LẦN THEO HỒ SƠ
NHỮNG VỤ ÁN NỔI TIẾNG
(Tác giả: Phương Việt Kháng ; Nhà xuất bản Lao động - Xã hội)
BÀ MẸ 28 NĂM KIÊN CƯỜNG
MINH OAN CHO CON TRAI
Vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 31-1-1969, cảnh sát thành phố
Saskatoon, bang Saskatchwan, miền Đông Bắc Canada, đã phát hiện ra xác của Gail
Miller, một nữ điều dưỡng viên bệnh viện mới 20 tuổi, nằm chết gần trạm xe
buýt. Cảnh sát khám nghiệm tử thi thì được biết nạn nhân bị cưỡng hiếp rồi giết
chết bằng một con dao làm bếp mà thủ phạm đã vứt trong bụi rậm cách hiện trường
50m, trước khi tẩu thoát.
Một thời gian ngắn sau, cảnh sát chú ý đến hành tung của một
nhóm thanh niên lạ mặt gồm có David Milgaard 16 tuổi, Ron Wilson, Nichol John
đều 17 tuổi và Albert Cadrain 18 tuổi, từ thành phố Prine George bang Colombie
Britanique đến Saskatoon để du lịch trước hôm xảy ra án mạng đã vội rời khỏi
thành phố này vào trưa ngày 31-1-1969.
Cảnh sát Saskatoon lập tức được huy động lần theo dấu
vết của nhóm thanh thiếu niên này. Tháng 2-1969, họ đã tìm ra Albert Cadrain,
và cậu ta khai rằng cậu ta và các bạn đến Saskatoon du lịch rồi rời khỏi
thành phố này ngay hôm sau và chứng minh rằng mình hoàn toàn vô can trong vụ án
sát hại Gail Miller nên được loại ra khỏi diện nghi vấn. Tuy nhiên, vào tháng
4-1969, lúc cảnh sát loan tin sẽ thưởng một số tiền lớn cho bất kỳ ai cung cấp
thông tin về thủ phạm gây án tại Saskatoon vào ngày 31-1-1969 thì Cadrain liền
đến khai với cảnh sát rằng cậu ta có trông thấy nhiều vết máu dính trên quần áo
của bạn trong nhóm mình tên là David Milgaard vào hôm xảy ra án mạng. Ngay lập
tức, David bị liệt vào dạng nghi vấn số một.
Sang tháng 5-1969, cảnh sát cũng tìm ra được Ron Wilson và
Nichol John tại thành phố Prince George. Ngay sau đó, cả hai đều bị thẩm
vấn liên tục về nghi vấn liên quan đến vụ án mạng tại Saskatoon. Lúc đầu,
cả hai khăng khăng nói rằng mình cả người bạn David Milgaard đều vô tội. Tuy
nhiên, khi bị hăm doạ sẽ bị tạm giam trong thời gian dài về tội ngoan cố che
dấu thủ phạm thì cả hai đồng loạt khai rằng chính David đã dùng dao hăm doạ, cưỡng
hiếp rồi giết chết Gail Miller. Sau khi được di lý đến Saskatoon để
dựng lại hiện trường theo mô tả thì cả Ron Wilson lẫn Nichol John đều được trả
tự do.
Qua lời khai báo của ba nhân chứng này, Sở cảnh
sát Saskatoon ra lệnh truy nã đối với David Milgaard về tội cưỡng
hiếp rồi giết chết nạn nhân Gail Miller vào ngày 31-1-1969. Trước hết, cảnh sát
đến tận gia đình của David ở thành phố Langenburg để báo tin về nghi vấn của họ
đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng của David, và đề nghị gia đình động viên
cậu ta ra đầu thú để làm rõ thực hư việc phạm tội của mình. Khi ấy, David
đang giữ một chân giao báo tận thành phố Prince George đã đồng ý đến trình diện
với cảnh sát nhằm minh chứng cho sự vô tội của mình vào ngày 10-5-1969. Tuy
nhiên, David đâu có biết rằng đây là quãng thời gian còn tự do ngắn ngủi của
mình để rồi sau đó phải rơi vào vòng lao lý suốt 28 năm trời với bản án tù
chung thân về tội cưỡng hiếp rồi giết chết một người - cái tội ác khủng khiếp
mà cậu ta không hề phạm phải.
Qua nhiều tháng liền, các nhân viên điều tra đã sử dụng cả thủ
thuật khuyết dụ lẫn đe doạ nhưng David vẫn khăng khăng rằng mình vô tội, còn
những lời khai báo của ba người bạn là hoàn toàn vô căn cứ. Mặc dù vậy, bỏ qua
mọi lời kêu oan của David và một phiên toà xét xử tên "tội phạm dã
man" David Milgaard vẫn được mở ra từ ngày 19-1-1970 đến ngày 31-1-1970
với bản án tù chung thân, lúc đó David mới tròn 17 tuổi. Ngoài ra, chính bản án
khủng khiếp này đã trở thành nỗi bất hạnh đổ ập xuống gia đình Milgaard vì dưới
con mắt cư dân thành phố Langenburg, tên của gia đình Milgaard cũng đồng
nghĩa với từ sát nhân. Bởi vậy, tháng 5-1970, bà Joyce Milgaard - mẹ của David
quyết định chuyển hẳn cả gia đình đến thành phố Winnipeg để sinh
sống. Từ đây bắt đầu cuộc "thập tự chinh" đầy gian khổ của bà đi minh
oan cho con trai.
Trong tám năm từ 1971-1879, bà Joyce Milgaard đã mang đơn xin
xét lại bản án đối với con trai bà đến nhiều nơi như Toà án bang Sasatchwan,
Bộ Tư pháp và Toà án tối cao Canada nhưng đều gặp phải sự lạnh nhạt đáng
sợ. Trong khi đó, ở trong tù, uất ức vì bị xử oan, con trai bà đã toan tính tự
tử hai lần nhưng không thành. Năm 1973, người ta chuyển David đến giam giữ tại
nhà tù khắc nghiệt nhất Canada là Stony Mountain Jail, gần thành
phố Winnipeg. Đây cũng bắt đầu chuỗi thời gian địa ngục nhất của cậu khi
bị giam chung với những tội phạm thuộc loại dữ dằn nhất để rồi bị bọn họ liên
tục lạm dụng tình dục.
Nhờ sự giới thiệu của một người bạn, năm 1986, bà Joyce Milgaard
đến thành phố Toronto để đề nghị Hersh Wolch - một luật sư nổi tiếng của
Canada chuyên về các vụ án hình sự quan trọng, hỗ trợ pháp lý cho mình trong
việc minh oan cho con trai. Đến tháng 7-1990, nhóm của bà Joyce bất ngờ nhận được
một cú điện thoại bí mật cho biết, nên truy tìm tung tích của một người đàn ông
tên Larry Fisher hiện đang ở tù về tội hiếp dâm hàng loạt tại thành
phố Saskatoon trước đó. Không hề chậm trễ, bà Joyce cùng với nhóm của
mình lập tức bỏ công sức lần theo hướng này. Tháng 8-1990, bà Joyce và
luật sư Hersh Wolch đã tìm được địa chỉ của Linda Fisher, vợ của Larry
Fisher, tại thị trấn Cando thuộc bang Saskatchwan.
Theo như lời khai của Linda thì vào tối hôm trớc ngày xảy ra
vụ sát hại Gail Miller thì chồng chị ta đã bỏ đi qua đêm đến sáng hôm sau mới
trở về nhà với vẻ mặt sợ hãi. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, Linda tìm mãi mà
không thấy con dao cán màu vàng thường dùng của mình đâu cả. Đây cũng chính là
con dao mà cảnh sát đã tìm thấy trong bụi rậm cách hiện trường xảy ra vụ án 50m
mà thủ phạm đã bỏ lại. Và khi Larry Fisher bị bắt giữ trong một vụ cưỡng hiếp
phụ nữ vào tháng 6-1969, chị Linda có đến Sở Cảnh sát Saskatoon khai báo nghi
vấn chồng mình là thủ phạm đã cưỡng hiếp rồi giết chết Gail Miller bằng chính
con dao làm bếp của gia đình nhưng không hiểu vì sao những lời khai báo quan
trọng này lại bị ém nhẹm đi. Sau khi ghi âm được lời tự thuật của Linda để làm
chứng cứ, quyết tâm đòi hỏi công lý cho con trai của bà Joyce lại càng được
thôi thúc.
Vụ án oan của David ngày càng được làm sáng tỏ hơn khi
nhóm của bà Joyce tìm gặp được Ron Wilson (một trong ba người bạn của David
khai báo với cảnh sát rằng đã trông thấy David dùng dao sát hại Gail Miller)
hiện đang sinh sống tại bang Colombi Britanique. Đối diện với bà Joyce, Ron đã
tỏ ra vô cùng ân hận vì chính những lời khai không đúng sự thật của mình đã đưa
người bạn David vào vòng lao lý suốt 28 năm trời. Để chuộc lại lỗi lầm, Ron đã
viết giấy xác nhận rằng chính mình đã bị cảnh sát ép buộc phải khai báo tội
trạng mà anh ta không hề chứng kiến và David cũng không hề phạm phải.
Tuy nhiên, có một điều rất lạ là hình như các cơ quan luật pháp
ở bang Saskatchwan và Canad đều giữ một thái độ im lặng đáng sợ với việc đòi
xét lại bản án đã tuyên bố đối với David, cho dù đã có những chứng cứ hết sức
thuyết phục chứng minh rằng David bị xử oan. Ngày 11-5-1991, khi được tin Thủ tướng Canada,
khi ấy là Brian Mulrooney đến công du tại thành phố Winnipeg, bà Joyce đã
tìm mọi cách để được phép diện kiến Thủ tướng. Vị nguyên thủ quốc gia lắng nghe
bà mẹ can đảm này trình bày sự thật câu chuyện oan ức của con trai bà bằng
những minh chứng rõ ràng mà bà đã dày công thu thập suốt mấy chục năm trời. Sau
khi nghe những trình bày của người mẹ đau khổ nhưng đầy nghị lực này, ông
Mulrooney thực sự cảm động và hứa sẽ tác động với ngành tư pháp để xem xét
lại bản án đã tuyên bố đối với David trong thời gian sớm nhất. Theo kiến nghị
của Thủ tướng Mulrooney, ngày 29-11-1991, Toà án tối cao Canada đã đưa vụ án
Gail Miller bị cưỡng hiếp rồi giết hại hồi tháng 1-1969 ra xét xử lại với những
chứng cứ mới được luật sư Hersh Wolch đưa ra. Tuy nhiên, David vẫn
cha được công nhận là vô tội. Phải đợi đến năm 1997, khi kỹ thuật phân tích
ADN của giáo sư người Mỹ Edward Blake được luật pháp Canada công nhận là
chứng cứ quan trọng và chính xác để kết tội hay minh oan cho nghi can trong vụ
án, thì nhóm của bà Joyce liền đề nghị được phân tích máu và tinh dịch thu
giữ được trước đó trên thi thể nạn nhân Gail Miller. Ngày
18-7-1997, kết quả phân tích được công bố đã xác định tinh dịch thu được trên
thi thể của Gail Miller không phải của David Milgaard mà là của Larry Fisher.
Cũng từ kết quả phân tích này mà Toà án tối cao Canada mới ra phán
quyết huỷ bỏ bản án chung thân mà Toà án bang Saskatchwan đã tuyên cho David
ngày 31-1-1970, và tuyên bố sự vô tội hoàn toàn cho anh.
Tiếp đó, đích thân Bộ trưởng Tư pháp Canad là John Nilson chính
thức xin lỗi gia đình Milgaard vì những gì mà luật pháp Canada đã gây
ra đối với gia đình họ và nhất là tuổi thanh xuân của David đã qua đi trong nhà
tù. Tháng 8-1999, David Milgaard đã nhận được sự bồi thờng bằng vật chất lên
đến 10 triệu đôla Canada. Đây là số tiền bồi thường cho trường hợp bị
giam oan cao nhất tại Canada và cả trên thế giới từ trước tới nay.
Vào tháng 12-1999, tên tội phạm cưỡng hiếp phụ nữ hàng loạt Larry Fisher bị tuyên
án tù chung thân về tội đã cưỡng hiếp rồi giết chết nạn nhân Gail Miller vào
tháng 1-1969 tại thành phố Saskatoon.
Mặc dù vụ án oan nổi tiếng này đã được khép lại nhưng sự can
đảm của bà Joyce Milgaard suốt 28 năm trời đi khắp nơi để tìm chứng cứ minh oan
cho con đã khiến mọi ngời phải cảm động, đồng thời cũng chứng minh rằng vật
chứng trong một vụ án đều có tính quyết định đến sự công minh của luật pháp
trong xét xử. Chưa hết, câu chuyện cảm động về sự phi thường của tình mẫu tử
này đã được Đài truyền hình Canada dựng thành bộ phim thời sự có tên Joyce
Milgaard gây xúc động hàng chục triệu cư dân Canada và cả vùng Bắc Mỹ. Sau
đó, bộ phim này được trao tới 6 giải thưởng lớn mang tên Gemini trong Liên
hoan phim truyền hình khu vực Bắc Mỹ năm 1999.
ÁN TỬ HÌNH CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỘC ÁC
Ngày 28-11-2000, Toà án bang Alabana của Mỹ đã khép lại vụ án
gây tranh luận về khía cạnh đạo đức xã hội trong nhiều tháng liền tại các bang
vùng đông bắc Mỹ với bản án tử hình trên ghế điện dành cho nữ can phạm Shondra
Johnson và án tù chung thân dành cho người chồng thứ ba của thị là Tim
Richards. Điều đáng chú ý trong vụ án này là một người vợ sống "hợp
pháp" cùng ba người chồng (chưa ly dị) đã thông đồng với người chồng này
để giết người chồng khác của mình.
Sinh trưởng trong một gia đình thương nhân tại thành phố Jasper,
bang Alabana, khi mới 16 tuổi Shondra Johnson đã làm nhiều bạn đồng lứa và cả
những thanh niên lớn tuổi mê mệt vì cô có một vóc dáng thật khêu gợi. Mới 18
tuổi, Shondra quyết định bỏ học để lập gia đình với Jeff Nelson - một doanh
nhân 25 tuổi. Tuy nhiên, bản tính thích ham chơi, lười lao động đã khiến cô ta
nảy ra ý định giết chồng hai lần nhưng không thành công khi bị chồng phát hiện.
E ngại một vụ mưu sát thứ ba sẽ thành sự thật nên vào năm 1988, Jeff Nelson
quyết định ly dị với Shondra sau khi đồng ý bồi thường cho cô ta 500.000 USD.
Hai năm sau đó, Shondra đã lại mồi chài được một thương nhân độc
thân tên là Jimmy Tidwell và lấy người này làm chồng. Tuy nhiên, chỉ 5 tháng
sau lễ cưới, hai người lại đưa nhau ra toà xin ly dị.
Mùa hè năm 1996, Shondra làm quen với một nhân viên chào hàng
của Công ty xe hơi Ford tên là Randy Mc Cullar. Bị mê hoặc bởi sức cuốn hút của
Shondra, khi ấy 27 tuổi, Mc Cullar quyết định lấy Shondra làm vợ mặc cho gia
đình ngăn cản. Do công việc vắng nhà thường xuyên nên chẳng bao lâu sau,
Shondra lại mê mệt một thành viên của một ban nhạc nổi tiếng thường trình diễn
tại các hộp đêm khắp bang Alabana tên là Bill McIntyre. Hai người âm thầm tổ
chức lễ cưới ở một nhà thờ thuộc vùng ngoại ô thành phố Jasper mà Mc Cullar
không hề hay biết. Trở về nhà sau một chuyến chào hàng, Mc Cullar bất ngờ biết
chuyện vợ mình đã lấy một người đàn ông khác trong khi vẫn chưa ly dị với mình.
Điên tiết, Mc Cullar doạ sẽ đưa vụ việc này ra toà.
Khi Mc Cullar làm ầm ĩ lên thì tay nhạc công McIntyre mới biết
sự thật là Shondra vẫn chưa ly dị với người chồng cũ nên anh ta bỏ đi biệt tăm
chẳng thèm làm thủ tục ly dị với Shondra. Tuy rất căm giận Mc Cullar nhưng để
tránh một vụ xét xử của toà án về tội danh đa phu của mình nên cô ta đã hứa với
Mc Cullar sẽ không làm như thế nữa. Là người tốt bụng và rộng lượng nên Mc
Cullar đồng ý bỏ qua vụ việc này.
Quen thói trăng hoa, trong khi Mc Cullar đi làm xa, ở nhà
Shondra lại tìm cách quyến rũ một tài xế xe tải đường dài tên là Tim Richards,
rồi lại bí mật tổ chức đám cưới với anh này vào tháng 11-1998. Thanh tra Joey
Vick, người trực tiếp điều tra vụ án này đã nhận xét về viên tài xế Tim
Richards như sau: "Đây là người đàn ông có cuộc sống khá đơn giản, đã ly
dị vợ và không có con riêng nên đang tìm một phụ nữ biết thông cảm để lấy làm
vợ để có một gia đình hạnh phúc". Do đó, Tim Richards rất yêu thương
Shondra mà không hề tìm hiểu cô ta đã có bao nhiêu đời chồng và đã ly dị hay
chưa. Trong lúc ấy thì Shondra đã có đến ba người chồng hợp pháp là Mc Cullar,
Mc Intyre và Tim Richards. Mc Intyre thì đã bỏ đi biệt tăm còn Mc Cullar là rào
cản có thể làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung giữa Shondra và người chồng hợp
pháp thứ ba, vì vậy sau nhiều lần bàn bạc, cả hai đi đến quyết định phải tổ
chức sát hại Mc Cullar.
Thanh tra cảnh sát Joey Vick còn cho biết thêm: "Quả thật,
người đàn bà này đúng là một "con nhện độc". Cô ta có tài lôi cuốn
đàn ông phải nghe theo lời mình mà không cần phân biệt đúng hay sai. Tim
Richards cũng vậy, anh ta không thể cưỡng lại ý định sống ở trên đời cùng với
Shondra nên đã cùng cô ta sát hại Mc Cullar".
Buổi chiều ngày 30-10-1999, Shondra rủ Mc Cullar đến ăn tại một
nhà hàng ở ngoại ô thành phố Jasper sau khi anh vừa trở về từ một đợt đi chào
hàng dài ngày. Theo kế hoạch, Shondra ép Mc Cullar uống rượu say mềm rồi tự lái
xe đưa chồng về nhà mà không quên dừng lại đón Tim Richards tại một nơi cách
nhà hàng vài trăm mét. Sau đó, bọn chúng đưa xe vào bìa một khu rừng thuộc vùng
Harmony Baptisd để Tim Richards lôi Mc Cullar ra khỏi xe rồi bắn chết anh ta
bằng hai phát đạn từ khẩu súng ngắn loại Colt 45.
Trong khi Tim Richards giết Mc Cullar thì Shondra tự làm cho
mình bị xây xát. Tim tiếp tục nã thêm ba phát đạn vào thân xe để lập một hiện
trường giả là vợ chồng Shondra đưa nhau vào bìa rừng để tình tự thì bị một bọn
tội phạm tấn công. Do chống cự nên Mc Cullar bị bắn chết còn Shondea chỉ bị xây
xát nhẹ. Sau đó, Shondra gọi điện thoại di động báo tin cho cảnh sát thành phố
Jasper biết về tai hoạ đã xảy ra đối với hai vợ chồng mình.
Khi mới tiến hành điều tra vụ án, thanh tra Joey Vick cũng
nghiêng về giả thuyết đây là một vụ tấn công của bọn cướp nhằm chiếm đoạt tài
sản nhưng do bị chống cự nên bọn chúng đã ra tay bắn chết người chồng và gây
thương tích nhẹ cho người vợ khi bỏ đi. Tuy nhiên, thời gian sau, thanh tra
Joey Vick lại thay đổi hẳn nhận định trên khi theo dõi thấy Shondra không mảy
may tỏ ra phiền não về cái chết thảm thương của chồng, lại còn giao du thân mật
với tên tài xế Tim Richards. Khi kiểm tra lại các đoạn phim do máy ghi hình tự
động thu được dọc theo quốc lộ 28 từ thành phố Jasper đến thành phố Chicagô vào
đúng hôm diễn ra vụ án thì thanh tra Joey Vick không tìm thấy bóng dáng của một
chiếc xe khả nghi nào vốn dĩ có thể quy kết do bọn tội phạm sử dụng. Do vậy,
thanh tra Joey Vick nhận định đây có thể là một vụ giết người có chủ mưu rồi
dựng nên hiện trường giả để qua mặt các cơ quan điều tra.
Ngày 20-11-1999, thanh tra Vick quyết định kiểm tra căn hộ của
Tim Richards, nơi mà Shondra thường xuyên lui tới. Cảnh sát đã tìm thấy một
khẩu súng ngắn loại Colt 45 cùng loại đạn đã bắn Mc Cullar và một hộp đạn trong
đó thiếu 5 viên trong tổng số 30 viên tương đương với số đạn đã bắn ở nơi hiện
trường án mạng. Tất cả những thứ này ở ngay trên trần nhà của Tim Richards.
Kiểm tra địa chỉ ghi trên hộp đạn, cảnh sát lần đến cửa hàng bán
súng đạn nằm ở khu Stillwater của thành phố Jasper. Tại đây, họ được
người chủ cửa hàng cho biết đã bán nguyên hộp đạn cho người đàn ông có nhân
dạng đúng với Tim Richards vào ngày 30-10-1999 - là ngày xảy ra vụ sát hại Mc
Cullar. Ngay lập tức Tim Richards được thẩm vấn về nguồn gốc khẩu súng, hộp đạn
thiếu 5 viên cùng các hoạt động của anh ta vào hôm xảy ra án mạng. Sau nhiều
lần quanh co và không trả lời đúng các yêu cầu của cảnh sát nên Tim đành thú
nhận chính mình đã ra tay sát hại Mc Cullar theo sự dàn dựng của Shondra
Johnson.
Khi biết tin Tim Richards bị cảnh sát giữ để điều tra thì
"con nhện độc" Shondra lập tức bỏ trốn khỏi thành phố Jasper. Tuy
nhiên, khi tới Chicago thì đã bị bắt rồi di lý về Jasper vào ngày
31-1-2000. Rốt cuộc thì Shondra cũng phải cúi đầu nhận tội.
Vụ án này đã khiến dư luận dân chúng Mỹ hết sức ngạc nhiên và
căm phẫn về thái độ nhẫn tâm giết hại chồng của một người vợ và cũng đang là vợ
của hai người đàn ông khác. Shondra đã bị các phương tiện truyền thông vùng
đông bắc Mỹ gọi là "con nhện độc" và đề nghị luật pháp phải tuyên một
án thích đáng cho hai thủ phạm.
Sau năm ngày xét xử, ngày 28-11-2000, Toà án bang Alabana đã
tuyên án tử hình bằng ghế điện đối với "con nhện độc" Shondra Johnson
về tội lừa đảo để lấy nhiều chồng và âm mưu sát hại chồng. Mặc dù là kẻ trực
tiếp bắn chết Mc Cullar nhưng Tim Richards chỉ bị tuyên án tù chung thân, vì
chẳng qua y cũng chỉ là nạn nhân của Shodra rồi mù quáng hành động theo sự sắp
đặt từ trước của Shodra mà thôi.
SỰ HIỂM ĐỘC CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ
Chủ tịch một công ty phần mềm vi tính đã bị chết một cách đầy bí
ẩn trong một hộp đêm sang trọng ở New Jersey. Mới nhận định thì có vẻ như
chính nạn nhân đã tự gây ra cái chết, nhưng kỳ thực bên trong lại chứa đựng một
bi kịch tình trường, khiến cho dư luận vô cùng phẫn nộ trước âm mưu giết người
hiểm độc của một người phụ nữ.
Đó là hôm 10-3-1993, có một giọng nói hốt hoảng của một người
phụ nữ gọi đến Sở Cảnh sát New Jersey báo rằng một án mạng đã xảy ra
trong hộp đêm Royal Dancing Club, lúc đó đúng 2 giờ sáng. Royal Club toạ lạc
ngay trung tâm tiểu bang New Jersey, hộp đêm này nổi tiếng là nơi ăn chơi sành
điệu của giới "quý tộc" Mỹ. Ngay lập tức khắc, Cảnh sát trưởng Travis
dẫn đầu đội cảnh sát điều tra đi đến hiện trường. Tại hiện trường là thi thể
một người đàn ông, trên tay cầm một chiếc điện thoại di động vẫn còn tín hiệu
ngắt quãng, cách đó 3cm là một ống chích rỗng. Cuộc khám nghiệm sơ bộ không
phát hiện được vết thương nguy hiểm nào dẫn đến tử vong.
Mới đầu, cơ quan điều tra nhận định, người đàn ông này đã chết
do sử dụng ma tuý quá liều. Những nhân chứng có mặt tại hiện trường đều được
lấy lời khai, riêng người phụ nữ khai báo với cảnh sát là người trực dọn vệ
sinh lâu năm được đưa về tận Sở Cảnh sát để kể tường tận chi tiết việc phát
hiện ra thi thể nạn nhân. Người phụ nữ ấy tên là Hoddon. Bà Hoddon kể: Cũng
giống như mọi ngày, khoảng 1 giờ sáng, bà phải làm công việc quét dọn vệ sinh
các toilet trong toà nhà, nhưng khi bà đến một toilet nam nằm khuất phía sau vũ
trường, bà giật thót mình khi nhìn thấy một người đàn ông nằm bất động trên
sàn, xung quanh là những vật dụng vỡ nát.
Cảnh sát tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng tại hiện trường, phát hiện
thêm trong người nạn nhân còn 500 USD và chiếc ví đựng giấy tờ tuỳ thân, thẻ
tín dụng. Ngoài ra, các nhân viên không phát hiện gì thêm ngoài vài sợi tóc
được nắm cứng trong bàn tay trái của nạn nhân. Theo các giấy tờ tuỳ thân thì
nạn nhân là Penny Perry Davis, 41 tuổi, quốc tịch Mỹ, Chủ tịch công ty phần mềm
vi tính lớn nhất New Jersey có trụ sở đặt tại 79-1SA. Tin tức về cái chết
của Davis lập tức được thông báo ngay về cho gia đình ở Green Hills,
một vùng ngoại ô New Jersey. Buổi sáng hôm sau, một bản thông báo được lan
truyền: bất kỳ tin tức nào liên quan đến cái chết của Davis đều được
thưởng 1.000 USD.
Khám nghiệm tử thi, các nhân viên điều tra xác định, nguyên nhân
chính dẫn đến cái chết của Davis là do tiêm vào người một lượng quá lớn chất
kích thích khả năng hưng phấn tình dục khiến bộ phận sinh dục xuất huyết gây
đột tử. Dấu vân tay trên ống chích là của Davis. Như vậy, cái chết
của Davis do tự thân nạn nhân gây ra. Nhưng, theo bác sỹ riêng của Davis thì
nạn nhân không bao giờ sử dụng bất kỳ loại thuốc kích thích nào vì cơ thể của
ông sinh hoạt rất bình thường, ngoại trừ một vài chứng bệnh về xương. Hơn nữa,
chỗ da tiếp xúc với kim tiêm dường như có một áp lực rất lớn khi ấn vào nên có
hiện tượng bầm tím và sưng tấy. Từ những nhận xét này, người ta đã bác bỏ giả
thuyết Davis vô ý sử dụng thuốc quá liều gây tử vong.
Và, người ta đặt ra giả thuyết đây có thể là một vụ mưu sát. Có
rất nhiều chi tiết đáng nghi vấn mà Sở Cảnh sát New Jersey cần làm
sáng tỏ. Nếu đây không phải sự vô ý sử dụng thuốc thì hung thủ trong vụ án mạng
này là ai? Chiếc điện thoại di động vẫn còn nằm trong tay Davis chỉ
rõ trước lúc tắt thở, có thể Davis đã cố gắng nhấn vào nút tự động
gọi cứu hộ nhưng không thành công. Hung thủ giết người không phải xuất phát từ
động cơ trấn lột tài sản. Vậy, mâu thuẫn nào đưa đến cái chết của Davis?
Phải chăng do sự cạnh tranh không lành mạnh, nên một công ty nào đó đã thủ
tiêu Davis? Giả thuyết này nhanh chóng bị bác bỏ vì không có bất kỳ công
ty nào có mối quan hệ không tốt với Davis. Tất cả những người có mặt tại
hiện trường đều có đủ bằng chứng chứng minh họ ngoại phạm.
Mọi đầu mối về vụ án dường như đi vào ngõ cụt cho tới khi một
nhân chứng quan trọng xuất hiện. Người đàn ông này cũng là khách thường xuyên
của Câu lạc bộ Royal, ông ta nhận ra Davis trước khi xảy ra án mạng
có đi chung với một vũ nữ và có to tiếng với một gã đàn ông cao to.
Không bỏ qua bất kỳ một chi tiết nhỏ nào. Cảnh sát trưởng Travis
lập tức ra lệnh tìm cho bằng được người vũ nữ kia. Cô ta tên là Christie. Khi
bị chất vấn, Christie khai nhận khoảng 1 giờ sáng ngày hôm đó, trong khi Davis
ngất ngây với Christie trong điệu slow buồn thì bất ngờ xuất hiện một người phụ
nữ lạ, kế đến là một gã đàn ông, sau đó giữa họ đã xảy ra cãi vã. Sự việc diễn
ra sau đó, Christie hoàn toàn không biết vì cô ta đã bỏ đi.
Nghe những lời khai này, bằng linh cảm nghề nghiệp của Cảnh sát
trưởng Travis mách bảo cho ông biết rất có thể cái chết của Davis có
liên quan đến người phụ nữ và người đàn ông kia. Kết quả điều tra thật bất ngờ
người phụ nữ ấy chính là Wendy - vợ Davis. Nhưng, Wendy có bằng chứng xác
thực rằng khoảng thời gian đó bà cùng đứa con trai Bradley đang ở trong biệt
thự ở Green Hills. Còn gã đàn ông to cao kia vẫn là một điều bí ẩn.
Thời gian điều tra ngày một dài ra nhưng hung thủ thật sự của vụ
án vẫn chỉ là một bóng ma ẩn hiện trong sự nghi vấn. Davis và Wendy
cưới nhau năm 1978, sống với nhau rất hạnh phúc cho đến khi công việc
của Davis phát triển đến đỉnh cao. Sự nghiệp của Davis đang
đi lên nhưng hạnh phúc gia đình ông lại đi xuống. Do sự thiếu vắng thường xuyên
của Davis trong tổ ấm gia đình đã làm tình cảm vợ chồng trở nên nhạt
nhẽo. Khi đứa con trai Bradley ra đời và sự ngờ vực của Davis trở nên
tồi tệ hơn.
Bắt đầu từ đây, Davis chỉ ở lại công ty, không trở về
nhà sau mỗi ngày làm việc. Không thoả mãn với hạnh phúc gia đình, là một nhà
kinh doanh tài năng và nổi tiếng, ngay lập tức Davis trở thành đối
tượng săn đuổi của nhiều cô gái trẻ đẹp. Trong khi đó, sự cô đơn trống vắng của
Wendy được đền bù lại khi Walker - người tình của cô xuất hiện. Mâu
thuẫn giữa hai vợ chồng Davis càng tồi tệ hơn nữa khi sự phân chia
tài sản bắt đầu xảy ra. Sau vụ tranh chấp này, ngày 14-9-1993, Wendy được thông
báo về cái chết của Davis.
Cho đến thời điểm này thì mọi hướng điều tra của Sở Cảnh
sát New Jersey đều tập trung vào mâu thuẫn giữa vợ chồng Davis,
rất có thể đây là động cơ dẫn đến việc mưu hại Davis.
Khi Davis chết, tài khoản của anh trong ngân hàng bị phong toả cho
đến khi có người thừa kế chính thức. Theo luật, quyền điều hành công ty tạm
thời sẽ do Wendy đảm trách. Cùng thời gian này là chuyến đi du lịch bí ẩn
của Walker. Có một phát hiện rất đáng chú ý là thực sự tham gia chuyến du
lịch ấy là người anh em song sinh với Walker, còn hắn đang trú ẩn trong
một nhà trọ rẻ tiền ở ngoại ô New Jersey. Người ta đã khám phá ra bí mật
này khi phát hiện sự đi lại lén lút của Walker trong ngôi biệt thự
của Wendy. Người ta cũng đưa ra một nghi vấn nữa khi phát hiện trong tài khoản
của Walker ở Thụy Sỹ được chuyển vào một khoản tiền lớn, người chuyển
không ai khác, chính là do Wendy nguỵ trang. Dường như không bằng lòng với món
tiền này, Walker có tham vọng lớn hơn, đó là công ty của Davis.
Do đó, việc Walker khống chế Wendy để đạt được mục đích là điều không
tránh khỏi. Đoán được ý đồ xấu xa của Walker, Wendy tìm cách sát
hại Walker để bịt đầu mối.
Vào đêm 27-6-1993, Wendy bí mật hẹn Walker ở phía sau
nhà kho của ngôi biệt thự. Để kết thúc mối nguy hiểm tiềm tàng, Wendy lập tức
bắn xả vào người Walker khi thấy hắn xuất hiện. Tuy
nhiên, Walker đã thoát chết vì những vết thương chỉ làm hư mắt và
liệt chân trái. Sau sự vụ này, Walker tố cáo với Sở Cảnh sát New
Jersey về tội ác của Wendy. Bằng chứng là một đoạn băng hình được ghi lại
bởi hệ thống theo dõi ở Câu lạc bộ Royal, cho thấy cảnh Walker đã
đánh tráo khi nhân viên phòng thiết bị thu hình đi khỏi. Wendy đã sử dụng găng
tay tiêm vào người Davis một lượng lớn chất kích thích trong
khi Walker khoá chặt tay chân Davis. Sau đó, chính Wendy đã nguỵ
tạo mọi chứng cứ. Những việc tiếp diễn sau đó giống như dự đoán của tổ chuyên
án do Travis chỉ huy. Cũng vào thời điểm này, bản xét nghiệm ADN của những sợi
tóc trong tay Davis được chứng minh là của Walker.
Để thoả mãn thêm sự căm tức đối với Wendy, Walker đã khai thêm
rằng chính Wendy đã sắp xếp hàng loạt những điều tồi tệ đối với Davis trước khi
xảy ra vụ án như: Phá hỏng hệ thống phanh xe của Davis, cài điện cao thế ở
những nơi trong ngôi nhà mà Davis thường lui tới... nhưng may mắn lần nào Davis
cũng thoát hiểm.
Ngày 19-12-1994, Toà án tối cao New Jersey đã tuyên án
tước quyền công dân của Wendy, phạt tù Walker 20 năm nhờ được hưởng
sự hoan hồng do khai báo. Bản án này ít nhiều làm dịu cơn phẫn nộ trong dư luận
đối với tội ác mà Wendy và Walker đã gây ra.
ANH CHÀNG ĐÀO HOA &
KẺ SÁT NHÂN SI TÌNH
Buổi sáng ngày 14-02-2000, ông Patrice Moulinier tạm biệt vợ và
các con của mình tại ngôi nhà số 2, đường Saint Pierre, thành phố Flavin, miền
Tây nước Pháp để đến thành phố Signolés, thuộc tỉnh Dordogne để thăm mẹ ruột
đang bị bệnh nặng. Tuy nhiên, ông đâu biết rằng đây là lần cuối cùng mình còn
nhìn thấy những người thân và chỉ vài giờ sau, một kẻ lạ mặt đã đột nhập vào
căn hộ rồi dùng súng bắn chết Mamela, vợ mới cưới lần thứ ba của ông Patrice,
cùng Mergame, con gái riêng của ông và bắt đi Martin cậu con trai mới 5 tháng
tuổi của Patrice. Đến ngày 16-3-2000, cảnh sát đã xác định được là đứa trẻ đã
bị hung thủ giết chết.
Về bản thân Patrice Moulinier, cảnh sát ghi nhận đây là một
người đàn ông đào hoa, đã ba lần cưới vợ cùng với khoảng 15 tình nhân. Khi tìm
hiểu gia thế của 15 phụ nữ này, cảnh sát chú ý đến một người tên Simone mà
Patrice công nhận có quan hệ tình cảm từ năm 1995. Thời gian đó Patrice đang
sinh sống tại tỉnh Pordogne cùng người vợ thứ hai và hành nghề chăn nuôi thỏ.
Cũng tại đây, Patrice làm quen với một người đàn ông kỳ lạ tên Jean Marie Von
Matt và là chồng của Simone.
Jean Marie Von Matt sinh năm 1948 tại thành phố Mulhouse và đang
là chủ nhân toà lâu đài Campagnac rộng đến 100ha gần thành phố Belves, tỉnh
Pordogne. Ông ta là một con người rất kỳ quặc vì luôn gây sợ hãi cho hàng xóm.
Với khẩu súng lăm lăm trong tay, ông ta sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ ai toan
tính nhòm ngó lâu đài của mình. Thậm chí cả một nhân viên điện lực, một nhân viên
thuế vụ và một lái xe suýt ăn đạn khi tự động bước vào lâu đài của Matt. Trước
đây, Matt là một người bình thường, thậm chí còn rất thành đạt và có một gia
đình hạnh phúc nữa là đằng khác.
Vào năm 1971, Matt đã đến thành phố Genéve, Thụy Sỹ để hành nghề
kinh doanh bất động sản. Trong một lần đến tỉnh Hauts Rhin, anh ta đã làm quen
với nữ dược sĩ trẻ tuổi tên là Simone và họ đã làm đám cưới vào năm 1972. Khi
đã đưa gia đình sang sinh sống thử ở Mỹ một năm, năm 1982, Von Matt đã quyết
định quay về Pháp rồi mua toà lâu đài Campagnac và sống luôn tại đây. Từ khi
sống ở đây, tính tình Von Matt trở nên khó hiểu khi biến toà lâu đài của mình
thành pháo đài, đồng thời hạn chế sự tiếp xúc của vợ và ba con trai với mọi
người xung quanh.
Năm 1995, khi đến sinh hoạt tại Câu lạc bộ những người chăn nuôi
thỏ, tình cờ Patrice Moulinier làm quen với vợ chồng Von Matt, thế là giữa
Patrice và Simone đã nảy ra mối tình vụng trộm. Von Matt biết rất rõ về mối
tình này nhưng vì danh dự gia đình nên anh ta làm như vô tình không hay biết
gì. Tuy nhiên, trong đầu Von Matt đã vạch ra một kế hoạch trả thù Patrice
Moulinier. Vào năm 1996, cuộc tình vụng trộm kia chấm dứt khi Patrice rời khỏi
Pordogne đến sinh sống tại thành phố Flavin. Chỉ một năm sau, Von Matt âm thầm
bán toàn bộ gia sản ở Pháp rồi đưa gia đình đến bang Florida của Mỹ để sinh
sống. Tuy nhiên, đến khi Simone qua đời một cách bí mật tại Mỹ vào tháng
12-1999 thì Von Matt quyết định thực hiện kế hoạch trả thù.
Biết Patrice vẫn còn sinh sống tại thành phố Flavin thì Von Matt
quyết định ra tay. Ngày 12-2-2000, Von Matt bay đến Thụy Sĩ. Tại Zurich, Von
Matt tìm mua một khẩu súng cỡ nòng 22 rồi thuê một chiếc xe hơi hiệu Opel ở một
công ty chuyên cho thuê xe. Tối ngày 13-2-2000, một mình y lái xe đến tận thành
phố Flavin. Buổi sáng hôm sau, nhờ sự chỉ đường của hai em học sinh tại một
trạm xe buýt, Von Matt tìm ra được ngôi nhà của Patrice Moulinier tại số 2
đường Saint Pierre rồi ra tay. Thật là may mắn cho Patrice là ông ta đã kịp rời
ngôi nhà lúc sáng sớm nếu không đã có chung số phận thảm thương với vợ và hai
con.
Thực hiện xong tội ác của mình, Von Matt vội quay về Zurich rồi
trở về Mỹ vào ngày 17-2. Khi nghe những lời khai của Patrice về việc nhận được
những cú điện thoại của Von Matt gọi cho ông ta trước đó, thanh tra Louis Mary
liền cho người đến tận lâu đài Campagnac để thẩm tra vì cho rằng biết đâu Von
Matt vẫn còn ở đó. Tuy vậy, khi biết rằng cả gia đình Von Matt đã chuyển sang
Mỹ sinh sống thì thanh tra Mary nhờ Bộ Nội vụ liên hệ với Cơ quan di trú của Mỹ
xác minh xem thử trong thời gian xảy ra vụ án thì Von Matt có đi đâu không. Kết
quả cho thấy, Von Matt đã rời đất Mỹ để tới Thụy Sỹ từ ngày 12-2 đến ngày
17-2-2000. Sau đó, tại thành phố Zurich, các nhân viên điều tra đã tìm thấy
chiếc xe Opel mà Von Matt đã thuê. Kiểm tra xe, cảnh sát phát hiện dấu thủng
phía trong sàn xe do hai viên đạn bắn ra từ một khẩu súng nòng dài và nhiều vết
máu còn dính ở băng ghế ngồi phía sau, mà khi cho đem mẫu máu phân tích ADN thì
biết được đây là máu của cậu bé Martin, con trai của Patrice đã bị Von Matt bắt
đem theo. Từ dấu vết này, các nhân viên điều tra khẳng định rằng Von Matt đã
bắn chết Martin rồi vứt xác em đâu đó trên đường từ Flavin trở về Zurich. Từ
những chứng cớ trên, thanh tra Mary kết luận chính Von Matt là thủ phạm đã gây
ra vụ trọng án nên đề nghị Bộ Nội vụ phát lệnh truy nã quốc tế đối với Von Matt
vào ngày 10-3-2000, đồng thời nhờ cơ quan FBI của Mỹ phối hợp để bắt giữ Von
Matt tại bang Florida.
Sau khi phạm tội, Von Matt đưa ba con trốn chạy khắp nhiều bang
ở Mỹ khiến cuộc săn lùng của FBI gặp nhiều khó khăn. Cho đến tháng 3-2001, FBI
phát hiện ra nơi ở của Von Matt trong một căn hộ trên đường South Rota, thành
phố Miami. Tuy vậy, linh cảm của Von Matt đã báo cho y biết rằng đây chính là
bước đường cùng nên vào ngày 11-3-2001, y đã tự kết liễu cuộc đời mình bằng một
phát đạn vào đầu, bên cạnh còn để lại nhiều bức thư viết bằng tiếng Pháp cùng
nhiều hình ảnh của bà Simone mà phía sau đều ghi chú mỗi một câu "Anh sẽ
vĩnh viễn bên cạnh em, Simone". Một nhân viên của FBI nhận định: "Đây
là một tên sát nhân cực kỳ si mê vợ".
KHI BÁC SĨ TRỞ THÀNH
TÊN GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT
Đối với người dân của tỉnh Yorkshire (Vương Quốc Anh) thì đã mấy
chục năm qua, bác sĩ Harold Shipman luôn được biết đến như một lương y tận tâm,
hiền lành hết lòng phục vụ bệnh nhân, nhưng tới khi cảnh sát bắt đầu nghi ngờ
ông này là thủ phạm của 28 vụ giết người thì mọi chuyện đã thay đổi. Con số
người chết bị nghi ngờ là nạn nhân của bác sĩ Shipman nhanh chóng tăng lên 90,
rồi 150 người! Có khả năng bác sĩ Shipman sẽ là tên giết người hàng loạt số 1
trong lịch sử nước Anh. Vậy sự thực là thế nào?
* *
*
Yorkshire là một thành phố ở miền Bắc nước Anh. Phòng phẫu
thuật của bác sĩ Shipman nằm trên con phố Greater Manchester gần bờ sông. Người
đàn ông này từ hơn 20 năm qua đã rất quen thuộc đối với dân chúng ở đây. Tất cả
người dân quanh vùng đều sẵn sàng tin tưởng, giao phó sức khoẻ và tính mạng
mình cho ông ta, đặc biệt là những người ốm yếu, bệnh tật, dễ bị tổn thương.
Người bác sĩ này đã chữa bệnh và đem đến cho họ sự thư thái trong tâm hồn, nên
họ rất tin tưởng và quý mến ông.
Bác sĩ Shipman đã ngoài 50 tuổi, người nhỏ bé với bộ râu quai
nón rậm bạc trắng. Ông là một "bác sĩ gia đình", tức là không hoạt
động trong bệnh viện mà hoạt động tư nhân, và là nhân vật được hầu hết mọi gia
đình ở đây "chọn mặt gửi vàng". Do đó, khi vị bác sĩ đáng kính này lộ
mặt là một trong những tên giết người hàng loạt khủng khiếp nhất của mọi thời
đại thì dân chúng ở quận Hyde bàng hoàng sửng sốt vô cùng. Họ chẳng thể nào
tưởng tượng nổi vị bác sĩ đáng kính này lại tiêm chất mooc-phin một cách không
thương tiếc vào các nữ bệnh nhân của ông ta. Một tài xế taxi tên là Kevin Sykes
nói: "Thật không tin nổi điều này lại có thể xảy ra ngay trước cửa nhà
chúng tôi. Gần như mọi người ở đây đều quen biết với các nạn nhân của ông
ta".
Người ta khai quật 12 tử thi và bác sĩ Shipman bị buộc tội đã
giết 8 người. Nhưng, con số các nạn nhân của viên bác sĩ này thì rất nhiều. Mới
đầu, cảnh sát cho rằng, vị bác sĩ này "chỉ" liên quan đến 28 cái
chết, tuy nhiên con số này tính đến tháng 2-1999 đã tăng lên 150. Những công
tác điều tra về tội ác của bác sĩ Shipman vẫn đang tiếp tục, và người ta cũng
đang chuẩn bị khai quật mộ của những nạn nhân này. Đáng chú ý là các nạn nhân
của "bác sĩ tử thần" Shipman chỉ là phụ nữ. Từ những cô gái trẻ tới
những bà lão gần đất xa trời. Người ta chưa biết tại sao ông bác sĩ này thường
chỉ chọn những phụ nữ làm mục tiêu hành động. Có người cho rằng ông ta mắc
chứng bệnh căm ghét phụ nữ. Tuy vậy lý do này không mấy thoả đáng vì ông ta
đang sống rất hạnh phúc với vợ con và cư xử rất lịch sự với các nữ bệnh nhân.
Shipman dùng thủ đoạn tiêm cho các nạn nhân xấu số một liều
mooc-phin rồi để họ về nhà. Thường thì chỉ vài giờ sau, hoặc cùng lắm là một
ngày sau khi được bác sĩ "chữa bệnh", các nạn nhân lăn ra chết một
cách đầy bí hiểm. Đáng thương nhất có lẽ là một cặp bệnh nhân già, ông chồng bị
đột quỵ đã trở thành nạn nhân của kẻ giết người. Một ngày kia, nửa giờ sau khi
bà già xấu số vừa đi gặp bác sĩ Shipman về thì ngã ra chết vì "đau
tim". Chồng bà này đang nội trú ở chỗ của ông bác sĩ, vì vợ chết không có
người chăm sóc nên buộc phải chuyển đến một trạm xá và ông ta chết luôn ở đó!
Trường hợp của bà Kathleen Grundy, 82 tuổi, là một ví dụ khác.
Bà là một nhà hoạt động từ thiện không biết mệt mỏi. Vào cái ngày bà qua đời,
người ta còn thấy bà ra chợ mua hoa, và người bán hoa cho biết trông bà cụ rất
khoẻ mạnh. Ngày nào bà Grundy cũng tới nhà dưỡng lão để giúp các cụ ở đây ăn
uống. Vậy mà bà Grundy bỗng nhiên biến mất trong ba ngày. Người của nhà dưỡng
lão đến nhà tìm bà Grundy đã phát hoảng khi thấy bà cụ nằm chết trên giường. Bà
hàng xóm của cụ Grundy cho biết, hôm trước, khi bác sĩ Shipman đến chơi, bà cụ
đang ngồi chơi trò ô chữ, rất khoẻ mạnh chẳng có bệnh tật gì. Vậy mà sau khi
"được" gặp ông bác sĩ Shipman, bà cụ đã lên thiên đàng! Một vụ khác:
Một người phụ nữ khoẻ mạnh, buổi chiều hôm đó đi mua hàng với bạn, nhưng chỉ
đến đêm người phụ nữ đáng thương đã lên "chầu trời". Kết luận của bác
sĩ Shipman trong giấy chứng tử cho biết bà này chết cóng vì "viêm
phổi".
Tuy nhiên, âm mưu giết hại bà cụ Grundy đã làm bác sĩ Shipman lộ
tẩy. Theo giấy chứng tử của bác sĩ Shipman, cụ bà Grundy chết vì "già
yếu" theo lẽ tự nhiên. Nhưng cô cháu gái bà cụ, vốn là một luật sư, rất
nghi ngờ. Điều khiến cô đặc biệt lưu ý là một di chúc được ký ngay trước khi bà
cụ chết, theo đó, bà cụ để lại quyền thừa kế 300.000 bảng Anh cho ông bác sĩ
Shipman. Cô quyết làm sáng tỏ sự thật. Ngày 1-8-1998, thi hài của bà cụ Grundy
được khai quật. Khám nghiệm tử thi, người ta thấy bà cụ đã bị tiêm mooc-phin.
Bác sĩ Shipman bị buộc tội giết người. Người ta lần giở lại hồ sơ về các nạn
nhân của bác sĩ và thế giới tội ác của ông ta đã dần lộ ra trước ánh sáng.
Tại sao ông bác sĩ này lại nhẫn tâm giết hại các bệnh nhân của
mình? Chỉ có một lần ông ta giết người vì tham tiền, còn những lần khác thì
sao? Các nhân viên điều tra tin rằng ông ta bắt đầu giết người từ năm 1993.
Phải chăng trong năm đó đã xảy ra sự kiện gì khiến bác sĩ Shipman trở thành một
tên sát nhân tàn bạo? Kiểm tra lại hồ sơ của Shipman, người ta thấy ông ta
không có "tiền án, tiền sự" nào thuộc về tâm lý hay các bệnh tâm thần
- một điều thường được coi là động cơ của những tên giết người hàng loạt.
Tiến sĩ Mike Berry, một nhà tội phạm học, đã đưa ra các động cơ
giết người của bác sĩ Shipman: tống tiền, nợ nần do cờ bạc, thần kinh, thua lỗ
khi đầu tư tiền vào các quỹ tín dụng, chứng thần kinh muốn được điều khiển
người khác... Tuy nhiên, vì các vụ giết người của bác sĩ Shipman mang tính ngẫu
hứng và ông ta cũng chẳng được lợi lộc gì nên các giả thuyết của tiến sĩ Mike
xem ra không thích hợp. Chỉ có Shipman mới biết rõ lý do tại sao ông ta lại làm
như vậy. Dẫu sao thì đây cũng là một tội ác điển hình của nước Anh - một tội ác
không cần dùng đến súng ống hay bạo lực.
XÁC CHẾT TRONG HANG NÚI
Một cậu bé bị mất tích. Gia đình cậu ta nhận được một lá thư
tống tiền. Bọn bắt cóc tống tiền sẽ làm gì với cậu bé 11 tuổi đáng thương? Một
vụ án man rợ sẽ xảy ra. Cảnh sát có kịp ra tay?
*
Đó là một ngày thật đáng sợ đối với gia đình Tiêu Hữu Tồn ở
huyện Lộ Nam, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Buổi tối hôm trước,
Tiêu Lợi Giang - cậu con trai yêu quý của họ đã không trở về nhà sau giờ học.
Những người trong gia đình nghĩ rằng, như mọi khi, chắc cậu bé đã ở lại nhà của
những người họ hàng trong phố. Tuy nhiên, đến sáng hôm sau, ông Tiêu Hữu Tồn
nhận được một lá thư, trong đó có đoạn viết:
"Ông Tiêu!
Con trai ông hiện đang nằm trong tay chúng tôi. Để bảo đảm tính
mạng cho cậu bé, ông hãy giao cho chúng tôi 6 vạn nhân dân tệ. Không được báo
cho cảnh sát nếu như muốn con trai mình trở về nguyên vẹn..."
Gia đình họ Tiêu thực sự hoảng hốt khi nhận được lá thư tống
tiền này Tiêu Hữu Tồn bỏ mặc lời đe doạ, lập tức báo cáo vụ việc với cảnh sát
địa phương để có sự giúp đỡ. Một tổ chuyên án nhanh chóng được thành lập và bắt
tay vào công tác điều tra. Mục tiêu cao nhất được đặt ra là phải tìm cho được
thủ phạm, đồng thời phải bảo đảm sự an toàn tính mạng cho cậu bé Tiêu Lợi
Giang.
Nghiên cứu bức thư tống tiền, các nhân viên điều tra phán đoán
rằng, thủ phạm chắc chắn là người địa phương vì chúng nằm rất rõ về đường xá
trong khu vực cũng như tình trạng kinh tế của gia đình nạn nhân. Một mặt tổ
chuyên án yêu cầu gia đình Tiêu Hữu Tồn làm ra vẻ tích cực chuẩn bị khoản tiền
chuộc, mặt khác, tổ chức mai phục thường xuyên xung quanh nơi giao tiền mà kẻ
bắt cóc đã giao hẹn.
Chia thành từng nhóm năm người, các nhân viên cảnh sát mặc
thường phục luôn bám sát địa điểm giao tiền. Đúng 1 giờ sáng, chiếc ôtô chở hai
vợ chồng Tiêu Hữu Tồn xuất hiện gần nơi giao tiền đúng như quy ước cùng với ba
nhân viên cảnh sát ẩn nấp dưới băng ghế sau. Khi đã đặt tiền vào nơi quy định,
Tiêu Hữu Tồn lái xe quay về. Những nhân viên cảnh sát đang mai phục quanh đó
đều ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Nhưng, bọn tống tiền vẫn không lộ
diện. Lệnh bắt giữ tất cả những người khả nghi quanh khu vực mai phục lập tức
được ban hành. Có năm đối tượng đã bị bắt và tiến hành thẩm vấn ngay lập tức.
Trong số đó có một thanh niên tên là Trần Hồng Vĩ, 20 tuổi, người cùng thôn vơi
Tiêu Hữu Tồn. Vĩ không thể giải thích một cách hợp lý về sự có mặt của mình ở
địa phận này trong thời gian đó. Anh ta luôn phủ nhận sự liên quan đến số tiền
chuộc 6 vạn nhân dân tệ. Tuy không hề có chứng cứ nào cho thấy sự liên quan của
Trần Hồng Vĩ đối với vụ bắt cóc tống tiền, nhưng linh cảm nghề nghiệp đã mách
bảo các nhân viên điều tra rằng người thanh niên này có thể là manh mối rất
quan trọng trong vụ án. Những biện pháp tâm lý học được áp dụng triệt để và
cuối cùng Trần Hồng Vĩ đã thú nhận sự liên quan giữa hắn với vụ mất tích của
cậu bé Tiêu Lợi Giang.
Trần Hồng Vĩ sinh trưởng trong một gia đình luôn luôn bất hoà.
Mẹ mất khi anh ta mới 14 tuổi, quan hệ giữa Trần Hồng Vĩ với bố đẻ và người mẹ
kế không mấy tốt đẹp. Sau một lần cãi cọ kịch liệt với bố, Trần Hồng Vĩ đi ra
khỏi nhà với ý định làm bất kỳ việc gì để có được một khoản tiền lớn nhằm trả
thù những kẻ đã khinh thường mình.
Trong tâm trạng đó, Trần Hồng Vĩ gặp Trần Kiện Vũ, 18 tuổi, một
thanh niên cùng thôn đang bị truy nã vì đã phạm tội trộm cắp tài sản. Hai tên
đã bàn bạc và thống nhất với nhau đến tống tiền gia đình ông Tiêu Hữu Tồn - một
gia đình thuộc loại giàu có nhất trong thôn. Kế hoạch gây án đã được bọn chúng
chuẩn bị một cách cụ thể mà khởi đầu là bắt cóc cậu bé Tiêu Lợi Giang, 11 tuổi,
con trai của ông Tiêu Hữu Tồn.
Trước hết, bọn chúng tiếp cận với bé Giang, dùng lời lừa phỉnh
về một cuộc đi chơi thú vị để dụ dỗ cậu bé bỏ học, theo chúng vào một khu rừng
đó. Cạnh một hang đá, theo ám hiệu của Trần Hồng Vĩ, Trần Kiện Vũ đã đẩy Tiêu
Lợi Giang ngã xuống trước cửa hang rồi ngồi lên người, dùng hai tay bóp cổ cậu
bé. Đến khi nhìn thấy đôi mắt Tiêu Lợi Giang trắng dã vì bị nghẹn thở, Trần
Kiện Vũ sợ hãi buông tay ra. Trong khi đó, cậu bé tội nghiệp Tiêu Lợi Giang vẫn
cho rằng đó chỉ là một "trò chơi" nên tiếp tục vui vẻ với hai còn ác
quỷ mà không hề nghi ngờ điều gì.
Hai tên tội phạm bàn bạc với nhau một lúc rồi Trần Hồng Vĩ quyết
định hắn sẽ tự tay giết Tiêu Lợi Giang bằng cách bóp cổ. Mặc cho cậu bé Tiêu
Lợi Giang giãy giụa, hai tên sát nhân thay nhau bóp cổ cho tới khi cậu bé tắt
thở. Sau đó, chúng kéo xác cậu định ném xuống hang đá để phi tang. Mặc dù hang
đá này rất sâu và dưới hang có nước nhưng vì cửa hang hẹp, bọn chúng đã phải
cởi bỏ quần áo của cậu bé, bó gọn xác lại và lần lượt vứt từng thứ xuống hang:
thi thể, quần áo, cặp, sách, vở... Giết người xong, hai tên trở về viết thư
tống tiền và nhét vào khe cửa nhà họ Tiêu.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ, Trần Hồng Vĩ đã khai ra toàn bộ quá
trình gây án. Trần Kiện Vũ đang lẩn trốn cũng bị truy nã ráo riết. Theo lời
khai của Trần Hồng Vĩ, thi thể nạn nhân được vớt ra khỏi hang đá. Kết quả khám
nghiệm pháp y cho thấy Tiêu Lợi Giang bị bóp cổ đến chết trước khi ném xác
xuống hang. Vụ án này đã gây ra một không khí phẫn nộ trong dân chúng địa
phương. Các gia đình đều phải đưa đón con em mình đi học. Chưa bắt được Trần
Kiện Vũ, sự lo ngại của mọi người càng tăng lên.
Đứng trước tình thế đó, gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát địa
phương được huy động vào việc truy bắt tên sát nhân còn lại. Tất cả những nơi
mà hắn thường lui tới cũng như mọi mối liên hệ của hắn đều được kiểm tra,
nghiên cứu một cách kỹ càng. Mọi phương tiện ra vào địa phương đều bị kiểm tra
nghiêm ngặt. Sau khi được quần chúng cung cấp tin tức, hai ngày sau khi xảy ra
vụ án, Trần Kiện Vũ đã bị bắt giữ tại nhà người bác ruột của hắn.
UẨN KHÚC CÁI CHẾT CỦA
TỶ PHÚ XỨ MONACO
Toà nhà Belle Epoque toạ lạc trên đại lộ Ostende sang trọng. Nếu
nhìn từ phía trước, nó trông giống như một pháo đài sáu tầng - một nơi cư ngụ
vững chắc và an toàn cho những người giàu có và thích sống kín đáo. Tuy nhiên,
phía sau của "pháo đài" này lại là một nơi rất dễ đột
nhập. Monaco là một thành phố dựa vào sường núi, nơi mà các toà nhà
như thể chồng lên nhau. Ở phía sau toà nhà Belle Epoque là đại sảnh của một
khách sạn mà từ đó người ta có thể bước sang tầng ba của toà nhà một cách dễ
dàng. Cũng chính từ nơi này, hàng rào bảo vệ vươn tới tận văn phòng của nhà tỷ
phú Edmond Safra ở hai tầng trên cùng. Sự việc khủng khiếp đã xảy ra ở tầng
trên cùng - nhà tỷ phú ngân hàng này bị chết ngạt vì khói từ một ngọn lửa mà
người ta nghi là do hai tên đột nhập có trùm khăn bịt mặt gây ra.
Sau khi vụ việc xảy ra khoảng vài tuần, tung tích của những tên
giết người vẫn chưa được khám phá. Lúc vụ tấn công xảy ra, nhà tỷ phú ngân hàng
67 tuổi này, đang bị mắc bệnh Parkinson, đã bị nhốt trong phòng tắm cùng với
người giúp việc cho ông tên là Viviane Torrente, 52 tuổi. Hai người đã ở trong
đó hơn hai tiếng đồng hồ sau khi ngọn lửa bùng lên và hai tên đột nhập biến
mất. Lúc những người lính cứu hoả đến thì họ đã chết trong phòng tắm.
Một người giúp việc khác của Edmond Safra - là người Mỹ, 41 tuổi
mà tên của ông ta được các nhà chức trách giữ kín, đã thông báo lại vụ việc
này. Ông ta cho biết rằng, hai tên tội phạm đeo mặt nạ đã đột nhập vào văn
phòng qua một bệnh xá sát với phòng ngủ ở tầng trên cùng nơi tỷ phú Edmond Safra
ở. Ông ta đã đánh nhau với hai tên đột nhập, vũ khí của chúng chỉ là những con
dao găm. Người đàn ông giúp việc này thoát được và chạy xuống tầng dưới thông
báo cho Torrente về vụ tấn công đang xảy ra (Torrente đã đưa
Safra vào buồng tắm và khoá lại). Lúc đi tới hành lang, ông ta đã bị thương nhẹ
vào bụng và chân trái do những vết dao đâm (sau này, cảnh sát có tìm thấy con
dao vấy máu nhưng không có báo cáo gì về dấu vân tay). Tuy nhiên, ngoài người
đàn ông này ra thì không còn ai trông thấy những tên đột nhập. Khi khai báo,
ông ta cũng chẳng đề cập gì tới việc có lửa cháy cho tới khi cảnh sát hỏi lúc
ông ta đang nằm bệnh viện. Khi trở lại căn phòng của Safra, các nhân viên điều
tra cũng phát hiện ra dấu tích của vụ cháy. Khi được hỏi, hiện người đàn ông đó
có gì đáng nghi không, công tố viên Daniel Serdel trả lời rằng: "Ông ta là
một nhân chứng về mặt pháp lý".
Vấn đề ở đây là ai muốn tỷ phú Safra phải chết? Lúc đầu thì mọi
sự nghi vấn đều tập trung vào Mafia Nga vì ngân hàng quốc gia của Safra - ngân
hàng lớn thứ ba của thành phố NewYork đóng một vai trò quan trọng trong một
thời gian dài đối với thị trường Nga. Do đây là một nơi trung chuyển những đồng
tiền bẩn thỉu nên ngân hàng này đã để ý tới những dịch vụ đầy khả nghi. Năm
1999, ngân hàng này đã thông báo cho các nhà chức trách Mỹ về một đường dây rửa
tiền thông qua ngân hàng NewYork. Tháng 10-1999, ngân hàng này đã thanh lý các
tài khoản của người Nga khi ông chủ ốm yếu, Safra định bán các công việc kinh
doanh đó cho một công ty cổ phần của Anh với giá 9,85 tỉ USD. Một chuyên gia
của Mỹ về vấn đề rửa tiền nói rằng: Safra có thể bị giết để cản trở vụ chuyển
nhượng này, qua đó tạo thêm thời gian cho Mafia Nga hoàn tất một số thương vụ
mờ ám. Nhưng, đây cũng chỉ là một giả thuyết. Dùng lửa để giết người là một
cách khó tin mà ngôi nhà được trang bị thiết bị bảo vệ tối tân. Bởi thế, giả
thuyết thứ hai là vụ tấn công này được thực hiện do những tên trộm nghiệp dư
hoặc những tên tống tiền còn non tay.
Từ lâu, tỷ phú Safra đã có quan hệ làm ăn với các chủ ngân hàng
người Do Thái - những người quen với kiểu làm ăn không dựa trên cơ sở chắc
chắn.
Trong năm 1983, tỷ phú Safra bán ngân hàng phát triển thương mại
TDB của mình cho America Express với giá 550 triệu USD tiền chứng khoán và đồng
ý ở lại điều hành ngân hàng này. Tuy nhiên, nhà tỷ phú này không bao giờ ăn ý
với đội ngũ quản lý của Am-Ex nên ông đã phải ra đi vào năm 1984. Sau đó, ông
thành lập một ngân hàng cạnh tranh có tên là Safra Republic Holdings (SRH).
Ngay lập tức, có những tin rò rỉ từ Am-Ex tố cáo với Safra liên quan tới những
tên rửa tiền, buôn lậu ma tuý và buôn bán vũ khí quân sự. Safra đã được hưởng 8
triệu USD từ vụ kiện Am-Ex. Mặc dầu vậy, cũng vào khoảng thời gian này, Cục
phòng chống buôn lậu ma tuý Mỹ (DEA) cũng đã nhận được tin tức cáo giác rằng,
có một nhóm đang rửa tiền qua SRH. Theo một báo cáo của DEA vào năm 1989, các
nhà chức trách đã tiến hành điều tra và biết một công ty buôn tiền có trụ sở ở
Zurich (Thụy Sỹ) đang rửa tiền do buôn bán ma tuý và buôn lậu vũ khí ở Trung
Đông thông qua SRH. Đến thời điểm này, cả Safra lẫn ngân hàng của ông chưa hề
bị buộc tội tiếp tay cho việc rửa tiền lần nào. Stanley S.Arkin -
viên luật sư của Safra lúc đó nói: "Những tố giác về việc rửa tiền chỉ là
một phần của chiến dịch bẩn thỉu nhằm hạ thấp danh dự của thân chủ tôi mà
thôi". Với mục đích bảo vệ danh tiếng của chính bản thân mình, Safra đã
cho thiết lập một hệ thống tối tân nhằm phát hiện ra những thương vụ đáng ngờ
và báo cho các nhà chức trách. Ông ta còn thông báo cho các nhà chức trách Mỹ
về các khoản hàng người Nga đang thực hiện việc chuyển tiền thông qua các ngân
hàng của ông ta. Đã có ba người bị truy tố về tội rửa tiền qua ngân hàng
NewYork.
Năm 1999, Safra đã hoàn toàn hiểu được những thương nhân người
Nga. Khi Điện Kremli tuyên bố vỡ nợ, SRH đã bị mất trắng 191 triệu USD. Sau đó,
Safra đã quyết định chuyển nhượng các công việc kinh doanh cho HSBC Holdings -
một ngân hàng lớn nhất của Anh. Tháng 10-1999, SRH đã phong toả rất nhiều tài
khoản của người Nga. Qua những hành động như vậy, dường như Safra đã được báo
trước về cái chết của mình, tuy nhiên nguồn gốc về sự đe doạ này chưa được xác
định rõ.
Có một điều rõ ràng rằng, Safra sẽ không bị chết nếu được ứng
cứu kịp thời vì cả Safra và người giúp việc của ông đều có điện thoại cầm tay
và họ đã liên tục gọi từ nhà tắm ra. Lyli Safra - vợ ông trốn trong phòng ngủ ở
đầu kia của văn phòng đã trả lời qua điện thoại của ông rằng lực lượng cứu trợ
đang đến. Tuy vậy, vì quá sợ hãi nên bà ta đã không ra khỏi phòng ngủ. Trong
khi đó thì cảnh sát và lực lượng cứu hoả lại không biết rằng Safra ở trong
phòng tắm cho tới khi họ phá cửa và tìm thấy hai xác chết trong đó. Vụ việc
này, tới nay vẫn chìm trong bí mật nhưng nhiều người cho rằng cái chết của
Safra cứ như là kết cục của một màn kịch vụng vậy!
CHÂN DUNG KẺ LỪA ĐẢO SIÊU HẠNG
Đó là một triệu phú da đen cư ngụ tại bang Florida (Mỹ). Người
sẵn sàng tặng cho bạn bè, người thân những món quà đắt tiền trị giá hàng chục
nghìn đôla. Được đánh giá là một người vô cùng hào phóng. Tuy nhiên, số tài sản
hàng trăm triệu đôla của ông ta có nguồn gốc từ đâu? Tại sao người ta lại gọi
ông ta là "phù thuỷ da đen"? Và, vụ án mà người đàn ông này là nhân
vật chính đã được coi là một vụ án ly kỳ có một không hai trong lịch sử nước
Mỹ.
* *
*
Chúng ta vừa nhắc đến Fontanga Dit Babani - còn gọi là
"Baba" Sissoko, một người gốc Mali, sống ở Mỹ, nhưng lại có cả quốc
tịch Gambia. Chỉ ít ngày sau khi tới sống ở Miami (Mỹ) từ năm 1996
ông ta đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng vì sự hào phóng và một "trái tim
cao cả". Ông ta rất thích mua những món quà xa hoa đắt tiền cho mình, cho
các đối tác kinh doanh, thậm chí cho cả những người xa lạ. Sissoko tặng cho ba
luật sư của mình mỗi người một chiếc xe hơi Mercedes trị giá 65.000 USD, và
tặng nhiều chiếc Jaquars cho những người khác mà ông ta quen biết. Đã có lần,
vì rất thương người nghèo, ông ta đã đóng góp 1,2 triệu USD cho một khu cư trú
của người vô gia cư ở Miami. Đối với những kẻ ăn xin thì nhà triệu phú tốt
bụng này thường "bố thí" cho những tờ 100 USD. Có lần ông ta tặng
đoàn diễu hành của một trường trung học ở Miami món tiền 300.000 USD
để họ tham gia cuộc diễn hành trong ngày lễ Tạ ơn. Một lần khác, ông ta mua một
chiếc Range Rover cho một người phụ nữ không quen biết chỉ vì ông ta nghe thấy
bà này mặc cả với người bán hàng một cách "khổ sở" quá! Chưa hết, có
lần Sissoko "boa" cho một nhân viên phục vụ matxa hẳn 10.000 USD mặc
dù ông ta từ chối để cô này phục vụ mình với lời giải thích ông ta sẽ không để
một người phụ nữ nào khác chạm vào ông ta trừ bốn bà vợ!
Người ta không thể tin được những việc làm của Sissko. Chính vì
vậy rất dễ hiểu là lòng hảo tâm và sự hào phóng của Sissoko đã biến ông ta
thành một con người đầy màu sắc huyền thoại ở Miami. Vốn là một tín đồ của
Hồi giáo, ông ta được mô tả như là một người đàn ông có sức quyến rũ đặc biệt,
có thể thu hút sự chú ý của bất cứ ai một cách nhanh chóng khi ông ta xuất
hiện, cho dù Sissoko nói được rất ít tiếng Anh. Chỉ có một điểm đáng ngờ ở
những hành động hào phóng của ông ta: Số tiền ông ta "bố thí" từ đâu
ra? Trong thực tế, hoạt động kinh doanh của Sissoko là điều hành Hãng hàng
không Air Dabia, một hãng do ông ta sáng lập và xây dựng từ con số 0. Nhưng,
hãng này làm ăn chẳng mấy khấm khá nên rõ ràng là tài sản kếch xù của Sissoko
đã có trước khi hãng hàng không này hoạt động. Các mẩu chuyện về nguồn gốc tài
sản của Sissoko rất đa dạng và trái ngược nhau.
Từ một số nguồn tin cho thấy Sissoko đã từ kẻ khố rách áo ôm trở
thành triệu phú nhờ buôn vải sợi từ Ấn Độ, có người lại nói là do buôn gỗ ở
Gabon, buôn đồ cổ ở Mali. Có người lại nói, Sissoko "trúng mánh" nhờ
phát hiện mỏ dầu trên hòn đảo của ông ta. Nói chung là đủ cả. Bản thân Sissoko
đã có lần tuyên bố rằng, ông ta phát tài nhờ đi đào thuê kim cương
ở Liberia. Có một lần chủ của ông ta cho phép những người làm công giữ lại
tất cả những gì họ kiếm được trong một ngày. Thế là Sissoko kiếm được 9 triệu
USD trong vòng 6 tháng. Nhưng, ở Libêria rất ít có kim cương tốt nên câu chuyện
này rõ ràng là ông ta bịa đặt.
Vì không có lời giải thích rõ ràng về nguồn gốc tài sản của
Sissoko nên nhiều người nghi ngờ rằng ông ta kiếm tiền một cách bất chính từ
những ngành kinh doanh mờ ám có liên quan đến các tổ chức tội phạm quốc tế. Một
số người lại cho rằng, Sissoko là tay buôn vũ khí. Dù thế nào đi chăng nữa thì
Sissoko cũng đã từng bị dẫn độ với tội danh hối lộ.
Vào tháng 7-1996, có hai nhân viên của Sissoko mua hai máy bay
trực thăng quân sự ở Miami và muốn gửi hai máy bay này cho ông chủ (Sissoko) ở
Gambia. Hai máy bay này đã được chuyển chức năng phục vụ quân sự sang chức năng
dùng trong dân sự, nhưng nguy cơ máy bay bị sử dụng với mục đích quân sự trở
lại khiến chính phủ Mỹ đặt ra luật phải có chứng nhận. Bởi vậy, hai nhân viên
của Sissoko cần phải có giấy chứng nhận xuất khẩu đặc biệt mới được đưa hai
chiếc máy bay ra khỏi đất Mỹ. Phải chờ đợi, họ rất bực mình nên đã hối lộ hải
quan 30.000 USD để hai chiếc trực thăng được giải phóng. Sissoko được uỷ nhiệm
thương lượng vụ hối lộ này, nhưng cuộc nói chuyện của ông ta đã bị ghi âm. Ông
ta bị Interpol bắt ở Geneya, chỉ vài ngày trước khi tham dự một bữa ăn tối tại
Nhà Trắng để gây quỹ tranh cử cho đảng Dân chủ (lúc đó tổng thống Bill Clinton
đang tranh cử lần hai).
Vụ xét xử triệu phú Sissoko tại Miami đã trở thành một
sự kiện rùm beng thu hút sự chú ý của giới truyền thông và trở thành "gánh
xiếc Miami". Những người ủng hộ Sissoko tuyên bố ông ta là nạn nhân
của một kỳ thị chủng tộc và đã bị "gài bẫy". Trong số những người ủng
hộ Sissoko có cả những quan chức tên tuổi như cựu Thượng nghị sĩ Birch Bayh, Corrine
Brown, Sheila Jackson Lee và Barrey Frank, cùng với diễn viên nổi tiếng Sherman
Helmsley. Đứng trước toà để bào chữa cho thân chủ của mình, các luật sư tranh
luận rằng Sissoko đáng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao vì ông ta là
"đặc phái viên từ Gambia". Các luật sư cho rằng nhà triệu phú
buộc phải đưa hối lộ vì ở nhiều nước Châu Phi có tập quán là những người giàu
phải "lại quà" cho các quan chức chính phủ để làm ăn.
Trong phiên toà xét xử Sissoko đã có một chuyện kỳ lạ xảy ra.
Ông ta mang đến công đường một số trò phù thuỷ thường được áp dụng ở các nước
Châu Phi. Sissoko và thuộc hạ cho rắc một thứ bột bí ẩn lên xung quanh chỗ của
toà án liên bang nơi diễn ra phiên toà xét xử ông ta với hi vọng dùng phép mầu
này để lấy may mắn. Sissoko còn tưới một thứ nước màu tím lên tai để xua đi rủi
ro, và ông ta còn gửi tên của các thẩm phán và công tố viên tới một ngôi làng
ở Mali, nơi người ta làm phép và trù yểm những người này.
Ít ra thì mấy trò phù phiếm của Sissoko cũng giúp được ông ta
phần nào. Sissoko không bị khép tội đưa hối lộ mà chỉ bị buộc tội "đại
diện cho người khác đưa quà biếu". Ông ta lại bị kết án tù 43 ngày trong
một nhà tù ở Florida và phải nộp phạt 250.000 USD.
Mãn hạn tù, Sissoko quyết định ở lại Florida. Khi này, ông
ta bắt đầu chiến dịch tung tiền của và trao tặng những món quà cực lớn cho
nhiều người. Rất nhanh chóng, Sissoko đã trở thành một nhân vật đầy quyền uy và
có địa vị cao trong xã hội. Ông ta được báo chí, giới truyền thông và dư luận
kính trọng, nhưng cũng bắt đầu có vài người tỏ ra ngờ vực "ông già
Noel" tốt bụng chuyên tặng quà những người khác này.
Năm 1997, một bài báo có nhan đề "Biên niên sử Baba"
trên tờ Miami New Times đã phang phui những trò kinh doanh nhơ nhớp của nhà
triệu phú Hãng hàng không Air Dabia. Các phi công và tiếp viên cho hãng hàng
không cho tờ báo này biết rằng họ đã đến làm cho hãng của ông ta với những lời
hứa hẹn về những khoản lương cao. Tuy nhiên, họ chẳng nhận được gì ngoài số
tiền tạm ứng ít ỏi, và họ lại phải làm việc cật lực quá số giờ quy định do các
chuyến bay quá thiếu nhân viên phục vụ. Trong các chuyến bay hạ cánh xuống Châu
Phi, một số người đã bỏ trốn nhưng tay chân của Sissoko đã bám theo họ, đòi lại
tiền, bắt họ và không cho họ trở về Mỹ. Sanders, một viên phi công từng làm
việc cho Hãng hàng không Air Dabia cho biết Sissoko đã không trả anh ta 60.000
USD. Anh nói với phóng viên rằng:
- Anh sẽ cảm thấy thế nào nếu biết rằng, ông ta sử dụng rất
nhiều tiền mua ôtô và tặng quà trong khi không trả lương cho người làm công?
Bạn sẽ rất bất bình, đúng không?
Vụ phanh phui này của tờ Miami New Times chỉ là dấu hiệu ban đầu
báo hiệu những ngày tháng khó khăn của Sissoko đang tới. Trong khi Sissoko chưa
bị buộc tội gì về những sai phạm của ông ta trong Hãng hàng không Air Dabia,
thì nguồn gốc tài sản của ông ta đã bị lôi ra ánh sáng. Một quan chức của một
ngân hàng của Các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất tên là Mohamed Ayyoub Saleh
đã thú nhận rằng chính ông ta đã bị Sissoko lừa đảo chuyển một số tiền lớn vào
tài khoản của ông ta. Ông cho biết, mình cảm thấy "bị Sissoko điều
khiển" sau khi Sissoko dùng bùa chú trù yểm. Thật ra thì Sissoko đã treo
một quả cầu thuỷ tinh màu đen lên trần nhà ngay chỗ giường ngủ của Saleh, và doạ
ông này rằng quả cầu sẽ cho phép ông ta theo dõi nhất cử nhất động của Saleh.
Sissoko còn nói với Saleh rằng ông ta có một quyền lực siêu nhiên có thể
"làm số tiền hiện về chỗ cũ và làm nó sinh sôi nẩy nở!". Tin vào
những điều này, Saleh đã chuyển vào tài khoản của Sissoko 240 triệu USD và đinh
ninh rằng Sissoko sẽ làm phép cho số tiền chuyển về chỗ cũ.
Tuy nhiên, điều đó không bao giờ xảy ra. Saleh và hai nhân viên
của ngân hàng Hồi giáo Dubai (DIB) đã bị bắt. Như vậy, nguồn gốc tài sản của
nhà triệu phú thế là đã rõ. Đúng lúc này, Sissoko biến mất. Bộ Tư pháp và Bộ
Tài chính đã mở cuộc điều tra truy tìm Sissoko cùng với giới chức Arập và Thụy
Sỹ, thế nhưng, nhà triệu phú hảo tâm đã như bóng chim, tăm cá. Người ta nghi
ngờ Sissoko đã bỏ trốn tới Gambia.
Vụ việc đã sáng tỏ, nhưng người ta vẫn thắc mắc tại sao Sissoko
lại sẵn sàng vung tay đem cho, tặng những món tiền kếch sù mà ông ta lừa đảo
một sự hào phóng khó tin như thế? Một số tay chân của Sissoko tiết lộ, về tính
cách và con người ông ta thì Sissoko muốn lợi dụng điều này để mê hoặc dân
chúng. Lối tặng quà hết sức hào phóng và những trò phù phép nhảm nhí của
Sissoko chỉ là phương tiện giúp ông ta thu phục lòng người để họ hết lòng hoạt
động vì ông ta. Thực tế là ông ta đã leo lên được vị trí cao trong giới thượng
lưu Mỹ trong một thời gian rất ngắn, và được cả dân chúng, giới thượng lưu lẫn
giới truyền thông nể sợ.
CÁI CHẾT THẢM THƯƠNG CỦA SIÊU NGƯỜI MẪU
Tháng 11-1976, một siêu người mẫu gốc Pháp đồng thời là thành
viên của lực lượng du kích cánh tả chống lại chế độ độc tài quân sự đã bị mật
vụ Argentina bắt giữ, cưỡng hiếp rồi tra tấn đến chết và vứt mất xác. Tháng
8-2000, tức là 24 năm sau, thủ phạm trực tiếp gây ra vụ sát hại này đã bị bắt
giữ tại Ý về tội danh diệt chủng. Đến tháng 4-2001, y bị dẫn độ sang Pháp để
trả lời trước pháp luật về tội đã trực tiếp gây nên cái chết của 13 công dân
Pháp đang sinh sống tại Argentina vào thời kỳ đó, trong đó có siêu mẫu Marie
Anne.
Siêu mẫu Marie Anne Erize sinh trưởng trong một gia đình
miền Nam nước Pháp, cả gia đình cô đều sinh sống
tại Argentina hồi đầu thập niên 50. Vì có một khuôn mặt đẹp, thân
hình mảnh mai, lại giỏi ca hát nên năm 1971, khi mới 19 tuổi, Marie Anne đã trở
thành một siêu người mẫu không những nổi tiếng ở Argentina mà cả vùng Mỹ Latinh
và được tạp chí thời trang Siete Dias trao tặng danh hiệu "Siêu người mẫu
hấp dẫn nhất năm 1972". Mặc dù đã ở đỉnh cao của nghiệp thời trang, có đầy
đủ điều kiện về vật chất nhưng Marie Anne vẫn không quên quá khứ nghèo khổ của
gia đình trong thời gian đầu mới nhập cư đến Argentina. Đặc biệt cô không
thể quên sự giúp đỡ quý báu của láng giềng trong khu ổ chuột Mouroe ở ngoại ô
thủ đô Buenos Aires nơi gia đình cô sinh sống. Bởi vậy, Marie Anne
luôn đi đầu trong các chương trình công tác xã hội do lực lượng cánh tả đối lập
với chế độ độc tài quân sự đang cai trị Argentina lúc đó tổ chức. Năm
1973, Marie Anne quyết định từ chối một hợp đồng quảng cáo độc quyền cho Công
ty nước giải khát Coca-Cola của Mỹ trị giá hàng triệu USD để dấn thân vào hoạt
động xã hội.
Đến năm 1974, siêu mẫu Marie Anne chuyển đến sống tại thị trấn
Belgrano, phía Bắc thủ đô Buenos Aires. Sau vài tháng, cô hoàn toàn chinh
phục cảm tình của giới lao động nghèo tại thị trấn ổ chuột này. Cũng chẳng biết
từ bao giờ trong cô đã hình thành tư tưởng phản kháng lại chế độ độc tài đang
cai trị Argentina với "bàn tay sắt", nhất là từ mùa hè năm 1974 khi
cô gặp người đàn ông của đời mình là Daniel Rabanal, một chỉ huy du kích cánh
tả Montoneros. Bắt đầu từ thời điểm này, hai người di chuyển từ khu ổ chuột này
đến khu ổ chuột khác để gây dựng phong trào du kích. Năm 1975, cả hai được cấp
trên điều động đến hoạt động tại thành phố Mendoza, cách thành phố Buenos Aires
vài chục km. Sau đó vài tháng, Marie Anne nhận được lệnh quay về thủ đô để hoạt
động hợp pháp trong vai trò một hướng dẫn viên của Công ty du lịch Sol Jet. Đây
cũng là lần chia tay định mệnh của cặp tình nhân Marie Anne và Rabanal, vì đến
tháng 2-1976 Rabana bị mật vụ "Inteligencia" của thành
phố Mendoza bắt giữ và tuyên án 8 năm tù biệt xứ.
Mặc dù vô cùng đau đớn, nhưng Marie Anne vẫn cố nén đau thương
để quay về thành phố San Juan hoạt động trong lực lượng du kích
Montoneros có quân số đông đến 200 người. Tháng 3-1976, mặc dù mới 24 tuổi
nhưng Marie Anne đã là một trong những chỉ huy du kích ở San Juan với
mật danh "Lucia". Tuy nhiên, nếu như hoạt động của Marie Anne càng
sôi nổi chừng nào thì hồ sơ nằm tại Cơ quan mật vụ Inteligencia của thành
phố San Juan càng dày lên chừng đó.
Các nhân viên mật vụ, dưới sự điều hành của viên sỹ quan cảnh
sát đặc biệt Jorge Olivera, ráo riết truy lùng, bắt giữ du kích và cả những ai
có cảm tình hay chứa chấp người của lực lượng Montoneros. Tháng 5-1976, mẹ của
Marie Anne là bà Francisca đã từ Buenos Aires lặn lội đến
tận San Juan. Bà biết con gái mình đang đối mặt với nguy hiểm nên đã lặn
lội tới tận đây để van nài con gái nên trốn về Pháp để tránh sự truy lùng của
mật vụ nhưng đều gặp sự cương quyết từ chối của cô.
Đến tháng 9-1976, sau chuyến thị sát của viên tướng chỉ huy
chính phủ độc tài quân sự tại Argentina là Jorge Videla tại thành phố Suan Juan
thì các cuộc truy nã, bắt giữ, bố ráp càng diễn ra khẩn trương hơn. Trưa ngày
15-10-1976, khi Marie Anne từ một cửa hàng bán xe đạp nằm ở góc đường Hacha và
Tapia - một cơ sở liên lạc của du kích băng qua đường thì bị bắt giữ bởi một
nhóm mật vụ do chính Jorge Olivera chỉ huy. Sau đó, người ta giam giữ Marie Anne
tại Trại cải huấn La Marquesita của lực lượng Inteligencia. Ngay tối hôm đó,
Juan Carlos Campora, giáo sư đại học và là cảm tình viên của du kích cũng bị
bắt giữ bởi mật vụ Inteligencia vì tội đã chứa chấp Marie Anne, sau đó ông bị
thủ tiêu mất xác. 6 ngày sau khi Marie Anne bị bắt, tại thủ đô Buenos
Aires, một nhóm mật vụ đã đột nhập vào căn hộ của cha mẹ Marie Anne. Bọn chúng
khống chế cả gia đình bằng súng rồi lục soát lấy đi tất cả hình ảnh, tư liệu,
tài sản có liên quan đến Marie Anne. Cũng kể từ đó, Marie Anne - siêu người mẫu
nổi tiếng và là nữ chỉ huy du kích Montoneros xinh đẹp - không còn hiện diện
trên thế gian nữa.
Mãi tới tận năm 1985, tội ác của một số nhân vật trong chính phủ
độc tài trước đó mới được đưa ra ánh sáng công lý để xét xử, tuy nhiên tất cả
bọn họ đều được xoá tội bởi Luật khoan hồng của chính phủ mới ban hành vào năm
1987. Mặc dầu vậy, đối với Chính phủ Pháp thì tội ác của mật vụ Inteligenci gây
nên cái chết bí mật cho 13 công dân Pháp - trong đó có Marie Anne - vẫn luôn
được quan tâm theo dõi trong một hồ sơ đặc biệt để săn lùng 140 nhân viên mật
vụ Inteligencia, do quan toà hình sự Le Loire phụ trách.
Một ngày đầu tháng 8-2000, quan toà Le Loire đột nhiên chú ý tới
một cuộc phỏng vấn do Đài truyền hình TF1 thực hiện đối với một luật
người Argentina. Vị luật sư này đã đích thân đến tận thành phố Strasbourg
của Pháp đệ đơn kiện lên Toà án liên minh Châu Âu về việc vi phạm nhân quyền
của cựu nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher trong vụ đưa quân chiếm đóng quần
đảo Malouines của Argentina vào đầu thập niên 80. Ông ta cho biết tên mình là
Jorge Olivera, trước đây chỉ huy lực lượng cảnh sát mật vụ Inteligencia ở thành
phố San Juan vào thập niên 70. Ngay lập tức, những thông tin cũng như
lý lịch tư pháp của viên luật sư Jorge Olivera được Toà đại sứ Pháp
ở Argentina xác định rồi kết luận đây chính là tên tội phạm diệt
chủng. Jorge Olivera chính là kẻ đã trực tiếp gây nên cái chết và mất tích của
80 người trong thời kỳ hắn ta còn là chỉ huy lực lượng Inteligencia ở thành phố San
Juan. Ngày 20-8-200 lệnh bắt giữ Jorge Olivera đã được ban hành đến tận Ý khi y
và vợ đang ở đó tham quan. Hai ngày sau, Cảnh sát Ý đã bắt giữ hắn ta về tội
danh diệt chủng theo lệnh của Toà án Pháp.
Sau khi biết tin này, hàng chục người ở thành phố San Juan sẵn
sàng bỏ công ăn việc làm sang tận Pháp và Ý để làm nhân chứng kết tội Jorge
Olivera. Hai cha con ông Domingo Palacio, người chủ cửa hàng xe đạp tại góc
đường Hacha và Tapia đã tố cáo đích danh Olivera trực tiếp chỉ huy vụ bắt giữ
Marie Anne. Ngoài ra còn có Eloy Camus - cực nhân viên mật vụ đã bỏ sang hàng
ngũ phe du kích Montoneros vào năm 1977 cho biết, ông sẵn sàng làm nhân chứng
để tố cáo hành vi cưỡng hiếp, tra tấn rồi thủ tiêu Marie Anne với sự tham gia
trực tiếp của Olivera.
ĐẰNG SAU CÁI CHẾT MỜ ÁM CỦA
MỘT SIÊU SAO ĐIỆN ẢNH
Ngày 29-11-1981, ngôi sao điện ảnh Mỹ Natalie Wood đã bị chết
một cách mờ ám ở hòn đảo Santa Catalina. Gần 20 năm sau, một nữ ký giả tên
là Geraldine Catralano đã tìm ra nguyên nhân của cái chết mờ ám này.
Natalie Wood bước vào thế giới điện ảnh từ rất sớm. Cô nổi tiếng
khi mới lên 9 qua bộ phim "Cuộc phiêu lưu của phu nhân Muir". Trên
con đường tạo dựng sự nghiệp, Natalie Wood đã chinh phục trái tim của nhiều tài
danh điện ảnh và ca nhạc như: James Dean, Elvis Presley, Robert Redford, hai
lần kết hôn với Robert Wagner. Sau khi cô chết một cách bi thảm và mờ ám, rất
nhiều tờ báo của Pháp, Anh, Mỹ đã đề cập đến nhưng sự thật chưa bao giờ được
làm rõ.
Gần 20 năm sau, tạp chí Vanity Fair theo đuổi một cuộc điều tra
tường tận, vén lên bức màn bí mật về những giờ phút sau cùng của siêu sao điện
ảnh xấu số này.
Năm 1957, lần đầu tiên Natalie kết hôn với Robert Wagner tại
bang Arizona khi ấy cô mới 19 tuổi nhưng đã rất nổi tiếng. Đôi vợ
chồng nghệ sĩ này hưởng tuần trăng mật trên một chiếc du thuyền neo ngoài bờ
biển Florida. Tuy vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, những đám mây đen đã
bao phủ cuộc sống của hai người. Bên trong cái vẻ vô tư thì Natalie là một phụ
nữ bản tính nhút nhát, luôn bị mất ngủ và ngờ vực đối với mọi người, nhất là
đối với chồng.
Năm 1963, họ ly dị nhau, ngay sau khi Natalie hoàn thành bộ phim
"Sự hăng máu". Kinh đô điện ảnh Hollywood hết sức ngạc nhiên khi
Natalie tái kết hôn với Robert Wagner chín năm sau đó tại Florida.
Suốt 9 năm sống riêng, mỗi người đều có cuộc sống của mình,
Natalie kết hôn với nhà sản xuất phim người Anh Richard Gregson, và có một bé
gái tên là Natasha. Còn Robert thì cũng thất bại sau cuộc hôn nhân với nữ diễn
viên kịch nói Marion Marshall Douen và có với cô này một bé gái tên là
Katharine. Đôi trai tài gái sắc này chính thức hoá sự hoà giải sau 9 năm trong
buổi lễ trao giải thưởng Oscar. Những người hâm mộ của họ trên khắp thế giới
vui mừng đến rơi lệ trước sự tái hợp của hai "thần tượng" này.
Họ bước vào một cuộc sống hạnh phúc tràn đầy. Vào những ngày
cuối tuần, họ thường cùng con gái tới hòn đảo thơ mộng Santa
Catalina bằng chiếc du thuyền mang tên Splendons của hai người để nghỉ xả
hơi. Natalie có lần tâm sự với một người bạn: "Sự chia cắt của chúng tôi
thực ra là một sự tốt lành". Về phương diện nghề nghiệp, mọi việc đã thay
đổi. Robert đã lên đến đỉnh cao của tài diễn xuất qua vai diễn trong phim
"Thú đùa cợt với những hiểm nguy". Còn Natalie thì muốn thay đổi hình
tượng của cô trong thập niên 50. Sự mất thăng bằng này, cùng với những tin đồn
tới tấp về những quan hệ tình cảm không trong sáng giữa Robert Wagner và cô đào
bốc lửa Stéphanie từng đóng cặp với Robert, đã gây thêm mối bất hoà giữa Robert
và Natalie.
Đúng lúc ấy thì Natalie đóng chung với nam tài tử Christopher
Walker trong bộ phim Brainstorm. Sự xuất hiện của anh chàng đẹp trai, đầy quyến
rũ này đem đến cho Natalie sự giải toả khỏi cuộc sống đầy nghi hoặc và một dịp
để trả đũa những lần "đi đêm" của Robert với Stéphanie. Natalie và
Christopher thường công khai tán tỉnh nhau, nhấp rượu chung với nhau ngay trước
mắt Robert. Tất cả cứ như trò đùa cợt khiến cho không ai dám xác định là hai
người có quan hệ bất chính với nhau hay không? Chính trong bầu không khí căng
thẳng của gia đình Natalie - Robert mà thảm kịch trên chiếc du thuyền Splendons
đã xảy ra. Vào một buổi sớm Chủ nhật, chiếc Splendons nhổ neo tiến ra hòn đảo
Catalina khi những cơn sóng lớn bắt đầu ập đến. Christopher bị say sóng nên
phần lớn thời gian anh nằm nghỉ trong phòng, chiếc du thuyền cập bến Avalon
trên đảo. Bộ ba diễn viên Robert, Natalie, Christopher lên bờ mua sắm, trước
khi quay về thuyền để dùng bữa. Vợ chồng Natalie - Robert đã nổ ra một cuộc cãi
vã khi ông chồng nằng nặc đòi cho du thuyền quay trở về đất liền để tránh giông
bão, trong khi Natalie phản đối lại và khăng khăng đòi lên đảo để nghỉ qua đêm.
Theo lời kể của thuyền trưởng Davern thì không khí căng thẳng giữa hai vợ chồng
này đã lên tới tột cùng. Sau đó thì Natalie và Davern lên bờ nghỉ qua đêm trong
khách sạn Le Pavillon, như hai người bạn thân. Buổi sáng ngày hôm sau, Natalie
quay trở về du thuyền và cuộc du hành trên biển được tiếp diễn như không có
điều gì xảy ra. Chiếc Splendons lập tức tiến về phía bắc hòn đảo rồi thả neo
tại đây vào buổi chiều.
Natalie và Christopher cùng nhau lên bờ để vào nhà hàng uống
rượu bỏ lại Robert và Davern trên du thuyền. Vài giờ sau, khi Robert và Davern
tìm tới nơi thấy hai người đang say rượu, họ cười cợt với nhau bất chấp sự hiện
diện của ông chồng đau khổ Robert. Sau đó, cả bốn người dùng bữa ăn tối, họ
uống nhiều rượu, Natalie tỏ ra bất cần đời, lúc sảng khoái, lúc nghiêm khắc.
Không khí thật nặng nề. Một ly rượu bị ném xuống đất. Robert Wagner tỏ vẻ bực
bội trước thái độ cợt nhả của Natalie khi cô công khai đùa cợt với Christopher
Walker. Robert cố tự kiềm chế trước thái độ gần như khiêu khích của vợ. Rồi cả
bốn người rời khỏi nhà hàng đầy vẻ bực dọc. Tuy nhiên, Robert vẫn dùng chiếc áo
choàng của mình khoác lên người Natalie để chắn gió lạnh cho vợ trong bước đi
lảo đảo vì say rượu của cô.
Trở lại du thuyền, không khí lại tiếp tục căng thẳng hơn vì họ
lại còn uống thêm rượu. Không còn tự kiềm chế được nữa, Robert hét vào mặt
Christopher:
- Mày còn muốn gì nữa đây? Định ngủ với vợ tao đấy ư?
Nói xong, Robert đập vỡ một chai rượu whisky ném xuống đất. Để
tránh rắc rối thêm, Christopher rời tiệc rượu quay trở về phòng của anh trên
tàu. Natalie cũng đứng lên, Robert liền theo chân vợ. Ngay sau đó, hai vợ chồng
cãi nhau rất kịch liệt trong phòng của Natalie và lại tiếp diễn trong buồng lái
của thuyền trưởng. Nhiều đồ vật bị ném đi tứ tung. Thuyền trưởng Davern khai
rằng, sau đó ông có nghe tiếng động của chiếc xuồng cấp cứu vừa được mở dây cột
vào tàu, sau đó một thời khắc im lặng kéo dài. 22 giờ hôm đó, Robert trở lại
phòng khách, đầu tóc rối bù, trán đẫm mồ hôi, sau khi được thuyền trưởng xoa
dịu, Robert lúc bấy giờ mới tỏ ra lo lắng muốn biết vợ mình ra sao và liền nhận
ra là phòng của vợ trống rỗng. Robert Wagner có vẻ hoảng hốt nói với Davern:
"Vợ tôi không biết đi đâu rồi?". Tuy nhiên, theo Davern, Robert có
hành động khó hiểu là từ chối việc cho bật đèn pha của chiếc du thuyền soi sáng
mặt biển để tìm kiếm xem Natalie có trôi dạt trên sóng biển để đến tiếp cứu.
Cảnh sát đã tìm thấy xác của Natalie bị sóng đánh tấp vào gần bờ và quá muộn
không thể còn cứu chữa được nữa.
Những tình tiết này hé mở ánh sáng cho cái chết khó hiểu của
Natalie Wood. Điều khó hiểu là nếu thuyền trưởng Davern là một nhân chứng trung
thực thì tại sao ông đã phải chờ quá lâu để thay đổi lời khai? Tại sao
Christopher Walken, người tình của Natalie qua hai lần khai báo với cảnh sát,
có nói đến những vụ hục hoặc giữa vợ chồng Natalie - Robert, luôn từ chối bày
tỏ quan điểm của mình và che đậy vai trò gây ra sóng gió trong gia đình Natalie
- Robert? Và tại sao Robert Wagner luôn tìm cách ngăn cản thuyền trưởng nói ra
tất cả sự thật? Natalie Wood cần có một lời giải thích để làm sáng tỏ cái chết
tức tưởi của cô! Sau 20 năm, người ta mới biết được một phần sự thật. Và cần
phải bao lâu nữa để nắm được tất cả mấu chốt của cái chết đầy nghi vấn này?
MỘT VỤ GIẾT NGƯỜI CỦA
CƠ QUAN TƯ PHÁP MỸ
Không kịp tổ chức ngày sinh nhật lần thứ 60 của mình, trước đó
một ngày, nhà triệu phú người Mỹ George Martin đã bị một hung thủ sát hại bằng
năm phát đạn vào sống lưng khiến ông chết ngay tức khắc. Nghe thấy tiếng súng,
bà vợ ông Martin hoảng hốt chạy từ nhà tắm ra, phát hiện thấy chồng mình bị
giết, bà lập tức gọi điện báo cho cảnh sát trưởng John Brooks. Lúc này, viên
cảnh sát trưởng không biết làm gì hơn ngoài việc xác nhận cái chết của ông
Martin và gọi điện thoại báo cho Ban án mạng ở Atlanta, thủ phủ bang Georgia.
Tại sao triệu phú George Martin lại bị sát hại? Ông sinh ra và
lớn lên tại thành phố này. Ông không chỉ là người giàu có nhất mà còn là một
trong những công dân đáng kính nhất tại Griffin. Những nỗ lực mở rộng kinh
doanh của ông đã góp phần đưa mức sống của nông dân ở đây lên cao hơn. Trước đó
hai năm, Martin từ chối chiếc ghế thị trưởng Griffin và tuyên bố muốn trở thành
thống đốc bang Georgia. Ông đã tung ra bốn triệu đô la vào chiến dịch vận động
bầu cử và được tất cả nông dân và các chủ trang trại bang Georgia ủng hộ. Ông
là ứng cử viên chắc chắn nhất cho chiếc ghế thống đốc bang. Phải chăng vì thế
mà người ta giết ông?
Khi ông cảnh sát trưởng nói với Thiếu tá Hunting, Trưởng ban án
mạng, là ông Martin không có kẻ thù trong thành phố này thì Hunting lắc đầu
nói: "70% dân số Griffin là người da đen. Như vậy, cứ một người da trắng
thì có hai người da đen - có nghĩa là hai kẻ thù!".
Tuy nhiên, cùng với các cộng sự của mình, Thiếu tá Hunting đã
không tìm thấy bất cứ một dấu vết nào, kể cả năm chiếc vỏ đạn. Bà Betty - vợ
nhà triệu phú cũng không cung cấp được cho ông ta tin tức gì khả dĩ có thể làm
cơ sở cho cuộc điều tra được. Nhưng bà Betty cho biết, cách đây hai tháng, ông
nhà đã cho anh lái xe người da đen tên là Jim Nashville nghỉ việc thì Hunting
ghi ngay tên anh này vào "sổ đen".
Suốt từ sáng sớm hôm sau, các xe tuần tra của cảnh sát sục sạo
khắp thành phố để truy tìm Nashville. Đến buổi trưa hôm đó, anh chàng lái xe da
đen tội nghiệp đã bị quật ngã một cách dã man bởi năm cảnh sát khi anh đang từ
trong một tiệm ăn bình dân bước ra.
Nashville phải trải qua cuộc hỏi cung đầu tiên trong một xà lim
lạnh lẽo, không cửa sổ. Thiếu tá Hunting lôi ra một khẩu súng được bọc nilông
và nói cảnh sát hình sự của ông ta đã tìm thấy khẩu súng đó trong phòng trọ của
Nashville.
Anh chàng da đen nhìn trân trân vào khẩu súng như một người vô
tri, vô giác và thốt lên: "Lạy chúa! Ông ơi, ông muốn gì ở tôi? Tôi chưa
bao giờ cầm khẩu súng này trong tay. Tôi còn không biết sử dụng nó như thế nào
nữa kia..."
Ngày hôm sau, tất cả các báo đều đăng ảnh Nashville và anh đã bị
kết tội tử hình ngay cả khi cơ quan cảnh sát còn chưa điều tra xong. Sau đó,
Thiếu tá Hunting tới hỏi bà Betty một lần nữa về vụ án mạng và thuyết phục bà
ta xác nhận rằng chính Nashville là kẻ đã bắn chết ông Martin. Những câu hỏi
theo kiểu "gợi ý" của Hunting làm bà Betty đã dần dần đồng ý nhận
dạng Nashville là hung thủ!
Hai tháng sau đó, phiên toà xét xử Jim Nashville được mở tại
thành phố Griffin. Suốt mấy tuần lễ qua, báo chí đã nhân vụ Nashville giúp cho
ứng cử viên cực kỳ hăng hái chống lại quyền bình đẳng của người da đen được bầu
vào ghế thống đốc bang.
Công tác bào chữa bắt buộc theo luật định được Toà giao cho ông
James Wood - một luật sư chưa từng bao giờ bào chữa trong phiên toà xét xử án
mạng. 12 vị bồi thẩm, những người sau này sẽ tuyên bố là người da trắng. Từ
phút đầu đến phút cuối cùng, cả 12 vị công dân da trắng này đều nhìn Nashville
như nhìn một con rắn độc.
Mọi cố gắng của luật sư Wood đều vô vọng. Phần lấy chứng cớ
trong phiên toà được tiến hành trôi chảy và rất nhanh chóng. Sau đó Jim
Nashville đã bị tuyên án tử hình bằng ghế điện.
Jim Nashville còn bốn tuần lễ để hi vọng vào một điều kỳ diệu
nào đó. Luật sư Wood cũng có chừng ấy thời gian để lần theo một dấu vết mà ông
đã nhận thấy trong khi Toà lấy lời khai của Thiếu tá Hunting. Từ dấu vết này,
vị luật sư nhận thấy, ai là kẻ đã thực sự giết chết ông Martin và có thể tìm
được hắn ở đâu. Ngay cả ở phiên toà, ông đã tiếp cận được khẩu súng nhãn hiệu
Webley được coi là hung khí mà Jim Nashville đã dùng để bắn chết ông Martin.
Mới nhìn thoáng qua ông đã có thể tin rằng thân chủ của ông không thể là kẻ
giết người được. Cũng giống như bất cứ khẩu súng nào khác, khẩu Webley này cũng
có số sản xuất được dập lên súng. Nhưng, dãy số sản xuất được dập lên khẩu súng
lại có thêm một chữ cái để chỉ một sêri súng nhất định chỉ dành riêng cho...
cảnh sát! Người luật sư còn biết súng quân dụng của cảnh sát có dập thêm một
hàng số kiểm soát nằm giữa nòng và báng súng nữa, để bất cứ lúc nào cũng có thể
kiểm tra được xuất xứ của súng. Wood nhận ra ngay một điều khi xem xét
"hung khí" là thủ phạm đã giũa đi dãy số kiểm soát này.
Xà lim số 401 trong nhà tù Raidsville là một xà lim an toàn
tuyệt đối. Nashville đã bị giam 30 ngày trong xà lim này. Một người cai ngục có
thân hình lực lưỡng tên Glendale là người duy nhất hằng ngày tiếp xúc với anh.
Vào cái buổi tối ngày thứ 30 ấy, viên cai ngục vào mang theo một
bộ quần áo màu đỏ - bộ quần áo tử tù phải mặc lúc hành hình. Ông ta thì thầm
với Nashville: "Đến rồi Jim ạ. 12 tiếng đồng hồ nữa cậu sẽ bị nướng
đấy".
Trong suốt buổi tối cuối cùng trước ngày hành hình Nashville,
ông luật sư James Wood ngồi trực bên điện thoại trong văn phòng luật sư của
ông. Đối với luật sư Wood, điều tệ hại hơn là những giằng co, thất vọng trong
thâm tâm ông là việc ông không có được điều kiện để theo đuổi dấu vết của tên
giết người thực sự. Để làm được điều đó, ông cần phải có được hung khí - khẩu
Webley ổ quay - để đưa đi xét nghiệm bằng phương pháp quang phổ xác định số
kiểm soát của cơ quan cảnh sát trước kia đã được đóng lên khẩu súng và sau đó
đã bị hung thủ giũa đi. Tuy nhiên, khẩu Webley tang vật đã được lưu vào hồ sơ
của Toà án và sau khi kết thúc phiên toà không ai được phép xem lại tang vật đó
nữa. Để làm được điều đó, luật sư Wood cần phải đưa ra được một nguyên nhân
quan trọng dẫn đến việc giám đốc thẩm lại bản án. Cuối cùng, ông đã phát hiện
ra ngày xét xử thứ hai chỉ có 11 bồi thẩm tham gia phiên toà! Vậy là thiếu một
người! Theo Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là một sai sót lớn. Ông đệ đơn lên
Toà án tối cao bang Georgia đề nghị cho giám đốc thẩm lại bản án.
Buổi sáng cuối cùng Jim Nashville còn được phép sống, luật sư
Wood nhận được một xác nhận bằng văn bản từ Atlanta và đơn xin giám đốc thẩm
lại bản án của ông đã được tiếp nhận. Nhưng, không vì thế bản án tử hình có thể
được huỷ bỏ hay không mà còn phải được Toà án tối cao xem xét. Trong khi ấy,
một người duy nhất có quyền ra lệnh tạm đình chỉ việc thi hành án đó là Thống
đốc bang Georgia. Vị Thống đốc đương nhiệm chính là người đã leo lên chiếc ghế
cao nhất Georgia nhờ cái chết của ông Martin.
3 giờ kém 1 phút, người tử tù da đen đã đứng sẵn sàng bên song
sắt. Chiếc kim đồng hồ đang quay như không gì có thể cản nổi.
Đúng 7 giờ 45 phút, ông giám thị xuất hiện cùng với ba người mặc
quân phục trang trọng như trong một buổi duyệt binh. Trong cái phút cuối cùng
ấy, không một cú điện thoại nào còn được gọi đến để ngăn cản cuộc hành hình Jim
Nashville nữa. Cảnh sát trưởng Brooks, ông công tố viên Nash và một đại diện
của bồi thẩm đoàn ngồi sau một tấm kính chống đạn với tư cách là nhân chứng
giám sát vụ giết người do cơ quan tư pháp gây ra này. Đúng 8 giờ 10 phút, họ ký
vào biên bản xác nhận bản án đã được thi hành đúng quy định.
Sau đó một ngày, luật sư Wood đã nhận được một công văn từ văn
phòng của thống đốc bang thông báo như sau: "Chậm nhất là 48 tiếng trước
thời hạn thi hành án, đơn xin hoãn thi hành án tử hình bằng văn bản phải được
trao trực tiếp tới tay thống đốc bang với đầy đủ lý do cụ thể. Do đó, chỉ xét
theo qui định này thôi thì đề nghị bằng miệng của ông lên văn phòng thống đốc
bang đã có lý do để không thể được xem xét rồi".
Tuy nhiên, có lẽ là để thể hiện sự độc lập từ tự do của hoạt
động tư pháp ở Georgia, nên sáu tuần lễ sau, Toà án tối cao bang này đã chấp
thuận bản kháng nghị có nêu rõ lý do của luật sư Wood. Toà án tối cao Georgia
tuyên bố, bản án tử hình của Toà án Griffin xử Nashville đã được thi hành từ
lâu là trái với pháp luật! Sau ba tháng, một phiên toà mới được mở lại vẫn
tuyên bố xử "vắng mặt" Jim Nashville án tử hình trên ghế điện vì tội
đã giết chết George Martin!
Trong thời gian chuẩn bị cho phiên toà thứ hai này, luật sư
James Wood đã lấy được hung khí từ hồ sơ vụ án ra và giữ được nó trong ít ngày
bằng cách đánh tráo vào hồ sơ một khẩu Webley khác. Ông đã dùng phương pháp
quang phổ để tái tạo lại số kiểm soát của cảnh sát đã bị hung thủ giũa đi trên
hung khí và bí mật xác định được chủ nhân cuối cùng của khẩu súng. Đó là Rocky
Rothschild, một sĩ quan cảnh sát hình sự ở Atlanta. Y đã bị sa thải vì tội
ăn hối lộ.
Đã hai năm kể từ ngày phiên toà được mở lại, luật sư James Wood
vẫn lặng lẽ làm việc trong văn phòng luật sư nhỏ bé của mình. Cho đến ngày
14-7-1967, một tờ báo ở Atlanta đưa tin rằng, ở Kentucky, trong một vụ đụng độ
giữa cảnh sát và bọn tổ chức cá cược bất hợp pháp có một kẻ tên là Rocky
Rothschild đã bắn một cảnh sát bị thương nặng. Đọc đoạn tin này, luật sư James
Wood không rời khỏi tờ báo được nữa. Nếu đúng đây là kẻ ông đang tìm, thì liệu
có buộc được hắn khai ra là đã bắn chết George Martin, hoặc ít nhất là có dính
líu đến vụ án mạng hay không?
Sau đó, luật sư Wood viết ngay một lá thư cho Rothschild đang ở
trong tù và nhận sẽ bào chữa miễn phí cho y. Tất nhiên là Rothschild đồng ý.
Sau vài chục giờ đồng hồ tiếp xúc và thuyết phục Rothschild, Wood đã được nghe
một nửa sự thật từ Rothschild về vụ ám sát George Martin. Y khai đó là khẩu
súng của y, khi còn là cảnh sát đội chống rượu lậu, được một kẻ tên là Leonie
Neal dùng để bắn chết triệu phú George Martin, vì ông này đã tố cáo việc đội cảnh
sát chống rượu lậu ăn tiền của bọn buôn rượu lậu.
Tiếp đó, bằng nỗ lực của mình, luật sư Wood đã tìm thấy Leonie
Neal trong một trại giam khác. Tên này khai chính Rocky Rothschild đã mặc cảnh
phục đột nhập vào biệt thự của George Martin và bắn chết ông ta. Sau đó,
Rothschild đã chôn bộ quần áo cảnh sát tại nghĩa địa Sallis Creek, nằm khoảng
giữa đoạn đường từ Atlanta đi Griffin.
Ngày hôm sau, Ban án mạng Atlanta dưới quyền Thiếu tá Hunting
đào được bộ quần áo cảnh sát của Rothschild tại nghĩa trang Sallis Creek và tìm
thấy ngay bằng chứng về việc George Martin bị một sỹ quan cảnh sát bắn chết.
Luật sư James Wood coi đây là chiến tích lớn nhất trong cuộc đời luật sư của
ông.
Ngày 14-1-1968, Rothschild bị toà xử chung thân vì tội giết
người. Trong mẩu tin mà các báo ra hằng ngày ở bang George, người ta không thấy
nêu ai là nạn nhân của vụ giết người do Rothschild gây ra cả. Trong phiên toà
này, James Wood không phải là luật sư bào chữa, vị trí này đã được giao cho một
luật sư khác. Cơ quan quản lý luật pháp không minh bạch để tìm cách lấy tang
vật của vụ án. Người ta đã ám chỉ việc luật sư Wood đánh tráo khẩu Webley để bí
mật đưa đi giám định. Thế là, việc luật sư James Wood điều tra ra vụ ám sát
triệu phú George Martin không phải là đỉnh cao, mà là dấu chấm hết cho sự
nghiệp luật sư của ông.
Có thể nói, đây là những viên ngọc đẹp của thanh niên thời hiện
đại.
KẺ SÁT NHÂN MANG TÊN
"CON TRAI CỦA SAM"
Hàng trăm cảnh sát được được tung vào chiến dịch Omega
nhằm truy bắt thủ phạm được nghi vấn là kẻ điên khùng hoặc bệnh
hoạn về tình dục. Vụ án này được coi là kinh điển trong lịch
sử tội phạm học và cũng từ vụ án này mà thuật ngữ "Kẻ giết
người hàng loạt" ra đời. Bắt đầu từ cái tên "con trai
của Sam"...
*
*
*
Ngày 29-7-1976, "Con trai của Sam" mở cuộc tấn công
đầu tiên. Hai cô gái trẻ, Donna Lauria, 18 tuổi và cô bạn Jody Valenti đang
ngồi nói chuyện trong xe của Jody ngay trước cửa nhà cô tại
quận Bronxe, New York. Khi ấy là 1 giờ sáng. Bỗng nhiên, một gã đàn ông
xuất hiện, Donna băn khoăn chưa biết gã là ai thì y đã rút khẩu súng lục 44 ly
và nổ năm phát súng vào trong xe. Donna chết ngay lập tức, còn cô bạn Jody thì
bị thương ở hông.
Ba tháng sau khi xảy ra vụ sát hại cô Donna, đêm 23-10-1976,
Carl Denaro, một thanh niên 21 tuổi, uống bia cùng bạn bè ở một quán rượu ăn
mừng sự kiện vài ngày tới anh ta sẽ gia nhập không quân Hoa Kỳ. Tham dự bữa
tiệc này có cô bạn gái Rosemary Keenau mà anh quen từ hồi đi học. Bữa tiệc kết
thúc lúc 2 giờ 30 phút sáng và Carl đưa Rosemary về nhà. Đôi bạn dừng xe gần
nhà cô gái và nói chuyện. Bỗng nhiên, một gã đàn ông xuất hiện trên vỉa hè. Y
rút súng bắn năm phát vào trong xe khiến Carl bị thương nặng.
Chỉ chưa đầy một tháng sau, vào tối ngày 26-11-1976, hai cô gái
Donna De Mari, 16 tuổi và Joane Lomino, 18 tuổi, trở về nhà sau khi xem phim.
Khi đến gần nhà, Joane nhìn thấy một gã đàn ông đứng gần đó nên giục bạn đi
nhanh. Nhưng, đã quá muộn. Hai cô gái đã bị gã đàn ông bám theo, rồi hắn bất
thần vượt lên, rút khẩu súng từ trong túi áo khoác và bóp cò. Cả hai cô gái đều
trúng đạn. Nghe thấy tiếng kêu của con gái, gia đình Joane chạy ra và đưa cả
hai vào bệnh viện. Hai em được cứu thoát nhưng thương tật còn theo họ suốt đời.
Joane bị bán thân bất toại.
Tên sát thủ hàng loạt lại xuất hiện vào rạng sáng ngày
30-11-1977. Cô gái 26 tuổi Christine Freund và người yêu, anh John Diel vừa
bước ra từ Viện bảo tàng Wine lúc nửa đêm, đang tiến về phía chiếc ôtô của họ
thì phát hiện có một gã đàn ông bám theo. Họ vừa mới ngồi vào trong ôtô thì hai
phát súng nổ lên xé toạc màn đêm. Christine bị trúng hai phát đạn vào đầu. John
thoát ra ngoài kêu cứu ầm ĩ. Christine được đưa vào bệnh viện nhưng vì vết
thương quá nặng đã chết ngay sau đó.
Cả thành phố New York kinh hoàng vì tên sát thủ. Một
lực lượng cảnh sát đông hàng trăm người được tung vào chiến dịch truy tìm sát
thủ mang tên "Chiến dịch Omega".
Joe Coffey - một thám tử 43 tuổi vốn nổi tiếng về sự quả cảm và
lòng quyết tâm đã cùng với Đại uý Borrelli nghiên cứu kỹ vụ án mạng mới nhất
này. Hai người đã nhận thấy có điểm tương đồng giữa vụ án này với vụ sát hại
các cô Donna Lauria, Donna De Mari và Joane Lomino. Thám tử Coffey đặt giả
thiết tên sát thủ là một kẻ tâm thần bệnh hoạn chuyên tìm phụ nữ để gây án. Tuy
nhiên nghiên cứu hồ sơ về những vụ gây án chẳng thể tìm ra một kẻ tình nghi
nào, và họ cũng không tìm ra mối liên hệ giữa các nạn nhân với một người thứ
ba.
Đúng đêm 8-3-1977, nữ sinh viên xinh đẹp Virginia Voskerichian
trở về nhà từ Trường đại học Barmard. Lúc cô đến Dartmouth thì nhận
thấy có một người đàn ông đi ngược chiều về phía mình. Khi tới gần cô gái, bất
ngờ gã đàn ông rút khẩu súng ngắn 44 ly chĩa thẳng vào cô và nổ súng. Mặc dù vô
cùng hoảng hốt nhưng cô sinh viên cũng kịp đưa cuốn sách lên che đạn. Tuy
nhiên, một viên đạn đã bắn trúng mặt cô và cô gái xấu số chết ngay lập tức.
Những nhân viên điều tra tin rằng, tên sát thủ sẽ còn xuất hiện
và mục tiêu sắp tới sẽ lại là các cô gái đẹp, nhưng đâu là biện pháp để ngăn
chặn tên giết người hàng loạt đang say máu? Tất cả những gì mà cảnh sát biết,
theo mô tả của các nhân chứng, tên giết người là "một người da trắng,
khoảng 25-30 tuổi, cao chừng 1m75, người vừa phải và có mái tóc sẫm màu".
Không sai so với dự đoán của cảnh sát, bóng ma tên sát thủ lại
xuất hiện. Ngày 17-4-1977, một cặp tình nhân ngồi hôn nhau trong chiếc xe của
họ gần đường Hutchinson, cách nơi Donna Lauria bị sát hại cách đó một năm
không xa lắm. Cô gái 18 tuổi Valentin Suriani là một diễn viên và người mẫu
đang lên, còn chàng trai là Alexander Esau, 21 tuổi. Đó là lúc 3 giờ sáng ngày
chủ nhật. Bất chợt, một chiếc xe khác xuất hiện, ghé sát vào chiếc xe của cặp
tình nhân. Tên lái xe đột ngột nổ súng vào đôi trai gái, dĩ nhiên là bằng khẩu
súng 44 ly. Cô người mẫu Valentin chết ngay trên xe, còn anh chàng Alexander
vài giờ sau cũng từ giã cõi đời trong bệnh viện. Tuy nhiên, khác với lần trước,
lần này tại hiện trường có để lại một lá thư của tên giết người gửi cho Đại uý
Borrelli, một trong những thành viên chủ chốt của "Chiến dịch Omega".
Bức thư viết:
"Đại uý Joseph Borrelli thân mến!
Tôi là "con trai của Sam". Khi cha tôi, Sam, say rượu,
ông ta đánh đập cả nhà tôi. Sam ra lệnh cho tôi đi giết người...
Tôi thích lang thang trên phố tìm trò chơi. Những phụ nữ xinh
đẹp là tôi thích nhất. Tôi săn họ để lấy máu cho cha tôi. Tôi buộc phải làm như
vậy để làm vừa lòng cha tôi. Tôi yêu thế giới này. Tôi yêu mọi người. Đối với
người phụ nữ đẹp, tôi yêu họ.
Chúa phù hộ cho các người kiếp này và kiếp sau!".
Lá thư được tiết lộ cho giới báo chí vào tháng 6-1977 và thế là
thế giới đã biết được tên của kẻ sát nhân: "con trai của Sam".
Cảnh sát tiếp tục mở rộng Chiến dịch Omega. Tiến sĩ Martia - một
chuyên gia giám định pháp y nổi tiếng, được mời vào nhóm đặc nhiệm cùng với
khoảng 40 bác sĩ tâm lý khác để góp phần xây dựng hồ sơ về tên tội phạm nguy
hiểm. Đến tháng 5-1977, về sơ bộ thì cảnh sát đã có một chân dung phác hoạ về
tên sát thủ: một kẻ mắc bệnh tâm thần, luôn coi mình là kẻ có quyền lực ma
quái, và hơn hết, chắc chắn y phải là một kẻ cô đơn thường gặp khó khăn trong
quan hệ với mọi người, đặc biệt là với phụ nữ.
Ngày 10-6, một người đàn ông tên là Jack Cassara sống ở New
Rochelle nhận được một lá thư kỳ quặc của một người nào đó tên là Carr ở
quận Yonkess gửi cho mình. Trong lá thư có cả bức ảnh của một con chó. Lá thư
viết:
"Jack mến!
Tôi lấy làm tiếc khi nghe tin ông ngã từ trên mái nhà xuống. Tôi
tin rằng ông sẽ mau chóng hồi phục. Lần tới, ông phải cẩn thận hơn đấy. Vì phải
nghỉ ngơi lâu nên nếu Nann cần gì giúp đỡ thì hãy liên lạc với chúng tôi nhé.
Chân thành.
Sam và Francis."
Trong thực tế, Cassana không hề bị ngã và cũng chưa bao giờ quen
ai là Sam và Francis Carr. Tuy vậy, cậu con trai 19 tuổi của ông Cassara chợt
nhớ ra rằng, đầu năm 1976, có một gã đàn ông kỳ quặc tên là David Berlcowitzx
đã từng thuê nhà của họ trong một thời gian ngắn. Nhưng, sau khi đặt cọc 200
USD y không quay lại nữa, dường như người đàn ông này bị khó chịu vì con chó mà
gia đình họ nuôi.
Thế là bà Nann, vợ ông Cassara lập tức gọi điện báo cho cảnh sát
biết tin này. Bà Nann tin rằng, gã Berkowitz đó chính là tên sát thủ khét tiếng
"con trai của Sam". Nhưng, các thám tử lại tin rằng khó có khả năng
Berkowitz là tên giết người vì tuy y hơi lập dị, song những kẻ lập dị như vậy
thì cảnh sát đã quá quen rồi. Mặc dầu vậy, hai viên cảnh sát Chambertain và
Intervallo vẫn quyết định lưu tên của Berkowitz vào máy tính của họ, đồng thời
kiểm tra địa chỉ, số đăng ký chiếc xe Ford mà y sở hữu.
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 26-7-1977, cô gái trẻ đẹp Judy Placido
và bạn trai là Sal Lupo đã trở thành những nạn nhân cuối cùng của "con
trai của Sam". Khi ôtô của họ vừa chuẩn bị rời sàn nhảy Elephas ở quận
Queen, tên điên loạn đã xuất hiện và bắn họ từ phía sau xe. Cả hai rất may là
đều thoát chết.
Cách đó một năm, cô Donna Lauria, nạn nhân đầu tiên của tên sát
thủ bị hại ngày 29-7-1976. Cơ quan điều tra đã đặt giả thiết là có thể tên
"con trai của Sam" đang thực hiện một vụ thảm sát kỷ niệm một năm
ngày y sát hại nạn nhân đầu tiên. Đội đặc nhiệm Omega ngày càng tuyệt vọng. Làm
sao để bảo vệ những phụ nữ trẻ đẹp khỏi bị tên sát thủ ám hại? Thám tử Coffey
thậm chí còn định cho cảnh sát mặc áo chống đạn đi cùng với người mẫu để bẫy
tên sát thủ nhưng lại thôi. Ngày 29-7, thành phố ở trong tình trạng hết sức
căng thẳng. Nhưng hôm đó "con trai của Sam" không xuất hiện.
Hai ngày sau, điều tồi tệ nhất đã xảy ra!
Rạng sáng ngày 31-7, một cô gái trẻ đẹp tên là Stacy Moskowitz
cùng bạn trai là Bobby Violante đã bị "Con trai của Sam" tấn công tại
một công viên của quận Brooklyn. Bobby bị trúng hai phát đạn vào mặt, còn
Stacy trúng một viên đạn vào đầu. Cả hai lập tức được đưa vào bệnh viện nhưng
Stacy đã chết vì vết thương quá nặng. Bobby thoát chết, nhưng anh bị hỏng mắt
trái và mắt phải thị lực chỉ còn 20%.
Đến thời điểm này, cảnh sát bắt đầu lật giở lại hồ so của tên
David Berkowitz. Họ nhận thấy tên này có ngoại hình khá giống với mô tả của các
nhân chứng về tên sát thủ "Con trai của Sam". Hai viên cảnh sát đến
nơi ở của Berkowitz ở phố Pine và gặp người cho Berkowitz thuê nhà. Họ được
biết y làm việc ở Công ty thiết bị an ninh IBI. Thông tin này khiến hai nhân
viên cảnh sát cho rằng Berkowitz có biết chút ít về súng đạn. Họ gọi cho Công
ty IBI nhưng được biết Berkowitz đã bỏ làm từ tháng 7-1976. Vụ án mạng đầu tiên
do "Con trai của Sam" gây nên cũng xảy ra vào tháng 7-1976.
Viên cảnh sát Chamberlain còn nhận được thông tin từ ông Craig
Glassman, người sống cùng với tên Berkowitz trong một toà nhà. So nét chữ với
những mẩu tin nhắn mà Berkowitz gửi cho Glassman, cảnh sát thấy rằng đây cũng
chính là kiểu chữ trong lá thư mà ông Cassara nhận được!
Tất cả mọi đầu mối giờ đây tập trung vào tên Berkowitz. Ngày
10-8 một lực lượng an ninh được bố trí dày đặc quanh nơi tên Berkwitz cư trú.
Gần 10 giờ tối hôm ấy, Berkowitz mới lững thững ra khỏi nhà. Cảnh sát ập đến
khi gã vừa nổ máy xe.
David Berkowitz sinh năm 1953. Vì không được người cha nhìn nhận
nên người mẹ của Berkowitz buộc phải cho hắn đi làm con nuôi. Tên sát thủ lớn
lên trong sự cưu mang của bố mẹ nuôi Nat và Pearl Berkowitz. Hắn rất được bố mẹ
nuôi chiều chuộng. Nhưng hắn là kẻ ít nói và trầm lặng, chỉ thích sống cô độc.
Năm 1067, khi mẹ nuôi chết vì bệnh ung thư, Bercowitz vô cùng
đau khổ. Y bị khủng hoảng tâm lý trầm trọng sau cái chết của bà mẹ nuôi. Năm
1971, cha nuôi của Berkowitz cưới vợ hai, những bà dì ghẻ này không hoà thuận
lắm với y. Đôi vợ chồng tới sống ở Florida, để mặc y một mình. Lúc này y
mới 18 tuổi.
Năm 1971, Berkowitz gia nhập quân đội và tại ngũ trong vòng ba
năm. Y là một quân nhân xuất sắc, và đặc biệt có năng khiếu sử dụng súng. Sau
khi giải ngũ, y gặp lại mẹ đẻ là bà Betty Falco và em gái, Roslyn. Tuy vậy, chỉ
trong một thời gian ngắn, Berkowitz lại rời bỏ mẹ đẻ và em gái để sống một
mình.
Người phụ nữ duy nhất mà y có quan hệ tình dục là một cô gái
điếm người Hàn Quốc, nhưng rủi thay, cô ta đã để lại cho hắn một "món
quà" chẳng hay ho gì, đó là một căn bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Hắn vô cùng giận dữ và căm ghét phụ nữ. Từ đó, hắn bắt đầu một cuộc sống bạo
lực.
Vào dịp lễ Noel năm 1975, Berkowitz bị khủng hoảng về tinh thần.
Đúng đêm Noel, hắn giắt một con dao trong người rồi đi ra phố tìm phụ nữ trẻ. Y
tấn công hai người nhưng do bị kháng cự quyết liệt y phải bỏ chạy.
Sau hai vụ tấn công phụ nữ vào đêm Noel 1975, Berkowitz tiếp tục
trở lại làm việc ở Công ty thiết bị an ninh IBI. Hắn chuyển nhà từ căn hộ ở
quận Bronx tới căn nhà do Jack và Nann Cassara cho thuê. Hắn thuê căn
hộ trong hai năm và đặt cọc 200 USD. Tuy nhiên, ở đây, con chó của gia đình
Cassara cứ sủa suốt cả ngày khiến hắn rất khó chịu. Hắn gần như phát điên vì
căng thẳng.
Ba tháng sau, Berkowitz quyết định chuyển tới thuê căn hộ ở phố
Piue, và hắn bỏ đi mà không đòi lại số tiền 200 USD đã đặt cọc ở gia đình
Cassara. Tuy vậy, tình hình ở chỗ mới này cũng chẳng có gì khá khẩm hơn. Khu
phố này cũng lắm nhà nuôi chó mà trường hợp nhà ông Sam Carr nuôi
con Harvey là một ví dụ. Lúc đầu, y gửi thư doạ, rồi sau đó y tìm
cách giết con chó. Y đặc biệt căm ghét gia đình Cassara và ông Sam Carr bởi họ
đã để chó sủa suốt cả ngày không cho y yên thân. Y kể rằng, y tưởng tượng trong
con người ông Sam Carr là một con ác quỷ tên là Sam. Do đó, y tự tạo cho mình
cái tên là "con trai của Sam".
Thực ra, Berkowitz là một kẻ bệnh hoạn về tình dục, một kẻ muốn
trả thù phụ nữ vì y không thể có quan hệ tốt đẹp với phụ nữ. Do vậy, y bắt đầu
thích thú theo dõi và hành hạ những phụ nữ trẻ đẹp khi y lên cơn thèm khát tình
dục. Cuối cùng để trả giá cho những ý tưởng cuồng dại của mình, y đã phải chịu
một án tù 365 năm.
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO MỘT
NGƯỜI CHỒNG BẠC ÁC
Hôm đó là ngày sinh nhật lần thứ 44 của Carolyn Oppy. Ken Stahl
- chồng của cô hứa rằng anh ta sẽ mang về cho cô "một điều bất ngờ
lớn". Động thái đó của chồng khiến Oppy phấn chấn hẳn lên và cô rất hy
vọng nhân dịp này sẽ cải thiện mối quan hệ vợ chồng bấy lâu nay luôn tỏ ra nhạt
nhẽo, không nồng đượm. Tuy nhiên, khi Sahl chở cô vợ vào một con đường cao tốc
tối tăm, cách nhà trọ của họ 50km ở khu bãi biển Huntington, California thì
Oppy thực sự cảm thấy băn khoăn, lo lắng. Không có đèn đường, chẳng có một bóng
dáng của ngôi nhà nào trong tầm mắt, và Oppy nghĩ rằng chẳng có bất kỳ một lý
do nào để đến đây vào ban đêm cả! Thế rồi điều lo lắng của người vợ tội nghiệp
ấy đã trở thành sự thực. Xe chạy chậm dần lại và tên giết người tiến lại gần
với khẩu súng trong tay để thực hiện một kế hoạch đã được thoả thuận từ trước.
Những viên đạn lạnh lùng bay ra khỏi nòng súng cướp đi sinh mạng của hai vợ
chồng Oppy. Kẻ sát nhân lặng lẽ tháo lui sau khi đã xoá sạch dấu vết. Hơn một
giờ sau, cảnh sát địa phương, trong lúc tuần tra, đã phát hiện ra xác của hai
nạn nhân trên chiếc xe ô tô 1996 Dodge Stratus màu nhũ...
Vụ giết người trên được xảy ra từ hơn một năm trước vào đêm thứ
bảy ngày 20-11-1999 trên cao tốc Ortega thuộc vùng Orange
Country, California. Sau khi khám nghiệm tử thi và tìm hiểu tung tích nạn
nhân, cơ quan điều tra biết được Ken Stahl là một chuyên viên gây mê làm việc
tại bệnh viện trung tâm gần Huntington. Đây là một người đàn ông 57 tuổi,
cao 1.70m và nặng 80kg. Stahl vẫn phải tập thể dục hằng ngày, phải thực hiện
một chế độ ăn kiêng và điều trị đặc biệt rất tốn kém vì từ năm 1979 đến trước
khi bị giết, ông ta đã phải trải qua nhiều lần phẫu thuật tim mà gần đây nhất
là vào tháng 7-1999, khi các bác sĩ cho biết cơ hội sống sót chỉ là 20%. Còn
Carolyn Oppy, vợ của Stahl là một bác sĩ nhãn khoa giỏi, làm việc tại một bệnh
viện nhỏ gần ngôi nhà...
Lúc đầu, công tác truy tìm hung thủ tỏ ra bế tắc. Mặc dù cảnh
sát đã khám nghiệm hiện trường rất kỹ nhưng họ không thu được kết quả nào cụ
thể. Không có bất kỳ nhân chứng hay manh mối nào. Không ai nhìn thấy kẻ giết
người cũng như nghe thấy tiếng súng nổ và ngay cả những vỏ đạn cũng chẳng còn
sót lại trên mặt đất. Người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết nhưng đều không có
chứng cớ chắc chắn: Một vụ giết người bột phát? Một vụ thanh toán lẫn nhau? Hay
một vụ giết người cướp của? Tất cả giả thuyết đều bị phủ nhận vì cả hai người
đều không có kẻ thù và đồ đạc của họ trên xe không có dấu hiệu bị mất mát.
10 tháng sau, việc điều tra vụ án gần như không có tiến triển
gì. Nó được bàn giao lại cho hai thám tử Brian Meaney và Felipe Villalobos.
Meaney là một thám tử dày dạn kinh nghiệm với thâm niên 23 năm trong nghề cảnh
sát, trong đó có 7 năm ở đội đặc nhiệm chống bọn tội phạm ma tuý. Còn thám tử
Villalobos đã có thâm niên 14 năm chuyên đấu tranh chống bọn tội phạm có tổ
chức và bọn tội phạm hiếp dâm trước khi giết người.
Nhận vụ án, hai thám tử dày công nghiên cứu kỹ hồ sơ, thực hiện
nhiều biện pháp nghiệp vụ cần thiết và đầu mối vụ án đã hé mở khi họ phát hiện
thấy trong bảng kê khai các cuộc gọi điện thoại của Ken Stahl có rất nhiều cuộc
gọi tới cho Adriana Vasco - một nữ tiếp tân tại bệnh viện nơi Stahl làm việc.
Thẩm tra mối quan hệ này, các thám tử biết được, đã từ lâu, Vasco là tình nhân
của Stahl và trong suốt thời gian đó, Stahl đã nhiều lần đưa tiền cho Vasco để
chi tiêu. Bám theo đầu mối này, hai thám tử Meaney và Villalobos đã dần làm
sáng tỏ vụ án...
Ken Stahl là một gã đàn ông có thói "trăng hoa". Anh
ta luôn tìm cách tán tỉnh, ve vãn những nữ y tá độc thân, những người phụ nữ
trẻ... và vì thế, 14 năm chung sống với Stahl là cả một khoảng thời gian dài
đau khổ của Oppy. Thành đạt trong công việc nhưng lại bất hạnh trong cuộc sống
gia đình, Oppy đã nhiều lần có ý định ly hôn nhưng cuối cùng lại không thực
hiện được vì hi vọng Stahl thay đổi. Cô còn nghỉ việc một thời gian dài sau
những lần Stahl bị phẫu thuật để chăm sóc anh ta.
Những nỗ lực của Oppy để cải thiện quan hệ vợ chồng đã trở thành
công dã tràng khi tình cảm của Stahl với Vasco bùng phát và cản trở duy nhất
trong mối quan hệ bất chính này là sự hiện diện của Oppy. Thay vì lựa chọn giải
pháp ly hôn, Stahl rắp tâm giết hại vợ.
Để thực hiện ý đồ tội lỗi này, Stahl nhờ Vasco tìm kiếm kẻ giết
thuê. Rất nhanh chóng, Vasco giới thiệu cho Stahl người hàng xóm của mình tên
là Tony Salton ở khu chung cư Anaheim. Bọn chúng đã đi đến thoả thuận là
Stahl sẽ trả đủ 30.000 USD cho Statton nếu anh này giết được Oppy bằng cách tạo
ra một vụ cướp nhằm làm chệch hướng điều tra của cơ quan an ninh. Nhóm sát nhân
này chụm đầu lại vạch ra một kế hoạch giết người chi tiết. Tuy nhiên, kẻ chủ
mưu - Stahl đâu có biết rằng, kẻ thực hiện - Statton đâu có thực hiện đúng kế
hoạch. Cả hai vợ chồng Stahl đều bị giết.
Ngay cả trước khi chết, Stahl cũng không hề biết rằng, Satton
cũng là tình nhân của Vasco và tên thật của hắn là Dennis Earl Golley một tên
tội phạm nguy hiểm, có nhiều tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm phụ nữ và
đang có lệnh truy nã của cảnh sát liên bang.
Sau khi gây án, Statton ẩn náu tại khu vực bắc Caronia. Vào cùng
thời gian này, hắn cũng bị cảnh sát vùng Pitt County, Greenvill, thành phố
NewYork, truy nã ráo riết vì dính líu đến một vụ cướp của trước đó một năm mà
để tẩu thoát vào rừng, hắn đã gây thương tích nặng cho một cảnh sát. Tháng
8-2000, nghĩa là 9 tháng sau khi thực hiện vụ giết người
ở Orange County, Golley đã bị cảnh sát
vùng Pitt County tóm cổ ngay tại nhà bố mẹ đẻ của hắn. Tuy
nhiên, phải mất hai tháng sau, hai thám tử Meaney và Villalobos mới nhận được
tin này.
Vào ngày 11-12-2000, cảnh sát liên bang đã ra lệnh bắt khẩn cấp
Statton và Vasco. Bọn chúng bị buộc tội giết người có tổ chức, giết nhiều
người, tội mai phục và giết người vì động cơ tài chính, mà theo luật hình sự
của bang California, cả hai sẽ phải chịu án tử hình. Riêng Statton còn
phải đối mặt với phiên toà xét xử y ở NewYork về vụ cướp của, trước khi bị xét
xử ở California.
50 NĂM OAN TRÁI CỦA MỘT
LÍNH MỸ DA ĐEN
Eddie Carter là một trong số bảy người lính từng bị kết tội làm
gián điệp phản bội tổ quốc một cách đầy oan trái trong suốt 17.000 ngày (gần 50
năm). Năm 1997, Tổng thống Clinton đã trao tặng huy chương Danh dự và
tuyên dương Anh hùng cho bảy người lính da đen này. Vụ án của Carter là đề tài
hấp dẫn để các nhà báo, nhà văn Mỹ đấu tranh vì nhân quyền và chống lại sự phân
biệt chủng tộc.
Carter sinh năm 1916 tại Los Angeles (Mỹ), nhưng lại
lớn lên ở Calcutta (Ấn Độ). Khi Carter gần đến tuổi trưởng thành, gia
đình anh chuyển tới sống ở thành phố Thượng Hải (Trung Quốc). Cha mẹ Carter ly
dị, ông lấy vợ kế, Carter rời khỏi nhà, gia nhập quân đội Trung Quốc chiến đấu
chống Nhật. Người cha đã đón anh trở về nhà nhưng Carter không ở được lâu. Anh
trốn lên một chiếc tàu buôn tới Mỹ, anh ghi tên vào quân đội Mỹ nhưng không
được. Tiếp đó, Carter sang Tây Ban Nha, gia nhập hàng ngũ những người chống lại
bọn phát xít Franco. Cái tên Carter đã xuất hiện trong danh sách của đơn vị
người Mỹ tình nguyện chiến đấu ở Tây Ban Nha, lữ đoàn Abraham Lincoln. Carter
từng tham gia nhiều trận chiến ác liệt, vượt cả biên giới sang Pháp, từng bị
lực lượng Franco cầm tù nhưng trốn thoát được. Năm 1940, Carter về Mỹ và năm
1941, anh được nhận vào quân đội. Mặc dù có kinh nghiệm chiến đấu nhưng vì là
người da đen nên Carter chỉ được vào đơn vị hậu cần (không được tham gia chiến
đấu). Năm 1942, anh cưới một người vợ da đen và sinh được hai con trai. Đơn vị
xe tải của anh chuyển tới Châu Âu năm 1944 để phục vụ cho các lực lượng chiến
đấu. Tại đây, anh đã tình nguyện chấp nhận nguy hiểm tham gia vào các trận
chiến đấu. Do đó, anh đã được gia nhập Tiểu đội bộ binh 56 thuộc Sư đoàn 12.
Chỉ huy tiểu đội này là Russell Blair cho biết: "Carter là người luôn nổi
bật trong số binh lính của tôi".
Trong những trận chiến sống còn với phát xít Đức, Carter đã
chiến đấu rất dũng cảm. Bản thân chỉ huy Blair và một số đồng đội khác đã từng
chứng kiến và rất khâm phục hành động quả cảm của Carter. Vào tháng 3-1945, Sư
đoàn 12 nhận nhiệm vụ vượt qua sông Rhine tiến vào thành
phố Speyer với mục đích chọc một lỗ hổng vào "trái tim" của
Đức quốc xã. Lúc đến chiếc cầu bắc qua sông Rhine, đơn vị của Carter đột
ngột bị chặn lại bởi những khẩu súng máy bắn ra từ một kho hàng. Carter đã tình
nguyện dẫn theo ba người lính khác "bịt miệng" những khẩu súng này.
Khi bò đến được kho hàng, cả ba người kia đều phải nằm lại dưới làn đạn, còn
Carter thì mình đầy thương tích. Nằm sát kho hàng, Carter cắn răng chờ đợi suốt
hai tiếng đồng hồ liền cho đến khi tám tên lính Đức tưởng anh đã chết nên ra
ngoài để xem xét. Rất nhanh chóng, Carter nổ súng hạ gục sáu tên và bắt sống
hai tên còn lại. Chính nhờ hành động quả cảm của Carter, đơn vị của họ dọn
đường tiến thẳng về Speyer và giành lấy thành phố chỉ sau đó hai
ngày. Khi được đưa vào bệnh viện, Carter đã bỏ trốn về với đơn vị. Tháng
7-1945, Carter được tặng huy chương DSC (chỉ đứng sau huy chương Danh dự), và
Carter trở thành một trong số chín lính da đen được tuyên dương Anh hùng trong
Chiến tranh thế giới thứ II.
Chiến tranh kết thúc, năm 1946, Carter trở về Los
Angeles cùng với vợ và con sống hoà nhập trong cộng đồng của người da đen
và người da trắng. Anh tham gia kinh doanh trên nhiều lĩnh vực để kiếm sống.
Tuy nhiên, Carter bị vỡ nợ trong kinh doanh và hình ảnh về người anh hùng cũng
dần phai nhạt nên Carter quyết định trở lại quân đội. Carter được nhận vào phục
vụ tại một đơn vị hậu cần đóng tại bắc California với thời hạn ba
năm. Khi Carter trở lại quân đội chính là lúc mà người Mỹ bắt đầu có thời gian
để lật lại những chồng hồ sơ và những vấn đề trong quá khứ mà họ đã phải gác
lại vì sự khốc liệt của chiến tranh.
Ngay từ năm 1943, cái tên Carter đã nằm trong hồ sơ của các nhà
tình báo quân đội Mỹ bởi hành tung bí mật của anh trong thời kỳ ở Trung Quốc,
Tây Ban Nha và đặc biệt anh còn là một người da đen. Người ta đã buộc tội
Carter là điệp viên cho nước ngoài và hiện đang tham gia một tổ chức chống
chính phủ Dường như không quan tâm tới lời buộc tội đó, Carter vẫn miệt mài
cống hiến cho quân đội. Năm 1949, khi đơn vị anh chuyển tới Washington,
thời gian phục vụ của Carter cũng sắp hết, anh muốn được tiếp tục ở lại quân
đội. Nhưng, thật là tàn nhẫn khi một người đã từng được phong anh hùng vì đã
đóng góp xương máu cho nước Mỹ, cho thế giới yêu chuộng hoà bình lại không được
phép phục vụ quân đội chỉ vì những lời kết tội chưa có bằng chứng rõ ràng.
Carter hết sức giận dữ khi biết rằng, quân đội đã cự tuyệt và không tin vào
lòng trung thành chỉ vì anh là một người Mỹ da đen. Anh bắt đầu một cuộc chiến
không cân sức để tìm công lý với sự giúp đỡ nhiệt tình của luật sư trẻ Levy
thuộc Liên đoàn giải phóng công dân Mỹ. Suốt một năm đấu tranh không mang lại
kết quả và năm 1950, khi biết luật sư Levy tới Nhà Trắng, Carter đã nhờ anh
mang huy chương Anh hùng trả lại cho Tổng thống Truman. Levy đã cố gắng hết sức
để đòi lại danh dự xương máu cho Carter bằng cách viết thư cho Bộ trưởng Quốc
phòng Lewis Johnson, tìm tới cả các tài liệu của CIA. Vẫn không có bằng chứng
nào rõ ràng về sự phản bội của Carter, nhưng dường như mọi ngả đường đều đã khép
lại với một người lính da đen như Carter. Khi ấy, Levy mới 26 tuổi và vị luật
sư trẻ này cũng cảm thấy nản chí. Tại Washington, Carter làm công nhân
trong một nhà máy săm lốp để kiếm sống và tiếp tục đấu tranh. Nhưng, vì quá uất
hận, anh ngày càng nghiện rượu nặng hơn và tinh thần trở nên suy sụp. Ngày
30-1-1963, anh mất vì bệnh ung thư phổi khi danh dự vẫn chưa được gột rửa.
Nhưng, mọi chuyện chưa kết thúc.
Những người con của Carter (hai con trai và hai con dâu đều là
người Mỹ da đen) muốn biết rõ sự thật. Cô con dâu Allene đã tiếp tục cuộc tranh
đấu của Carter với nỗ lực phi thường. Bước đầu cô tìm lại những người bạn chiến
đấu của Carter từ các lá thư, ảnh gia đình và các giấy tờ cá nhân khác. Dựa vào
Tự do thông tin, Allene còn "gõ cửa" quân đội Mỹ, FBI để tìm câu trả
lời. Tuy nhiên, con đường đi tìm công lý của cô gái can đảm này đầy những chông
gai vì cuộc đời của bố chồng cô - Carter đã bị "bóp méo" bởi những bí
ẩn và sự lừa dối. Mặc dầu vậy, Allene vẫn không nản chí. Cô tìm tới cả kho lưu
trữ quốc gia ở Los Angeles để thu thập từng mẩu thông tin. Cô viết
thư gửi tới Bộ Quốc phòng, Nhà Trắng, kêu gọi sự giúp đỡ của các tổ chức và
tiếng nói của công luận. Sau cùng thì Allene cũng có được 57 trang tài liệu mật
của Cơ quan phản gián quân đội Mỹ cho biết, ngay từ năm 1942, Carter đã bị nghi
ngờ là một điệp viên của nước ngoài. Năm 1943, Cơ quan tình báo chính thức
khẳng định mối nghi ngờ không có cơ sở đó.
Vụ án 17.000 ngày oan trái của Carter đã khiến cho cả nước Mỹ
sửng sốt và bất kỳ ai cũng phải đặt câu hỏi rằng, tại sao trong chiến tranh thế
giới thứ I, không có một lính Mỹ da đen nào được nhận huy chương Danh dự?
Vào năm 1996, quân đội đã phải tiến hành một chiến dịch thanh
tra quy mô tập trung vào chín người lính da đen trong đó có cả Carter, những người
đã từng được tặng huy chương DSC. Kết quả là bảy người từng bị kết tội phản bội
tổ quốc (trong đó có Carter) đã được tặng huy chương cao quý nhất - huy chương
Danh dự. Sau khi được minh oan, thi hài của Carter cũng lập tức được đưa về
Nghĩa trang quốc gia Arlington.
KẺ SÁT NHÂN BỆNH HOẠN NHẤT NƯỚC MỸ
Đó là ngày 22-5-1978, Jefferey Ringall đang dạo bước trên khu
phố New Town, Chicago sau một chuyến đi nghỉ đông dài ngày tại Florida. Đột
nhiên, một chiếc Oldsmonile đen bóng chặn ngang trước mặt anh. Tên lái xe có
thân hình rắn chắc ló đầu ra khỏi cửa xe làm quen. Câu đầu tiên nói với anh là
một lời khen rằng anh có một nước da bánh mật thật đẹp. Gã tiếp tục trò chuyện
và mời anh lên xe để hàn huyên khi cho xe chạy vòng quanh khu phố. Bản thân
cũng đang muốn dời xa cái lạnh lẽo của kỳ nghỉ, Ringall không chần chừ chui lên
xe, bắt đầu hút thuốc với ông bạn quen tình cờ và rất "thân thiện".
Đi được nửa quãng đường, tên lạ mặt bất ngờ chụp một mảnh giẻ có
tẩm thuốc mê lên mặt Ringall. Anh quỵ xuống bất tỉnh. Trong lúc chập chờn nửa
tỉnh nửa mê, anh thấy mình được đưa đến một ngôi nhà, còn gã bạn tình cờ kia
thì đang "trần như nhộng" đứng trước anh. Đêm đó, anh bị con quái vật
bệnh hoạn kia hãm hiếp, hành hạ và sau đó bị đánh thuốc mê bất tỉnh.
Buổi sớm ngày hôm sau, Ringall tỉnh dậy thấy mình đang nằm dưới
chân tượng đài trong khu công viên Lincoln ở Chicago. Rất kinh
ngạc vì thấy mình vẫn còn sống sau vụ bạo hành, anh cố sức tìm đến nhà của
người bạn gái. Ngay sau đó, anh được đưa vào bệnh viện để điều trị trong sáu
ngày. Theo bản kết luận của bác sĩ, anh bị rách nhiều chỗ ở da và bị bỏng, thần
kinh bị hoảng loạn nghiêm trọng. Sau đó, anh đã báo cáo cho cảnh sát toàn bộ sự
việc trên.
Ringall thoát chết thực sự là một trường hợp hiếm hoi trong số
các nạn nhân đã bỏ mạng dưới bàn tay của con quái vật John Wayne Gacy - người
mà trong vòng ba năm đã hãm hiếp, bạo hành và giết chết 32 người đàn ông, chủ
yếu là những người chưa đến tuổi thành niên rồi sau đó giấu xác họ dưới nền nhà
hắn và một khúc sông ở khu vực Chicago.
John Wayne Gacy là con thứ hai trong một gia đình có ba anh chị
em thuộc tầng lớp trung lưu. Gia đình không lấy gì làm khá giả nên sau giờ học,
hắn luôn bận rộn với những công việc như: bán báo, giữ đồ tại cửa hàng tạp phẩm
và coi nhà kho.
Năm lên 7, hắn bị va đầu vào cái đu quay và tai nạn này tạo ra
cục máu đông trong não. Sau nhiều năm bị mất trí nhớ, khi hắn đã 16 tuổi, người
ta mới phát hiện ra vết thương này và các bác sĩ đã giúp hắn chữa trị một phần.
Năm 19 tuổi, hắn luôn đối đầu với cha mình, trong khi mối quan hệ với mẹ và chị
thì vẫn bền chặt.
Tháng 9-1964, Gacy gặp và cưới người làm việc cùng với mình tên
là Marlyan Myers, cha mẹ người con gái này là chủ một nhà hàng gà rán Kentucky ở
Waterloo-Iowa. Ông bố vợ đã dành cho hắn một vị trí trong cửa hàng của mình.
Sau lễ cưới, Gacy và vợ chuyển đến Iowa. Cuộc sống trở nên đầy hứa hẹn khi
vợ chồng hắn sinh được hai con: một trai và một gái.
Tuy nhiên, khắp thành phố Jaycee luôn có những lời đồn đại về
đời sống tình dục quái đản của Gacy. Những cậu bé vị thành niên luôn là đối
tượng của hắn. Mọi người được nghe rất nhiều câu chuyện nhưng tựu chung lại hắn
là một gã đồng tính luyến ái và thường qua đêm với những cậu bé làm việc tại
cửa hàng thức ăn nhanh của hắn.
Vào cuối năm 1968, Gacy đã bị bồi thẩm đoàn của hạt Black Hawk
kết tội là có quan hệ tình dục sai trái với cậu bé Marle Miller. Nhưng chỉ bốn
tháng sau, Gacy lại bị kết tội là đã thuê người đánh Miller. Trước khi ra vành
móng ngựa, toà đã yêu cầu kiểm tra thần kinh đối với Gacy. Đúng như mọi người
dự đoán, kết quả cho thấy thần kinh hắn có vấn đề. Hắn bị lãnh án 10 năm tù -
mức án cao nhất cho tội danh này, cùng với một bản cam kết. Ngay sau Gacy vào
tù, vợ hắn đã đâm đơn ly dị với lý do hắn đã phản bội lời thề hôn nhân. Trong
tù, hắn là một người mẫu mực. Ngày 18-6-1970, hắn rời khỏi trại giam và quay về
quê ở Chicago.
Ở tù ra, Gacy về làm bếp trưởng tại một nhà hàng của mẹ hắn ở Chicago.
Hắn làm việc rất say mê và nhiệt tình. Sau bốn tháng, hắn quyết định ở riêng,
mẹ hắn rất vui mừng vì tưởng hắn chí thú cải tà quy chính nên giúp hắn mua một
ngôi nhà 8213 Summerdale.
Ngày 1-6-1972, Gacy cưới Caroll Hoff - người phụ nữ mới ly dị và
có hai đứa con gái. Ở nhà mới, Gacy nhanh chóng làm quen với gia đình hàng xóm
là Edward và Lillie Graxas. Họ thường tụ tập để đánh bài và uống rượu. Nhưng,
lần nào sang nhà Gacy, những người hàng xóm này cũng ngửi thấy một mùi khó
chịu. Graxas, là người thường được mời tham gia các bữa tiệc ngoài trời với các
món nướng, khẳng định đó mùi chuột chết và đã yêu cầu Gacy xử lý. Còn Gacy thì
cho rằng đó là mùi ẩm mốc từ khoảng trống dưới sàn nhà bốc lên.
Năm 1974, Gacy quyết định đi vào nghề kinh doanh, ban đầu bằng
nghề sơn, trang trí và bảo dưỡng sản phẩm, gọi tắt là Công ty thầu PDM. Hắn
thuê các cậu bé tới để làm việc vì cho rằng như thế có thể tiết kiệm được các
chi phí. Nhưng rồi vợ hắn đã dần dần phát hiện ra ham muốn bệnh hoạn của hắn
nên ngày 2-3-1976 bà ta đã ra toà xin ly dị.
Cậu bé đáng thương Johny Butkovich, 17 tuổi, người đã từng làm
tại Công ty thầu của Gacy là nạn nhân đầu tiên. Một lần, Gacy từ chối trả tiền
công hai tuần làm việc cho Johny. Bực tức, Johny cùng hai người bạn tới nhà của
Gacy để đòi. Sau một hồi cãi vã, biết không thể làm gì được Gacy, cả bọn kéo
nhau về. Johny đã để những người bạn của mình ở nhà trọ và lái xe đi, rồi từ đó
không ai nhìn thấy cậu ta nữa.
Nạn nhân thứ hai cũng là một cậu bé 17 tuổi tên là Michael
Bonnin. Cậu rất thích thú với công việc làm đồ mộc tại Công ty thầu PDM. Vào
tháng 6-1976, Bonnin hoàn thành công việc sửa chữa chiếc máy hát tự động bằng
gỗ. Sau đó cậu được đón về thăm người anh trai - con của dượng, nhưng khi Bonni
lên tầu về quê thì cũng là lúc mà không ai thấy bóng dáng của cậu trên cõi đời
nữa.
Nạn nhân trẻ tuổi nhất có lẽ là Robert Riest mới 15 tuổi. Số là
mẹ cậu đợi mãi không thấy cậu đi làm về nên bà phải vào chỗ con làm việc để tìm
nhưng vẫn không thấy bóng dáng của Robert đâu. Ngay lập tức, trong thâm tâm
người mẹ này xuất hiện linh cảm rằng đã có chuyện không hay xảy ra với con trai
mình nên bà quyết định đi báo cảnh sát. Chỉ ba giờ sau khi Robert mất tích, văn
phòng cảnh sát Des Plaines đã bắt tay vào cuộc. Người dẫn đầu cuộc
điều tra này là Trung uý Joseph Kozenczak.
Ngày 13-12-1978, cảnh sát tiến hành khám nhà của Gacy ở đại lộ
Summerdale. Thanh tra viên Kantz thụ lý vụ án chịu trách nhiệm thu thập bất kỳ
chứng cứ nào tìm được ở trong nhà. Tại nhà Gacy, cảnh sát thu được nhiều vật
dụng như: dao bấm, cân đo, súng lục, còng tay, phù hiệu của cảnh sát, dây
nylon, côn ba chạc, thuốc kích thích, cần sa, valium... Cảnh sát đã phát hiện
ra mẩu tóc của Robert Riest. Tìm kiếm tiếp theo, cảnh sát phát hiện ra một
buồng nhỏ nằm dưới sàn nhà Gacy. Điều đầu tiên đập vào cảm giác của họ là mùi
hôi tanh đến ghê người nhưng họ nghĩ rằng đó là chất thải. Họ thấy căn buồng
nhỏ này đã được rắc vôi.
Bởi thiếu chứng cứ liên quan đến Robert Riest, cảnh sát không
làm gì được hơn ngoài việc bắt Gacy vì tội tàng trữ cần sa và valium.
Cũng vào thời điểm mà Gacy bị bắt thì Jefferey Ringall quyết tâm
tìm ra kẻ đã hãm hiếp mình. Anh đã đứng hàng tháng trời bên con đường cao tốc
để nhận ra chiếc xe mà anh có thể nhớ mập mờ trước khi bị gây mê. Và sau nhiều
tháng trời kiên trì, cuối cùng anh đã nhận ra chiếc xe quen thuộc dẫn đến nhà
của Gacy. Ngay sau đó, Ringall làm đơn tố cáo Gacy đã xâm phạm tình dục sai
trái và đã hãm hiếp anh.
Trước cơ quan điều tra, Gacy đã phải thừa nhận với cảnh sát rằng
hắn đã giết người chỉ vì mục đích tự vệ. Hắn khai là đã chôn xác nạn nhân trong
gara nhà xe. Cảnh sát đã đánh dấu vị trí chôn người trong gara nhưng họ không
đào lên ngay. Trước hết, họ khám phá căn buồng nhỏ dưới nền nhà của Gacy. Công
việc khai quật được tiến hành liên tục suốt ngày đêm dưới sự giám sát chặt chẽ
của bác sĩ Stein.
Thời gian trôi đi, số nạn nhân tìm thấy cứ chất cao dần. Có nạn
nhân khi đào lên vẫn thấy quần áo lót nhét trong miệng. Gacy còn khẳng định với
cảnh sát rằng, trong một số trường hợp hắn đã giết nhiều nạn nhân trong cùng
một ngày. Cảnh sát đã chuyển toàn bộ 27 xác chết ra khỏi nhà của Gacy cùng với
một số xác theo lời thú nhận của Gacy là đã vứt xuống sông. Tổng cộng, Gacy đã
sát hại 32 người.
Ngày 6-2-1980, Toà án hình sự Cook, Chicago - Illinois đã
tiến hành xét xử vụ án giết người hàng loạt của John Wayne Gacy. Sau một loạt
các chứng cứ và hàng trăm nhân chứng, phải mất năm tuần, bồi thẩm đoàn mới đi
đến kết luận cuối cùng. Tên giết người Gacy đã bị kết tội và chịu trách nhiệm
trước cái chết của 32 nạn nhân và được coi là tên giết người bệnh hoạn nhất trong
lịch sử nước Mỹ. Bản án tử hình được dành cho Gacy và hắn đã bị hành quyết bởi
một mũi tên thuốc độc.
KHI Á HẬU THỤY SỸ THAM GIA
BẮT CÓC TỐNG TIỀN
Ba thanh niên Thụy Sỹ (trong đó có một nữ Á hậu Thụy Sỹ năm
1993) đều là con cái của những gia đình có "máu mặt", vì muốn có tiền
để sống huy hoàng tại Brazil và để tránh xa mùa đông lạnh lẽo của Thụy Sỹ, họ
đã tổ chức bắt cóc ngay người bạn thân của mình rồi đòi tiền chuộc. Tuy nhiên,
nhờ truy xét trên hệ thống điện thoại di động mà cảnh sát Thụy Sỹ, với sự hỗ
trợ của Interpol và cảnh sát Brazil, chỉ sau có hai tháng, đã bắt giữ được bọn
"sói trẻ"này. Đây là vụ án đã làm cho mùa đông năm 1998 của Thụy Sỹ phải
"nóng" lên vì những tai tiếng xảy ra trong giới thượng lưu. Vậy trình
tự về vụ án như thế nào?
Đó là lúc 15 giờ chiều ngày 22-12-1998, chủ nhân toà lâu đài
Cully, nằm bên bờ hồ Léman thơ mộng của Thụy Sỹ, nhận được một cú điện thoại
nặc danh. Đầu dây bên kia là một giọng nam đầy vẻ đe doạ báo tin cho nữ Bá tước
Carmina Lagonico biết, con trai bà là Stéphane, 26 tuổi, đã bị bắt cóc khi vừa
ra khỏi văn phòng luật sư mà anh ta đang tập sự. Kẻ tống tiền thông báo: Nếu
gia đình Lagonico muốn giữ lại mạng sống của con trai mình thì phải trả một
khoản tiền chuộc là 5 triệu frăng Thụy Sỹ (tương đương 20 triệu frăng Pháp) và
ngay tối hôm đó phải nộp một khoản ứng trước bằng 10% số tiền chuộc. Sau khi
cho biết địa điểm giao nhận tiền, kẻ bắt cóc cũng không quên cảnh báo gia đình
không được báo cho cảnh sát nếu không sẽ nhận được một tin "không
hay" về tính mạng của con tin.
Cả Thụy Sỹ đều biết đến danh vị của gia đình Bá tước Carmina
Lagonico cũng như biết rằng ngành kinh doanh bất động sản lớn nhất nước này đều
nằm trong tay của họ. Tuy nhiên, việc con trai họ bị bắt cóc đòi tiền chuộc thì
lại quá bất ngờ vì lâu nay tại Thụy Sỹ chưa hề xảy ra chuyện động trời như vậy.
Chuyện này lại ập đến gia đình họ nhất là trong khi lễ Noel và Tết dương lịch
sắp đến, thế là họ đành chấp nhận yêu sách của bọn bắt cóc và chưa vội khai báo
cho cảnh sát.
22 giờ đêm hôm đó, số tiền 500.000 frăng (10% tiền chuộc) được
đặt bên cạnh một thùng rác công cộng tại khu ngoại ô thành phố Lausanne, thủ
phủ của tỉnh Vaud. Tuy vậy, hai vợ chồng Bá tước đợi mãi đến 23 giờ mà vẫn
không thấy ai tới nhận nên họ đành ra về. Khi vừa về đến nhà, họ nhận được điện
thoại của bọn bắt cóc cho biết địa điểm giao nhận tiền chuộc mới sẽ tại một
trại trồng nho vùng Riva, cách thành phố Lausanne 20km vào lúc 9 giờ
sáng ngày 23-12-1998.
Không thể kiên nhẫn được nữa, hai vợ chồng Bá tước quyết định
đến Sở Cảnh sát Lausanne để trình báo vụ việc với thanh tra Laurent
Chapmann - Trưởng phòng cảnh sát hình sự. Rất nhanh chóng, một phương án vây
chặt nơi giao nhận tiền chuộc được đề ra với yêu cầu vợ chồng Bá tước làm đúng
theo điều kiện của bọn tội phạm. Đúng 9 giờ sáng ngày 23-12, tại một căn nhà bỏ
hoang ở ruộng nho, một thanh niên giả dạng nông dân hái nho vội chộp lấy túi
đựng tiền rồi chuồn thật nhanh xuống rìa bờ hồ Léman, nơi đang có sẵn một chiếc
môtô nổ máy đứng đợi, rồi phóng đi trước khi cảnh sát ập đến. Nhưng, sau 20 phút
truy đuổi, cảnh sát đành để mất dấu vết bọn cướp tại một khu mua bán sầm uất
ngay giữa thành phố Lausanne.
Chỉ trong một thời gian ngắn, tin tức về vụ bắt cóc con trai một
gia đình giàu có và tiếng tăm tại Thụy Sỹ đã lan khắp nước và được tô vẽ thêm
về tài "xuất quỷ nhập thần" của bọn bắt cóc. Nhiều dự đoán cho rằng,
các băng cướp nổi tiếng của thành phố Marseile, Pháp, hay bọn Mafia Camorra của
thành phố Naples, Ý đang chuyển vùng làm ăn đến Thụy Sỹ và bọn chúng làm thử
một vố với gia đình Bá tước Carmina Lagonico để dằn mặt giới nhà giàu Thụy Sỹ.
Dư luận càng hoang mang thì cảnh sát càng phải khẩn trương truy
tìm tội phạm và giải thoát con tin. Cảnh sát Thụy Sỹ đã lập một kế hoạch phá án
với sự tham gia của Đội DARD (Đội đặc nhiệm trấn áp và can thiệp nhanh) của Bộ
Nội vụ. Và việc làm đầu tiên của họ là cho gắn những thiết bị điện tử cho phép
phát hiện ra ngay nơi ở và số điện thoại của gia đình Lagonico. Kết quả là vào
17 giờ ngày 24-12-1998, nữ Bá tước Camina nhận được một cú điện thoại nặc danh
giọng nữ yêu cầu phải nộp số tiền chuộc còn lại, lần này sẽ diễn ra trên đất
Pháp tại thành phố Evian nằm bên bờ hồ Léman vào lúc 10 giờ sáng ngaỳ
25-12-1998. Tuy vậy, qua thiết bị kiểm tra, các nhân viên điều tra biết được
rằng đây không phải là một cuộc gọi điện thoại tại Pháp mà diễn ra ngay tại
thành phố Newchâtel lân cận với Lausanne. Rất nhanh chóng, một cuộc bố ráp
quy mô với 52 nhân viên cảnh sát được huy động đã bất ngờ ập vào một căn hộ ở
trung tâm thành phố Newchâtel. Ở đây, cảnh sát đã bắt giữ được tám tên trong
nhóm bắt cóc gồm một tên người Ý, một người Ethiopie, năm người Albani và một
người Thụy Sỹ tên là Marc Pidoux. Bên cạnh đó, họ còn giải thoát được một con
tin tên là Stéphane đang bị trói gô nằm trong nhà tắm. Mặc dầu vậy, ba tên đầu
sỏ là Christian Pidoux, Pascal Schumacher và một nữ quái tên là Katia Pastori
đã kịp trốn thoát.
Sau khi tin tức về vụ giải thoát con tin của cảnh sát Thụy Sỹ
được loan báo, trong lúc giới nhà giàu Thụy Sỹ hết sức vui mừng thì nhân thân
của ba tên chủ mưu đã đào thoát lại làm cho họ phải kinh ngạc vì gốc gác nổi
tiếng của bọn chúng. Tên chủ mưu Christian Pidoux cùng em trai Marc Pidoux (đã
bị cảnh sát bắt giữ) là con của gia đình Pidoux rất nổi tiếng và được trọng
vọng tại Thụy Sỹ. Cha của hai tội phạm này là Philipe Pidoux đang đương chức
nghị sỹ Quốc hội Thụy Sỹ, một luật sư nổi tiếng và đang là Chủ tịch tập đoàn
siêu thị lớn nhất Thụy Sỹ có tên Publigroupe. Nhưng, gia đình càng danh giá bao
nhiêu thì hai đứa con càng "phá gia chi tử" bấy nhiêu. Vụ tai tiếng
về tội "lừa gạt và cướp của" đã làm ảnh hưởng đến uy tín của gia đình
Pidoux.
Thân nhân của tên thứ hai, Pascal Schumacher, 25 tuổi, cũng
chẳng có gì là hèn kém cả. Hắn xuất thân trong một gia đình nổi tiếng ở thành
phố Newchâtel về sản xuất rượu nho không những ở Thụy Sỹ mà ở cả Châu Âu. Mặc
dù đã tốt nghiệp đại học nhưng hắn không chịu làm việc mà thường lêu lổng kết
đám với Christian Pidoux.
Nhân vật thứ ba là một cô gái nổi tiếng không kém tại Thụy Sỹ,
tên là Katia Pastoni, 26 tuổi, người thành phố Newchâtel. "Mỹ nhân"
này xuất thân trong một gia đình trung lưu và được học hành đến nơi đến chốn.
Katia đã từng được bầu làm hoa hậu tỉnh Vaud - 1992, và đến năm 1993 trở thành
á hậu trong cuộc thi Hoa hậu Thụy Sỹ. Năm 1995, Katia gặp và trở thành tình nhân
của Christian và qua Christian quen biết với Pascal. Đặc điểm "hợp"
nhau nhất của cả ba người là đều thích chơi bời lêu lổng nên chúng quyết định
làm một vố lớn là bắt cóc Stéphane Lagonico - bạn thân hồi nhỏ của Christian để
đòi tiền chuộc.
Đầu tháng 1-1999, cảnh sát Thụy Sỹ ra lệnh truy nã đặc biệt đối
với ba tên tội phạm này. Ngày 12-1-1999, gia đình của nữ quái Katia Pastoni đã
nhận được điện thoại của con gái báo tin mình đang ở thành phố Nice, Pháp và
đang chuẩn bị đến Nam Mỹ cùng với người tình. Cảnh sát đã chậm chân khi ập đến
địa điểm này vì bọn chúng đã kịp chuồn sang Brazil. Ngay lập tức, cảnh sát
Thụy Sỹ liền đề nghị Interpol và cảnh sát Brazil hỗ trợ để truy bắt
tội phạm. Nhưng ba kẻ tội phạm rất ranh ma, bọn chúng không trú ngụ tại thủ đô
Rio de Janeiro mà di chuyển ngay đến thành phố Sao Paolo để tránh bị nhòm ngó.
Tuy nhiên, cảnh sát Brazil đã kịp lần ra dấu vết của bọn chúng và
ngày 28-1-1999, cả ba bị tóm trong một khách sạn năm sao tại Sao Paolo. Sau
nhiều giờ bị thẩm vấn, cả ba đều thú nhận tội trạng và hai ngày sau bị dẫn độ
về Thụy Sỹ để xét xử. Ngày 20-10-1999, Toà án Lausanne đã mở phiên toàn xét xử
thủ phạm cùng đồng bọn đã gây ra vụ bắt cóc đòi tiền chuộc nổi tiếng vào tháng
12-1998 với bản án 20 năm tù giam cho mỗi tên Christian Pidoux, Pascal
Schumacher và Katia Pastoni. Tám tên đồng phạm còn lại lãnh tất cả 37 năm tù
giam.
Tầng lớp nhà giàu Thụy Sỹ bị vụ án này làm cho một phen kinh
hoàng. Nhưng có lẽ, đau khổ nhất vẫn là gia đình danh giá của những tên chủ
mưu. Đối với gia đình Pidoux, tiền bạc và danh vọng đã không giúp hai người con
trai trở thành công dân lương thiện mà phải vào vòng luân lý trong thời gian
dài. Tháng 8-1999, Phillippe Pidoux đã xin từ nhiệm chức vụ nghị sĩ Quốc hội vì
đã không giáo dục được con cái để chúng trở thành tội phạm, làm ảnh hưởng đến
uy tín của một nghị sĩ.
MẤT MẠNG VÌ INTERNET
Một thanh niên Israel 16 tuổi đã rơi vào và mất mạng vì một
"lưới tình ảo" do một cô gái Palestine 24 tuổi giăng trên mạng
Internet...
*
*
*
Buổi sáng hôm ấy, Ofir mặc đồng phục để đến trường không quên
phù hiệu tên trường Rabin trên ngực áo vì đó là dấu hiệu để Sally có thể nhận
ra cậu.
Đây là lần đầu tiên hẹn hò cho nên Ofir rất hồi hộp. Đối với một
chàng trai mới 16 tuổi thì chuyện này rất là quan trọng. Trong kỳ nghỉ hè, đôi
khi cậu đến làm việc với cha, giám đốc một xí nghiệp điện. Mỗi tháng cậu kiếm
được từ 3.000 - 4.000 frăng, cộng thêm 400 frăng tiền tiêu vặt. Trong lớp, cậu
là một học sinh giỏi, nhưng mỗi khi làm xong bài cậu lại lao đến máy vi tính.
Cậu đã tạo một trang web riêng, trên đó cậu nhận dịch lời các bài hát Anh - Do
thái, trò chơi những thông tin về các bộ phim truyền hình. Nhưng chính Câu lạc
bộ ICQ, một chương trình gặp gỡ mới chiếm nhiều thời gian của cậu nhất. Cậu
chat (tán gẫu trên mạng) suốt nhiều giờ liền với các bạn bè khắp thế giới.
Thời gian gần đây, cậu chỉ liên lạc với Sally, một cô
gái Palestine, sống tại Jérusalem. Cậu rất "mết" cô gái này, gặp
ai cậu cũng nói chuyện về cô ấy. Cô gái này rất dễ thương, tất nhiên là viết
tiếng Anh rất giỏi. Sau nhiều ngày trò chuyện trên mạng, cậu đã hiểu cô nhiều
hơn. Một mối quan hệ thân tình hơn đã hình thành từ xa. Cậu tự kể về mình:
"Anh có tóc đen, mắt xanh, cao 1.70m. Còn em?". Trả lời: "Em cao
1.65m, tóc nâu, mắt đen".
Sau một thời gian, ý tưởng gặp mặt nhau đã nhen nhúm. Sally yêu
cầu cậu đến gặp cô, còn cô thì không thể đến được vì lý do công việc. Cuộc hẹn
ngày 17-1 đó sẽ rất quan trọng. Chàng thiếu niên đáp xe buýt đến Tel-Aviv.
Dường như Sally đã có mặt và đợi cậu từ lâu. Cô ta đưa cậu đi bằng xe riêng mà
cậu không hề nhận ra rằng từ khi rời khỏi Ashkelon, một cái bẫy nguy hiểm
đã khép lại sau lưng cậu.
Sally có tên thật là Amana Jawad Mona Najar, một cô gái 24 tuổi,
đã tốt nghiệp khoa tâm lý tại Đại học Birzeit ở Ramallah. Amana hoạt động cho
tổ chức Chebiba, một phong trào thanh niên của Fatah. Cô có mặt trong cuộc biểu
tình chống Isarel. Mẹ của cô là Samira, thuộc gia đình Nechachibi - một trong
các dòng họ lâu đời nhất tại Đông Jérusalem. Bố cô là Jawad, kế toán của tổ
chức Hồi giáo Wakf phụ trách vấn đề tài chính của tôn giáo và đền thờ Al-Agasa.
Gia đình cô có một ngôi nhà phía sau tường thành Bir Nabalah phía Nam Ramallah.
Cũng như cha mẹ và các anh em của mình, Amana có một giấy căn cước Isarel và
một chiếc xe biển số màu vàng nên cô có thể đi qua các trạm gác của quân đội.
Cô viết báo và bán hình ảnh cho những tạp chí ở Palestine.
Cái chết của những thanh niên khiến cô uất ức. Cô muốn chấm dứt
bạo lực, muốn cho gia đình Isarel hiểu rằng nếu cuộc bạo loạn lần này hung hãn
hơn, đó là do sự cố chấp của Isarel. Vậy là cô nảy ra một kế hoạch vừa ngây thơ
nhưng lại vừa quỷ quyệt.
Luật sư của cô cho biết:
- Cô ấy muốn chống lại sự tuyên truyền của Isarel! Cô ấy muốn
cho thế giới biết rằng các bà mẹ Palestine cũng yêu thương con cái
như các bà mẹ Isarel.
Mỗi lần bắt cóc một chàng trai, cô hi vọng mẹ cậu ta sẽ lên
truyền hình để xin người ta tha mạng sống cho con trai bà. Theo kế hoạch cô sẽ
tổ chức một chiến dịch thông tin đại chúng cùng với các bà
mẹ Palestine trước khi thả Ofir ra.
Nhưng, bất hạnh thay, kế hoạch đã không suôn sẻ. Cô hối tiếc vì
một sinh mạng vô tội bị chết oan và điều đó đã làm tổn hại tới lý tưởng của cô!
Amana trông cậy vào sự giúp đỡ của Hassan Arkadi, 26 tuổi, từng
hoạt động trong phong trào thanh niên của trường đại học. Anh ta cũng đồng ý
giữ con tin với người bạn Abdul Datah Doleh.
Trên chiếc xe Ford Escort trắng đưa Ofir đến Jérusalem, cậu đang
ngây ngất vì nhận thấy Sally rất đẹp. Ofir chẳng biết rõ Jérusalem, chứ đừng
nói gì đến các khu ngoại ô mới. Lúc đến Al-Brieh, Sally đậu xe cạnh một chiếc
khác ở ven khu A dưới sự kiểm soát của Palestine. Hai người đàn ông vũ
trang chạy đến bắt Ofir đi theo. Rất hoảng hốt, Ofir chống lại, cố bấu vào ghế
và cửa xe, vùng vẫy và hét lên. Hai người Palestine bối rối vì quân
đội có thể ập đến bất cứ lúc nào. Thế là họ nổ súng. 7 phát đạn lập tức giết
chết Ofir. Khi ấy Amana còn phải đi vòng qua xe để đến can ngăn đồng bọn nhưng
đã quá trễ. Họ chở xác Ofir đến vứt tại một khu đất hoang rồi mỗi người đi một
ngả.
Cách đó 100km, tại Ashkelon, cha mẹ Ofir đang vô cùng lo lắng
sau khi hỏi bạn bè của con và được biết Ofir có hẹn với một cô bạn gái quen
trên mạng, ông bố mở máy vi tính của Ofir và tìm được Sally. Thế là họ đến báo
cảnh sát. Cơ quan tình báo Shin Beth được thông báo rằng thi thể của Ofir được
phát hiện gần Ramallah. Hai ngày sau, vào lúc 23 giờ, 60 binh lính ập vào nhà
Amana. Trong suốt ba tuần, cô nhất quyết nói rằng mình không dính dáng gì đến
vụ việc, trong khi các nhân viên điều tra thì lại không có bằng chứng.
Amana không chịu thua cho đến ngày cảnh sát báo rằng cha cô sắp
chết trong bệnh viện - ông bị trượt chân ngã khi leo trên mái nhà. Cô đòi gặp
mặt cha. Cảnh sát hỏi:
- Đổi lại là gì?
Amana trả lời:
- Sự thật!
Cảnh sát đưa cô đến bệnh viện gặp cha cô trong nửa giờ. Vài ngày
sau, ông ta qua đời. Đến cuối tháng 2, Amana bắt đầu cung khai.
Tại nghĩa trang Givat Sion, ngôi mộ của Ofir chẳng giống như
những ngôi mộ chung quanh. Trên mộ, cha mẹ cậu đã cho tạc một chiếc máy vi
tính.
NGÔI NHÀ MA QUÁI
& 11
NẠN NHÂN ĐÁNG THƯƠNG
A Mai là một cô gái xuất thân từ một vùng miền núi Trung Quốc. A
Mai cùng với một cô em họ lên làm thuê cho một tiệm ăn tại thị trấn Dương Sóc.
Vào một ngày mùa hè năm 1998, có hai người thanh niên xuất hiện tại tiệm ăn Lan
Viên, nơi hai chị em A Mai làm việc. Hai người đàn ông trẻ tuổi đó là Dịch Tiểu
Thu và Hạ Xuyến Sinh. Họ đã hai lần đến đây, làm quen với hai chị em A Mai rồi
rủ cô em đi chơi. Đêm đã khuya nhưng chưa thấy em mình trở về, A Mai cũng đã
nhiều lần nhắn vào chiếc máy nhắn tin của cô em, nhưng không thấy hồi âm. A Mai
cảm thấy lo lắng bởi thời gian gần đây, trong khu vực này đã xảy ra hàng chục
vụ mất tích không rõ nguyên nhân, đa số đều là những cô gái trẻ từ nơi khác đến
đây làm thuê.
Buổi sáng ngày hôm sau, Hạ Xuyến Sinh đến nơi A Mai làm việc nói
rằng em họ của cô đã ngủ lại ở nhà một người bạn của anh ta và nhờ anh ta đón
cô tới đó để cùng đi chơi. A Mai cả tin đồng ý đi cùng với Hạ Xuyến Sinh. Chưa
đến 15 phút sau, hai người dừng lại trước một ngôi nhà giống như một cửa hàng
nằm ngay bên đường quốc lộ, cách thị trấn chỉ khoảng 2km.
Hạ Xuyến Sinh gọi cửa. Người mở cửa là Dịch Tiểu Thu với một con
dao trong tay. Người đàn ông này nhìn A Mai như nhìn thấy một con mồi béo bở.
Chẳng nhìn thấy em mình đâu, linh tính báo cho A Mai biết rằng đã có chuyện
chẳng lành. Cô cố vùng vẫy thoát khỏi Hạ Xuyến Sinh và định bỏ chạy. Nhưng Sinh
đã túm chặt lấy cô kéo lại. Bọn chúng cùng nhau đẩy cô vào trong nhà.
Ngôi nhà mà A Mai bước vào không phải là một ngôi nhà bình
thường vì nó đã được Dịch Tiểu Thu và Hạ Xuyến Sinh sửa chữa nhằm phục vụ cho
những hành vi tội ác của chúng. Phía sau căn nhà dựa vào một quả núi lớn và liền
sát với một hang đá. Bọn chúng sử dụng hang đá này vào việc giam giữ, tra tấn
và giết người. Hang đá sâu vào lòng núi hơn 6m được chúng chia thành ba gian,
có tường gạch ngăn cản với ba cửa ra vào. Bên trong hang, hai tên ác ôn này
dựng sáu chiếc cột bằng gạch và trên mỗi cột có gắn hai chiếc vòng sắt. Cửa
hang liền với cửa sau của căn nhà và được lắp đặt một cánh cửa sắt kiên cố. Đó
là một chốn địa ngục trần gian mà Dịch Tiểu Thu và Hạ Xuyến Sinh đã tạo ra để
làm hang ổ thực hiện và che dấu những tội ác của chúng.
Hai tên này trói gô A Mai lại rồi giam cô vào phòng trong cùng
của hang đá. Bằng sức lực của mình A Mai cố cọ sát dây trói vào cột gạch, đến
khi hai bàn tay cô đầy máu thì cũng là lúc dây trói được nới ra. A Mai tự cởi
trói cho mình và cố tìm mọi cách để thoát ra ngoài.
Đang mò mẫm trong bóng tối, A Mai giật bắn người khi chạm phải
một thân hình mềm nhũn. Cô sợ hãi lùi vào góc hang. Bất chợt, cô nhớ đến người
em họ của mình rất có thể đã là nạn nhân của hai tên quỷ dữ. Cố kìm sự sợ hãi,
A Mai lê bước tới gần và dùng tay xem xét kỹ càng. Trong bóng tối, A Mai vẫn có
thể nhận ra đó chính là em họ của cô. Gọi tên, không thấy trả lời, A Mai biết
rằng cô em họ của mình đã bị giết hại. Lúc này, A Mai vừa sợ hãi vừa căm thù.
Cô tự nhủ: "Mình phải sống!".
Hang đá mà A Mai bị nhốt chỉ có một lối ra duy nhất đã bị chắn
bởi những cánh cửa. Sau một lúc nghỉ lấy sức, A Mai tiếp tục dùng đá để phá
cánh cửa trong cùng. May sao những cánh cửa trong cùng lâu ngày đã bị ọp ẹp nên
vừa đá đập, vừa đạp, vừa đẩy, cuối cùng cánh cửa cũng bị phá. Tuy vậy, khi mà
sừng sững trước mặt cô là cánh cửa sắt kiên cố thì bao nhiêu hi vọng của A Mai
dường như tan thành mây khói. A Mai cố gắng trấn tĩnh lại và nhìn khắp bốn phía
trong hang tìm một lối thoát khác. Đột nhiên, A Mai phát hiện thấy có một chút
ánh sáng lọt xuống từ nóc hang. Như vậy là trên nóc hang có lỗ thủng thông ra
bên ngoài. Hi vọng trốn thoát của A Mai lại trỗi dậy mạnh mẽ.
Hang đá này có hình dạng giống như một chiếc hồ lô thắt lại dần
ở phía trên nên rất khó trèo lên được nóc hang. Hơn nữa, vách hang vừa trơn vừa
dốc. Cứ trèo lên mấy bước là A Mai lại bị trượt xuống. Sau hơn hai tiếng đồng
hồ cố gắng, cuối cùng A Mai đã làm được việc mà bình thường chắc chắn cô không
thể nào làm nổi, cô đã leo lên đến đỉnh hang.
Sau bao nỗ lực mới thoát được ra ngoài hang đá, A Mai lại phải
dốc hết sức cùng lực kiệt lết xuống chân núi. Ra đến đường quốc lộ, A Mai quỳ
xuống và khẩn thiết kêu cứu: "Có người muốn giết tôi. Hãy báo cảnh sát bắt
những kẻ giết người". Nhưng chẳng có chiếc xe nào dừng lại để hỏi han hay
giúp đỡ cô.
A Mai vẫn quỳ bên đường quốc lộ khóc và kêu cứu. Tuy nhiên,
dường như mọi người đều coi cô là một người thần kinh nên chẳng có ai lại gần.
Rất may là sau đó có một người đàn ông đi qua thấy tình trạng đáng thương của
cô đã đến đỡ cô dậy và hỏi chuyện. A Mai kể lại tất cả những gì mà cô đã phải
trải qua. Nghe xong, người đàn ông này chặn một chiếc xe lại, trả ba nhân dân
tệ cho người lái xe và bảo anh ta chở cô đến đồn công an.
Sau khi nghe A Mai thuật lại mọi chuyện, công an Dương Sóc lập
tức tập trung lực lượng bắt giữ Dịch Tiểu Thu và Hạ Xuyến Sinh ngay tại hang ổ
của chúng. Tại cơ quan công an, hai tên sát nhân này đã thú nhận tất cả những
hành vi phạm tội của chúng.
Tên Dịch Tiểu Thu đã từng bị 7 năm vì tội trộm cắp. Ở tù ra, hắn
rủ Hạ Xuyến Sinh cùng thực hiện những vụ bắt cóc tống tiền và giết người. Bọn
chúng thuê căn nhà sát hang núi để làm hang ổ. Đối tượng mà chúng nhằm vào là
những cô gái trẻ từ xa đến làm thuê tại địa phương. Chúng bắt đầu hành động từ
ngay sau Tết âm lịch năm 1998. Chỉ trong vòng ba tháng, số nạn nhân của Dịch
Tiểu Thu và Hạ Xuyến Sinh đã lên đến 11 người. Đây cũng là thời gian mà ở địa
phương luôn xảy ra những trường hợp một số phụ nữ đột nhiên biến mất mà không
để lại dấu vết gì. Trong 11 nạn nhân thì chỉ có một là đàn ông, còn lại đều là
phụ nữ mà đa số là các cô gái trẻ. Bọn chúng không chỉ lừa đảo, chiếm đoạt tiền
của, giam giữ mà còn tra tấn, cưỡng hiếp và giết hại các nạn nhân. Thật là
khủng khiếp là có lần chỉ trong một ngày chúng đã giết hại tới 6 cô gái. Hôm
đó, cô gái đầu tiên bị bắt là Tiểu Phương. Hai tên đe doạ cô gái tội nghiệp này
phải nhắn một cô gái khác là bạn mang một vạn nhân dân tệ tới để chuộc. Nhưng
rồi cô gái mang tiền đến cũng trở thành nạn nhân. Sau đó, chúng lại ép buộc cô
gái này nhắn một cô gái khác mang tiền tới và cùng với thủ đoạn đó chúng đã lừa
và giết hại sáu người trong một ngày. Một trong số sáu nạn nhân đó là em họ của
Dịch Tiểu Thu nhưng hắn vẫn giết cô này vì sợ rằng tội ác của chúng sẽ bị bại
lộ. A Mai là nạn nhân thứ 12 và cô đã trốn thoát. Bí mật khủng khiếp bên trong
hang đá và sự mất tích của 11 người trước đó đã bị phát hiện.
7 PHÚT GIẾT 7 MẠNG NGƯỜI
Cả buổi sáng sau lễ Giáng sinh Mc Dermott ngồi tán gẫu với đồng
nghiệp về các chương trình trò chơi giải trí. Khoảng 11 giờ, Mc Dermott bước ra
ngoài hành lang mang theo một khẩu AK-47, một súng ngắn và một súng lục bắn tự
động. Khi một đồng nghiệp hỏi hắn đi đâu và mang theo những vũ khí đó để làm gì
thì Mc Dermott lạnh lùng trả lời: "Phòng Cung ứng lao động!". Chỉ vài
phút sau, người ta bắt đầu nghe thấy tiếng súng nổ. Mc Dermott đã bắn chết hai
công nhân tại phòng lễ tân và trên đường tới Phòng Cung ứng lao động, hắn lại
giết thêm ba người nữa trước khi tấn công vào phòng kế toán mà trong đó có ba
người đang cố thủ. Kẻ sát nhân điên cuồng phá cửa phòng và tiếp tục sát hai hai
nhân viên kế toán (người thứ ba may mắn thoát chết vì nấp sau bàn làm việc của
mình). Sau khi thoả mãn cơn cuồng loạn bằng cách giết chết bảy đồng nghiệp, Mc
Dermott đổi ý không tới Phòng Cung ứng lao động nữa mà trở lại hành lang, ngồi
trên một ghế đá với trái lựu đạn bên cạnh và chờ cảnh sát tới.
Vụ án kinh hoàng trên xảy ra vào cuối tháng 12-2000 và thủ phạm
của nó là một người có tiếng là hiền lành, thậm chí "đần thối" ra. Cứ
vài tuần một lần trong suốt sáu năm qua, kỹ sư Michale Mc Dermott 42 tuổi, làm
việc tại Công ty Edgewater Technology - một công ty tư vấn về Internet ở
bang Massachusetts, lại mất một giờ đồng hồ lái xe tới Dedham để
hiến máu nhân đạo. Anh thường tới thẳng trụ sở của Hội Chữ thập đỏ vì đó là nơi
duy nhất trong vùng có đủ các trang thiết bị y tế cần thiết để thực hiện những
ca hiến máu kéo dài hai giờ (quãng thời gian dài gấp đôi một ca hiến máu thông
thường). Mc Dermott hiến máu một cách tự nguyện và không hề nhận bất kỳ một
khoản tiền bồi dưỡng nào. Trên mui xe của Mc Dermott, người ta thường thấy dòng
chữ: Cho máu.
Đó là những việc làm, những ấn tượng tốt đẹp của tên sát nhân Mc
Dermott trước ngày Giáng sinh năm 2000. Vậy mà sau đó một ngày, chỉ trong vòng
bảy phút, Mc Dermott đã sát hại bảy mạng người. Toàn bộ sự việc chỉ diễn ra
trong vòng khoảng 7 phút nên mọi người không kịp đề phòng và hậu quả tang
thương đã xảy ra. Trước đó, có người nhìn thấy Mc Dermott lái một chiếc xe con
có gắn chữ MUCKO vào biển số, quanh quẩn ở một bụi cây mà sau này các điều tra
viên tìm thấy nhiều vỏ đạn súng ngắn. Cảnh sát cho biết, có thể vấn đề tài
chính là động cơ thúc đẩy Mc Dermott gây ra hành vi phạm tội vì hắn dự định tới
hai phòng (Phòng Kế toán và Phòng Cung ứng lao động), những phòng có kế hoạch
cắt phụ cấp lương của hắn để thanh toán các khoản thuế nợ quá hạn cho Sở Thuế
(IRS). Bản thân Mc Dermott cũng đã từng phàn nàn với các đồng nghiệp về khoản
phụ cấp này, đồng thời yêu cầu được thanh toán hết trước lễ Giáng sinh một
tuần. Và yêu cầu đó đã bị một trong số các nạn nhân từ chối. Nhưng, áp lực tâm
lý lên tới đỉnh điểm sau khi Mc Dermott nhận được một cú điện thoại gọi tới vào
lúc 11 giờ 07 phút ngày xảy ra vụ án mạng. Một đại diện của Hãng ô tô Chryler
thông báo rằng, họ sẽ thu hồi lại chiếc xe ô tô 1994 Plymouth mà Mc
Dermott đang sử dụng...
Sau khi khám nhà Mc Dermott, các nhân viên điều tra thu được rất
nhiều kíp nổ và các dụng cụ làm bom tự chế cùng 11 lít axit nitơric. Đi sâu tìm
hiểu thân nhân của Mc Dermott, cảnh sát được biết, sở dĩ hắn có biệt danh MUCKO
là vì cháu trai của hắn không phát âm nổi tên của hắn đã đọc chệch ra như vậy.
Là con thứ hai trong gia đình có bốn người con của cặp vợ chồng Richard và
Rosemary Martinez, Mc Dermott đã đổi tên họ Hispamic của mình vào năm 1980, bốn
năm sau khi hắn gia nhập lực lượng Hải quân. Tại đó, Mc Dermott làm việc trên
tàu ngầm nguyên tử U.S.S Narwhal và cũng gây ra không ít tai tiếng. Rời quân
ngũ, Mc Dermott tham gia vận hành các phản ứng hạt nhân tại Nhà máy điện nguyên
tử Maine Yankee nhưng lại bị thất nghiệp ngay khi nhà máy này cổ phần hoá.
Không rõ hắn làm gì trong vài năm tiếp theo. Trước khi làm việc tại Công ty
Duvacell và cưới một cô vợ trẻ măng có cái tên dễ thương Monica Seehom. Hai
người ly hôn năm 1997. Sau đó, nhờ sự giới thiệu của một người bạn, Mc Dermott
vào làm việc tại Công ty Edgewater Technology cho đến trước khi gây án.
Vụ giết người hàng loạt một cách dã man này đã gây xôn xao dư
luận nước Mỹ, nhất là khi nó lại xảy ra tại Massachusetts, một bang có
những quy định về kiểm soát súng được coi là nghiêm ngặt trên toàn nước Mỹ.
KHI BỐ GIÀ SA LƯỚI
Vụ án Valachi đã làm tiết thu nước Mỹ năm 1963 phải
"nóng" lên. Một uỷ ban của Chính phủ đã báo cáo hằng tuần các kết quả
điều tra và có vẻ như lần này, nước Mỹ có thể diệt trừ tận gốc thế giới bọn tội
phạm Hoa Kỳ. Mặc dù đã thu nhập được bằng chứng đủ để trừng trị bọn cầm đầu thế
giới Mafia, nhưng có lẽ đây lại là thất bại cay đắng nhất trong trận chiến
chống Mafia của công tố viên Kimbell.
Sự việc bắt đầu từ tháng 5-1962 tại công trường xây dựng một
đường xa lộ mới ở bang Georgia, cách thành phố Durham khoảng 10
cây số. Trong lúc đang di chuyển các ngôi mộ ra khỏi một nghĩa trang, người ta
đã phát hiện ra xác một người đàn ông khoảng 60 tuổi mặc quần áo tù nhân trong
hầm mộ của một gia đình đã tuyệt tự từ 15 năm nay. Khám nghiệm tử thi, những
vết vỡ trên hộp sọ cho thấy, người đàn ông này bị chết một cách không bình
thường. Khám nghiệm kỹ hơn người ta được biết, người đàn ông này đã bị giết
trước đó khoảng 6 tháng. Không tìm ra một dấu vết hay bất kỳ căn cứ nào của thủ
phạm. Số tù trên áo nạn nhân đã bị xé đi. Cũng không thể nhận dạng hoặc lấy dấu
vân tay của nạn nhân được nữa, vì xác chết đã rữa nát.
Sau đó, vụ này đã được chuyển tiếp đến Viện Công tố thành
phố Durham, nơi mà Henru Kimbell mới được bổ nhiệm làm công tố viên. Vụ án
khác thường này đã được báo chí đưa tin khắp nơi chính vì thế thủ phạm sẽ biết
xác nạn nhân đã bị phát hiện và chuẩn bị thủ đoạn đối phó. Công tố viên Kimbell
ở trong một tình trạng không mấy thuận lợi. Ông liên hệ với tất cả các nhà tù
trong nước, tuy nhiên không một nhà tù nào có tù nhân trốn trại cả. Những tù
nhân trốn trại vào thời điểm xảy ra vụ án mạng thì đã đều bị bắt trở lại rồi.
Ngay cả việc dựa trên quần áo tù nhân để xác định nguồn gốc trại giam cũng
không đem lại kết quả, vì quần áo tù nhân ở Mỹ được thống nhất từ một loại vải
cho tất cả các nhà tù. Mặt khác, thủ phạm cũng có thể mặc cho nạn nhân một bộ
quần áo tù để đánh lạc hướng cơ quan điều tra khi xác chết bị phát hiện. Nhưng,
theo linh cảm nghề nghiệp hơn là theo suy nghĩ logic Kimbell vẫn bám vào giả
thuyết vụ án mạng này phải xảy ra trong một chuyến thuyên chuyển tù nhân.
Kimbell cho rằng, nạn nhân là "hình nhân thế mạng" cho một kẻ can tội
giết người, hoặc một tội nặng nào đó có thể lãnh án tử hình. Sau khi nạn nhân
bị giết, kẻ đó đã vào thay thế và chỉ phải ngồi tù trong một thời gian ngắn.
Kimbell cho thẩm tra tất cả các đợt thuyền chuyển tù nhân trong vòng nửa năm
qua.
Kimbell cho thông báo công khai trên báo chí giả thuyết về thủ
phạm, cũng như chiến dịch thẩm tra các đợt thuyên chuyển tù nhân nhằm mục đích
đánh động thủ phạm, làm cho hắn hoang mang và như vậy có thể mắc sai lầm.
Đúng như dự đoán của Kimbell, ngày 22-6-1962, "sai
lầm" đó đã xảy ra tại nhà tù Atlanta, thủ phủ bang Georgia. 8
giờ sáng hôm đó, khi hàng trăm tù nhân đang xếp hàng đi làm thì tù nhân Elmer
Cheasty, 60 tuổi, rút từ tay áo ra một chiếc ống sắt dài 40cm, đập tới tấp vào
đầu một tù nhân khác tên là Sidney Potter, 30 tuổi. Khi lực lượng quản giáo tới
nơi thì Potter đã chết.
Cheasty không hề chống cự và ngoan ngoãn theo quản giáo lên
phòng giám thị. Hắn chỉ khai đơn giản: "Tôi không biết gì nữa. Đột nhiên
tôi lên cơn và thấy phải giết một ai đó. Tôi đã hoàn toàn bị ý nghĩ đó chi
phối".
Viên trưởng ban án mạng của Sở Cảnh sát Atlanta đã tốn
nhiều thời gian để tìm hiểu động cơ của vụ giết người, nhưng vô ích. Cheasty
vẫn một mực giữ nguyên lời khai trên. Y thụ án ở nhà tù Atlanta đã
được 7 tháng vì tội ăn trộm. Rất nhiều người thắc mắc là tại sao Cheasty lại
hành động như vậy khi y không hề quen biết Potter và lại sắp được thả vào dịp
lễ Giáng sinh năm đó, lại đột ngột giết Potter như vậy.
Kimbell đã tìm thấy thẻ nhận dạng của Cheasty trong hồ sơ tù
nhân, kèm theo dấu vân tay 10 ngón và ảnh của y.
Sidney Potter thụ án trong nhà tù Atlanta với bản án 8
năm tù giam vì tội giết người bột phát. Trong hồ sơ phạm nhân của Potter, giám
thị nhà tù Atlanta có ghi chú thêm: "Phiên toà không chứng minh
được điều gì thêm về tội trạng của Potter. Tuy nhiên, y bị nghi ngờ là thành
viên của một băng tội phạm và đã giết tay chủ chứa, vì tay này không tuân lệnh
nộp tiền bảo kê hằng tuần cho băng của y. Có thể trong thời gian thụ án Potter
sẽ liên lạc với cấp trên của y. Cho tiến hành theo dõi các cuộc trò chuyện với
khách đến thăm". Y đã thụ án được 18 tháng và trước khi bị giết nửa giờ y
được chuyển đến phòng giam của Cheasty.
Theo viên Trưởng ban án mạng thì chính Potter đã năn nỉ với quản
giáo là muốn chuyển sang giam cùng phòng với Cheasty, vì hắn và Cheasty đã quen
nhau từ thời còn đi lính. Mặc dù không tin vào câu chuyện tình bạn trong quân
ngũ này, vì Potter mới 30 tuổi, còn Cheasty thì đã quá 60 tuổi, nhưng giám thị
trại giam vẫn đồng ý cho chuyển Potter đến phòng giam của Cheasty, để tiếp tục
theo dõi mối quan hệ của y với thế giới tội phạm.
Không còn tìm hiểu được gì thêm nữa, công tố viên Kimbell cầm
hai tấm thẻ nhận dạng lên, nhìn đăm đăm vào hai tấm ảnh chụp Potter và Cheasty,
một trong hai kẻ ông đang cần tìm. Đột nhiên, Kimbell nhận thấy, một trong hai
tấm thẻ đó có vẻ khang khác, nó ráp hơn, chứ không trơn nhẵn. Nó dày và nặng
hơn. Kimbell so sánh hai tấm thẻ một cách kỹ càng hơn, đặt chúng nằm lên nhau
và xoay đi xoay lại. Quả nhiên, thẻ nhận dạng của Cheasty dày hơn, tông màu
cũng khác, hơi sẫm hơn một chút. Càng nhìn kỹ bao nhiêu ông càng thấy có những
điểm khác biệt giữa hai tấm thẻ.
Thẻ nhận dạng là một tấm thẻ nội bộ, được cấp cho mỗi tù nhân và
đi theo tù nhân cho đến khi mãn hạn tù, cho dù thụ án ở bất cứ nhà tù nào trên
nước Mỹ. Loại thẻ này được tiêu chuẩn hoá, làm thống nhất bằng một loại
các-tông đặc biệt và được in trong nhà in của cơ quan chức năng. Chỉ qua một
vài thao tác kiểm tra cơ bản, người ta dễ dàng phát hiện ra thẻ nhận dạng của
Cheasty là thẻ giả. Mặt khác, khi xem lại hồ sơ của toà án đã xét xử Cheasty,
Kimbell còn phát hiện ra rằng, kẻ mang thẻ nhận dạng giả và bị chuyển đến nhà
tù Atlanta không phải là Cheasty. Ảnh và dấu vân tay của Cheasty còn
lưu lại trong hồ sơ của toà án hoàn toàn khác với ảnh và dấu vân tay trên thẻ
nhận dạng mang tên Cheasty.
Sau khi thẩm vấn 15 giờ đồng hồ và vượt qua nhiều khó khăn vì
không phải lúc nào những biện pháp hỏi cung cũng được luật pháp cho phép,
Kimbell đã biết được ai đứng sau cái tên Elmer Cheasty. Đó là Josef Valachi,
một "bố già" trong làng Mafia từ thời bố già Alcapone. Từ một tay súng,
Valachi đã leo lên trở thành cố vấn tài chính cho các ông trùm của thế giới
ngầm. Trong suốt 20 năm qua, hắn đã phụ trách sổ sách tài chính của các
"bố già" Mafia. Valachi đã được các trùm Mafia tuyệt đối tin cậy. Y
biết rõ các nguồn thu bất chính của Mafia từ các hoạt động tội phạm, đầu cơ
tiền tệ, buôn lậu ma tuý. Những ông trùm đã phó mặc cho Valachi sửa sang các tờ
khai về thuế, sao cho cơ quan thuế vụ không phát hiện được các phi vụ làm ăn
phi pháp của Mafia trên thương trường.
Tất nhiên, sau khi đã biết ruột gan về các khoản thu nhập của
các ông trùm, Valachi không còn hài lòng với thù lao được trả nữa, mặc dù những
khoản này cũng không phải là nhỏ. Hắn đã tự tìm cách tham gia vào chuyện làm ăn
của thế giới Mafia, trước tiên là buôn bán ma tuý. Nhưng, vì muốn ăn lẻ nên đã
bị rơi vào tình thế đơn thương độc mã, không đủ vốn và thế lực để về lâu về dài
tránh được cảnh sát. FBI đã điều tra được những hành động phạm pháp của hắn và
Valachi phải bỏ trốn. Y bị xử vắng mặt 10 năm tù. Từ khi có tên trong danh sách
bị truy nã, Valachi không còn là một cố vấn tài chính của Mafia nữa, mà ngược
lại đã trở thành một mối đe doạ đối với các ông trùm. Nhưng, chúng đã không
tiêu diệt Valachi như vẫn thường "hô biến" những kẻ biết quá nhiều bí
mật vì dù sao hắn cũng đã từng làm việc lâu năm cho chúng. Chúng đã cho Valachi
"lặn xuống" bằng cách đánh trao y vào vị trí của Elmer Cheasty trong
nhà tù Atlanta, sau khi cho giết gã tù nhân sắp mãn hạn tù này trong một
đợt thuyên chuyển tù nhân. Tuy nhiên, khi công tố Kimbell tìm ra sự thật thì
tiếng chuông báo tử của Valachi cũng đã điểm. Sidney Potter - một sát thủ của
Mafia, nhận được lệnh vào khử Valachi. Sai lầm của Potter là y đã không ra tay
ngay, mà để chậm mất 30 phút. Đúng trong thời gian nửa giờ đồng hồ đó, Valachi
đọc báo biết được tin về phát hiện của công tố viên Kimbell và lập tức nghi ngờ
ngay "bạn cùng phòng" mới của mình. Valachi đã ra tay trước và dùng
một chiếc chân ghế bằng sắt đập vỡ sọ Potter.
Công tố viên Kimbell hỏi: "Từ đâu mà anh biết được Potter
là sát thủ của Mafia để ra tay? Anh không hề quen biết y trước đó kia
mà?". Valachi trả lời: "Tôi đã định sẽ đập vỡ sọ bất cứ đứa nào mới
được chuyển đến phòng giam của tôi. Tôi biết rằng, chắc chắn kẻ đó được lệnh
vào khử tôi".
Kimbell đã trở thành một nhân vật nổi tiếng nhất nước Mỹ trong
thời kỳ này sau chiến tích điều tra ra nguyên nhân vụ án mạng xảy ra trong nhà
tù Atlanta. Valachi đã khai mọi chuyện với Kimbell về những bí mật của các
ông trùm. Trong suốt mấy tuần lễ đó báo chí liên tục đưa những tin giật gân về
Mafia và còn dự đoán về ngày tận thế đang đến gần của thế giới tội phạm Hoa Kỳ!
Tuy nhiên, sau đó thì FBI đã vào cuộc vì đa số các trùm Mafia
đều mắc những trọng tội trong các khung hình phạt do Bộ luật Hình sự liên bang
điều chỉnh, cho nên không thể đưa chúng ra xét xử trong khuôn khổ bang Georgia
được. Dư luận tạm thời lắng xuống xung quanh vụ Valachi và ngày tận thế của thế
giới ngầm.
Người ta chỉ còn thấy báo chí đưa tin là FBI đã chuyển Valachi
đến một căn cứ quân sự nằm trên sa mạc Nebraska để tiếp tục thẩm vấn. 12 tháng
trôi qua và không một tên trùm Mafia nào bị bắt, mặc dù Valachi đã khai chi
tiết mọi tội lỗi của chúng với các quan chức của FBI. Ngược lại, báo chí lại
đưa tin rằng, những kẻ quan tâm đến Valachi chào giá mua xác chết của y với giá
100.000 USD.
Cho đến tháng 10-1963, dư luận lại tiếp tục "nóng" lên
bởi vụ Valachi. Nhưng đã không xảy ra những vụ bắt bớ hàng loạt và không có
phiên toà xét xử trùm Mafia nào được mở. Lúc này, báo chí lại tập trung đưa tin
về một chương trình có một không hai trên truyền hình. Thượng nghị sĩ phụ trách
tư pháp Robert Kennedy đã ra lệnh cho một uỷ ban chống tội phạm có tổ chức của
thượng viện tổ chức một buổi thẩm vấn Valachi tại Nhà Trắng trước ống kính của
tất cả các hãng truyền hình Mỹ.
Ngay cả lễ trao giải thưởng Oscar cho diễn viên được yêu thích
nhất cũng không thu hút được nhiều khán giả bằng hình ảnh và lời khai của một
"bố già" Mafia như Valachi. Người ta đã ước tính là có khoảng 120
triệu người Mỹ đã theo dõi truyền hình trực tiếp buổi "trình diễn"
này.
"Bố già" Mafia Valachi hiện diện trước 16 ống kính
truyền hình với bộ complê sang trọng màu sẫm và một chiếc cavát tuyệt đẹp, có
một chút gì đó làm người ta liên tưởng đến huyền thoại điện ảnh Pháp Jean
Gabin. Lúc đó, trong phòng họp báo của Nhà Trắng có gần 300 phóng viên báo chí
chen lấn với các thành viên uỷ ban chống tội phạm của thượng viện. Valachi điềm
đạm ngồi vào chiếc ghế bành mà trước đó các Tổng thống và các Bộ trưởng Mỹ đã
từng an toạ. Chẳng khác gì một bộ phim hình sự, hắn bắt đầu kể về cuộc đời
Mafia của mình và đồng bọn: "Tôi đã giết, đã thủ tiêu cho chúng nó. Nhưng mọi
việc đã xảy ra từ 30 năm trước đây..."
Đúng 30 năm đã trôi qua đối với những sự việc mà Valachi trình
bày trước công luận ngày hôm đó và cả trong hai ngày tiếp theo. Hầu như đó là
những vụ án đã dần dần đi vào lãng quên, mà báo chí đã đăng tải, đưa tin hàng
trăm lần. Khi được một Thượng nghị sĩ hỏi liệu y có thể khai gì về những tên
trùm Mafia hiện vẫn còn đang hoạt động thì Valachi trả lời rằng y đã khai hết
với FBI rồi và vì quá trình điều tra vẫn đang tiếp diễn nên y không được phép
khai điều đó ra trước công luận.
Trong khi đó, thực tế thì uỷ ban chống tội phạm có tổ chức của
thượng viện Mỹ chỉ là một công cụ nhằm đánh lạc hướng dư luận. Uỷ ban này không
tìm cách điều tra, mà đã tìm cách xoá nhoà đi thực trạng về thế giới tội phạm ở
Mỹ. Đến tận bây giờ thì quá trình điều tra của FBI vẫn chưa kết thúc và không
một tên trùm Mafia nào - mà bất cứ một đứa trẻ Mỹ nào chẳng biết - bị bắt giữ.
Tập hồ sơ về vụ Valachi đã được cất cẩn thận vào két sắt của Bộ Tư pháp Mỹ để
không bao giờ phải lôi ra nữa!
XÁC CHẾT TRÊN BỜ BIỂN
Hôm 22-01-2001, trong lúc đang dạo chơi vào buổi hoàng hôn trên
bờ biển ở Cap Bénat, gần Bormes-Les-Mimosae, hai khách bộ hành chợt phát hiện
một xác chết trần truồng nổi lềnh bềnh kẹt giữa hai ghềnh đá. Sau khi giám
định, các bác sĩ pháp y nhận định xác đã "nằm nước" gần nửa tháng. Đó
là xác của một phụ nữ. Mắt cá chân bị vỡ, nhiều xương sườn bị gãy, gương mặt đã
bị biến dạng hoàn toàn nhưng đặc biệt chú ý là trong phổi của tử thi không có
nước. Trên ngón tay của người phụ nữ xấu số này có hai chiếc nhẫn quý giá. Cơ
quan điều tra đặt ra giả thuyết một số tình huống như: người phụ nữ tự sát, bị
ám sát hay do bị ngã từ trên vách đá cao?
Ngày 29-01, Cảnh sát Toulon nhận được tin báo từ đồng nghiệp
Italic cho biết về một nữ Bá tước giàu có đã mất tích từ đầu tháng. Sau khi xem
xét một cách kỹ lưỡng, người ta xác định cái xác đó là nữ Bá tước Francesca
Vacca Agusta.
Nữ Bá tước Francesca là vợ goá của nhà chế tạo trực thăng Agusta
người Italia, đã biến mất một cách đầy bí ẩn vào tối ngày 08-01. Do bị
trầm uất từ nhiều tháng, Francesca thường uống rượu tới mức say khướt vào mỗi
chiều. Thậm chí, các vị khách cũng mệt mỏi vì các buổi tiệc cuối tuần của
Francesca và họ hàng cũng không khỏi lo ngại khi bà ta xin phép đi dạo một mình
trong công viên vào lúc 19 giờ. Mặc dù đi dạo giữa đêm tối giá rét, nhưng nữ Bá
tước Francesca vẫn ăn mặc rất phong phanh, bởi vì bà ta vẫn nổi tiếng là con
người kỳ quặc.
Hai giờ sáng, người ta vẫn không thấy nữ Bá tước trở về nhà.
Tito - bạn trai của nữ Bá tước đã báo tin cho đội cảnh vệ Italia biết. Một ngày
hôm sau, các nhân viên điều tra phát hiện đôi dép của Francesca gần bãi biển và
chiếc áo khoác của bà ta trôi lững lờ ở dưới nước. Lúc đầu, người ta cho rằng
đây là một vụ tự tử. Rocky - người con trai của cuộc hôn nhân đầu của Bá tước
Agusta, xác nhận rằng mẹ kế đã gọi điện cho anh ta khoảng vài phút trước thời
gian mà người ta phán đoán nữ Bá tước mất tích, và bà ta đã thú nhận với Rocky
là mình đã "chán sống". Vài tháng trước đó họ cùng bàn bạc với nhau
về vấn đề thừa kế di sản của nhà công nghiệp Agusta, chính nữ Bá tước cũng đã
nói với Rocky những lời lẽ thật lạ lùng: "Tôi đã ký tên vào bản án tử hình
của tôi".
Từ khi chồng chết, nữ Bá tước Agusta vẫn giữ được mối quan hệ
tốt đẹp với Maurizio Raggio - người tình cũ của bà từ thập niên 80. Bà đã nhiều
lần bảo đảm với Maurizio rằng một phần tài sản của bà ta sẽ trao cho y. Tuy
nhiên, thời gian gần đây nhất bà ta đã thay đổi ý định và muốn nhượng phần tài
sản đó cho Tito và người bạn thân là Susanna. Tài sản đó bao gồm 175 triệu
frăng, vài biệt thự và một căn hộ sang trọng.
Giữa thập niên 90, Francesca đã có mặt trên trang nhất của mọi
tờ báo ở Italia, vào lúc mà chính quyền Italia đang tiến hành chiến dịch
"bàn tay sạch", khi đó bà bị kết án "giam giữ tại nhà" (của
bà ta) vì tội đã cùng Maurizio nhúng tay vào việc tẩy trắng số tiền khổng lồ bị
biển thủ bởi Thủ tướng Bettino Craxi.
Tiền bẩn và các quan hệ mờ ám trong những năm u tối có thể đã
tác động đến số phận của Francesa? Đó chỉ là giả thuyết còn cuộc điều tra thì
vẫn dậm chân tại chỗ.
Xác của nữ Bá tước có thể bị trôi giạt theo dòng nước từ vùng
vịnh miền Bắc Italia đến Côte d'Aur. Tuy vậy, cũng có thể thi thể của bà bị ném
xuống nước từ vùng bờ biển Pháp. Từ đặc điểm phần gãy bị sai khớp và không có
nước trong phổi đã khiến người ta đặt giả thiết cụ thể hơn, có ai đó nện một cú
chí mạng rồi ném xác nữ Bá tước xuống biển?
Theo những thông tin tỉ mỉ của bác sĩ pháp y, phía Italia có vẻ
như không nghĩ đây là vụ giết người. Và người ta nhớ lại những lời đồn đại của
người xưa về lâu đài Altachiara - "một căn nhà bị nguyền rủa".
Đó là toà lâu đài rộng lớn với 40 phòng, toạ lạc giữa rừng thông
rậm rạp được Huân tước Carnorvon - nhà Ai Cập học người Anh đã khám phá ra lăng
mộ Tontan - Khamon xây dựng. Năm năm sau khám phá đó, ông ta qua đời tại lâu
đài Altachiara. Ít lâu sau, đến lượt cháu trai ông ta bị té ngã từ trên ban
công rồi chết. Francesca chắc chắn chết cùng cách đó - một nạn nhân mới nữa của
lời nguyền từ vị Pharaon Ai Cập! Sự thật chẳng lẽ lại là như vậy?
Nữ Bá tước Agusta đã có ý định tự sát ở Mêhicô trước đó năm năm.
Bà ta là người rất thích dùng thuốc an thần. Chính vì thế giả thiết bà ta tự tử
lại càng được nhiều người tin.
Có thể nói, số phận rất ưu đãi cô gái nhỏ lanh lợi có đôi chân
dài xuất thân từ tầng lớp thị dân bình dị này. Một cách ngẫu nhiên, cô trở
thành người mẫu và diễn viên điện ảnh rồi làm chủ một cửa hàng thời trang. Khi
cô 27 tuổi, một người bạn gái dẫn cô tới hộp đêm Mephenta ở Milan và giới thiệu
cô với Bá tước Corrado Agusta. Ông Bá tước này lúc đó quả xứng đáng là một
hoàng tử: 46 tuổi, hết sức hấp dẫn, thân hình lực sĩ và một gia tài kếch sù.
Hai người yêu nhau và lập tức bay đến Beyrouth. Sau khi Bá tước
quay về nhà ruồng rẫy vợ con mình, năm 1974 họ cưới nhau. Từ đó, người ta bắt
gặp họ bên nhau ở khắp mọi nơi. Họ chiêu đãi khách khứa ở mọi nơi trên thế
giới. Cuộc sống êm dịu kéo dài suốt hơn 10 năm. Tình dục và rượu ngày càng
phóng túng hơn. Theo "ý thích" của Bá tước , Francesca thường trút bỏ
hết quần áo trong những bữa ăn no say. Ngoài ra, họ còn có nhiều trò phóng túng
nữa mà ít người tưởng tượng ra được!
Bước vào tuổi 40, Francesca không còn gợi cảm nữa. Corrado thì
ngày càng vắng mặt nhiều hơn, không ngớt đi xa vì công ăn việc làm. Sau đó,
người ta nhìn thấy Francesca trong vòng tay của những người đàn ông trẻ trung
lạ mặt, thậm chí rất nhiều lần như thế trong cảnh tranh tối tranh sáng của Club
54 ở New York. Tuyệt vọng vì ghen tuông, Bá tước Corrado bắt đầu theo dõi vợ -
ông ta lấy cớ là để bảo đảm an toàn cho vợ. Từ đây, quan hệ vợ chồng họ dần dần
rạn nứt không cách gì cứu vãn nổi. Thế rồi, "ông ăn chả bà ăn nem",
Corrado có bạn tình mới là Ginger. Năm 1985, họ ly hôn. Năm 1989, Corrado qua
đời vì một khối u ở gan.
Nữ Bá tước (vẫn giữ tước hiệu và tên của Agusta) nhận được tiền trợ cấp hằng năm rất lớn, cũng như sở hữu hai lâu đài ở Cuernavaca và Portofino - hai địa điểm mà bà ta thường xuyên tổ chức tiệc tùng, với rượu và tình dục. Bất chấp các nếp nhăn hằn trên mặt, Francesca tập hợp quanh mình nhiều người đàn ông trẻ. Tiếp đó, nữ Bá tước bắt đầu say mê một phụ nữ trẻ 28 tuổi tên là Susanna, vợ cũ của một giám đốc ngân hàng, có người mẹ làm chủ một cửa hiệu quần áo thời trang ở Portofino. Giai đoạn cuối ngày, hai người đàn bà khăng khít bên nhau. Theo lời khai của các gia nhân, một vụ cãi cọ dữ dội đã nổ ra giữa nữ Bá tước, người tình Tito và Susanna. Một lần nữa, vấn đề di chúc được đem ra để đấu khẩu. Sau đó, nữ Bá tước giam mình suốt buổi chiều trong buồng trang điểm với hai chai rượu. Cuối cùng, nữ Bá tước bước ra ngoài lâu đài lúc 19 giờ... Và cái chết của nữ Bá tước Agusta vẫn là một điều bí ẩn.




0 comments:
Đăng nhận xét