'CHUYỆN VỚI THANH' HAY MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU VỀ KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI - Tác giả: Hà Thanh Vân (Thái Bình)

Leave a Comment

 


“CHUYỆN VỚI THANH”

HAY MỘT TRƯỜNG HỢP

NGHIÊN CỨU VỀ KHỦNG HOẢNG

TRUYỀN THÔNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI


(Tác giả Hà Thanh Vân)

Tôi xem hiện tượng này không chỉ như một cuộc tranh luận về một cuốn sách, mà như một ca khủng hoảng truyền thông trên mạng xã hội, nơi văn bản tác phẩm, biểu tượng lịch sử, cảm xúc cộng đồng và thuật toán cùng tạo thành một tổ hợp rối rắm và phức tạp.

Tôi không có điều kiện khảo sát định lượng, nhất là khi vụ việc vẫn còn đang tiếp diễn và tôi chỉ tiến hành khảo sát định tính trên các trang mạng xã hội như Facebook, Threads, Instagram, X, YouTube, TikTok, Reddit, một số bài báo… cùng với văn bản tác phẩm “Chuyện của Thanh”.

 

1. TỪ MỘT CUỐN SÁCH ĐỐI THOẠI ĐẾN MỘT VỤ VIỆC KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG VÀ ĐÔI LỜI VỀ ANH NGUYỄN THÀNH NAM

Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” của tác giả Nguyễn Thành Nam là sách do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2026. Theo giới thiệu của NXB, sách chọn hình thức đối thoại giữa thầy giáo và sinh viên để tiếp cận cuộc đời, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng đến việc đưa lịch sử đến gần hơn với người trẻ.

Nhiều bài báo giới thiệu sách này như một tác phẩm ra đời xuất phát từ cảm hứng sau khi tác giả đọc tác phẩm “Ho Chi Minh: A Life” (Hồ Chí Minh: Một cuộc đời) của nhà sử học Mỹ William Duiker, rồi triển khai thành các bài học lịch sử, quản trị, phát triển bản thân. Sách được giới thiệu gồm 5 phần: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chạm vào tâm hồn”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Lấy thế thắng lực”, “Sánh vai các cường quốc năm châu”. Tôi có tác phẩm của William Duiker trong tay (bản tiếng Anh và bản tiếng Việt, đều là ebook, dày hơn 600 trang), và khi đọc thì tôi cho rằng đây là một cuốn sách hay, William Duiker có thiện cảm với Việt Nam và dành nhiều lời khen ngợi đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhưng khi đi vào mạng xã hội, cuốn sách bị chuyển từ vấn đề “giới thiệu sách” sang thành vấn đề “xét xử đạo đức”. Đây chính là bước ngoặt truyền thông và nhìn từ nhiều phương diện với những dữ liệu công khai hiện có, chưa đủ căn cứ để khẳng định đây là một chiến dịch truyền thông được tổ chức chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nếu hiểu “chiến dịch” theo nghĩa rộng là một làn sóng truyền thông có cùng thông điệp, cùng nhịp lan truyền, cùng mục tiêu gây sức ép lên dư luận, con người và một số cơ quan, đơn vị, thì có thể gọi đây là một chiến dịch truyền thông xã hội vì nó có một số đặc điểm rất rõ:

Thứ nhất là có thông điệp trung tâm: Cuốn sách bị quy kết là xúc phạm, lệch chuẩn, không phù hợp khi viết về hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ hai là có đối tượng bị nhắm đến: Đó là tác phẩm, tác giả, đơn vị xuất bản, các kênh từng giới thiệu hoặc phân phối sách, các tờ báo viết về tác phẩm này.

Thứ ba là có hành động kêu gọi cụ thể: Lên án, tẩy chay, yêu cầu thu hồi, yêu cầu xử lý trách nhiệm.

Thứ tư là có cơ chế khuếch đại thông tin: Các thuật toán của các trang mạng xã hội tạo điều kiện cho các ảnh chụp trang sách, trích đoạn ngắn, bình luận phẫn nộ, lời kêu gọi hành động lan rất nhanh.

Ngoài ra có một số chi tiết liên quan mà tôi nghĩ rằng nhiều công chúng trên mạng không biết hoặc hiểu lầm, nên cần làm rõ:

- Tôi là người biết gia đình anh Nguyễn Thành Nam từ khoảng 30 năm nay. Anh Nam xuất thân trong một gia đình đáng kính trọng, anh có một lý lịch tốt, học vấn tốt và đặc biệt anh Nguyễn Thành Nam là người cực kỳ sùng bái Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh thường xuyên tôn vinh và nhắc tên Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều hoạt động ở Tập đoàn FPT thời đó và cả khi đi dạy học hay trong nhiều sự kiện sau này. Cuốn sách “Chuyện với Thanh” của anh Nam, nói cho cùng, ngoài một số câu mang tính “nhạy cảm” với một số công chúng, thì toàn bộ các trang sách đều toát lên tinh thần tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (xem ảnh chụp 1 số trang).

- Tôi có tiếp xúc với một số sinh viên do anh Nam dạy và các em đều xác nhận anh Nam khi dạy đều tỏ thái độ hết sức đề cao và ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, thậm chí còn tổ chức đi thăm viếng di tích Phủ Chủ tịch và viếng lăng Bác khi dạy. Trên mạng cũng có nhiều ý kiến công nhận điều này (xem ảnh đính kèm).

- Anh Nguyễn Thành Nam là một trong những nhà đầu tư chính cho phim “Địa đạo” ra mắt vào dịp 30.4.2025, là một bộ phim thành công về đề tài chiến tranh cách mạng. Trên mạng hiện có rất nhiều bài báo về bộ phim này và vai trò nhà đầu tư của anh Nam.

- Nhưng vì sao anh Nam lại viết những câu chữ đó trong tác phẩm? Đơn giản là vì anh ấy dùng kiểu nói chuyện theo “văn hóa FPT”, lối nói chuyện mang tính cợt nhả, đùa bỡn, bình dân hóa. Từ 30 năm nay, văn hóa FPT lừng danh trên mạng qua những bài nhạc chế, qua những trò đùa trong các sự kiện của tập đoàn và cả qua những cuốn sách viết về quá trình khởi nghiệp của FPT. FPT có một công ty tên là STCo và nhiều năm nay tự nhận văn hóa FPT là văn hóa “Sờ t.í cô”. Giới công nghệ cũng nhiều năm nay thậm chí còn gọi FPT bằng nickname vui là “F..PT”. FPT từ ngày thành lập vẫn duy trì và tạo dựng một môi trường cởi mở, không có khoảng cách giữa lãnh đạo và nhân viên, có trang nội bộ đưa những tác phẩm do nhân viên viết về chính công ty và những lãnh đạo của FPT với kiểu viết đố tục giảng thanh và họ tự xem đó là môi trường tạo ra để giới trẻ năng động, phát triển thoải mái. Nhưng lưu ý, đây là văn hóa nội bộ của FPT, có thể quen thuộc và phù hợp với các thành viên của FPT, chứ không hẳn phù hợp với một số công chúng bên ngoài.

Anh Nam ở ngoài đời là người thông minh xuất sắc, học nhanh, nắm bắt vấn đề chuẩn, biết rút kinh nghiệm và học tốt. Anh Nam từng viết những cuốn sách kiểu nội bộ như “FPT mềm mà không cứng”, “Đe.k biết gì cũng tiến” mà nghe tên là đủ hiểu tinh thần văn hóa nội bộ FPT. Những thành công của anh ấy và của tập đoàn FPT tạo cho anh ấy và cả những lãnh đạo cựu trào của FPT sự tự tin rất lớn, thậm chí làm nảy sinh tư duy cho rằng mình biết nhiều, biết tuốt. Nhưng người dù giỏi đến đâu cũng có lúc sai lầm. Điều sai lầm của anh Nam là anh ấy dùng lối nói suồng sã kiểu văn hóa nội bộ của FPT khi viết một số câu trong tác phẩm “Chuyện với Thanh”. Có thể là nói chuyện lúc trà dư tửu hậu bên ngoài thì được, nhưng khi viết vào sách, nếu ai thông cảm được thì không sao, còn ai không thông cảm hoặc có dụng ý khác, sẽ dễ bị bắt thành lỗi lầm. Mặt khác, anh Nam phải hiểu rõ rằng khi viết thành sách, đó là một chuyện khác hẳn so với chuyện đi dạy, hay khi nói chuyện truyền cảm hứng từ những bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngôn ngữ sử dụng khi viết sách khác với ngôn ngữ nói, phải hết sức cẩn trọng và phù hợp với văn hóa Việt Nam về lãnh tụ. Đáng tiếc là trong tác phẩm “Chuyện với Thanh”, anh Nam từng tổng kết được là Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói chuyện với nông dân thì trở thành nông dân, nói chuyện với bác sĩ thì lại thành bác sĩ, thế mà lần này anh Nam nói chuyện với độc giả, anh lại vẫn giữ nguyên giọng văn suồng sã kiểu văn hóa nội bộ FPT ở một số chi tiết thì là anh mắc sai lầm rồi.

- Một số bắt lỗi về cách xưng hô Chủ tịch Hồ Chí Minh trống không, chỉ có họ, thì đó không phải là do anh Nam viết, đó là anh trích nguyên văn từ tác phẩm của William Duiker. Còn lối viết như vậy là lối viết truyền thống của phương Tây, không chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh mà mọi nhân vật lịch sử, chính trị, lãnh đạo trên thế giới đều được xưng hô như thế. Ở đây hoàn toàn là do sự khác biệt về văn hóa. Tôi đưa ảnh một bài báo của hãng thông tấn Reuter sáng nay ngày 7.6.2026 nói về Trump, kèm theo một bài trên Tạp chí Time ngày 17.6.1966 nói về đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sai lầm của anh Nam và những người biên tập sách là cần có một chú thích hay nói rõ về cách xưng hô của tư liệu phương Tây ngay ở đầu cuốn sách, để tránh những hiểu lầm.

Tôi vẫn cho rằng anh Nam và những người biên tập chỉ là mắc phải sai lầm, thiếu sự kỹ lưỡng, tinh tế, thiếu sự nhạy cảm ngôn ngữ, chứ không phải là một sai phạm về đạo đức, tư tưởng chính trị hay là hành vi cố tình. Do vậy, chắc anh ấy cũng không ngờ đến một chiến dịch truyền thông bùng nổ mang tính phẫn nộ trên mạng xã hội về cuốn sách này.

 

2. CẤU TRÚC CỦA “CHIẾN DỊCH” TRUYỀN THÔNG

GIAI ĐOẠN KÍCH HOẠT: TUNG NHỮNG TRÍCH ĐOẠN GÂY SỐC

Một chiến dịch truyền thông kiểu này thường bắt đầu bằng ảnh chụp một vài đoạn văn trong tác phẩm. Các đoạn được chọn thường có ba đặc điểm là ngắn, dễ gây cảm xúc, dễ tách khỏi ngữ cảnh. Với một tác phẩm dài 300 trang, việc vài đoạn bị cắt ra và lan truyền riêng biệt khiến người đọc trên mạng tiếp nhận tác phẩm không như một chỉnh thể văn bản, mà như một vật chứng buộc tội, không hề nghĩ đến chuyện đó chỉ là những trích đoạn. Khi văn bản bị biến thành vật chứng, chức năng thẩm mỹ và diễn giải bị đẩy lùi, chức năng buộc tội, kết án nổi lên. Đây là kỹ thuật rất quen của cái gọi là “truyền thông phẫn nộ”, cụ thể là chọn trích đoạn có chọn lọc để thổi bùng cảm xúc phẫn nộ.

GIAI ĐOẠN ĐỊNH HÌNH VÀ PHÁT TRIỂN: TỪ SÁCH CÓ VẤN ĐỀ THÀNH SÁCH XÚC PHẠM LÃNH TỤ

Ở giai đoạn đầu, nhiều công dân mạng (netizens) có thể viết rằng sách có chi tiết phản cảm, cách viết vụng, giọng văn không phù hợp, lối hư cấu nguy hiểm. Nhưng khi làn sóng dâng cao, sự diễn giải những trích đoạn đó nhanh chóng chuyển sang mức độ nặng hơn như xúc phạm lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Hồ Chủ tịch.

Sự biến chuyển và định hình lỗi lầm này rất quan trọng. Nó làm thay đổi bản chất cuộc tranh luận. Từ chỗ có thể bàn về chất lượng văn chương, phương pháp viết tiểu sử, ranh giới hư cấu lịch sử, dư luận bị kéo sang chuyện phán xét đạo đức và động cơ chính trị. Khi đó, câu hỏi “tác phẩm viết có hay không, có đúng tư liệu không, có hợp thể loại không?” bị lấn át bởi câu hỏi “động cơ nào mà xúc phạm như vậy, tại sao không chê, không lên án?

Mạng xã hội làm cho mỗi người sử dụng trở thành một tòa án và ai cũng có thể đóng vai quan tòa. Người viết status, người share, người bình luận, người thả icon phẫn nộ đều tham gia vào quá trình tạo ra một làn sóng dư luận. Điểm đáng chú ý là không cần ai đọc hết sách. Chỉ cần một vài hình ảnh, vài lời dẫn, vài bình luận có tính cáo buộc là đủ để tạo bằng chứng. Khi nhiều người cùng phẫn nộ, sự phẫn nộ tự nó được xem như bằng chứng. Đây là hiện tượng cơ chế đám đông xác nhận đám đông, trong đó lý do mình tin vì nhiều người đang tin, mình lên án vì nhiều người cũng đang lên án chi phối tất cả.

 

3. NHỮNG ĐỐI TƯỢNG THAM DỰ CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG

Có ba nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là lực lượng DLV hoặc các tài khoản hành xử theo logic DLV. Đây là nhóm cần nhận định cẩn trọng nhất bởi những ý kiến phẫn nộ, lên án xuất phát từ nhóm này đầu tiên. Chúng ta không thể kết luận ai là DLV theo nghĩa tổ chức, được phân công, được chỉ đạo, được trả tiền. Nhưng có thể nhận diện một kiểu hành vi truyền thông mang tính DLV. Nhóm này thường không đi sâu vào phân tích văn bản. Họ dùng cách nói quyết liệt, quy kết nhanh, đóng khung vấn đề bằng các từ khóa chính trị và đạo đức như “xúc phạm”, “bôi nhọ”, “phải thu hồi”, “phải xử lý”. Mục tiêu của họ không phải mở đối thoại, mà là tạo thế áp đảo dư luận.

Nếu nhìn theo kỹ thuật truyền thông, nhóm này làm ba việc. Một là định danh tội lỗi. Họ không để cuốn sách được bàn như một tác phẩm có điểm sai, điểm dở, điểm thiếu kiểm soát, mà quy kết ngay thành sai phạm nghiêm trọng. Hai là đồng nhất phản biện với lập trường chính trị. Ai bênh vực hay không lên án đủ mạnh có thể bị kết tội ngay là bao che, né tránh, hoặc lệch chuẩn. Đây là cơ chế rất hiệu quả để tạo sự sợ hãi trong cộng đồng tranh luận trên mạng. Ba là qua dư luận tìm cách gây áp lực lên thiết chế. Cụ thể là nhà xuất bản, báo chí, cơ quan quản lý, đơn vị phát hành, người từng giới thiệu sách. Qua việc này, họ củng cố hình ảnh người bảo vệ đường lối, chiếm lĩnh diễn ngôn chính thống và muốn buộc các chủ thể khác phải phản ứng theo nhịp điều khiển dư luận của họ. Còn tại sao họ làm như vậy? Đơn giản là họ cần có việc để làm cho xứng đáng với thù lao và trong trường hợp này, cuốn sách này được chọn chỉ vì vài câu không phù hợp.

Nhóm thứ hai là những người cực đoan về lý tưởng, phẫn nộ thật, hành động theo cảm xúc. Nhóm này có thể đông hơn nhóm thứ nhất. Họ không nhất thiết có tổ chức, không nhất thiết có lợi ích trực tiếp, nhưng phản ứng rất mạnh vì họ cảm thấy một biểu tượng thiêng liêng bị xúc phạm. Với nhóm này, động cơ có thể xuất phát từ lòng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự giáo dục, từ cảm thức dân tộc, hoặc đơn giản từ việc nhìn thấy vài trích đoạn gây sốc trên mạng. Họ thường tiếp nhận tác phẩm qua ảnh chụp trang sách, status dẫn dắt, bình luận của người khác. Vì vậy, thay vì đọc toàn văn tác phẩm, họ đọc qua những mảnh vỡ mà truyền thông mạng xã hội muốn họ đọc. Và khi mảnh vỡ ấy đủ gây sốc, họ không còn nhu cầu kiểm chứng thêm. Nhóm này có vai trò rất lớn trong việc khuếch đại chiến dịch. Không có họ, thông điệp phẫn nộ không lan rộng. Có họ, một bài đăng có thể biến thành phong trào lên án.

Điểm đáng lưu ý là nhóm này thường có khuynh hướng đẩy mức xử lý lên cao hơn bản chất vụ việc. Từ “sách viết dở” thành “sách độc hại”, từ “cần thẩm định lại” thành “phải tiêu hủy”, từ “tác giả sai” thành “phải truy cả hệ thống”. Đây là quá trình kích động sự leo thang cảm xúc của công chúng. Nhưng cũng không nên phủ định hoàn toàn nhóm này. Trong họ có một nhu cầu chính đáng, đó là yêu cầu sự tôn trọng với nhân vật lịch sử và chuẩn mực xuất bản. Cái cần phê phán họ không phải là quyền được phẫn nộ của họ, mà là sự phẫn nộ ấy không qua bộ lọc tri thức.

Nhóm thứ ba là những người có lợi ích trong vụ này, đây cũng là nhóm phức tạp nhất, vì có lợi không có nghĩa là tạo ra vụ việc. Họ có thể chỉ là những người biết tận dụng tốt cơ hội sẵn có. Thứ nhất là lợi ích truyền thông cá nhân. Một số tài khoản, KOL, nhà bình luận, người làm nội dung có thể tăng tương tác rất mạnh khi tham gia lên án. Những vụ liên quan đến lịch sử, lãnh tụ, xuất bản, đạo đức… luôn có khả năng tạo viral. Người viết càng gay gắt, càng dễ được chia sẻ. Người viết càng tỏ ra phẫn nộ, càng dễ được phong vai người anh hùng trên mạng.

Thứ hai là lợi ích cạnh tranh biểu tượng. Những người vốn không thích tác giả, không thích giới doanh nhân viết sách về tư tưởng Hồ Chí Minh, không thích cách truyền thông trước đó tung hô cuốn sách, hoặc không thích hệ sinh thái gắn với tác giả, đều có thể coi đây là cơ hội để phản công. Trước khi có tranh cãi, sách được giới thiệu khá tích cực, thậm chí có những bài nhấn mạnh cách tiếp cận lịch sử mới, gần gũi người trẻ. Khi phản ứng ngược xuất hiện, nó giống một cú bẻ lái từ làm mới lịch sử sang xúc phạm lãnh tụ.

Thứ ba là có những người muốn chứng minh quyền lực phán xét của cộng đồng mạng. Có những người không cần ghét tác giả, cũng không cần quan tâm sâu tới cuốn sách. Họ chỉ cần một vụ việc để thể hiện, cụ thể là mạng xã hội có thể buộc nhà xuất bản, báo chí, người nổi tiếng phải lùi bước. Đây là khoái cảm quyền lực ảo đến từ đám đông khi một người vô danh có thể chỉ nhờ một status, một vụ việc mà trở nên nổi tiếng.

Thứ tư là lợi ích nền tảng. Các nền tảng mạng xã hội hưởng lợi rõ nhất từ những tương tác. Tranh cãi càng nóng, người dùng càng ở lại lâu, càng bình luận, càng chia sẻ, càng quay lại xem diễn biến.

Có thể hình dung đây là một mô hình ba tầng. Tầng đầu là tầng kích hoạt sự phẫn nộ, một số tài khoản chọn trích đoạn, đặt tiêu đề mạnh, đóng khung tác phẩm là nghiêm trọng. Đây có thể là nhóm DLV hoặc những tài khoản có kỹ năng điều hướng dư luận. Tầng thứ hai là tầng khuếch đại cảm xúc với nhóm cực đoan, người dùng phổ thông, người yêu mến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bức xúc thật sự, cùng chia sẻ và bình luận. Tầng thứ ba là tầng tận dụng lợi ích với các KOL, người làm nội dung, đối thủ, các trang tổng hợp, hội nhóm, diễn đàn. Họ tiếp tục chiến dịch với các bài phân tích, bài chửi, bài cảnh báo, bài kêu gọi xử lý.

Điểm đáng ngại nhất không phải là cuốn sách bị phê bình. Sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà có vấn đề thì phê bình là hoàn toàn cần thiết, nhưng điểm đáng ngại là chiến dịch này có thể biến một vấn đề thảo luận về chuyên môn học thuật thành một cuộc thanh trừng. Đây không chỉ là một cuộc tranh luận về sách, mà còn là một chiến dịch định hình dư luận, trong đó lòng tôn kính nhân vật lịch sử, sự cực đoan cảm xúc và lợi ích cùng gắn kết với nhau.

 

4. CÁC KỸ THUẬT TRUYỀN THÔNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG VỤ VIỆC NÀY

Thứ nhất, đó là đặt tên vấn đề bằng ngôn ngữ đạo đức cực mạnh. Những cụm từ như “dơ bẩn”, “cần thu hồi”, “xúc phạm”, “không thể chấp nhận” có tác dụng tạo sự thao túng tâm lý, đạo đức ngay từ đầu. Người đọc chưa cần biết nội dung đầy đủ, nhưng đã được dẫn vào một tâm thế phải lên án. Ngôn ngữ càng mạnh, khả năng lan truyền càng cao do cơ chế thuật toán mạng xã hội.

Thứ hai, đó là biến tác phẩm thành scandal đạo đức, không phải là đối tượng phê bình. Một bài phê bình nghiêm túc sẽ chỉ ra các vấn đề như tác phẩm thuộc thể loại gì, người kể chuyện là ai, mức độ hư cấu đến đâu, tư liệu lịch sử nào được sử dụng, giọng văn có phù hợp với đối tượng được viết không, đâu là điểm sai, điểm non cần sửa… Nhưng truyền thông scandal không đi theo con đường ấy. Nó rút gọn vấn đề thành một câu đơn giản là sách này xúc phạm lãnh tụ và phải xử lý. Sự rút gọn này có hiệu quả truyền thông cao, nhưng làm nghèo năng lực nhận thức.

Thứ ba là tạo hiệu ứng truy cứu dây chuyền. Không chỉ tác giả bị gọi tên, chửi bới mà nhà xuất bản, cơ quan chủ quản, đơn vị phát hành, báo chí từng giới thiệu, thậm chí người im lặng cũng có thể bị kéo vào vòng chất vấn. Đây là đặc điểm của các làn sóng phẫn nộ hiện nay, cụ thể là nó không dừng ở văn bản, mà mở rộng thành truy cứu dây chuyền, liên đới trách nhiệm.

Thứ tư là dùng hình tượng lãnh tụ để thúc đẩy cảm xúc cộng đồng. Viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh là viết về một nhân vật đặc biệt. Ở đó, người đọc không tiếp nhận như với một nhân vật lịch sử thông thường, mà bằng sự giáo dục chính trị, tư tưởng, tình cảm dân tộc, lòng tôn kính cá nhân. Vì vậy, chỉ cần giọng văn lệch tông, chi tiết thiếu tiết chế, tác phẩm dễ chạm vào những sự nhạy cảm. Một tác phẩm viết về nhân vật lịch sử lớn không chỉ chịu thẩm định văn chương hay chi tiết lịch sử, mà còn chịu thẩm định của sự tôn kính biểu tượng lịch sử trong văn hóa Việt Nam.

 

5. VÌ SAO LÀN SÓNG TRUYỀN THÔNG NÀY BÙNG NHANH? TÍNH TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA VỤ VIỆC NÀY

Có bốn nguyên nhân khiến cho làn sóng truyền thông này lan rộng.

Thứ nhất, đó là đề tài quá nhạy cảm. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng trung tâm trong đời sống chính trị, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Bất cứ cách viết nào bị cho là suồng sã, tùy tiện đều có thể gây phản ứng mạnh.

Thứ hai, thể loại đối thoại hư cấu dễ gây hiểu lầm. Sách được giới thiệu như một cuộc đối thoại dài hơi giữa thầy giáo và sinh viên, nghĩa là tác giả có thể dùng giọng kể gần gũi, đời thường. Nhưng khi viết về một nhân vật lịch sử mang tính thiêng liêng, biểu tượng, giọng đời thường nếu không viết kỹ, phù hợp thì có thể bị lên án.

Thứ ba, các trích đoạn lan truyền có vẻ tự nói lên tất cả. Ảnh chụp trang sách tạo cảm giác bằng chứng trực tiếp, khiến người tiếp nhận ít có nhu cầu kiểm tra toàn văn.

Thứ tư, mạng xã hội đang rất nhạy với các vụ “lệch chuẩn văn hóa”. Sau nhiều tranh cãi về phim, MV, quảng cáo, phát ngôn nghệ sĩ, công chúng đã quen với mô hình lên án tập thể. Gần đây nhất là vụ việc quanh tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”. Vụ việc này về mặt tính chất, sự thể hiện hoàn toàn giống như chiến dịch truyền thông quanh “Nỗi buồn chiến tranh”.

Không nên nhìn toàn bộ phản ứng này như “đám đông mù quáng”. Nó cũng có phần chính đáng vì công chúng có quyền chất vấn một tác phẩm viết về nhân vật lịch sử lớn lao của dân tộc. Công chúng cũng có quyền yêu cầu nhà xuất bản, tác giả chịu trách nhiệm với những nội dung có thể gây tổn thương biểu tượng chung. Trong một xã hội có văn hóa đọc lành mạnh, người đọc không chỉ tiêu thụ sách mà còn phản biện sách. Ở nghĩa này, làn sóng phản ứng cho thấy công chúng vẫn quan tâm đến lịch sử, đến chuẩn mực viết về lãnh tụ, đến trách nhiệm xuất bản và đây là mặt tích cực.

Nhưng sự tiêu cực cũng rất rõ ràng. Đó là nguy cơ dùng đấu tố trên mạng thay cho phê bình học thuật. Khi phê bình bị thay bằng sự kết án thì văn hóa tranh luận không còn được tôn trọng. Những người đọc sách cần biết phân biệt và hiểu những điều như sách sai ở đâu, sai ở mức độ nào, do thiếu tư liệu, do hư cấu quá đà, do giọng văn bất cẩn, do biên tập yếu, hay do quan niệm sáng tác có vấn đề, cần chỉ ra những bài học nghề nghiệp gì cho người viết, người biên tập, người xuất bản.

Mặt khác đọc sách qua vài tấm ảnh chụp trích đoạn là cách đọc rất nguy hiểm. Nó có thể đúng trong việc phát hiện điểm bất ổn, nhưng không đủ để kết luận toàn bộ giá trị tác phẩm. Một văn bản cần được đặt trong những ngữ cảnh như đoạn đó nằm ở đâu, ai nói, giọng điệu gì, mục đích gì, có đối thoại phản biện trong sách không, tác giả dùng tư liệu nào. Không có các bước ấy, phê bình dễ biến thành sự đấu tố không khoan nhượng.

Viết về lịch sử cho người trẻ rất cần những hình thức mới như đối thoại, kể chuyện, tiểu luận, tản văn, truyện tranh.... Nhưng nếu mọi thử nghiệm đều có nguy cơ bị xử lý bằng những cơn bão mạng mang tính phẫn nộ, những người viết sẽ co mình lại, nhà xuất bản sẽ né tránh và chuyện viết sách lịch sử lại trở về dạng khô cứng.

Cuối cùng, từ bình diện quốc tế, nếu tranh cãi bị đẩy thành đấu tố, đòi trừng phạt nặng, truy cứu trách nhiệm dây chuyền, hoặc xử lý bằng biện pháp hành chính/chính trị thiếu cơ sở, thì nó có thể làm hình ảnh Việt Nam xấu đi trong mắt giới quan sát quốc tế. Quốc tế thường không nhìn một vụ riêng lẻ, mà đặt nó vào mẫu hình, định kiến có sẵn. Việt Nam hiện đã bị một số tổ chức quốc tế đánh giá thấp về tự do biểu đạt và báo chí. Freedom House xếp Việt Nam nhóm “Not Free”, với điểm 20/100 trong báo cáo năm 2025, RSF xếp Việt Nam hạng 174/180 trong Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2026. Vì vậy, nếu vụ việc “Chuyện với Thanh” bị xử lý theo hướng cực đoan, nó sẽ không chỉ là một cuốn sách gây tranh cãi đơn thuần trên mạng xã hội. Nó có thể coi như một minh chứng cho nhận định rằng ở Việt Nam, các vấn đề liên quan đến biểu tượng chính trị rất dễ chuyển từ tranh luận học thuật sang trừng phạt công khai.

Một cuốn sách có thể dở, sai, vụng, phản cảm và cần bị phê bình, sửa chữa. Nhưng nếu phản ứng xã hội chỉ còn là ngôn ngữ kết án, thì thông điệp đối với quốc tế là viết về lịch sử ở Việt Nam rất nguy hiểm, chỉ cần lệch tông là có thể bị trừng phạt. RSF trong hồ sơ về Việt Nam cũng nhắc tới các lực lượng/tổ chức mạng nhằm bảo vệ đường lối và tấn công tiếng nói bất đồng trên không gian số. Nếu vụ này bị nhìn dưới lăng kính đó, nó sẽ bị xem như một trường hợp nữa của sự kiểm soát diễn ngôn và dư luận ở Việt Nam.

Và phản ứng của cơ quan quản lý sẽ quyết định phần lớn mức thiệt hại hình ảnh Việt Nam. Nếu xử lý theo sức ép đám đông, dùng ngôn ngữ kết án mơ hồ, hoặc truy cứu quá mức, thì vụ việc dễ biến thành “case study” bất lợi. Hiện nay đã có một số bài báo quốc tế, các cuộc thảo luận trên mạng xã hội X và trên Reddit của công chúng quốc tế đề cập đến vụ việc này với nhiều lời lẽ không thiện cảm cho Việt Nam, thậm chí còn so sánh Việt Nam như một Triều Tiên thứ hai về chuyện sùng bái lãnh tụ (tôi xin phép không trích dẫn). Tuy nhiên, quan điểm của tôi là một vụ này không đủ khiến thế giới nhìn Việt Nam như là Triều Tiên thứ hai. Thực tế là Việt Nam có nhiều hình ảnh khác đối với thế giới như một quốc gia hội nhập kinh tế sâu rộng, du lịch mở, chính sách có những điểm đổi mới hiệu quả, mạng xã hội sôi động, đời sống văn hóa đại chúng phát triển, các hoạt động xuất bản và nghệ thuật vẫn vận hành khá đa dạng. Vấn đề ở đây không phải là bị đồng nhất với Triều Tiên, mà là bị cộng thêm một sự không thiện cảm nữa nếu các cơ quan quản lý hành xử không khéo. Nếu tranh cãi quanh tác phẩm “Chuyện với Thanh” bị đẩy đến mức cực đoan, tác hại không chỉ dừng ở số phận một cuốn sách. Nó có thể làm xấu thêm hình ảnh Việt Nam trong mắt quốc tế, nhất là khi vụ việc được nhìn như biểu hiện của một môi trường xuất bản, môi trường văn hóa thiếu dung sai đối với những thử nghiệm và dễ chuyển phê bình thành trừng phạt chính trị. Hình ảnh quốc gia sẽ bị thiệt nếu nhà quản lý phản ứng theo sức ép của đám đông. Cái khiến quốc tế chú ý không chỉ là cuốn sách, mà là cách xã hội và cơ quan chức năng nhìn nhận và đối xử với cuốn sách như thế nào, nhất là đã có một số vụ việc tương tự trước đó trên mạng xã hội ở Việt Nam.

 

6. NHỮNG VỤ VIỆC TƯƠNG TỰ TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới có khá nhiều trường hợp tương tự dù mỗi vụ khác nhau về bối cảnh chính trị, tôn giáo và mức độ nghiêm trọng. Nhưng đặc điểm chung là một tác phẩm nghệ thuật, sách, phim, tranh biếm họa hoặc diễn ngôn văn hóa chạm vào biểu tượng thiêng/nhân vật lịch sử/lãnh tụ/tôn giáo, rồi bị kéo ra khỏi phạm vi phê bình chuyên môn để trở thành một cuộc chiến về đạo đức, căn tính, chính trị và quyền tự do biểu đạt.

Năm 1988, nhà văn Salman Rushdie xuất bản tiểu thuyết “The Satanic Verses” (Những vần thơ của quỷ Sa tăng). Một bộ phận người Hồi giáo cho rằng tác phẩm có những chi tiết xúc phạm Hồi giáo và Nhà tiên tri Muhammad. Sách bị cấm ở nhiều nước theo đạo Hồi, biểu tình diễn ra ở nhiều nơi và năm 1989, Giáo chủ Ayatollah Khomeini của Iran ban hành lệnh kêu gọi gi.ết Rushdie. Vụ việc kéo dài hàng thập niên và trở thành một trong những biểu tượng lớn nhất của sự xung đột giữa tự do sáng tác và niềm tin tôn giáo

Các tranh biếm họa về Nhà tiên tri Muhammad, đặc biệt từ hai tờ báo Jyllands-Posten ở Đan Mạch và sau đó là Charlie Hebdo ở Pháp, gây tranh cãi dữ dội trên toàn cầu. Một bên coi đó là quyền tự do châm biếm, quyền phê phán tôn giáo, bên kia coi đó là xúc phạm điều thiêng liêng. Năm 2015, tòa soạn Charlie Hebdo bị tấn công kh.ủng bố, khiến 12 người th.iệt m.ạng. Vụ này làm cả thế giới rúng động vì hậu quả thảm khốc của nó.

Năm 2014, phim hài Mỹ “The Interview” có nội dung xoay quanh một âm mưu ám sát Kim Jong-un đã gây ra một cuộc khủng hoảng lớn. Hãng Sony Pictures bị tấn công mạng, dữ liệu nội bộ bị rò rỉ, các rạp chiếu bị nhắn tin đe dọa và hãng phải hủy kế hoạch phát hành rộng rãi vào dịp Giáng sinh. FBI sau đó quy trách nhiệm cho Triều Tiên. Vụ này cho thấy khi một tác phẩm đề cập trực tiếp đến lãnh tụ đương nhiệm của một quốc gia, tranh cãi văn hóa có thể chuyển thành khủng hoảng an ninh, ngoại giao và công nghệ.

Một ví dụ mới hơn là năm 2024, nhà xuất bản Dupuis ở Bỉ rút truyện tranh Spirou and the Blue Gorgon khỏi thị trường sau khi mạng xã hội phản ứng mạnh về những mô tả bị cho là phân biệt chủng tộc và tình dục hóa phụ nữ da đen. Một video TikTok góp phần làm vụ việc lan nhanh, và nhà xuất bản xin lỗi, thừa nhận đây là “lỗi phán đoán”. Vụ này không liên quan lãnh tụ hay tôn giáo, nhưng rất giống về cơ chế mạng xã hội khi trích đoạn/ảnh chụp lan truyền, cộng đồng phẫn nộ, nhà xuất bản chịu áp lực, sản phẩm bị rút khỏi thị trường. Nó cho thấy trong thời đại mạng xã hội, một tác phẩm có thể sống yên nhiều tháng, rồi chỉ cần một video clip hay một status là bùng lên thành đám cháy truyền thông.

Trường hợp “Chuyện với Thanh” tuy chưa thể so sánh với quy mô và mức độ nghiêm trọng của nhiều tác phẩm khác trên thế giới, nhưng có cùng cơ chế truyền thông, đó là trích đoạn văn bản, thiêng hóa đối tượng, đạo đức hóa phản ứng của công chúng và gây áp lực lên thiết chế xuất bản. Nói nôm na, đây không phải chuyện riêng của Việt Nam. Nhưng mỗi xã hội bộc lộ bản lĩnh văn hóa của mình ở chỗ ứng xử thế nào trong trường hợp này.

 

7. NHỮNG BÀI HỌC TỪ CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG NÀY

Với tác giả, bài học lớn nhất là viết về nhân vật lịch sử thì không chỉ cần cảm hứng, tư liệu, mà còn cần sự thận trọng về giọng điệu viết và cách sử dụng tư liệu. Không phải cái gì có thể nói trong lớp học, trong podcast, trong trò chuyện thân mật cũng có thể đưa nguyên dạng vào sách. Với nhà xuất bản, đây là bài học về biên tập. Một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh cần được đọc, rà soát không chỉ bởi biên tập viên giỏi, mà còn bởi người am hiểu sử học, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thông công chúng. Với báo chí và các kênh giới thiệu sách, bài học là không nên chỉ truyền thông theo kiểu tôn vinh một chiều. Những cuốn sách thuộc đề tài lịch sử cần được giới thiệu bằng ngôn ngữ thận trọng, tránh biến sách thành sản phẩm quảng bá quá tay. Với công chúng, bài học là phản biện là cần thiết, nhưng phản biện tốt không đồng nghĩa với phẫn nộ, mà phải tỉnh táo, tránh cực đoan.

Từ góc độ truyền thông, khủng hoảng này không chỉ nằm ở nội dung vài đoạn văn. Nó nằm ở sự va chạm giữa ba vấn đề. Một là tham vọng đại chúng hóa lịch sử khi tác giả muốn làm cho lịch sử gần gũi hơn, dễ trò chuyện hơn, có ích cho quản trị và đời sống hiện đại. Hai là tác giả lại thiếu hàng rào thể loại cho rõ ràng và thiếu sự giới thuyết cụ thể để tránh những hiểu lầm. Khi một tác phẩm vừa là ghi chép, vừa đối thoại, vừa bình luận lịch sử, vừa là sách dạy kỹ năng phát triển bản thân, vừa viết về lãnh tụ, người đọc không biết nên tiếp nhận nó như tư liệu lịch sử, văn chương, giáo trình hay sách truyền cảm hứng. Ba là nhiều công dân mạng không tha thứ cho sự nhập nhằng. Họ thích sự rõ ràng như đúng/sai, yêu/ghét, tôn kính/xúc phạm. Một văn bản lai ghép thể loại như thế này, chỉ cần vài câu thiếu tinh tế thì rất dễ bị phán xử, lên án.

Chiến dịch truyền thông quanh tác phẩm “Chuyện với Thanh” là một trường hợp tiêu biểu của đời sống văn hóa trong thời đại mạng xã hội, khi một tác phẩm bước ra khỏi nhà xuất bản, bị kéo vào không gian phán xét công cộng trên mạng, rồi trở thành điểm va đập giữa văn chương, lịch sử, biểu tượng chính trị và đạo đức cộng đồng. Làn sóng truyền thông này có lý do hợp lý để xuất hiện, bởi công chúng có quyền bảo vệ những giá trị thiêng liêng theo ý kiến của họ. Nhưng nếu chỉ dừng ở sự kết án và phẫn nộ, nó sẽ bỏ lỡ nhiều điều quan trọng hơn như bàn một cách nghiêm túc về cách viết lịch sử cho người trẻ, về những giới hạn khi viết về nhân vật lịch sử, và về văn hóa tranh luận trong không gian số.

Cuốn sách “Chuyện với Thanh” từ quan điểm của cá nhân tôi, chỉ nên dừng lại ở những tranh luận trên mạng và những bài học rút ra, đồng thời cần có sự thay đổi, chỉnh sửa một số câu chữ nhạy cảm để có thể tiếp tục phát hành.

 
 


 
 

 
 


 

------------

Nguồn:https://www.facebook.com/hathanhvanaliceirisdevi/posts/pfbid02SZKoTzSkf2iRkLg8ra69E7q61vW9ED1GK1d34u9SfLpvYQmQaiP7ScBDC6rwah47l

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Chuyện làng văn0

- Các bài viết của (về) tác giả Hà Thanh Vân0

- Các bài viết của (về) tác giả Đoàn Thị Lam Luyến0

- Các bài viết của (về) tác giả Nguyễn Quang Lập0

- Các bài viết của (về) tác giả Sương Nguyệt Minh0

- Các bài viết của (về) tác giả Thái Hạo0

- Đối thoại cùng  ký tựl

- Đọc châm cùng thời gianl

- Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ độc vận Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ lục bát Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ tự do Đặng Xuân Xuyếnl

.


CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRẢ LỜI PHỎNG VẤN

CỦA PHÓNG VIÊN BÁO CHÍ NƯỚC NGOÀI:

 

HÀ THANH VÂN

Địa chỉ: phường An Phú, Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Facebook: /hathanhvanaliceirisdevi.

.

 

 

 

 

.............................................................................................................

- Cập nhật nguyên bản từ CTV Phan Hoàng Nam gửi ngày 08-06-2026.

- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại. 

0 comments:

Đăng nhận xét