TRANG THƠ XANH DỌC CÕI VỀ!
Cõi thơ, muôn đời qua được không ít học giả minh định là cõi tĩnh,
cõi thanh lọc và buông bỏ của kiếp người! Ở trong cõi ấy, người ta tìm được sự
thanh thản và tao nhã, tìm được những rung động chân thật của tình người ở tầng
thức tu duy sâu kín nhất!
Lý thuyết là vậy, nội hàm của thơ ca ôm chứa cái cơ bản ấy của
kiếp người, bởi nó tĩnh, nó thanh lọc, cho nên “loài thơ đích thực” sẽ cần và đến với những người từng trải, những
người có tuổi nhiều hơn!
Chúng tôi phải dùng cụm từ “thơ
đích thực” để định danh nó với những loài khác, đồng dạng với thơ và luôn
vô cùng đông đảo với những tính danh như: Nịnh ca, tụng ca, vịnh ca, kể lể ca,
sến sẩm ca, chọc ngoáy ca… luôn lan tỏa ào ạt trong đời sống! Cũng bởi nhẽ ấy,
mà thơ ca đích thực thật sự không bao giờ là nhiều, là thừa trong bất cứ hình
thái xã hội nào!
Đầu năm vừa rồi, chúng tôi nhận được hai ấn phẩm thơ của nhà giáo,
nhà thơ Trịnh Đình Bích gửi lên từ thành phố biển Hải Phòng. Đó là tập Đồng
Vọng, xuất bản năm 2023 và tập thơ Lối về vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà
Văn ấn hành quý II năm 2026 này! Như vậy, chỉ trong vòng tám năm từ năm 2017
đến nay, nhà giáo họ Trịnh này đã xuất bản được bốn tập thơ. Nhìn chung, cả bốn
tập thơ ấy đã có những lan tỏa tích cực đến bạn đọc và bầu bạn văn chương của
ông trong cõi văn!
Nhà thơ Thy Nguyên - Một nữ thi sỹ khá uy tín của vùng đất Cảng,
trong bài viết về ông có đoạn: Thơ Trịnh
Đình Bích soi “khoảng lặng bình yên” dành cho bất kỳ ai đang trên hành trình
nhân sinh đầy bụi bặm. Thơ ông không chọn làm cuộc dạo chơi ngôn từ. Thơ chắt
lọc từ những vệt xước cuộc đời, bung tiếng thở dài nhẹ nhõm khi thấy mình trong
vòng tay nguồn cội quê hương”. (Trích dẫn: Hành trình tự thức một tâm hồn
nhân hậu. Tác giả Thy Nguyên).
Nhà thơ, nhà nghiên cứu Đặng Xuân Xuyến thì nhận xét rằng: “Thơ Trịnh Đình Bích nhiều chiêm nghiệm, giàu
suy tư, dễ chạm vào trái tim người đọc từ những cảm xúc chân thật...”
Thời đại công nghệ thông tin, gần như 100% các văn nghệ sỹ sử dụng
mạng xã hội để tương tác với bạn bè và người đọc. Tôi lần theo cụm từ khóa “Nhà thơ Trịnh Đình Bích” thì gặp bài thơ
mới nhất trên trang Facebook cá nhân của ông:
VỌNG TIẾNG MÕ CHÙA
Lặng nghe! vọng tiếng mõ
chùa
Trong tay thầy gõ, lúc
thưa lúc dày
Hương trầm như cũng
dừng bay
Nam mô câu ngắn, câu
dài lâng lâng!
Câu xa xin xá tội
từng….
Câu gần khuyên nhủ sống
đừng sân si
Đạo trời nhớ chữ vô vi
Bao tai ương cũng chỉ
vì lòng tham.
Mõ chùa, trầm mặc âm
vang
Tụng kinh nhờ tiếng mõ
làm tâm lay
Bỏ buông điều ấy Phật
bày
Cũng không thành, nếu
lòng này không rung…
Tiếng cao gọi nhắc ta
cùng
Tiếng trầm thủ thỉ cho
chung mọi người
Vào chùa, tâm sáng sầu
vơi!
Rời xa tiếng mõ vẫn vời
vợi buông.
Chợt nghe thong thả
tiếng chuông
Nam mô tiếng tụng hoà
chung mõ chùa.
Cách lập ngôn, diễn ý trong thơ Trịnh Đình Bích khá quen thuộc,
nhưng rất may, trong cái quen thuộc của nhịp điệu, của vần luật kia, là những
rung động đích thực. Và có lẽ thơ ông đến với đời này, rồi bám rễ, lên mầm được
là nhờ ở cái sự rung động ấy. Nào, thì thong dong một chuyến vào hẳn miền thơ
của ông. Đến với thơ giữa lúc loạn chữ, rạc chữ này, mà không chuyên chú là dễ việt
vị vì khen chê quá tay lắm. Này đây, một cánh cò thơ đồng vọng nỗi chiều thăm
thẳm:
Con cò bay từ ca dao/
Chân vương bùn đất khuất vào trời xanh/ Tiếng ru, con sáo rời cành/ Em thơ ngon
giấc bên vành nôi xinh/ Yêu nhau, em đứng đầu đình/ Mà nên vóc dáng mà thành ca
dao/ Ai kia máu đổ chiến hào/ Rời trần còn nhớ câu nào trúc xinh… (Cánh cò – Thơ ơi).
Sau khi làm một cuộc khảo sát nhỏ về thơ Trịnh Đình Bích qua cả
cõi thực và cõi mạng, thì trong tôi thấp thoáng một ông giáo xế chiều đang đi
giữa đường quê trong mạch chữ của ký ức. Mạch chữ ấy, như một con đường hai
chiều nho nhỏ, một chiều là những buông xả, thuận thiên. Chiều bên kia là những
hồi ức tỏa bóng từ phía làng quê! Thơ viết mà thành dòng thành mạch được như
thế ấy là nhờ ở cái tư tưởng quán chiếu, thức ngộ đã tìm lắng vào câu chữ!
Nào, thì cùng ông giáo nhà thơ họ Trịnh theo lãng đãng bên chiều
đường dẫn về với những hồi ức, những khoảnh khắc của làng quê xứ Thanh ngày cũ
qua một miền vọng tưởng:
Chợ quê không thiếu chẳng
thừa/ Không đi thì nhớ dẫu vừa hôm qua/ Đồng dầu quên, nhớ đồng quà/ Chợ tan
vài thứ còn qua quýt buồn.
Trong miền vọng tưởng ấy, những hình ảnh làng quê cứ rờ rỡ hiện
lên, mang hồn vía một thời cổ tích:
Mùa hè đã đến/ Đêm trời
đầy sao/ Bụi tre đầu ngõ/ Đo nắng bằng sào/ Ngoài đồng lúa chín/ Cúi mình khoe
bông/ Mẹ lo liềm hái/ Tháng sau xuống đồng. (Mùa hè nỗi nhớ).
Quê, một nơi được minh định qua mấy ngàn năm với cánh vạc cánh cò,
với màu xanh cổ tích khảm vào những kiếp tre pheo, khoai lúa tảo tần… Giờ đây,
cái nếp xanh ấy, đang bị cơ chế thị trường và những cơn phố hóa bứng dần hồn
vía làng quê:
Tháng ba quê/ Đã nhuốm
một ít màu phố xá/ Mịt mù bụi đường ngổn ngang gạch đá/ Chỉ vô tư lúa vẫn cứ
xanh rì…/ Tháng Ba trên đồng mong cứ mênh mông/ Cho cây lúa có nơi cắm vào lòng
đất/ Quê cũ bao la rồi rất chật/ Có còn cho ta một chỗ quay về. (Về quê mùa tháng Ba).
Phàm lệ, những người tuổi chiều mới đến với thơ, thường chọn Ký ức
và Quê hương để lập ngôn cho thơ mình. Đấy cũng là phải nhẽ, bởi cảm xúc thơ
đích thực thường được sinh ra từ những gì gần gũi, ẩn ức và thiêng liêng nhất
đối với người viết!
Những trang thơ của Trịnh Đình Bích viết về quê hương, về những
kiếp mưa kiếp nắng tảo tần cùng khoai lúa có thể chưa có nhiều những nét riêng
về nghệ thuật. Nhưng cái sự chân thành của cảm xúc đã tạo nên một sự lan tỏa và
cộng hưởng cùng những mảnh hồn quê đang lặng lẽ tìm lại hình bóng quê nhà, giữa
những xô bồ ào ạt hôm nay.
Con cò bay lả bay la/
Theo bà theo mẹ câu ca tắt rồi/ Mở băng, ru trẻ à ơi/ Giật mình cháu khóc tiếng
người không quen/ Bạn xưa giờ bỗng quên tên/ Chỉ mong đừng nghĩ sang hèn mà xa/
Nhìn nhau, ừ nhỉ đã già/ Quên quên nhớ nhớ cũng là luật thôi. Vẹn nguyên còn
chỉ bầu trời/ Vẫn xanh trong, vẫn mây trôi, mặc lòng/ Bạn bầy cùng với dòng
sông/ Ru thay ta, một tấm lòng với quê. (Đường về).
Cái nết quê hôm nay, trong màu sương gió khác, nên nó hiện hữu
trong những khung hình thời hiện đại như thế này đây! Vẫn là dòng thơ tự sự,
mạch vỉa chữ nghĩa chân thành, dung dị… nhưng có gì đó như đắng, như cay vẫn
ngỏ lên từ lòng chữ:
Rạ rơm bỏ lại đồng rồi/
Cũng may giờ trẻ không chơi trốn tìm/ Đập, vò, âm của xưa đêm/ Chị giờ buổi tối
chỉ xem phim Hàn/ Lúa về chất chật một gian/ Ngày mai lái đến chị bàn giao,
xong! Sẩy sàng, đếm đếm đong đong/ Chuyện xưa lâu lắm đã không thấy rồi/ Chỉ mồ
hôi vẫn mặn mòi/ Và đồng đất ấy hiểu người nhà nông! (Về quê gặp lại mùa gặt).
* * *
Tạm biệt khoai lúa ký ức, tạm biệt những lát cắt đồng quê, cùng
những gồng gánh, đập, vò đã chai sần cả ngàn năm lịch sử, chúng ta sang chiều
bên kia của con đường thơ của nhà giáo họ Trịnh. Ấy là chiều đường của sự thức
ngộ manh nha, trên con đường ấy thơ ca đang giúp tâm hồn tước bỏ dần những thứ
không thuộc về sự vĩnh cửu của Đạo:
Ta đang đi đến vô cùng/
Mong xanh như biển và trong như hồ/ Liệu rằng trong cõi hư vô/ Có bon chen, có
lọc lừa nữa không? (Dòng sông – Đời
người).
Thơ, là phương tiện quan trọng để người viết chuyển hóa những trải
nghiệm trong nỗi niềm người thành một nguồn năng lượng tích cực ở tầng thức
khác. Thời nào cũng vậy, giá trị của thơ thường được chú ý sâu hơn ở điểm này,
cái nguyên lý chuyển hóa ấy chính là sự cứu rỗi của thi ca đối với kiếp người,
mà trước hết là tác giả của nó:
Lội bùn đông mới buốt
chân/ Hiểu thêm cái nỗi nhọc nhằn mẹ cha/ Nợ muôn đời, nợ chính ta/ Nợ dòng
sông tải phù sa cho bờ/ Bao giờ tìm được câu thơ/ Trả cho đời những mong chờ,
thơ ơi! (Món nợ trần gian).
Sự thức ngộ trong thơ, nằm ở cái tư tưởng, ở sự nhìn nhận và lý
giải những nỗi niềm người qua các tầng thức khác nhau của trí tuệ. Góc nhìn của
Thơ ca đích thực, cũng chính là góc soi chiếu của Đạo. Sự tương đồng, tương
thức ấy, khiến cho thơ trở nên cao quý hơn:
Thương em xuân sắc lỡ
thì/ Không ra trận cũng là vì nước non/ Chữ tình, giữ chút lòng son/ Cho người
cầm súng sống còn, yên tâm/ Có ai nghe thấy nốt trầm/ Giữa ngày vui một người
thầm ướt mi! (Thương một đời xuân).
Chúng ta đang tương tác cùng thơ của Trịnh Đình Bích. Rõ ràng
rằng, đọc cả mấy tập thơ của anh, cả những bài anh mới viết trên trang cá nhân,
chẳng thấy sự phá cách, sự làm mới gì về câu chữ, chỉ ăm ắp những sẻ chia và
thức tỉnh bằng sự trải nghiệm chân thành:
Trầm tư chi những tượng
đài/ Mặc ngoài kia khách vãng lai ngắm nhìn/ Ngai vàng một thuở lặng im/ Ngẫm
trăm năm cũng nổi chìm phù du. (Trở lại Huế xưa).
Nếu đứng ở ngoài nhìn vào cõi thơ hôm nay, hẳn sẽ thấy sợ bởi hằng
hà sa số các thể tài, thể thức thơ, các cách làm mới, vắt dòng, làm mờ, làm vụn
cấu trúc câu chữ trong thơ. Nhưng thực tế, thơ vẫn chỉ định dạng trong vài ba
loài thơ. Trong đó, loài thơ của thức ngộ, chuyển hóa và giải thoát, vẫn luôn
được được với người đọc đồng cảm và tương tác cao nhất! Bởi vậy, những dạng
thức thơ có cái kết bảng lảng, thuận thiên thế này, dễ trở thành một bờ vai để
dìu đỡ những khuyết lở, những trống vắng trong sâu thẳm lòng người:
Ta về người đã đi xa/
Biết tìm đâu giữa bao la đất trời/ Chút hương gió cũng cuốn rồi/ Chỉ còn ta
ngẩn ngơ ngồi bấm tay. (Người đã xa rồi).
* * *
Nhà giáo Trịnh Đình Bích đến với thơ để tìm một sự giải tỏa và
khai phóng những ẩn ức trong tâm hồn mình. Và hình như thơ đã giúp ông làm được
điều ấy! Thơ ông hướng tới cuộc đời này bằng những sẻ chia và thức ngộ.
Đọc thơ ông, người ta không thấy sự xung đột về tư tưởng và tư duy
thơ! Mạch thơ, mạch chữ nơi ông trong mười năm qua luôn nhất quán điều ấy! Con
đường thơ nhỏ của riêng ông dù không có kỳ hoa dị thảo, nhưng lại thừa sự an
yên để ông chuyển hóa tích cực những nỗi niềm người trong bể phù sinh! Với cõi
người và cả cõi thơ, đấy là một thành công vậy!
*.
NGUYỄN THẾ KIÊN
Địa chỉ: Nhà số 14, ngõ
76/2 Vĩnh Hưng,
quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
..........................................................................................................
- Cập nhật theo nguyên
bản nhà thơ Trịnh Đình Bích gửi: 27.05.2026.
- Ảnh minh họa cho bài
viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể hiện
quan điểm của blog trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét