NHÀ VĂN TÔ HOÀI
VỚI PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI
Thuở nhỏ, tôi rất mê Tô Hoài. Mê từ khi mới lẫm chẫm bước chân đến
trường làng. Hồi đó tôi đã có thơ tặng ông, dù chưa từng được nhìn thấy ông ở
trong đời thực. Đó là dịp tháng 4/1967, tình cờ tôi đọc được một truyện ngắn
viết cho trẻ em của ông in trên báo Thiếu niên Tiền phong. Cái truyện có tên là
“Ò... ó... o...”.
Truyện kể một cậu bé thành phố, về nghỉ hè nhà bà ngoại. Bà sống ở
quê. Suốt ngày cậu chạy nhảy, vui chơi với bao trò chơi thú vị mà ở thành phố
không có. Mới chập tối, mệt quá, cậu thiếp đi. Ngủ chưa được bao lâu, mắt vẫn
cay sè, đã nghe gà gáy inh ỏi. Ngoài cửa nhờ nhờ. Cậu bé nhìn ra, thấy bà vẫn
cặm cụi thái lá dâu cho tằm, dì vẫn cập cạch dệt lụa. Chưa có ai đi ngủ cả.
Trời mới tối được một lúc. Thế sao gà đã gáy? À, đấy là mấy chú gà nhầm, thấy
ánh điện nhà máy bên kia sông hắt sang, gà tưởng sáng nên đua nhau gáy.
Cái truyện chỉ có thế. Nhà văn Tô Hoài ca ngợi sự đổi mới của nông
thôn. Đấy là một chủ đề khá phổ biến trong văn chương Việt Nam những năm sáu
mươi. Hồi ấy, tôi rất thích cái truyện ngắn này. Thích không phải vì cốt
truyện, mà chỉ ở ba chữ Ò ó o. Cái truyện gợi cho tôi viết bài thơ
“Ò...ó...o...” với nội dung khác hẳn. Nhưng “Ò...ó...o...” là chữ của riêng Tô
Hoài.
Trong sách “Tập đọc lớp ba” của chúng tôi thời ấy, tả tiếng gà,
người ta lại dùng chữ “cúc cù cu”. Một bài Học thuộc lòng thời ấy thế này:
Cúc cù cu!
Cúc cù cu!
Sáng rồi đây.
Nông dân vác cuốc vác cày.
Ra đồng cày cuốc cho đầy nồi cơm”...
Những bài học của chúng tôi phải nói là rất nôm na, dễ dãi. “Cúc
cù cu” là tiếng chim bồ câu gù chứ không phải tiếng gà. Nếu lấy tiếng chim bồ
câu để báo sáng thì không phổ cập. Vì bồ câu không hót khi trời sáng. Thêm nữa,
chỉ những gia đình trung nông trở lên mới nuôi chim bồ câu. Còn với những người
nông dân “Vác cuốc vác cày. Ra đồng cày cuốc cho đầy nồi cơm” thì chỉ tiếng gà
mới gần gũi với họ. “Ò... ó... o...” quả là một đóng góp của Tô Hoài. Tôi lấy
mấy chữ ấy của ông. Và để tỏ lòng biết ơn ông, sau tên bài “Ò... ó... o...” tôi
đã ghi một dòng rất trang trọng : “Kính tặng chú Tô Hoài”, dù lúc ấy, tôi chưa
từng gặp ông, và ông cũng chẳng biết tôi là cái thằng bé nào...
Tô Hoài là một nhà văn lớn, một “người khổng lồ” với số lượng tác
phẩm thật đồ sộ. Ông viết đủ các thể loại: từ tiểu thuyết, truyện vừa, bút ký,
ký sự, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện, tiểu luận phê bình, truyện viết cho
thiếu nhi, cho đến cả các bài báo ngắn, các bài điểm sách chỉ bằng một... bàn
tay trẻ con.
Tô Hoài thực sự là nhà văn chuyên nghiệp. Nghĩa là ông hoàn toàn
sống được bằng nghề văn. Ngồi đâu, ông cũng viết được văn, kể cả trong những
lúc hội họp.
Có người còn kể rằng, trong một hội nghị quốc tế sang trọng, Tô
Hoài ngồi ghế chủ tịch đoàn điều hành cuộc họp. Người ta ngạc nhiên khi thấy
ông cứ lật sổ viết nhoay nhoáy. Tưởng Tô Hoài ghi biên bản hội nghị. Hoá không
phải. Ông đang viết tiểu thuyết. Không ít tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài đã ra
đời trong những hoàn cảnh đặc biệt như thế. Ta hiểu vì sao Tô Hoài có được một
lượng sách thật đồ sộ: 215 tác phẩm, nhiều hơn gấp đôi số tuổi đã sống trên trần
gian của ông. Đó là một con số kỷ lục mà không phải nhà văn lớn nào trên thế
giới cũng có thể đạt tới được.
Tô Hoài là nhà văn không có tuổi già. Ở ông không có dấu hiệu của
tuổi già. Một trí tuệ tỉnh táo và thông minh đến mức... tinh quái. Ông cũng là
trường hợp duy nhất ở Việt Nam: Là một nhà văn lớn, một học giả lớn, với kiến
thức khổng lồ, mà trình độ học vấn chỉ ở bậc… Tiểu học.
Nói đúng ra, như ông kể với tôi, ông mới chỉ học hết lớp ba, ngày
ấy người ta gọi là lớp Tuổi hồng rồi đi kiếm sống. Cuộc sống chính là trường
học lớn của ông. Ông bảo: “Đã là nhà văn thì phải có nhân vật và chi tiết. Mà
chi tiết với nhân vật thì chỉ có ở trong cuộc sống thôi”.
Đời sống chính là trường học vĩ đại của Tô Hoài.
Trong đời, may mắn sao, tôi cũng đã có dịp sống cùng Tô Hoài trong
suốt nửa tháng ở Nhà Sáng tác Đại Lải, Vĩnh Phúc.
Đó là dịp Bộ Giáo dục mời Ban Giám khảo cuộc thi viết về nhà giáo
và Nhà trường. Trong Ban Giám khảo, gồm toàn những nhà văn lớn, Tô Hoài cao
tuổi nhất, còn tôi lại ít tuổi nhất. Bởi thế, Ban Tổ chức đã xếp tôi ở cùng
phòng với ông, để giúp ông những việc lặt vặt.
Tôi cũng rất khoái vì có dịp được chiêm ngưỡng bác… Dế Cụ, cha đẻ
của chàng… Dế Mèn.
Tôi rất kinh ngạc khi Tô Hoài ngủ rất sớm. Chưa đến tám giờ tối,
ông đã ngủ rồi. Ngủ hồn nhiên như một chú bé 14 tuổi. Không ngáy, cũng không
trằn trọc như một người già. Ông ngủ thẳng một mạch cho đến ba giờ sáng thì
lặng lẽ dậy, rồi đi lại êm ru như một chú mèo nhung. Ông che đèn để không ảnh
hưởng đến người bên cạnh và bắt đầu đọc.
Ông đọc rất nhiều, nhưng toàn đọc báo lá cải và những tờ báo
chuyên ngành rất xa với văn chương. Ông bảo, ông không bao giờ xem truyền hình.
Cũng không xem phim truyện của Việt Nam, kể cả phim Vợ chồng A Phủ. Riêng điều
này thì tôi không tin. Chắc chắn ông có xem, vì phim của ông, do ông viết kịch
bản. Nhưng có thể ông không thích. Vì so với cái truyện của ông, bộ phim rất
nhạt, lại cứ giả giả thế nào. Chỉ được mỗi ca khúc viết cho phim của Nguyễn Văn
Thương BÀI CA TRÊN NÚI. Các phim khác còn tệ hơn. Ông bảo ông chỉ nghe Đài. Đi
đâu, ông cũng mang theo cái đài Sony nhỏ của Nhật. Vậy mà không biết ông thu
nạp kiến thức từ đâu. Chạm đến lĩnh vực nào ông cũng biết và biết rất thấu đáo.
Ngay cả những cây cỏ quanh ta, như cây phi lao, rảnh bèo tây, hay cỏ lồng vực,
ông có thể nói một cách rành rẽ chúng xuất phát từ đâu, xuất hiện ở Việt Nam
bắt đầu từ năm nào?
Tô Hoài cũng rất quý tôi, vì giống ông, tôi cũng chịu khó nhặt
nhạnh chữ và cặm cụi sáng tạo chữ. Tôi có nhiều cuộc tán gẫu với ông mà cả tôi
và ông đều thấy thoải mái thú vị. Chúng tôi cũng hay bàn về chữ với nhau. Có
lần ông kể với tôi, ông rất khoái khi dùng chữ chiếc để tả ngựa: Xa xa, một
chiếc ngựa gày mảnh nhòe trong sương chiều. Câu văn này ông viết từ năm 1943.
Tôi bảo: "Thế thì chú viết muộn hơn Nguyễn Bính muộn hơn Nguyễn Bình đến 5
năm. Từ 1937, Nguyễn Bính đã viết: Chim nào kêu mỏi ngàn cây - Ngẩn ngơ đôi
chiếc ngựa gày dong xe...
Nghe Tô Hoài, chuyện nào cũng hấp dẫn. Ông lại biết nhiều. Nhiều
chuyện bất ngờ đến không thể tin được. Nhưng lại là chuyện thật. Ví dụ năm
1951, ta trao Giải thưởng Văn nghệ Kháng chiến. Đã tìm được tập thơ Việt Bắc
của Tố Hữu. Văn có Xung kích của Nguyễn Đình Thi. Rồi Con trâu của Nguyễn Văn
Bổng. Thế là đủ cả Nông, Binh, chỉ thiếu Công nữa thôi. Làm sao tìm được cuốn
truyện và công nhân nữa. Nguyễn Huy Tưởng bảo "Thế thì có, vừa nhận được
cuốn tiểu thuyết viết về vùng mỏ. Cậu này là là công nhân đào lò hẳn hoi".
Nhà thơ Tố Hữu bảo: Thế thì trao ngay Giải Nhất.". Đó là cuốn Vùng mỏ của
Võ Huy Tâm. Chỉ tiếc cuốn sách viết kém quá. Câu chữ chưa sạch. Văn lại biền
ngãu. Viết theo lối chương hồi. Kết thúc chương nào cũng lại có một dòng : Câu
chuyện thế nào, xem phần sau sẽ rõ. Ban tổ chức quyết định vẫn trao giải nhất.
Nhưng phải viết lại. Và việc viết lại giao cho Tô Hoài. Tô Hoài hoảng quá. Hơn
nữa, ông rất lười, chỉ chăm chắm viết cho mình thôi. Bây giờ cái truyện lằng
nhằng đến cả ngàn trang, viết trên giấy bao xi măng, chữ nhỏ như con kiến. Tô
Hoài bèn giao cho Đức Lân, một anh Chánh Văn phòng Hội Nhà Văn, Anh Lân cũng có
biết viết văn, là tác giả của cuốn truyện cho thiếu nhi Đời dũng cảm của Kim
Đồng. Tô Hoài bảo Đức Lân cắt vợi đi, chỉ giữ lại chùng non hai trăm trang. Rồi
Tô Hoài nối lại, bổ sung thêm cho nó ra một cái truyện. Nhưng Tô Hoài vốn lười
làm những việc không phải của mình. Trong Hội chỉ có một người vừa có tài, vừa
chịu khó, lại là một công chức mẫn cán. Đó là Nguyễn Huy Tưởng. Tôi Hoài mang
cái truyện đã cắt đến cho Nguyễn Huy Tưởng: "Truyện đã biên tập sơ bộ rồi.
Giờ chỉ còn nối ghếp và bổ sung cho liền mạch. Mình rất muốn được làm. Nhưng
anh Tố Hữu không tin mình. Anh ấy chỉ tin cậy mỗi Tưởng thôi.". Nguyễn Huy
Tưởng sướng lắm. Thế là ông cặm cụi viết lại để thành tiểu thuyết Vùng mỏ và
nhà văn Võ Huy Tâm thành nhà văn công nhân đầu tiên
Tô Hoài như một từ điển sống, một pho sách sống. Ông như cuốn Bách
khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không Học giả nào có thể sánh được. Tôi đã
có dịp tò mò hỏi ông về Hà Nội và rất ngạc nhiên. Tôi không ngờ ông hiểu Hà Nội
sâu sắc đến thế. Tôi gọi ông là Nhà Hà Nội học, dù ông không nghiên cứu.
- Không! Mình không phải là nhà Hà Nội học. – Nhà văn Tô Hoài cười
- Mình hiểu Hà Nội thì cũng là hiểu một cách rất tự nhiên thôi. Mình sinh ở Hà
Nội. Hà Nội trước thế nào thì bây giờ mình thấy nó cũng vẫn như thế...
- Nghĩa là không có gì đổi khác ư?
- Có chứ! Nhưng đó là những khu vực ngoại thành và những khu mới
mở, như đường Hoàng Quốc Việt, hay các khu phố mới. Còn các khu phố cũ vẫn thế.
Nhà cửa có thể khác tý chút, có tân trang hơn hoặc nâng thêm tầng, nhưng đường
phố vẫn vậy, nên phố phường Hà Nội về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Ngày xưa
thế nào thì bây giờ vẫn thế. Mình có thể nhắm mắt đi đến khu phố nào cũng được.
Vỉa hè vẫn vỉa hè cũ. Ở các phố Ngô Quyền, Hàng Khay, Tràng Tiền, Hàng Bài, hay
Nguyễn Xí, Đinh Lễ, đầu vỉa hè còn bọc đá xanh. Đấy là vỉa hè xưa, vỉa hè đầu
tiên của Hà Nội đấy. Đá bọc vỉa hè là đá lấy từ núi Thầy, núi Trầm. Lý do dùng
đá ốp vỉa hè cũng đơn giản, vì dạo ấy ta chưa có lắm xi- măng. Đi trên đường Hà
Nội, tôi thấy quen thuộc vô cùng. Cả hệ thống cống ngầm bên dưới cũng thế, cũng
vẫn là hệ thống cũ. Vì thế, bây giờ mưa, đường Hà Nội ngập úng là tất nhiên, vì
quá tải. Hệ thống cống ngầm xưa chỉ đủ phục vụ cho mấy vạn người. Đến bây giờ
là gần chục triệu người. Một thằng bé cõng cả một ông Khổng lồ trên lưng thì
điều gì đến tất sẽ đến. Có gì đâu mà lạ. Ta còn thấy những nắp cống tròn còn
nguyên cả dòng chữ Marseille. Đó là nắp cống đúc từ bên Pháp, rồi mang sang bán
ở ta. Hồi bấy giờ, ở phố Quán Thánh, ngay cạnh đền Quán Thánh bây giờ, Pháp còn
mở công ty Sacric. Đấy là công ty gạch ngói Đông Dương. Khu sản xuất khá rộng,
đến mấy ngàn mét vuông. Đất sét đóng gạch lấy ở Quán La, bên kia Tây Hồ, rồi
dùng thuyền chở sang. Thuyền bè bấy giờ tấp nập lắm. Đúng là trên bến dưới
thuyền.
- Thế còn Hồ Tây bây giờ thì sao?
- Bây giờ Hồ Tây bị thu hẹp lại vì trò lấn đất. Trước đây rộng
lắm. Ngút ngát cả một vùng trời nước. Xung quanh hồ, um tùm cây lá rậm rạp. Ven
bờ, người ta còn thả sen. Nhiều sen lắm. Sau bỏ sen để nuôi cá mè, vì cá mè hay
rúc vào bãi sen, tróc vảy chết. Trước đây, ở Hồ Tây không có cá mè đâu. Người
ta chỉ thả một loại cá trắm. Cá mè tanh. Dân Hà Nội không ăn, nên chỉ có ở ao
quê.
- Thế còn các khu phố Hà Nội thì sao bác?
- Địa giới Hà Nội xưa rất hẹp. Đi hết trường Chu Văn An bây giờ đã
là đất Hà Đông rồi. Làng Yên Phụ cũng thuộc đất Hà Đông. Người Pháp xưa đặt tên
đường, tên phố rất rành rẽ. Phố là địa giới nằm trong khu vực nội thị, còn
đường là nối với các tỉnh khác. Ví như đường Huế nối với Hà Đông, đường Hàng
Bột, hay đường Bạch Mai cũng thế. Cuối đường là địa phận của tỉnh khác. Về mặt
hành chính, Hà Nội được chia ra làm bốn khu. “Khu phố cổ”, bao gồm địa danh của
36 phố phường xưa, như Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng Thiếc... Rồi “khu phố cũ” là
khu phố xây dựng từ thời Tây, có những biệt thự kiểu Tây, như phố Hàng Khay,
Tràng Thi, Bùi Thị Xuân, Phan Đình Phùng, hai bên đường, có vỉa hè xây và trồng
cây hai bên, cành lá giao nhau, nói như cụ Phạm Quỳnh, và dùng chữ của cụ Phạm
thì đấy là “đường thông cù”. Đó là khu ở của những ông Tham, ông Phán hoặc dân
nhà giàu... “Khu phố mới” là khu phố được nới ra, xây dựng sau này. Còn khu thứ
tư là “khu dưới bãi”, nơi ở của dân cu ly...
- Chắc đó là vùng Nghi Tàm, Yên Phụ bây giờ?
- Không, từ Yên Phụ đến Nghi Tàm xưa là đất trồng dâu, trồng ngô.
Còn khu dưới bãi là vùng An Dương, Chương Dương, Long Biên bây giờ...
- Bác vừa nói đến phố cổ. Tôi thì lại ngờ ngợ rằng, hình như Hà
Nội mình, trừ các chùa chiền và Văn Miếu, một công trình kiến trúc có tuổi thọ
ngót một ngàn năm, sau được trùng tu, tôn tạo qua rất nhiều đời, còn thì chúng
ta không có phố cổ mà chỉ có phố cũ. Bao gồm cả phố cũ xưa ta xây và phố cũ sau
này Tây xây. Đó là Ba mươi sáu phố phường xưa và những khu phố có biệt thự Tây
như bác vừa nói. Bởi vì những khu phố đó có rất nhiều nhà chỉ xây cách đây
chừng hơn một trăm năm thì sao lại gọi là phố cổ được? Ở Nga, có những thành
phố cổ như Xuzđan xây dựng cách đây hơn 11 thế kỷ, trong đó có những căn nhà
gỗ, tường xếp bằng nguyên cả những cây gỗ, mái cũng lợp gỗ. Trong nhà vẫn còn
nguyên cả những đồ đạc có cách chúng ta 1.200 năm. Ở ta, nếu có phố cổ thì đấy
chính là Hội An. Một khu phố rất lạ. Kiến trúc khá độc đáo. Hội An có một vùng
văn hoá riêng, một bầu không khí cũng rất riêng biệt. Hàng tháng, cứ vào đêm 14
là người ta tắt hết điện, thắp đèn lồng. Những căn nhà gỗ trông rất cổ kính.
Vào trong nhà không khí khác hẳn, nhiệt độ cũng mát hẳn. Người ta lấy gió tự
nhiên làm điều hoà nhiệt độ cho cả căn nhà. Ở đó không có AIDS, không có kẻ
cắp, trấn lột và những kẻ lừa đảo. Tóm lại, những cái xấu, cái hỗn tạp của
những đô thị hiện đại không du nhập được vào khu phố cổ này. Người dân sống
giữa một bầu không khí trong vắt như ở hồi thế kỷ 17. Ngay cả việc buôn bán của
họ cũng rất lạ lùng. Tôi mua một cái quần bò. Bà chủ quán hỏi rất cặn kẽ:
"Chú định mặc một lần hay muốn dùng lâu dài?" Khi biết tôi thuộc dân
"ăn chắc mặc bền", bà chủ quán khuyên tôi nên sang cửa hàng khác.
Không xa đâu. Chỉ cách quán bà có ba nhà thôi. Bà bảo đồ của bà không tốt. Chỉ
qua vài lần giặt là vải xù ra. Tôi không thấy ở đâu có người bán hàng lạ lùng
như thế. Nếu đã mua hàng rồi mà không ưng, hôm sau có thể mang trả lại. Người
bán sẽ hoàn lại nguyên tiền, không bớt đi một xu, cũng không hề tỏ vẻ trách
móc. Đấy là buôn bán theo lối cổ, ở một thời xã hội còn trong veo. Hà Nội chẳng
bao giờ có chuyện như thế...
- Nói Hà Nội không có phố cổ thì cũng không hẳn. – Nhà văn Tô Hoài
nói - Hà Nội không có khu phố cổ nhưng có nhà cổ. Ví như nhà số 38 Hàng Đào và
87 Mã Mây. Hai ngôi nhà cổ này đã được Pháp đầu tư tài trợ để bảo tồn. Có thể
rất dễ dàng nhận ra nhà cổ. Nhà cổ có hai cửa. Cửa trước dành cho chủ nhà đi.
Cửa sau dành cho gia nhân, đầy tớ, hoặc chuyển phân rác và đồ phế thải. Hà Nội
xưa có những vùng riêng biệt. “Thành thị” không phải là một từ chung đâu. Đó là
hai khu cụ thể. “Thành” là nơi vua quan ở, còn “Thị” là nơi ở của dân chúng,
chủ yếu là dân buôn bán, phục vụ cho “Thành”. Vua quan trong Thành thỉnh thoảng
ra đường, nên thường qui định dân chúng chỉ được ở nhà trệt, không làm nhà gác,
hoặc nếu có nhà gác thì không được trổ cửa sổ hoặc làm ban công chìa ra đường,
vì vua quan đi ở bên dưới. Không ai được đứng trên đầu vua. Bởi thế, nhà cổ
không có ban công hoặc cửa sổ trổ ra đường. Tôi cũng đồng ý với anh Dương Trung
Quốc là chúng ta nên xác định rõ đâu là nhà cổ để gìn giữ, trùng tu, còn đâu là
những ngôi nhà cũ để cho dân được tôn tạo, nâng cấp, hoặc xây dựng lại. Bởi
nhiều nhà tối tăm, xập xệ quá. Thực chất đó là những khu nhà ổ chuột. Đã thế,
vệ sinh lại không bảo đảm, vừa ô nhiễm môi trường, vừa làm mất cảnh quan đô
thị...
- Ở Hà Nội, trong số 36 phố phường như bác nói, có những tên phố
rất lạ: Hàng Đường, Hàng Quạt, Hàng Nón, Hàng Mắm, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng
Buồm, Hàng Trống... Nghe cứ như tên các quán hàng. Có cảm giác Hà Nội là một
cái chợ khổng lồ. Chắc ngày xưa mỗi khu phố là một nơi sản xuất và buôn bán các
mặt hàng riêng biệt. Ví như Hàng Rươi bán rươi, Hàng Mắm bán... mắm chẳng hạn?
- Không hẳn thế đâu! - Nhà văn Tô Hoài cười - Có rất nhiều mặt
hàng, người ta sản xuất ở quê, ở Hà Đông và các vùng phụ cận, rồi đem ra bán ở
Hà Nội. Như đồ gò đúc đồng, rồi guốc dép, mũ nón. Trước đây, Hà Nội còn có phố
Hàng Tiện và phố Hàng Dép nữa. Đó là hai phố nhỏ. Phố Hàng Tiện ở bên Hàng Gai
trông ra phía Bờ hồ, phố Hàng Dép ở đầu Hàng Buồm. Hai phố này, năm 1945 bị phá
huỷ trong những cuộc giao tranh với Pháp, rồi cũng từ đấy bị mất phố luôn.
- Thế còn những phong tục tập quán ở Hà Nội?
- Hà Nội không có phong tục tập quán gì cả. – Nhà văn Tô Hoài giải
thích - Trước đây, Hà Nội là đất nhượng địa cho Tây. Một anh đi ăn cắp chẳng
hạn, nếu bị xử ở Hà Nội có thể sẽ rất nhẹ, nhưng nếu xử ở Hà Đông, trong toà án
An Nam thì nặng hơn nhiều. Hà Nội theo luật lệ riêng của Tây. Muốn làm gì cũng
phải xin phép Tây. Ngay cả việc dạy học tư, cứ có từ năm học sinh trở lên là đã
phải xin phép. Muốn có hội hè đình đám là phải tập hợp rồi. Tây rất ngại sự tụ
tập của dân chúng. Vì thế đình đám chỉ có thể tổ chức được ở các làng quê. Mà
không phải làng quê nào cũng có hội đâu. Hội hè rước xách còn phụ thuộc vào sự
tích của các ông Thánh ở làng. Không phải làng nào cũng có ông Thánh, nên không
thể cứ rước xách tùm lum được. Làng Nghĩa Đô quê tôi cùng lắm cũng chỉ làm được
một đêm chèo.
- Nếu cần nói thật ngắn gọn về tính cách người Hà Nội thì bác sẽ
nói thế nào? Thanh lịch hào hoa chăng? Ca dao xưa: “Chẳng thơm cũng thể hoa
nhài - Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An”?
- Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là
mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có ai
sống ở Hà Nội được đến mười đời. Vì thế muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta
phải tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam, rồi nghiên cứu cá tính người
thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên người Hà Nội có nét hào
hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất
tạo nên. Dân Hà Nội là dân tứ chiếng. Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có
chuyện cục bộ địa phương. Bất cứ ai cũng có thể về làm Lãnh đạo Hà Nội. Tôi cho
đó cũng là một nét rất hay của Hà Nội.
- Bác đã nói Hà Nội trước đây thế nào thì bây giờ vẫn thế...
- Đúng vậy. Chỉ bổ sung thêm mà ít thay đổi. Về cơ bản, ta vẫn giữ
nguyên như cách bố trí, sắp đặt của ông Trần Văn Lai.
- Xin bác nói rõ hơn được không?
- Trần Văn Lai là một bác sĩ. Ông là người tốt, người yêu nước.
Chính vì thế, thực dân Pháp đã bỏ tù ông. Tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chính
Pháp, ông được ra tù và được mời làm Thị trưởng thành phố. Trần Văn Lai chỉ làm
Thị trưởng có 5 tháng, từ tháng Ba đến tháng Tám năm 1945, nhưng ông đã làm
được hai việc rất cơ bản. Một là đập hết các tượng đài của Pháp, chỉ để lại hai
tượng bán thân là tượng Yersin và tượng Pasteur. Hai là thay lại các tên phố.
Trước đây, phố Hà Nội hầu hết mang tên Tây, hoặc tên những người Việt có công
với Tây. Một số danh nhân của ta cũng được đặt tên, nhưng lại ở những phố tồi
tàn, bẩn thỉu, hoặc hẻo lánh. Ông Trần Văn Lai thay lại hết. Tất nhiên, ông
thạo võ hơn văn. Dân văn chương thì ông chỉ biết Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn
Thị Điểm cho đến Tú Xương là hết. Dân võ ông biết nhiều hơn. Tất cả những người
ông biết, ông đều đặt hết tên phố. Đặc biệt, ông rất yêu các vị võ tướng. Ngô
Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần
Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Bùi Thị Xuân, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học...
Toàn là các võ tướng lừng danh cả. Rồi lại cả Ba Đình nữa. Tôi có đọc trong một
tờ báo, thấy có anh giải thích rằng trước đây ở khu Quảng trường này có ba...
cái đình nên Quảng Trường mang tên Ba Đình. Thật buồn cười. Làm gì có cái đình
nào ở đấy cơ chứ. Ba Đình là nơi có cuộc khởi nghĩa của ông Đinh Công Tráng ở
Thanh Hoá. Quảng trường mang tên cuộc khởi nghĩa ấy. Sau này, ta định đổi thành
Quảng trường Độc Lập để ghi nhớ ngày 2/9/1945. Nhưng Cụ Hồ không đồng ý. Cụ
bảo, mình đã tuyên bố với thế giới là Tuyên ngôn Độc lập đọc ở Quảng trường Ba
Đình rồi, giờ không nên thay đổi nữa. Pháp tái chiếm Hà Nội, chúng thay là
Quảng trường Hồng Bàng. Sau khi ta thắng Pháp, Quảng trường trở lại tên Ba
Đình, đúng như cái tên ông Trần Văn Lai đã đặt.
- Thế còn việc phá bỏ tượng đài?
- Hà Nội cũ rất lắm tượng. Riêng tượng hoành tráng, tượng toàn
thân đã có khoảng hơn chục cái. Còn tượng bán thân thì rất nhiều. Nhưng cũng
đều là tượng Tây, hoặc tượng những người có công với Tây, được dựng nhân ngày
kỷ niệm gì đó của Pháp. Như ở vườn hoa Inđira Ganđi bây giờ, trước đây có tượng
toàn thân ông Toàn quyền Paul Bert. Rồi tượng Nữ thần Tự do. Cái tượng người
đàn bà giơ cao ngọn đuốc dựng ở Hoa Kỳ, thành một danh thắng của Mỹ, do Pháp
tặng ấy, trước đây đã có ở Hà Nội rồi. Dân mình gọi nôm na là tượng Bà đầm xòe.
Cái tượng này thoạt đầu đặt trên nóc Tháp Rùa ở giữa hồ Hoàn Kiếm. Sau báo chí
Pháp chửi ghê quá. Họ cho rằng cái tượng lớn như thế mà lại đặt chênh vênh trên
bốn cái cọc sắt thì không được bề thế và chắc chắn. Thêm nữa để đàn bà trùm váy
lên đền miếu là không tôn trọng phong tục tập quán của người bản xứ. Bức tượng
được đưa về đặt ở vườn hoa Cửa Nam, gần chỗ bục Công an ở chợ Cửa Nam bây giờ.
Còn một bức tượng hoành tráng rất đồ sộ nữa đặt ở vườn hoa Canh Nông, chính là
khu vực bây giờ mình đặt tượng Lênin.
- Tôi nghĩ rằng, cụ Trần Văn Lai rất hiểu người Việt và người
phương Đông nói chung. Dân mình không mặn mà lắm với tượng đài. Yêu ai, sùng
kính ai thì họ lập chùa chiền đền miếu để thờ, rồi còn hương khói cúng tế.
Không ai cắm hương dưới chân các bức tượng đá ngoài trời cả. Dân mình là dân có
tín ngưỡng. Đình chùa, đền miếu mới chính là "tượng đài" của người
Việt. Thần linh phải vô hình, phải âm âm u u thì mới thiêng. Thần linh mà phơi
mặt ra giữa thanh thiên bạch nhật thì không còn là thần linh nữa. Còn những bức
tượng đá ngoài trời là công trình văn hóa phương Tây, nó hợp với văn hoá tập
quán và khí hậu phương Tây. Ở ta bão gió, mưa nắng đều rất dữ dằn, chưa kể chim
muông nó đỗ lên, có việc gì mà nó không làm. Vì thế chỉ sau vài năm là tượng
sứt sẹo, mốc thếch, trông rất nhem nhuốc. Các nhà quản lý văn hóa rất nên
nghiên cứu kỹ tâm lý, quan niệm của dân ta và khí hậu cũng như các điều kiện
khác của ta trước khi dựng tượng đài. Bỏ ra hàng trăm tỉ đồng dựng những bức
tượng mà dân không đến thì có nên không? Thế còn vườn hoa Canh Nông. Thưa nhà
văn Tô Hoài, tại sao lại gọi là vườn hoa Canh Nông?
- Cái tên ấy cũng do dân gọi mà thành. Đơn giản thôi, vì ở đấy có
cái tượng rất lớn. Cái tượng này được dựng nhân dịp Pháp kỷ niệm cuộc chiến
tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Trên đỉnh là một thằng lính Tây và
một lính Ta (lính ngụy) cùng chĩa súng bắn vào cột cờ Hà Nội. Dưới là bốn mặt Sĩ,
Nông, Công, Thương. Sĩ là ông thầy đồ cắp cái tráp. Công là một anh kéo cái xe
cút kít (loại xe một bánh). Thương là một mụ đàn bà te tái gánh đôi quang
thúng. Còn Nông là anh thợ cày đang bước sau con trâu. Cái bụng trâu to đùng và
anh nông dân đang cày chiềng ra phía đường, nên ai qua cũng thấy. Còn ba mặt
Sĩ, Công, Thương chìm trong cây lá và ở phía sau nên nhiều người không biết.
Người ta chỉ thấy ở đấy có anh nông dân đang cày nên gọi là vườn hoa Canh Nông.
Đằng sau bức tượng là cái đình tám mái, trong có tấm bia đá ghi tên những người
Việt có công với mẫu quốc. Cái bia ấy, ông Trần Văn Lai cũng đã cho đập đi. Giờ
chỉ còn có mỗi cái đình và một cây đa, trên thân cây đa lại có cây dừa là dấu
tích cũ còn lại. Ở Hà Nội có khoảng chục cây chồng lên nhau như thế.
- Bác bảo, Hà Nội về cơ bản vẫn như cũ. Ta chỉ có bổ sung thêm...
- Đúng vậy. Ngoại trừ vùng ngoại ô và những khu mở thêm. Những khu
phố ấy rất hiện đại. Còn bên trong, những phố cũ vẫn vậy. Về cơ bản, ta vẫn giữ
nguyên. Ngay cả những phố cụ Trần Văn Lai đã đặt tên rồi ta cũng có thể điều
chỉnh cho hợp lý. Phố Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám dài quá, có thể cắt ra
được. Đã có phố Hoàng Hoa Thám rồi thì không nên có phố Yên Thế nữa, hay đã có
phố Nguyễn Thái Học rồi thì còn thêm phố Yên Bái nữa làm gì.
Điều nhà văn Tô Hoài nói, không phải không có lý. Đặc biệt là việc
xác định lại cho chính xác phố cổ để trùng tu, còn nhà cũ, phố cũ tồi tàn và
xuống cấp quá thì để dân tôn tạo, sửa chữa, hay như việc chỉnh lại những dãy
phố quá dài. Trong khi đó, phố Nam Cao lại chỉ có vài số nhà, sao gọi là phố
được? Mấy khu phố Pháp vẫn để chờ từ thời Pháp kia, mấy năm gần đây cũng đã
được đặt thành tên mới: Phố 334 thành phố Cảm Hội, phố 335 là Đống Mác, phố 325
là Thể Giao, phố 332 là Chùa Vua, phố 336 mang tên Lê Gia Định, phố 337 mang
tên Đỗ Ngọc Du, phố 339 vẫn mang tên Yên Bái, phố 358 là Núi Trúc, phố 356 là
Thanh Bảo. Đã đến lúc chúng ta cũng cần chỉnh lại cho hợp lý.
Ngắm Thủ Đô của chúng ta hôm nay, ta càng thấy nhớ Tô Hoài, một
công dân Ưu tú của Thủ Đô. Đúng như lời ông nói, ta cần gìn giữ, tu tạo làm sao
để có được một thành phố, một Thủ Đô văn hoá vừa đẹp, vừa hiện đại lại không
làm mất đi những vẻ đẹp xưa cũ.
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ
PHỐ CHIỀU HÀ NỘI, thơ Đặng Xuân Xuyến:
TRẦN ĐĂNG KHOA
(Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam)
Địa chỉ: phường Bồ Đề, quận
Long Biên, tp Hà Nội.
Email: vovkhoa06@gmail.com
,
.............................................................................................................
- Cập nhật từ email: tranchicuong27@yahoo.com.vn ngày 23.07.2026.
- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể hiện
quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét