BẠN ĐỌC “CẢM” MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
(Cập nhật ngày 26 tháng 06 năm 2026)
GỒM CÁC
BÀI VIẾT:
1. Đọc
sách: “Mưu lược giành chiến thắng”
2.
“Doanh nghiệp với thị trường” - Một cuốn sách đáng đọc!
3. Gã
khờ hay thằng ngốc Việt Nam còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này?
4. “Cô”
Sướng cưới vợ - Truyện ngắn đầy ắp tính nhân văn
5. Chân
dung Đặng Xuân Xuyến trong “99 chân dung nhà văn Việt Nam đương đại”
6. Cái
lý Ngũ hành của Đặng Xuân Xuyến
7. Cảm
nhận khi đọc truyện ngắn “Cô Sướng cưới vợ”
8. Về
“Chuyện ngủ” của Đặng Xuân Xuyến
9. Cảm
nhận khi nghe đọc truyện “Chuyện của gã khờ”
10.
Trăng trong truyện ngắn “Kim yêu” của Đặng Xuân Xuyến
11. Vài
cảm nhận nhân đọc “Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức”
12. Paul
Nguyễn Hoàng Đức - Cá tính phức tạp của thói hư danh
13.
Trần Đăng Khoa qua lăng kính đời thường của Đặng Xuân Xuyến
14. Đọc
lại “Vài cảm nhận về phim Bố già” của Đặng Xuân Xuyến
15. Đông
La qua bài viết của Đặng Xuân Xuyến
16. Đặng
Xuân Xuyến và triết lý Ngũ hành thực chứng
17. Sự
phản trắc của cái tôi tự luyến và bi kịch “lưu manh hóa” trong phê bình văn học
ĐỌC SÁCH: “MƯU LƯỢC
GIÀNH CHIẾN THẮNG”
Trong 6 tác phẩm mà Đặng Xuân Xuyến đã cho ra mắt bạn đọc, tôi
rất tâm đắc cuốn MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG.
Tác giả là một doanh nhân trẻ, năng động và tháo vát, có đầu óc
về “cái nhìn chiến lược”. Nhưng cái
quý là anh không giấu diếm những kinh nghiệm, những suy nghĩ được đúc kết từ
công việc của mình. Tác giả đã cởi mở những hiểu biết và kinh nghiệm của mình
để chia sẻ với những ai đã, đang và sẽ bước vào lĩnh vực này.
Mục đích của cuốn sách rất rõ ràng, ngay từ lời nói đầu, tác giả
đã viết: “Tôi viết cuốn sách này không
ngoài mục đích: Cùng trao đổi với bạn về một số vấn đề mà người viết cho là rất
đơn gian nhưng lại thật cần cho bất kỳ nhà doanh nghiệp trẻ nào muốn giành
chiến thắng trong cuộc chạy đua tới đích cuối cùng giữa các doanh nghiệp....”,
và nếu người đọc trân trọng, coi đây là những bài học cho mình thì đó cũng là
niềm vui của tác giả: “...Bạn sẽ tìm
được một vài điều bổ ích cho hoạt động kinh doanh của bạn. Thế là đủ! Thế là
những trăn trở, nghĩ suy của người viết không uổng!”
Từ ý tưởng ấy, đi vào từng phần, bạn đọc sẽ thấy được cái hay
trong cách đặt vấn đề, cái sâu sắc trong cách phân tích, cái bao quát trong
cách nhìn nhận của tác giả. Ngay từ câu chuyện mở đầu trong mục đầu tiên Chọn
nghề cho kỹ cũng đã là sự bắt đầu cho sự phân tích các vấn đề về
sau. Những lời khuyến nghị ở đây rất đơn giản nhưng lại rất bổ ích và lý thú.
Tác giả nói “Đừng bắt chước người” là hàm ý nói rằng có bắt chước thì phải “bắt chước một cách sáng tạo”, “biến cái hay của người thành cái sáng tạo
của mình” thật linh hoạt, tùy cơ ứng biến, không giáo điều rập khuôn. Muốn
thành công rất cần sự say mê với nghề nghiệp của mình.
Có những điều tác giả đặt ra, lúc đầu ta tư tưởng như là nghịch
lý, là vô lý, nhưng ngẫm kỹ, ta sẽ thấy đó là logic như Kiếm tiền
thì dễ, tiêu tiền mới khó, và không chỉ với kinh doanh mà trong cuộc
sống thì Tiền không phải là tất cả. Ở đây, tác giả đã bộc bạch qua trang
viết những suy nghĩ rất chân thực của mình. Đọc, ta vỡ ra những điều mà người
chưa kinh doanh không nghĩ đến: “Kinh
doanh, thực chất là nghệ thuật củng cố niềm tin với khách hàng.”
Một mục nữa khá hay: “Mượn gió đưa thuyền”. Từ câu chuyện
Tam Quốc nói về đấu trí giữa các chính khách, tác giả liên hệ tới việc kinh
doanh đầy linh hoạt và thông minh của vị giám đốc nhà máy dệt Song Hải (Tỉnh
Chiết Giang - Trung Quốc). Rồi từ chuyện này, anh dẫn dụ, phân tích sự thành
đạt của tập đoàn kinh doanh Nissan nổi tiếng của Nhật Bản với chiến lược toàn
cầu. Từ đó, sẽ rút ra được những kết luận bổ ích cho bạn đọc.
Tác giả đã phân tích vai trò chủ đạo hết thảy mọi thành bại
trong kinh doanh: CON NGƯỜI! Cụ thể là phải đầu tư vào chất xám của con người
phục vụ sản xuất, kinh doanh. Từ việc lớn đến việc nhỏ, từ các vấn đề cao xa
đến những sự việc bình thường, thậm chí có vẻ như là nhỏ nhặt... tác giả đã dẫn
giải khá lý thú, làm cho người đọc thoải mái và thu nhận được nhiều điều bổ
ích.
Ở mục cuối: “45 điều với bạn”, tác giả đã đưa ra
45 khuyến nghị rất cụ thể và thiết thực. Tất cả 45 vấn đề được viết rất ngắn
gọn, dễ hiểu trong 196 trang sách nhưng giá trị lại không hề nhỏ, nếu
người đọc vận dụng được cho mình trong từng công việc cụ thể.
Thiết nghĩ, có thể coi đây là một cuốn sổ tay rất cần thiết cho
các bạn trẻ bước vào lập nghiệp.
*.
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 1998
NGUYỄN HỮU DY
(Giảng viên Trường Đại học Giao Thông Vận Tải)
Địa chỉ: B2 Vĩnh Hồ, Thịnh
Quang, Đống Đa, Hà Nội.
“DOANH
NGHIỆP VỚI THỊ TRƯỜNG”
- MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG ĐỌC!
Để tìm một cuốn sách về kinh nghiệm làm giàu thật hay thực sự
không phải là một điều dễ dàng, mặc dù trong tủ trưng bày ở các nhà sách loại
sách này chất cả đống với những cái tên đầy “kích thích”. Nhưng, ở đây, chúng
tôi muốn giới thiệu một cuốn sách mà theo cảm nhận của chúng tôi, mỗi một dòng,
một chữ đều bật ra trong tâm huyết, từ máu thịt của người viết như những lời “tâm
sự” “gan ruột”.
Cuốn sách bao gồm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả hệ thống cho
bạn đọc những kiến thức rất cơ bản của một nhà kinh doanh về thị trường. Đối
với những ai đã từng qua các “cua” đào tạo về quản lý kinh tế hay đã từng đeo
“mác” sinh viên các trường kinh tế thì những kiến thức như thế này không phải
là điều mới mẻ. Tuy nhiên để nghĩ cho sâu, hiểu cho kỹ thì không phải ai cũng
làm được vì sự phong phú của thị trường. Chính người viết cũng rất khiêm tốn
khi viết: “Người viết không có tham vọng
trình bầy hết những vấn đề của thị trường hoặc liên quan đến thị trường bởi
tính muôn màu muôn vẻ của thị trường, bởi tính biến đổi (nhu cầu và thị hiếu)
không ngừng của thị trường”. Ở đây, tác giả “xoáy” váo ba vấn đề chính:
- Tìm hiểu thị trường
- Chiếm lĩnh thị trường
- Các chiến thuật chiếm lĩnh thị trường
Đây là những nguyên tắc, những điều nên làm và thật cần đối với
các doanh nghiệp. Cái “được” mà tác giả xây dựng được trong phần này của cuốn
sách là đã “mềm hoá” được những kiến thức kinh tế vốn không mấy “dễ tiêu” đối
với người đọc. Vì lẽ đó mà nhiều bạn đọc đánh giá sách của Đặng Xuân Xuyến
không nặng về lý thuyết. Nhưng theo chúng tôi, có lẽ đó là cảm nhận của cả hai
phần vì ở phần thứ hai của cuốn sách có rất nhiều lời khuyên hữu ích đối với
các doanh nhân trẻ mà những lời khuyên này xuất phát từ những điều tâm huyết
của người viết khi chiêm nghiệm cuộc sống, chiêm nghiệm quá trình kinh doanh
của bản thân cũng như của những doanh nghiệp thành đạt trên thương trường. Điều
đáng ghi nhận là Đặng Xuân Xuyến đã không truyền đạt những lời khuyên ấy theo
lối “dội” từ trên xuống mà lời lẽ rất chân tình, giản dị nhưng không kém phần
mãnh liệt, thổi vào người đọc một luồng cảm hứng cháy bỏng về khát vọng làm
giàu. Hãy nghe: “Tôi thành thật mong
bạn đừng bao giờ chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, đừng bao giờ bằng lòng
với những gì đã có vì cái chất người như vậy không bao giờ giúp bạn trở thành
ông chủ được đâu” (Khát vọng làm giàu). Và “hãy mạnh dạn xắn tay áo lên mà miệt mài công việc! Hãy trau dồi kiến
thức và mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội!” (Thời cơ). Đọc những
dòng này, người đọc sẽ rất có cảm tình về khát vọng làm giàu, khát vọng xây
dựng cuộc sống, sự nghiệp của chính bản thân người viết. Không trăn trở, không “đau
đớn” về cái khát vọng làm giàu của mình thì Đặng Xuân Xuyến không thể bật lên
khẩu hiệu đầy lôi cuốn như thế. Cứ cho rằng bạn là người bàng quan với của cải,
vật chất nhưng tôi tin bạn là người trọng danh dự và bạn sẽ cảm thấy mình bị
thua kém khi đứng cạnh những người bạn thành công trong kinh doanh. Và khi ấy
bạn có chắc chắn rằng mình sẽ không có một chút tị hiềm nào trong lòng? Ở đây,
Đặng Xuân Xuyến khuyên chúng ta rằng: “đừng
nhìn vào cách tiêu tiền của họ mà hãy nhìn vào cách kiếm tiền của họ”. Nhìn
để mà học, mà học thì chắc chắn để làm việc rồi. Có nghĩa, bạn phải là con
người của hành động!
Với 10 đề mục trong phần hai của cuốn sách, bên cạnh việc thôi
thúc, kích thích khát vọng làm giàu của bạn, Đặng Xuân Xuyến còn truyền đạt rất
nhiều những kinh nghiệm trong thực tiễn kinh doanh. Điều này thể hiện chủ yếu ở
ba đề mục:
- Chính sách dùng người.
- Đánh giá khách hàng.
- Giao dịch - tiền đề của thành công.
Tất nhiên, tác giả không quên nhắc đến “kẽ hổng trong quản lý vốn” – một trong những tiền đề cơ bản khiến
cho doanh nghiệp… phá sản! Đọc những mục này, tất cả những chiêu thức quan
trọng của các nhà lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự, đánh giá khách hàng và
giao dịch với đối tác, tác giả đã phân tích từng chi tiết nhỏ giúp cho người
đọc dễ hình dung ra “chiến trường” của mình hơn. Ở đây, tác giả đã giúp đọc giả
làm công việc gian khổ, khó khăn nhưng cũng thú vị nhất đó là hiểu rõ cả “địch”
và “ta”. Bạn có thể hiểu mình nhưng bạn đâu biết hết được tâm lý của mọi đối
tác. Không phải là quá khen nhưng công lao nghiên cứu của tác giả trong lĩnh
vực tâm lý kinh doanh quả là không thể phủ nhận. Tất nhiên, khi đã khẳng định
được danh tiếng của bạn thì không thể không tính chuyện khuếch trương danh
tiếng ấy lên và Đặng Xuân Xuyến cũng không quên gởi đến độc giả những kiến thức
trong vấn đề quảng cáo rất cần thiết cho các doanh nghiệp trong thực tiễn.
Bên cạnh phần chính của cuốn sách, hai phụ bản là “Vài
lời về bốn tể tướng đại tài trong lịch sử Trung Quốc” và “Đôi
điều về bốn danh tướng vang bóng một thời trong lịch sử Trung Hoa” của
cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến là một món quà khá thú vị. Đây có lẽ chính là điểm
nhấn để chúng ta tin sự uyên thâm của Đặng Xuân Xuyến là… Đặng Xuân
Xuyến.
Bạn có thể không tâm đắc với những điều mà cuốn sách này đặt ra,
thậm chí bạn còn hiểu ngược lại vì mỗi người có một quan điểm riêng, thủ pháp
riêng trong kinh doanh. Chính tác giả cuốn sách này cũng chỉ khiêm tốn mong
muốn: “Cuốn sách sẽ giúp bạn có một
khái niệm cụ thể về thị trường và doanh nghiệp; có thể bạn là người đang chuẩn
bị bước vào công cuộc kinh doanh thì Doanh nghiệp với thị trường sẽ
làm tốt khâu “chuẩn bị” nắm bắt được một số nguyên lý cơ bản để an tâm bước vào
nghiệp chủ; còn nếu bạn đã là một doanh nghiệp thực thụ và tài ba thì với hai
trăm trang sách này, chí ít sẽ trút bỏ được một số sai lầm đáng tiếc sẽ xảy ra
trong cuộc đời kinh doanh của bạn”. Vâng! Tư tưởng đặt ra rất lớn cho tác
phẩm - tư tưởng ấy là dành cho bạn đọc - nhưng mong muốn
của tác giả thì lại giản đơn như vậy.
Dẫu sao, sau khi đọc xong hai trăm trang sách của Đặng Xuân
Xuyến, tôi biết mình đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng của anh chàng quá
nhiều tham vọng này.
Chẳng biết sự ảnh hưởng ấy có… hại không?
*.
Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 1999
GIÁP KIỀU HƯNG
GÃ KHỜ HAY THẰNG NGỐC VIỆT NAM
CÒN SÓT LẠI Ở ĐẦU THẾ KỶ 21 NÀY?
Biết tôi hay lò dò lên mạng để tìm đọc dăm ba thứ thay vì phải
đọc báo in, nghe đài hay xem nghe truyền hình thời sự nhưng lại là một ông già
không biết chơi Phây, không biết Gúc để tìm tòi các trang mạng hay, nhà văn
Đặng Xuân Xuyến đã gửi Mail chỉ đường dẫn mời tôi đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, một
truyện ngắn anh viết năm 2006, ra sách năm 2007 (in chung) nhưng giờ mới post
lên blog của anh và gửi một số trang và như anh nói gửi để tôi đọc cho vui.
Chính vì thế, khi nhìn vào tên truyện, tôi ngỡ mình sẽ được đọc kiểu truyện
chàng khờ với hình tượng nhân vật trung tâm là các anh chàng ngốc nghếch với
những hành động, việc làm… ngây ngô ngớ ngẩn dại khờ đã đem lại tiếng cười sảng
khoái và những trải nghiệm vô cùng lí thú để từ đó người nghe, người đọc rút ra
những bài học cho bản thân. Nhưng đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi chẳng được
vui tý nào mà lại cảm thấy đắng lòng khi nhận ra gã Khờ này phải chăng là một
THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này.
Đúng là gã Khờ của Đặng Xuân Xuyến không giống những chàng ngốc,
những thằng dại khờ như trong các truyện dân gian của ta với cái ngốc cái dại
không biết để đâu cho hết khiến mọi người phải ca thán bảo nhau:
Một đêm quân tử nằm kề
Còn hơn thằng ngốc vỗ
về quanh năm.
Hay:
Con vợ khôn lấy thằng
chồng dại
Như bông hoa lài cắm
bãi cứt trâu
mà gã đã từng là một thằng ngốc đại gia trong xã hội Việt Nam
đương thời “đã từng vụt sáng chói
lóa trong mắt mọi người”.
Những chàng ngốc trong truyện dân gian vì ngốc quá nên luôn
bị lừa như có anh mười năm đi ở cho lão trọc phú chỉ được ba nén vàng giả nhưng
cầm trên tay, anh ngốc cứ tưởng là vàng thật. Rồi chàng hí hửng muốn đi du
ngoạn khắp nơi, đầu tiên có kẻ gạ chàng ta đổi 3 lạng vàng lấy sáu nén bạc mà
thực ra chỉ là sáu miếng chì, rồi có kẻ gạ đổi 6 miếng chì lấy bó "lụa đinh kiến" quý hiếm mà thực ra
chỉ là bó giấy dó, rồi đổi bó giấy dó lấy cái “thiên địa vận” biết trước mọi
việc trên thế gian mà thực ra chỉ là cái chong chóng, rồi đổi cái chong chóng
lấy viên ngọc lưu ly chưa chắc vua đã có được mà thực ra chỉ là một con niềng
niễng có đôi cánh xanh đỏ.
Gã Khờ trong truyện của Đặng Xuân Xuyến bị lừa tiền, lừa nhà đi
đến cảnh “bây giờ, hắn tiều tụy, thảm thương còn hơn mèo đi
kiết” hiển nhiên không phải vì gã ngu đần như chàng ngốc kia mà chỉ vì gã
có tính thương người và lòng trắc ẩn. Với tấm lòng tốt đẹp ấy, gã rất tin
vào tình người nên đã cho thằng bạn nối khố mượn tiền mà không cần giấy ghi nợ,
cũng không cần có người làm chứng, vì vậy khi cần đến đòi lại thì được thằng
bạn “nhướng đôi lông mày thô đậm,
xoăn tít, nhìn hắn từ đầu xuống chân rồi hô hố cười, bảo hắn là thằng khùng,
nếu đói quá, không có chỗ xoay sở thì cầm lấy vài chục nghìn mà đắp đổi qua
ngày, việc gì phải diễn trò ngớ ngẩn như thế”. Tiền không đòi được,
hắn tìm về lấy lại ngôi nhà nho nhỏ ở ngoại ô đã giao cho thằng em kết nghĩa
trông coi. Thằng em kết nghĩa này là một thằng bé đánh giày nhem nhuốc mà gã đã
lầm tưởng là người lương thiện nên đã cưu mang đem nó về nhà nuôi ăn học. Nhưng
khi đến ngôi nhà, chạy ra đón hắn không phải là thằng em kết nghĩa mà là con
chó có tên là “Tình Nghĩa”. Rồi thằng em ấy, khi biết ý định của gã,
nó đã không ngượng mồm, nói trắng phớ ra rằng: “Vâng, nhà này mua bằng tiền của anh nhưng em
đã làm sổ đỏ đứng tên là chủ sở hữu rồi” và đuổi hắn đi như đuổi một
con chó.
Hai cái khờ dại, hai cái sai lớn nhất về sự ngộ nhận tình người
đến nỗi gã bỏ ngoài tai những nhận xét tinh tế của vợ gã về ông bạn nối khố và
thằng em kết nghĩa, không để tâm đến những lời can ngăn của thị, dẫn đến
cảnh “nhà hắn thưa dần rồi mất hẳn
nụ cười hạnh phúc của người vợ” và đưa tới cảnh “vợ hắn nằng nặc nộp đơn ly dị”.
Trong một xã hội mà mọi chuẩn đạo đức đang bị băng hoại, dối trá
lừa đảo phát triển như nấm độc khắp nơi nơi như: lừa đảo qua mạng, lừa đảo bán
hàng đa cấp, lừa đảo xin việc làm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản …, gã Khờ đã
không thèm nhớ đến lời mọi người vẫn thường bảo nhau: Cho bạn vay tiền:
"Đứng" cho vay, "quỳ" đòi nợ, cho thằng bạn nối
khố vay tiền mà không cần giấy ghi nợ cũng không cần có người làm chứng. Trong
lúc chưa bao giờ câu nói “tấc đất tấc vàng” đúng cả nghìn lần như bây
giờ khiến cháu giết bà vì sổ đỏ, anh em ruột thịt đâm chém nhau vì nhà đất, thì
gã Khờ lại giao hết giấy tờ và nhà đất cho thằng em kết nghĩa trông coi hộ. Gã
Khờ tuy không ngu đần, không kém về trí khôn nhưng đã suy xét, ứng phó, xử sự
chỉ với thứ lòng tốt đơn thuần và cao thượng của riêng gã nên mới ra nông nỗi
thảm hại hơn cả những thằng ngốc trong truyện cổ dân gian. Thế chẳng phải là
một thằng ngốc còn sót lại ở đầu thế kỷ này thì sao! Và thế thì làm sao mà vui
được khi nghe chuyện về gã? Họa chăng có một chi tiết làm người đọc vui gượng
tý chút, ấy là thấy gã tinh thông về tử vi lý số, biết về mình: “Thôi thì cũng là do số phận. Cung nô của hắn
chẳng ra gì thì đành chấp nhận. Đã Tham Lang hãm địa lại đồng cung với Thiên
Diêu hãm địa thì đời hắn tàn vì chữ tình là phải.” mà vẫn mù quáng đi
đến chữ “tàn”. Thật đúng là “Số thầy
thì để cho ruồi nó bâu”!
Kiểu truyện chàng ngốc trong dân gian thường có hai xu hướng kết
thúc, hoặc là chàng ngốc phải chết hoặc là chàng ngốc gặp may mắn tìm được hạnh
phúc, trở thành người giàu có, khôn ngoan hơn. Gã Khờ trong truyện ngắn
của Đặng Xuân Xuyến đã không phải chết vì gã không phải là nhân vật
xấu, không bị người đời căm ghét; gã cũng không phải chết để khắc sâu bài học
kinh nghiệm sống của con người là: Đừng ngốc nghếch làm việc một cách máy móc
thụ động, không biết suy xét vấn đề một cách kĩ lưỡng, không hiểu gì về cuộc
sống cả mà phải biết làm chủ được những suy nghĩ và hành động của mình để tránh
phải sẽ gặp sự thất bại.
Không bắt gã Khờ phải chết mà rốt cục, Đặng Xuân Xuyến cũng cho
gã được gặp may, nhưng trước khi đến với vận may, gã còn phải ê chề nếm
thêm ít nỗi nhục nhã đắng cay của thời đại mới.
Ấy là, sau khi biết bình đã vỡ rồi, gã Khờ cũng nhận ra là
phải lấy thân mà trả nợ đời cho xong. Đầu tiên, gã vùi mình trong men rượu
rồi tự nguyện làm một “Thằng đàn ông
bán thân nuôi miệng, một thằng điếm”.
Như đã nói, gã Khờ trong truyện ngắn của Đặng Xuân
Xuyến là một kẻ có học. Vậy gã thừa hiểu, ở Việt Nam từ xưa đến nay người ta đã
không mấy ưa loại người làm đĩ, cho dù là đĩ cái. Thì kia, cô Kiều của Nguyễn
Du trong văn chương Việt Nam tuy đã được Kim Trọng khen ngợi là: “Như nàng lấy hiếu làm trinh - Bụi nào cho
đục được mình ấy vay?”, và cô đã sống trong niềm yêu mến của bao lớp
người Việt từ bậc thức giả đến kẻ bình dân xưa vậy mà cũng vậy, thế mà mấy lần
cô Kiều đã bị cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước
gọi là "Con đĩ Kiều",
"Cái giống độc con đĩ Kiều” .
Ấy là đĩ cái vốn đã cùng với mại dâm xuất hiện và phát triển từ
thời nguyên thủy huống chi đĩ đực mới chỉ đến thế kỷ này mới xuất hiện. Gã Khờ
bất chấp mọi giá làm một thằng điếm, một con đĩ đực vì “Hắn cần tiền. Hắn cần tạo dựng lại cơ nghiệp. Hắn cần được tung hô, cần
được trọng vọng như ngày trước. Đời hắn không thể thiếu thứ hàng xa xỉ đó”.
Làm đĩ đực, ấy là con tàu tốc hành để gã nhanh chóng đi tới
ga nhặt tiền.
Ngay lần đầu tiên làm thằng điếm đực, gã đã may mắn không phải
hầu hạ một máy bay bà già đã sồ sề, nhăn nhúm nhưng thèm khát tình dục mà là
gặp một “ả” có “Khuôn mặt đẹp, da
lại trắng hồng”. Mới đầu, thấy “Ả đẹp. Hắn cũng thích” nhưng khi
vào cuộc gã mới nhận ra ả là một “con
vợ đĩ lên đĩ xuống, đĩ ngang đĩ dọc mà thằng chồng cấm dám ho he”,
một “con đàn bà đĩ thõa đang lên cơn
động đực”. Thế là “Hắn không
thích cuộc chơi này nhưng hắn không còn sự lựa chọn” vì gã cần tiền
như trên đã nói và thêm nữa vì gã sợ cái thằng vừa dẫn mối vừa bảo kê cho ả mua
dâm gã, với “Một giọng nói sắc gọn,
rờn rợn vang lên”:
- Làm bổn phận đi.
Muốn chết à?
ở đằng sau cánh cửa.
Hầu hết các truyện dân gian về các chàng ngốc đều kết thúc có
hậu như gặp vua được vua ban thưởng một chức quan trong triều đình và sống cuộc
đời giàu có sung sướng hoặc nhờ nói mò mấy câu văn chương học lỏm mà cuối cùng
được hưởng hạnh phúc. Nhưng phổ biến nhất là các chàng ngốc đều may mắn có được
cô vợ thông minh hết lòng vẽ đường chỉ lối cho chồng làm ăn nhưng ngốc vẫn hoàn
ngốc, hết lần này đến lần khác đều thất bại khiến người vợ bị người đời mỉa mai
muốn tự tử cho xong đời nhưng rồi vì lòng thương chồng các nàng đã bỏ ngay ý
định tiêu cực đó, quyết tâm tìm cách giúp chồng trở thành người khôn ngoan
hơn.
Đặng Xuân Xuyến cũng dành cho gã Khờ của mình một kết cục có hậu
tuy rất khác các truyện dân gian. Gã được một người 12 năm trước đã chịu ơn gã.
Người ấy, khi xong việc để lại cho gã một bức thư: “lấy lại đầy đủ giấy tờ ngôi nhà từ tay thằng em kết nghĩa” của
gã bằng cách làm cho: “Nó thua bạc,
gán nhà trả nợ theo đúng kịch bản mà em cùng nhóm bạn thân dàn dựng”. Người
ấy cũng cũng lấy lại “sợi dây chuyền “bảo
bối” mà anh rất quý, bị thằng bạn nối khố của anh chiếm đoạt” cùng “Số tiền thằng bạn nối khố lừa đảo, em cũng
đã đòi lại và chuyển vào tài khoản cá nhân của anh”. Bằng cách: “dùng các chứng cứ phạm pháp “uy hiếp”, bắt
tên khốn kiếp phải trả lại anh số tiền đã chiếm đoạt, bọn em đã chuyển cho nhà
chức trách những bằng chứng phạm pháp của nó, bắt nó phải trả giá cho những tội
ác đã gây ra”
Một cái hậu tưởng như mơ, đẹp quá sức tưởng tượng khiến CHUYỆN
CỦA GÃ KHỜ như một cổ tích hiện đại và nhân vật Gã Khờ thấy lại lòng yêu trời,
yêu đất và yêu cuộc sống: “Hắn bước
ra sân, ngước mắt nhìn bầu trời xanh ngắt. Tiếng họa mi nhà ai lảnh lót làm hắn
lặng người, rồi bất chợt hắn mỉm cười.”
Một số bạn đọc cho rằng: “kết thúc truyện lộ bàn tay sắp đặt của tác giả quá”, nói như các
nhà phê bình văn học là tô hồng quá. Thì tác phẩm văn học là đứa con tinh thần
của nhà văn nên nhà văn tạo dáng cho đứa con tinh thần ấy của mình ra sao là
tùy thích. Vì vậy tôi có phần đồng ý với nhận định trên của người đọc. Nhưng
đọc xong CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ, tôi có cảm nhận trong sự sắp đặt lộ liễu ấy, Đặng
Xuân Xuyến đã rất muốn giải trình cùng bạn đọc những suy nghĩ ẩn dấu bên trong
mà tác giả không thể nói trắng ra được. Theo tôi, thì đó là:
Đành rằng thời đại ngày nay ở nước ta không còn vua nên gã Khờ
sao còn được vua cứu giúp và ban thưởng. Đành rằng, vợ gã Khờ đã cám cảnh kiểu
thương người một cách mù quáng của chồng, đã ly dị gã nên gã đâu còn được cô vợ
thương yêu giúp chồng khôn ngoan hơn trong cách sống của một xã hội đang loạn
chuẩn đạo đức để xóa bỏ ảo tưởng về sự lãng mạn của tình yêu và sự chân thành
của tình huynh đệ, bằng hữu. Không có vua ban thưởng, không còn vợ giúp khôn
nên phải có một người 12 năm trước đã chịu ơn gã nay ra tay cứu giúp gã. Như
thế cũng hợp lý.
Nhưng hà cớ gì người đó không phải là một người Việt đang sống
cùng gã trên giải đất hình chữ S này mà lại phải là một người Nhật gốc Việt,
nói một cách khác là một người Việt đã dời xa xứ sở Thiên đường Xã hội chủ
nghĩa của mình để đến sống ở “Đất nước Mặt trời mọc” tư bản đang giãy
chết. Bao nhiêu luật lệ để đâu, bao nhiêu người Việt đứng về lẽ phải đi
đâu mà phải để người Nhật gốc Việt đó về nước và như có phép lạ, lấy lại cho gã
tiền bạc đã bị thằng bạn nối khố bất lương quỵt nợ và nhà cửa đã bị thằng em
kết nghĩa chó chết chiếm đoạt. Đã thế người đó còn để lại trong thư cho gã
những lời lãng mạn đẹp như hoa hồng buổi sáng:
“Vâng! Nhất định khi trở
về Việt Nam em sẽ đưa vợ con đến chào anh. Lúc bấy giờ, em sẽ thoải mái được
nói lời cám ơn anh, cám ơn vị ân nhân đặc biệt của mình.
Ps: Anh!
Chị vẫn còn yêu anh
nhiều lắm. Hãy đến làm lành với chị để các cháu được sống trong vòng tay yêu
thương của cả bố, cả mẹ.”
Và vì thế tôi coi nhân vật GÃ KHỜ trong truyện ngắn của Đặng
Xuân Xuyến là một THẰNG NGỐC VIỆT NAM còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này. Một
thằng ngốc hiện đại nên mới có được sự may mắn từ những phép màu hiện đại như
khả năng kỳ tài của anh chàng người Nhật gốc Việt kia. Tôi thấy mình cần phải
đọc CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ này kỹ hơn và ngẫm nghĩ sâu hơn?
*.
Sài Gòn, thứ sáu 09-09-2016
Nhà văn, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy,
Quận 7, Sài Gòn.
“CÔ”
SƯỚNG CƯỚI VỢ -
TRUYỆN NGẮN ĐẦY ẮP TÍNH NHÂN VĂN
Cuối tuần trước, nhà văn Đặng Xuân Xuyến gửi cho tôi truyện ngắn
"CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ”, anh viết từ năm 2015 và mới đưa lên mạng. Anh
nói với tôi “viết tặng vợ chồng cậu em
họ, cùng làng”, lại thêm lời đề tặng ở đầu truyện, thì đúng là chuyện
thật người thật rồi. Vì thế tôi thích thú đọc ngay và nhận được từ câu chuyện
đầy ắp những tiếng cười vui vẻ.
Truyện vui ngay khi nhìn thấy cái tên của nó: “CÔ” SƯỚNG CƯỚI
VỢ”.
Nói như câu ca dao “Vợ
tôi con gái đàn bà nữ nhi” thì hiển nhiên người vợ của “cô” Sướng là
nữ giới rồi. Đúng vậy, đó là nàng Ngân, một gái quê “không mỏng mày hay hạt nhưng thùy mị, nết na, không sắc nước
hương trời nhưng nét dịu dàng đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân
được người. Ngân được nết.”
Thế thì chồng của nàng Ngân phải là con trai, đàn ông, nam
nhi chứ sao lại là cô Sướng? Thắc mắc này cũng chính là cái thắc mắc
của người kể khi mở đầu câu chuyện “Vâng!
Thì hẳn là “cô” Sướng lấy vợ chứ làm sao có chuyện “cô” Sướng lấy chồng!”.
Một kiểu vào đề thật khéo, đánh vào trí tò mò của người đọc
khiến họ không thể không đọc tiếp để xem sự thể nó ra sao.
Và rồi đầu đuôi của chuyện cứ dần dần được hé mở trong những câu
chữ tưng tửng của người kể không theo một trình tự thời gian nào cả.
Thì ra cô Sướng không phải là cô mà là cậu Sướng, là anh Sướng,
con trai cụ Bống làng Đỗ Hạ. Một gã trai “Tuy không được cao ráo, mạnh mẽ nhưng bù lại rất khéo tay, chịu khó lam
làm và đặc biệt là người rất tốt nết”. Nhưng cha mẹ sinh con trời sinh
tính, anh Sướng con cụ Bống mang trong mình nhiều thói nữ tính: Thuở
bé, Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan, thích chơi trò búp bê,
thích buôn hàng, thích cãi lộn. Lớn lên, Sướng thích được gọi là cô, là
chị và khoái nhất khi được mọi người mắng yêu bằng câu: “Con đĩ Sướng này xinh phết!”. Rồi, không
hiểu sao Sướng lại còn dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa và phát
triển khiếu chửi nhau lừng danh thôn xóm.
Nhưng đó chỉ là những dị tính phát tiết ra ngoài mà thôi, còn
trong thâm tâm của Sướng thì: “Thích là
thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi Sướng là phụ nữ, là
phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm”. Và để thể hiện điều
đó, “Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt
quần ngồi xổm mà tiểu tiện”. (Sao không dùng chữ đái dân giã
đời thường thay hai chữ tiểu tiện tao nhã này nhỉ?)
Tuy là đàn ông thật nhưng với cái thích là thế, trong
mắt dân làng, Sướng không còn là đàn ông nữa mà là cô Sướng, chị Sướng và mắng
yêu anh là “con đĩ Sướng”, như anh
hằng thích. Đã thế Sướng lại chơi thân với Kiên mà dân làng gọi là Kiên “ái”,
một gã trai hẳn hoi nhưng lại “dửng dưng
chuyện yêu đương trai gái, cứ khó chịu ra mặt khi có người nhắc đến chuyện lấy
vợ”, cùng Sướng nhận nhau là hai “chị em”, thích được Sướng gọi
là “dì” vì Kiên ít tuổi hơn và cái chính là vì Kiên “ái” rất yêu
Sướng. Chả thế mà khi nghe tin Sướng sắp cưới vợ, Kiên đã nắm tay Sướng,
đăm đắm nhìn thẳng vào mắt Sướng, nũng nịu:
- Nhớ. Sướng đừng lấy vợ nữa nhớ. Sướng mà lấy vợ là em xuống
tóc đi tu đấy.
Một “Cô” Sướng khắp làng điều tiếng thị phi “dở ông dở bà” như thế, sao nàng
Ngân nết na thùy mị lại nhận lời lấy làm chồng? Có phải vì chơi thân với nhau
từ nhỏ, cả 2 cùng thích chơi nhảy dây, chơi chắt chuyền, chơi ô ăn quan, chơi
búp bê, chơi buôn hàng... nên đã trở thành lứa đôi thanh mai trúc mã đẹp như
đôi trẻ trong thơ Lý Bạch:
Tóc em mới kín trán,
Trước cửa bẻ hoa đùa.
Chàng cưỡi ngựa trúc
lại,
Quanh ghế tung mơ chua.
Cùng ở xóm
Trường Can,
Đôi trẻ vui tha hồ,
Để rồi:
Mười bốn làm vợ chàng,
Thơ ngây em hổ thẹn
Bên vách cúi gầm đầu,
Mặc cho chàng gọi đến.
Mười lăm mới bạo dạn,
Quấn nhau không muốn
rời.
(Trường Can hành - Trúc Khê dịch)
Hoàn toàn không có chuyện thơ mộng ấy vì “chưa bao giờ Ngân nghĩ Sướng là con trai cả.”
Nhưng hiển nhiên là “cô” Sướng lấy vợ và nhà cụ Bống
đang mổ lợn để làm đám ăn hỏi Ngân cho Sướng. Thế thì duyên do tại sao?
Câu chuyện vui nhất chính là ở trường đoạn này. Ta hãy lần theo
lời kể hóm hỉnh của Đặng Xuân Xuyến:
Trước những lời đồn ra đồn vào về chuyện thằng con chín
phần gái nửa dại phần đàn ông của mình chuẩn bị cưới vợ; trong lúc đông vui
người đang ngả lợn để làm đám hỏi cho nó, cụ Bống vẻ cũng lo lắng lắm. Vừa lúc
đó Sướng đi mời khách về đến nhà.
Cụ Bống kéo Sướng vào, hỏi dồn:
“- Thầy hỏi, con phải trả
lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn bà
được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vận thế nào? Thầy nghe
thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu không
được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ làm gì
hả con?”
Sau khi mắng chửi té tát thằng cháu trưởng hay hớt lẻo chuyện
của mình với ông nội, Sướng chưa biết trả lời bố ra sao thì cụ Bống đã ra tối
hậu quyết định:
“- Thôi, không cưới
xin gì nữa. Để tôi ra thưa chuyện với bên nhà, nói rõ “chị” là đàn bà để xin
hủy hôn.”
Đến đây thì Sướng cuống lên:
“- Thầy! Thầy đừng làm
thế. Con yêu Ngân thật mà. Con là đàn ông thật mà! Con thề! Tiên sư bố đứa nào
mà con nói điêu!”
Chưa thấy cụ Bống phản ứng ra sao thì “Vừa lúc đấy, Ngân bước vào. Như chết đuối vớ được cọc, Sướng vội kéo
Ngân vào cuộc.”. Sau khi nghe con trai mình luôn mồm chị chị Ngân
Ngân xin nàng nói cho bố mình biết mình là đàn ông thật, Cụ Bống nhìn
Ngân, nhẹ giọng:
“- Ngân này. Con đẹp người
đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà bác làm
chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả đời,
con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi.
Ngân đỏ mặt, nhìn thật
nhanh xuống bụng, rồi nhỏ nhẹ:
- Dạ! Con nghe lời thầy
nhưng còn cháu nội của thầy thì sao ạ?”
Thì ra chuyện thâm cung bí sử của họ là ở chỗ cái thằng cháu nội
của cụ Bống đang nằm trong bụng Ngân. Và đầu đuôi chuyện là như vầy: “Trong suy nghĩ của Ngân, Sướng là một người
chị tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi
tiểu, chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. (Lại đi tiểu!). Thì
nghĩ như vậy nên Ngân mới chủ quan. Tối ấy, sinh hoạt chi đoàn về, trời lất
phất mưa lại còn rét đậm, đường về nhà Sướng thì xa, sợ “chị” Sướng ngấm mưa
ngấm rét sẽ khổ nên Ngân mới rủ “chị” Sướng ngủ lại. Ai ngờ, đêm ấy thành đêm
định mệnh, thành đêm gạo nấu thành cơm, ván đóng thành thuyền”
Và:
“Ngân không ngờ “chị”
Sướng tưởng là thằng lại cái, tưởng là thằng vứt đi, chỉ giỏi mấy trò nhảy dây,
chơi chắt chuyền, chơi búp bê, chơi buôn hàng... và giỏi hăng máu chửi lộn với
đám đàn bà con gái,... ấy thế mà khi làm cái chuyện của thằng đàn ông thì lại
thật đâu ra đấy, ra tấm ra đẫn, ra ngô ra khoai, ăn đứt khối thằng vẫn khoác
loác tự nhận là giỏi về chuyện thầm kín của đấng mày râu! …”
Nghĩ thế, Ngân bằng lòng đón nhận tình yêu của Sướng, nhận lời
lấy Sướng.
Khỏi phải nói cụ Bống vui sướng ra sao khi biết thằng con của
mình tiếng thế mà đàn ông đích thực và cũng khỏi nói đám “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ sẽ
tưng bừng vui vẻ ra sao ở cái làng Đỗ Hạ.
Khi gửi cho tôi thiên truyện này, nhà văn Đặng Xuân Xuyến bảo để
tôi đọc giải trí. Truyện của anh đã đem lại cho tôi đầy ắp tiếng cười vui
nhưng không phải là tiếng cười mua vui giải trí như những truyện khôi hài phê
phán cái ngược đời, cái trái lẽ tự nhiên, lầm lẫn, hớ hênh của người đời mà là
những tiếng cười tán thưởng, biểu thị niềm vui, sự yêu mến với con người như
“cô” Sướng, nàng Ngân và cụ Bống, trong đó phần lớn nhất dành cho Cô Sướng!
Một số người trong làng Đỗ Hạ, điển hình nhất là cụ Vận bố Kiên
“ái” đã không ngớt lời miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng. Nào là con dở ông dở
thằng, nào là đồng cô, pha gái, lại cái… Ấy là những tiếng dân giã của những
năm xưa trước. Giờ đây, người ta nhập ngoại về một lô các tên gọi khác như:
gay, pê-đê, bóng, chuyển giới, ái nam ái nữ. Không cần hiểu biết nguồn gốc của
các từ ấy, không cần biết nó là tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng
Hán, trong tư tưởng của đa số người dân Việt Nam, những từ kể trên đều bị hiểu
theo một nghĩa là đồng tính luyến ái. Mà đã là đồng tính luyến ái thì bị đánh
đồng với sự sa đọa, bệnh tật, tệ nạn xấu xa, đều đáng khinh bỉ, đáng bị lên án,
nhẹ nhất thì cũng bị phớt lờ, không thèm quan tâm. Hiểu sai dẫn đến ứng xử sai,
khiến một số người như “cô” Sướng trở nên mặc cảm, sống co cụm lại.
Nhưng “cô” Sướng trong truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến đã không
phải chịu những tai hại của những ứng xử sai như thế vì “cô” có được mấy cái
may mắn:
Một, số người dân làng Đỗ Hạ đã miệt thị khinh bỉ “cô” Sướng,
tiêu biểu như cụ Vận không nhiều. Mà cụ Vận có quá lời chửi Sướng thì ta cũng
dễ bề thông cảm vì cụ mang nỗi khổ ấm ức con trai mình là “Kiên ái” thực sự là
đứa đồng tính luyến ái. Đa phần người dân làng Đỗ Hạ đều nhìn Sướng bằng
con mắt thiện cảm, họ mở lòng chiều cái tính hây hấy của anh, gọi anh là cô, là
chị và sẵn sàng mắng yêu anh: “Con
đĩ Sướng này xinh phết!”. Và họ đều thừa nhận: “Nếu không dấp phải tính khí đanh đá chua ngoa thì hẳn “cô” là người
hiền thục nhất nhì làng xã”. Và vì vậy, khi nghe tin “cô” Sướng cưới
vợ, dân làng đã mừng cho “cô”: “tính
khí của “cô” nửa gà nửa vịt như thế mà có người đồng ý lấy “cô” làm chồng là
may lắm rồi, phúc đức lắm rồi”. Dân làng đông vui đến ngả lợn giúp nhà
"cô" và chuyện trò rôm rả cũng vì cái sự mừng chân tình ấy!
Hai, Sướng không phải là ái nam ái nữ hay người đồng tính
luyến ái, mà chỉ là một người dị tính bị thu hút hấp dẫn đặc biệt, “khác
thường” bởi những người khác giới nên thích được gọi là cô là chị, thích chơi
các trò chơi của con gái, thích thể hiện sự đanh đá chua ngoa của những người
đàn bà lắm mồm. Trong anh vẫn nguyên vẹn khí chất đàn ông, khi có dịp nó sẽ
bừng dậy đưa anh trở về cuộc sống thật với con người thật của mình.
Nhưng hai cái may kể trên chưa cái nào là điều may nhất cho
Sướng mà cái may nhất cho anh là anh có được Ngân, người bạn thân từ tuổi thơ
ấu đến cả lúc đã trưởng thành, mặc điều tiếng thị phi của người làng, Ngân
không bao giờ tìm cách xa lánh Sướng. Đã vậy, Ngân còn rất ngây thơ trong suy
nghĩ coi “Sướng là một người chị
tốt, người chị không giống chị em khác chỉ một điều duy nhất là khi đi tiểu,
chị Sướng không bao giờ phải ngồi xổm”. Và nhờ cái ngây thơ thành thật ấy,
Ngân và Sướng đã có một đêm mà tác giả gọi là cái đêm định mệnh.
Ô hay, sao nhà văn Đặng Xuân Xuyến lại coi đó là cái đêm
định mệnh nhỉ? Bởi lẽ, định mệnh là số mệnh của con người, do một lực
lượng huyền bí định sẵn, không thể cưỡng lại được khiến nhiều người phải thụ
động cam chịu dù nó rủi ro đến đâu. Cái đêm Ngân - Sướng ấy đâu có phải là cái
đêm cả hai hoặc một người trong họ phải cam chịu mà phải nói, nó là cái
đêm kỳ thú nhất trong đời của họ tựa như cái đêm trong thơ Cung oán:
Cái đêm hôm ấy đêm gì
Bóng dương lồng bóng đồ
mi trập trùng
Tuy Sướng không phải là bóng dương và Ngân cũng không phải là
một đóa đồ mi nhưng cái đêm hôm ấy, Sướng đã làm cho lửa dục vọng trong Ngân
sáng lên rồi được đốt cháy mãnh liệt khiến Ngân sung sướng thỏa thuê và hiểu
chân tơ kẽ tóc cái nam tính trong con người Sướng. Thử hỏi, nếu trong cái đêm
ấy, Sướng không làm được, “quá được” cái chuyện ấy, cho dù Ngân đã dành
cho Sướng biết bao tình cảm cảm tốt đẹp từ thời chăn trâu cắt cỏ đến nay, sẽ
chẳng bao giờ Ngân chịu lấy Sướng làm chồng. Bởi lẽ, người phụ nữ lấy chồng
trước hết là để có được “lời lãi đứa con”: Lấy chồng mà chẳng có con / Khác gì hoa nở trên non một mình
Và còn bởi, tình dục là một vấn đề rất đời thường và luôn luôn
hiện diện trong cuộc sống của con người nhưng đã mấy ai trung thực không màu mè
nói ra chuyện ấy. Mấy ai được như Ngân, thẳng thắn thừa nhận với cụ Bống rằng,
Sướng con trai cụ đã làm chuyện ấy với mình, rồi nhìn xuống cái bụng đang mang
hình hài đứa cháu nội của cụ.
Vì vậy, “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ không chỉ đầy ắp tiếng cười vui mà
còn rất đẹp tính nhân văn. Tác phẩm vừa miêu tả thực cuộc sống thực của con
người vừa vun vào cho khát vọng hạnh phúc của họ, tán thưởng và biểu thị niềm
vui, sự yêu mến với họ. Tác phẩm cũng không quên phê phán những cái xấu có thể
phá vỡ hạnh phúc tự do vốn có của con người. Đó không chỉ là cái xấu của một số
người như cụ Vận luôn tỏ ra khinh bỉ, miệt thị cay nghiệt một người như “cô”
Sướng mà ngay cả Sướng cũng phải lãnh một phần sự phê bình nhẹ nhàng vì đã để
cho cái dị tính trong anh phát triển quá đà, nếu không được Ngân đưa
vào cái đêm định mệnh ấy đưa Sướng về với đời thực của mình thì không
biết số phận đời anh sẽ ra sao?
Khi gửi cho tôi truyện ngắn “CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ, nhà văn Đặng Xuân
Xuyến nói với tôi về tác phẩm của anh: “Cháu viết cũng vội nên chất lượng không được như ý”.
Nhưng, ngoại trừ hai tiếng tiểu tiện tao nhã quá, tôi
thấy đây là một truyện ngắn hay, rất đáng đọc.
*
Sài Gòn, ngày 12/12/2016
Nhà văn, Nhà giáo NGUYỄN BÀNG
Địa chỉ: 17 đường 69, Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.
CHÂN DUNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN
TRONG “99 CHÂN DUNG NHÀ VĂN...”
“Ông bạn thứ ba mà tôi kiêng nể dẫu ít tuổi, chỉ hơn con lớn của
tôi bốn tuổi, đó là Đặng Xuân Xuyến, chân dung số 89. Vì sao? Xin thưa. Vào
khoảng những năm 1990 - 2000 xã hội mở cửa, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên
bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, các nhà văn nhà thơ thậm chí cả các nhà hưu trí
nhà bất mãn đua nhau in ấn các loại văn thơ: “đâu là đôi mắt”, “Như có Bác
Hồ”… Thế mà anh bạn trẻ trên tay cầm cái bằng đại học nhân văn xã hội đỏ
chóe ngày đêm xem cổ, tiếp kim chiêm nghiệm thực nghiệm cho ra đời hàng loạt
đầu sách mới lạ (có thể lên tới hàng trăm đầu sách với nhiều bút danh).
Nổi bật gây dư luận nhất là hai tập sách, một là Giới
tính và giáo dục giới tính (1997). Nội dung khoa học về đời
sống tình dục và giới tính. Anh tiếp thu thành tựu của nước ngoài, kết hợp cái
thực tế ở trong nước, nhất là những cái ở ta đang lấn cấn để mà thành sách,
giúp người giải phóng mặc cảm, hướng tới sống khỏe, sống hạnh phúc nhưng ở giai
đoạn đấy anh đi quá sớm nên ăn đòn (bị thu hồi). Tác phẩm thứ 2 là cuốn Tử Vi
kiến giải, viết theo quan điểm chắt lọc những tinh hoa của tiền nhân,
của Tử Vi Việt, giúp bạn đọc tiếp cận dễ hơn, đúng hơn về niềm tin tín ngưỡng
của người Việt Nam thế nhưng cũng bị nhà chức trách thổi còi “đình bản”, thu
hồi. Sau đó sách vẫn được truyền tay tìm đọc, vẫn được tái bản mấy lần. Đó là
cái riêng, khác lạ của một đời văn, một đời người. Vậy có xứng là nhà văn có
giọng văn dáng dấp đương thời đương đại không? Ấy là chưa nói anh còn viết một
loạt truyện ngắn: Chuyện cu Tố làng tôi, Chuyện
của gã Khờ, Kim yêu, Chuyện ngủ... được bạn đọc yêu
thích, ngay chính lão thi bá Nguyễn Khôi cũng làm bài thơ 5 đoạn cảm đọc gã
Khờ. Lại còn mảng thi ca. Dẫu thơ anh chậm xuất hiện nhưng đã gây ấn tượng bởi
cái giọng điệu sắc lạnh, tốc độ, tứ ý ngồn ngộn tự nhiên, đầy tâm trạng, đủ
chân thiện mỹ như: Bạn Quan, Quê nghèo, Tôi
nghe, Ru con, Tim đau, Mơ trăng, Tình
Nở... Nhất là thơ tình đầy trăn trở. Bêlin Xiki nói: “Chỉ cần anh có cái giọng riêng đã đáng là
một nhà thơ rồi.”. Vậy mà bác Nguyễn Khôi nhà ta đã nghuệch ngoạc vẽ thế
này:
“Buôn sách và viết sách
Vui gà trống nuôi con
làm tình “cưỡng” không
thích
Thơ như thời trai
son.”.
Thực quá dễ dãi, quá trơn tuột. “Buôn sách”, “gà trống nuôi
con”, “làm tình “cưỡng” không thích”
thì đâu phải chân dung, phải chăng chỉ là về đời thường chứ đâu là cái hồn cốt,
cái chân dung để đời của nhà văn?!”
-----------
(Trích từ: VỀ CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI)
*
Khoan Tế, tháng 06.2017
NGUYỄN ĐĂNG HÀNH
Địa chỉ: Thôn Khoan Tế,
xã Đa Tốn,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
CÁI LÝ NGŨ HÀNH
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân
Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ
ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của
Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ
đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách
từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực
tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự
logic và định lượng.
Cái hay nhất của Đặng Xuân Xuyến là ông đã chỉ ra "quyền
chỉ huy" của bản Mệnh đối với các vì sao. Trong khi nhiều người coi Tử vi
là sự áp đặt định mệnh, ông lại khẳng định: sao có thuộc về mình hay không,
mình có điều khiển được nó hay không, tất cả nằm ở mối tương quan Ngũ hành. Ông
phân tích các nguyên tắc tương tác một cách rất "đời". Chẳng hạn, khi
hành sao đồng hành với hành Mệnh, đó là trạng thái tốt nhất vì "sao đó
thuộc về mình, mình hoàn toàn chỉ huy được nó". Lúc này, cái Mệnh không
còn là kẻ thụ động ngồi chờ phúc họa, mà trở thành người làm chủ năng lượng
xung quanh mình.
Ông nhìn nhận về sự "hao tổn" và "đắc lợi"
rất thực tế. Ông chỉ ra một góc khuất: không phải cứ gặp cát tinh (sao tốt) là
sướng. Nếu Mệnh phải vất vả "sinh xuất" để nuôi ngôi sao đó, thì dù
sao có tốt đến mấy, bản thân mình vẫn hụt hơi, kết quả chẳng được toàn vẹn.
Ngược lại, nếu hành của sao sinh cho Mệnh, kể cả đó là sao xấu, thì cái xấu đó
cũng bị chiết giảm vì nó đã mất sức để nuôi Mệnh rồi. Cách luận giải này cực kỳ
nhân văn, cho thấy trong cái rủi có cái may, quan trọng là ta biết mình đang
đứng ở vị thế nào.
Ông coi Cung an Mệnh giống như ngôi nhà hay môi trường sống. Nếu
Cung sinh Mệnh, đó là thế "ngồi mát ăn bát vàng", môi trường đang
nuôi nấng, che chở mình. Còn nếu Cung khắc Mệnh, ông thẳng thắn bảo đó là thế
"xấu nhất", vì con người phải gồng mình chống chọi với hoàn cảnh nên
luôn mệt mỏi, bất lợi.
Nhiều người nghĩ Mệnh khắc được Cung là mình giỏi, mình làm chủ.
Nhưng Đặng Xuân Xuyến lại bảo: dù có "khắc thắng" thì anh cũng phải
tổn hao nguyên khí, giống như đánh thắng một trận đại chiến thì quân mình cũng
tan tác, bản thân bị "giam cầm, bó tay không hoạt động được". Cái
nhìn này rất "người": không phải cứ áp chế được hoàn cảnh là hay, mà
sự thuận hòa mới là gốc của hưng thịnh.
Bàn đến Tam hợp Cục – cái thế trận của môi trường xã hội rộng
lớn hơn, ông cũng dùng cái lý hưng vượng để định nghĩa thành bại. Nếu thời thế
sinh cho mình, mình sẽ hưng thịnh nhất. Còn nếu phải "sinh xuất" để
nuôi lại thời thế thì mình bị tiết khí, suy kiệt. Ông xếp hạng rõ ràng cái nào
"xấu nhất", cái nào "xấu nhì", không lờ mờ nước đôi.
Ông không bắt người đọc tin vào điều huyền bí, mà chỉ rõ: anh
mệt mỏi vì bị Cung khống chế, anh vất vả không có công vì đang phải nuôi cái
Cục. Cách luận giải này làm Tử vi trở nên gần gũi, là chuyện của "nguyên
khí", của "sức khỏe" và sự "hòa hợp". Ông cho rằng một
lá số đẹp không chỉ ở những ngôi sao sáng, mà quan trọng nhất là được môi
trường (Cung) và thời thế (Cục) bồi đắp.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã biến những tinh đẩu thành những
"đối tác" năng lượng. Nhờ sự tỉ mỉ, không bỏ sót ngóc ngách nào để
soi chiếu qua lý Ngũ hành, ông đã làm "mềm" đi những lý thuyết khô
khan, giúp người xem số có cái nhìn tinh tế về từng bước thăng trầm của một
kiếp người. Con người trong văn ông không thể sống tách rời môi trường, hoàn
cảnh, và sự hòa hợp chính là chìa khóa để tìm thấy bình an trong số phận.
Đọc trọn vẹn những trang viết của Đặng Xuân Xuyến về cách ứng
dụng Ngũ hành vào Tử vi, cảm giác như ta vừa tìm được một "bản đồ chỉ
đường" rành mạch giữa một rừng lý thuyết mênh mông. Giọng văn của ông mộc
mạc, viết về Tử vi mà nghe như đang bàn chuyện đời, chuyện người. Ông không coi
lá số là một cái gì đó bất biến, mà nhìn nó như một sự tương tác năng lượng
không ngừng giữa con người (Mệnh) với hoàn cảnh (Cung) và thời thế (Cục).
Cái hay của Đặng Xuân Xuyến nằm ở cách ông nhìn về sự "an
thân lập mệnh" của các vì sao. Ông ví cái Cung như nền đất, còn Sao như
cái cây trồng trên đó. Nếu đất sinh cho cây (Cung sinh Sao) thì cây mới tốt
tươi, rạng rỡ được. Còn nếu Cung khắc Sao, ông bảo đó là thế "xấu
nhất", vì cái gốc đã bị lung lay thì dẫu có là sao tốt cũng chẳng còn mấy
sức mạnh mà ban phát phúc lành. Cách luận này giúp người xem số không còn bị
hoa mắt bởi những ngôi sao sáng chói, mà biết nhìn xuống cái "nền"
xem ngôi sao đó có thực sự "đắc địa" hay không.
Đến khi bàn về tương quan giữa Mệnh và Cục, ông lại cho thấy một
cái nhìn rất thực tế về thời thế. Ông coi Cục như cái khuôn mẫu, cái môi trường
xã hội mà mình phải sống trong đó. Nếu Cục sinh cho Mệnh, ông gọi đó là
"tốt nhất" – giống như mình sinh ra đã gặp thời, được đời ưu ái, nâng
đỡ. Ngược lại, nếu Mệnh phải sinh cho Cục, ông thẳng thừng bảo đó là sự suy
yếu. Mình cứ mải miết cống hiến, mải miết "sinh xuất" để nuôi cái môi
trường xung quanh thì bản thân mình sớm muộn cũng hụt hơi, kiệt quệ.
Ông nhấn mạnh việc xét hành của Sao với hành của Mệnh là quan trọng
nhất, vì nó quyết định việc anh có "chỉ huy" được ngôi sao đó hay
không. Đặc biệt, tôi rất tâm đắc với cách ông giải thích về thế "khắc
thắng". Xưa nay người ta cứ hay tự hào khi mình ở thế thượng phong, là kẻ
đi khắc người khác. Nhưng với Đặng Xuân Xuyến, dù anh khắc được Sao hay khắc
được Cục, ông vẫn chỉ xếp vào hạng trung bình. Bởi cái giá của sự chiến thắng
là sự "giam cầm", là "bó tay không hoạt động được". Ông đưa
ra một bài học nhân sinh sâu sắc: sự đối đầu, dù mình thắng, cũng chẳng bao giờ
đem lại sự hanh thông thực sự; chỉ có sự tương trợ lẫn nhau mới là con đường
dẫn đến hưng vượng bền lâu.
Ông nhìn về cung Thân (hậu vận) cũng cực kỳ thực tế. Ông không
dùng Mệnh làm chuẩn nữa mà lấy hành của Cục làm gốc. Điều này ngầm hiểu: lúc
trẻ anh có thể sống bằng bản sắc riêng (Mệnh), nhưng khi về già, sự thành bại
phụ thuộc vào việc anh có hòa hợp với môi trường, với thời cuộc (Cục) hay
không. Cách luận giải này giúp "giải mã" cái mê hồn trận của lý số
một cách dễ hiểu, biến những khái niệm khô khan thành những bài học về sự cân
bằng.
Trong phần kết, dù bộc lộ sự khiêm cung khi ví mình như
"ếch ngồi đáy giếng", nhưng thực tế Đặng Xuân Xuyến đã làm được một
việc lớn: "logic hóa" Tử vi. Ông biến một bộ môn nặng tính cảm tính
thành một hệ thống có thang đo rạch ròi. Tóm lại, cống hiến của ông là đã đưa
Tử vi trở về đúng nghĩa một bộ môn khoa học dự báo dựa trên sự cân bằng năng
lượng. Ông quan niệm người xem số phải biết linh động, không máy móc, và quan
trọng nhất là hiểu được cái lý của sự hòa hợp. Đọc những gì ông viết, người ta
bớt sợ hãi định mệnh mà biết trân trọng sự nỗ lực và cách ứng xử của bản thân
với môi trường xung quanh..
*.
THIÊN VIỆT (tên thật Nguyễn Văn Việt)
Địa chỉ: 119D, KP3 Mai Chí
Thọ, An Phú,
Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN
“CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ”
Tôi đọc truyện ngắn "Cô Sướng Cưới Vợ" trên trang
facebook của tác giả Đặng Xuân Xuyến. Lối viết dí dỏm của anh đã lôi cuốn tôi
ngay từ phần đầu của truyện. Khi đọc trên báo mạng, tên nhân vật và tên truyện
không hiểu lý do gì mà thay đổi, dù cốt truyện giữ nguyên nhưng tôi thích đọc
tên truyện cũ là "Cô Sướng Cưới Vợ". Có lẽ vì ấn
tượng tên "Cô Sướng Cưới Vợ"
tạo yếu tố dân dã hơn, chân thật hơn.
Nhân vật Sướng được Đặng Xuân Xuyến ưu ái,
giành nhiều sự quý mến. Tính khí khác thường của "cô" Sướng qua ngòi
bút của Đặng Xuân Xuyến không hề phản cảm, gây cười mà đáo để duyên:
“Sướng thích được gọi là
cô, là chị. Sướng khoái được mọi người mắng yêu câu: “Con đĩ Sướng này xinh
phết!”. Thích là thế nhưng Sướng ghét cay ghét đắng kẻ nào lại thực tâm coi
Sướng là phụ nữ, là phận liễu yếu đào tơ, là thân gái chân yếu tay mềm. Tóm
lại, Sướng là đàn ông, là nam nhi chính hiệu, là chuẩn men đích thực nên Sướng
không chấp nhận ai đó cho rằng, nghĩ rằng Sướng là phận nữ nhi! Ừ thì Sướng
thích gọi là cô, là chị. Ừ thì Sướng thích nhảy dây, thích chơi ô ăn quan,
thích chơi trò búp bê, thích buôn hàng, thích cãi lộn... Như thế thì đã sao?
Những sở thích đó tuy có khác biệt với đặc trưng giới tính của giới nam nhưng
cũng chẳng ảnh hưởng gì tới bản chất giới tính vốn có của Sướng? Thật đấy!
Sướng vẫn là thằng đàn ông đích thực. Sướng vẫn chưa bao giờ phải tụt quần ngồi
xổm mà tiểu tiện. Sướng cũng chưa bao giờ tùy tiện cho rằng mình không phải là
thằng đàn ông nên vì thế đừng có ai vớ vẩn nghĩ Sướng là đàn bà con gái. Sướng
ghét đấy. Sướng chửi cho đấy.”
Bạn đọc yêu nhân vật Sướng bởi bản chất thật thà, tốt nết của
anh. Đằng sau sự đanh đá chua ngoa của Sướng là tấm lòng lương thiện, tử tế,
sống nghĩa hiệp với người thân và bè bạn. Bị cụ Vân, bố đẻ của "dì Kiên", người bạn thân bị "bê đê nặng", "nhiếc móc" là "pha gái", chọc vào "điều cấm kỵ" khi coi Sướng là
"con đàn bà" dù rất tức cụ
Vân nhưng Sướng vẫn biết dừng lại ở đúng đạo nghĩa:
“Nghe câu “Tôi lại hỏi
thật chị nhé: Hai con đàn bà lấy nhau thì đẻ đái làm sao?” mặt Sướng tái lại
rồi thoắt cái phừng phừng sát khí. Sướng chống hai tay vào hông. Sướng dậm chân
đến huỵch một cái rồi kéo dài giọng:
- Hai con đàn bà lấy
nhau thì đẻ đái làm sao? Này! Con nói thật với bố. Đừng tưởng con này trông như
pha gái mà nghĩ con này là phận liễu yếu đào tơ, không phải là thằng đàn ông.
Đây nói cho bố biết. Đây chưa bao giờ ngồi xổm như mấy con đàn bà! Chưa bao
giờ! Bố hiểu chửa! Mà con nói thật nhé. Chắc gì bố đã là đàn ông mà bố bĩu môi,
dè bỉu, coi khinh con này như thế.
Thấy sắc mặt tím tái
rồi thoắt cái đỏ bừng của Sướng, cụ Vân chột dạ:
- “Mẹ nó! Chạm phải vía
“con dở ông dở thằng” này rồi. Nó mà nổi cơn đồng bóng thì mình dại mặt.”. Cụ
lùi người, lùi người để tránh cơn giận của Sướng, không ngờ cụ trượt chân ngã
oạch một cái. Nhìn bộ dạng luống cuống của cụ, Sướng phì cười, bĩu môi:
- Gớm! Đàn ông chưa? Ối
dào! Đàn ông như bố, đây cũng dí thèm!”
Bị cụ Bống, là bố đẻ, đánh chửi, dù "nhiều oan ức" nhưng "cô" Sướng không cãi mà ngồi im
cam chịu vì đạo làm con. Bị cụ Bống hiểu sai là "thằng đồng cô" (bê đê) và đe sẽ huỷ hôn giữa Sướng với Ngân
nhưng lo cho tương lai của "dì Kiên",
sợ nói ra sự thật chỉ Kiên ái mới là "đồng
cô" thì Kiên ái sẽ khó lấy được vợ, sẽ khổ nửa đời về sau của bạn mình
nên dù bị oan ức, bị cụ Bống chửi đánh... Sướng vẫn cắn răng chịu
đựng. Nghĩa cử đó của Sướng thật đẹp, không phải ai cũng làm được.
Ngân là nhân vật được tác giả giành những lời ngợi ca, những
khắc họa rất đẹp về nhan sắc và nhân cách:
“Ngân không mỏng mày hay
hạt nhưng Ngân thùy mị, nết na. Ngân không sắc nước hương trời nhưng nét dịu
dàng của Ngân đủ khiến trai làng phải thầm mơ trộm nhớ. Ngân được người. Ngân
được nết. Cả làng, cả xã chưa thấy Ngân mặt nặng mày nhẹ, cãi cọ với ai. Cứ nhẹ
nhàng với mọi người, cứ nhún nhường với mọi người như thể Ngân sinh ra là để
chan hòa với mọi người vậy.”
Không chỉ xinh đẹp, hiền thục, đảm đang mà Ngân còn được tác giả
Đặng Xuân Xuyến mô tả là người phụ nữ mạnh mẽ trong tình yêu và dám sống với
tình yêu đích thực của mình. Cái đêm Sướng biến thiếu nữ Ngân thành người đàn
bà được tác giả Đặng Xuân Xuyến dàn dựng như một vụ "tai nạn" hi hữu,
chủ yếu để đề cao chữ "trình tiết", đề cao phẩm hạnh của Ngân. Có thể
vì quá quý mến em gái mình nên Đặng Xuân Xuyến mới dàn dựng như thế nhưng nếu
là tôi, tôi sẽ để Ngân "dính bầu" như các trường hợp "ăn cơm
trước kẻng" khác, thì sự mạnh mẽ trong tình yêu của Ngân mới thật.
Tóm lại, Đặng Xuân Xuyến đã giành cho nhân vật Ngân sự yêu mến
và trân trọng đặc biệt. Người con gái ấy không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là
người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ với tình yêu.
Nhân vật cụ Bống xuất hiện cuối truyện và số chữ viết về cụ
không nhiều nhưng Đặng Xuân Xuyến đã khắc hoạ thành công hình ảnh cụ Bống: một
người ông, người cha yêu thương con, cháu hết mực; có những nghĩa cử cao đẹp,
hơn hẳn người đời, biểu hiện ở hành động khi nghe tin con trai bị "đồng cô, không yêu được con gái" đã
yêu cầu con trai huỷ hôn, đừng làm lỡ dở cuộc đời người con gái xinh đẹp, hiền
thục của làng xã:
- “Thầy hỏi, con phải
trả lời thật nhé. Con có yêu cái Ngân không? Con có làm chuyện đàn ông với đàn
bà được không? Còn chuyện con với thằng Kiên “ái” nhà ông Vân thế nào? Thầy
nghe thằng cháu đích tôn nói con với thằng Kiên “ái” yêu nhau, thề thốt nếu
không được sống cùng nhau sẽ cắt tóc đi tu. Đã thế, còn bày đặt chuyện lấy vợ
làm gì hả con?”.
Phải là người có tấm lòng của Bồ Tát thì cụ Bống mới lo lắng cho
Ngân, khuyên Ngân huỷ bỏ hôn nhân với Sướng vì:
- “Ngân này. Con đẹp
người đẹp nết lấy đâu chả được thằng chồng tử tế sao lại chọn thằng Sướng nhà
bác làm chồng? Lấy nhau về, không có con cái thì sao được hả con? Rồi sẽ khổ cả
đời, con ạ. Nghe bác, hủy đám cưới với thằng Sướng nhà bác đi.”.
Tóm lại, tôi thích truyện ngắn “CÔ SƯỚNG CƯỚI VỢ” của Đặng Xuân
Xuyến bởi, như tác giả Nguyễn Bàng đã nhận xét: “Truyện viết dí dỏm, hài hước gợi nhiều trăn trở với người đọc. Truyện
chạm vào trái tim người đọc bởi trong truyện đầy ắp tính nhân văn.”
*.
Cao Bình, tháng 02/2020
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công
ty 319
Quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
VỀ “CHUYỆN NGỦ”
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Một tác phẩm văn học thực sự chạm đến trái tim người đọc không
cần phải là những triết lý đao to búa lớn, mà đôi khi chỉ là một mảnh ký ức
nhỏ, một tiếng cười hồn nhiên được nhặt nhạnh từ những ngày nghèo khó. "Chuyện
Ngủ" của nhà văn Đặng Xuân Xuyến chính là một lát cắt như thế.
Ngay từ những dòng đầu tiên, người đọc đã bị cuốn vào một bầu
không khí "ngây thơ, khờ dại" của những đứa trẻ thôn quê ngày trước.
Cốt lõi của câu chuyện xoay quanh một hiểu lầm kinh điển của tuổi thơ: nắm tay
nhau là sẽ có em bé. Từ một cái chạm tay đầy tính "anh hùng cứu mỹ
nhân" khi nhân vật tôi (Thi) kéo cái Kim dưới mương lên, một chuỗi bi hài
kịch liên hoàn đã nổ ra. Cái lo lắng "ngay ngáy" của Thi, tiếng khóc
rống đòi bắt đền của Kim, và sự xuất hiện đầy "vô tri" của thằng Chủ
đã tạo nên một tam giác tình cảm… đầy sợ hãi. Sự hồn nhiên đạt đến đỉnh điểm
khi thằng Chủ - một đứa trẻ mười ba tuổi đêm vẫn còn tè dầm - lại ngồi thất
thểu lẩm bẩm vì tưởng mình sắp làm bố.
Nhà văn Đặng Xuân Xuyến đã rất tinh tế khi sử dụng tiếng cười để
phản ánh hiện thực. Để giải quyết "hậu quả", những bộ óc non nớt ấy
đã nghĩ ra cách nhảy dây để "long
thai". Chi tiết cái Kim nhảy dây hăng say đến mức phải vào viện cấp
cứu vừa khiến người đọc bật cười, vừa gợn lên một chút xót xa. Đó là cái giá
của sự thiếu thốn kiến thức, của một thời đại mà giáo dục giới tính còn là một
điều gì đó cấm kỵ, khuất tất.
Sự ngây thơ của những đứa trẻ càng được tôn lên khi đặt cạnh góc
nhìn của người lớn. Hình ảnh chú Kỷ Chủ tịch với những lời giáo điều, nghiêm
nghị oang oang về việc "quán triệt tư tưởng", hay lý thuyết "nắm tay lâu sẽ biến thái thành đồng cô"
phản ánh một cách chân thực cái nhìn khắt khe, có phần cổ hủ của một thời kỳ xã
hội. Chính sự né tránh, dọa dẫm của người lớn đã vô tình đẩy lũ trẻ vào những
nỗi sợ mơ hồ và những suy nghĩ lệch lạc.
Nhưng có lẽ, nhân vật để lại nhiều dư vị nhất, vừa đáng yêu vừa
đáng lém lỉnh chính là Thuận. Thuận xuất hiện như một "chuyên gia tâm lý
tuổi hồng", kẻ nắm giữ bí mật vũ trụ về "chuyện ngủ". Sự tương
phản giữa việc Thi và Chủ phải hùng hục xay hết bao thóc này đến bao thóc khác
để đổi lấy "bí kíp" tạo nên một sự hài hước rất đời thực. Thuận biết
tận dụng sự ngây ngô của bạn bè để trốn việc nhà, nhưng cũng chính Thuận là
người đã giải mã, cởi bỏ nút thắt tâm lý cho Thi và Chủ, dù cách giải mã ấy qua
lời kể lại của Thi khiến thằng Chủ phải đỏ mặt kêu lên "Eo ơi. Kinh. Mất đạo đức lắm."
Cái hay của Đặng Xuân Xuyến là khép lại câu chuyện bằng một hình
ảnh đầy tính châm biếm nhưng cũng rất đỗi dễ thương: Thằng Chủ, đứa vừa mới
mắng Thi "mất đạo đức", tối
hôm đó đã tự nguyện đến nhà Thuận, chấp nhận xay liền một mạch 15 bao thóc chỉ
để được dẫn sang nhà Dậu "bái sư học
ngủ". Sự tò mò bản năng của tuổi mới lớn đã chiến thắng nỗi sợ hãi
giáo điều.
Nếu chỉ đọc lướt qua, người ta dễ lầm tưởng "Chuyện
Ngủ" của Đặng Xuân Xuyến chỉ là một câu chuyện tếu táo, mua vui về
cái thời "vô tri" của đám trẻ con nông thôn ngày trước. Nhưng khi
khép trang sách lại, ngẫm kỹ từng lời thoại, từng cái cớ bắt bẻ nhau của lũ
trẻ, ta mới chợt nhận ra nhà văn đã khéo léo cài cắm vào đó những ẩn ý sâu cay
về xã hội, về giáo dục và cả những vết hằn tâm lý của một thời đại.
Ẩn ý sâu sắc nhất, cũng là điều nhức nhối nhất trong tác phẩm
chính là sự phê phán lối giáo dục giáo điều, cấm đoán của người lớn. Hình ảnh
chú Kỷ Chủ tịch xuất hiện với giọng điệu oang oang, nghiêm nghị o ép lũ trẻ vào
những khuôn vàng thước ngọc nực cười chính là đại diện cho một thế hệ quản lý
xã hội bằng nỗi sợ hãi. Thay vì giải thích một cách khoa học và thẳng thắn,
người lớn thời ấy lại chọn cách dọa dẫm: nào là "nắm tay lâu là có chửa", nào là "biến thái thành đồng cô". Chính sự né tránh, coi chuyện giới
tính là điều "mất tư cách đạo đức"
đã đẩy những đứa trẻ ngây thơ vào bi kịch. Cái Kim vì sợ chửa hoang mà nhảy dây
đến mức nhập viện, còn Thi và Chủ thì sống trong những đêm dài mất ngủ, hoang
mang tội lỗi. Tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: sự khuất tất của
người lớn không bảo vệ được con trẻ, nó chỉ đẩy chúng vào sự bế tắc và tổn
thương.
Thế nhưng, quy luật của tự nhiên và tâm lý con người là điều
không thể ngăn cấm. Nhà văn đã gửi gắm một thông điệp rất đời: Cái gì càng cấm,
người ta lại càng tò mò. Cái kết truyện đầy châm biếm khi thằng Chủ – đứa vừa
mới che mặt kêu lên "Eo ơi. Kinh.
Mất đạo đức lắm" – ngay tối hôm đó đã tự nguyện đến nhà Thuận xay liền
một mạch 15 bao thóc chỉ để được "bái
sư học ngủ" là minh chứng rõ nhất. Sự tò mò bản năng đã chiến thắng
nỗi sợ hãi vô lý. Lũ trẻ không chấp nhận sự mù mờ, chúng thà đánh đổi bằng mồ
hôi để tự "khai trí" cho nhau còn hơn là tin vào những lời dối lừa
mang danh đạo đức.
Đáng sợ hơn, thông qua lăng kính trẻ thơ, Đặng Xuân Xuyến còn
bóc tách một hiện thực trần trụi về sự khôn ranh và ý thức quyền lực đã sớm
nhen nhúm ở làng quê. Nhân vật Thuận tự xưng là "hạt giống đỏ", cậy thế bố mình "cơ cấu" cho bố thằng Dậu để bắt nạt bạn bè, đồng thời dùng thứ
"kiến thức độc quyền" về chuyện phòng the để bóc lột sức lao động của
Thi và Chủ. Chi tiết này mang tính hiện thực rất cao. Ngay trong thế giới của
những đứa trẻ, sự phân hóa xã hội đã hiện rõ: trong khi những đứa trẻ thật thà,
vô tư như Thi và Chủ phải hùng hục xay hết bao thóc này đến bao thóc khác, thì
những đứa trẻ "con ông cháu cha" như Thuận, Dậu lại sớm biết dùng đặc
quyền, mẹo vặt và sự khôn lỏi để trục lợi trên lưng bạn bè.
"Chuyện Ngủ" không có những biến
cố thắt nút, mở nút nghẹt thở, truyện trôi đi bằng những lời thoại tự nhiên như
hơi thở, bằng thứ ngôn ngữ bình dị của làng quê. Tác phẩm như một tấm vé khứ
hồi đưa mỗi chúng ta tìm lại đứa trẻ ngô nghê trong chính mình ngày xưa – cái
ngày mà thế giới còn nhỏ bé, còn đầy rẫy những bí ẩn chưa lời đáp, và tình bạn
thì luôn trong trẻo, sẵn sàng sẻ chia ngay cả những nỗi lo "trời sập"
nực cười nhất.
*.
PHƯƠNG VIỆT KHÁNG
Địa chỉ: Lô nhà số 5, phường Trần Hưng Đạo,
thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh
CẢM NHẬN KHI NGHE ĐỌC
TRUYỆN “CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ”
Nghe đọc truyện “CHUYỆN CỦA GÃ KHỜ”, tôi rất thích giọng đọc KHỀ
KHÀ TRUYỆN một chất giọng diễn cảm truyền tải được tình cảm nội dung câu chuyện
đến với bạn nghe đọc.
Truyện "Gã Khờ" của Đặng Xuân Xuyến đã vẽ
lên bức tranh xã hội với đủ màu sắc hiện thực và sinh động, trong đó đồng tiền
đã chi phối hết thảy.
GÃ KHỜ từ một ông chủ giầu có đã từng "vụt sáng chói loá trong mắt mọi người" đã từng trên đỉnh vinh
quang, chỉ vì quá thương người, quá tình nghĩa, quá nhân từ mà đã mất hết tài
sản, hạnh phúc, trở thành kẻ trắng tay. Vì mưu sinh tồn tại mà tha hoá biến
chất thành "điếm đực nổi tiếng đất
Hà Thành". Vì sức mạnh "tối thượng" của đồng tiền mà thằng
bạn từ thủa thơ bé bần hàn, nghèo khó được GÃ KHỜ thương cảm giúp đỡ tiền bạc
làm ăn, trở nên giầu có. Bị loá mắt bởi đồng tiền, dục vọng tham lam độc ác nổi
lên, hắn đã bí mật bỏ hàng lậu vào kho hàng của GÃ KHỜ. Kết cục GÃ KHỜ bị bỏ
tù. Khi ra tù rách nát te tua: "chiều
qua hắn gặp thằng bạn nối khố để đòi lại số tiền hắn cho vay mấy năm trước".
Không những không trả mà thằng bạn khốn kiếp còn tráo trở lật lọng lăng nhục
gã: "thằng bạn nhướng đôi lông mày
thô đậm xoăn tít, nhìn hắn từ đầu tới chân rồi hô hố cười, bảo hắn là thằng
khùng, nếu đói quá không có chỗ xoay sở thì cầm lấy vài chục ngàn mà đắp đổi
qua ngày. Việc gì phải diễn trò ngớ ngẩn thế.". Chưa hết, khi gã phản
bác lại "thằng bạn còn hất hàm về
phía tủ bát bảo hắn đập ra lấy vài mảnh mà rạch mặt". Thật ghê tởm cho
thằng bạn, đậm chất phần CON thiếu vắng phần NGƯỜI. Gã đành ngậm đắng nuốt cay
lê bước tìm về ngôi nhà ngoại ô trước đây giao cho đứa em kết nghĩa trông coi.
Ở đây ta lại bắt gặp sự ngự trị đảo điên của đồng tiền. Cậu em kết nghĩa khi
xưa là "thằng bé đánh giầy nhem
nhuốc", trung thực và tự trọng nhặt được ví tiền đã trả lại GÃ KHỜ,
"làm lòng hắn ấm lại, hắn rút ví
thưởng cho nó trăm ngìn nhưng thằng bé khăng khăng không nhận" điều đó
khiến GÃ KHỜ cảm động quyết định nhận thằng bé là em kết nghĩa, nuôi nấng, cho
ăn học tử tế. Việc này đã làm hạnh phúc gia đình gã tan vỡ, vì người vợ không
chịu nổi con người đứa em kết nghĩa khi nhận thấy nó không phải "người có trước có sau. Đàn ông gì mà ngồi
nói chuyện mắt cứ cụp xuống không dám nhìn thẳng vào người đối diện",
vậy mà GÃ KHỜ vẫn cưu mang cậu em đến khi đỏ da thắm thịt cuộc sống đủ đầy sung
túc nó đã cướp trắng ngôi nhà của ông anh, người đã cứu cuộc đời mình, khi anh
ra tù tay trắng. "Em biết anh sẽ nói
gì" “Vâng nhà này mua bằng tiền
của anh" nhưng em đã làm sổ đỏ đứng tên chủ sở hữu". Cũng may
thần kinh gã còn vững chứ phải người khác chắc đến vỡ tim mà chết.
Thật trớ trêu! Trong bối cảnh ấy, chỉ có chú chó là ân tình với
ông chủ của mình là GÃ KHỜ, nó cuống quýt "... Có vẻ mừng lắm cứ chạy loăng quăng quanh hắn, thi thoảng lại nhoài hai
chân phía trước cúi xuống liếm liếm hai bàn chân của hắn" đúng với cái
tên "Nghĩa Tình" mà ông chủ đã đặt cho nó. Thật nghịch cảnh.
Đắng lòng và chua xót, khi đọc đến đây, ta thấy sự đểu cáng của
thằng bạn nối khố, sự vô ơn của thằng bé đánh giầy lên ngôi, đè bẹp, dẫm nát sự
tử tế, nhân hậu, thiện lành của GÃ KHỜ xuống bùn nhơ. Mặc dù trong lúc mua vui
và thoả mãn cơn khát dục tình cuồng điên của mụ đàn bà đẹp lắm tiền nhiều của,
vợ của thằng "đẹp trai và tài giỏi"
nhưng nhu nhược, trong thâm tâm GÃ cũng thấy căm ghét, "kinh tởm kiếp trai nhục nhã" ê chề
"của kẻ bán mình" như hắn. Đọc đến đây tôi đã rơi nước mắt, đau đớn
xót thương cho thân phận một con người chỉ vì quá nhân từ, tốt bụng, đã mất hết
trở thành kẻ bần hàn cơ cực, và trong con mắt người đời, những điều tốt đẹp nơi
hắn, trở thành thứ bị coi thường cười chê, và hắn là người ngu dại khạo khờ.
Nhưng may mắn thay trong đêm đen tối vẫn còn loé lên thứ ánh
sáng của sự cao đẹp thiện lương. GÃ KHỜ gặp lại người thanh niên thủa xưa cách
đấy 12 năm GÃ đã hai lần vô tư ra tay giúp đỡ rồi quên luôn. Người thanh niên
sau này trở thành một mạnh thường quân rất giầu. Vì cảm kích biết ơn việc làm
trượng nghĩa năm xưa với mình, anh đã thay trời hành đạo, trừng trị những kẻ
táng tận lương tâm, lấy lại tài sản và cuộc đời cho GÃ KHỜ. Mới hay, quy luật nhân
quả vẫn hiện hữu trong cuộc đời này. Câu chuyện kết thúc có hậu: ở hiền sẽ gặp
lành. Người sống tốt nhân đức tử tế sẽ được đền đáp. Phải chăng? Đấy là ước mơ
của tác giả, và cũng là ước mơ của mọi người trên khắp thế gian này. Với giọng
văn tưng tửng, không lời lẽ giáo huấn luân lí đạo đức, nhưng người đọc phải suy
ngẫm rất nhiều, nhất là trong xã hội Việt Nam hiện nay, sự thờ ơ vô cảm với nỗi
đau của đồng loại luôn thường trực, đạo đức, nhân phẩm xuống cấp, sự xảo trá,
thủ đoạn mưu mô đen tối vẫn luôn tồn tại. Câu chuyện rất hay!
Cám ơn tác giả./.
*
Hạ Long, 12 tháng 01 năm 2022
TRỊNH THỊ NHÂM
Địa chỉ: số 14/04 tòa A chung
cư Trần Hưng Đạo Plaza
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
TRĂNG TRONG TRUYỆN NGẮN
“KIM YÊU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Một câu chuyện buồn nhưng lại nhắn gửi ta một thông điệp trong
cuộc sống đâu phải "Chuyện thường
ngày ở huyện" mà ta thường bỏ qua. Hàng ngày ta sống bên cạnh những
điều chân thực, giản dị, tốt đẹp, nhưng vì nó quá quen thuộc, quá gần gũi đến
mức ta chẳng nhận ra thậm chí coi thường. Chỉ đến khi ta trả giá quá đắt,
đánh mất mình vì sự tin yêu mù quáng thần tượng nhưng lại là những giả dối, hào
nhoáng hời hợt bên ngoài, ta mới chợt nhận ra đã để vuột mất những điều quý giá
vô ngần.
Vấn đề đưa ra trong truyện không mới, nhưng với cách hành văn
hấp dẫn, những nét hài hước dí dỏm khi tả về vẻ đẹp của Vinh: "Ban đầu tôi cũng đâu dại mà tin, cũng tức
giận khi nghĩ tới đôi chân vòng kiềng, cái mũi hếch và đôi môi cong tớn của
mình nhưng thằng Chủ cứ một hai bảo cả xã chẳng có ai chân thẳng như tôi, con
Kim còn quả quyết mũi tôi thực ra đâu có cong, nhìn còn đẹp là đằng khác... Tôi
rộn ràng niềm tin mình đẹp trai nhất xã từ đó, từ hồi mới 13, 14 tuổi".
Đan xen với cảm xúc rung động của tuổi mới lớn ngơ ngẩn chân thành mơ mộng với
kết cục buồn. Lòng ta lắng lại thương cảm cho "Kim yêu" và tiếc cho
Vinh chàng trai chân quê yêu cô tha thiết.
Ấn tượng nhất là hình ảnh ẩn dụ - trăng: người ta thường ví
trăng với người con gái. Và ở đây lần lượt trăng xuất hiện biểu đạt nỗi lòng
của Kim, sự diễn biến tình cảm tâm tưởng từ lúc là thiếu nữ hồn nhiên trong
trắng đến khi vướng vào cuộc tình lầm lỡ. Và là tình yêu chân thành của Vinh:
anh thao thiết dõi theo Kim, đồng cảm cùng Kim. "Bữa đó, chưa phải trăng ngày rằm nhưng trăng sáng đẹp", Kim
vẫn thơ ngây trong sáng lành lặn. Bữa khác, vẫn “chưa phải trăng ngày rằm nhưng
trăng cũng đẹp tựa trăng bữa trước" nhưng Kim có chuyện rồi: "Vẫn cười. Vẫn nói, nhưng sao mà buồn mà ngơ
ngác đến vậy, hở Kim? Cả tối, tôi nhìn trăng uể oải rắc sáng. Cả tối tôi im
lặng bên Kim". Khi Kim nhận ra mình đã mang trong bụng đứa con của kẻ
sở khanh là Hoạt. Cô tuyệt vọng, đau đớn, tiều tụy thì: "trăng cữ rằm mà sao héo úa". Đúng!
Kim đang ở độ tuổi mơn mởn trăng tròn rộ đẹp. Cái tuổi quý nhất, đẹp nhất của
người con gái, vậy mà cô mất hết, mất vì một kẻ phóng đãng. Không thể cam chịu
nhẫn nhịn sự tuyệt tình chối bỏ trách nhiệm của kẻ "ăn bánh chạy làng". Cô mạnh mẽ quyết liệt phải tìm cho ra kẻ
đã bỏ cô, bỏ giọt máu của hắn sau khi đã "no xôi chán chè". Dù hắn chẳng xứng đáng với cô, cô cóc cần,
nhưng cô bắt hắn phải có trách nhiệm, con cô cần có bố và lại trăng: "Trăng qua rằm. Sáng vằng vặc".
Câu chuyện cũng chuyển tải tiếp một điều: Hỡi những cô gái tuổi
đầu đời khi yêu hãy thận trọng với đối tượng mà mình trao thân gửi phận. Và nếu
trót lỡ lầm hãy đứng dậy ngẩng cao đầu mà sống mà làm lại cuộc đời.
Một câu chuyện gợi nhiều suy ngẫm!
*.
TRỊNH THỊ NHÂM
Địa chỉ: số 14/04 tòa A chung
cư Trần Hưng Đạo Plaza
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Email: trinhnham52@gmail.com
VÀI CẢM NHẬN NHÂN ĐỌC "HỒN NHIÊN
KIỂU PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC"
"Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức"
này đáng chú ý ở giọng văn bộc trực, không né tránh, phơi bày một cách trần
trụi những góc khuất tâm lý của một cá nhân khao khát sự công nhận. Đặng Xuân
Xuyến đã thành công trong việc xây dựng hình ảnh Paul Nguyễn Hoàng Đức như một
"gã hề" bi kịch, mà sự "hồn nhiên" của ông không phải là sự
ngây thơ trong sáng, mà là sự thiếu ý thức phản tỉnh về bản thân và môi trường
xung quanh.
Nghệ thuật sử dụng dẫn chứng là điểm mạnh của bài viết. Tác giả
không chỉ nói suông mà đưa ra các ví dụ cụ thể, từ việc Paul Đức "sướng
điên lên" vì lời khen "nhà triết học mang gương mặt hoàng đế",
cho đến những ấm ức, cay cú vụn vặt khi không đạt được giải thưởng hay bị
"lờ" đi. Những chi tiết này có giá trị làm bằng chứng, giúp luận điểm
của tác giả trở nên thuyết phục và chân thực.
Sự so sánh song song với các nhân vật khác như nhà thơ Đỗ Hoàng
hay nhà văn Đông La càng làm nổi bật tính cách Paul Nguyễn Hoàng Đức, đặt ông
vào một hệ quy chiếu chung của một nhóm tác giả có chung đặc điểm: tự phong
tước hiệu, háo danh và sẵn sàng công kích người trái ý. Điều này mở rộng phạm
vi bài viết, biến nó từ một phê bình cá nhân thành một hiện tượng xã hội nhỏ
trong giới văn chương Việt Nam.
Tuy nhiên, bài viết vẫn còn vài điểm gây tranh cãi. Giọng văn
quá đà và có phần gay gắt, nhiều đoạn mang tính chất mỉa mai, có thể khiến
người đọc đặt câu hỏi về tính khách quan tuyệt đối của người viết. Mặc dù vậy,
chính sự quyết liệt trong giọng văn lại tạo nên sức hấp dẫn và sự chân thành
của Đặng Xuân Xuyến, cho thấy một cái nhìn thấu đáo và không thỏa hiệp trước
những biểu hiện tiêu cực.
Tóm lại, "Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức"
là một bài phê bình sắc sảo, táo bạo, là lời cảnh tỉnh về sự háo danh, về ranh
giới mong manh giữa tài năng và ảo tưởng, và về tầm quan trọng của sự khiêm
tốn, tự trọng trong văn chương và cuộc sống. Nó không chỉ phê phán một cá nhân
mà còn phản ánh một thực trạng văn hóa đáng suy ngẫm trong bối cảnh truyền
thông xã hội.
*.
Tác giả: Nguyễn Văn
bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến ngày 28 tháng 11 năm
2025 ở bài "Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức".
PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC -
CÁ
TÍNH PHỨC TẠP CỦA THÓI HÁO DANH
Hình tượng nhân vật trung tâm trong bài "Hồn
nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức" của Đặng Xuân Xuyến, được khắc
họa bằng những nét biếm họa sắc lạnh, lột trần một cá tính phức tạp: bên ngoài
là sự "chân thật đến hồn nhiên", bên trong lại chứa đầy những thói tật
cố hữu của thói háo danh. Đây không đơn thuần là một chân dung cá nhân, mà là
một lát cắt điển hình của giới văn nghệ sĩ thời đại 4.0.
Giá trị phê bình nằm ở cách tác giả bóc tách từng lớp tính cách
của Paul Nguyễn Hoàng Đức:
Thứ nhất, bệnh háo danh
đến mức mất khả năng phân biệt thực hư:
Nhân vật này hiện lên như một kẻ nghiện lời khen. Sự "sướng
bần thần" hay việc "ngất ngây" đi khoe danh xưng "Nhà triết
học mang gương mặt hoàng đế" – một danh xưng rõ ràng mang tính chất bông
đùa xã giao – đã tố cáo một khao khát được công nhận mãnh liệt đến mức mù
quáng. Đó là sự nhầm lẫn tai hại giữa giá trị thực chất và sự tâng bốc hời hợt,
một căn bệnh phổ biến trong thời đại ai cũng có thể tự phong cho mình một danh
hiệu trên mạng xã hội.
Thứ hai, sự ngây thơ bị
đẩy đến mức lố bịch và thiếu văn hóa ứng xử:
Cái mác "thật thà đến hồn nhiên" của Paul Nguyễn Hoàng
Đức chỉ là tấm bình phong che đậy sự bộc trực thiếu tế nhị, phơi bày mọi
"ấm ức vụn vặt" của bản thân mà không màng đến sự chừng mực tối thiểu
trong giao tiếp. Sự "hồn nhiên như niềm tin ngây thơ của đứa trẻ" ở
đây không đáng yêu, mà đáng chê trách, gây ra cảm giác kệch cỡm, phi lý trong
hành xử của một người được cho là tri thức.
Thứ ba, một cái tôi
"quá khổ", bảo thủ và không khoan dung:
Nhân vật tự phụ đến mức tự nhận mình là người "tài thơ và
bình thơ bậc nhất nước Việt Nam". Thái độ "ai tán dương thì mừng, ai
trái ý thì chửi cho sấp mặt" bộc lộ rõ tính cách hẹp hòi, không có khả
năng đối thoại văn minh. Đây là lời cảnh tỉnh về sự xuống cấp của văn hóa phê
bình trong giới văn chương, khi mà sự lắng nghe và phản biện lành mạnh bị thay
thế bằng thái độ cực đoan, độc tôn cá nhân.
Cuối cùng, sự nhỏ nhen,
tính toán chi li đến mức vô ơn:
Việc "cay cú tố" Nguyễn Quang Thiều vì trượt giải thơ,
hay thái độ "bỉ bôi" khi nhắc đến khoản tiền hỗ trợ, đã vạch trần một
nhân cách thiếu sự trân trọng, chỉ biết đo đếm mọi thứ bằng lợi ích cá nhân.
Lòng tốt của người khác khi đến tay nhân vật này bỗng trở nên rẻ rúng, bị quy
chụp thành mưu đồ, toan tính.
Tóm lại, qua ngòi bút sắc
bén của Đặng Xuân Xuyến, Paul Nguyễn Hoàng Đức hiện lên như một "gã
hề" đáng thương hơn đáng trách. Bài viết không chỉ nhằm vào một cá nhân mà
mổ xẻ một hiện tượng xã hội, nơi sự háo danh và thói tự phụ đang làm lu mờ đi
những giá trị văn hóa, nhân cách cốt lõi của người cầm bút.
*.
Tác giả: Ẩn Danh
bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến ngày 28 tháng 11 năm
2025 ở bài "Hồn nhiên kiểu Paul Nguyễn Hoàng Đức".
TRẦN ĐĂNG KHOA QUA LĂNG KÍNH
ĐỜI THƯỜNG CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Trong bài viết "Chắc là chuyện giai thoại",
Đặng Xuân Xuyến chọn một lối kể chuyện mang đậm chất trà dư tửu hậu để phác họa
những góc khuất đời thường của "thần đồng" Trần Đăng Khoa. Thay vì
những lời tụng ca hay phê bình trực diện về văn chương, tác giả đi sâu vào
những chi tiết nhỏ nhặt, những lời đồn thổi và những lần va chạm thực tế để gợi
mở một hình ảnh rất khác về người nghệ sĩ.
Cái hay của bài viết nằm ở sự lấp lửng đầy duyên dáng của cách
kể chuyện, ở sự đan xen giữa những gì tác giả trực tiếp chứng kiến và những lời
kể gián tiếp từ bạn bè văn giới. Đặng Xuân Xuyến không vội tin ngay những lời
đồn thổi "quái chiêu" từ giới văn nghệ như nhà văn Nguyễn Quang Vinh
hay nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến, mà ông thường khởi đầu bằng sự ngờ vực, bằng
cái tâm thế của một kẻ muốn bao bọc cho thần tượng trước những câu chuyện có
phần "quái" về Trần Đăng Khoa. Nhưng rồi, chính con mắt tinh tường
của một gã làm nghề kinh doanh sách, cái nhìn tỉ mỉ của người va chạm với thực
tế đã đẩy ông vào những cuộc đối diện không thể chối từ.
Bút pháp của bài viết mang tính "giải huyền thoại" một
cách nhẹ nhàng nhưng thấm thía. Hình ảnh một nhà thơ Trần Đăng Khoa nổi tiếng
bỗng hiện lên với những nét tính cách rất "đời": sự cẩn trọng đến mức
cực đoan trong giao tiếp với phụ nữ để giữ gìn danh tiếng, hay sự sắc sảo, tính
toán chi li trong chuyện bản quyền và nhuận bút. Những chi tiết này có thể
khiến người yêu mến "thần đồng" thơ ca cảm thấy hụt hẫng, nhưng ở góc
độ nào đó, nó lại kéo một thần tượng từ trên cao xuống gần hơn với mặt đất, với
những lo toan cơm áo gạo tiền và bản năng tự vệ của một con người.
Dẫu vậy, khi khép lại những trang viết này, người đọc có lẽ cũng
nên dành một khoảng lặng để nhìn nhận sự việc một cách thấu đáo và bao dung
hơn. Những mẩu giai thoại được kể lại, đặc biệt là những lời nhận xét có phần
gai góc từ người khách lạ ở cuối bài, vốn dĩ chỉ là những cảm nhận cá nhân mang
đậm màu sắc nhất thời. Có lẽ, Đặng Xuân Xuyến không có ý định định danh một
nhân cách, mà chỉ đơn thuần muốn ghi lại vài nét ký họa nhanh về những góc
khuất đời thường đầy bộn bề. Đó chỉ là những lát cắt vụn vặt của cuộc sống
thường nhật, hơn là một bức chân dung toàn diện để soi chiếu vào sự nghiệp và
tầm vóc của một nhà văn vốn đã định hình trong lòng công chúng.
Sau cùng, bài viết để lại một cảm giác bâng khuâng về khoảng
cách giữa tác phẩm và tác giả. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, phía sau những vần
thơ trong trẻo hay những trang văn sắc sảo, người nghệ sĩ vẫn là một cá nhân
với đầy đủ những ưu điểm và khiếm khuyết, những khôn ngoan và cả những nỗi sợ
rất người. Đặng Xuân Xuyến không hẳn là phê phán, mà có lẽ ông chỉ muốn ghi lại
một lát cắt thực tế, nơi mà ánh hào quang của danh tiếng đôi khi phải đối mặt
với những góc cạnh trần trụi của cuộc sống thường nhật.
*.
Tác giả Ẩn Danh
bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến ngày 15 tháng 04 năm
2026 ở bài “Chắc là chuyện giai thoại”.
ĐỌC LẠI "VÀI CẢM NHẬN VỀ PHIM
BỐ GIÀ" CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Giữa vô số những bài phê bình phim đầy rẫy thuật ngữ chuyên môn
hay những lời tán dương sáo rỗng trên mặt báo, bài viết của tác giả Đặng Xuân
Xuyến về bộ phim Bố Già (Web drama) của Trấn Thành hiện lên như một
nốt trầm khác biệt. Không đứng ở vị thế của một nhà lý luận hàn lâm để mổ xẻ,
Đặng Xuân Xuyến nhìn bộ phim bằng đôi mắt của sự trải đời và trái tim của một
người bố. Những cảm nhận của ông không chỉ dừng lại ở việc bóc tách cái hay,
cái dở của một sản phẩm giải trí, cũng không chỉ là một bản "giải mã"
kỹ thuật điện ảnh mà còn là một bức tâm thư đầy tinh tế, kết nối giữa thực tại
nghiệt ngã của nghệ thuật thương mại và vẻ đẹp vĩnh cửu của tình thân.
1. Một cái nhìn trực
diện vào "cỗ máy" điện ảnh thương mại
Mở đầu bài phê bình, tác giả Đặng Xuân Xuyến không ngần ngại bóc
tách lớp vỏ hào nhoáng của một "hiện
tượng mạng". Ông nhìn nhận bộ phim Bố Già (web drama) một
cách tỉnh táo: Đó là một sản phẩm "đậm
đặc chất thương mại". Tác giả đã dùng nhãn quan của một người quan sát
xã hội để thấy được sự "bày binh bố trận" của nhà sản xuất, nhà biên
kịch Trấn Thành – từ việc "đo chân
đóng giày" cho dàn sao đến cách lồng ghép quảng cáo.
Tuy nhiên, sự khắt khe ấy không nhằm mục đích phủ nhận tài năng
của Trấn Thành. Ngược lại, tác giả Đặng Xuân Xuyến đề cao sự chuyên nghiệp
trong tư duy biên kịch của Trấn Thành. Tác giả chỉ ra một chân lý giản đơn
nhưng ít người làm được: Phim Việt chỉ có thể kéo khán giả trở lại khi nó mang
được "hơi thở thực của cuộc sống".
Chính những "lát cắt phổ cập"
về gia đình mà tác giả Đặng Xuân Xuyến nhắc đến đã tạo nên nhịp cầu đồng cảm
giữa tác phẩm và công chúng.
2. Sự công tâm trong
bút pháp phê bình: Giữa ranh giới Bi và Hài
Điểm tạo nên sức nặng cho bài viết chính là sự sòng phẳng trong
đánh giá diễn xuất. Giữa cơn bão lời khen dành cho Trấn Thành tại thời điểm đó,
Đặng Xuân Xuyến đã có những nhận định rất sắc sảo về kỹ thuật biểu hình. Ông
thẳng thắn chỉ ra sự "đuối" của nam chính trong các phân đoạn nội tâm
sâu sắc, nơi mà kỹ thuật diễn bi chưa khỏa lấp được sự cứng nhắc của gương mặt
khi quay cận cảnh.
Sự phân tích về cú đấm "nửa vời" của ông Thành dành
cho Sang là một chi tiết phê bình đắt giá. Ở đó, tác giả Đặng Xuân Xuyến không
chỉ xem phim bằng mắt, mà xem bằng cả sự thấu hiểu về tâm lý học hành vi. Ông
nhìn thấy trong sự "nhu nhược" của nhân vật trên màn ảnh một sự chênh
vênh so với ý đồ kịch bản, nhưng cũng chính từ sự soi chiếu khắt khe đó, ông
lại mở lòng đón nhận những khoảnh khắc thăng hoa thực sự của diễn viên Trấn
Thành ở những phân đoạn cuối phim. Đây chính là tinh thần của một nhà phê bình
có tâm: chê để xây dựng, khen để khích lệ và luôn kiếm tìm sự chân thực trong
nghệ thuật.
3. Phía sau con chữ:
Tiếng lòng của một người cha
Điều làm nên linh hồn cho bài viết này, biến nó thoát khỏi một
bài điểm phim thông thường, chính là sự kết nối kỳ diệu giữa màn ảnh và cuộc
đời. Bài viết được ra đời vào lúc 2 giờ sáng - thời điểm của những suy tư chân
thật nhất - sau khi tác giả Đặng Xuân Xuyến bắt gặp dòng trạng thái "nhớ
Bố" của con trai mình.
Chúng ta bắt gặp ở đây một sự giao thoa cảm động: Đặng Xuân
Xuyến xem phim để hiểu về nhân vật ông Thành, nhưng đồng thời cũng là để thấu
hiểu cảm xúc của chính con trai mình - Đặng Tuấn Hưng. Khi Đặng Tuấn Hưng
viết "Xem Bố Già thấy nhớ Bố
quá", đó không chỉ là lời khen cho bộ phim, mà là lời tự tình của một
người con đang sống xa nhà. Và bài phê bình này chính là câu trả lời của người
bố.
4. Lời kết: Ngọn lửa
nghề và tình phụ tử
Tổng kết lại, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến là một sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lý tính và tâm hồn cảm tính. Nó nhắc nhở chúng ta
rằng, nghệ thuật dù có thương mại đến đâu, cuối cùng vẫn phải quay về phục vụ
những giá trị nhân bản cốt lõi.
Hơn cả một bài bình luận phim, những dòng chữ này còn mang theo
cả kỳ vọng và niềm tin mà tác giả Đặng Xuân Xuyến dành cho cậu con
trai Đặng Tuấn Hưng. Giữa mảnh đất phương Nam đầy nắng gió, khi cậu con
trai Đặng Tuấn Hưng đang nỗ lực rèn luyện tại trường Đại học Sân khấu -
Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, bài viết của người bố chính là một "giáo
án" sống động về sự khắt khe, công tâm và tử tế với nghề. Có lẽ, tác giả Đặng
Xuân Xuyến viết về cái hay, cái dở của nhà sản xuất kiêm nhà biên kịch, diễn
viên Trấn Thành hay diễn viên Tuấn Trần cũng là cách để ông gửi gắm cho cậu con
trai Đặng Tuấn Hưng bài học về sự dấn thân: Nghề diễn không chỉ cần ánh hào
quang, mà cần cả những giọt nước mắt thực sự và một tâm hồn biết rung động
trước những nỗi đau đời thường.
Phía sau những nhận định sắc sảo ấy là ánh mắt dõi theo đầy tự
hào và yêu thương của một người cha, mong con mình mai này cũng sẽ tạo ra những
"lát cắt sự sống" chân thực như thế trên thánh đường nghệ thuật.
*.
Tác giả: Nguyễn Văn
bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến ngày 08 tháng 04 năm
2026 ở bài “Vài cảm nhận khi xem phim “Bố già” (web drama) của Trấn Thành”.
ĐÔNG LA QUA BÀI VIẾT
CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Đọc bài viết SỰ “THẬT THÀ” CỦA NHÀ VĂN ĐÔNG LA của Đặng Xuân
Xuyến, tôi không khỏi thấy rùng mình trước một bức tranh nhân tình thế thái
được lột tả qua những con chữ đầy gai góc. Đây không chỉ đơn thuần là câu
chuyện về những mâu thuẫn cá nhân giữa Đông La (Nguyễn Văn Hùng) và Nguyễn
Quang Thiều, mà sâu xa hơn, nó là một cuộc giải phẫu đau đớn về cái gọi là
"đức tính thật thà" của người cầm bút.
Cái "thật thà"
mà tác giả nhắc đến về Đông La mang một sắc thái rất lạ: nó vừa mãnh liệt đến
mức cực đoan, vừa sỗ sàng đến mức trần trụi. Ở giai đoạn đầu, khi tình bạn còn
mặn nồng, Đông La không tiếc lời "tạc tượng" cho Nguyễn Quang Thiều
bằng những mĩ từ lóng lánh nhất, tôn vinh trí tưởng tượng của bạn là "đầu bảng", là "khao khát của cả thời đại". Sự
"thật thà" lúc ấy là sự dấn
thân quyết liệt, là cái cúi mình còng rạp để đẩy xe hoa cho đồng nghiệp. Nhưng
trớ trêu thay, cũng chính sự "thật
thà" ấy, khi bị vướng tự ái cá nhân và những toan tính quyền lợi không
thành, đã lập tức "bẻ lái"
sang một thái độ hằn học, phản cảm.
Sự chuyển biến từ một "tượng
đài" sang một kẻ "thiếu văn
hóa, mất nhân tính" trong ngòi bút của Đông La diễn ra nhanh đến mức
khiến người đọc phải chóng mặt. Tác giả Đặng Xuân Xuyến đã rất tinh tế khi chỉ
ra rằng: Đông La không hề che giấu sự thay đổi đó. Ông công khai, ông hét toáng
lên cho thiên hạ thấy mình đang trả đũa, đang hỗ trợ người khác tố cáo bạn cũ.
Đó là một kiểu "thật thà"
bản năng, thiếu sự tiết chế của lý trí và sự bao dung của một tâm hồn nghệ sĩ
đích thực.
Cái cay đắng nhất trong bài viết này chính là sự sụp đổ của một
biểu tượng tri âm. Người ta tự hỏi, nếu một nhà văn có thể dùng những lời
"đầu đường xó chợ" để thóa
mạ người mà mình từng tôn thờ, thì rốt cuộc giá trị của những lời tụng ca trước
đó nằm ở đâu? Phải chăng văn chương, dưới bàn tay của sự hằn học, đã trở thành
một thứ công cụ rẻ rúng để người ta thanh toán nợ nần tình cảm?
Đặng Xuân Xuyến không chọn cách phán xét gay gắt, nhưng cái kết
bài về "những cái nhếch mép, cười
khẩy" của độc giả lại có sức nặng hơn ngàn lời giáo huấn. Nó nhắc nhở
chúng ta rằng, trong thế giới của ngôn từ, sự thật thà mà thiếu đi nhân cách và
sự điềm tĩnh thì chỉ còn là sự thô lỗ. Khi người viết để lộ ra quá nhiều sự cay
cú, họ không làm hại được đối phương bao nhiêu, mà trước hết, họ đã tự làm vẩn
đục chính hình ảnh của mình trong mắt công chúng.
Bài viết này thực sự là một nốt lặng buồn, buộc chúng ta phải
suy ngẫm về khoảng cách mong manh giữa cái tâm của người cầm bút và những bản
năng tầm thường của con người thế tục.
*.
TRẦN HẢI SƠN
Địa chỉ: Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội.
ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ TRIẾT LÝ
NGŨ HÀNH THỰC CHỨNG
Đọc những tiểu luận của tác giả Đặng Xuân Xuyến về Ngũ hành và
Tử vi, người ta không thấy cái vẻ thần bí, hù dọa thường gặp ở các thầy tướng
số mà lại thấy bóng dáng của một trí thức đang ưu tư về nhân sinh. Cống hiến
lớn nhất của ông chính là việc gạn đục khơi trong cổ học phương Đông bằng nhãn
quan thực chứng, giúp hóa giải cái gọi là "mê hồn trận" vốn làm nản
lòng bao thế hệ người học lý số.
Quan điểm của Đặng Xuân Xuyến thực chất là một lối
sống: "Thuận Thiên ứng Mệnh" – một cách tiếp cận rất đời và
rất văn minh. Ông đã "giải ảo" phong thủy khi khẳng định rằng linh
khí không nằm ở những khối đá hay linh vật mạ vàng, mà nằm ngay trong cốt cách
con người. Ông trả Ngũ hành về đúng bản chất: một thực thể biến sinh từ hai khí
Âm - Dương, gắn liền với ngũ đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Một người hành Kim
không chỉ mang mệnh Kim, mà phải là người sống có Nghĩa. Ông ví mỗi ngôi nhà,
hay cung Điền Trạch, như một cái "giỏ" đựng phúc báo. Nếu tâm không
sáng, đức không dày thì cái giỏ ấy vốn đã thủng đáy; khi đó, dù có cố tìm thế
đất "tựa sơn hướng thủy" cũng chỉ như dã tràng xe cát.
Sự sắc sảo của tác giả còn nằm ở việc ông quyết liệt bài trừ
những ảo tưởng "di cung hoán số" hay lễ nghi biến tướng. Ông ví von
đầy thực tế: Nếu Thiên mệnh của anh chỉ là một ngôi nhà cấp bốn, đừng mơ dùng
bùa chú mà biến nó thành lâu đài. Cách tử tế nhất là hãy cầm chổi quét tước cho
sạch, sơn lại mảng tường bong tróc, trồng thêm vài nhành cây để sống trọn vẹn
trong cái "định mức" của mình. Với ông, hiểu lý số giống như xem dự báo
thời tiết: biết mùa đông tới thì lo chuẩn bị áo ấm, biết hạn bủa vây thì bớt
lời, bớt tự mãn để gieo thêm duyên lành. Học Tử vi là để "biết mình biết
ta", sống thuận dòng chảy tự nhiên chứ không phải để mưu cầu vinh hoa mù
quáng.
Để hiện thực hóa triết lý đó, Đặng Xuân Xuyến đã công phu hệ
thống lại mối quan hệ "kiềng ba chân" giữa Đặc
tính - Âm Dương - Lý tính của Ngũ hành. Ông chỉ ra
những thực tế nghiệt ngã: Không phải cứ tương sinh là tốt (như quan hệ sinh
xuất - sinh nhập gây hao tổn), và không phải cứ tương khắc là tuyệt đường. Bằng
việc làm rõ vai trò của Nạp âm (lý tính), ông đã "cởi trói" cho nhiều
lá số. Ví dụ, Bình Địa Mộc gặp Thiên Hà Thủy thì xanh tốt, nhưng gặp Đại Hải
Thủy mặn chát thì chỉ có chết; hay cặp Bính Ngọ - Bính Thìn tưởng khắc mà thực
chất Sa Trung Thổ chẳng thể hại được nước mưa trời.
Cái nhìn của ông về Ngũ hành tương sinh, tương khắc và tương hòa
mang đậm tính thực chứng, thoát ly khỏi lối suy diễn khiên cưỡng. Tác giả đã
chỉ ra một thực tế nghiệt ngã mà nhiều người thường bỏ qua: không phải cứ tương
sinh là tốt. Ông dẫn chứng bằng khái niệm sinh xuất và sinh nhập để cảnh báo về
sự hao tổn. Như việc cha mẹ (sinh xuất) dốc cạn tâm sức để nuôi con (sinh
nhập), hành sinh xuất luôn phải chịu thiệt thòi. Trong ứng dụng hôn nhân, ông
đưa ra một quan điểm rất đáng suy ngẫm khi cho rằng bản mệnh người vợ sinh xuất
cho chồng mới là "vượng phu ích tử", một sự hy sinh âm thầm nhưng
mang lại sự viên mãn cho gia đạo.
Đặc biệt, Đặng Xuân Xuyến đã có công lớn khi làm rõ vai trò của
Nạp âm Ngũ hành - cái mà ông gọi là "bản chất lý tính". Nếu không có
sự phân định rạch ròi này, người ta sẽ rơi vào những kết luận sai lầm tai hại.
Hãy nhìn cách ông dẫn chứng về sự tương tác giữa Thủy và Mộc: Bình Địa Mộc (cây
đất bằng) gặp Thiên Hà Thủy (nước trời mưa) thì xanh tốt, nhưng nếu gặp Đại Hải
Thủy (nước biển mặn) thì chỉ có con đường chết. Hay như cặp tuổi Bính Ngọ và
Bính Thìn, nếu chỉ nhìn bề ngoài thì là Thổ khắc Thủy (xấu), nhưng soi chiếu
vào nạp âm, Sa Trung Thổ (đất trong cát) chẳng những không hại được Thiên Hà
Thủy (nước trời mưa) mà còn bị nước làm tan rã. Cách tiếp cận này của ông đã
"cởi trói" cho những lá số vốn bị coi là xung khắc nhưng thực tế lại
có sự bổ trợ ngầm định.
Phần cống hiến về quy luật chế hóa và tương hòa đã thể hiện đỉnh
cao trong tư duy hệ thống của tác giả. Ông không chấp nhận sự tương hòa vô
nghĩa theo kiểu "Dương Thổ gặp Dương Thổ". Với ông, sự hòa hợp thực
sự phải thuận lý Âm Dương: một Âm một Dương mới tạo nên sự phù trợ đắc lực.
Ngay cả sự tương hòa cũng có thể dẫn đến diệt vong nếu không hiểu về lý tính,
như cách ông ví von "Lưỡng Hỏa thì Hỏa diệt" – khi Sơn Hạ Hỏa bị Tích
Lịch Hỏa triệt tiêu ánh sáng.
Điều khiến các bài viết của ông có sức nặng chính là thái độ làm
việc của một nhà khoa học. Khi viết về một ngôi sao như sao Mộc Dục, ông không
chỉ trích dẫn cổ thư mà đưa ra khảo sát thực tế trên hàng chục lá số để rút ra
đặc tính thực sự. Chính sự tỉ mỉ và tính thực chứng này đã làm "mềm"
đi những lý thuyết khô khan, biến bộ môn vốn xa vời trở thành công cụ gần gũi
để mỗi người nhìn lại mình và điều chỉnh hành vi hằng ngày.
Tựu trung lại, những bài viết của Đặng Xuân Xuyến đã làm mềm đi
lượng thông tin khô cứng của cổ thư bằng những ví dụ sinh động và logic chặt
chẽ. Ông không dạy người ta mê tín, ông dạy người ta cách "soi đường"
bằng lý số. Bằng cách hội tụ đủ 3 yếu tố Đặc tính, Âm
Dương và Lý tính, ông đã cung cấp một chiếc chìa khóa vạn năng để độc
giả có thể tự mình bóc tách những tầng lớp phức tạp của số phận một cách khoa
học, tỉnh táo và nhân bản nhất.
*
ĐỖ VIỆT PHƯƠNG
Địa chỉ: Khu Tập thể đóng tàu
Bạch Đằng,
An Dương, Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
SỰ PHẢN TRẮC CỦA CÁI TÔI TỰ LUYẾN
VÀ BI KỊCH "LƯU MANH HÓA"
TRONG PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Nhìn vào bức tranh văn đàn đương đại, hiếm có cuộc đối đầu nào
lại phơi bày những góc khuất trần trụi và đau đớn như cách Đặng Xuân Xuyến đang
"giải phẫu" chân dung Đông La. Đây không đơn thuần là một cuộc cãi vã
trên mạng xã hội, mà là một bản cáo trạng đanh thép về sự băng hoại đạo đức của
một người cầm bút, nơi mà ranh giới giữa phê bình nghệ thuật và công kích cá
nhân đã bị xóa nhòa bởi những cơn sang chấn của lòng tự luyến.
Điểm khởi đầu cho sự đổ vỡ niềm tin chính là tính bất nhất trong
hệ thống tri thức của Đông La. Khi một nhà phê bình tự đắc thừa nhận mình từng
ca ngợi Nguyễn Quang Thiều "như điên"
dù "không hiểu", "không đọc kỹ" vì "dốt", ông ta đã tự tay ký vào bản
khai tử cho uy tín nghề nghiệp của chính mình. Trong thế giới của tư duy và chữ
nghĩa, sự trung thực là sợi dây bảo chứng duy nhất. Nếu hôm qua ông ta ca ngợi
vì sự thiếu hiểu biết, thì lấy gì đảm bảo rằng những lời thóa mạ hôm nay không
phải là kết quả của một sự nhầm lẫn tương tự, hoặc tệ hơn, là một sự bẻ cong
ngòi bút để phục vụ cho những toan tính cá nhân thấp hèn? Phê bình, khi ấy,
không còn là chiếc gương soi chiếu vẻ đẹp văn chương, mà trở thành một thứ công
cụ rẻ rúng, được nhào nặn tùy tiện theo nhiệt độ của các mối quan hệ.
Sự sâu sắc của bài viết còn nằm ở việc bóc trần lối "ngụy biện tầm vóc nhân loại" mà
Đông La đang bám víu. Việc một cá nhân tự đặt mình ngang hàng với Einstein hay
Trump để bao biện cho những sai lầm cá nhân là một biểu hiện lố bịch của hội
chứng ảo tưởng sức mạnh. Tác giả Đặng Xuân Xuyến đã rất tinh tế khi chỉ ra sự
đánh tráo khái niệm nguy hiểm này: Sai lầm của một thiên tài khoa học là sự trả
giá cho quá trình tìm kiếm chân lý khách quan, còn sự tráo trở của Đông La lại
là kết quả của một sự suy đồi về nhân cách chủ quan. Việc mượn danh vĩ nhân để
"sang trọng hóa" những hành
vi lưu manh không chỉ cho thấy sự đuối lý mà còn phơi bày một tâm thế tiểu
nhân, cố tìm cách ký sinh vào những biểu tượng lớn lao để che đậy sự trống rỗng
về đạo đức.
Đáng ghê tởm hơn cả là sự phản bội ân tình – một vùng tối nhạy
cảm nhất trong đạo lý làm người. Những chi tiết về sự chăm chút của gia đình
nhà thơ Nguyễn Quang Thiều dành cho Đông La trong những ngày "ăn chực ngủ nhờ", khi bị đáp lại
bằng những ngôn từ thô tục, bẩn thỉu, đã tạo nên một cú sốc văn hóa thực sự.
Cách Đông La ví von những kỷ niệm ân tình bằng hình ảnh ô uế không chỉ hạ thấp
người bị nói tới, mà còn tự đóng đinh chính ông ta vào vị trí của kẻ "vong ân bội nghĩa". Trong văn hóa
Việt Nam, việc "nhổ vào bát cơm mình
từng ăn" là tội đồ khó dung thứ nhất đối với một trí thức. Chính sự
tráo trở này đã lý giải vì sao giới văn nghệ sĩ tên tuổi lại chọn cách tránh xa
Đông La như tránh một "bãi xú uế".
Sự tẩy chay đó không phải là biểu hiện của sự yếu thế, mà là sự bảo vệ tối
thiểu dành cho sự sạch sẽ của không gian văn hóa.
Cuối cùng, khi những lớp mặt nạ chữ nghĩa bị lột bỏ, chân dung
một "vua phản thầy, phản bạn"
hiện lên đầy đủ thông qua những nhân chứng lịch sử. Từ việc mượn danh Chế Lan
Viên để đánh bóng tên tuổi đến việc xúc phạm gia đình những người từng cưu mang
mình, Đông La đã tự cô lập mình trong một ốc đảo của sự điên rồ và thù hận. Bài
viết của Đặng Xuân Xuyến không chỉ là lời phản đòn cá nhân, mà là một sự thanh
lọc cần thiết, nhắc nhở rằng văn chương không bao giờ có chỗ cho kẻ lưu manh tự
luyến. Bởi suy cho cùng, một ngòi bút không có đạo đức sẽ chỉ tạo ra những dòng
chữ sặc mùi tử khí, bị người đời ghê sợ và lịch sử lãng quên.
*.
Tác giả Ẩn Danh
bình luận trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến ngày 25 tháng 06 năm
2026 ở bài “Đông La: Kẻ lưu manh tự luyến”.
-----------------------------------
Đang cập nhật
Rất mong nhận được những góp ý chân thành từ bạn đọc dưới phần
bình luận hoặc gửi thư về email:
dangxuanxuyen@gmail.com - baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn
Đặng Xuân Xuyến trân trọng cám ơn!

Thông tin rất hữu ích cho cộng đồng
Trả lờiXóaTks admin đã chia sẻ !
CHÂN THÀNH CẢM ƠN !!!
kính ô tô giá rẻ