KHI LỊCH SỬ ĐƯỢC NHÌN
BẰNG HẬN THÙ THÌ TƯƠNG LAI
SẼ BỊ CHE KHUẤT…
Tôi đọc dòng trạng thái được cho là của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn
về đề thi lịch sử năm nay, trong đó đặt vấn đề vì sao không dùng cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền” mà lại dùng “chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn”,
và điều khiến tôi suy nghĩ không phải là một cách gọi, mà là cái bóng của một
não trạng vẫn mãi bị giam cầm trong những chiến hào đã khép lại từ hơn nửa thế
kỷ trước. Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng ngừng vang, nhưng cũng
có những cuộc chiến chỉ thực sự khép lại khi con người biết buông xuống sự hằn
học trong tâm trí mình. Nếu cứ cố giữ lấy ngôn từ như những lưỡi lê của quá khứ
để đâm vào hiện tại, thì chúng ta sẽ mãi xây tương lai trên nền móng của chia
rẽ.
Lịch sử cần sự thật, nhưng sự thật không đồng nghĩa với việc
nuôi dưỡng định kiến. Một quốc gia trưởng thành không phải là quốc gia xóa bỏ
ký ức, mà là quốc gia biết đối diện với ký ức bằng sự điềm tĩnh và bao dung.
Ngôn ngữ trong sách giáo khoa hay trong đề thi không chỉ truyền đạt thông tin,
mà còn phản ánh cách một dân tộc lựa chọn đối thoại với chính quá khứ của mình.
Việc sử dụng những cách gọi mang tính mô tả như “chính quyền Sài Gòn” hay “quân
đội Sài Gòn” không làm thay đổi bản chất lịch sử, nhưng có thể giúp người
học tiếp cận lịch sử bằng tư duy phân tích thay vì cảm xúc đối kháng.
Điều đáng tiếc nhất là khi một người có ảnh hưởng trong xã hội
lại xem việc duy trì những nhãn mác nặng tính kết tội như một thước đo của lòng
yêu nước. Yêu nước chưa bao giờ đồng nghĩa với việc giữ mãi ngôn ngữ của hận
thù. Yêu nước càng không phải là biến lịch sử thành một cuộc truy đuổi vô tận
đối với những con người đã thuộc về quá khứ. Một dân tộc càng mạnh thì càng đủ
tự tin để kể lại lịch sử bằng sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh ấy không phải là lãng
quên, mà là biểu hiện của bản lĩnh.
Tôi nhớ đến câu nói của Malachy McCourt: “Hận thù giống như tự uống thuốc độc và chờ đợi người khác chết.” Đó
không chỉ là một lời khuyên về đạo đức cá nhân mà còn là một lời cảnh tỉnh đối
với cả cộng đồng. Hận thù kéo dài chỉ làm hao mòn năng lượng sáng tạo, làm
nghèo đi khả năng cảm thông và khiến những thế hệ sinh ra sau chiến tranh phải
mang trên vai những gánh nặng mà lẽ ra họ không cần gánh. Khi một xã hội dành
quá nhiều thời gian để tranh cãi về cách gọi của quá khứ, xã hội ấy sẽ ít thời
gian hơn để nghĩ về khoa học, giáo dục, công nghệ và những cơ hội của tương
lai.
Lịch sử thế giới đã nhiều lần chứng minh rằng hòa giải không
phải là sự đầu hàng. Sau cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, những nỗ lực hàn gắn đất nước
được xem là điều kiện để tái thiết quốc gia. Sau chế độ phân biệt chủng tộc ở
Nam Phi, tinh thần hòa giải được cổ vũ như một con đường để tránh vòng xoáy trả
thù bất tận. Chính ở Việt Nam, chủ trương đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc cũng
nhiều lần được nhấn mạnh như nền tảng để khép lại quá khứ, hướng đến phát triển
và ổn định lâu dài. Một dân tộc không thể vừa nói về tương lai chung vừa không
ngừng đào sâu những hố ngăn cách trong tâm thức.
Tôi cũng nghĩ đến những lời chia sẻ của cô giáo Lê Huỳnh Phương
Thảo khi trích dẫn câu nói về hận thù của Malachy McCourt. Dù cách diễn đạt có
thể gây tranh luận, thông điệp cốt lõi vẫn rất đáng suy ngẫm: tri thức nếu
không đi cùng lòng khoan dung thì rất dễ trở thành công cụ để củng cố định kiến
hơn là mở rộng tầm nhìn. Người có học vị cao chưa chắc đã có trái tim rộng mở,
nhưng một nền giáo dục tiến bộ luôn phải hướng con người đến khả năng đối thoại
thay vì chỉ biết kết án.
Tôi không mong mọi người phải nhìn lịch sử bằng cùng một lăng
kính. Tranh luận là điều bình thường trong học thuật và trong đời sống công
cộng. Nhưng tôi tin rằng có một ranh giới cần được gìn giữ: tranh luận để hiểu
nhau khác với tranh luận để kéo dài hố sâu chia cắt. Nếu một cách gọi khiến
chúng ta nổi giận hơn là khiến chúng ta suy nghĩ, có lẽ điều cần xem lại trước
tiên không phải là từ ngữ, mà là chính cách chúng ta đang tiếp cận lịch sử.
Rồi sẽ đến lúc những người từng ở hai bên chiến tuyến đều trở
thành ký ức, chỉ còn lại con cháu họ cùng sống dưới một bầu trời, cùng xây dựng
một đất nước. Điều lưu truyền bền vững nhất không phải là những danh xưng mang
tính công kích, mà là khả năng biến đau thương thành bài học, biến khác biệt
thành đối thoại và biến chiến thắng lớn nhất thành chiến thắng trước lòng hẹp
hòi của chính mình. Bởi suy cho cùng, một dân tộc chỉ thực sự bước sang tương
lai khi biết khép cánh cửa của hận thù mà không khóa chặt cánh cửa của ký ức.
——————
CHÚ THÍCH:
Lưu ý để tránh hiểu nhầm: Sau khi tôi chia sẻ bài viết, nhiều
bạn đọc đã nhắn tin vì tưởng nhân vật được nhắc đến là cố Giáo sư Nguyễn Cảnh
Toàn, nhà toán học lừng danh của Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo, đã qua đời năm 2017. Thực tế, bài viết của tôi đề cập đến Giáo sư Nguyễn
Cảnh Toàn, cựu đại tá và hiện là giảng viên tại Trường Đại học Thăng Long, liên
quan đến dòng trạng thái về đề thi môn Lịch sử được đăng gần đây. Hai người chỉ
trùng họ tên, là hai cá nhân hoàn toàn khác nhau. Tôi xin đính chính để tránh
mọi sự nhầm lẫn không đáng có.
------------
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Đọc lại bài thơ
“Cảnh Khuya” của Hồ Chí Minhl
- Đêm Nay Bác
Không Ngủ” và 10 bài cảm nhận mẫul
- Phân tích một số
bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minhl
- Về một quãng
thời gian trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minhl
- Những con số
“duyên nợ” của các danh nhânl
- Kể chuyện Bác
Hồ: Đêm giao thừa đến với người nghèol
- Đêm giao thừa
nhớ thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồl
- Hưng Yên, quê
ngoại của Bác Hồl
- Nhìn lại 2 bản
tuyên ngôn độc lậpl
- Truyện ngắn Đặng
Xuân Xuyếnl
- Thơ độc vận Đặng
Xuân Xuyếnl
- Thơ lục bát Đặng
Xuân Xuyếnl
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỌC BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP:
Trần Chí Cường giới thiệu
Tác giả: Tran NamAnh - Nguồn: vietluan
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.
.jpg)


0 comments:
Đăng nhận xét