cơn gió lạc bùi ngùi bay qua" có cảm giác thiêu thiếu cái gì
đó, bài thơ chưa thể khép lại ở câu này được! Tiêng tiếc là!”. Tôi lại nghĩ
khác anh, câu kết bài thơ như thế là hợp lý, tròn trĩnh mà còn gợi rất nhiều
sau khi đã đọc bài thơ. Nếu nhà thơ Đồng Thị Chúc thêm một vài câu thơ nữa sẽ
làm bài thơ kém duyên, mất hay.
Chuyện về một câu thơ, thậm chí cả bài thơ có những cảm nhận
trái ngược là lẽ thường. Người này bảo hay, người kia bảo bình thường, hoặc
người này hiểu thế này, người kia hiểu thế kia cũng là "chuyện thường ở
huyện". Thơ mà! Thế nên dân gian mới gắn cho thơ, cho nhà thơ những cặp
từ: “thơ thẩn”, “lẩn thẩn”,...
Trở lại chuyện câu kết bài thơ “Thăm Bạn” của nhà thơ
Đồng Thị Chúc.
Bài thơ thật ngắn, chỉ có 6 câu nhưng chứa đựng nhiều nỗi
niềm:
THĂM BẠN
Ghé nhà cửa đóng then
cài
Đầy sân lá rụng thềm
ngoài rêu phong
Dạo quanh trong khoảng
thinh không
Mắt đưa tìm bóng, nào
trông bóng người
Đành lòng quay gót trở
lui
Một cơn gió lạc bùi ngùi
bay qua.
*.
ĐỒNG THỊ CHÚC
Nhất là câu kết: "Một
cơn gió lạc bùi ngùi bay qua" gợi nhiều cảm xúc với tâm trạng hụt
hẫng, chán chường xen lẫn chút hờn tủi, cộng thêm chút hoang mang, lo lắng khi
nhà thơ chợt nghĩ chuyện không hay của tuổi già có thể đến với bạn mình...
khiến người đọc gai gai người, cùng hụt hẫng, thảng thốt theo tâm trạng chới
với, "bùi ngùi" của nữ sĩ họ Đồng.
Một câu kết hợp lý, tròn trĩnh, vừa gợi cảm xúc để người đọc
thăng hoa, vừa "đóng lại" để cảm xúc về chuyến "Thăm bạn"
không lan man, loãng chuyện... Nếu nhà thơ thêm một vài câu thơ nữa sẽ phá mất
bài thơ hay vì bố cục bài thơ đã chặt chẽ, câu kết bài thơ hợp lý và gợi được
nhiều cảm xúc như thế, người có tay nghề sẽ không ai làm thế cả.
Hay bài thơ "Đồng Vọng", một trong số những
bài thơ hay của nhà thơ Đồng Thị Chúc, có câu kết lửng cũng thật hay, để lại
nhiều ám ảnh với người đọc.
Bài thơ lấy cảm xúc từ câu chuyện có thật: Một lần trên
đường đến cơ quan làm việc, bà "gặp
đôi anh chị tuổi trung niên nét mặt khắc khổ, anh mặc bộ quân phục sỹ
quan đã cũ, chị mặc cái áo xanh đã bạc màu, đèo nhau trên chiếc xe
đap cà tàng", "đang đi
thì xe đạp của họ xịt lốp và họ phải xuống xe loay hoay xem xét.".
Nhìn họ, bà trào dâng cảm xúc rất lạ, và sau đấy một thời gian, bài thơ "Đồng
Vọng" được ra đời:
ĐỒNG VỌNG
Hai người tình
Ngồi bên nhau
Hai mái đầu
Điểm bạc.
Chiếc áo anh đang mang
Vương bụi thời trận
mạc
Chị – thân hình khô
xác
Nép bên bờ vai anh
Vẫn trong chiếc áo
xanh
Bạc qua mùa chờ đợi.
Trăng soi từ vời vợi
Gió về từ xa xăm...
*.
Hà Nội, Tháng 02-1992
ĐỒNG THỊ CHÚC
Cũng theo kể lại của nhà thơ Đồng Thị Chúc thì "đôi anh chị" ấy đã già, đã quá cái
tuổi sung sức để thực hiện ước mơ thay đổi số phận. Họ có gì để thay đổi số
phận khi họ chỉ có "thân hình khô
xác" với mái tóc "điểm bạc"
cùng tài sản giá trị nhất cả về vật chất lẫn tinh thần là "chiếc áo xanh" "Bạc qua mùa chờ đợi" giờ đã là ký
ức, là kỷ niệm tình yêu một thủa?! Với họ, một bữa cơm ngon, một giấc ngủ đằm
sâu hơn khi bớt đi được một chút canh cánh chuyện cơm áo gạo tiền đã là xa xỉ
với ước mơ của họ thì nói gì đến ước mơ đổi đời, được giàu sang phú quý viển
vông ở tận đẩu đâu. Hai câu kết: "Trăng
soi từ vời vợi / Gió về từ xa xăm... " chỉ gợi ký ức xa vời, chả có
giá trị với thực tại. Đau nhưng mà thực và cũng vì cái đau ấy mà bài thơ mới
nhiều ám ảnh.
Đọc "Đồng Vọng", với hai câu thơ
thật hay: "Trăng soi từ vời vợi /
Gió về từ xa xăm... ", thể hiện sự tìm tòi và sáng tạo của nhà thơ
Đồng Thị Chúc, tôi chợt nhớ đến những câu thơ như những lát cắt trần trụi, đau
đáu xót xa của nhà thơ Phạm Đức Mạnh:
"Tháng Tư
những người lính kiệt
sức vì đạn bom
thoi thóp sống
lết tìm nhau
nhặt mảnh vụn xuân thì
đang trôi mất
hàn rỉ sét chiến tranh
bó vết thương lòng kiếm
tìm đồng đội."
(Tháng Tư Màu Nhớ)
Những câu thơ trần trụi đến phũ phàng, không chỉ gián tiếp
lên án cuộc nội chiến "huynh đệ
tương tàn" mà còn là tiếng lòng nhà thơ Phạm Đức Mạnh xót xa trước
chính sách đãi ngộ hoặc chưa thỏa đáng hoặc đã bị lãng quên của chế độ đối với
những chiến binh vừa bước ra khỏi cuộc chiến. Những câu thơ: "những người lính kiệt sức vì đạn bom / thoi
thóp sống / lết tìm nhau / bó vết thương lòng kiếm tìm đồng đội” thật đau
và đắng ngắt.
Cả hai bài thơ "Tháng Tư Màu Nhớ" và "Đồng
Vọng" đều gián tiếp lên án cuộc nội chiến vô nghĩa, đều xót xa
trước hiện thực cuộc sống "thoi thóp",
mờ mịt, bị chế độ xã hội lãng quên chính sách đãi ngộ hoặc đãi ngộ chỉ mang ý
nghĩa tượng trưng, biểu tượng của những người lính vừa trở về sau cuộc chiến.
Hai bài thơ với hai gam màu khác nhau, hai cách viết khác nhau: một bên mang
gam màu "kỷ yếu ", thời sự của Hội chứng chiến tranh, và người viết
đang cố gắng tìm tòi để làm mới diện mạo thơ mình theo cách viết "hiện
đại", một bên là những lát cắt của cuộc sống thường nhật với gam màu dung
dị của cuộc sống, và người viết chỉ nhẩn nha tìm tòi, sáng tạo theo lối viết
nhẹ nhàng, nền nã đã định hình để phả vào thơ hương sắc chân thực của cuộc
sống. Khác, nhưng cả 2 bài thơ đều là tiếng lòng của người cầm bút có trách
nhiệm với tình yêu quê hương đất nước.
Sở dĩ tôi nhắc đến bài thơ "Tháng Tư Màu Nhớ"
của nhà thơ Phạm Đức Mạnh bởi khi đọc những câu thơ tái hiện hình ảnh vợ chồng
người cựu chiến binh trong bài thơ "Đồng Vọng" tôi chợt liên tưởng
tới hình ảnh người lính trong Hội chứng chiến tranh đã được thể hiện ở nhiều
thể loại văn học nghệ thuật, hoàn toàn không có ý như đặt lên bàn cân để so
sánh giá trị nghệ thuật giữa 2 bài thơ và tài thơ của 2 nhà thơ.
Trở lại bài thơ "Đồng Vọng" với 2 câu thơ kết
thật hay, và không quá lời nếu nói đây là 2 câu thơ tài hoa của nhà thơ Đồng Thị
Chúc:
"Trăng soi từ vời
vợi
Gió về từ xa
xăm..."
Một cái kết mở với những hình ảnh thật đẹp cho sáng tác thơ
ca nhưng lại thật đau, thật đắt để bạn đọc liên tưởng tới tương lai vợ chồng
người cựu chiến binh đã đợi chờ nhau suốt chiều dài cuộc nội chiến về ý thức hệ
giữa 2 miền Nam Bắc: Phía trước vợ chồng họ là "Trăng", là "Gió",
là những thứ chỉ dành cho thơ ca, những thứ chỉ dùng để "ru ngủ đời sống tinh thần", những
thứ chẳng có chút giá trị với cuộc sống thực ở cõi người. Đã vậy "Trăng" còn "soi từ vời vợi", "Gió" còn "về từ xa xăm", lại thêm ba dấu chấm lửng ở câu thơ cuối bài
như mũi kiếm xoáy thêm sâu vào tương lai mờ mịt của vợ chồng người cựu chiến
binh. Ôi! Phần thưởng - cái giá đắng chát dành cho “lý tưởng” của những người
lính trở về sau cuộc nội chiến "huynh
đệ tương tàn" là đây sao?!
“Đồng Vọng” đã vượt lên trên sự cảm thông của nhà thơ Đồng Thị
Chúc trước tương lai mờ mịt của vợ chồng người cựu chiến binh để cất lên tiếng
nói chân thực, trách nhiệm của người cầm bút với quê hương đất nước!
Thật tiếc, khi tuyển chọn "Đồng Vọng" in trong thi
phẩm "Những Gương Mặt Mới", cố thi sĩ Trinh Đường đã thêm 2 câu:
"Tiếng chim gì da diết / Hay từ
quy thương xuân.” vào cuối bài thơ, mà theo ông để “cho thêm phần da
diết." nhưng ông đâu ngờ chính 2 câu thơ "thêm ấy" đã làm cho
bài thơ mất đi tính "chiến đấu", giảm hẳn sự ám ảnh với người đọc vì
thế mà bài thơ kém hay.
*.
Hà Nội, đêm 03 tháng 03.2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BÀI THƠ ‘PHIÊN CHỢ DÀO SAN’
CỦA TRƯƠNG HỮU THIÊM
--------
PHIÊN CHỢ DÀO SAN
Vó câu
khua rầm rập
Nhạc
dập dồn lưng mây
Trai
mười mường phầm phập
Gái
chín bản phây phây.
Có vợ,
đem theo vợ
Có
chồng, rủ cả chồng
Chẳng
có cứ đến chợ
Sẽ gặp
người đi không.
Bát này
rồi bát nữa
Rượu
đầy như tình đầy
Vòng
xoè làm bằng lửa
Tiếng
đàn cháy trên dây.
Uống
như chưa từng uống
Người
say, núi cũng say
Bạn từ
lưng trời xuống
Chân
dính đầy mây bay.
Tiếng
người xen tiếng lá
Tiếng
lá lẫn tiếng chim
Tiếng
chim chen tiếng đá
Tiếng
đá hoà tiếng tim.
Áo bên
hoa sặc sỡ
Khèn
theo gió véo von
Thề
nguyền trao giữa chợ
Nỗi
niềm gửi lên non.
Họp ở
trong không đủ
Thì kéo
nhau ra đường
Ngựa hí
dồn giục chủ
Lưng
đầm đìa hơi sương.
Mật ong
và thổ cẩm
Thuốc
bắc và chè san
Thay vì
làm tính nhẩm
Nhặt đá
xếp lên bàn.
Đã bán,
rẻ cũng bán
Đã mua,
đắt cũng mua
Bán như
là giời bán
Mua như
là vua mua.
Ăn, ăn
toàn thắng cố
Uống,
uống toàn rượu ngô
Uống
đến khi rượu đổ
Người
đứng ngủ dưới ô.
Mỗi năm
mười hai tháng
Mỗi
tháng có bốn phiên
Suốt từ
ba giờ sáng
Náo nức
một vùng biên.
*
Sớm mai
leo ngược dốc
Trở lại
với non ngàn
Lòng
như hòn đá hộc
Lăn
xuôi về Dào San...
*.
TRƯƠNG HỮU THIÊM
LỜI BÌNH:
Bài thơ "Phiên chợ Dào San" của nhà thơ
Trương Hữu Thiêm, đã hớp hồn tôi ngay từ những câu thơ đầu. Chất hoang dã đại
ngàn đậm đặc trong 4 câu khổ đầu bài thơ đã tạo ấn tượng tức thì:
"Vó câu khua rầm
rập
Nhạc dập dồn lưng mây
Trai mười mường phầm
phập
Gái chín bản phây
phây."
Các cặp từ láy: "rầm
rập", "dập dồn",
"phầm phập", "phây phây" được nhà thơ Trần Hữu
Thiêm sử dụng thật đắc dụng. Chỉ với 20 chữ cho 4 câu thơ, ông đã khiến người
đọc như đang chứng kiến những hình ảnh sống động của người của ngựa giữa đại
ngàn lộng gió.
Những thước phim thật đẹp, đẹp những nét hào sảng và tráng
lệ của miền sơn cước: Một sớm tinh mơ, những vó ngựa từ đỉnh núi cao, cao đến
chọc trời "rầm rập" lao
xuống phiên chợ Dào San, chợ phiên của người Mông, người Thái, người Dao,...
Trên lưng ngựa là các chàng trai cường tráng với nét đẹp phóng khoáng của núi
rừng và các cô gái hây hẩy sắc hương bản mường, náo nức về chợ như háo hức về
lễ hội tình yêu. Những hình ảnh ấy, những thước phim ấy quyện lấy nhau, hòa vào
nhau trong những nét đẹp rất riêng chỉ có ở văn hóa vùng cao Tây Bắc.
Đọc những câu thơ thật hay này tôi chợt nhớ tới những câu
thơ tài hoa của nhà thơ Nguyễn Khôi trong bài thơ "Xóm Cỏ":
"Ta là kẻ lạc loài
chán chê Phố Thị
Chàng Nhà Quê mê kéo vó
đêm
Thả hồn thơ cùng chị
Hằng "tăm" cá
Cánh tay trần
"cất" cả ánh trăng lên..."
"Tôi ngẩn ngơ với câu: “Cánh tay trần “cất” cả ánh trăng lên...”.
Nét tài hoa của nhà thơ Nguyễn Khôi ở những câu thơ này là
sử dụng câu chữ rất "đắc địa", đặt đúng vị trí, đúng hoàn cảnh, đúng
ngữ cảnh, không thể xáo trộn, thay đổi. Ví như câu: "Cánh tay trần "cất" cả ánh trăng lên..." nếu bỏ hoặc
thay chữ "trần" bằng một
chữ khác thì hình ảnh "cánh tay trần"
rất đẹp, gợi nét vạm vỡ, phong trần và đậm đặc chất đàn ông sẽ không còn nữa,
câu thơ sẽ thiếu “lửa”, nhạt đi và kém hay. Hoặc nếu thay từ "cất" bằng một từ khác thì câu thơ:
“Cánh tay trần “cất” cả ánh trăng lên...”
vốn hút hồn người đọc bởi hình ảnh thơ mộng, đẹp phóng khoáng kiểu Chử Đồng Tử
an nhiên tự tại giữa bãi Tự Nhiên: “cất”
cả ánh trăng lên...” sẽ không còn nữa, câu thơ cũng vì thế mà mất hay, hết
duyên." - (Mơ Quê Trong "Xóm Cỏ" Của Nguyễn Khôi" - Đặng
Xuân Xuyến)
Trở lại bài thơ "Phiên chợ Dào San" của nhà thơ
Trương Hữu Thiêm với 4 câu thơ nối tiếp:
"Có vợ, đem theo vợ
Có chồng, rủ cả chồng
Chẳng có cứ đến chợ
Sẽ gặp người đi
không."
Với cách ngắt nhip 2/3 bằng dấu phẩy ở câu "Có vợ, đem theo vợ", "Có chồng, rủ cả chồng" nhà thơ Trương
Hữu Thiêm đã nhấn nhá rõ thêm tính thật thà, vô tư của những trai bản gái
mường, như minh định bản tính hồn hậu, thuần khiết, chẳng có gì cần phải giấu
giếm hay ý tứ bằng những lời xã giao, dối lòng của người Mông, người Thái,
người Dao,... Những rủ rê minh bạch ấy, có chủ đích rõ ràng: Đến chợ để mua
hàng hóa, để giao lưu bè bạn, để thêm ấm tình lứa đôi.... Có lẽ, đây là nét đặc
trưng rất riêng của văn hóa chợ Dào San, chỉ ở vùng Phong Thổ, Lai Châu mới có
tập tục độc đáo này.
Những khổ thơ kế tiếp kể về những hoạt động của phiên chợ
Dào San với những câu thơ tinh tế, đặc sắc, đẹp như những viên ngọc lấp lánh
làm ngẩn ngơ người đọc:
- "Vòng xòe làm
bằng lửa
Tiếng đàn cháy trên
dây"
- "Bạn từ lưng trời
xuống
Chân dính đầy mây
bay"
- "Áo bên hoa sặc sỡ
Khèn theo gió véo von
Thề nguyền trao giữa chợ
Nỗi niềm gửi lên
non."
- "Ngựa hi dồn giục
chủ
Lưng đầm đìa hơi
sương",
- "Uống đến khi
rượu đổ
Người đứng ngủ dưới
ô."...
Những câu thơ đậm nét hương rừng gió núi và đẫm chất trai
bản gái mường đẹp mê hồn như thế không phải cứ sống lâu ở miền núi là sẽ viết
được mà những câu thơ đấy đã được thẩm thấu, chiết xuất từ hồn thơ thấm đượm
hơi thở của núi rừng, từ cách quan sát tinh tế, cách dùng câu chữ độc đáo, sáng
tạo của nhà thơ Trương Hữu Thiêm mà trở nên bừng sáng.
Những câu thơ mộc mạc, giản dị mà long lanh trong “Phiên
chợ Dào San” đã tạo cảm giác gần gũi, tâm trạng phấn chấn, dẫn dắt
người đọc cuốn theo câu chữ bài thơ để háo hức cùng nhà thơ Trương Hữu Thiêm
tham dự phiên chợ Dào San.
Sự độc đáo của "Phiên chợ Dào San" còn ở những
quan sát tinh tế, những chi tiết rất thực:
"Mật ong và thổ
cẩm
Thuốc bắc và chè san
Thay vì làm tính nhẩm
Nhặt đá xếp lên bàn."
Hàng hóa chỉ là những sản phẩm tự cung tự cấp của người dân
bản địa: Mật ong, thổ cẩm, thuốc bắc, chè san, rượu ngô, thắng cố... Và người
bán người mua cũng rất mộc mạc nét "chân quê" chất phác: "Thay vì làm tính nhẩm / Nhặt đá xếp lên bàn".
Trải dọc bài thơ là những hình ảnh đẹp hào sảng, phóng
khoáng tạo những cảm giác hứng khởi, phấn chấn với bạn đọc thì đến khổ thơ này
nhà thơ Trương Hữu Thiêm lại làm lắng lòng bạn đọc với những hình ảnh chân thật
đến nhoi nhói lòng. Hình ảnh người bán hàng: "Thay vì làm tính nhẩm / Nhặt đá xếp lên bàn" đã găm sâu vào
trí nhớ người đọc bởi những hình ảnh độc, lạ mà ám ảnh chỉ có ở "Phiên
chợ Dào San".
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ với những nốt nhạc trầm nhưng
những câu chữ tinh tế đầy thi tứ thi ảnh thấm đẫm chất hương rừng gió núi của
"Phiên chợ Dào San" đã kịp găm sâu vào trí nhớ của người đọc khiến
người đọc cũng bồi hồi với nhà thơ: “Lòng
như hòn đá hộc / Lăn xuôi về Dào San...”.
*.
Hà Nội, 15 tháng 2-2022
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC
“MỢ HỮU”
CỦA
TRẦN NHUẬN MINH
Gần 20 năm viết sách và kinh doanh sách kiếm tiền, tôi không
mặn mà tới mấy chuyện thơ văn nên khi dàn trang đưa bài “Trần Nhuận Minh - Thi Nhân “Sĩ
Phu Bắc Hà”” lên trang blog Đặng Xuân Xuyến, tôi mới biết Trần Nhuận
Minh là nhà thơ tài hoa. Chả trách, nhà thơ Chu Vương Miện ở tận Hoa Kỳ “say”
ông đến “mê mẩn”.
Và cũng từ vô tình đó mà tôi biết, rồi thích bài thơ MỢ HỮU
của ông.
Vâng. Tôi thích bài thơ Mợ Hữu đậm chất tự sự của Trần Nhuận
Minh.
MỢ HỮU
Cậu xây xong nhà ba tầng
Người cứ dần dần héo
quắt
Thế rồi một sớm tinh mơ
Cậu cứ lặng im mà mất
Cô bác từ quê ra viếng
Thấy mợ dịu dàng mảnh
mai
Mà nhà thì to đẹp thế
Biết rồi sẽ về tay ai?
Em chồng mắt lườm miệng
nguýt
Vô tâm mợ có thấy đâu
Thương cậu, mợ không
biết khóc
Thỉnh thoảng lại hờ một
câu
Mợ khổ từ hồi tấm bé
Mong chi lầu trắng gác
xanh
Cậu chết mợ thành người
lạ
Bơ vơ trong chính nhà
mình
Chẳng thiếu kẻ đe người
ướm
Nhà xinh mợ lại càng
xinh
Như con thuyền nan không
bến
Lênh đênh trong chính
phòng mình
Khách khứa dập dìu lá
gió
Đêm đêm chớp bể mưa
nguồn
Mắt mợ dần dần hoang
vắng
Họ hàng mợ cứ quên luôn
Mợ đáng thương hay đáng
trách
Trời ơi! Tách bạch làm
chi
Dòng sông muôn đời vẫn
thế
Đục trong thì vẫn trôi
đi
*.
Hải Phòng, năm 1990
TRÀN NHUẬN MINH
Mở đầu bài thơ, là lối kể chuyện chầm chậm, nhẩn nha, như để
nén những cảm xúc sẽ ùa về, sợ sẽ làm vỡ chuyện về người cậu, người em của mẹ.
Bốn câu thơ ở khổ thơ kể về người cậu thật giản dị, mộc mạc, hệt lối nói dân
dã, chân chất của người chân quê. Chỉ thế thôi mà người đọc thấy được “Cậu” của nhà thơ là người “một nắng hai sương”, chỉn chu, căn cơ,
chất phác. Từ “cứ” được sử dụng như
một điệp từ, lặp lại 2 lần trong 4 câu thơ của khổ thơ như nhấn thêm, xoáy sâu
thêm vào sự bất lực, xót xa trước sức khỏe có chiều hướng xấu đi trông thấy của
người cậu. Hai từ “Thế rồi” ở câu thứ
3 thốt ra thật nhẹ, nghe như buông xuôi, như tuyệt vọng mà sức nặng ngàn cân:
Cậu xây xong nhà ba tầng
Người cứ dần dần héo
quắt
Thế rồi một sớm tinh mơ
Cậu cứ lặng im mà mất
Sau khổ thơ tự sự thật nhiều cảm xúc về người cậu, nhà thơ
bắt đầu kể về người mợ, bằng cách đặt hình ảnh “Thấy mợ dịu dàng mảnh mai” bên cạnh “Mà nhà thì to đẹp thế” để đẩy lên nỗi xót xa của “cô bác”, của những thân bằng quyến
thuộc, dành cho người vừa mất: tài sản làm ra mà không được hưởng. Câu nghi
vấn, cũng là câu cảm thán, của lối suy diễn bạc bẽo và đố kỵ của thói đời: “Mà nhà thì to đẹp thế/ Biết rồi sẽ về tay
ai?”. Nghe sao mà chua xót!
Nỗi đau đời được Trần Nhuận Minh đẩy cao thêm: “Em chồng mắt lườm miệng nguýt”, làm đau
hơn cái thế thái nhân tình bị sức mạnh vật chất chi phối. Thì ra, người ta đến
đám tang người thân phần ít là vì đau xót, mà phần nhiều là vì ấm ức, đố kỵ, là
ngóng kiếm chác từ khối tài sản kếch xù của người vừa mất, xác vẫn còn đang nằm
trong quan tài giữa nhà. Thật là tàn nhẫn, bỉ ổi!
Hình ảnh “Em chồng mắt
lườm miệng nguýt” làm ta nhớ tới mối quan hệ “chị dâu em chồng” vốn đã được mặc định chả tốt đẹp gì trong tiềm
thức dân gian. Chỉ câu “Em chồng mắt lườm
miệng nguýt”, Trần Nhuận Minh đã khắc họa mối quan hệ giữa “Mợ” và “Em chồng” rõ đang ở thế gầm ghè, căng thẳng, sắp chực trào vì sức
hút của kim tiền, khiến ta chạnh lòng thêm về hình ảnh người mẹ rất thực dụng
trong ca dao: “Em đã bảo mẹ rằng đừng/ Mẹ
hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.”.
Gia đình chồng (cô bác) thì như thế. Em chồng thì như vậy.
Tất cả đều ghé mắt vào khối tài sản “Cậu”
để lại mà hậm hực, mà đố kỵ. Còn “Mợ”
thì sao? Nếu ở khổ thơ trước, Trần Nhuận Minh kể “Mợ” của ông đẹp về hình thức “Thấy
mợ dịu dàng mảnh mai”, thì ở những khổ thơ này, ông kể về bản chất thật
thà, chân chất của người mợ: “Vô tâm mợ
có thấy đâu/ Thương cậu, mợ không biết khóc/ Thỉnh thoảng lại hờ một câu.”.
Và ông trần tình thêm về người mợ:
Mợ khổ từ hồi tấm bé
Mong chi lầu trắng gác
xanh
Cậu chết mợ thành người
lạ
Bơ vơ trong chính nhà
mình
Đến đây, người đọc thấy nhói lòng, đau xót quá.
Câu ca dao “Cậu chết
mợ ra người dưng” đã phũ phàng, đen bạc chốn dân gian nhưng qua sự kế thừa
của Trần Nhuận Minh, ông đẩy sự tàn nhẫn, đen bạc đó cao lên thêm một bậc: “Cậu chết mợ thành người lạ”, bởi “người dưng” chỉ người ngoài, người không
có quan hệ họ hàng, thân thích, còn “người lạ” chỉ người không hề quen biết,
khiến hình ảnh người mợ “bơ vơ trong
chính nhà mình” càng tăng thêm ám ảnh, đau xót.
Dường như quá bất bình với những đố kỵ, hẹp hòi từ những kẻ
mượn danh người thân hòng sang đoạt tài sản của người mợ, từ những toan tính
trục lợi của những kẻ cơ hội, nhà thơ đã chua xót lật tẩy thói đời khốn nạn của
những kẻ lòng dạ nhơ bẩn, đau đáu vì tiền: “Chẳng
thiếu kẻ đe người ướm/ Nhà xinh mợ lại càng xinh”; và cảm thán sự bất
lực, lẫn cả sự bất hạnh của người mợ chân chất, hiền lành trước lũ người gian
manh, đểu cáng khi mà người phụ nữ “chân quê” đó chỉ mong có được sự bình yên
nhỏ nhoi với một hạnh phúc bình dị, giản đơn cũng không có được: “Như con thuyền nan không bến/ Lênh đênh
trong chính phòng mình.”
Nhà thơ tiếp tục đau xót với nỗi cảm thương cho người mợ
bằng những dòng thơ viết về tận cùng nỗi cô đơn: “Khách khứa dập dìu lá gió/ Đêm đêm chớp bể mưa nguồn”; về nỗi đau
âm ỉ của niềm tin, của tình nghĩa đã cạn kiệt, héo rũa: “Mắt mợ dần dần hoang vắng/ Họ hàng mợ cứ quên luôn”. Từ “cứ” lần nữa được nhà thơ sử dụng, như
thêm một mặc định tất nhiên để cảm thông cho người mợ.
Rồi nhà thơ tự hỏi, tự vấn lòng mình: “Mợ đáng thương hay đáng trách”? Và kêu lên tiếng than, nửa như tự
trách mình, nửa như trách cứ người đời: “Trời
ơi! Tách bạch làm chi.”, để tiếp tục lại tự trấn an mình bằng triết lý có
phần an phận, chấp nhận xuôi theo thói đời vô cảm như đã thành thông lệ, thành
chân lý của dòng đời: “Dòng sông muôn đời
vẫn thế/ Đục trong thì vẫn trôi đi.”
Bài thơ khép lại với một tiếng thở dài.
*
Hà Nội, chiều 07 tháng 09 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
NGẪM
CHIỀU - BÀI THƠ ĐỘC ĐÁO
CỦA
BÙI CỬU TRƯỜNG
Ngẫm Chiều là bài thơ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu
Trường, được sáng tác vào ngày 02 tháng 03 năm 2018 nhưng mãi tận chiều qua, 16
tháng 06 năm 2018 tôi mới có cơ duyên được đọc Ngẫm Chiều trên trang
facebook của bà.
NGẪM CHIỀU
1- tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ
phượng rơi.
lòng rối bời
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong
rối
liêu xiêu bước vội
bàn chân ai lối về.
canh hẹ cuộc đời hắt bến
mê
bông lau tóc xoã vạt
chiều héo úa
bàn tay thõng rớt niềm
tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn
cỏ côi.
...
2 - Bỏ lại muộn sầu đi
nhặt niềm vui
hít hà hương lá
vói rẻ quạt ráng hồng
quạt gió
xoe búp trời thiên thanh
Bỏ lại bộn bề về tĩnh
tại mình
tiếng mõ cá quyện chiều
lam khói
chuông đồng vọng thinh
không vòi vọi
Thơ.
3 - đời - mơ
trong vắt.
*.
Hà Nội, 02.03.2018
BÙI CỬU TRƯỜNG
Ngay từ những câu đầu của khổ đầu bài thơ, Ngẫm
Chiều đã gây ấn tượng đặc biệt với người đọc qua những chấm phá khá độc đáo:
“tơ nhện thả mành
nà nuột
mưa rớt giọt
lộp độp hè cánh đỏ
phượng rơi.”
Thơ tự do, phóng bút, không chú trọng vần điệu, không gò bó
hình thức. Hình ảnh đẹp, lạ, gợi những nét huyền bí, liêu trai.
Tiếp theo, là: “Lòng
rối bời/ Dạ rối bời”, chủ ý ngắt ra từ “lòng
dạ rối bời” thành 2 câu riêng biệt, đồng nghĩa, để nhấn nhá, đẩy lên cao
tâm trạng bồn chồn, sốt ruột, với ngổn ngang những lo lắng chồng chéo, đan xen,
khó tháo gỡ, khiến bàn chân “liêu xiêu
bước vội”. Nhịp thơ thật riết róng, dồn nén, ngắc ngứ, rưng rức xót
lòng trong “chiều bời rối”, và
những phảng phất nét cô liêu với đau đáu nỗi niềm “bàn chân ai lối về”, khiến người đọc cũng nghẹn lòng, thảng thốt:
“lòng rối bời
dạ rối bời
lắng lo nỗi bòng bong
rối
liêu xiêu bước vội
bàn chân ai lối về.”
Tâm trạng hụt hẫng, xa xót được đẩy xa, sâu hơn, bởi những
hình ảnh: “tóc xõa vạt chiều”, “bàn tay thõng”, “ngọn cỏ côi”... mang mang gam trầm buồn, của tâm trạng xáo trộn bất
ổn, muốn thõng tay buông bỏ tất cả, quên đi tất cả, đã tạo nên một bức tranh
sống động mà trầm mặc, u uẩn mà da diết.
Không chú trọng vào gieo vần, cứ thả cho mạch thơ tự nhiên
trôi theo dòng cảm xúc nhưng nhà thơ Bùi Cửu Trường lại thật cẩn trọng khi chọn
lựa, sắp xếp câu chữ, với những động từ: “hắt”,
“xõa”, “rớt”, “vỡ”... được đặt đúng
tâm trạng, đúng ngữ cảnh, khiến nỗi đời, nỗi người của cõi người đã đau càng
đau se sắt, và đẩy câu thơ bay lên, thấm nhẹ nhàng vào trái tim người đọc:
“bàn tay thõng rớt niềm
tin vụn vỡ
hạt đất buồn xa xót ngọn
cỏ côi.”
Hai câu thơ thật hay, mà buồn, xót xa lắm.
Rồi, nhà thơ “Bỏ lại
muộn sầu đi nhặt niềm vui/ hít hà hương lá”, để tĩnh tâm trước cõi người
nơi trần tục còn lắm khổ lụy, phiền não, để buông bỏ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát
những tham - sân - si - ái - ố của chúng sinh mà gửi hồn vào “tiếng mõ cá quyện chiều lam khói/ chuông
đồng vọng thinh không vòi vọi”, mà mong được an lạc nơi cõi Thiền.
Sắc - Sắc - Không - Không, đời người là bể khổ trầm luân,
đạt tới “đời - mơ/ trong vắt” là đạt
tới cảnh giới. Ước mơ đó đâu phải chỉ là của riêng nhà thơ Bùi Cửu
Trường?!
Ngẫm Chiều là bài thơ với thi tứ hay và lạ, cách sử
dụng từ ngữ khá độc đáo, nhất là cách nói ngược: nà nuột / cánh đỏ phượng / lắng lo / vụn vỡ / xa xót / muộn sầu / bộn
bề / chiều lam khói... được dùng như là thủ pháp chính đã tạo ấn tượng thật
đặc biệt với người đọc. Hay hay không hay là tùy thuộc vào cảm nhận của riêng
mỗi người nhưng với người viết, thì NGẪM CHIỀU là một bài thơ hay, rất đáng
đọc.
*
Hà Nội, 17 tháng 06 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BÀI THƠ "KHÓC CHỒNG"
CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC
Bài thơ "Khóc Chồng" của nhà thơ Đồng
Thị Chúc, viết từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, nhưng mãi tới ngày
29 tháng 7 năm 2021 bà mới đưa lên facebook giới thiệu với bạn bè:
KHÓC CHỒNG
Vừa mới hôm qua thức bên
anh
Nhỏ to câu chuyện nặng
nghĩa tình
Hôm nay anh bước vào
Thiên cổ
Để lại một mình em đứng
trông.
Em đứng nơi đây giữa
biển trời
Mênh mông sóng nước, một
thuyền trôi
Thuyền trôi theo sóng mà
vô hướng
Em giữa lòng thuyền vụng
tay bơi.
Em đã gọi hoài gọi mãi
anh
Đáp lời là tiếng gió rít
đanh
Tiếng em chìm đắm trong
vô vọng
Chỉ còn tiếng sóng giữa
biển xanh.
Em đã như chim gãy cánh
rồi
Nằm im bất động mặc
thuyền trôi
Mắt em đăm đắm vào ảo
ảnh
Cầu chúc hồn anh mãi
thảnh thơi.
*.
(Những ngày bi quan nhất)
ĐỒNG THỊ CHÚC
Bài thơ giàu cảm xúc của tình nghĩa vợ chồng, nhất là 4 câu
thơ ở khổ thơ thứ 2 gây nhiều xúc động:
"Em đứng nơi
đây giữa biển trời
Mênh mông sóng
nước, một thuyền trôi
Thuyền trôi theo
sóng mà vô hướng
Em giữa lòng thuyền
vụng tay bơi."
đọc mà thấy nặng những đau đáu xót xa bới sự cô đơn bủa vây,
bởi những hoang vắng, hụt hẫng, những buồn tủi đau đớn vì mất mát mà ý thức của
nhân vật trong thơ không thể thật sự làm chủ được cảm xúc. Nỗi đau ấy thật lớn,
đã vô thức bao phủ cả tâm thức nhân vật, cả không gian, thời gian... Hình ảnh
con thuyền trong thơ thể hiện sự hụt hẫng, đau xót đến vô thức của người vợ
trước sự "ra đi" đột ngột của người chồng. Hai câu: "Thuyền trôi theo sóng mà vô hướng / Em giữa
lòng thuyền vụng tay bơi." đã diễn tả nỗi xót xa đến tột cùng sự bất
lực của tâm trạng hụt hẫng, chới với trước mất mát quá lớn. Từ "vụng" được đặt ở câu cuối khổ thơ
thứ 2 này thật đắc dụng, đã khéo léo thể hiện tâm trạng buồn tủi, xót xa của
người vợ yêu chồng, luôn được chồng yêu thương chở che, luôn được chồng làm
điểm tựa vững chắc cho đời sống tinh thần ... khi mà phía trước là những tháng
ngày người vợ sẽ bơ vơ đơn độc đối diện với cuộc đời. Chữ "vụng" trong câu "Em giữa lòng thuyền vụng tay bơi."
đã đẩy nỗi đau nhân lên gấp bội.
Khổ tiếp theo, nhà thơ nghẹn lời với người quá cố: "Em đã gọi hoài gọi mãi anh" và nhận
về sự tuyệt vọng xót xa: "Đáp lời là
tiếng gió rít đanh / Tiếng em chìm đắm trong vô vọng / Chỉ còn tiếng sóng giữa
biển xanh."
để rồi chấp nhận sự thật xót lòng:
"Em đã như chim gãy
cánh rồi
Nằm im bất động mặc
thuyền trôi
Mắt em đăm đắm vào ảo
ảnh
Cầu chúc hồn anh mãi
thảnh thơi."
Chữ trong những câu thơ này không mới, tứ cũng không có gì
đặc biệt nhưng lại tạo được đồng cảm với bạn đọc bởi sự mộc mạc, chân chất
trong cách diễn tả tâm trạng nhân vật đã chạm vào trái tim người đọc. Tôi thích
đọc thơ bà vì những câu thơ chân thật như thế, như được chiết ra từ nước mắt và
nỗi đau rất thật của bà.
"Khóc Chồng" là bài thơ nhiều
cảm xúc của tình chồng vợ, nhất là khổ 2 của bài thơ đã gây nhiều xúc động với
tôi khi đọc bài thơ này.
*.
Hà Nội, sáng 30 tháng 07/2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BÀI THƠ “QUÊ CHOA”
CỦA ĐINH SỸ MINH
Chiều 25 tháng 7 (2021), rảnh thời gian tôi mở tủ sách lấy
tập thơ "THĂM THẲM BÓNG LÀNG" của nhà thơ Đinh Sỹ Minh ra đọc lại.
Trong 45 bài thơ của "THĂM THẲM BÓNG LÀNG", bài thơ "Quê
Choa" với ngôn từ mộc mạc, với cách viết ngẫu hứng và hồn nhiên đã
để lại cảm xúc khá ấn tượng trong tôi.
QUÊ CHOA
Giữa ồn ào náo nhiệt phố
đông
“Đi mô rứa”, nghe nao
lòng đến thế!
Cảm giác quê choa vừa
thương vừa lạ
“Mi ngài mô?” đã đủ xao
lòng!
Có một thời mới ở quê ra
Cứ ngượng ngịu rầy vì
giọng Nghệ
Ngữ điệu ríu ran líu lo
í ới
Muốn che đi như mắc lỗi
không bằng.
Giờ đã qua ngữ điệu bốn
phương
Ta thấy yêu tiếng quê
choa đến vậy
Qua cay đắng ngọt bùi,
những ngữ phương từng trải
Thấy không mô bằng tiếng
mẹ mình ru con.
Dòng sông La và dãy
Trường sơn
Cứ thác lũ, quê ơi nặng
nợ
Nặng nhân ái, nặng phù
sa núi lở
Ta lớn khôn, nhớ cha
thuở roi đòn.
Tình yêu qua gian khổ
mặn mòi hơn
Gió Lào quắt khô, cát
trắng, trắng trời
Nắng và gió phôi thai
điệu ví
Dẫu đi khắp bốn phương
trời vẫn vậy
Tiếng quê choa chan chứa
tình choa.
*.
ĐINH SỸ MINH
Cái tình giành cho quê hương của nhà thơ Đinh Sỹ Mình trong
"Quê Choa" thật hồn nhiên, trong trẻo, đáng yêu như bản ngã
người dân xứ Nghệ chân thành đến khắc khổ. Có lẽ, tệ phân biệt, chia rẽ vùng
miền cố hữu ở một số người khiến anh ngại ngùng muốn giấu đi thổ ngữ quê Choa?
Những câu thơ chân chất được ngẫu hứng cất lên từ tiếng lòng của nhà thơ Đinh
Sỹ Minh đã rất nhanh chạm vào trái tim người đọc:
"Có một thời mới ở
quê ra
Cứ ngượng nghịu rầy vì
giọng Nghệ
Ngữ điệu ríu ron líu lo
í ới
Muốn che đi như mắc lỗi
không bằng"
Tâm trạng này cũng là tâm trạng chung của những người dân
"Quê Choa" xa xứ. Đinh Sỹ
Minh đã thành công khi anh "biến" tâm trạng của riêng anh thành tâm
trạng "riêng" của nhiều người dân xứ Nghệ.
Tình quê hương thấm sâu trong hơi thở nên đi đâu, làm gì,
bất chợt gặp lại tiếng mẹ đẻ, tiếng "Quê
Choa" cũng làm Đinh Sỹ Minh bâng khuâng nỗi nhớ. Lần nữa, những câu
thơ như được bật ra tức thì từ cảm xúc ngẫu hứng của nhà thơ Đinh Sỹ Minh lại
làm mềm lòng những người dân xứ Nghệ:
"Giữa ồn ào náo
nhiệt phố đông
"Đi mô rứa",
nghe nao lòng đến thế
Cảm giác quê choa vừa
thương vừa lạ
"Mi ngài mô?"
đã đủ xao lòng!"
Khi bươn chải nơi đất khách quê người, với những va đập, bon
chen giữa nhiều kiểu người tốt - xấu - hay - dở, với tệ phân biệt vùng miền còn
cố hữu ở một số người, người dân "Quê
Choa" có những lúc phải tạm giấu đi ngữ điệu "trọ trẹ quê
hương" mà hòa đồng với "ngữ
điệu bốn phương" để mưu sinh... Đinh Sỹ Minh cũng vậy, anh cũng phải
giấu đi tiếng "trọ trẹ quê Choa"
khi bước chân xa quê lập nghiệp. Và sau những năm tháng lăn lộn ở xứ người với
những "cay đắng ngọt bùi"
nếm trải thì phút lắng lòng vẫn da diết tiếng "trọ trẹ" quê hương:
"Giờ đã qua ngữ
điệu bốn phương
Ta thấy yêu tiếng quê
choa đến vậy
Qua cay đắng ngọt bùi,
những ngữ phương từng trải
Thấy không mô bằng tiếng
mẹ mình ru con."
Những câu thơ chân thật kiểu ngẫu hứng "thấy gì viết đấy", không chỉ ở vài
câu thơ mà gần như ở cả bài, vậy mà "Quê
Choa" lại chiếm được cảm tình của nhiều bạn đọc. Tôi nghĩ, bạn đọc
(nhất là bạn đọc xứ Nghệ) thích bài thơ "Quê Choa" vì nhà thơ
Đinh Sỹ Minh đã làm được điều mà nhiều nhà thơ chưa làm được, đó là nói hộ
tiếng lòng của những người dân xa xứ, đã "biến" tâm trạng của riêng
anh thành tâm trạng "riêng" của nhiều người dân xứ Nghệ xa quê.
*.
Hà Nội, ngày 4 tháng 8-2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BÀI THƠ “CÁI TÔI”
CỦA NHÀ THƠ ÁI NHÂN THI SĨ
Nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ (có thêm các biệt danh là Ái Nhân
Bùi, Vua Mộng...) viết bài thơ “Cái Tôi” từ 26 tháng 04 năm 2020, như tự răn
mình, như trách người, trách đời... đã để "cái tôi tiêu cực” chi phối cuộc
sống, phủ mờ và làm tổn thương các mối quan hệ giữa con người với con
người trong xã hội.
CÁI TÔI
Cái tôi mày xấu quá
chừng
Vì mày tao cũng đã từng
đắng cay
Ngạo đời, kệch cỡm khoe
say
Biết đâu cũng giống mây
bay vô thường
Oai phong vênh váo hoang
đường
Hư danh bao gã cũng
phường thảo mai
Vì mày ối đứa tưởng oai
Kiêu căng một đám choai
choai khoe tiền
Cái tôi gieo rắc tỵ hiềm
Tan như bong bóng rơi
miền… ảo hoang
*.
Hà Nội, 26 tháng 4, 2020
ÁI NHÂN BÙI CAO THẾ
Những câu thơ hao hao dáng dấp “văn nói xếp vần” (có thể do
Ái Nhân Bùi vội viết theo cảm hứng) của "Cái Tôi" có hiệu ứng
tức thì với người đọc bởi sự trút giận thẳng tưng theo lối chì chiết chẳng cần
e dè, chẳng cần kiêng nể của nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ với thói kiêu ngạo, đố kỵ,
điêu chác, háo danh, hoang tưởng... của lòng người, của thói đời mà bất kỳ ai
cũng ít nhiều đều có.
Đọc “Cái Tôi” của anh, tôi tin nhiều
người bằng trực cảm sẽ giật mình ngờ ngợ nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ chủ ý mượn thơ
để "cay cú trả treo" mình, “đá xoáy” mình, “hậm hực chửi đổng” mình vì thấy bóng dáng mình hiển hiện trong
những dòng thơ đó.
Bài thơ hay hay không hay không bàn luận, cũng chẳng nên lấy
tiêu chí thơ ra làm quan trọng, chỉ nên biết “Cái Tôi” được nhà thơ Ái
Nhân Thi Sĩ viết bằng cảm xúc của những tâm thế: thở than, oán thán, cay cú,
trút giận... rất thật nhưng cũng lại rất ngạo nghễ, chả cần giấu diếm che đậy
những bời bời tâm trạng trách mình, trách người, trách đời... cũng chẳng cần ý
nhị nhẹ nhàng mà thẳng tưng bỗ bã, thậm chí là chì chiết cay nghiệt với những: “Ngạo đời, kệch cỡm”, “gieo rắc tỵ hiềm”,... của “phường thảo mai”, của “đám choai choai khoe tiền”... nên “Cái tôi” đã không còn là “cái tôi ấm ức”, “cái tôi hậm hực” của riêng tâm thế nhà thơ Bùi Cao Thế (họ tên đầy
đủ theo giấy khai sinh của nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ) mà là tấm gương phản chiếu
thói hư tật xấu làm giật thót khối người, thế là nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ đã
thành công với mục đích sáng tác “Cái tôi” của mình!
Tôi nghĩ, làm thơ, đôi khi cũng nên tự cho phép bỏ qua những
thủ pháp này nọ, những tiêu chí này kia để bài thơ vừa cất lên được tiếng nói
thật của lòng mình, vừa góp phần lên án thói hư tật xấu của người đời lại tự an
ủi được bản thân chút ít bằng “phép thắng
lợi tinh thần” như “Cái tôi” của nhà thơ Ái Nhân Thi Sĩ
thì cũng nên đấy chứ!
*.
Hà Nội, chiều 28 tháng 11-2022
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC "THU VÀNG
PHỐ CŨ" CỦA HOÀNG XUÂN SƠN
Tôi biết bài thơ "Thu Vàng Phố Cũ" của
nhà thơ Hoàng Xuân Sơn qua chuyên mục giới thiệu thơ hay vào thứ 7 hàng tuần
trên facebook cá nhân của Nhà giáo, Dịch giả Nguyễn Đại Hoàng.
Đây là bài thơ thể tự do, viết theo lối truyền
thống, với khá nhiều câu thơ đẹp, tinh tế, đã níu người đọc găm bài thơ vào trí
nhớ:
THU VÀNG PHỐ CŨ
Khi lá rừng phong dần đỏ
thắm
Anh nghe hương nồng bách
diệp thoảng quanh đây
Ôi những mùa thu rực rỡ
xứ người
Anh vẫn nhớ, vẫn mơ mỗi
độ thu vàng phố cũ
Nhớ những con đường
hoàng hôn tím nhẹ
Áo trắng ai đi dáng đẹp
mơ hồ
Gót nhỏ thì thầm, guốc
mộc đơn sơ
Như ghi dấu một thời anh
mộng tưởng
Anh nhớ cả một trời mây
thầm lặng
Con sông nằm khuất lấp
bóng mù sương
Buổi sáng ra đi chưa có
nắng trên đường
Nghe hơi lạnh phả vào
hồn thích thú
Anh còn giữ
Xác bướm lồng trang sách
cũ
Từng cánh hoa yêu ép vở
học trò
Từng buổi tan trường đưa
đón vẩn vơ
Theo ai đó mà ngại ngùng
thăm hỏi
Mùa thu trở về với hồn
thơ vụng dại
Ôm mộng thi nhân làm đẹp
cho đời
Hè phố gieo mòn những
bước đơn côi
Đi thơ thẩn như mây
chiều lạc lối
Anh muốn hỏi
Một đời người có bao
nhiêu lần thay đổi?
Con tầu đi không ghé mãi
ga nào
Có đâu ngờ hoa bướm vẫn
xôn xao
Trong trí nhớ mùa thu
vàng phố cũ
Chiều nay đứng dưới hàng
phong rực rỡ
Mà ngỡ rưng rưng mầu
huyết phượng năm nào...
*
HOÀNG
XUÂN SƠN
Không có chữ THƯƠNG chữ EM nào trong bài thơ
nhưng phủ kín bài thơ là hình bóng em với dày đặc kỷ niệm cùng em, cùng mùa thu
“rưng rưng” nỗi nhớ. Cách viết này
thì nhà thơ nào cũng đã có viết nhưng điều khác biệt (và đặc biệt) ở bài thơ
này là thi ảnh thi tứ của THU VÀNG PHỐ CŨ rất đẹp, rất gợi những cảm xúc của
riêng Hoàng Xuân Sơn:
- "Áo trắng ai đi
dáng đẹp mơ hồ
Gót nhỏ thì thầm, guốc
mộc đơn sơ"
- "Buổi sáng ra đi
chưa có nắng trên đường
Nghe hơi lạnh phả vào
hồn thích thú"
- "Hè phố gieo mòn
những bước đơn côi
Đi thơ thẩn như mây
chiều lạc lối"
Tình yêu tuổi học trò hiện lên trong ký ức của
thi nhân thật đẹp những ngại ngùng hồn nhiên của tuổi mới lớn:
"Xác bướm lồng
trang sách cũ
Từng cánh hoa yêu ép vở
học trò
Từng buổi tan trường đưa
đón vẩn vơ
Theo ai đó mà ngại ngùng
thăm hỏi"
Những vụng về ấy, những khù khờ ấy được nhà thơ
Hoàng Xuân Sơn diễn tả ở 2 câu thơ với những chữ thật đắc dụng:
"Hè phố gieo mòn
những bước đơn côi
Đi thơ thẩn như mây
chiều lạc lối"
Tôi thích cách dùng chữ của nhà thơ Hoàng Xuân
Sơn ở 2 câu thơ này!
Chữ "gieo"
diễn tả sự ấp ủ, niềm hy vọng chờ đợi có được một tình yêu trong sáng thơ mộng.
Chữ "mòn" diễn tả sự kiên
nhẫn và độ dầy của bụi thời gian. Hai chữ "gieo mòn" kết hợp để khắc họa một tình yêu đơn phương, nồng
nàn mà bền bỉ “thủy chung” đến khắc khoải của chàng trai độ tuổi xuân thì. Hai
chữ "đơn côi" ở cuối câu:
"Hè phố gieo mòn những bước đơn côi"
đã tô đậm và làm nhoi nhói thêm hình ảnh lẻ loi, cô độc của chàng thanh niên
chân chất, khờ khạo ôm mãi khối si tình. Hai chữ "thơ thẩn" đứng cùng 4 chữ "mây chiều lạc lối" trong
câu: "Đi thơ thẩn như mây chiều lạc
lối" đã tạc tạo lại hình ảnh chàng trai ngây thơ với nét buồn "vẩn vơ" giữa chiều tà nhạt nắng,
đẹp nhưng mà buồn đến nao lòng của kẻ vì yêu mà “vẩn vơ” “ôm mộng
thi nhân”.
Cả bài thơ là ăm ắp nỗi nhớ về "Em", về "Thu vàng phố cũ" nhưng viết trực tiếp về "Em" thì thi sĩ Hoàng Xuân Sơn cô
đọng chỉ 2 câu:
"Áo trắng ai đi
dáng đẹp mơ hồ
Gót nhỏ thì thầm, guốc mộc
đơn sơ”
Bằng 16 chữ chọn lựa không ồn ào mỹ tự, nhà thơ
Hoàng Xuân Sơn đã khắc họa "Em"
của "Thu Vàng Phố Cũ" thật
sinh động với vẻ đẹp mềm mại, tinh khôi, vẻ đẹp ấy đã khiến trái tim chàng trai
tuổi mới lớn phải "mơ hồ" ngơ ngẩn. Hai chữ "mơ hồ"
ở cuối câu "Áo trắng ai đi dáng đẹp
mơ hồ" làm nhiệm vụ bổ trợ, gợi mở thêm sự quyến rũ của "Áo trắng ai đi" thành vẻ đẹp huyền
ảo như thực như mơ. Hai chữ "thì
thầm" đặt trong câu "Gót
nhỏ thì thầm, guốc mộc đơn sơ” đã nâng sự quyến rũ của "Áo trắng ai đi" thêm nền nã, sống
động để “Em” được thật hơn và đời
hơn.
Những câu thơ tinh tế, giàu thi tứ thi ảnh của
"Thu Vàng Phố Cũ":
- “Áo trắng ai đi dáng
đẹp mơ hồ
Gót nhỏ thì thầm, guốc
mộc đơn sơ”
- “Con sông nằm khuất
lấp bóng mù sương
Buổi sáng ra đi chưa có
nắng trên đường
Nghe hơi lạnh phả vào
hồn thích thú"
- “Hè phố gieo mòn những
bước đơn côi
Đi thơ thẩn như mây
chiều lạc lối”
đã níu người đọc đọc chậm lại bài thơ, và chính
những hình tượng thơ đẹp những nét riêng của Hoàng Xuân Sơn như thế đã làm nên
sự khác biệt và đặc biệt khó quên của THU VÀNG PHỐ CŨ!.
*.
Hà Nội, sáng 24 tháng 09-2023
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
"LẠC" CỦA KHÉT
Nhận được tập thơ "Mình Mắc Cạn Vào Nhau" của Khét
(Trần Đức Tin) gửi tặng chiều qua, 05 tháng 05 năm 2021. Cầm tập thơ nho nhỏ
xinh xinh, chừng trăm trang in, tôi muốn đọc một lèo rồi viết vài dòng cảm nhận
về tâp thơ, để đáp lại sự quý yêu của Khét nhưng sách in cỡ chữ nhỏ quá mà lưng
thì đau, cánh tay lại nhức buốt, cử động rất khó khăn nên cả tối qua vất vả lắm
tôi mới đọc được vài bài. Những lúc thế này mới thấy sức khỏe thật đáng quý.
Thơ Khét, như mấy bài tôi vừa đọc, có cách viết khá giống
với phần đông những cây viết trẻ: làm mới, lạ và "độc" trong cách sử
dụng câu từ nhưng giọng thơ của Khét thì lại khá ấn tượng, rất riêng biệt của Khét.
Bài "Lạc" là một bài thơ như thế:
LẠC
những đứa trẻ
lạc
đường
đi hoang như chưa từng
có mẹ
thổi khúc sáo tiêu dao,
trâu mỏi mòn gặm nhấm
thèm uống nửa trưa đồng
nắng hạ, nứt nẻ chân đất
soi bóng những hố bom
con lia thia quẫy đuôi,
không trôi được nỗi buồn
những đứa trẻ
lạc
đường
thèm lời à ơi, câu
chuyện bà kể dù cổ tích không thiêng
trơ vơ
Bụt
tuốt sợi rơm vàng, ngồi
khóc để con diều ăn gió
ăn hết những yêu thương.
*.
Khét (Trần Đức Tin)
Khét viết về "những
đứa trẻ / lạc / đường" với lối ví von rất ngộ nghĩnh: "đi hoang như chưa từng có mẹ". Thì
hẳn là vậy mà! Không có Mẹ thì không có sự chằm bặp yêu thương, không có sự dẫn
dắt dạy bảo, thì khổ lắm, dễ lầm đường lạc lối lắm. Nhưng lạ là ở văn bản bằng
chữ của "Lạc", Khét ghi cụ
thể: "như chưa từng có mẹ"
thì rõ ràng chính "những đứa trẻ"
đã tự ý thức "lạc đường",
tự chối bỏ vòng tay yêu thương chở che của "mẹ" để "đi hoang",
để tự dời bỏ Quê Hương mang theo nỗi đau của kẻ xa xứ, không nhà. Nghĩa đen là
vậy. Ẩn ý ở những câu chữ này là gì? "Lạ" và "ngộ nghĩnh" ở
sự ví von này sao cứ làm đau trái tim người đọc khi những câu thơ cứ nhoi nhói
bắt người đọc liên tưởng tới thực trạng những hình ảnh xám xịt màu đen trong xã
hội hiện tại?!
Khét viết tiếp về chuyện "đi hoang" của "những
đứa trẻ" bằng những cách ghép chữ mới, lạ, với những hình ảnh gợi
nhiều cảm xúc:
"thổi khúc sáo
tiêu dao, trâu mỏi mòn gặm nhấm
thèm uống nửa trưa đồng
nắng hạ, nứt nẻ chân đất
soi bóng những hố bom
con lia thia quẫy đuôi,
không trôi được nỗi buồn"
Những câu: “thèm uống
nửa trưa đồng nắng hạ, nứt nẻ chân đất soi bóng những hố bom”, "con lia thia quẫy đuôi, không trôi được nỗi
buồn" thật xót xa, nhiều ám ảnh.
Khét viết tiếp ước mơ của "những đứa trẻ" tự bỏ nhà "đi hoang": "thèm
lời à ơi, câu chuyện bà kể" bằng tiếp tục ý thức tự đánh lừa niềm tin
vì đã biết "dù cổ tích không thiêng",
vẫn cố bấu víu vào hy vọng huyễn hoặc sẽ có được chút phép nhiệm màu của những câu
chuyện "cổ tích" để có được
cuộc sống bình thường với “mẹ”, với
Quê hương....
Nhưng sự thực cuộc sống hiện tại theo Khét kể sao mà đắng
chát, mà đằm những xót xa:
"trơ vơ
Bụt
tuốt sợi rơm vàng, ngồi
khóc để con diều ăn gió
ăn hết những yêu thương."
"Bụt" trong truyện cổ tích là một ông Tiên có phép
nhiệm màu luôn chớ che, bảo vệ, luôn đem đến những yêu thương, hạnh phúc cho
con người còn "Bụt" trong "Lạc" của Khét lại là một ông
Bụt “trơ vơ”, bất lực “tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn
gió”, "ăn hết những yêu thương."... Phép nhiệm màu của Bụt, của
ông Tiên trong niềm tin ngàn đời của người dân Việt đã bất lực trước sự hoành
hành đang chiếm thế thương phong của cái ác.
Đọc những câu thơ này của Khét, tôi nhớ hình như đã nghe ở
đâu đó, đọc ở đâu đó lời ngợi ca về một "ông Tiên", một ông
"Bụt" hiện hữu giữa đời thường còn nhân đức hơn nhiều ông tiên, ông
"Bụt" trong truyện cổ tích… nhưng mà suốt từ sáng đến giờ tôi vẫn
không thể nhớ ra.
*.
Hà Nội, trưa 06 tháng 05.2021
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
"ĐAU ĐẾN LƠ NGƠ"
CÙNG NGUYỄN ĐỨC HẠNH
*
Đọc bài thơ "Thái Nguyên Ngày Mưa Vỡ" của
nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đức Hạnh, bên cạnh những câu thơ lạ về tứ, mới về ngôn
từ và độc, lạ, đẹp về thi ảnh khiến người đọc thích thú: "Tôi về cắn giọt em vừa qua phố / Mưa ngàn năm
nhuộm trắng mái đầu", "Dốc
Nhà Bò, núi Cô Kê, quán Ba Trăm lay mòn sách cũ / Bao người đẹp thành bà cụ đi
bộ toàn vấp gió", "Người
tôi yêu thành giọt mưa vỡ / Lăn trăm năm trong một tiếng thở dài …"...
thì 2 câu thơ: "Cầu Gia Bảy nứt vì
bom Mĩ / Vá víu rồi còn đau đến lơ ngơ" được tác giả sắp xếp câu chữ
như viết rất chân chất tự nhiên lại làm người đọc phải chùng lòng bởi sự ám
ảnh:
THÁI NGUYÊN NGÀY MƯA VỠ
Cà phê Xưa chỉ còn ly
đầy gió
Giọt ngày xưa rơi đắng
bây giờ
Cầu Gia Bảy nứt vì bom
Mĩ
Vá víu rồi còn đau đến
lơ ngơ
Sông Cầu qua đây e thẹn
Giấu xoáy ngầm gọi tím
Bằng Lăng
Yêu là thế! Tôi về cắn
giọt em vừa qua phố
Mưa ngàn năm nhuộm
trắng mái đầu
Dốc Nhà Bò, núi Cô Kê,
quán Ba Trăm lay mòn sách cũ
Bao người đẹp thành bà
cụ đi bộ toàn vấp gió
Những xinh tươi vào Di
chúc cả rồi
Quả Sim nào lăn tím
ngắt thơ tôi?
Về đến ngõ. Rung ngực.
Thái Nguyên ơi
Áo Chàm rơi thành Hồ
Núi Cốc
Người tôi yêu thành
giọt mưa vỡ
Lăn trăm năm trong một
tiếng thở dài …
*.
NGUYỄN ĐỨC HẠNH
Viết về nỗi đau hậu cuộc chiến giữa 2 miền Nam Bắc đã có quá
nhiều nhà văn nhà thơ khai thác theo chủ đề xuyên suốt tác phẩm nhưng với
"Thái Nguyên Ngày Mưa Vỡ" của Nguyễn Đức Hạnh thì không
thế, chỉ là ông vô tình chợt thấy di chứng của cuộc chiến mà nỗi đau ám ảnh vào
thơ. Cả bài 16 câu chỉ có 2 câu thơ: "Cầu
Gia Bảy nứt vì bom Mĩ / Vá víu rồi còn đau đến lơ ngơ" gợi lại ký ức
buồn về một chặng đường lịch sử của dân tộc với những chữ giản dị, mộc mạc như
tự bật ra từ lồng ngực, từ trái tim nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đức Hạnh.
Hai chữ "vá víu"
đã lột tả thực trạng tâm, tầm và lực của lối suy nghĩ và cách hành xử của các
cơ quan chức năng có trách nhiệm với "Cầu
Gia Bảy nứt vì bom Mĩ", rộng ra là với cuộc sống của người dân và với
hiện trạng của đất nước.
Hai chữ "lơ ngơ"
diễn tả nỗi đau khó nói thành lời với những chất vấn không hiểu tại sao lại có
cuộc chiến 2 miền Nam Bắc? Tại sao di chứng chiến tranh lại để mãi kéo dài?...
Hỏi đấy mà không thể có câu trả lời thỏa đáng vì những lý do đưa ra "không thể tin được", "không thể hiểu được"... càng khiến
người “chất vấn” thấy lạ lẫm, ngớ ngẩn đến khó hiểu! Nếu nhà thơ Nguyễn Đức
Hạnh thay 2 chữ "lơ ngơ"
bằng các chữ khác như: ngẩn ngơ, xót xa, quặn thắt, đắng lòng,...
thì câu thơ thật bình thường, không có gì để bàn vì câu thơ dễ trôi tuột, không
để lại ám ảnh với người đọc!
Tôi thích cách dùng câu chữ chân chất tự nhiên ở 2 câu thơ này.
Bốn chữ "vá víu", "lơ ngơ" diễn tả được thật nhiều nỗi
niềm!
*.
Hà Nội, ngày 25 tháng 07-2024
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
BÀI
THƠ “HƯƠNG DƯƠNG CẦM”
CỦA
NGUYỄN THANH LÂM
----------------
HƯƠNG DƯƠNG CẦM
Mưa vừa
đủ cho hàng cây nhỏ giọt
Như
giọt cafe trắng trong
Gió vừa
đủ cho mưa rơi nghiêng
Hòa
tiếng dương cầm ru trong đêm
Hà Nội
đêm
Tiếng
dương cầm lan xa hương
Thơm
thơm mùi nhớ
Vương
vương dặm tình
Nghìn
mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng
dương cầm loang loáng ướt
Ngập
ngừng rơi
Bên kia
sông Hồng mưa có rơi
Tiếng
dương cầm có cùng hạt mưa thấm vào lòng đất
Phia
bên này năm cưa ô thao thức
Hay
đang mơ giấc nhạc dương cầm
Hà Nội
đêm tỏa hương dương cầm
Hương
vừa đủ cho đời tự cho là đủ
Hương
lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ
Trong
thế giới bao la riêng một hương mình.
*.
NGUYỄN THANH LÂM
LỜI BÌNH:
Mở đầu bài thơ là giọng
thơ thiền, ngộ đạo thường thấy của nhà thơ: Lặng lẽ quan sát, lặng lẽ chiêm nghiệm
để lặng lẽ rút ra những kinh nghiệm sống trong cõi tạm của đời người:
Mưa vừa đủ cho hàng cây
nhỏ giọt
Như giọt cafe trắng
trong
Gió vừa đủ cho mưa rơi
nghiêng
Hòa tiếng dương cầm ru
trong đêm
Ở đây, ở khổ thơ này,
tất cả sự vật, hiện tượng như cây cối, mưa, gió... đều vừa vặn, vừa đủ để tạo
nên một không gian đẹp, một khung cảnh thơ mộng, ấn tượng, rất Hà Nội, mà cũng
đậm chất triết lý Á Đông. Tuy là thế, người đọc vẫn sẽ thắc mắc sự phi lý khi
đọc đến câu: “Như giọt cafe trắng trong”
bởi thường thì người ta nói giọt cafe đen, giọt cafe nâu... chứ chưa nghe ai
nói“giọt cafe trắng trong” như nhà
thơ Nguyễn Thanh Lâm đã viết. Phi lý như thế nhưng lại rất có lý, bởi giọt cafe
mà ông lặng lẽ quan sát là giọt cafe của trời, của thiên nhiên, chứ không phải
giọt cafe đen hay nâu của trần tục. Chính giọt mưa đang tí tách nhỏ giọt trên
cây kia khiến ông liên tưởng tới giọt cafe, và với sự liên tưởng “ảo của thơ”
ấy đã khiến giọt mưa trong thơ Nguyễn Thanh Lâm có hồn, ấm áp, thơ hơn và đẹp
hơn. Phải quan sát thật kỹ, thật tỉnh thì ông mới đưa được ra “nhận xét” độc
đáo, chính xác, tinh tế như thế, và mới có được những câu: “Mưa vừa đủ cho hàng cây nhỏ giọt”/ “Gió vừa đủ cho mưa rơi nghiêng”, đấy
không chỉ là những câu thơ mà còn là những chiêm nghiệm, những triết lý của
cuộc sống, những ngộ thức về đạo của đời người. Vâng! Tôi rất tán đồng với
những điều ông viết nhưng thưa nhà thơ, biết cân đong đo đếm thế nào cho vừa
vặn, cho đủ đây? Thật khó, nào có dễ, thưa nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm!
Khổ 2, là khổ thơ tôi
thích nhất bởi tình yêu của tác giả dành cho Hà Nội được nhà thơ nâng niu, chắt
lọc trong từng câu chữ, hình ảnh:
Hà Nội đêm
Tiếng dương cầm lan xa
hương
Thơm thơm mùi nhớ
Vương vương dặm tình
Nghìn mắt lá, nghìn ánh
đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng dương cầm loang loáng
ướt
Ngập ngừng rơi
Cái hay ở đây là sự cảm
của nhà thơ về mưa đêm Hà Nội. Nhà thơ không chỉ nghe mà còn “ngửi” được, “nhìn” được hương mưa đêm dìu dịu của Hà Nội qua bảng lảng, dìu dặt
của tiếng dương cầm. Nhà thơ dùng: “Tiếng
dương cầm lan xa hương”, rất sáng tạo để dụ người đọc nhẹ nhàng bước vào
cõi nhớ thương rất riêng của ông, với những “Thơm thơm mùi nhớ/ Vương vương dặm tình”, chỉ có thể tìm thấy trong
thơ Nguyễn Thanh Lâm.
Hà Nội đã thẩm thấu vào
con người ông, thành máu thịt của ông đến độ khi tiếng dương cầm dìu dặt ngân
lên đã khiến ông rạo rực về Hà Nội, khiến những nét vẽ của ông về Hà Nội trong
mưa đêm cựa quậy, trở nên huyền ảo, lung linh, đẹp đến liêu trai:
Nghìn mắt lá, nghìn ánh
đèn đọng mưa chơm chớp
Tiếng dương cầm loang
loáng ướt
Ngập ngừng rơi
Tiếng dương cầm trong
thơ của Nguyễn Thanh Lâm không còn là tiếng âm thanh của nhạc cụ, mà thành
hương của lòng, thành hồn của nhà thơ đã ôm lấy, quyện lấy Hà Nội, để vẽ nên
một Hà Nội gợi cảm, mềm mại. Câu thơ: “Nghìn
mắt lá, nghìn ánh đèn đọng mưa chơm chớp” đã hay, đã đẹp nhưng có thể sẽ có
ai đó nghĩ được, viết được giống thế nhưng để cảm được “Tiếng dương cầm loang loáng ướt/ Ngập ngừng rơi” sống động đến mê
hoặc như Nguyễn Thanh Lâm thì thật khó, thật hiếm. Riêng khổ thơ thứ 2 này đã
là một bài thơ hay, hoàn chỉnh về Hương Dương Cầm trong mưa đêm Hà nội. Bài thơ
hay và đứng được trong tâm trí người đọc chính ở khổ thơ này!
Hai khổ cuối của bài
thơ là nỗi lòng trăn trở, thắc thỏm của nhà thơ với tình yêu của ông dành cho
Hà Nội, cho “người Hà Nội” của ông:
Bên kia sông Hồng mưa có
rơi
Tiếng dương cầm có cùng
hạt mưa thấm vào lòng đất
Phia bên này năm cửa ô
thao thức
Hay đang mơ giấc nhạc
dương cầm
Hà Nội đêm tỏa hương
dương cầm
Hương vừa đủ cho đời tự
cho là đủ
Hương lan xa đến đâu tự
mình thấu tỏ
Trong thế giới bao la
riêng một hương mình.
Nhịp thơ chậm lại,
giọng thơ trầm, lắng, dung dị và mộc mạc của ngôn ngữ đời thường, như thủ thỉ
tâm sự, nói chuyện để trải lòng. Nếu ở khổ thứ 2 là những hình ảnh liêu trai,
đẹp đến ma mị, được diễn đạt bằng cách nhìn nhận của tư duy phóng khoáng, hiện
đại thì ở 2 khổ thơ này, cách nhìn nhận và diễn đạt hình ảnh, lại bằng suy
nghĩ, triết lý rất phương Đông. Chất thiền đặc trưng của thơ ông ở khổ thơ 3 và
4 lại khiến người đọc tò mò, thích thú vì thấy cảm được thơ ông, hiểu được thơ
ông nhưng lại khó diễn đạt cho ra ý thành lời, đọc thơ mà như có cảm giác đang
chơi trò thách đố diễn đạt câu chữ với nhà thơ. Phải chăng vì điều đó mà thơ
Nguyễn Thanh Lâm kén bạn đọc!
Kết thúc bài thơ là
quan điểm của nhà thơ về cuộc sống: “Hương
vừa đủ cho đời tự cho là đủ/ Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ”, đượm
triết lý phương Đông, triết lý của Lão Tử.
Tôi mãi phân vân về câu
kết của bài thơ vì 20 năm chơi với ông, tôi hiểu ông là người tự trọng, khiêm
nhường, sống trọng tình trọng nghĩa nhưng câu “Trong thế giới bao la riêng một
hương mình” thì rất dễ bị hiểu lầm là cao ngạo, coi mình là riêng một vũ trụ
nên tôi đã lướt qua, cố tình không đả động đến. Thế nhưng, trước khi đưa bài
lên trang, tôi lại phân vân, rồi tự trách: Nguyễn Thanh Lâm đâu có cao ngạo?
Ông ung dung điềm đạm nhìn đời đấy chứ! Hương Dương Cầm đã là hương “riêng của
Hà Nội” chứ đâu còn là của riêng của Nguyễn Thanh Lâm mà bảo ông là người kiêu
căng! Lần nữa, tôi lại tán đồng với quan điểm thấm đẫm triết lý phương Đông của
ông về cuộc sống: “Hương vừa đủ cho đời
tự cho là đủ/ Hương lan xa đến đâu tự mình thấu tỏ”.
Tôi không có ý định
bình thơ vì không có khiếu bình thơ nhưng vì đọc Hương Dương Cầm thấy hay quá,
buộc lòng cầm bút để ghi lại vài dòng.
*
Hà Nội, chiều
08.07.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC “TÌNH NHÂN ƠI”
CỦA TRẦN HẠ VI
Đưa bài HỔN HỂN VỚI “TÌNH NHÂN ƠI” CỦA TRẦN HẠ VI lên blog Trang
Đặng Xuân Xuyến từ sáng 07.11.2017 nhưng sáng nay tôi mới có thời gian đọc bài
thơ này. Bị ám ảnh bởi câu “Nghĩ gì bên
bờ môi căng mọng ngụm tươi non mời gọi” của Trần Hạ Vi, tôi cứ trằn trọc,
lỡ mất giấc ngủ trưa. Tôi khoái hình ảnh tươi nõn, phồn thực của “bờ môi” đầy dục tính.... nên dù đang rất
đau lưng (bệnh xương khớp) cũng cố ngồi “lạch cạch” đôi dòng cảm nhận về bài
thơ của nữ thi sĩ họ Trần.
Bình thơ ư? Chắc chắn là không rồi! Bài thơ đã được nhà phê bình
văn học Châu Thạch ưu ái phóng bút, đã viết gần như cũng đủ hết các ý rồi nên
bài viết này chỉ ghi lại vài “sự thích” nho nhỏ của tôi khi đọc “Tình
Nhân Ơi” của Trần Hạ Vi, một bài thơ đang được bạn bè trên facebook quý
mến.
TÌNH NHÂN ƠI
Tình nhân ơi, gọi em đi
Tên em trên môi anh
dòng ngọt ngào chảy mật
Ta rúc vào nhau
cơn cuồng si hổn hển
ngắn dài
quên áo cơm đời chật
vật
Em nhớ anh
cồn cào cội nguồn thúc
thôi triền khao khát
Em mong anh
mơ lắm một bàn tay!
Yêu em đi
ngoài kia ngày vẫn là
ngày
Đêm vẫn là đêm, chỉ
chúng mình là bỏng rát
Cuộn trào trong từng
cơn khát
Khát anh khát em
quằn quại đam mê khát
tình...
Tình nhân ơi
sao anh cứ làm thinh?
Nghĩ gì bên bờ môi căng
mọng ngụm tươi non mời gọi
Mưa nguồn lũ xối
Úp mặt em cười sau nhàu
gối chăn hoan
Mưa xuân lất phất tưới
nụ hoa xoan
Ú ớ hoan mê những lời
vô nghĩa
Nuốt lấy nhau kệ tiếng
đời mai mỉa
Nguyên thủy hồng hoang
tràn về...
sự sống mới mới lại sinh
sôi
Tình nhân ơi,
lại nhớ anh rồi....
*
04.11.2017
TRẦN HẠ VI
Vâng! Tôi thích cách “nhớ”
của Trần Hạ Vi. Nó rốt ráo, cuống cuồng. Nó gấp gáp, dồn dập. Nó căng lên như
dây đàn. Nó rền rĩ như tiếng va đập vọng về của âm thanh chiều vọng: “Em nhớ anh/ cồn cào cội nguồn thúc thôi
triền khao khát”. Để làm gì? Chỉ là “Em
mong anh/ mơ lắm một bàn tay!”. Thế thôi! Yêu thì nhớ, thì mong, thì cần có
nhau, cần những phút giây thuộc về nhau, để quyện vào nhau, để tình yêu được
thăng hoa... Vâng! Thì là yêu mà! “Nhớ”
như thế thì tình yêu nào chẳng có nhưng “nhớ” ở trong “Tình Nhân Ơi” lại thấy cứ
“sao sao”? Nghe nhẹ hều mà sống mũi cay cay?! Khác lắm! Lạ lắm! Buồn lắm!
Thích là thế nhưng tôi khoái khổ thơ thứ 4, khổ mà theo tôi
chính là xương cốt, làm trụ cho bài thơ:
“Tình nhân ơi
sao anh cứ làm thinh?
Nghĩ gì bên bờ môi căng
mọng ngụm tươi non mời gọi
Mưa nguồn lũ xối
Úp mặt em cười sau nhàu
gối chăn hoan”
Những câu thơ rất “phồn thực”, bỏng nhẫy truy hoan và nỗi sướng
rơn hoan hỉ của cô gái sau cuộc ái ân mãn nguyện được Trần Hạ Vi quẳng toẹt lên
gường, chẳng cần úp úp mở mở, che che giấu giấu.
Gã trai đã hết hưng phấn, đang thèm được nghỉ ngơi khi đã làm
xong nhiệm vụ của giống đực nhưng cô gái thì vẫn còn đang âm ỉ rạo rực, vẫn còn
đang lửng lơ ở đỉnh của khoái cảm. Tuy “Úp
mặt em cười sau nhàu gối chăn hoan” vì đã mãn nguyện với trận “Mưa nguồn xối lũ” nhưng cô vẫn chờ được
ngấu nghiến tiếp, vẫn sẵn sàng với những “nhàu
gối chăn hoan”. Máu lửa trong hành động, bạo liệt và tự tin trong cả suy
nghĩ như thế bởi cô tin vào thứ vũ khí lợi hại đang sở hữu: “Nghĩ gì bên bờ môi căng mọng ngụm tươi non
mời gọi”. Vâng! Tôi khoái hình ảnh “bờ
môi” rất nữ tính, rất sex này. Một hình ảnh đẹp, tươi nõn mà phồn thực,
căng phồng những gợi cảm, và đầy kích thích dục tính như thế thử hỏi có gã đàn
ông nào “làm thinh”? Tôi cũng khoái
tính cách thẳng thắn, bạo liệt của cô gái: Yêu bảo yêu! Thích thì sẵn sàng “ba bảy cũng liều” chứ chẳng thèm ỡm ờ,
thả thính.
Không nói nhiều về gã trai, chỉ một câu thán “sao anh cứ làm thinh?”, Trần Hạ Vi đã
“tố” mối duyên này trái ngang, không thuận. Phải có uẩn khúc nào đó, trắc trở
nào đó thì gã trai mới lặng thinh như thế, mới “thụ động” như thế. Phút lặng
thinh đó không hẳn là gã thèm được nghỉ ngơi khi đã làm xong nhiệm vụ của giống
đực mà còn là phút tự vấn của gã về những liên quan tới cuộc tình mang hơi
hướng “vụng trộm”, trái ngang. Cảm thông cho gã thì mới hiểu được lý do vì sao
cô gái luôn khát yêu, bạo yêu, mới cảm thương mối tình chông chênh, trắc trở.
Đọc “Tình
Nhân Ơi”, thấy cô gái “ngông nghênh” trong tình yêu, mà cũng se lòng vì
mơ hồ thấy căn nguyên của cái “ngông nghênh” ấy.
Vâng! Thêm một khoái nữa, đó là khoái cách tỏ tình (đúng hơn là
cách gạ yêu) của Trần Hạ Vi: “Yêu em đi”
rất thẳng thắn, huỵch toẹt, chẳng màu mè, làm giá như những ả nàng. Sự chân
thành đến dạn dĩ, mạnh bạo đến trần trụi, và tinh thần “tử vì tình”, chấp nhận
thua thiệt trong tình yêu, dẫu biết tình yêu ấy là trái ngang, trắc trở, là bia
miệng của người đời thì vẫn cứ bất chấp, vẫn cứ: “Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa/ Nuốt lấy nhau kệ tiếng đời mai mỉa”
như Trần Hạ Vi thì quả thật ngay trong giới mày râu cũng khối kẻ lấm lét đứng
nhìn.
Không biết ngoài đời Trần Hạ Vi có “ngông nghênh” yêu như vậy
không và với những gã trai có tính rụt rè, nhát gái (kiểu như người viết bài
này) mà gặp được người trong mộng như vậy thì sao nhỉ? Chắc sẽ tròn mắt vì ngạc
nhiên, và cả vì hạnh phúc! Vâng! Là tôi nghĩ thế!
*.
Hà Nội, chiều 15 tháng 11 năm 2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC “GỌI ĐÊM
TRỞ GIÓ” CỦA BÙI CỬU TRƯỜNG
Tôi thích “Gọi đêm trở gió” của nhà thơ, bác sĩ
Bùi Cửu Trường vì bài thơ được viết như trải lòng, rất thật mà câu chữ lại
sáng, đẹp, thanh thoát. Đọc đi đọc lại, tôi càng thích bài thơ hơn. Và dù đã
rất buồn ngủ, tôi cũng cố ngồi viết vài cảm nhận về bài thơ hay, nhưng buồn mà
đẹp này.
GỌI ĐÊM TRỞ GIÓ
Gió sao không lùa mé
Tây
- cái phía nhà em không
cửa.
mà cứ lọn dai, lọn dài
buốt giá
len qua kính mà
run!
Ở đâu, ơi ngàn
thương?
Đi đâu, ơi vạn nhớ?
Nẻo về tàn lá cỏ
Lối sang mờ màn mưa...
Gió bấc căm căm rét
cóng cơn mơ
thốc ngược gối gường
trống vắng.
Đông mình em / cây
đường lập cập.
Đông mình em / sương
muối buốt khuya
Trở gió. Rét về
Sao Người không về
lại?
Gầm gào gió cơn man dại
hù doạ đêm mồ côi.
*
Trở gió 24/11/2016
BÙI CỬU TRƯỜNG
Ấn tượng níu giữ tôi đầu tiên là câu:
Nẻo về tàn lá cỏ
Lối sang mờ màn mưa...
Câu thơ thật hay, đẹp. Và cả lạ nữa.
Tôi chưa được gặp cách diễn tả nỗi đau xa cách nào bằng hình
ảnh: “Nẻo về tàn lá cỏ / Lối sang mờ màn
mưa...”, hay và lạ vì bảng lảng nét liêu trai như thế. Có thể là vì tôi ít
đọc, nhất là thơ thì lại càng lười đọc nhưng ở 2 câu thơ này, cách diễn đạt như
thế, không phải là tình cảm nhớ nhung thông thường vì xa cách, mà là vời vợi
những nhớ thương của người sống với người đã khuất, là nỗi đau khôn nguôi bởi
sự cách trở bất khả kháng của Âm - Dương cách biệt. Đấy là câu thơ hay và đẹp
của tình nghĩa Tào Khang, hoàn toàn không dành cho tình yêu trai gái.
“Nẻo về tàn lá cỏ / Lối
sang mờ màn mưa...” cứ bồng bềnh nhân ảnh, cứ bảng lảng nét liêu trai, như
là những ngăn trở bất khả kháng, càng khiến nỗi trống vắng trong “Gọi
đêm trở gió” thêm hoang hoải, xót xa.
Tôi đã suýt bật khóc khi đọc:
Trở gió. Rét về
Sao Người không về
lại?
Câu “Trở gió. Rét về”
được ngắt làm 2 nhịp bằng dấu chấm ngăn cách, đã đẩy sự cô đơn, trống vắng của
“Gọi
đêm trở gió” thêm vời vợi, xót xa. Đấy không chỉ là lời cảm thán của
tâm trạng xót xa khi Đông về mà là cả sự nhớ nhung được dồn nén bấy lâu. Đọc: “Sao người không về lại?”, tim tôi như
thắt lại, cứ mường tượng tới hình ảnh một thiếu phụ ngoái đầu, đăm đắm ánh nhìn
hướng về phía cánh cửa như đang ngóng chờ một “Người” nào đó rất quan trọng “về
lại”, diết da lắm, mà cũng tuyệt vọng lắm. Câu thơ bật ra như tiếng thổn
thức của nỗi lòng, như trải ra để mong được vơi đi nỗi nhớ nhung đang bào xát
con tim. Dường như vì sự nhớ thương đến khắc khoải, cũng da diết đã từ rất lâu,
khiến thiếu phụ đụt hơi, đuối sức. Câu: “Sao
Người không về lại?”, nghe như một tiếng nấc nghẹn của sự nhớ thương đến
tuyệt vọng, âm điệu nhỏ dần, nhỏ dần, xót xa, nghẹn đắng:
Trở gió. Rét về
Sao Người không về
lại?
Hình ảnh đẹp. Rất thơ! Rất họa! Tôi cứ ngẩn ngơ với ý nghĩ: Giá
như bài thơ dừng lại ở đây thì hay hơn, vì như thế bài thơ sẽ gợi cảm xúc hơn,
ấn tượng hơn, và chất thơ sẽ đẹp hơn.
Vâng! Đấy chỉ là vài cảm nhận của tôi khi đọc “Gọi
đêm trở gió”. Và những cảm nhận đó có thể sẽ không trùng với ý tác giả,
nhưng như thế thì tôi cũng rất cám ơn nhà thơ Bùi Cửu Trường đã cho tôi thưởng
thức một bài thơ hay, để tôi thêm cảm nhận về một cung bậc tình cảm qua bài thơ
lấp lánh những nhớ thương đến xót lòng.
*
Hà Nội, 3 giờ sáng 02.03.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC “QUÊ TRONG PHỐ”
CỦA NGUYỄN XUÂN MÔN
Lang thang dạo facebook, tôi “gặp” “Quê Trong Phố” của nhà
thơ Nguyễn Xuân Môn. Bài thơ chỉ sau vài ngày “xuất xưởng” đã nhận được lời tán
thưởng và chia sẻ của nhiều bạn đọc trên facebook: 892 lượt thích, 166 bình
luận (hầu hết là lời ngợi khen) và 8 lượt chia sẻ. Những con số thật ấn tượng.
Phần vì tò mò, phần vì cũng đã từng đọc và thích thơ của ông nên
tôi chầm chậm đọc để hiểu “Quê Trong Phố” của Nguyễn Xuân Môn.
QUÊ TRONG PHỐ
Văng sang từ phía nhà
bên
Tiếng gà gáy vỡ toác
đêm thu tàn
Sớm mai tia sáng nằm
ngang
Khói bay nghiêng sợi
khẽ khàng luồn sương
Ánh đèn đêm phố còn
vương
Còi xe đã xé rách đường
tả tơi
Lắng tai nhặt tiếng
chim rơi
Tiếng kêu của là úa rời
cành đau
Nhớ quê sân thượng
trồng cau
Trầu… không: Vẫn thả
dây trầu “neo” quê
Thích
"hương"… bùn - mặc người chê
Cá kho niêu, vại cà thề
hợp ngon
Quê từ cha “nhiễm” sang
con
Trát ngoài “phấn” phố
vẫn còn quê trong
Người quê ở phố, quê…
bong?
Tôi "quê"
trong phố bởi lòng có quê!
*.
Tháng 10 năm 2018
NGUYỄN XUÂN MÔN
Ngay từ những câu thơ đầu, nhà thơ đã sử dụng từ ngữ, hình ảnh
“độc đáo” và táo bạo, không nền nã như "tạng" của thể thơ lục bát:
Văng sang từ phía nhà
bên
Tiếng gà gáy vỡ toác
đêm thu tàn
"văng" tiếng
gà gáy làm "vỡ toác đêm thu tàn".
Là "văng"
chứ không phải là "vẳng",
là thô ráp, trần trụi của “vỡ toác đêm”
chứ không phải là trong trẻo của một sớm mai yên bình, tinh khiết. Một sự
“thưởng ngoạn” tiếng “gà gáy sáng” rất khác lạ.
Và hình ảnh "sớm mai"
cũng trái ngược với lẽ thường, vì người ta hay nói "tia nắng xiên xiên", còn nhà thơ Nguyễn Xuân Môn thì viết: “Sớm mai tia sáng nằm ngang”. Một “sớm mai” thật khác lạ! Bởi, thường thì “tiếng gà gáy” sáng chỉ có ở thôn quê nên
“tia sáng nằm ngang” - tia sáng được
khúc xạ bởi một góc nghiêng chừng 30 độ so với phương nằm ngang - nghe chừng
không hợp lý. Thế nhưng tiêu đề bài thơ là "Quê Trong Phố" thì
đích thị "tiếng gà gáy" ở
trong thành phố - Là nỗi nhớ quê hương âm ỉ trong Nguyễn Xuân Môn. Mà đã là
"tiếng gà gáy" sáng ở thành
phố là ẩn ý nỗi nhớ quê hương thì "tia
sáng nằm ngang" có thể chấp nhận.
Hình ảnh "Khói bay
nghiêng sợi khẽ khàng luồn sương" của một "sớm mai" yên bình và mộng mơ đã bị phá vỡ bởi những vội vã,
cấp tập của cuộc sống nơi đô hội, thị thành:
Ánh đèn đêm phố còn
vương
Còi xe đã xé rách đường
tả tơi
Lắng tai nhặt tiếng
chim rơi
Tiếng kêu của lá úa rời
cành đau
Phải thừa nhận ở khổ thơ này (và cả ở khổ thơ đầu), nhà thơ
Nguyễn Xuân Môn đã bỏ ra khá nhiều công sức cho việc tìm tòi, sáng tạo ngôn từ
để có được những câu thơ gợi cảm, hình ảnh độc đáo, thể hiện sự nghiêm túc
trong lao động và sáng tạo, nhưng có là quá lời chăng khi người đọc lại cảm
thấy dù nhà thơ đã cố gắng thể hiện nỗi lòng bằng những câu thơ kỳ công trau
chuốt thì những câu thơ đó cũng chỉ như những vật trang sức bóng bảy, phù phiếm
vì chúng lạc lõng, chẳng hề ăn nhập với cấu tứ của bài thơ:
Lắng tai nhặt tiếng
chim rơi
Tiếng kêu của lá úa rời
cành đau
Nếu đấy là nói về sự đô thị hóa đã tàn phá làng quê, “hồn” quê, “chất” quê thì tâm trạng ấy, đau xót ấy hợp lẽ, hợp cảnh nhưng đây
là những hoạt động thường nhật ở nơi phố xá, thị thành thì sự náo nhiệt, hối
hả, thậm chí là xô bồ, đôi khi đến nghiệt ngã hơn thế cũng là phải, cũng là
điều dễ hiểu. Đâu cần nhà thơ phải nức nở, đớn đau như thế?! Vô tình, ở những
câu thơ này, nhà thơ Nguyễn Xuân Môn đã đẩy tâm trạng xót xa của “nhân vật trữ
tình” quá lên, chẳng hề ăn nhập gì với cấu tứ bài thơ, khiến người đọc thơ cho là
sáo rỗng, phù phiếm, thậm chí còn thốt lên: Thật chẳng đâu vào đâu.
Hai khổ thơ cuối được viết với kết cấu lỏng lẻo, ý tứ nhạt nhẽo,
nhất khi ông cố dụng tâm “chơi chữ” ở khổ thơ kết, nhằm làm nổi bật tình yêu
quê hương sâu đậm trong tim:
Quê từ cha “nhiễm” sang
con
Trát ngoài “phấn” phố
vẫn còn quê trong
Người quê ở phố, quê…
bong?
Tôi "quê"
trong phố bởi lòng có quê!
nhưng cách sử dụng từ ngữ cẩu thả, thiếu cân nhắc, việc chọn lựa
hình ảnh cũng hời hợt, tùy tiện,... đã khiến dụng tâm của ông thất bại. Đơn cử,
tình quê hương là thiêng liêng, là sâu lắng trong trái tim mọi người, nhưng đọc
câu: “Quê từ cha “nhiễm” sang con”,
người đọc cảm thấy ớn lạnh khi nghĩ đến nghĩa của những cặp từ: lây nhiễm,
truyền nhiễm, ô nhiễm... Khiến người đọc nghi ngại đặt dấu hỏi: Yêu quê sao lại
rẻ rúng tình quê như thế? Nếu ông cẩn thận một chút, chả cần cầu kỳ đến mức
trau chuốt như khi ông chọn lựa ngôn từ, hình ảnh cho mấy khổ thơ đầu, chỉ đơn
giản là ví dụ ông dùng từ “thấm” hoặc
từ “ngấm” thay cho từ “nhiễm”: “Quê từ cha “thấm” (ngấm) sang con”, là được.
Thơ của ông tôi đã đọc và cũng thích một số bài nhưng những câu
thơ nhạt nhẽo, thô kệch như: “Quê từ cha
“nhiễm” sang con/ Trát ngoài “phấn” phố vẫn còn quê trong”, hay: “Thích “hương”... bùn mặc người chê/ Cá kho
niêu, vại cà thề hợp ngon”... đã ít nhiều giảm sự yêu thích thơ ông trong
tôi và khiến “Quê Trong Phố” của ông, của nhà thơ Nguyễn Xuân Môn
thành... kém duyên.
*
Hà Nội, chiều 21 tháng 10 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC
LÃO GÀN CHỬI QUAN THAM
“Xin Chửi Một Phát Hạ Hỏa” là bài thơ 5 chữ của nhà thơ Nguyễn
Xuân Lộc, sáng tác năm 2015, nhân sự kiện ông Cầm Ngọc Minh, Chủ tịch Ủy ban
Nhân dân tỉnh Sơn La có “tâm tư”: “Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng
tôi”.
Bài thơ như một cái tát, giáng thẳng vào mặt lũ quan tham, lũ
người mà nhân dân miệt thị và căm phẫn gọi là “cẩu quan”.
XIN CHỬI MỘT PHÁT HẠ HỎA
Lại tượng đài ngàn tỉ
Trời ơi! Thuế của dân
Cụ Hồ mà sống lại
Chắc phải bị tâm thần.
Thằng chó nào phê duyệt
Những dự án tào lao
Một đời ông giản dị
Biết phô trương lúc
nào?
Chúng bay học tập Bác
Thì học được thứ gì
Cần kiệm và liêm chính
Sao chúng bay vất đi?
Kiếm ăn trên thân xác
Một người đã chết rồi
Lại nhân danh cộng sản
Khốn nạn thế thì thôi!
Lâu rồi không muốn chữi
Nghĩ đàn gãy tai trâu
Nhưng làm sao cất được
Cục tức ở trong đầu .
Rặt một phường xỏ lá
Lên giọng dạy người
ngay
Ông cụ nằm trong đó
Đau lắm bởi chúng mày.
Vì tiền làm những
chuyện
Hại nước rồi hại dân,
Thương cụ mà như thế
Hơn hại cụ ngàn lần.
*.
NGUYỄN XUÂN LỘC
Mở đầu bài thơ, nhà thơ đi thẳng vào vấn đề: “Lại tượng đài ngàn tỉ” với tiếng kêu căm
phẫn: “Trời ơi! Thuế của dân”. Và
chẳng cần lịch sự, ông chỉ mặt và gọi thẳng bọn quan tham là "thằng chó". Đấy không chỉ là sự
miệt thị mà còn là sự căm phẫn đến tột cùng của ông, của triệu triệu người dân
đất Việt dành cho lũ quan tham:
"Thằng chó nào phê
duyệt
Những dự án tào lao
Một đời ông giản dị
Biết phô trương lúc
nào?"
Hệ thống truyền thông rần rần những ngợi ca đức tính giản dị,
cần kiệm, liêm chính, chí công của cụ Hồ. Báo đài của Đảng - Nhà nước cũng rầm
rộ kêu gọi toàn Đảng - toàn dân - toàn quân quyết tâm "sống, chiến đấu,
lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại'. Tiêu tốn biết bao tiền thuế của
dân vào cuộc vận động "sống, chiến
đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại'', ấy thế mà lũ quan tham
chẳng học được gì để “vì dân vì nước”,
mà chúng chỉ chăm chăm nghĩ ra những chiêu trò đục khoét, cướp bóc của dân,
thỏa chí 'vinh thân phì gia'. Chúng
nghĩ ra trăm nghìn “dự án tào lao” để chia chác “lợi ích”, tàn phá đất nước,
bất chấp lòng dân uất hận.
Xót xa khi liên tưởng tới cuộc đời thanh bạch, giản dị của cụ
Hồ: “Một đời ông giản dị/ Biết phô trương
lúc nào?”, nhà thơ thẳng thắn chất vấn lũ quan tham: "Chúng bay học tập Bác/ Thì học được thứ gì",
khi mà: “Cần kiệm và liêm chính/ Sao
chúng bay vất đi?".
Ông chua xót chỉ ra lũ quan tham là hiện thân của một bầy kền
kền:
"Kiếm ăn trên thân
xác
Một người đã chết rồi
Lại nhân danh cộng sản
Khốn nạn thế thì
thôi!"
Có lẽ ông không thể ngờ những con kền kền ấy lại "kiếm ăn trên thân xác" của chính
người mà chúng đã tôn thờ, đẩy lên thành bậc thánh nên lời thơ của ông chứa đầy
sự uất hận và mai mỉa.
Lũ kền kền ấy đã nghĩ ra đủ chiêu trò để đục khoét ngân khố quốc
gia, bòn rút cạn kiệt tiền thuế của dân: xây tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng,
xây Quảng trường Hồ Chí Minh... Chúng trắng trợn và tởm lợm đến mức tị hiềm
nhau giữa “quốc dân đồng bào”: "chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng
tôi" vì nếu xây dựng tượng đài cụ Hồ thì những khoản "chia
chác" đút túi sẽ không nhỏ, sẽ chả kém gì dự án "bột nở" - dự án
nạo vét sông Sào Khê (Ninh Bình) đội vốn gấp 26 lần: từ 72 tỉ lên 2.600 tỉ.
Đấy mới là mục đich của chúng!
Chúng cần gì quan tâm đến cuộc sống của người dân đang lầm than,
cơ cực:
"Tôi nghe...
Đứa trẻ Gia Lai chết trong
tức tưởi
Ba năm tới trường bằng
mượn áo rách của anh
Bà Lò Thị Phanh
Bệnh viện trả về
Không tiền thuê xe
Xác cuốn chiếu
Gập ghềnh xe thồ hơn
trăm cây số."
(Tôi Nghe - Đặng Xuân Xuyến)
Dặn lòng nhẫn nhịn vì nghĩ "đàn gảy tai trâu", nhà thơ Nguyễn Xuân Lộc cũng tựa như triệu
triệu người dân đất Việt nhẫn nhịn mọi chuyện để an phận với cuộc sống ấm ức,
bị chặn đầu cướp đuôi. Sai lầm của ông, của tôi, của nhiều người dân lương
thiện là đã "tặc lưỡi" cho qua "mọi chuyện" mà không biết
rằng lũ quan tham ma mãnh lắm, xảo trá lắm, độc ác lắm. Chúng rành rẽ mọi
chuyện, chúng giỏi “công tác dân vận”,
chúng sành về tâm lý và "chiến tranh
tâm lý" nên chúng làm được những chuyện "kinh thiên động
địa", những chuyện táng tận lương tâm - những chuyện mà người lương thiện
không bao giờ dám làm.
Ông vạch mặt, chỉ đích danh lũ chúng là phường xỏ lá, kệch cỡm,
là lũ vì tiền mà bán linh hồn cho quỷ, hại nước hại dân:
"Rặt một phường xỏ
lá
Lên giọng dạy người
ngay"
Và trầm giọng:
“Ông cụ nằm trong đó
Đau lắm bởi chúng mày.”
Rồi kết luận:
“Thương cụ mà như thế
Hơn hại cụ ngàn lần.”
Tôi nghĩ, ở 2 câu kết này nhà thơ Nguyễn Xuân Lộc đã sai vì lũ
quan tham ấy, lũ kền kền ấy nào có thương xót cụ Hồ. Chúng chỉ lợi dụng tên
tuổi Cụ, uy danh Cụ để hợp thức hóa việc trấn cướp tài sản của đất nước, bòn
hút xương máu của nhân dân. Có lẽ, bài thơ không nên có khổ thơ thứ 7 thì sức
chiến đấu sẽ cao hơn.
Dẫu vậy, thì đây là một bài thơ rất đáng đọc.
*
Hà Nội, chiều 26 tháng 10 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC: "THUYỀN
NEO BẾN LẠ" CỦA PHÚC TOẢN
Chiều 19 tháng 01 năm 2019, nhẩn nha dạo facebook, tôi
"gặp" bài thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" của nhà thơ
Phúc Toản:
THUYỀN NEO BẾN LẠ
- Gửi NTPT -
Lạnh lùng cơn gió chiều
đông
Xô con thuyền nhỏ theo
dòng về xa ...
Dây đời buộc tím nhành
hoa
Ngày vui ...mà lệ ướt
nhòa câu thơ ...
Thật rồi... vẫn ngỡ là
mơ
Lấy chồng! Em lấy
chồng! Ơ! Lấy chồng...
Gừng cay, muối mặn xát
lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào
trong nỗi mừng...
Một luồng gió thổi sau
lưng
Tân bao kỷ niệm, đoạn
từng nhớ thương...
Mùa xuân phía trước
dâng hương
Đằng sau lạnh buốt một
phương trời buồn...
*.
Tân Yên, tháng 01.2001
PHÚC TOẢN
Thoạt đọc, bài thơ không có gì đặc biệt, cũng như những bài thơ
tình than vãn về tình yêu lứa đôi bị chia rẽ, bội bạc... đầy rẫy trên mạng, đọc
xong là quên liền. Tôi định nhấn like rồi chuyển đọc tin khác thì âm hưởng câu
thơ: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ!
Lấy chồng..." níu tôi đọc lại.
Vâng. Tôi thích khổ thơ thứ hai, khổ thơ gây nhiều ấn tượng với
tôi.
Cách chuyển nhịp từ 2/4 (tiết tấu chậm) ở câu lục: "Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ", sang
nhịp 2/3/1/2 (tiết tấu nhanh) ở câu bát: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...", đã khéo léo đặt tâm
trạng của nhân vật "tôi" cùng (lúc) rơi vào nhiều cung bậc tình cảm.
Với cách ngắt nhịp đặc biệt ở câu bát như thế, nhà thơ Phúc Toản đã thành công
trong việc miêu tả nội tâm của chàng trai khi được tin người yêu lấy chồng chỉ
trong một câu thơ. Từ tâm trạng còn nhiều ngờ vực, bán tín bán nghi: "Lấy chồng", chuyển sang tâm trạng
sững sờ, buộc phải chua chát mà tin: "Em
lấy chồng", và đẩy nỗi niềm đắng cay dâng tiếp lên cao bằng câu thảng
thốt: "Ơ", biểu hiện của
tâm trạng bất lực, rồi buông thõng bằng câu xác tín: "Lấy chồng..." của tâm trạng thất vọng, chán chường.
Tôi nghĩ, đấy là câu thơ độc đáo, đã giúp bài thơ sáng lên.
Không than vãn, kế nể, không nặng lời trách móc khi người yêu
theo "thuyền neo bến lạ",
nhà thơ Phúc Toản đã gói ghém tất cả sự trách giận, nỗi xót xa của chàng trai
vào 2 câu thơ:
"Gừng cay, muối
mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào
trong nỗi mừng ..."
Chính sự kiệm lời ấy càng làm nỗi đau nhân đôi.
Tôi nghĩ, ở câu thơ: "Nỗi
buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...", dù nhà thơ Phúc Toản chỉ nói về
nỗi đau đang cứa vào trái tim của riêng "anh" thì người đọc vẫn cứ
liên tưởng, vẫn cứ hình dung đấy là nỗi đau đã lan tỏa, đã xâm chiếm cả không
gian ngày "em" làm lễ Vu Quy. Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim
chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với
một người đàn ông xa lạ.
Vâng. Câu thơ: "Nỗi
buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." đã đích thực chỉ ra là vậy.
Tôi thích 2 chữ "cứ
nhói" ở câu thơ này. Nó diễn đạt được nhiều điều. Nó làm cho câu thơ
day dứt thêm và lắng đọng hơn.
*.
Làng Đá, sáng 20 tháng 01.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”
- NGÀY 8 THÁNG 3
Sáng ngày 8 tháng 3, tôi được đọc một bài thơ tự sự, viết về MẸ
của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường.
Bài thơ có tựa đề: RÉT BÂN NHỚ MẸ.
RÉT BÂN NHỚ MẸ
Rét Bân vương má con
hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho,
mẹ ạ
Chân mẹ ấm không / rét
Đài sương giá?
Tay mẹ cóng không / rét
Lộc buốt tê?
Mẹ ơi!
Từ hồi Mẹ đi
quanh con hơ hoác
trống.
Mưa Bân chắt lọc
từ li ti hương xuân rất
trong
Tình mẹ ấm nồng
gom nhặt từ tháng ngày
vất vả
tháng ngày ngược xuôi
tất tả
lần hồi mẹ áo nâu
sờn...
Mưa Bân rất tròn
mỏng dầy xếp giọt
Trời thương Nàng Bân,
Trời ban rét ngọt
Con xin Trời cho con
nắng tươi
cho con thấy nụ cười
nhóng nhánh hạt na đen
của mẹ.
Rét Bân rất nhẹ
Đủ lùa thông thống
tháng ba.
Đủ cuốn tuổi đông
con
về Mẹ chốn bao la
Tìm hơi ấm Mẹ.
*.
Hà Nội, 08 tháng 03.2019
BÙI CỬU TRƯỜNG
Tôi ấn tượng với bài thơ ở ngay những câu đầu:
"Rét Bân vương tay
con hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho
mẹ ạ
Mẹ đủ ấm không / khi
trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không / khi
đất buốt tê?"
Những câu thơ tự sự giản dị, mộc mạc, trĩu nặng nỗi niềm, từ hạt
mưa vương vào tay, gợi nên nỗi lo dịu dàng thường trực: "Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ", rồi
đột nhiên thay đổi tâm trạng, từ dàn trải tâm sự sang dồn nén những lo
lắng:
"Mẹ đủ ấm không/
khi trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không/ khi đất
buốt tê?"
Khiến người đọc sững lại, rồi trầm lặng khá lâu trước sức ám ảnh
của những hình ảnh xuất hiện trong những thước phim rất ngắn. Đến đây, người
đọc mới vừa thốt lên lời đồng cảm cùng tâm trạng xót thương của người con hiếu
đễ với người Mẹ đã khuất, thì lại vỡ òa cảm xúc bằng những câu tự sự lắng đầy
nước mắt. Sự nhớ thương trong đau xót, cút côi được dồn nén đến tận cùng bởi
những câu thơ ngấn lệ, trầm buồn:
“Mẹ ơi
Từ hồi Mẹ đi
quanh con hơ hoác
trống.”
3 chữ “hơ hoác trống”
đã diễn tả tất cả sự nhớ thương - mất mát - cút côi của người con khi mất Mẹ.
Tôi thích 4 câu thơ:
"Rét Bân vương tay
con hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho
mẹ ạ
Mẹ đủ ấm không / khi
trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không / khi
đất buốt tê?"
được viết ban đầu hơn so với 4 câu đã được nhà thơ chỉnh sửa.
Bởi theo cảm nhận của riêng tôi thì 4 câu chưa chỉnh sửa rất gợi
cảm xúc với người đọc. Câu “Rét Bân vương
tay con hạt mưa” gợi tâm trạng chông chênh, chới với của người con giữa
trời mưa rét khi cô đơn, vắng (mất) Mẹ. Sự lặp lại cụm từ 4 chữ: "Mẹ đủ ấm không" ở 2 câu cuối khổ
thơ: “Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?”
- “Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"
nghe chân chất, mộc mạc, như tự nhiên bật ra trong tâm thức nhà thơ trước cái
lạnh giá của tiết trời và chính sự lặp lại cụm từ 4 chữ ấy đã làm câu thơ thêm
day dứt, xót xa. Câu thơ lấy nước mắt người đọc bởi sự tự nhiên, chân chất ấy.
Nhưng với 2 câu thơ đã chỉnh sửa: “Chân
mẹ ấm không / rét Đài sương giá?” - “Tay
mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?” thì sự cẩn thận về kiến thức, sự cầu toàn
về ý thức tay nghề đã lấy đi nét mộc mạc, dung dị, khiến câu thơ trở nên thiếu
nhựa. Sự rành mạch "rét Đài"
- "rét Lộc" - “rét Bân” vì sự cầu toàn... ở 2 câu thơ
trên là không cần thiết, bởi theo thiển nghĩ của người viết, sự rành rẽ câu chữ
như thế khiến bạn đọc khó "phiêu" cùng bài thơ để khám phá và cảm thụ
bài thơ, cũng vì thế mà làm bài thơ bớt hay.
Là kẻ lười đọc thơ nhưng tôi lại thích đọc thơ Bùi Cửu Trường,
có lẽ vì cách dùng từ ngữ của bà khá độc đáo, sáng tạo nhưng vẫn giữ được chất
dân dã, chân quê. Những câu: “Từ ngày mẹ
đi/ quanh con hơ hoắc trống”, "lần
hồi mẹ áo nâu sờn .."/ "Nhóng
nhánh hạt na đen của Mẹ." hay: "Rét Bân rất nhẹ/ đủ lùa thông thống tháng ba/ đủ cuốn tuổi Đông con"
trong RÉT BÂN NHỚ MẸ, tuy chưa phải là những câu thơ thật hay, những câu thơ
tài hoa nhưng những câu thơ đậm dấu ấn rất riêng của Bùi Cửu Trường như thế thì
không phải dễ làm, không phải cứ muốn là viết được.
*.
Hà Nội, chiều 08 tháng 03.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CẢM ĐỌC GÃ KHỜ TRONG
“MỘNG MỊ” CỦA NHỤY GIALAI
Khi đưa bài thơ Mộng Mị của nhà thơ Nhụy GiaLai lên blog Trang
Đặng Xuân Xuyến:
MỘNG MỊ
Đôi khi tôi mơ thấy em
Cùng đi với một gã khờ
Em tươi xinh hồng má
thắm
Gã khờ khệ nệ bầu thơ.
Dừng bên đồi mơ lối
mộng
Gã chọn lấy một bông
hồng
Gói gém trang thơ màu
tím
Trao nàng nhẹ gót sang
sông.
Bến đò chiều, nàng sang
sông
Sóng xô, xô cả đôi bờ
Bóng người mờ xa nhân
thế
Gã còn đứng lặng ngẩn
ngơ!
Gã và nàng yêu nhau lắm
Yêu người, yêu cả hồn
thơ
Nhưng tình không như
mộng ảo
Và đời không như là mơ!
Gã cùng thơ mãi lơ ngơ
Xuân xanh chợt hết bao ngày!
Chút duyên thầm ban sơ
ấy
Xót xa đã chớm hao
gầy...
Nàng ra đi tìm hạnh
phúc
Gã mòn lối bến bờ xa.
Nàng có quên, hay còn
nhớ
Tình xưa rồi cũng phôi
pha!
Bầu thơ - thôi, trút
xuống sông
Chữ nghĩa lêu bêu xuôi
dòng
Ai kia vô tình nhặt
được
Khen chê, rồi cũng hư
không…
*
NHỤY GIALAI
mấy câu thơ đầu đã gây tò mò với tôi:
"Đôi khi tôi mơ
thấy em
Cùng đi với một gã khờ
Em tươi xinh hồng má
thắm
Gã khờ khệ nệ bầu
thơ."
Tôi thích thú với cách mượn thơ kể “chuyện của gã khờ” nên đọc
tiếp:
"Dừng bên đồi mơ
lối mộng
Gã chọn lấy một bông
hồng
Gói gém trang thơ màu
tím
Trao nàng nhẹ gót sang
sông."
Vẫn là những ngây ngô của chàng trai với người đẹp được khoác
thêm 2 chữ lãng mạn, không mới. Định không đọc nữa nhưng khổ thơ thứ 3, tuy bị
khớp câu đầu nhưng 3 câu tiếp theo đã níu tôi lại:
"Bến đò chiều,
nàng sang sông
Sóng xô, xô cả đôi bờ
Bóng người mờ xa nhân
thế
Gã còn đứng lặng ngẩn
ngơ!"
Khổ thơ thật buồn với những câu chữ nhiều ẩn dụ, giàu hình tượng
và gợi nhiều cảm xúc; như những nét vẽ sắc nét, vừa đủ độ để tạo nên một bức
tranh chia ly giữa đôi bờ sông nước, với lãng đãng cảm xúc trầm buồn nhưng
không u uẩn bi lụy. Chỉ tiếc, cách ngắt nhịp 3/3 ở câu: "Bến đò chiều, nàng sang sông" đã
biến câu thơ còn yếu chất thơ thành câu nói khô khốc, lạc vần lạc điệu với 3
câu thơ nhiều ẩn dụ, đang đan xen hình ảnh, hòa quyện cảm xúc vào nhau để tạo
nên một bức tranh đẹp: Sóng xô, xô cả đôi
bờ / Bóng người mờ xa nhân thế / gã còn đứng lặng ngẩn ngơ!
Một bức tranh buồn ảm đạm, với những ám ảnh mơ hồ bởi một tình
yêu cũng mơ hồ.
"Gã cùng thơ mãi
lơ ngơ
Xuân xanh chợt hết bao
ngày!
Chút duyên thầm ban sơ
ấy
Xót xa đã chớm hao
gầy..."
Gã đã khờ, lại làm thơ, nhìn đời như nhìn qua lớp khói sương
bảng lảng nên hình ảnh, sự việc được phản chiếu lại cũng hư hư ảo ảo, đến quá
nửa đời người rồi mà vẫn "mãi lơ ngơ",
chưa hiểu hết căn nguyên duyên cớ nào "Gã
và nàng yêu nhau lắm/ Yêu người, yêu cả hồn thơ" mà nàng nỡ "nhẹ gót sang sông", bỏ lại gã
"lặng ngẩn ngơ" đến tận khi
đã bước qua phía nửa bên kia của cuộc đời. Từ "chợt" trong câu "Xuân
xanh chợt hết bao ngày" đã diễn tả đầy đủ, tinh tế nỗi xót xa về cái
giá đã phải trả bởi sự ngu ngơ với đời, với tình yêu đến tội nghiệp của
"gã", khéo léo đẩy câu thơ chạm vào trái tim người đọc, khiến người
đọc cũng chơi vơi, thảng thốt...
"Nàng ra đi tìm
hạnh phúc
Gã mòn lối bến bờ xa.
Nàng có quên, hay còn
nhớ
Tình xưa rồi cũng phôi
pha!"
Chữ "mòn"
dùng ở khổ thơ này thật hay, đã lột tả được những tiếc nuối, cô đơn, những đằng
đẵng kiếm tìm của “gã khờ” khi “nàng” buông bỏ gã để “đi tìm hạnh phúc”. Nàng yêu gã rất
nhiều, hao phí tuổi thanh xuân với gã cũng đã thật nhiều nhưng gã cứ luôn mơ hồ
trước tình yêu của nàng để vô tâm mơ hồ chạy theo "thú vui chữ nghĩa". Rong ruổi khắp đó đây với bầu thơ túi rượu
cho thỏa chí tang bồng thơ phú, gã tìm kiếm hình bóng “nàng” đến "mòn lối bến
bờ xa",... nhưng gã tìm “nàng”
cho tình yêu đời thực của gã hay tìm “nàng”
cho những tứ thơ? Gã không biết. Gã cứ mơ hồ ranh giới giữa hư với thực, giữa
đời với thơ để những “lối bến bờ” tìm
kiếm “nàng” ngày một thêm “xa”, thêm “mòn” dưới gót chân của gã.
Mạch thơ đều đều, dàn trải với tiết tấu 2/2/2 bỗng khựng lại ở
câu thứ ba, rồi chuyển sang nhịp 3/3 bằng câu tự vấn của người kể chuyện:
"Nàng có quên, hay còn nhớ"
như lời độc thoại của gã khờ khiến tâm trạng người đọc chùng xuống, để cùng hắt
ra tiếng thở dài buồn man mác: "Tình
xưa rồi cũng phôi pha.".
Khi đã hiểu ra vấn đề thì "gã khờ " nhà thơ xuôi tay buông bỏ, chẳng nhiều tiếc nuối với
bầu thơ chữ nghĩa:
"Bầu thơ - thôi,
trút xuống sông
Chữ nghĩa lêu bêu xuôi
dòng
Ai kia vô tình nhặt
được
Khen chê, rồi cũng hư
không…"
Nghe mà chua chát, hệt thói đùa của nhân thế.
Hai chữ "lêu bêu"
như vết cắt, cứa thật sâu vào nỗi đau cười ra nước mắt của những người thơ,
nghiệp thơ: chữ nghĩa chẳng giúp ích gì được cho đời, chỉ là những cuộc chơi vô
bổ, của những phận người "lêu bêu"
thất bại và luôn là của những tâm hồn trẻ con trú đóng trong thân xác người
lớn, rồi tự khoác vào mình chiếc áo văn chương chữ nghĩa cho có vẻ ta đây cũng
"gì lắm" với đời.
Tôi thích hai chữ "lêu
bêu" này vì nó diễn tả được nhiều điều.
*
Hà Nội, chiều 03 tháng 08.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC “THÁNG TƯ MÀU NHỚ”
CỦA PHẠM ĐỨC MẠNH
Sáng nay, 30 tháng 04.2020, đọc bài thơ TÔI của Phạm Đức Mạnh,
nhà phê bình Nguyễn Xuân Dương đã chia sẻ trên dòng thời gian của ông, tôi còm:
“Cái giá của "chiến thắng" sao
mà đắt thế? đau thế?”. Tối nay, đọc nhà thơ Phạm Đức Mạnh trả lời: “Còn hơn thế Đặng Xuân Xuyến ạ. Có
người may mắn vượt qua, đổi đời. Có người không may mãi chìm ngập trong nỗi
đau, cơ cực không thoát ra được.”. Tôi tự hỏi: - Chả có lẽ cái giá của
chiến thắng là nhục? Là tội ác? Thế thì phũ quá, mà nói thế cũng chả hẳn đúng,
chả nên. Tôi không trả lời ông vì tin ông đang đau lắm, đang hận cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” nhiều lắm. Nói đúng
hơn, ông đang hận xã hội này với đầy rẫy những bất công, ngang trái, những mảnh
đời sống không bằng chết đang hiển hiển trước mắt, đang diễn ra hàng ngày hàng
giờ trong cái xã hội đang dần mất đi những luân thường đạo lý, đang bị “tiền” - “quyền” và “côn đồ” khuynh
đảo.
Chiều, đọc bài “Tháng Tư màu nhớ” của ông, tôi đã
còm: “Những câu thơ như cứa vào tim người
đọc!”. Và rất nhanh ông trả lời: “Để
ta luôn nhắc mình đừng quên quá khứ, đừng bao giờ mất cảnh giác, thỏa hiệp,...
Đặng Xuân Xuyến”. Rất tác phong người lính: nhanh và thẳng. Tôi cũng qua
đời lính, cũng đã từng cầm súng giữ biên cương, đối diện với giặc Tàu (dù chỉ
vài tháng) nên thích sự thẳng thắn, dứt khoát, mau lẹ trong hành xử (trả lời
bạn facebook bình luận) của ông.
THÁNG TƯ MÀU NHỚ
Tháng Tư
đất trời rợp sắc đỏ
cờ
hoa
tiếng khóc vỡ òa màu
nhớ
người qua cõi chết trở
về
nổ bung nụ cười chiến
thắng
non sông một dải nối
liền
Tháng Tư
những người lính kiệt
sức vì đạn bom
thoi thóp sống
lết tìm nhau
nhặt mảnh vụn xuân thì
đang trôi mất
hàn rỉ sét chiến tranh
bó vết thương lòng kiếm
tìm đồng đội
Tháng Tư
ký ức dâng tràn
mẹ thắt ruột chờ con
nỗi đau tê dại
hình viên đạn chẻ đôi
găm xé vào tim mẹ
đứa bên này
đứa bên kia
hết đối đầu chĩa súng
vào nhau
sao lặng lẽ không về
Trắng hồn khăn tang
kiếp phong trần bày lên
niết bàn lạnh lẽo
mẹ thắp nén hương đắng
đời sinh nở
dằn cơn vật vã cô đơn
húp cháo
chờ được phong danh
hiệu
Tháng Tư
những ngôi biệt thự
nguy nga
phơi quyền lực
giàu sang trước phố
ẩn náu gam xấu hổ
người qua vội bước chân
xa
Tháng Tư
mùa tha thứ cho nhau
nhìn từ nhiều phía
hạnh phúc
khổ đau
ai muốn quên
ai hoài nhớ
Người lính
bị nhuốm chất độc da
cam
ngâm đời trong bể khổ
làm sao gieo hạt tương
lai
Ngày
sống ngồi niệm được
thua
nuôi ký ức
Đêm
tập chết mơ chốn vô
thường
chuông hồn
ru giấc thời gian cũng
ám ảnh
giật mình…
*.
27 tháng 04 năm 2020
PHẠM ĐỨC MẠNH
Đến giờ, tôi vẫn bị ám ảnh những hình ảnh người lính sau cuộc
chiến bị chế độ phụ bạc, bỏ rơi như ông đã khắc họa trong “Tháng Tư màu nhớ”: Phũ,
mà đau, nhưng oái oăm lại đúng, chả ai phản bác được vì đó là những lát cắt của
cuộc sống đang diễn ra và chưa biết đến lúc nào sẽ kết thúc:
Tháng Tư
những người lính kiệt
sức vì đạn bom
thoi thóp sống
lết tìm nhau
nhặt mảnh vụn xuân thì
đang trôi mất
hàn rỉ sét chiến tranh
bó vết thương lòng kiếm
tìm đồng đội
câu: “bó vết thương lòng
kiếm tìm đồng đội” đau và đắt quá. Tôi ngẩn người với suy nghĩ có phần ngờ
nghệch: Sao người ta cứ rầm rộ tổ chức những lễ kỷ niệm “ngày chiến thắng”, “ngày giải
phóng” làm gì nhỉ? Giá người ta hiểu được nỗi đau bị bỏ rơi, bị phụ bạc của
những người lính sau cuộc chiến: “bó vết
thương lòng kiếm tìm đồng đội”, để giảm bớt những ngợi ca chiến thắng,
những chúc tụng làm tứa máu hàng triệu con tim người Việt không chỉ một thời ở
phía bên kia chiến tuyến thì hay biết bao.
Vâng. Những người lính “thoi
thóp sống / lết tìm nhau” không chỉ để “nhặt
mảnh vụn xuân thì đang trôi mất / hàn rỉ sét chiến tranh” mà còn “bó vết thương lòng kiếm tìm đồng đội” để
an ủi phần hồn của những người đã nằm xuống. Tuy không hẳn tất cả đều vậy nhưng
những hình ảnh như thế lại khá phổ biển thì đau và đáng hận lắm chứ?!
Khi đọc những câu thơ: “mẹ
thắt ruột chờ con / nỗi đau tê dại / hình viên đạn chẻ đôi găm xé vào tim mẹ /
đứa bên này / đứa bên kia / hết đối đầu chĩa súng vào nhau / sao lặng lẽ không
về”, tôi lặng người nhớ tới những câu thơ tài hoa của nhà thơ Chử Văn Long:
“Mùa xuân về trên mộ hai người lính / Một
phía bên kia, một phía bên này / Những ngọn cỏ gà bò lan chầm chậm / Như những
bàn tay tìm gặp bàn tay.” (Xuân về trên mộ hai người lính - Chử Văn Long).
Tôi giật mình với suy nghĩ: Chiến tranh, mãi mãi chỉ những người dân, người
lính mới thấm thía tội ác của chiến tranh bởi chỉ họ mới là những người phải
trả giá, phải chịu mất mát, hy sinh vì thế dù “thắng” hay “thua” thì họ
vẫn là những người bị mất mát, đau khổ nên thơ của những người dân, người lính
mới đau với nỗi đau của tình người, của nhân tình thế thái.
Vâng. Cuộc chiến “huynh đệ
tương tàn” đã kết thúc 45 năm nhưng hệ lụy của cuộc chiến “nhồi da xáo thịt” có lẽ còn nhức nhối
rất lâu.
*.
Hà Nội, 20g35 ngày 30.04.2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
- THƠ TRẦN VẤN LỆ
“Như một bài tập làm văn” là bài thơ sáng tác gần đây của nhà
thơ Trần Vấn Lệ.
NHƯ MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
Gió không chừa ngọn cỏ
Mưa không chừa lá nào
Mưa gió rung rinh rào
Hoa đào còn, rụng
hết...
Không thể nói là ghét
Không thể nói là thương
Không Địa Ngục, Thiên
Đường
Im lặng. Buồn khôn tả!
Rộng mênh mông phố xá
Người đưa thư, một mình
Làm việc và làm thinh
Cái bóng hình quen
thuộc!
Ông vẫn đi từng bước
Dừng lại trước từng nhà
Cái hộp thư mở ra
Cái hộp thư khép lại...
Mai, Chúa Nhật thì
phải?
Sẽ không được thấy ông!
Phố xá đã mênh mông
Sẽ mênh mông thêm
chút...
Mưa như cầm bình trút
Gió vẫn như lá cờ
Mưa gió và gió mưa
Cách ly đời ly cách...
Người đưa thư che mặt
Cái khẩu trang đẫm mưa
Ông không thấy bơ vơ
Bạn ông là công việc!
Tôi từng thấy xứ tuyết
Người đưa thư đi làm!
Tôi nhớ quá Việt Nam
Mẹ Cha cõng mưa nắng...
Cho tôi được im lặng
khi nghĩ về Quê Hương!
*.
TRẦN VẤN LỆ
Thơ 5 chữ, cuốn hút người đọc ngay từ những câu thơ đầu:
"Gió không chừa
ngọn cỏ
Mưa không chừa lá
nào"
Tả thực mà tinh tế, nhiều gợi cảm. Chữ không thừa không thiếu,
vừa đủ để người đọc “cảm thấy”, "nhìn thấy" trận mưa quét rát rạt
đang diễn ra trước mắt.
Câu: "Mưa gió rung
rinh rào" làm nặng thêm sức lạnh của gió mưa, khiến người đọc gai
người rùng mình với cảm giác cô đơn trước khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo của
chiều mưa gió.
Câu: "Hoa đào còn,
rụng hết..." ngắt thành nhịp 3/2 với dấu chấm lửng ở cuối câu khiến dư
âm buồn của trận mưa quét đã tàn phá cảnh vật thêm u ám, xót xa.
Không gian và thời gian càng lạnh lẽo và hoang vắng khi nhà thơ
đặt "Người đưa thư, một mình"
giữa "Rộng mênh mông phố xá",
nhất là cách ngắt câu ở "Người đưa
thư, một mình" thành 2 vế để tăng thêm sự cô tịch và đẩy sự hoang vắng
lạnh lẽo của phố xá chiều mưa nhuốm thêm u buồn sang nỗi lòng của người thơ.
Từ "làm" cố
ý lặp lại ở câu: "Làm việc và làm
thinh" chủ ý để nhấn mạnh hình ảnh lẻ loi nhưng cần mẫn, trách nhiệm
với công việc trong suy nghĩ, hành động của người đưa thư.
"Cái bóng hình”
người đưa thư “quen thuộc!" được
Trần Vấn Lệ vẽ tiếp bằng những câu chữ bình dị, đời thường mà thật ấn tượng:
"Ông vẫn đi từng
bước
Dừng lại trước từng nhà
Cái hộp thư mở ra
Cái hộp thư khép
lại..."
Tôi bị những câu thơ này ám ảnh.
Hình ảnh người đưa thư cần mẫn, lặp lại đều đều những hành động
đơn điệu, tẻ nhạt nhưng cần mẫn, chỉn chu như một lịch trình sắp đặt sẵn được
nhà thơ quan sát kỳ thú và kĩ lưỡng đến từng chi tiết. Hai câu: "Cái hộp thư mở ra / Cái hộp thư khép lại..."
thật ám ảnh những nỗi niềm về cõi người, phận người.
Rồi nhà thơ chạnh buồn, hẫng hụt:
"Mai, Chúa Nhật
thì phải?
Sẽ không được thấy ông!
Phố xá đã mênh mông
Sẽ mênh mông thêm
chút..."
Cặp từ "mênh mông"
được sử dụng như điệp từ, lặp lại ở câu 3 và câu 4 của khổ thơ đẩy nỗi buồn
thêm se sắt.
Nhịp thơ dàn trải, trầm buồn bỗng vướng chút loạn nhịp, tiết tấu
thay đổi, với những hình ảnh khá đắt: "Mưa
như cầm bình trút / Gió vẫn như lá cờ” khi dùng để ám dụ trận "cuồng
phong" đang "nổi loạn" trong lòng thi sĩ:
"Mưa như cầm bình
trút
Gió vẫn như lá cờ
Mưa gió và gió mưa
Cách ly đời ly
cách..."
Đến đây người đọc mới vỡ lẽ nhà thơ bị "cầm tù" trong
bốn bức tường bởi dịch virus Vũ Hán nên ông khao khát được “tự do”. Sự đảo từ
"mưa gió" thành "gió mưa", "cách ly" thành "ly cách" ở ngay trong câu 3 và câu
4 của khổ thơ được sử dụng như một thủ pháp để diễn tả tâm trạng bức bối, tù
túng, khao khát được tự do không chỉ của riêng nhà thơ Trần Vấn Lệ trong những
ngày “cách ly xã hội” phòng chống virus Vũ Hán.
Nếu ở những khổ thơ trước là tâm trạng u buồn do ngoại cảnh
(dịch virus Vũ Hán) tác động tới (cách ly xã hội) thì ở những khổ thơ cuối bài
là tâm trạng u uẩn, đằm sâu trong trái tim người xa xứ. Hình ảnh người đưa thư
lặp đi lặp lại suốt bài thơ như những thước phim quay chậm sự đơn độc nhưng cần
mẫn, chỉn chu với công việc của người trung chuyển, để giữ sự bình yên, ấm êm
cho xã hội.
Hình ảnh ấy khiến người con xa xứ nghẹn lòng khi nghĩ tới những
lo toan, vật lộn tìm kiếm kế mưu sinh của những người thân nơi đất Mẹ Việt Nam
giữa đại dịch virus Vũ Hán. Nhà thơ thốt lên:
Tôi nhớ quá Việt Nam
Mẹ Cha cõng mưa nắng...
Rồi kết thúc bài thơ ở kết mở, ai nghĩ sao thì tùy:
Cho tôi được im lặng
khi nghĩ về Quê Hương!
Tôi không thích cái kết của bài thơ như thế! Bởi yêu Quê Hương
ai lại chọn giải pháp im lặng? Bất kỳ lý do nào, hoàn cảnh nào thì tôi nghĩ
giải pháp: "Cho tôi được im lặng /
khi nghĩ về Quê Hương" vẫn thuộc tâm thế của người có tình yêu Quê
Hương chưa đủ lớn để vượt qua những trở ngại của phép tính giữ mình.
Nhưng đấy là quan điểm của tôi, theo góc nhìn của một bạn đọc.
Còn kết thúc bài thơ thế nào? Ý tứ ra sao là quyền của nhà thơ Trần Vấn Lệ.
Với tôi, "Như một bài tập làm văn" là bài
thơ nhiều cảm xúc, nhiều ám ảnh!
*.
Hà Nội, 19g45 ngày 10-07-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN VỀ 2 BÀI THƠ TÌNH
CỦA CẬU HỌC TRÒ LỚP 12
Đọc 2 bài thơ tình "Tôi đi tìm tiếng ơi" và "Giết"
của Nguyễn Tấn Thành tôi thấy lạ lắm: Thật diết da, thật khắc khoải, thật hy
vọng và cũng thật nhiều bi lụy, tuyệt vọng. Tất cả những cung bậc tình cảm đó
đều có trong 2 bài thơ "Tôi đi tìm tiếng ơi" và "Giết".
Những câu thơ đẫm lệ với xám xịt màu hy vọng tình yêu của Nguyễn
Tấn Thành thật có sức ám ảnh người đọc:
Tôi đang gọi. Sao chẳng
thấy ai "ơi"?
Ai đáp "ơi",
nơi nào tôi xin tới
Cho thỏa mong, hai mảnh
hồn chờ đợi
Tiếng đáp
"ơi", tôi chờ đến bao giờ?
(Tôi đi tìm tiếng ơi - Nguyễn Tấn Thành)
Đọc những câu thơ như thế của anh tôi chợt nhớ tới những câu thơ
mời gọi, van lơn, xót xa đến đứt ruột của cô kỹ nữ trong thơ Xuân Diệu:
"Khách ngồi lại
cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng
lạnh quá, khách ơi!
Đêm nay rằm: yến tiệc
sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em
cô độc quá!
Khách ngồi lại cùng em!
Đây gối lả,
Tay em đây mời khách
ngả đầu say;
Đây rượu nồng. Và hồn
của em đây,
Em cung kính đặt dưới
chân hoàng tử.
Chớ đạp hồn em! Trăng
về viễn xứ."
(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)
Tôi chép thơ Xuân Diệu ra đây không có ý để so sánh thơ của anh
với thơ của "Hoàng tử thi ca" Xuân Diệu vì như thế là khập khiễng, là
ngô nghê nhưng những câu thơ đã trích dẫn ở trên của Nguyễn Tấn Thành được viết
khi anh đang là cậu học trò lớp 12 (2016) tuy không phải là những câu thơ hay
nhưng tôi tin nhiều người thơ cũng không viết được những câu thơ gợi nhiều cảm
xúc như thế. Thật tiếc, khi trở thành sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ (đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) thì thơ anh không viết
bằng cảm xúc thật của tiếng lòng nên nhợt nhạt, thiếu nhựa và không có hồn.
Trang Đặng Xuân Xuyến chỉ mới giới thiệu mấy bài thơ của cậu học trò cấp 3
Nguyễn Tấn Thành vì những bài thơ ấy giàu cảm xúc, nhiều ám ảnh người đọc.
Thơ tình ("Tôi đi tìm tiếng ơi" và "Giết")
của Nguyễn Tấn Thành, của cậu học trò cấp 3 tỉnh Bến Tre, có gam màu lạ lắm. Nó
diết da mà nhuốm màu u uẩn. Nó cháy bỏng khát khao mà phủ kín nỗi đớn đau, bi
lụy!
Đọc những câu thơ:
Rồi ngày tàn, bóng tối
phủ muôn nơi,
Trong đêm mơ, tôi vẫn
sầu vời vợi,
Mộng gặp ai đáp lại
giữa cuộc đời,
Tôi chợt tỉnh! Tiếng
"ơi" kia vẫn đợi.
(Tôi đi tìm tiếng ơi - Nguyễn Tấn Thành)
tôi cứ hỏi: Sao tình yêu của Nguyễn Tấn Thành lại bi lụy, tuyệt
vọng đến thế? Thứ tình yêu xám xịt niềm tin mà cậu học trò lớp 12 đang đau đáu
khắc khoải là thứ tình yêu gì vậy? Trên đời này thực tồn tại thứ tình yêu đó
thật sao?
Đọc thơ anh, tôi thích cách viết của cậu học trò lớp 12 Nguyễn
Tấn Thành khi anh viết về những cuộc “truy hoan” giữa 2 thực thể mê đắm yêu
nhau: Êm ái nhưng đủ sự cuồng nhiệt, dữ dội, nhẹ nhàng nhưng đủ nỗi khát khao,
khêu gợi:
Ta giết nhau bằng lưng
chừng thương nhớ
Khi đã trao từng nhịp
thở nồng nàn
Đôi tay hờ trên xương
thịt mê man
Lối sơn khê người dò
hang tìm tối.
(Giết - Nguyễn Tấn Thành)
Câu chữ Nguyễn Tấn Thành dùng vừa đủ dẫn người đọc thả sức tưởng
tượng để bước vào cuộc truy hoan tình ái với những mê đắm, khát khao, những dữ
dội, cuồng nhiệt nhưng lại thật êm ái, nhẹ nhàng, không vướng tí ti nào khêu
gợi sự dâm tục. Một cậu học trò lớp 12 mà viết về “những cuộc truy hoan" dày dạn cả kinh nghiệm "dục
tính", cả kinh nghiệm "tả dục tình" nóng bỏng mà không sa vào
"dâm thơ" như thế thì quả thật rất đáng khen ngợi.
Khi đọc những câu thơ:
Ta giết nhau bằng lưng
chừng lo sợ
Một chuyện tình chẳng
viết được nên thơ
Người bỏ dở gục đầu
trên giấy trắng
Kẻ viết hoài dù mặn
đắng bờ môi.
(Giết - Nguyễn Tấn Thành)
Tôi như gặp lại một chút tâm trạng của mình khi viết "Mơ
Trăng":
"Em rướn mình hà
hít nụ hôn anh
Tê tái lắm. Cuộc tình
mình thật tội
Môi khóa môi mà sao xa
vời vợi
Đêm cuống cuồng khoả
lấp nỗi chơi vơi."
nhưng chuyện tình của "Mơ Trăng" là cuộc tình một bên
cuống quýt được thỏa mãn cơn khát thèm thể xác, vội vã tận hưởng những phút
giây ân ái, một bên lặng người, xót xa, tội nghiệp cho tình yêu "em"
đang dâng hiến và cũng tê tái cho cuộc tình ngang trái của cả hai. Còn chuyện
tình của "Giết" thì hoàn toàn khác, cả 2 đều yêu nhau, đều khao khát
dâng hiến, đều khao khát được mãi bên nhau nhưng oái oăm, cả 2 đều xót xa buông
bỏ, tự rời xa nhau vì "Một chuyện
tình chẳng viết được nên thơ".
Hai câu cuối của khổ thơ những ầng ậc nước mắt của hai kẻ yêu
nhau, khao khát trọn đời bên nhau nhưng người đọc không hiểu vì "trắc trở
tình duyên" nào mà kẻ chấp nhận buông bỏ, kẻ vẫn cố kiên trì bấu víu để
nuôi dưỡng chút hy vọng mong manh từ chính trong sự “trớ trêu”, "oan
nghiệt" của cuộc tình:
Người bỏ dở gục đầu
trên giấy trắng
Kẻ viết hoài dù mặn
đắng bờ môi.
(Giết - Nguyễn Tấn Thành)
Không biết lý do nào khiến 2 kẻ yêu nhau, khao khát bên nhau đến
răng long đầu bạc lại cay đắng “tự nguyện” buông bỏ? Nguyễn Tấn Thành không
nói. Người đọc chỉ mơ hồ suy đoán có thể cuộc tình đó bị gia đình cấm cản vì
không "môn đăng hộ đối", vì 1 trong 2 người đã có vợ có chồng hoặc có
thể vì chênh lệch tuổi tác quá lớn,... Tất cả nhưng suy đoán đó càng khó hiểu,
thậm chí là hoang mang khi Nguyễn Tấn Thành mở đầu 3 khổ thơ liền nhau đều bằng
mệnh đề "Ta giết nhau bằng lưng
chừng..." lần lượt với: thương nhớ, bối rối, lo sợ. Đó là sự sắp xếp
chủ ý theo cấp độ gia tăng tình cảm của tác giả.
Ôi! Tình yêu mà phải “Ta giết nhau bằng lưng chừng...” để bi lụy
vì tình thì chua xót nào bằng?! Tình yêu là phải được thăng hoa, phải được
"đốt để cháy hết mình” với tình yêu chứ cứ “lưng chừng”, “nửa vời” “đứt
đoạn” như thế thì thật xót xa, tội nghiệp!
Đọc những bi lụy tình của Nguyễn Tấn Thành tôi lại nhớ những dữ
dội tình, những cuồng nhiệt tình kiểu "trắng phớ" "tất tay"
của Trần Hạ Vi. Tôi thích "cách tỏ tình (đúng hơn là cách gạ yêu) của Trần
Hạ Vi: “Yêu em đi” rất thẳng thắn, huỵch toẹt, chẳng màu mè, làm giá như những
ả nàng. Sự chân thành đến dạn dĩ, mạnh bạo đến trần trụi, và tinh thần “tử vì
tình”, chấp nhận thua thiệt trong tình yêu, dẫu biết tình yêu ấy là trái ngang,
trắc trở, là bia miệng của người đời thì vẫn cứ bất chấp, vẫn cứ: “Ú ớ hoan mê những lời vô nghĩa/ Nuốt lấy
nhau kệ tiếng đời mai mỉa” như Trần Hạ Vi thì quả thật ngay trong giới mày
râu cũng khối kẻ lấm lét đứng nhìn." (ĐỌC "TÌNH NHÂN ƠI" CỦA
TRẦN HẠ VI - Đặng Xuân Xuyến).
Tôi thầm hỏi: Tình yêu lạ thế? Kê là đấng nam nhi sao lại rụt
rè, không dám cháy hết mình với tình yêu để rầu rĩ chịu cảnh tình bi lụy, ngậm
ngùi kêu rên những tiếng tang thương phẫn uất, còn người mang phận liễu yếu đào
tơ lại mạnh mẽ, thẳng tuột với khát vọng cháy mình cho yêu, vì yêu?!
Rồi lại thắc mắc: Nhưng mà "Giết" và "Tôi
đi tìm tiếng ơi" là thơ của cậu học trò lớp 12, ở lứa tuổi trong
trắng hồn nhiên, nhiều đam mê, tươi trẻ, nhiều khát vọng khám phá, chinh
phục... sao u ám và bi lụy đến vậy?!
Phải chăng đó là những ẩn ức sinh lý, những tổn thương tâm lý đã
gây sang chấn tâm lý khiến thơ tình được cất lên từ tiếng lòng của Nguyễn Tấn
Thành mới lạ lẫm với những gam màu u uẩn rất riêng như thế?!
*.
Hà Nội, 28 tháng 10 năm 2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ
“NÓI VỚI MẸ MÙA XUÂN”
Tôi gặp lại tiếng thơ nỗi lòng của Trần Mai Ngân khi đọc "Nói
Với Mẹ - Mùa Xuân".
NÓI VỚI MẸ - MÙA XUÂN
.
Chiều nay về con cùng
ngồi với Mẹ
Con nói nhiều mà Mẹ chỉ
lặng im
Khói hương bay qua năm
tháng nỗi niềm
Con không khóc cho Mẹ
vui trọn vẹn
Trong di ảnh mắt Mẹ
nhìn xa lắm
Như mông mênh... con ở
lại thế nào
Dẫu đắng cay xin vẫn
lấy ngọt ngào
Trên mây trắng Mẹ yên
tâm siêu thoát
Chiều nắng tắt chẳng
muốn rời xa Mẹ
Đôi mắt con, đôi mắt Mẹ
vẫn nhìn
Sao dưng không con lại
khóc một mình
Năm sắp hết ... chín
Xuân liền vắng Mẹ!
Con về nhà đây - đường
buồn quạnh quẽ
Dáng đơn côi con bước
nốt cuộc đời
Năm sắp hết nhà mình sẽ
đón Tết
Hoa đầy nhà hương tỏa
mãi ngày xưa!
*.
TRẦN MAI NGÂN
Vẫn là cách viết đơn giản, không có gì đặc biệt, chỉ là những
câu tự sự bình thường, những câu thơ chị thủ thỉ chuyện trò với di ảnh của Mẹ:
“Chiều nay về con cùng
ngồi với Mẹ
Con nói nhiều mà Mẹ chỉ
lặng im”
Vâng, chỉ thủ thỉ vậy thôi mà nghe những xót xa, những chất chứa
hờn tủi. Lạ thế. Đọc những câu thơ mộc mạc, chân chất, không hề sử dụng chữ nào
diễn tả sự hờn tủi, xót xa mà lòng lại trĩu nặng nỗi buồn, lại thấy xót xa cảnh
cút côi vì vắng Mẹ? Đó là sự khéo léo dùng thi ảnh để lấy xúc động nơi người
đọc của Trần Mai Ngân hay đấy là tiếng đích thực chân thành của con tim mà câu
thơ chị viết mới dễ dàng chạm được vào trái tim người đọc?! Có lẽ thơ của chị
được viết bằng những cảm xúc thật nên những câu thơ mộc mạc tự nhiên, không uốn
éo làm dáng mới gây được xúc động nơi bạn đọc.
Thì đây, vẫn là những câu chị thủ thỉ với di ảnh Mẹ mà sao cứ
nhoi nhói tâm can người đọc:
“Sao dưng không con lại
khóc một mình
Năm sắp hết ... chín
Xuân liền vắng Mẹ!”
Trần Mai Ngân lấy nước mắt bạn đọc ở những câu thơ "nỗi
lòng" như thế. Tôi yêu thơ chị có lẽ cũng bởi cái duyên thầm từ những câu
thơ như vậy.
*.
Hà Nội, ngày 03 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
CẢM NHẬN NGẮN VỀ BÀI THƠ
“ĐOM ĐÓM TUỔI THƠ”
Đọc “Đom Đóm Tuổi Thơ” của Kiên Duyên:
ĐOM ĐÓM TUỔI THƠ
Đêm lao xao nghe bờ tre
thổn thức
Mảnh trăng rơi miền ký
ức theo về
Chị theo chồng từ dạo
ấy hai quê..
Để thu chớm nghe não nề
xóm vắng..
Con cá đớp mảnh trăng
rơi trầm mặc
Một mình em gom cay
đắng cuộc đời..
Tuổi thơ buồn ngày giáp
hạt chị ơi..
Đêm vó tép một trời thơ
ở lại..
Bờ ao quê đâu tiếng
cười con gái..
Những quê mùa thuở ấy
mãi ngây ngô..
Mẹ chong đèn đan sợi
cói bao giờ
Vài đồng lẻ mua mắt mờ
trước tuổi..
Nghe thu chớm đêm ru
tàu lá chuối
Tuổi thơ ơi sao gọi
chẳng trả lời..
Chị em mình giờ mỗi
đứa một nơi..
Để áo mẹ lâu lắm rồi
không vá..
Em níu lại ngày xa xưa
nhớ quá..
Gọng vó gù bao vất vả
lo toan..
Mảnh trăng thu sao vụn
vỡ ao làng
Rơi xuống đáy vỡ tan
thành đom đóm..
*.
KIÊN DUYÊN
tôi thích 2 câu thơ:
"Mẹ chong đèn đan
sợi cói bao giờ
Vài đồng lẻ mua mắt mờ
trước tuổi..."
Sự vất vả bởi cuộc sống khốn khó nơi thôn quê được Kiên Duyên
tạc bằng tượng hình MẸ với những hình ảnh gần gũi, đậm chất quê, xưa như cảnh
làng quê Việt Nam đã tồn tại bao đời.
Giọng thơ cũ, hình ảnh cũ nhưng Kiên Duyên đã làm mới cách thể
hiện nên câu thơ mộc mạc mà lấp lánh, đằm sâu lòng biết ơn và sự kính trọng với
đấng sinh thành.
Viết về mẹ đã có rất nhiều bài thơ hay, nhiều câu thơ làm day
dứt lòng người, ví như những câu thơ tinh tế, nhiều sáng tạo của Nguyễn Xuân
Môn: “Quá mười tư chẳng có rằm / Nhả bao
tơ trả kiếp tằm… mẹ ơi! / “Cá chuối
đắm đuối…” quên đời / Cho đầy con, mẹ
chắt vơi cạn mình” (Mẹ Tôi), hoặc những câu thơ tài hoa của Văn Thuỳ
"dị nhân": "Vinh hoa con
ướm trên người / Phất phơ tóc mẹ dệt lời yêu thương / Đã đi nhẵn một con đường
/ Còn nghe tóc mẹ bốn phương rối bời / Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh
lọn tóc rối thời mái gianh" (Tóc Rối Của Mẹ Năm Xưa). Hay những câu
thơ tuyệt hay viết về Mẹ của Trần Đăng Khoa: "Cánh màn khép lỏng cả ngày / Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa /
Nắng mưa từ những ngày xưa / Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan" (Mẹ
Ốm), hoặc những câu thơ như được chắt ra từ tấm lòng hiếu thảo với Cha của
Nguyễn Quang Thiều: "Con từng ba dại
bảy điên / Chén trà con rót tràn miền đắng cay / Phận con nhàu trọn lòng tay /
Một câu thơ bạc một ngày vô ơn / Chén trà, con có gì hơn / Mời cha rồi nuốt tủi
hờn sau cha" (Dâng Trà).
Câu thơ "Vài đồng lẻ
mua mắt mờ trước tuổi..." chưa là câu thơ tuyệt hay nhưng sự sáng tạo
trong cách dùng câu chữ để thể hiện hình ảnh, tâm cảm đã làm câu thơ lấp lánh,
sáng đẹp lên nhiều! Đây là thành quả của tinh thần lao động nghiêm túc và sự
sáng tạo rất đáng trân trọng của Kiên Duyên!
Cách viết của "Đom Đóm Tuổi Thơ" tuy không
mới, vẫn trung thành với lối viết của thơ truyền thống nhưng sự làm mới cách
thể hiện câu chữ để diễn tả tâm cảm, hình ảnh ở một số câu thơ đã khiến những
câu thơ đó tạo được điểm nhấn, vượt lên như những điểm sáng để bài thơ lung
linh, nhanh lan tỏa.
Đọc xong bài thơ mà dư âm của những câu thơ:
- "Con cá đớp mảnh
trăng rơi trầm mặc
Một mình em gom cay
đắng cuộc đời"
- "Mẹ chong đèn
đan sợi cói bao giờ
Vài đồng lẻ mua mắt mờ
trước tuổi.."
cứ vấn vít mãi trong đầu.
*.
Hà Nội, ngày 04 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN VỀ 2 BÀI THƠ
VIẾT VỀ CHIỀU 30 TẾT
Tôi đọc bài thơ "Chiều Cuối Năm" của nhà thơ,
nhà giáo Đồng Duy Toại cũng khá lâu rồi, cách đây chắc cũng vài năm.
CHIỀU CUỐI NĂM
Chiều ba mươi tết về
quê
Mẹ còn tất tả nón mê ra
đồng
Ruộng còn một thửa chưa
xong
Mạ non mẹ cấy lưng còng
chiều đông
Bao nhiêu công việc nhà
nông
Chìm trong giá buốt,
còn trông tới mùa
Một đời vất vả nắng mưa
Một đời cơm áo sớm
trưa... một đời
Con đi xa đã lâu rồi
Dù thương không nói nổi
lời tri ân
Đàn cò mỏi cánh phân
vân
Xà xuống bờ ruộng cho
gần mẹ ta
Cấy xong trời đã xế tà
Bước chân xiêu vẹo về
nhà cúng cơm
Hương, hoa, cơm mới
ngát thơm
Dâng lên tiên tổ ghi ơn
đức dày
Hôm nay con trở về đây
Mẹ không còn nữa hao
gầy nén nhang
Khói bay bảng lảng mơ
màng
Rước mẹ về đón xuân
sang, lệ nhoà ...
*
ĐỒNG DUY TOẠI
Ngày đó định viết đôi lời giới thiệu về bài thơ nhưng rồi lấn
cấn việc nọ việc kia nên tôi chưa làm được.
Chiều nay, 04/12/2020, gặp bài thơ "Chiều Ba Mươi Tết"
của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hưng Hải trên trang facebook nhà thơ đại tá Quân
đội Nguyên Hà, tôi tò mò đọc vì thấy mấy câu ở khổ thơ đầu khá giống với khổ
thơ đầu bài thơ "Chiều Cuối Năm" của nhà thơ,
nhà giáo Đồng Duy Toại:
CHIỀU BA MƯƠI TẾT
Chiều ba mươi tết ở quê
Mẹ còn chân vấp, nón mê
ra đồng
Vội vàng cấy nốt cho
xong
Mấy đon mạ mót ở trong
sương mù
Cánh đồng chia khoảnh,
chia khu
Vẫn liền chân mạ, vẫn
như bao đời
Gió ơi đừng thổi rỗng
trời
Đồng không ai biết mẹ
tôi nhọc nhằn
Ngày cùng tháng tận bao
năm
Còn lo manh áo, cái ăn
xuân về
Bao người như mẹ ở quê
Chiều ba mươi vẫn nón
mê ra đồng
Một đời cấy mãi chưa
xong
Mẹ đi lui đến lưng còng
còn lui
Nhẹ nhàng đon mạ ấy
thôi
Mà bao gồng gánh, khóc
cười đăm đăm
Tháng mười vui với
tháng năm
Nào ai gặt hái xa xăm
có nhìn
Đồng quê bóng mẹ hút
chìm
Chiều ba mươi vẫn đi
tìm mùa xuân
Cho sang năm hết nợ nần
Mẹ tin rảnh mạ đang cầm
trên tay
Là bình minh của một
ngày
Là giao thừa của xưa
nay giao thừa
*
NGUYỄN HƯNG HẢI
Ở khổ đầu của 2 bài thơ này, không những giống ý 100% mà có
những câu còn giống nhau gần tuyệt đối. Thời điểm ra đời của 2 bài thơ lại khác
nhau nhưng không vì thế mà nói chuyện "đạo" thơ ở đây được vì ý
(trong trường hợp này) giống nhau 100% cũng là điều bình thường, và sự giống
nhau đến 99% của câu "Chiều ba mươi
tết về quê" với "Chiều ba
mươi tết ở quê" hoặc “Mẹ còn tất
tả nón mê ra đồng” với “Mẹ còn chân
vấp, nón mê ra đồng”... cũng không thể lấy làm căn cứ để quy kết ai "đạo" thơ ai, vì nếu gạt những câu
đó ra ngoài bài thơ thì chúng chỉ là những câu giao tiếp thông thường, tựa như:
"bố tôi", "mẹ tôi", "sáng nay", "chiều
mai"....
Tôi lan man đôi chút bởi thi thoảng trên mạng xã hội (facebook
chẳng hạn) có chuyện tố nhau "thằng
này ", "đứa kia"...
"đạo thơ" của xyz...
Trở lại 2 bài thơ "Chiều Cuối Năm" của Đồng Duy
Toại và "Chiều Ba Mươi Tết" của Nguyễn Hưng Hải.
Với "Chiều Cuối Năm" của nhà thơ,
nhà giáo Đồng Duy Toại thì cảm xúc chân thực và câu chữ giản dị là điểm sáng
của bài thơ. Những câu thơ giàu thi ảnh, thi tứ như: "Đàn cò mỏi cánh phân vân / Xà xuống bờ ruộng cho gần mẹ ta" /
"Bao nhiêu công việc nhà nông / Chìm
trong giá buốt, còn trông tới mùa" hay những câu thơ gợi nhiều cảm xúc
được viết bằng tình cảm chân thực của người con hiếu đễ: "Chiều ba mươi tết về quê / Mẹ còn tất tả nón
mê ra đồng / Ruộng còn một thửa chưa xong / Mạ non mẹ cấy lưng còng chiều đông"...
đã có sức nặng ghim "Chiều Cuối Năm" trong trí nhớ bạn đọc.
Với "Chiều Ba Mươi Tết" của Nguyễn
Hưng Hải thì anh cũng dùng thể thơ lục bát để viết về Mẹ và mẹ của anh cũng là
người mẹ nông dân của nắng mưa tần tảo.
Những câu thơ thật hay, thể hiện kỹ thuật tay nghề cao và tài sử
dụng câu chữ của Nguyễn Hưng Hải trong bài thơ "Chiều Ba Mươi Tết"
khá nhiều: - "Gió ơi đừng thổi rỗng
trời / Đồng không ai biết mẹ tôi nhọc nhằn" / "Một đời cấy mãi chưa xong / Mẹ đi lui đến
lưng còng còn lui / Nhẹ nhàng đon mạ ấy thôi / Mà bao gồng gánh khóc cười đăm
đăm" / "Đồng quê bóng mẹ
hút chìm /Chiều ba mươi vẫn đi tìm mùa xuân"…
Đọc những câu thơ tinh tế, giàu thi ảnh, thi tứ như thế tôi lại
thấy tiếc khi đã vô tình đọc phải những câu "thơ" không biết nên gọi
là phá thơ hay giết tiếng Việt, kiểu như anh đảo chữ: "Giữa chang chói Người là dòng nước mát"
hoặc những câu anh viết lấy được: “Bác
cũng giống Lê nin, Cac Mac / Làm đổi thay thế giới, mỗi con người / Trong đêm
đen có được ánh mặt trời / Không có Bác không đường đi, chân lý”....),
trong bài thơ: "Khai Sinh Ra Đảng".
*.
Hà Nội, chiều 04 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
THƠ VIẾT VỀ MẸ
CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC
Trong những bài thơ viết về Mẹ mà tôi đã được đọc thì thơ viết
về Mẹ của nhà thơ Đồng Thị Chúc để lại nhiều ấn tượng. Hình như chất nền nã của
thể thơ Lục Bát đã thấm vào máu thịt của bà nên những câu Lục Bát bà viết ra
rất tự nhiên, dịu dàng và đằm thắm. Nhất là khi viết về Mẹ thì những vần thơ
của bà thật ấm nồng và tha thiết.
Có lẽ chưa có nhà thơ nào viết về Mẹ thời thiếu nữ lại viết được
những câu thơ tươi giòn sức sống của thiếu nữ thôn quê như hình ảnh thiếu nữ
(Mẹ) trong thơ bà:
"Quết trầu tô
đỏ làn môi
Cau non say để hồng
đôi má hồng"
(Mẹ Tôi)
Phải hiểu và tự hào về Mẹ lắm thì bà mới viết được những câu thơ
đặc "hương đồng gió nội" với
tượng hình Mẹ đẹp dịu dàng, thùy mị nhưng thắm đượm và tươi giòn như thế.
Chỉ với vài ba câu thơ kể về quê Mẹ nghèo, kể về người Mẹ nghèo
mà nhà thơ Đồng Thị Chúc đã cho người đọc hình dung được cái nghèo cụ thể, cái
nghèo không chỉ bó hẹp phạm vi ở một làng quê và cái tình của người nghèo nơi
thôn quê không chỉ nằm ở tinh thần "nhường cơm sẻ áo" mà còn rất giàu
lòng tự trọng.
Những câu thơ của bà mộc mạc mà tài hoa:
"Chợ phiên mủng
thóc không đầy
Đường thôn mà lắm ăn
mày đến xin
Kéo vành nón rách
che nghiêng
Mẹ tôi giấu những ưu
phiền sẻ chia."
(Mẹ tôi)
Nhà thơ Đồng Thị Chúc viết về Mẹ không nhiều, hình như chỉ có 2
bài thơ là "Mẹ Tôi" và "Cảm Xúc Thơ Về Mẹ", trong đó
bài "Cảm Xúc Thơ Về Mẹ"
không trực tiếp viết về Mẹ của bà nhưng cảm xúc trong bài thơ với Mẹ thì rất
thật. Có lẽ Mẹ đã là tượng đài thiêng liêng trong trái tim của những người con
nên Mẹ của bà có nhiều nét giống với Mẹ của mọi người nhưng vẫn có những nét
rất riêng Mẹ của nữ thi sĩ Đồng Thị Chúc:
“Con cò lặn lội bờ
sông”
Lời ru con hóa ru
lòng mẹ tôi"
(Mẹ Tôi)
Những câu thơ viết về Mẹ mượt mà phảng phất chất liệu ca dao và
gợi được nhiều cảm xúc như thế đã làm nên sự khác biệt giữa thơ của Đồng Thị
Chúc với thơ mọi người.
Không dùng những câu chữ to tát, không cố kẻ vẽ, tô màu, Đồng
Thị Chúc cứ nhẹ nhàng viết về Mẹ, nhẹ nhàng nghĩ về Mẹ như những thủ thỉ tự
trải ra với lòng để tự động viên bản thân cố lên, cố lên. Những câu thơ tự
nhiên, cũng không cần cầu kỳ trau chuốt tạo hình ảnh mà tượng hình Mẹ trong thơ
bà vẫn lồng lộng, sáng chói:
"Ta đi bao bước
phong trần
Vẫn không sánh được một
lần mẹ qua "
(Cảm Xúc Thơ Về Mẹ)
Vâng, những câu thơ được tinh chiết từ sự kính trọng, lòng biết
ơn bao giờ cũng hàm xúc, tạo sự xúc động và lan tỏa hơn những câu thơ dùng đến
kỹ thuật, tay nghề để tạc vẽ tượng hình Mẹ:
"Khi ta đổ những
giấc mơ
Ghé vai mẹ dựng cơ đồ
đẹp hơn"
(Cảm Xúc Thơ Về Mẹ)
Những câu thơ mộc mạc, chân chất được viết ra từ thẳm sâu trong
tâm tưởng thật đằm sâu, xúc động và có sức lan tỏa như thế trong thơ Đồng Thị
Chúc khá nhiều!
*.
Hà Nội, 11 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
ĐỌC "CÕNG MẸ"
CỦA NGUYỄN VĂN SONG
Tôi đọc "Cõng Mẹ" của nhà thơ, nhà giáo
Nguyễn Văn Song cũng lâu rồi, cách đây chừng vài tháng. Những câu thơ mộc mạc
mà tinh tế, giàu hình ảnh, gợi nhiều cảm xúc như: "Mẹ như mảnh trấu chợt vương gió gầy" / "Cõng con qua hết khổ đau / Mẹ còn trơ một
dáng cầu oằn cong" / "Vai
con thiêm thiếp mẹ nằm / Bàn tay rệu rạo buông dần trên lưng",... cứ
vương víu, ám ảnh khiến chiều qua buộc tôi phải vào trang facebook cá nhân của
anh đọc lại để viết vài dòng cảm nhận cho vơi bớt ám ảnh.
CÕNG MẸ
Bất ngờ mùa chuyển vô
thường
Mẹ như mảnh trấu chợt
vương gió gầy
Đê làng tất tưởi bông
may
Con về cõng mẹ một ngày
đổ mưa
Ngõ nhà một đoạn vòng
cua
Chẳng xa mà ngỡ như
thừa trăm năm
Vai con thiêm thiếp mẹ
nằm
Bàn tay rệu rạo buông
dần trên lưng
Thuở nao chân bước ngập
ngừng
Con ngồi lưng mẹ qua
vùng ấu thơ
Ông trăng như chiếc mâm
to
Ngàn sao thắp lửa nhấp
nhô khoảng trời
Gặp bao gương mặt rạng
cười
Nghe buồn vui những
tiếng đời lắng sâu
Cõng con qua hết khổ
đau
Mẹ còn trơ một dáng cầu
oằn cong
Mẹ nằm nhẹ bẫng lưng
con
Mà nghe muôn vạn núi
non đổ ào
Lưng dài, vai rộng,
thân cao
Một lần cõng mẹ nháo
nhào bóng xiêu.
*.
NGUYỄN VĂN SONG
Đọc những câu thơ:
"Ngõ nhà một đoạn
vòng cua
Chẳng xa mà ngỡ như
thừa trăm năm
Vai con thiêm thiếp mẹ
nằm
Bàn tay rệu rạo buông
dần trên lưng"
tôi đã khóc. Khóc vì ám ảnh từ những câu thơ thẳm sâu những xót
xa của người con hiếu thảo.
Anh khôn quá khi phủ bàng bạc màu sắc dân gian lên những câu lục
bát viết về Mẹ, vì thế mà Tượng hình Mẹ trong "Cõng Mẹ" gần gũi,
chân thật mà vẫn phảng phất hình dáng Mẹ thiêng liêng trong tiềm thức dân gian.
Tôi vẩn vơ nghĩ, nếu những câu thơ này mà Nguyễn Văn Song viết
theo lối "cách tân Hậu hiện đại" thì hình tượng Mẹ trong "Cõng
Mẹ" sẽ thế nào nhỉ? Chắc chắn vẫn rất đẹp bởi vốn dĩ Mẹ đã đẹp
rồi, hơn nữa, cũng không người con nào lại viết Mẹ kém đẹp đi cả. Nhưng rất có
thể Mẹ đẹp đấy nhưng Mẹ sẽ trở nên xa lạ và những câu thơ viết về Mẹ sẽ khó có
sức truyền cảm, lay động lòng người vì những câu thơ đó chỉ được đẹp xác chữ mà
không có hồn.
Đọc “Cõng Mẹ”, tôi rất thích 4 câu thơ cuối bài:
"Mẹ nằm nhẹ bẫng
lưng con
Mà nghe muôn vạn núi
non đổ ào
Lưng dài, vai rộng,
thân cao
Một lần cõng mẹ nháo
nhào bóng xiêu."
Bốn câu thơ với những chữ gợi nhiều cảm xúc như: "nhẹ bẫng", "nháo nhào" khiến câu thơ dễ thấm
sâu vào trái tim người đọc. Hai chữ "nhẹ bẫng" trong câu "Mẹ nằm nhẹ bẫng lưng con" làm người
đọc nghẹn lòng chưa kịp lắng xuống thì 2 chữ "nháo nhào" trong câu kết bài thơ: "Một lần cõng mẹ nháo nhào bóng xiêu" như bồi thêm để cảm xúc
nơi người đọc thêm se sắt. Bốn câu thơ đó chưa đến mức tuyệt hay nhưng để viết
được những câu thơ hay như thế thì ngoài tình yêu, lòng biết ơn sự vất vả hy
sinh của Mẹ luôn đậm sâu trong tâm tưởng thì sức lao động, sự sáng tạo của nhà
thơ, nhà giáo Nguyễn Văn Song góp phần không nhỏ!
Cám ơn anh! Cám ơn nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Song đã cống
hiến cho bạn đọc thêm một phiên bản Mẹ rất đẹp!
*.
Hà Nội, chiều 13 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI SUY NGHĨ VỀ MẤY CÂU KẾT
BÀI THƠ "KHÓC GIỮA BAN CHIỀU"
Trằn trọc mãi không ngủ được, tôi lang thang dạo facebook và gặp
bài thơ "Khóc Giữa Ban Chiều" của nhà thơ Nguyễn Tuyển. Thú thật,
ban đầu tôi nghĩ, bài thơ của anh cũng giống ngàn vạn bài thơ khác trên các
trang mạng xã hội: đọc xong sẽ quên liền vì bài thơ không có gì đặc biệt khiến
người đọc phải chú ý:
KHÓC GIỮA BAN CHIỀU
Mẹ ạ!
chiều nay con lại
nhớ
Chiếc chõng tre ọp
ẹp thủa nào
Thèm một giấc ngủ
vùi như chưa có
Để nghe tròn một
khúc ca dao.
Cho con hiểu vì sao
biển mặn
Giọt mồ hôi, giọt
nước mắt như là
Cho con hiểu sóng
bạc đầu dâu bể
Trăm năm Cò mãi bay
lả, bay la.
Mẹ ạ!
chiều nay con lại
nhớ
Chiếc áo xưa khâu
vá trăm đường
Mắt mẹ yếu vụng
đường kim mũi chỉ
Nhưng mặc vào vẫn
rộn khúc yêu thương.
Lối con bước mênh
mang.
bàn tay mẹ
Nâng con qua trăm
thác vạn ghềnh
Cho con thấy thêm
bao điều mới mẽ
Phía chân trời luôn
rộng mở thênh thênh.
Mẹ ạ!
chiều nay con nhớ
quá
Cắn môi mình
mặn chát một rẻo
quê...
*.
NGUYỄN TUYỂN
Nhưng rồi mấy câu kết bài thơ cứ vấn vít trong đầu,
"bắt" tôi phải đọc lại bài thơ:
"Mẹ ạ!
chiều nay con nhớ
quá
Cắn môi mình
mặn chát một rẻo
quê..."
Những câu thơ tuy mộc mạc, giản dị nhưng lại có sức nặng giữ cho
bài thơ "Khóc Giữa Ban Chiều" nằm lại trong trí nhớ bạn đọc bởi
những câu thơ này được viết bằng cảm xúc chân thực của nhà thơ nên ngôn ngữ thơ
ăn nhập với hồn thơ, khiến hình tượng thơ sống động. Những câu thơ kết bài thơ
không chỉ là điểm sáng của bài thơ mà còn là trụ cột giữ cho bài thơ đứng được.
Cũng giống như bài thơ “Dấu Hỏi” của tôi: “Rau trên luống chắc gì rau sẽ sạch / Người
thôn quê đâu hẳn sẽ chân quê / Rượu ngàn trận chửa tin là tình bạn / Ngủ mòn
gường chưa dám gọi tình nhân”, nếu không có chữ “mòn” trong câu “Ngủ mòn
giường chưa dám gọi tình nhân” thì bài thơ cũng sẽ trôi tuột khi đọc xong “Dấu
Hỏi”. Lạ thế! Đôi khi chỉ vài câu thơ, thậm chỉ chỉ một câu thơ hoặc
một chữ thôi cũng đủ tạo cho bài thơ gây ấn tượng, để bài thơ găm vào trí nhớ
người đọc.
Đọc: "Mẹ ạ! /
chiều nay con nhớ quá / Cắn môi mình / mặn chát một rẻo quê..."
tôi cũng thấy se lòng, cũng bất giác có cùng tâm trạng "cắn môi mình" để khỏi bật ra tiếng
nấc.
Vâng, thơ hay, thơ gây được cảm xúc với bạn đọc là những câu thơ
được viết ra từ khúc xạ chân thực mạch đập của trái tim, không phải là những
câu thơ đẹp mã được làm xiếc câu chữ, đọc lên nghe kêu, nghe vang nhưng rối
rắm, vô hồn. Câu: "Mẹ ạ / chiều nay
con nhớ quá / Cắn môi mình / mặn chát một rẻo quê…", hệt ngôn ngữ
thường nhật trong cuộc sống nhưng lấy được tình cảm của bạn đọc bởi những câu
thơ này chân thực, có hồn, gợi được nhiều cảm xúc với bạn đọc.
*.
Hà Nội, sáng 16 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC
"THĂM BẠN" CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC
Nhà thơ Đồng Thị Chúc gửi tặng tôi 2 tập thơ: "Lục
Bát Dâng Tặng Mẹ Ta" và "Con Gái Thì Thứ Hai" vào những
tháng cuối năm 2019. Thi thoảng tôi mang thơ bà ra đọc, thích khá nhiều bài,
cũng định viết ít bài cảm nhận về thơ của bà nhưng cứ mãi lần lữa chưa viết.
Thơ bà không nói đến những chuyện to tát, những răn dạy giáo
huấn về đạo làm người, cũng không sa vào dòng thơ thế sự chính trị để gây
"ấn tượng" mà đa phần chỉ là những chuyện "vụn vặt" đời
thường của cuộc sống: những lần về quê, những chuyến thăm bạn, những chia sẻ
cảm thông với phận nghèo, với phận đời gái cơ nhỡ...
Bài thơ "Thăm Bạn" là một trong số những
bài thơ như thế.
THĂM BẠN
Ghé nhà cửa đóng then
cài
Đầy sân lá rụng thềm
ngoài rêu phong
Dao quanh trong khoảng
thinh không
Mắt đưa tìm bóng, nào
trông bóng người
Đành lòng quay gót trở
lui
Một cơn gió lạc bùi
ngùi bay qua.
*.
ĐỒNG THỊ CHÚC
Đó là một chuyến đến thăm nhà bạn nhưng bạn lại không có nhà. Và
thời gian bạn vắng nhà cũng không phải chỉ mới ngày một ngày hai mà đã từ lâu,
thậm chí còn từ rất lâu. Quãng thời gian lâu ngày ấy được nhà thơ gói gọn trong
câu thơ: "Đầy sân lá rụng thềm ngoài
rêu phong" - một quang cảnh hoang vắng đến cô tịch, lạnh lẽo.
Bà thật khéo khi chỉ dùng một câu thơ: "Đầy sân lá rụng thềm ngoài rêu phong"
để "tố" chủ nhà đi vắng đã quá lâu, cũng đồng thời để "thú
nhận" thi nhân cũng đã lâu rồi mới đến thăm bạn.
Bốn câu thơ:
"Ghé nhà cửa đóng
then cài
Đầy sân lá rụng thềm
ngoài rêu phong
Dao quanh trong khoảng
thinh không
Mắt đưa tìm bóng, nào
trông bóng người."
Như một bức tranh cô tịch, hoang lạnh song hành cùng một bản
nhạc trầm buồn, khiến lòng người se buồn, thêm ảm đạm.
Lâu ngày mới đi thăm bạn mà bạn thì cũng vắng nhà đã từ lâu nên
nhà thơ đành “bùi ngùi” "quay gót".
Tâm trạng buồn tẻ, chán chường xen lẫn chút hờn tủi, cộng thêm
chút chợt hoang mang, lo lắng được diễn tả trong hai câu thơ gợi nhiều hình
ảnh, gợi nhiều cảm xúc ở cuối bài "Thăm Bạn", thật có tài khiến
người đọc cũng phải hụt hẫng thảng thốt theo tâm trạng chới với "bùi
ngùi" của nữ thi sĩ họ Đồng:
"Đành lòng quay
gót trở lui
Một cơn gió lạc bùi
ngùi bay qua"
Tôi cá rằng, khi đọc bài thơ "Thăm Bạn", nhất là
đọc tới câu cuối bài thơ: "Một cơn
gió lạc bùi ngùi bay qua", sẽ không ít bạn đọc thấy gai gai người,
nghẹn lòng, mắt chừng cũng ngân ngấn lệ.
Hay quá! Tài quá!
Chỉ chọn lựa những chữ mộc mạc chân chất trong ngôn ngữ đời
thường làm phương tiện truyền tải chuyến "Thăm Bạn" tới bạn đọc, nhà thơ Đồng Thị Chúc chẳng cần làm mới
cách thể hiện câu chữ, cũng chẳng cần "cách tân” hay “sáng tạo câu
chữ" cho hiện đại mà "Thăm Bạn"
của bà lại khơi gợi được nhiều điều, khiến bạn đọc phải cùng "bùi ngùi" theo tâm trạng của thi
sĩ.
"Thăm Bạn", theo tôi là một bài
thơ hay, giàu cảm xúc, rất đáng đọc.
*.
Hà Nội, 12 tháng 12-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC
TRUYỆN NGẮN ĐÙA CỦA TẠO HÓA
Truyện ngắn ĐÙA CỦA TẠO
HÓA của nhà văn Phạm Hoa đã miêu tả khá thành công tính cách nhân vật Tuấn, đại
diện cho một trong những điểm yếu của người đàn ông hiện đại.
Tuấn là con trai duy
nhất của một gia đình căn cơ, khá giả với đầy đủ lợi thế: Đẹp trai, học giỏi,
hiếu thuận và lịch lãm. Bố hy sinh khi anh còn quá nhỏ, mẹ ở vậy thờ chồng
nuôi con. Lớn lên trong tình yêu, sự hy sinh và kỳ vọng vô bờ của người mẹ, anh
đã có tất cả: Đẹp trai, thành đạt, được mọi người quý trọng, cưới được cô vợ
xinh đẹp thảo hiền. Nhưng thật oái oăm, hay như cách nói của nhà văn Phạm Hoa,
gọi đó là trò đùa của tạo hóa, bỗng chốc anh trở thành trắng tay, như chưa tồn
tại ở cõi đời.
Đọc ĐÙA CỦA TẠO HÓA,
hình ảnh bà Thuận được tác giả khắc họa rất rõ nét và sinh động: Bản lĩnh mà
yếu đuối, nhân hậu mà ghê gớm, bao dung mà ích kỷ... trước và sau khi Tuấn cưới
vợ. Con người bà chứa đầy mâu thuẫn giữa cho và nhận, giữa tình thương và trách
nhiệm vì tình yêu bà dành cho con theo kiểu “độc chiếm yêu thương”. Người đọc
yêu bà đấy, cảm phục bà đấy nhưng cũng trách giận bà đấy, khó có thể cảm thông
cho sự cứng rắn, ích kỷ đến mù quáng của bà sau khi Tuấn cưới vợ.
Xưa tới nay, muôn đời
vẫn vậy, người mẹ luôn hết lòng vì con, sẵn sàng chấp nhận mọi đắng cay, khổ
cực, thậm chí đánh đổi cả mạng sống của mình để đứa con được hạnh phúc. Đó là
lẽ thường tình, người mẹ nào cũng làm vậy, nhưng việc yêu con đến cạn kiệt bản
năng làm mẹ như bà Thuận, người đời khó có thể chấp nhận. Người đọc, thậm chí
có thể kính phục bà trong việc nuôi dạy Tuấn nên người, lo lắng chở che cho
Tuấn đến quên bản thân mình nhưng không ai chấp nhận tình yêu kiểu “độc chiếm
yêu thương” bà dành cho Tuấn. Đấy chính là điểm “thắt nút” buộc Tuấn phải tháo
gỡ, là đầu mối bi kịch cuộc đời Tuấn, và cũng chính là bi kịch cuộc đời của một
gia đình tưởng sẽ mãi ấm êm, hạnh phúc.
Trái ngược với hình ảnh
bà Thuận, hình ảnh Tuấn hiện lên qua phác họa của Phạm Hoa thật yếu đuối và nhu
nhược. Con người anh rất hoàn hảo về hình thức và tri thức, nhưng cứ nhàn nhạt
về tính cách. Cả cuộc đời anh là một xâu chuỗi sự “răm rắp vâng lời”. Tuốt tuột
anh làm theo ý mẹ, nghe theo sự sắp đặt của mẹ. Anh giỏi trong tri thức nhưng
lại quá mù mờ về bổn phận của thằng đàn ông. Anh nhanh nhẹn, hoạt bát trong các
mối quan hệ xã hội nhưng lại quá ngớ ngẩn trong ứng xử gia đình. Giữa hai người
phụ nữ (mẹ và vợ), anh cư xử như một thằng “trẻ con”: Không chính kiến, không
suy nghĩ, không hành động.
Mâu thuẫn giữa mẹ và vợ
đã đẩy đến điểm đỉnh. Cuộc chiến giành giật “quyền sở hữu” Tuấn - (theo chữ của Nguyễn Kiên là “vùng khuất trong
tiềm thức (...) có ẩn ức sinh lý”) - từ hai người đàn bà đã ở mức quyết liệt,
một mất một còn mà hành động của Tuấn vẫn chỉ là: Luống cuống quỳ xuống chân
mẹ, khóc rưng rức, van xin. Hành động “đáng kể” nhất của anh, được Phạm Hoa
viết: “May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo
hơn cả”, là kéo vợ chạy khỏi nhà, chạy ào ra đồng.
Giữa hai người phụ nữ
yêu thương của mình, Tuấn không biết phải làm gì (mà đúng ra anh chẳng chịu làm
gì cả). Anh bị họ giằng xé, đun đẩy. Anh là cái cớ để họ bám víu, để họ quyết
chiến sống còn nhưng anh vẫn bàng quan, vô cảm. Với họ, anh chỉ là con xúc sắc
xinh xinh, đẹp mắt cần phải độc chiếm. Với anh, họ là người thân yêu như ngàn
vạn người khác ngoài xã hội. Phạm Hoa đã lột tả tất cả sự nhu nhược, ươn hèn và
ích kỷ trong tâm lý và tính cách của Tuấn, chỉ qua một đoạn ngắn: “Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới
hạn cuối cùng của cuộc xin xỏ đã hết. Chợt anh mỉm cười mềm yếu và dễ dãi. Anh
không thể chặt xác Loan ra làm ba được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im
lặng đứng dậy, nước mắt cũng thôi chảy. Vừa đi ra ngõ, anh vừa thấy loáng
thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế nào cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Để cho các
người ở lại giành giật, cắn xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà vẫn không biết yêu
thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong con người anh như diễn ra cuộc biến
đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn, lạnh vắng, như đang lững thững bước trên miền
đất nào đó rất xa lạ.” Vâng! Tuấn đã “biến đổi dữ dội” (!) để nhận ra sự cô
đơn, vô vị, bất lực của mình nhưng anh vẫn không làm gì, ngoài hành động bỏ
trốn. Người đọc cảm mến anh ở những trang đầu bao nhiêu thì nay bực tức anh bấy
nhiêu, thậm chí lên án anh vì hành động trốn chạy, vô trách nhiệm của mình.
Ích kỷ và nhu nhược
phải chăng là tính cách tạo nên con người Tuấn? Thằng đàn ông có dáng dấp mạnh
mẽ, thành đạt của anh chỉ là vỏ bọc của một tâm hồn yếu đuối, bạc nhược, của
suy nghĩ rất con trẻ chẳng biết làm gì và thật xa lạ với xã hội, đại diện cho
những “cậu ấm” suốt ngày quẩn quanh bên mẹ, yêu mẹ bằng sự tôn thờ tuyệt đối.
Kết thúc truyện, hay kết thúc bi kịch cuộc đời Tuấn là sự tan vỡ gia đình, là
bước đi vô định của anh giữa màn đêm cô tịch, để mãi mãi không còn ai thấy sự
tồn tại của anh trên cõi đời này.
Có lẽ Phạm Hoa đã gặp
không ít người đàn ông kiểu như Tuấn trong cuộc sống nên đã xây dựng nhân vật
Tuấn trong ĐÙA CỦA TẠO HÓA rất đặc trưng cho những chàng công tử chỉ được cái mẽ
người “hào hoa và diêm dúa” nhưng vô tích sự ở đời. Qua tác phẩm của mình, Phạm
Hoa cảnh báo: Nếu tình yêu của người mẹ dành cho cậu con trai theo kiểu “độc
chiếm yêu thương” sẽ biến con mình trở thành người đàn ông nhu nhược, yếu đuối
và ích kỷ, hay còn gọi là người đàn ông “nửa vời”, bị “cắt xén”. Sự ra đi của
Tuấn là cần thiết cho cho sự chấm dứt hình ảnh người đàn ông “trẻ con” yếu đuối
về tâm hồn, nhu nhược về tính cách đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội
hiện đại.
*.
Làng Đá, mùa hè, năm
2002
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
GẶP TRẦN QUANG ĐẠO
"TRONG MƯA XUÂN"
Sáng nay, lang thang ngắm "phố phường" làng facebook, tôi gặp lại chàng thi sĩ Trần Quang
Đạo "đầu trần chân đất"
"đi mê mải" "dưới mưa xuân rây lộc" ngắm phố
phường Hà Nội bằng tâm thế tĩnh tại của người đã ngộ được Đạo của cõi Người,
với những câu thơ phảng phất chất men Thiền:
TRONG MƯA XUÂN
Dưới mưa xuân rây lộc
ta đầu trần
mưa cứ rơi đều
Mưa chia không thiên vị
Ta đi
phố phường mờ ảo
hoa đào
quất
hàng quán
bay trong mưa
Nỗi nghèo bay lên trời
năm đói kém
Ta cứ đi mê mải
mắt mua hết phố hết
phường
mắt mua hết đào hết
quất
mua hết người đẹp trên
đường…
Tặng những người chưa
gặp
Mưa cứ rơi nữa đi
chốc nữa bên hàng cây
dọc phố
ta nẩy những nụ xuân!
*.
Hà Nội, 01 tháng 02/2024
TRẦN QUANG ĐẠO
Tôi ấn tượng với 2 chữ "rây
lộc" ở ngay câu thơ đầu: "Dưới
mưa xuân rây lộc" bởi 2 chữ "rây
lộc" này đã khiến "mưa xuân"
của Trần Quang Đạo trở nên đặc biệt và gây ấn tượng khác hẳn với những "mưa xuân" của các nhà thơ khác. Nhờ
2 chữ "rây lộc" mà "mưa xuân" của Trần Quang Đạo trở
thành mưa xuân của lòng nhân ái, của khát vọng tình đời. Hình ảnh chàng thi sĩ
"đầu trần" đi dưới "mưa xuân" trong khổ thơ đầu thật ấn
tượng:
"Dưới mưa xuân rây
lộc
ta đầu trần
mưa cứ rơi đều”
Thì rõ, mưa rây mưa bụi hẳn sẽ "rơi đều", sẽ "chia
không thiên vị" người sang hay kẻ hèn, người "đầu trần" hay kẻ che ô, đội mũ. Sự
thật nghe đơn giản vậy nhưng phải nhờ quan sát thật kỹ, thật tỉnh mới ngộ ra
được.
Nhà thơ Trần Quang Đạo đã tách biệt câu cảm thán: "Mưa chia không thiên vị." đứng độc
lập với khổ thơ đầu để thêm nhấn mạnh sự chiêm nghiệm, ngộ thức về Đạo của
người tu tập. Và nhà thơ thản nhiên cởi bỏ "thất tình lục dục" với những ái ố hỉ nộ, bon chen, giành giật
của thói đời, kiếp người mà tĩnh tâm tự tại đắm say cái đẹp của đất trời, của
tình đời:
"Ta đi
phố phường mờ ảo
hoa đào
quất
hàng quán
bay trong mưa"
Chỉ bằng 14 chữ với cấu trúc 6 nhịp ngắt dòng, nhà thơ Trần
Quang Đạo đã tạc tạo Hà Nội ngày cuối năm qua những thước phim du dương tiếng
nhạc, với hình ảnh “phố phường” - “đào” - “quất’... “bay” chậm chậm
dưới "mưa rây" đẹp “mờ ảo”
đến nao lòng. Tôi ngẩn người với khổ thơ 14 chữ cựa quậy, quẫy đạp, đầy nhạc,
đầy họa này!
Rồi nhà thơ chuyển nhịp, chuyển cảnh, dẫn người đọc chuyển tâm
trạng bằng 2 câu thơ tự thoại:
"Nỗi nghèo bay lên
trời
năm đói kém"
tự nhắc lòng hãy thả "Nỗi
nghèo bay lên trời" để trôi đi những phiền muộn âu lo của "năm đói kém" mà tĩnh tâm an lạc với
cuộc đời và 2 câu thơ tự thoại cũng chính là nỗi lòng nhà thơ mong ước: "Nỗi nghèo bay lên trời" để thế nhân
thoát nghèo thoát cực!
Ở khổ thơ này, nhà thơ Trần Quang Đạo dùng 2 chữ "Nỗi nghèo" để diễn tả HIỆN TRẠNG
NGHÈO KHÔNG DỄ NHÌN THẤY, hiện trạng đó không đơn giản là "cái nghèo" vật chất dễ nhận ra, dễ
nhìn thấy như ta thường nghe, thường nói mà là tâm trạng, là niềm tin, là khát
vọng của cõi nhân gian đã nhuốm màu u ám trong bối cảnh kinh tế, xã hội cuối
năm 2023 xám xịt màu hy vọng!
Nhà thơ lại chuyển cảnh, lại dẫn người đọc phân thân vào các
phân cảnh, để người đọc ngẩn ngơ cùng nhà thơ "đi mê mải" giữa náo nhiệt phố phường, rồi đắm mình vào vẻ đẹp
lãng đãng, bảng lảng của đất trời. Nhà thơ hào phóng "mua" hết những gì anh nhìn thấy, những gì đã lạc vào tầm
mắt của anh khiến anh ngẩn ngơ, khiến anh bị mê hoặc rồi anh lại hào phóng đem
"Tặng những người chưa gặp"
những “phố” những “phường”, những “đào” những “quất”, những
“người đẹp”..., đã làm anh say đắm.
“Ta cứ đi mê mải
mắt mua hết phố hết
phường
mắt mua hết đào hết
quất
mua hết người đẹp trên
đường…
Tặng những người chưa
gặp”
Đọc những câu thơ thoát tục độc đáo với điệp từ "mắt mua hết"/ “mua hết” thấm đượm lòng nhân ái, vị tha của nhà thơ Trần Quang Đạo
tôi chợt nhớ tới những câu thơ xót lòng của nữ sĩ Đoàn Thị Lam Luyến trước tình
yêu bị trói buộc bởi cái tôi chi phối, cương tỏa: "Ta muốn ôm cả đất/ Ta muốn ôm cả trời/ Mà sao không yêu trọn/ Trái tim
một con người" mà thêm khoái những câu thơ thức ngộ đã đạt tới cảnh
giới của thi sĩ họ Trần.
Bài thơ khép lại với tiếng cổ vũ hối thúc sức sống nhân ái và
phấn chấn niềm tin sự hồi phục kinh tế ngoạn mục với những "nụ xuân" tươi mới, căng tràn sức
trẻ:
"Mưa cứ rơi nữa đi
chốc nữa bên hàng cây
dọc phố
ta nẩy những nụ
xuân!"
Vâng, tiếng reo hân hoan “ta
nẩy những nụ xuân” đã khép lại bài thơ ấm, đẹp của tình người, của niềm tin
chân ái!
*.
Hà Nội, chiều 04 tháng 02-2024
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
-----------------------------------
Đang cập nhật
Rất mong nhận được những góp ý chân thành từ bạn đọc dưới phần
bình luận hoặc gửi thư về email:
dangxuanxuyen@gmail.com - baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn
Đặng Xuân Xuyến trân trọng cám ơn.


0 comments:
Đăng nhận xét