(Nguồn ảnh: internet) |
VẤN ĐÁP VỀ SÂN HẬN
*
Trích từ CHUYỂN HÓA SÂN HẬN của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ.
(Tỳ Kheo Thích Nhật Từ) |
Hỏi: Có trường hợp hai bên đang sân hận cãi vã nhau. Cả hai
đều cho mình là đúng, bên kia sai. Họ không hề có thiện chí hòa giải và nói
rằng: “Suốt cuộc đời tôi không bao giờ chấp nhận hoà giải. Cho nên, bạn đừng
đứng ra hòa giải”. Trong trường hợp này, phải làm sao? Quan niệm: “đi với Phật
mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. có đúng không? Hay tu thì vẫn cứ tu,
nhưng gặp quỷ phải trừ? Nếu không đúng thì phải ứng xử như thế nào?
Đây là câu hỏi rất hay vì đề cập đến khúc mắc mà
rất nhiều người vấp phải! Thật khó xử khi nhìn thấy hai người thân của mình trở
thành kẻ thù của nhau. Người nào cũng cho rằng mình đúng. Dĩ nhiên, khi cho
mình đúng thì cũng đồng thời không chấp nhận đối phương. Do đó, cả hai người vô
tình đóng bít cánh cửa truyền thông với nhau.
Trường hợp này, người bị khúc mắc đang xây dựng
bức tường Béc-lin trong mối quan hệ, và đôi khi muốn mang bức tường đó vào tâm
thức ở đời này và đời sau. Quan niệm đó làm cho người ta không bao giờ chấp
nhận người khác. Cần nhận diện lối ứng xử “tự thị tha phi” sẽ không mang lại
bất kỳ sự lợi lạc hay an vui nào cho mình và người. Không thể đẩy người khác
vào thế khó xử. Đồng thời, đừng biến bản thân thành nạn nhân
của lận đận, khổ đau.
Khi biết hai người thân đang lận đận với nhau,
chỉ cần khách quan quan sát truy tìm gốc rễ của nội kết vốn bắt nguồn từ sự cố
tình hay vô ý. Khi cái gút bế tắc được hỗ trợ bằng thái độ không tha thứ thì dù
có nỗ lực hóa giải cũng khó thành công. Chính đức Phật Thích Ca có lần đã thất
bại trong vai trò làm người hóa giải cơn sân hận của vua Lưu Ly với hoàng tộc
dòng họ Thích Ca trong cuộc truy sát tiêu diệt tập thể dòng họ Thích Ca.
Trong quá khứ, quan hệ giữa dòng họ Thích Ca và
Lưu Ly của vua Lưu Ly có nhiều nội kết. Vì là nước yếu nên vua Lưu Ly đời trước
đã nỗ lực tìm cách thiết lập quan hệ với nước Thích Ca hùng mạnh. Trong lịch
sử, thường có cách thiết lập hoà bình, tạo liên minh thông qua cuộc hôn nhân.
Do đó, vua Lưu Ly ngỏ lời cầu hôn công chúa nước Thích Ca để thiết lập hoà bình
giữa hai nước. Nỗ lực này nhằm tạo liên minh và biến kẻ thù thành tình thân.
Bên dòng họ Thích Ca khinh thường thiện chí của nước Lưu Ly, cho rằng vua Lưu
Ly không đủ tư cách kết hôn với công chúa của nước Thích Ca. Vì vậy, dòng họ
Thích Ca âm thầm tráo công chúa, thay vào một tỳ nữ của dòng họ Thích Ca và gả
cho vua nước Lưu Ly. Vua nước Lưu Ly cứ ngỡ là công chúa nên sống rất hạnh
phúc. Chuyện được dấu kín nhiều năm. Đến đời vua Lưu Ly thế hệ con tương ứng
thời đức Phật, sự việc tráo đổi mới bị phát hiện. Ông vua hậu duệ này cảm thấy
dòng họ Lưu Ly bị nhục mạ, khinh bỉ nên ôm lòng phục thù, rửa hận và tuyên bố
sẽ bình địa dòng họ Thích Ca.
Sau khi đức vua Tịnh Phạn qua đời, dòng họ Thích
Ca rơi vào tình trạng không có người kế ngôi xứng đáng. Thái tử thay vì phải
trở thành Quốc vương lại trở thành bậc Giác Ngộ. Các hoàng thân quốc thích như
A-Nan, Nan Đà, La Hầu
La đều đã trở thành người xuất gia. Vua Tịnh Phạn
không còn người kế thừa. Phật Thích Ca đề nghị Ma Ha Nam làm người kế vị ngôi
vua. Khi biết được tâm ý sân hận của vua Lưu Ly, đức Phật đã đích thân đi gặp
vua Lưu Ly để hoá giải hận thù quá khứ giữa hai nước. Đức Phật khuyên vua Lưu Ly
không nên khơi dậy nỗi đau quá khứ mà những người Thích Ca và Lưu Ly hiện tại
không hề can hệ trực hay gián tiếp. Không thể quy trách nhiệm sai lầm của vua
Thích Ca trong quá khứ mà buộc dòng họ Thích Ca hiện tại phải gánh chịu hậu
quả. Hãy trải tâm từ bi để xoá bỏ hận thù. Chỉ có tâm từ bi mới tháo gỡ được
gút oan trái này.
Sự quy trách nhiệm sai lầm của người nào đó trong
quá khứ để buộc những người không can hệ gì phải gánh hậu quả ở hiện tại là vết
loang của nỗi đau không được tháo mở. Hơn nữa, việc truy sát dòng họ Thích Ca
để rửa hận không thể làm cho dân tộc Lưu Ly được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ tạo
thêm những hận thù mới. Do không xả bỏ được lòng sân. Từ mối thù cá nhân ở quá
khứ đã trở thành mối thù tập thể đối với hai nước. Lịch sử cho thấy, năm trăm
người của dòng họ Thích Ca bị truy sát tập thể.
Thái độ ứng xử của vua Lưu Ly là không khôn
ngoan. Sự trả đũa chỉ tạo thêm tội lỗi và liên luỵ tiêu cực tới dòng họ Lưu Ly
trong quá khứ, tạo thêm khổ đau cho hai nước ở hiện tại và tương lai. Đức Phật
khuyên, hãy lấy tình thương để xoá bỏ hận thù, lấy lòng từ bi để hóa giải những
cái gút khổ đau trong quá khứ cũng như hiện tại. Thế mà vua Lưu Ly ngoan cố
không chấp nhận. Do đó, cuộc chiến đã diễn ra. Sự thương tổn, chết chóc không
chỉ dòng họ Thích Ca phải chịu, ngay cả phía vua Lưu Ly cũng vậy. Sự kiện lịch
sử này cho thấy, dù đức Phật muốn hóa giải nhưng nếu người được hoá giải không
có lòng muốn chuyển hoá, không có lòng hỷ xả, bao dung thì sự hoá giải đó khó
đạt được kết quả như mong đợi.
Hành giả mang hạnh nguyện của Bồ tát vào đời độ
sinh, không chỉ có lòng nhiệt huyết mà còn phải có trí tuệ và phương tiện. Khi
thấy được giá trị của sự xây dựng sẽ thấy được giá trị của sự chuyển hoá. Nhưng
kết quả của sự chuyển hoá diễn ra nhiều hay ít còn phụ thuộc rất nhiều vào đối
tượng được dấn thân chuyển hoá. Nếu cả hai bên sau khi nghe lời khuyên can mà
vẫn cố chấp, không buông xả thì phần thiệt thòi thuộc về phía họ. Lúc ấy, đành
bó tay nhìn họ bị khổ đau vì hận thù chi phối!
Tình thương vẫn có những hạn chế, nhất là đối với
người không có lòng lắng nghe. Sự dấn thân cũng có những hạn chế nhất định, vì
còn lệ thuộc vào nhân quả giữa hai người đang hận thù có thật sự muốn mở gút
oan khiên hay không. Hậu quả của sự cố chấp và thiếu lòng bao dung làm cho cả
hai gánh lấy hậu quả khổ đau ở đời này và đời sau. Người làm công việc hoà giải
chỉ đóng vai trò xúc tác, trợ duyên giúp hai đối tượng được việc sai lầm, đang
gây đau khổ cho nhau. Họ gieo trồng những hạt giống sân hận và làm ảnh hưởng
đến những người có liên hệ trực hoặc gián tiếp. Nếu cả hai không chịu chấp nhận
tháo gỡ hận thù thì đó là giới hạn của sự chấp mắc, bảo thủ và lương tâm đóng
băng nên không nhìn thấy được sự chuyển hoá của cuộc đời.
Quan niệm, “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma
mặc áo giấy” là một cách thức giải quyết những xung đột trong cuộc đời. Mặc áo
giấy đi với ma chỉ nên diễn ra sau nỗ lực mặc áo cà sa mà vẫn không thành công.
Sau khi người dấn thân nỗ lực chuyển hoá những con ma không thành công, chúng
không chịu làm mới mà vẫn tiếp tục cố tình cản phá, gây trở ngại, khổ đau cho
nhiều người, lúc ấy người dấn thân cần có biện pháp mạnh. Chuyển hoá bằng cách
giáo dục đạo đức không thành tựu thì phải áp dụng chuyển hoá bằng luật pháp và
hình phạt. Đây là cách thức các hệ thống luật pháp trên thế giới đã áp dụng.
Luật pháp chuyển hóa con người bằng sự trừng phạt
nghiêm khắc chứ không bằng lời nói của tình thương. Giết người thì phải bị luật
pháp xử nghiêm minh. Trộm cắp thì có thể bị chặt đứt bàn tay (đặc biệt trong
luật pháp của một số nước ở Trung Đông ngày xưa). Nếu ai đã gây khổ đau cho
cuộc đời và người thì phải bị luật pháp trừng phạt bằng khổ đau tương tự. Quá
trình sống với khổ đau do luật pháp trừng phạt, người phạm luật sẽ không tái
phạm nữa. Sự trừng phạt có tác dụng giáo dục chuyển hoá những người không biết
lắng nghe tiếng nói của đạo đức và lương tâm. Trong tình huống này, đi với ma
không thể mặc áo cà sa mà phải mặc áo giấy. Tức là phải có những phương tiện
thích đáng để giúp những người cang cường khó hoá độ có cơ hội chuyển hoá.
Tinh thần “đi với ma mặc áo giấy” nói lên tính
thích ứng trong việc chọn phương pháp đối trị và cứu giúp chúng sinh. Nó có thể
sử dụng đối với luật pháp nhưng không đúng với tinh thần nhà Phật. Vì các đức
Phật, Bồ tát, các vị A la hán nhìn thấy được khả năng chuyển hoá những sai lầm,
nỗi đau, phiền não của con người. Bởi thế, các ngài tin tưởng đã chọn phương
cách giúp cho chúng sinh được gần gũi với tông chỉ của các Ngài để họ tự chuyển
hoá (mặc áo cà sa). Áp dụng giải pháp “mặc áo cà sa” cho người hiền lương giúp
cho người sai lầm chuyển hoá nội kết trong cuộc sống. Kết quả của sự chuyển hoá
sẽ mang lại hạnh phúc cho cả hai.
Người dấn thân cứu đời nên tận dụng tất cả những
điều kiện, phương pháp để góp phần tiêu diệt con ma nghiệp lực, phiền não. Nhờ
sự sáng suốt và thái độ dứt khoát có thể chặn đứng cây gươm khổ đau, dừng lại
các cây súng bất hạnh, hành động khủng bố của những kẻ xấu, ác đang mất phương
hướng.
Vấn đề cần hiểu ở đây là: Những lời của Phật, Tổ
dạy và những điều các nhà văn học Phật giáo viết có sự khác nhau rất lớn. Có trường hợp nhà văn học Phật giáo viết
giống với tinh thần đức Phật dạy, nhưng cũng có trường hợp không đúng. Nếu cho
những gì nhà văn Phật giáo viết là chân lý bất di bất dịch và áp dụng theo là
đang đi ngược lại tinh thần Phật dạy. Lúc đó, khổ đau có thể xuất hiện làm con
người chán chường, thất vọng, mất phương hướng.
Cho nên, đệ tử Phật phải noi theo tinh thần hóa
giải của đức Phật. Khi áp dụng câu “đi với ma mặc áo giấy” đừng nên lạm dụng
tinh thần này, nghĩa là, đừng lấy quan niệm trừng phạt áp đặt lên đối tượng cần
giáo dục mà chưa nắm rõ được đối tượng đó có cần luật quá nghiêm khắc “mặc áo
giấy” hay không? Nếu kẻ xấu chỉ làm một điều xấu và vì trị tội họ nên ta “mặc
áo giấy”, làm điều xấu lại tương tự gấp hai ba lần thì không khác gì người xấu
đó, thậm chí còn xấu tồi tệ hơn họ. Cho nên, “mặc áo giấy” khi đi với ma trong
mọi tình huống mà không khôn khéo, không biết tùy duyên có thể dẫn đến tình
trạng đặt người xấu trên cán cân còn và mất. Đối lập với người xấu như thể hai con
gà đang đá nhau. “Mặc áo giấy” với ma không phải là giải pháp đối với tất cả
tình huống. Ăn miếng trả miếng chỉ làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng.
Nhiều người sử dụng phương châm “đi với ma mặc áo
giấy” thay cho lời biện hộ không nhân từ, lạm dụng như bình phong để che đậy
tất cả những thái độ ứng xử thiếu lòng vị tha. Có thể là lời biện minh khi chưa
thể áp dụng tinh thần lấy từ bi hoá giải hận thù. Theo tinh thần Phật dạy,
người hành xử khôn ngoan nên tìm những giá trị của sự chuyển hoá để áp dụng. Đừng
tạo cơ hội cho kẻ đối lập trở thành kẻ thù với mình, đừng đẩy họ vào thế khó
xử. Hãy tin mọi thứ đều có thể chuyển hoá được. Đạo lý vô thường là nguyên lý
nhận thức cho phép tin mọi sự vật hiện tượng luôn vận hành, chuyển biến, trôi
chảy. Do đó, tâm lý, thái độ, lập trường của con người dù tốt hay xấu cũng như
một thác nước chảy không dừng. Có thể
họ làm việc xấu trong quá khứ nhưng hiện tại họ cũng có thể làm việc lành. Hiện
tại họ ngoan cố nhưng tương lai có thể thức tỉnh, thay đổi tâm tính. Nguyên lý
vô thường cho phép tin sự chuyển hóa có thể thực hiện được khi con người nỗ lực
và kiên nhẫn. Thấy được điều này sẽ tránh được lỗi quan niệm “định mệnh” hay
“định tính” về một con người bị cho là ma, cần được áp dụng luật trừng phạt
“mặc áo giấy” để ứng xử.
Điều gì thuộc về khổ đau đều đặt sự thay đổi đó
vào khái niệm vô thường. Vì tâm vô thường nên tâm lý xấu có thể chuyển hoá
thành tâm lý tốt. Cái gì thuộc về phục vụ và đóng góp thì đặt vào khái niệm
chuyển hoá. Đức Phật tin vào khả năng chuyển hoá nên Ngài không bao giờ kết án,
nguyền rủa những ai đã tạo khổ đau cho Ngài, ngược lại Ngài còn thọ ký cho
người xấu, ngay cả “nhất xiển đề” cũng được thành Phật. Tức là thọ ký cho những
con người luôn cản phá bước đường hoằng pháp của Ngài, mang lại khổ đau cho
những người đang sống theo lời dạy của Đức Phật. Cách ứng xử của đức Phật hoàn
toàn khác với thái độ ứng xử phàm phu. Phần lớn người đời ứng xử “ăn miếng trả
miếng”. Nếu đã từng bị làm khổ đau thì bây giờ không tha thứ, bỏ qua. Có người
cố tình trả đũa bằng nhiều cách nghĩ rằng, phải cho người ta một bài học. Trong
sự trả đũa, cả hai đã trở thành nạn nhân khổ đau. Sự lận đận tiếp tục có mặt ở
tương lai, tiếp nối chập chùng từ đời này sang đời khác, không chấm dứt.
Hỏi: Khi sân hận bốc lên, tôi đã quán niệm hơi thở nhưng không
hiệu quả. Tôi chuyển qua quán nhân quả vẫn không hiệu nghiệm. Vậy, tôi phải làm
gì để tránh tất cả những nghiệp xấu có thể xảy ra cho người khác?
Câu hỏi này đề cập đến nỗ lực hành trì. Mọi người
đều có thể lâm vào tình huống tương tự câu hỏi đặt ra. Biết rằng, khi sân hận diễn ra thì lấy “hơi thở” làm đề tài
quán chiếu để hoá giải cơn sân hận theo sự vận hành của hơi thở. Khi ý thức tập
trung vào hơi thở, cơn giận từ từ bị phân tán, cho đến lúc sân hận không còn
tác dụng. Hoạt dụng của sân hận sẽ được hóa giải theo sự vận hành của hơi thở,
tạo những giá trị an lạc, hạnh phúc thay thế những sân hận khổ đau và phiền
não. Nếu áp dụng đúng phương pháp sẽ thành công, ngược lại, áp dụng sai thì
không thành công. Quan trọng là đừng nản lòng thối chí khi kết quả chưa đến. Cá
tính con người có thói quen chấp trước hoặc biết nhưng làm không triệt để. Lẽ
ra phải buông bỏ sân hận thì lại không chịu nên khi áp dụng không phát huy được
trọn vẹn năng lực chuyển hoá của phương pháp quán niệm hơi thở. Bản chất của
quán niệm hơi thở là lấy hơi thở làm đối tượng để buông xả tất cả những gì
không có lợi cho hạnh phúc, ở đây là sự nóng nảy. Trong lúc quán hơi thở mà vẫn
không chịu buông sân hận thì sẽ không có kết quả là đương nhiên. Do đó, thói
quen về bản tính con người có thể là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự thất bại
trong chuyển hoá nổi sân.
Thứ hai, người ta thường biện hộ, do nghiệp nặng
quá nên nội kết giữa tôi với đối phương không thể nào tháo gỡ được trọn vẹn và
tuyệt đối. Vì vậy, tạm chấp nhận hệ quả của lòng sân, tạm chấp nhận những gì có
thể làm được và lại không tin tưởng vào bản thân có thể làm hiệu nghiệm, kết
quả tốt. Trong khi đó, chỉ cần buông xả lòng sân theo hơi thở, đồng thời cùng
lúc nạp thêm dưỡng chất tha thứ và hoan hỷ vào cơ thể thì tâm nhẹ nhõm biết
bao. Việc gì con người cũng có thể làm được nhưng khi không tin bản thân có thể
làm được hiệu quả thì tiềm năng của nỗ lực bị đóng bít.
Dĩ nhiên, trong trường hợp câu hỏi vừa nêu có thể
vận dụng nhiều phương pháp hỗ trợ khác. Bởi vì có những cơn bệnh nếu chỉ uống
một loại thuốc sẽ không có tác dụng, phải uống thêm những
thuốc khác. Do đó, phải hỗ trợ bằng nhiều phương pháp, nhiều cách khác nhau.
Nếu không đạt kết quả như mong đợi, ít nhất cũng đạt 60%, 70%.
Trong bài pháp thoại, chúng tôi trình bày các
phương pháp hoãn binh, thay thế, không liên minh (không để nỗi đau lây lan và
bành trướng), chuyển hoá sự giận dữ. Xin chia sẻ thêm phương pháp quán không
tác giả, là phương pháp quán chiếu rằng không có chủ thể tạo ra phiền não giữa
ta và người, cũng không có nỗi đau đang hiện hữu. Phương pháp này đòi hỏi khả
năng quán niệm cao hơn các phương pháp vừa trình bày.
Thí dụ: Khi đi du lịch trên một chiếc thuyền ở
vùng duyên hải bang Florida. Ở đó, có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp, có thể bỏ ra
mấy chục ngàn Mỹ kim để mua chiếc ca nô đẹp. Đến bãi thuyền, trèo lên ca nô,
nằm trên mạn thuyền rồi ra lệnh nổ máy. Lúc đó, cảm giác an toàn và hạnh phúc
sẽ xuất hiện tạm thời. Nhưng nếu phía sau có một chiếc thuyền đang đi tới và
lao vào ca nô của ta thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Phản ứng đầu tiên khi có sự va chạm là nghĩ kẻ
nào đó muốn phá đám giấc ngủ ngon của mình. Vì nghĩ người lái thuyền cố ý nên
sẽ có phản ứng trả đũa. Không kiềm được cảm xúc nóng nảy, bạn có thể nhảy sang
chiếc thuyền đã đụng vào ca nô, xem tác giả vụ đụng thuyền này muốn gì. Khi tìm
phía trước, phía sau thuyền mà không thấy ai thì cơn giận dữ chùng xuống và vơi
đi, vì nghĩ đây chỉ là chuyện tình cờ, không ai cố tình cả! Lúc đó, cơn sân hận
lớn trở thành cơn sân hận nuối tiếc về giấc ngủ.
Cũng vậy, trong cơn giận dữ, nếu quán tưởng không
có một chủ thể nào đang cố ý quậy phá hay tạo phiền não (nỗi đau không có tác
giả) thì dễ dàng bỏ qua. Khi cơn giận dữ nổi lên, hãy hít thở thật sâu và quán
tưởng mọi sự vận hành của cuộc đời, mọi niềm đau nỗi khổ sẽ trôi qua. Dù niềm
đau nỗi khổ đó do ai cố tình tạo ra
đi nữa cũng vẫn không quan trọng. Thậm chí nghĩ, chỉ là vô tình hay do thiếu
hiểu biết, thiếu cảm thông để không quy trách nhiệm cho đối phương phải chịu hệ
quả của y, tránh sự có thể phản hồi trả đũa lại đối phương. Cho nên, quán niệm
không có chủ thể tạo ra phiền não, không có dòng chảy phiền não đang vận hành
trong nỗi khổ, ta không phải là nạn nhân trải qua nỗi khổ sẽ giúp trở về trạng
thái tâm an vui. Nhờ quán chiếu vô ngã về khổ đau nên dễ dàng, buông xả sân hận
mà tha thứ.
Phương pháp này đòi hỏi quán niệm với sự tập
trung cao độ, đòi hỏi có tấm lòng hỷ xả, rộng lượng. Làm được điều này sẽ tháo
gỡ được lòng sân hận. Đừng bao giờ thiết lập những bức tường khổ đau, mà hãy
tháo gỡ những bức tường khổ đau giữa ta và người. Như vậy là góp phần thiết lập
một thế giới an bình và hạnh phúc! Quán tưởng bằng nội lực và có phương pháp
chắc chắn sẽ mang lại giá trị an vui. Nếu chuyển hoá không được thì tối thiểu
cũng không cho nó lớn thêm ở hiện tại và tương lai. Theo thời gian, nó được
chuyển hoá từ từ. Nếu nỗ lực thì có thành quả an vui!
Trong phương pháp quán nhân quả, đặc biệt là quán
hậu quả tiêu cực của lòng sân làm con người sợ hãi mà không để tâm xảy ra nóng
nảy và thiếu sự kiểm soát. Tính hiệu nghiệm của phương pháp này chỉ ở lúc người
nóng nảy chưa nổi cơn tam bành. Một khi đã có sấm sét trỗi dậy, tâm trí người
quán không còn đủ sáng suốt để nhận ra mình đang sai thì làm sao chuyển hoá
được. Do đó, phải thực tập phương pháp quán mỗi ngày hai lần trước và sau khi
đi ngủ. Cảm xúc toàn thân được thấm nhuần đạo lý nhân quả nghiệp báo “Ngậm máu
phun người miệng mình dơ trước”. Nhờ đó, hành giả có thể giải phóng, xả bỏ được
cơn giận dữ. Thực tập mà không có kết quả không phải do phương pháp không hiệu
nghiệm, mà vì độc tố sân hận trong lòng còn quá nhiều nên quán tưởng sơ sơ sẽ không thấm vào đâu. Do vậy, cần tiếp tục
quán chiếu thì sẽ có kết quả.
Hỏi: Tâm sân hận là do thói quen, môi trường ảnh hưởng, hay do
một người sinh ra, có sẵn nghiệp lực của sự huân tập? Nếu do nghiệp lực thì tại
sao có câu “Nhân chi sơ tính bản thiện”.?
Câu hỏi này quy kết lòng sân hận con người như
một thói quen được tạo ra quá khứ, có thể bắt nguồn từ khổ đau và nội kết giữa
ta và người. Thí dụ, người lính trong trận tuyến phải đối đầu và giết người
lính đối lập. Trong chiến đấu, không cho phép tha thứ đối phương, vì tha thứ là
tự đặt mình vào cõi chết. Vì vậy, một trong hai đối tượng phải ra tay trước để
được sống.
Cuộc sống, có người quan niệm “Tiên hạ thủ uy
cường”, tức là sẵn sàng chấp nhận thói quen đã được giáo dục, huấn luyện, kết
tập từ đời này sang đời kia. Quan niệm đó không giúp tháo gỡ được những thói
quen, để không cho dòng máu của sân hận chảy vào huyết quản, tim mạch con
người. Phật giáo không lý giải mọi điều xảy ra ở hiện tại đều có gốc rễ từ quá
khứ. Sân hận có thể bắt nguồn từ điều kiện trong quá khứ hay hiện tại, từ chủ
quan hay khách quan, có những sân hận liên hệ giữa người với người, có những
sân hận chỉ đơn thuần từ sự hiểu lầm hay là cạm bẫy của người khác tạo ra. Nếu
quy kết tất cả hành động đều do thói quen thì sẽ đặt ra khả năng chủ thể có
quyền được sân. Do đó, cho rằng được quyền giải quyết sân hận bằng cách trả đũa
người khác.
Đừng cho rằng sân hận bắt nguồn từ thói quen, mà
chỉ quan niệm sân hận như là cái gì đó đã tạo ra vết hằn trong quá khứ. Chẳng
hạn, từ sự thiếu kiểm soát tâm và thiếu hiểu biết mà vết hằn này tạo ra vết hằn
khác. Sự tích cóp nhiều đến độ tạo thành núi sân hận. Đứng trước quả núi sân
hận, thù hằn, người ta cứ nghĩ không
thể hoá giải được. Từ đó, hành động như phản xạ vừa có điều kiện, vừa không có
điều kiện. Nghĩa là, bất cứ khi nào gặp những điều chướng tai gai mắt, đối đầu
với “bồ đề gai,” hoặc phải đối diện, sống chung những người không muốn, chia
tay người yêu thương, chịu âm dương cách biệt hay ly thân, ly dị, gặp quá nhiều
hoàn cảnh không như ý… thì tâm phiền não diễn ra và chấp nhận những cơn sân hận
như con đẻ. Chấp nhận đi vào quỹ đạo sai lầm và sự chuyển hoá rất khó vì khó có
cơ hội để gội rửa tuyệt đối. Cho nên, đừng nghĩ sân hận hoạt động như dòng chảy
của định nghiệp. Phần lớn cơn sân hận phụ thuộc rất nhiều điều kiện. Nhiều
người có thể tha thứ cho người biết nói ngon, ngọt nhưng có người không, ngay
cả trường hợp họ nói ngon ngọt về mình.
Cùng một tình huống như nhau, tại sao con người
có hai cách ứng xử khác nhau? Ứng xử trong trường hợp mang tính điều kiện của
lòng chấp thủ, thái độ không tha thứ và không nhìn thấy được giá trị của tình
thương được thiết lập giữa ta và người. Vì thế, nội kết sân hân được tiếp nối,
biện hộ, bao che và trưởng thành bằng nhiều cách. Theo đó, khổ đau sẽ tiếp tục
có mặt.
Quan niệm Nho giáo cho rằng, “Nhân chi sơ tính
bản thiện”. Nghĩa là, lúc con người mới sinh ra thì tất cả đều có lương tri,
hành động lành, tâm lý tốt, lý tưởng hay. Khi tiếp xúc với hoàn cảnh xã hội,
những người không dễ thương nên phiền não xuất hiện, bị trở ngại trên cuộc đời.
Khi cho con người có “tính bản thiện” là đã đặt ra những định tính rằng, con
người sẽ không làm điều xấu hay tốt, vốn thiện rồi cần gì phải làm điều thiện,
vốn thiện rồi thì làm gì có điều xấu.
Theo quan niệm hạt giống của nhà Phật thì bản
tính con người khi mới sinh vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác tùy thuộc dòng chảy nghiệp lực được gieo
trồng trong quá khứ. Do đó, bản tính hoàn toàn mang tính riêng tư và cá nhân.
Người khi mới sinh ra gắn liền với những điều thiện là vì quá khứ đã hội tụ
những hạt giống lành. Người mới sinh gắn liền với điều ác là vì đã hội tụ những
hạt giống của cái xấu, cái ác. Vua Tần Thủy Hoàng là kết quả của mối tình vụng
trộm giữa hoàng hậu Triệu Cơ và Lã Bất Vi. Khi mới lên bảy tuổi, ông đã biết làm
việc tội lỗi, làm nhiều người đau khổ là vì trong quá khứ ông ta đã từng gieo
hạt giống khổ đau, và hạt giống xấu ác đó vẫn được tiếp nối trong hiện tại. Do
đó, khẳng định bản tính con người vốn thiện hay ác là điều khó chấp nhận.
Học thuyết nhà Phật cho đó là nhân duyên, mà nhân
duyên tuỳ thuộc vào điều kiện. Khi gặp điều kiện tốt, hạt giống có thể làm con
người trở thành tốt và ngược lại. Là người theo Phật, phải lý giải tất cả vấn
đề trên bình diện duyên khởi, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Miễn sao đặt ra
được tình huống nếu áp dụng thích hợp thì sẽ có an vui, ngược lại thì bị khổ
đau. Trong trường hợp đó, phải chọn con đường áp dụng hợp lý. Nghĩa là, không
xem tính nóng nảy, sân giận như định mệnh, bản tính không thể thay đổi. Sẽ sai
lầm nếu nói, tính của tôi như thế, ông, bà hay anh, chị chịu hay không thì tùy.
Đồng ý thì hợp tác, không thì ra đi. Ứng xử vậy là đối xử phũ phàng với lương
tâm, đạo đức vốn có, là phản bội lại với Phật tính vốn có, đồng thời cũng quay
lưng lại với tất cả những điều kiện tốt có thể trở thành người rất dễ thương,
gần gũi.
Nếu xã hội có những con người dễ thương, dễ mến
thì tin chắc rằng mình cũng có thể trở thành những người như vậy. Đức Phật, các
vị A la hán, Thánh tăng, những nhân vật lương thiện đã trở thành những người như
vậy. Cho nên phải tin, thực tập và hành trì đạo đức thì ai cũng sẽ trở thành
những người hoàn hảo. Cách suy luận, so sánh như vậy làm con người không bao giờ quan niệm thói quen xấu, sự sân hận, thái
độ hẹp hòi, ganh tỵ là cá tính không thay đổi được. Khi thấy được thay đổi cá
tính thông qua hành trì, cần nỗ lực hành trì có phương pháp, chắc chắn sẽ có
được giá trị của một đời sống an vui.
Hỏi: Khi gặp điều bất như ý, chẳng hạn, bị mắng nhiếc thì con
chọn cách nhẫn nhục, không đáp trả lại. Đó chỉ là ức chế tâm. Con đường tu ức
chế tâm để dẫn đến buông xả thật sự như thế nào?
Đây là câu hỏi đề cập đến sự vượt qua sân hận
bằng ức chế nhẫn nhục. Chữ “nhẫn” trong chữ Hán kết hợp bởi bộ trên là “đao”,
tức là con dao và bộ dưới là chữ “tâm”. Nghĩa đen là con dao ghim vào tim, dao
đang đâm vào sự sống, chặt tình cảm ra từng mảnh bằng những nghịch cảnh, chướng
duyên, lời chỉ trích thiếu sự xây dựng. Không ai phủ định sự nhẫn nhục là chấp
nhận khổ đau trong chừng mực nhất định, để sân hận không có cơ hội trỗi dậy.
Nhưng nếu quan niệm “nhẫn” là “nhục” hay người nhẫn là người có khả năng chịu
đựng những cái nhục là hiểu sai tinh thần của nhà Phật.
Trong ngôn ngữ tượng hình của chữ Hán, nhẫn nhục
mang ý nghĩa rất hay. Nhưng hiểu không khéo thì trở thành tiêu cực. Trong tiếng
Pali và Sanskrit, chữ “nhẫn” được hiểu là thái độ chịu đựng chứ không phải thái
độ chịu những cái nhục. Mặc dù, cái nhục là thái độ chịu đựng. Nhẫn là thái độ
vươn lên, là con đường lâu dài bền bỉ để dấn thân phục vụ, là giá trị hành trì
tu tập. Nhẫn đòi hỏi quá trình lâu dài của sự huấn luyện, tô bồi nhân cách. Do
đó, nhẫn là cơ hội để nung đúc con người trở thành người tài đức và tuệ giác,
thành anh dũng, bất khuất, không sợ hãi trước mọi hoàn cảnh cuộc đời.
Nếu quan niệm nhẫn là trạng thái ức chế tâm thì
biết người đó chưa tu tập được hạnh nhẫn của Phật dạy. Hành giả tu hạnh nhẫn có thể quan niệm tất cả những lời
mắng chửi xem như cơ hội rèn luyện tâm được thăng hoa, làm cho tâm trở nên từ
bi hơn và không còn sợ hãi trước những lời hăm dọa của người khác. Nếu quan
niệm vậy thì “nhẫn” không phải là “nhục” mà nhẫn chính là con đường hướng đến
tâm linh, con đường của thành công và nhẫn chính là giá trị của an lạc. Nhẫn
trong ức chế là làm tâm bị hành hạ, khổ đau. Hành giả Phật giáo cần phải thay
đổi cách nhìn trong lúc đang thực tập hạnh nhẫn.
Quan sát và thấy, người nào có chất liệu chịu
đựng hoặc có sự thâm thuý chiều sâu thì không biểu hiện nhẫn ra bên ngoài,
trước mặt mọi người, dù trong tâm trỗi dậy những nỗi đau bực tức và hiềm hận
như cỏ bị đá đè. Nhưng cỏ vẫn có cơ hội vươn lên sức sống nhiều hơn. Cũng vậy,
sự đè nén, ức chế tâm lý càng làm cho sân hận bùng phát lớn hơn. Chẳng hạn,
dùng một tảng đá chặn đứng dòng nước đang chảy, nhưng dòng chảy vẫn tiếp tục
chảy mạnh hơn. Hoặc khi dùng dao chặt đứt một ngọn cây thì cây sẽ phát sinh ra
thành nhiều nhánh. Dùng cưỡng lực để áp chế một phong trào thì phong trào đó
càng lớn mạnh. Cho nên, nhẫn trong trường hợp ức chế sẽ không tạo ra giá trị an
lạc và hạnh phúc. Mà nó sẽ nuôi sự ức chế này cho đến lúc không còn sự đè nén
và có thể trở thành vụ nổ rất lớn trong tương lai. Do đó, cả hai đối tượng đều
là nạn nhân của nhau. Vì vậy, đừng bao giờ hóa giải sự mắng chửi, nhục mạ của
người khác bằng cưỡng lực ức chế tâm.
Con đường chuyển hoá ức chế tâm trở thành sự
buông xả, phải được khởi từ nhận thức sáng suốt rằng, nếu sự bực tức vẫn còn
giữ trạng thái đè nén thì vẫn còn là nạn nhân của khổ đau. Nhiều người cứ nghĩ
lầm rằng, khi họ bực tức người khác, nuôi lòng thù hận là họ được hạnh phúc,
nhưng thực tế, họ đang bị khổ đau nhiều hơn người gây ra sự bực tức. Có những
tình huống, người tạo ra sự cau có, mắng chửi người
khác nhưng nói xong
là quên. Ấy thế, người nhận lại nhớ mãi những lời không như ý đó trong tâm,
thậm chí nói, “sống để dạ, chết đem theo”, không bao giờ quên. Càng nhớ thì nỗi
khổ đau ngày càng gia tăng, sức khoẻ ngày càng giảm, bệnh căng thẳng thần kinh
ngày càng phát triển. Kết quả không mang lại bất kỳ lợi lạc nào cho cả hai
người đang có vấn đề.
Người khôn ngoan nên “xoá sạch” dữ liệu của lòng sân
khỏi ổ đĩa cứng của tâm thức, để tâm được an vui. Đức Phật mô tả hình ảnh lá
sen trong kinh như là biểu tượng đẹp cho sự buông xả. Lá sen không giữ nước
trên bề mặt. Tuy nhiên, nếu chiếc lá có hũng sâu và hoàn cảnh tương thích thì
những giọt nước trên lá sen được giữ lại, nhưng trong vòng 2 đến 7 ngày sau, lá
sen đó bị úng, bị hư và thủng. Cũng vậy, đừng bao giờ giữ những giọt nước của
phiền não, sân hận, thị phi, ganh tị, hơn thua trong tâm. Bởi vì, trong lúc giữ
lại những cái đó sẽ hành hạ tâm, đang làm cho quả tim đau nhức.
Con đường của sự ức chế dẫn đến buông xả chỉ nằm
ở nhận thức. Nếu hiểu đúng thì trở thành người buông xả, hiểu sai sẽ trở thành
bị ức chế. Buông xả và ức chế là hai năng lực, buông xả dẫn đến an vui, ức chế
dẫn đến đau khổ. Mà khổ đau do ức chế sẽ gia tăng nhiều hơn. Chỉ cần có nhận
thức sáng suốt thì sẽ có trạng thái buông xả các ức chế của tâm do nhận thức
sai lầm trong quá khứ.
Hỏi: Nếu chọn cách quán chiếu nhân duyên, có lẽ do có gieo nhân gì đó nên phải
nhận quả báo bị mắng nhiếc. Quán chiếu như vậy để hoá giải sân hận có dễ dàng
hay không?
Đây cũng là cách quán niệm rất hay. Trong tất cả
nỗi khổ do lời thị phi mắng nhiếc gây ra, có nhiều nguyên nhân. Không xác định
được nguyên nhân nào thì khó vận dụng giải pháp hiệu quả. Trong trường hợp đó,
tốt nhất nên vận dụng cách thức tự an ủi.
Nghĩa là cứ an ủi rằng, có lẽ trong quá khứ mình đã từng gây ra khó khăn, chỉ
trích người tốt, hãm hại người lành, đẩy người lành vào những tình huống không
lối thoát… từ đó làm họ thối thất tâm bồ đề, trở thành con người tội lỗi. Do
vậy, tất cả những lời bị mắng nhiếc hôm nay là hệ quả tất yếu từ những gì đã
làm trong quá khứ. Quan niệm vậy giúp người bị mắng nhiếc không có thái độ
kháng cự lại, chỉ nghĩ đơn giản là thử thách nghiệp lực của mình mà thôi. Từ
đó, chuyển hướng từ thái độ chịu đựng bị ức chế dẫn đến thái độ dấn thân phục
vụ.
Hiểu được vậy, phải cảm ơn những thử thách để
luyện tâm mình trở nên cao thượng. Nhiều lời chỉ trích thì càng làm cho nghiệp
chướng giảm xuống, bản ngã rơi rụng và lòng hãnh diện tự hào không còn chỗ bám
víu. Lúc đó, biến lời chỉ trích thành một pháp tu, biến nghịch cảnh trở thành
đối tượng để chuyển hóa tâm tính. Hiểu vậy, sẽ dễ dàng thành công trong cuộc
đời này!
Hỏi: Làm thế nào chuyển hoá sân hận?
Trả lời: Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đặt ra
giá trị sự sống dựa trên cảm xúc, nhận thức và tuệ giác. Tâm lý con người được
chia ra 5 cấp từ thấp đến cao: Dục tính, cảm tính, tưởng tính, nhận thức tính,
tuệ tính.
Khi con người nằm ở cấp thứ hai, tức là cảm xúc
mạnh thì có độ nhạy cảm cao trực hay gián tiếp về mắt, tai, mũi, thân xúc chạm
và ý tưởng nhận định đánh giá. Thực tế, cuộc đời có những nỗi khổ đau nhiều khi
không bắt nguồn từ thực tại mà từ cách thức tiếp nhận, lý giải, nhận định, đánh
giá vấn đề thông qua thái độ suy diễn động cơ. Do đó, nhiều khi khổ đau không
do người khác làm mà do tự suy diễn, nghĩ người ta cố tình thì khổ đau gia tăng.
Người có độ nhạy cảm về lời nói, ứng xử, thái độ,
việc làm của người khác nhiều là người chưa được may mắn. Bởi vì, có những vấn
đề người ta nói bâng quơ nhưng cứ tưởng đang ám chỉ mình, rồi buồn tủi, phân
biệt đối xử, cau có bực dọc… Nếu không có chất liệu buông xả thì sự thù hằn,
nội kết trong họ đối với mối quan hệ với con người bị ách tắc, trở ngại, nhịp
cầu nối kết tình thân giữa hai người bị chặt đứt và khổ đau quấn quýt đôi bên.
Lúc đó, phải tìm hiểu chất liệu động cơ của người khác, phân tích nguyên nhân
tại sao họ có thái độ, lời nói làm mình không vui. Cũng có thể đặt ra tình
huống tích cực nào đó mà đối phương có thể có hoặc không để giúp tâm dễ dàng
tha thứ, bỏ qua. Nhưng không nên đặt ra tình huống họ cố tình gây ra điều xấu
cho mình. Chính tâm lý tích cực này giúp tháo gỡ nội kết giữa ta với người trên
nền tảng cảm xúc mạnh.
Người có cảm xúc mạnh thường chịu nhiều khổ đau
như: Cười nhiều thì buồn cũng nhiều, cười dễ thì khóc cũng dễ. Những người như
vậy thường có phản ứng rất nhạy cảm. Thông thường, người nghệ sĩ, ca sĩ có mức
độ nhạy cảm bén hơn người khác vì họ đã từng sống với những ánh đèn mờ, tràn
đầy tiếng vỗ tay, khen ngợi, ca tụng, vinh quang dưới những thước phim báo chí…
Nên thực tập phương pháp, trong bất cứ tình huống
xấu nào cũng nên nhìn thấy động cơ tốt của người khác để không cất chứa khó
chịu, bực dọc, trầm cảm, bi luỵ… Đó cũng là cách thức có thể quan niệm như chức
năng trị liệu cơn bệnh cảm tính nhạy bén. Thực ra, khi thực tập nhìn thấy động
cơ tốt từ cái xấu của người khác là đang thương chính mình. Bởi vì, nếu không
thương chính mình, không tháo gỡ, hoá giải nội kết trong tâm thì tâm lý trầm
cảm sẽ thành căn bệnh ung thư của tâm.
Nhạy cảm nhận thức về chuyện xấu, không tốt, cái
chưa hoàn thiện của người khác là cái xấu, có thể mang lại nhiều phiền não. Cho nên, trên con đường dấn thân, tu
tập hoặc trong các mối quan hệ, đức Phật có dạy, đôi lúc phải biết làm ngơ như
không nghe, không biết gì về chuyện không tốt của con người dù mình tai nghe,
mắt thấy. Thái độ làm ngơ khác với thái độ bịt kín hai lỗ tai. Bịt kín lại là
thái độ cực đoan. Làm ngơ là nghe thấy tất cả nhưng giả vờ như không nghe,
không thấy để tất cả trạng thái bực dọc, phiền não không có cơ hội chinh phục,
khống chế và khiến bị đau, sình lầy làm chùn chí tiến thủ vươn lên.
Mỗi người sinh ra đều mang theo tất cả tập quán,
hành động, cách ứng xử trong quá khứ. Nếu quá khứ có mức độ nhạy cảm cao thì
sinh ra có độ nhạy cảm hơn người khác. Do đó, khổ đau gây ra cho mọi người cũng
dễ dàng.
Đức Phật dạy: Hãy buông xả những khúc mắc, cố
chấp với đối phương để chữa cơn bệnh uất cảm của mình chứ không phải giúp người
khác. Chưa phóng thích thì phức cảm vẫn còn hành hạ chính mình. Cuối cùng cũng
trở thành nạn nhân của khổ đau thay vì là người hạnh phúc!
Hỏi: Sân hận do đâu mà có, xuất phát từ đâu. Loại sân hận nào
nguy hiểm nhất?
Đạo Phật không chấp nhận nguyên nhân khởi thuỷ của
mọi vấn đề. Nguyên nhân của mọi vấn đề tuỳ thuộc vào duyên, điều kiện xúc tác
và nhân quả tương tác phức tạp đa chiều trực hay gián tiếp với nhau. Bốn gốc rễ
(nguyên nhân) của sân hận, khổ đau đã được trình bày:
Một là bắt nguồn từ trạng thái nhận thức sai lầm
về con người, cuộc đời và sự kiện…
Hai là bắt nguồn từ trạng thái sợ hãi. Ví dụ, tên
trộm bị phát hiện thì phản ứng tự vệ, buộc tên trộm phải giết người để bịt đầu mối, nếu không có sẽ bắt bỏ tù. Cho
nên, sự triệt tiêu đối tượng trong trường hợp này bắt nguồn từ nỗi sợ hãi bị
luật pháp truy tố, trừng trị… Tất cả những nỗi sợ hãi đó làm anh ta trở thành
con người bạo động.
Ba là bắt nguồn từ thái độ độc tôn, loại trừ, chỉ
chấp nhận chính mình. Thường thấy là các học thuyết, chủ nghĩa, tôn giáo, phái giáo…
tất cả những gì thuộc về thần tượng cá nhân đều liên hệ ít nhiều đến thái độ
tạo ra sự sân hận.
Bốn là bắt nguồn từ việc không hiểu bản chất văn
hoá của người khác, không thấy được đa nguyên như là giá trị hỗ trợ nhau, không
thấy tất cả những con đường khác nhau là sự phong phú trong cuộc đời, là nhu
cầu cần thiết cho sự sống của con người, mà từ sự khác biệt đó lại tỏ thái độ
cau có, bực tức đối với chính mình.
Ngoài ra, sân hận có thể bắt nguồn từ những
nguyên nhân ngoại cảnh như tình yêu, hoàn cảnh, môi trường… Hoặc những nguyên
nhân nóng nảy do sinh lý như mất ngủ, căng thẳng, không đáp ứng được với sự
thay đổi nhiệt độ, khí hậu, thời tiết… hay bệnh lý làm cho thái độ chịu đựng bị
giảm xuống cũng gây dễ nổi nóng, kháng cự, phản ứng chống đối…
Theo nhà Phật, không có một nguyên nhân đầu tiên
cho tất cả mọi nguyên nhân còn lại. Tuỳ trường hợp, điều kiện môi trường mà sân
hận xảy ra nặng hay nhẹ, chủ quan hay khách quan.
Phân tích gốc rễ của sân hận, phải có tầm nhìn
rộng về tất cả những nguyên nhân có thể xảy ra. Không nên quy kết vào một
nguyên nhân nhất định. Vì khi quy kết vào một nguyên nhân thì sẽ quy kết một
chiều, đổ trách nhiệm vào một người có thể là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em,
bạn hay người không thân… Do đó, đánh mất cơ hội nhìn thấy trách nhiệm hành vi của mình đối với mọi người.
Muốn có được sự an lạc, hạnh phúc thì phải nhìn
thấy nguyên nhân gây ra đau khổ, lận đận. Từ đó mới có giải pháp thích hợp để
tháo gỡ.
Hỏi: Gốc rễ sân hận có phải từ sự chấp trước của ngã si, ngã
ái, ngã kiến và của thức mạt na hay không?
Nói theo tâm lý học Phật giáo thì tất cả sự chấp
trước đều có ảnh hưởng tác động đến sự chấp mắc, sân hận từ bốn loại tâm lý là
ngã si (trạng thái nhận thức sai lầm), ngã ái (nhận thức sai lầm về thân thể
vật lý, thương yêu thân tới mức trở thành chủ nghĩa thần tượng, đề cao thân thể
quá mức (các cuộc thi hoa hậu), ngã kiến (cái nhìn sai lệch về nhân sinh quan
trong cuộc đời), ngã mạn (thấy mình hơn người khác trong khi chưa bằng hoặc cho
rằng mình hơn, tự ti, mặc cảm, sợ hãi, rụt rè…). Đó là những loại tâm lý làm
mất những giá trị vốn có thể giúp thăng hoa trong cuộc đời, mất sự thăng bằng
về giá trị.
Không đề cập đến những khái niệm này, mà đề cập
đến thái độ si mê của sự bực tức, chi tiết hoá những vướng mắc có thể xảy ra
trong đời. Nói theo ngôn ngữ duy thức học truyền thống thì bao gồm bốn trường
hợp đó. Còn khi phân tích chi tiết thì có thể giúp người nghe liên hệ đến những
trường hợp sân hận cụ thể của chính mình ở từng góc độ, để từ đó ứng dụng những
giá trị, phương pháp của Phật dạy cho được an vui và hạnh phúc!
Hỏi: Khi một người đã mang sự oán hận trong lòng mà kiếp này
chưa hoá giải được. Như vậy, kiếp sau có tiếp tục tìm người đó để oán hận hay
không?
Đây là câu hỏi liên hệ đến thuyết tâm lý học tái
sinh. Phật
giáo phân tích về giá trị hạt giống ứng xử, hành
động con người trong kiếp quá khứ và có liên hệ đến kiếp sau. Thông thường,
những hạt giống tính cách của con người vào cuối cuộc đời, trở thành la bàn chỉ
dẫn con người tái sinh. Ví dụ: người bị ngộ độc do một món ăn nào đó, thì khi
tái sinh ở kiếp sau và nhìn thấy món ăn đó không dám ăn mà không lý giải tại
sao không thích dù rất ngon. Bởi vì, món ăn gây ngộ độc đã trở thành nỗi ám ảnh
trong suốt quá trình thân trung ấm đến khi được tái sinh. Trường hợp này, tần số
ám ảnh lớn đến độ chỉ còn nhớ một việc là món ăn bị ngộ độc nên không còn nhớ
những gì xảy ra xung quanh nữa.
Nếu từng bị phỏng thì khi gặp lửa, nước sôi là sợ
liền. Nếu đã bị đứt tay rất đau, khi thấy dao là run. Bởi vì, ấn tượng khổ đau
trong tâm thức quá lớn nên chi phối đời sống hiện tại và trong tương lai. Một
người với trạng thái còn hận thù thì lòng hận thù đó sẽ đưa họ tái sinh trở
thành con người có tính tình nóng nảy, ứng xử kiểu giang hồ… là điều rất tự
nhiên.
Là người Phật tử, hãy nuôi dưỡng chất liệu buông
xả, nhất là những giờ phút cuối cuộc đời. Nếu người thân còn chất liệu thù hận
trước khi chết phải tìm mọi cách, có thể nhờ nhà sư đạo cao đức trọng để giúp
họ buông xả hạt giống sân hận. Nếu không, hạt giống sân hận đó sẽ tiếp tục diễn
ra ở đời sau. Do đó, những lận đận, khổ đau trong các mối quan hệ dễ dàng phát
sinh.
Một người có tuệ giác không bao giờ chất chứa
những cơn sân hận. Đặc biệt, cơn giận trong lúc qua đời sẽ trở thành hận thù,
xung đột rất lớn cho kiếp sau với người tương ứng.
Quan sát các loài động vật, thấy độ nhạy cảm của
chúng với nhau. Ví dụ, loài chó có những con nhìn người khác rất hung dữ, có
những con nhìn người nào đó vui mừng, ngoắc đuôi, nhảy vào lòng… Theo cách lý
giải của nhà Phật, do những con chó này
có những mối thù hận trong quá khứ nên thể hiện sự hung dữ. Độ nhạy giác quan
của chó mạnh hơn con người nên cảm nhận được người đã gây ra khổ đau cho nó,
còn con người thì không hiểu tại sao nó sủa như vậy.
Tần số phản kháng giữa tâm lý học tái sinh trong
đời kiếp hiện tại và sau là thực tế phải chấp nhận. Khi chấp nhận tiến trình
câu sinh, cần có trách nhiệm ý thức với lòng sân hận của chính mình. Nếu không
buông xả lòng sân hận với kẻ thù thì tự trở thành nạn nhân mang theo sân hận từ
đời này sang kiếp khác, chồng chất không bao giờ chấm dứt khổ đau.
Quan sát những nơi diễn ra chiến đấu thì thấy,
vài chục hay vài trăm năm sau, nơi đó cũng diễn ra cuộc chiến khác. Sân hận của
những oan hồn trong các trận chiến nếu không buông xả thì tái sinh sẽ trở thành
chiến sĩ, lính và tiếp tục lận đận vì chiến đấu bằng nhiều cách.
Giã từ sân hận càng sớm càng tốt. Nếu tiếc nuối,
thương tưởng sân hận như ôm ấp đứa con trong lòng là đang “nhận giặc (sân hận)
làm con” (nói theo kinh Pháp Hoa). Dĩ nhiên, nó sẽ
phá huỷ tài sản tâm linh của mình. Giặc sân giống như tên gián điệp, có thể làm
bạn bên ngoài nhưng là kẻ thù bên trong, có thể giết không bằng dao, súng nhưng
làm chết dần từ kiếp này sang kiếp khác. Do đó, không thể xem thường.
Nếu hạt giống sân hận và nội kết chưa nỗ lực loại
trừ trong kiếp này thì cũng phải nêu quyết tâm, ra lệnh, “ta phải mạnh dạn nhổ
hạt giống khổ đau của sân hận đó lên trong tương lai”. Như vậy là đang thương
mình! Dĩ nhiên, thông qua sự thương mình là thương người khác. Bằng không, sẽ
tiếp tục biến người khác thành nạn nhân.
Tâm lý học của sự tái sinh chính là cơ hội để
nuôi dưỡng ý thức về trách nhiệm đạo đức ở đời hiện tại và đời sau!
Hỏi: Người ta nói sự căm thù tạo nên sức mạnh, vậy không sân
hận thì xã hội sẽ ươn hèn, huỷ bại hay sao?
Đây là câu hỏi đặt đến hai khả thể sử dụng về
tiềm năng của cơn giận. Dĩ nhiên, trong cuộc chiến, sự sân hận là vũ khí. Cuộc
chiến không nhất thiết là chiến tranh bằng vũ khí của hai ý thức hệ đối lập. Nó
có thể được xem là những cuộc đấu đang diễn ra trong ý thức hệ của từng con
người, trong hành động, ý nghĩ, nhận thức của mỗi người.
Đức Phật thường ví hành giả tu tập là chiến sĩ, trong
tình huống cuộc chiến diễn ra trên mảnh đất tâm, qua hành động, lời nói, cử
chỉ, việc làm. Đối tượng cần phải chiến đấu chính là những phiền não, nghiệp
chướng, thái độ tâm lý âm tính. Vũ khí của hành giả là từ, bi, hỷ, xả, tuệ giác
hay những đức tính tốt. Nói cách khác, tâm lý tốt hay xấu đều là vũ khí phục vụ
hai mục đích đối lập. Khi đặt mình trong trận chiến, người thắng và kẻ bại ấy
chính là mình. Thậm chí, kẻ thù, người thân, người đồng minh cũng chính là mình.
Phân tích trạng thái tâm lý như giận dữ, có thể
được biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ, thái độ muốn chiến thắng, tranh
luận, kháng cự… đều là hình ảnh biểu đạt hoạt dụng của cơn sân hận. Đối với
những cuộc chiến mang lại giá trị đạo đức, chiến sĩ phải đặt mình trong tình
huống biến cơn giận thành năng lực của lòng từ bi. Năng lực từ bi có khả năng
thôi thúc thăng tiến về phía trước để dấn thân phục vụ, bất chấp tất cả mọi cản
lực xung quanh. Trong cuộc chiến như vậy, không có sự thắng bại mà chỉ có giá
trị của sự chuyển hóa, từ phàm thành thánh, phiền não thành bồ đề, đau khổ
thành hạnh phúc!
Trường hợp thứ hai, nếu trong cuộc chiến đó gồm
hai đối tượng là đối thủ của nhau thì sự sân hận đôi lúc trở thành nhu cầu lớn.
Ví dụ, nếu là chiến sĩ ở biên cương, sự sân hận
đủ năng lực khiến
chiến sĩ hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Đó là cách gần như tất cả các chiến sĩ đều
được huấn luyện rằng, tại chiến trường, hoặc sẽ bị chết hoặc sẽ giết người, tốt
hơn nên giết người khác. Như vậy, giết người khác là sự lựa chọn được nung nấu
bằng sân hận. Sân hận có thể được kích thích bằng cái chết của những người
thân. Khi người chiến sĩ được hun đúc bằng các yếu tố sân hận vừa nêu thì quên
nỗi sợ hãi về chết chóc, thương tật và những đổ nát do chiến tranh gây ra, nên
y có thể tiến đến phía trước để chiến thắng địch thủ.
Học hỏi theo tinh thần từ bi của Phật giáo, nếu
làm chiến sĩ hay phục vụ trong quân sự, hoạt động binh nghiệp nên nuôi dưỡng
lòng yêu nước, nuôi dưỡng tình thương vào chí nguyện mang lại hòa bình cho mọi
người, cản trở những người ác không để họ có cơ hội làm những việc xấu. Khi
mang tâm niệm như vậy, dù vẫn là hành động bóp cò bắn súng, xông pha trận tuyến
nhưng lòng không sân hận. Lúc đó, nỗi đau trộn lẫn với tình thương và trở thành
năng lực giúp chiến sĩ dấn thân phục vụ. Do đó, nghiệp sát hại có thể rất nhỏ
và người gieo nghiệp sát bằng lý tưởng yêu nước, hộ dân không bị tổn hại nhiều
như trường hợp do sân hận mà giết hại.
Đây là giải đáp tại sao cũng là chiến sĩ hay vị
tướng mà có người chết yểu, sống thọ dầu làm chiến sĩ, nếu không trực tiếp cũng
gián tiếp gây ra cái chết của người khác qua sát nghiệp. Nhưng nếu chiến sĩ rải
tình thương, tinh thần yêu nước vào hành động, không vì mục đích giết người để
hả giận, nhất là cơn hận thù vì những người thân bị kẻ thù giết chết, giá trị
nhân quả trong hai trường hợp hoàn toàn khác nhau. Thay vì xông lên phía trước
bằng cơn giận dữ thì chiến sĩ hiểu nhân quả xông tới phía trước bằng tất cả
tình thương, sự vô uý và nhận thức sáng suốt rằng việc làm đó là vì yêu nước,
thương dân tộc, bảo vệ hòa bình. Người chiến sĩ trong trường hợp này có thể
mang nghiệp sát về phía bản thân mình, dành
hạnh phúc, hòa bình cho người khác. Nhờ đó, quả sát nghiệp nhỏ hơn, phước báu
của tình yêu nước và hoà bình nhiều hơn.
Phần lớn các cuộc chiến, lòng sân hận thường trở thành
trục xoay. Ví dụ trong kinh doanh, sự cạnh tranh giữa công ty A với công ty B,
tập đoàn này với tập đoàn nọ và thường có thái độ bất mãn, bực tức. Thái độ này
trở thành xung lực giúp người ta làm việc thành công hơn.
Nhà Phật dạy, tiêu diệt lòng sân hận không có
nghĩa sân hận xuất hiện ở đâu liền chặt đứt tại đó. Chẳng hạn, sân hận thể hiện
ở cánh tay đánh đập, tàn phá, bóp cò thì chặt đứt cánh tay. Chuyển hoá sân hận
là thay đổi năng lực bạo động bằng năng lực tình thương, thể hiện qua sự dấn
thân phục vụ, giúp đỡ tha nhân. Những hành động tốt, thiện, có ích và giá trị
chuyển hóa trong trường hợp này sẽ rất lớn. Tinh thần chuyển hoá của đạo Phật
dạy, thay vì chặt đứt bàn tay bạo động, hãy thay thế động cơ hành động thành
phục vụ và bảo hộ sự sống thì bàn tay tiêu cực sẽ trở thành tích cực. Chặt đứt
hay hành hạ không phải giải pháp chấm dứt lòng sân.
Đừng sợ khi bỏ lòng sân hận sẽ không có thái độ
nỗ lực vươn lên trước mọi áp lực. Ngược lại, người chuyển hoá được sân hận sẽ
có nhiều năng lực tích cực như, tinh tấn để vươn lên thành công trong đạo đức
và hạnh phúc. Chuyển hoá sân hận không phải là sự mất mát, mà là đổi cách nhìn
về hành vi huỷ diệt, chuyển năng lực khủng bố thành năng lực xây đắp và phục
vụ. Chuyển phần nào được giá trị phần đó. Từ những gì vừa trình bày, nhờ vượt
qua lòng căm thù, chẳng những không chết mà ngày càng mãnh liệt. Tương tự,
người không sân hận chẳng những không ươn hèn mà còn là người rất có bản lĩnh
chuyển hoá xấu thành tốt, huỷ diệt thành xây dựng và thù thành bạn.
Hỏi: Khi đi họp ở trong hãng, nếu không tìm mọi cách để loại
trừ đối thủ thì làm sao con còn động cơ để làm việc? Làm như vậy có phải là tội
lỗi không?
Câu hỏi này liên hệ đến chức nghiệp, sự tồn tại
của công việc và hạnh phúc có được từ công ăn việc làm. Theo tinh thần hoà hợp
đức Phật dạy, thay vì lao vào xung đột loại trừ nên chọn khuynh hướng hợp tác.
Sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn đến tình trạng một mất
một còn, không thương tiếc. Tức là mạnh thắng yếu, lớn thắng nhỏ, đại thương
diệt tiểu thương. Quy luật loại trừ, các đối tác có thể kết thành liên minh để
tạo hành lang an toàn về quyền lợi thị trường. Trong nền kinh tế thị trường,
các công ty nhỏ có thể bị đè bẹp bất cứ lúc nào. Trường hợp đó, thay vì cạnh
tranh loại trừ vì quyền lợi kinh tế, Phật giáo khuyến khích thái độ hợp tác. Do
vậy, lòng tuỳ hỷ phát sinh và sân hận được thay thế.
Liên minh trong sân hận và loại trừ là liên minh
mang tính độc tôn, sự kết thành của bên này thường kéo theo sự sụp đổ của bên
khác. Với tinh thần hợp tác, nhà kinh tế giỏi không cần triệt tiêu các đối thủ,
mà tìm cách phát huy chất lượng và sản lượng, nhằm khẳng định giá trị của các
thành phẩm kinh tế do mình đầu tư sản xuất. Ví dụ, các mặt hàng điện tử dù cùng
đặc tính và chức năng nhưng thường khác nhau về giá cả do chính sách giá của
các công ty khác nhau. Cùng mặt hàng, mua ở hãng Sony thì giá khác hãng Sam-
Sung. Giá cả của sản phẩm lệ thuộc vào thương hiệu, tính năng, chất lượng...
Mỗi thương hiệu có chỗ đứng và đối tượng khách hàng khác nhau. Không cần phải
đối lập loại trừ nhau để khẳng định thế đứng riêng. Điều quan trọng là, làm thế
nào tạo ra sắc thái riêng trong phục vụ bằng cách tăng cường chất lượng và giá
trị sản phẩm, để khẳng định tính ưu thế của mình.
Thông qua chính sách khuyến mãi, thị trường ở các
nước tự do thường gồm ba hay hai trong một, tức là tăng thêm giá trị bằng cách
giảm giá để sản phẩm có thể dễ dàng đến với khách hàng hơn. Không cần mang tâm
niệm loại trừ trong cạnh tranh. Các công ty thực hiện đúng chính sách “chánh
mệnh” và “chánh nghiệp” vẫn có chỗ đứng vững trong thị trường. Với cái nhìn
tích cực đó, nếu là cây thì đừng sợ không có đất vươn lên để sống mà chỉ sợ
không đủ sức để vươn lên. Ngay cả trong tình huống cây Bồ đề bám trên nóc nhà
vẫn có chỗ sống và mọc lên. Hãy tự khẳng định bằng chất lượng và giá trị hơn là
nỗ lực loại trừ người, công ty khác.
Nếu người Phật tử không may mắn, làm việc trong
công ty mà giám đốc có chủ trương triệt hạ công ty khác thì không nên đồng tình
với cộng nghiệp đó. Khi có mặt trong công ty như một thành viên, người Phật tử
không nên có thái độ cạnh tranh triệt tiêu ai. Thông qua công việc nên nghĩ, sự
góp mặt của mình nhằm tạo chất lượng cho sản phẩm và uy tín cho công ty, làm
thế nào để phục vụ tốt khách hàng là được. Tâm niệm làm việc như vậy sẽ tránh
được nghiệp tranh chấp loại trừ, nhờ vậy, lòng sân sẽ vắng mặt. Cũng cùng công
việc nhưng nếu nghĩ đến chuyện triệt tiêu lẫn nhau thì mang nghiệp sân hận, còn
chỉ mong mỏi được đóng góp với giá trị phục vụ thì sẽ được nhân quả tốt. Bản
chất và giá trị của sự hợp tác nhằm nỗ lực tập thể trên nền tảng hiểu biết và
cảm thông, làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Do vậy, tính xây dựng và phát triển
trong hợp tác rất lớn. Ngược lại, cạnh tranh loại trừ, hận thù thì sẽ khổ đau.
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa có ghi lại câu
chuyện, khi Bồ tát Quan Thế Âm được Bồ tát Vô Tận Ý tặng viên ngọc như ý, Ngài
không nhận vì tất cả công đức mà Bồ tát Quan Thế Âm đóng góp cho cuộc đời không
phải để được viên ngọc. Ngài dấn thân để cuộc đời có thêm nhiều viên ngọc, nhiều người nhờ có viên ngọc đó nên thoát
khỏi lầm than đau khổ. Ngài dấn thân phục vụ để mang lại giá trị viên ngọc cho
mọi người chứ không phải dành riêng cho Ngài. Khi phải nhận viên ngọc, Bồ tát
Quan Âm đã phân làm đôi và dâng cúng hai vị Phật, một phần cúng đức Phật Thích
Ca, phần còn lại cúng đức Phật Đa Bảo. Đây là tinh thần cúng dường bình đẳng và
là một trong các tinh thần cộng tác mang lại hạnh phúc và an vui cho mọi người.
Làm kinh tế cũng vậy, đừng sợ không cạnh tranh
loại trừ người khác sẽ bị đối thủ loại trừ trước. Triệt tiêu lẫn nhau không
phải là phương thức tồn tại chân chính, mà cộng tồn thường mang tính hỗ trợ và
bổ sung. Nguyên lý cộng tồn và cộng tác không cần phải chỉ trích, nói xấu người
khác để tự xiển dương mặt tốt của mình. Hãy để quyền tự do lựa chọn thuộc về
khách hàng, còn uy tín về sản lượng như thế nào thuộc về quyền của nhà sản
xuất. Có người thích mua hàng giá cao, thấp, có trị, hàng đẹp về mẫu mã… Tuỳ
theo thị hiếu của khách hàng mà thôi. Sợ hãi bị loại trừ sẽ dẫn đến khuynh
hướng cạnh tranh không từ bi. Giá trị và đặc điểm của mặt hàng giúp có chỗ đứng
trong sự lựa chọn của khách hàng. Đừng bận tâm loại trừ nhau mà mang nghiệp
tiêu diệt và huỷ hoại người.
Hỏi: Nếu như bị người cố tình dùng những lời lẽ thô tục khiến
phải nổi sân, khi mình cố gắng kiềm chế để không nổi sân. Những người tu tập
thì cho đó là hành vi buông xả, nhưng đối với những người không có tu tập thì
cho đó là ngu dại và nhu nhược. Vậy, tôi phải làm sao để giữ vững lập trường
của người tu tập?
Ý thức về danh phận đôi lúc trở thành động lực để
tinh tấn và dấn thân. Nhưng, ý thức danh phận dưới góc độ của bản ngã khiến con
người không dám làm những việc tốt cần phải làm. Trên tinh thần câu hỏi vừa
nêu, có hai vấn đề liên hệ đến thái độ nhận
định
Thái độ nhận định thứ nhất là buông xả lòng sân
như sự lựa chọn duy nhất trong tình huống không còn sự lựa chọn nào khác, dù
kháng cự cũng không mang lại bất kỳ giá trị gì. Sự buông bỏ lòng sân trong tình
huống này giống như lấy đá đè cỏ. Thái độ nhận định thứ hai là nhìn thấy được
bản lĩnh và sự sáng suốt trong tiến trình vượt qua nghịch cảnh, tâm hành giả
vẫn luôn giữ trạng thái không bị nhiễm ô. Ví dụ, trường hợp đất nước Tây Tạng
và Trung Quốc. Một bên là nước nhỏ, một bên là nước lớn. Một bên quân đội thưa
thớt và vũ khí thô sơ, bên kia quân đội hùng mạnh và vũ khí tối tân. Một bên
quanh năm toàn tuyết phủ, bên này có nhiều sản lượng kinh tế. Khi Tây Tạng bị
Trung Quốc thôn tính, có đấu lại cũng không đi tới đâu vì không có lợi. Quan
trọng hơn là tinh thần từ bi, hiếu hoà và tôn trọng sự sống của đạo Phật đã ảnh
hưởng sâu rộng trong văn hoá Tây Tạng, làm dân tộc này thích mưu cầu hoà bình
bằng hòa đàm, hòa ước, thương lượng và bất bạo động. Đức Dalai Lama, vị lãnh tụ
tinh thần quốc gia Tây Tạng đã sử dụng con đường đó. Giải pháp lý tưởng này phù
hợp với lý trí, đạo đức và không có các phản ứng phụ về khổ đau cho cả hai dân
tộc.
Đối với người quen sống bằng tâm lý cái tôi, bất
khuất trong háo thắng có thể cho con đường hòa đàm và thương lượng của Tây Tạng
là thể hiện sự bạc nhược, sợ hãi bị thất bại. Các nhận định phê bình, chỉ trích
thiển cận có thể làm kích động, kéo theo các phản ứng bất lợi.
Người có bản lĩnh, sáng suốt sẽ bất chấp, không
quan tâm đến đánh giá tiêu cực khiêu khích của người khác. Bản chất sự phê bình
khích động không phản ánh được giá trị thật của con đường bất bạo động. Tương
tự, lời khen người khác về hành động tốt của mình cũng không làm tăng thêm giá
trị nhân quả đạo đức. Trong sự
chỉ trích và tán dương, giá trị con người bất kỳ vẫn bất tăng bất giảm. Phải
biết vượt qua dòng cảm xúc dễ bị kích động, để tất cả vũ khí chỉ trích không
thể tác động tiêu cực đến. Cần giữ lập trường để khỏi bị rơi vào trạng thái hối
hận về sau. Sự buông xả sân hận trong quá khứ có thể làm cho lòng sân đó tái
sinh. Trong trường hợp như vậy, hối hận chính là cục than thiêu đốt hết tất cả
giá trị đóng góp từ hạnh nhẫn nhục, chịu đựng và không sân hận của bản thân.
Cuộc đời có thể nhìn với thái độ tiêu cực, xấu
xa, giá trị người ta không theo đó mà bị biến dạng. Quan trọng là khi bị sợ hãi
chi phối, con người có thể đánh mất lập trường, do đó, lòng hối tiếc về việc
tốt sẽ xuất hiện, mở cửa ngõ cho bất hạnh phát sinh. Người Phật tử cần phải có
lý tưởng, thái độ dứt khoát, dấn thân hành trì, bất chấp những lời đàm tiếu của
người thiếu thiện chí để biến tình huống tiêu cực thành tích cực và khổ đau
thành an vui. Thấy việc gì tốt cho mình, người trong hiện tại và tương lai thì
mạnh dạn làm việc đó.
Tất cả những lời thị phi, chỉ trích nên quán
chiếu như giọt sương rơi đầu cành, như làn điện chớp hay cơn gió thoảng. Nhờ
quán chiếu như thế, hành giả sẽ không bị lòng sân chinh phục và khống chế.
Chạy theo sự kích động của người khác sẽ trở
thành nạn nhân sân hận, giống con lật đật bị người ta sai sử. Người biết bình
thường hoá những nghịch cảnh xảy ra đối với bản thân thì các tác động tiêu cực
về phương diện cảm xúc và nhận thức không xuất hiện. Không nổi sân là bước đầu
của chuyển hoá lòng sân. Nhờ không nổi sân, hành giả sẽ hoá giải tất cả bất
hạnh. Nếu đề cao giá trị của cái tôi thì khó có thể thực hành buông xả. Đó là
kết quả tất yếu, không chuyển hoá được dòng cảm xúc bất như ý. Nhờ buông xả,
cái tôi dần dần được chuyển hoá. Theo đó, lập trường tu tập vô sân sẽ được kết
quả tốt nhất.
Hỏi: Tôi có nhiều sự sợ hãi nhưng không đưa tới sân hận. Tôi
sợ bệnh, sợ bị mổ, chích. Làm sao giải thoát được sự sợ hãi đó?
Sợ hãi là kẻ thù của tiến bộ. Sợ hãi thường kéo
theo hành vi bạo động, nhằm tạo ảo giác trấn an tạm thời. Người sợ hãi mà không
rơi vào tình huống sân hận là may phước, vì sân hận từ sợ hãi có thể dẫn đến
các hậu quả bạo động và tác hại không lường trước được. Người sợ hãi về bệnh
tật thường ao ước khỏe, đẹp mãi. Nhận thức vậy là sai lầm.
Phật dạy, mọi sự vật hiện tượng từ con người đến
các loài động, thực vật đều được diễn ra theo quy trình xuất hiện, tồn tại,
phát triển rồi lão hóa. Kết liễu tiến trình sự sống để hình thành hình thái
tiếp nối. Bệnh thuộc mắt xích thứ ba, tất cả mọi người đều phải trải qua dù sớm
hay muộn. Để khắc phục sợ hãi về bệnh tật, phải quan niệm bệnh là quy luật
không ai tránh khỏi. Nếu sống không có phương pháp, ăn uống không đúng cách,
nghỉ ngơi không thích hợp, lạm dụng sức khỏe quá mức thì cơn bệnh sẽ xuất hiện
như một hệ quả của đời sống. Khi hiểu bệnh là quy luật, nỗi sợ hãi sẽ giảm
thiểu.
Lúc đầu mới thực tập có thể chưa đạt kết quả
nhiều. Hãy tạo thói quen tâm niệm, lặp đi lặp lại có ý thức trong tâm thức
rằng,“bệnh như một quy luật”. Lúc đó, trong tâm thức sẽ xuất hiện lệnh điều
khiển tự động điều chỉnh lại các nhận thức sai lầm và giải phóng nỗi sợ hãi,
giúp con người không bị khủng hoảng chi phối.
Nỗi sợ hãi về kim chích và máu chảy thường gắn
liền với gốc rễ chính là sự sợ chết, gắn liền với kinh nghiệm khổ đau do huỷ
diệt và chết chóc gây ra. Huấn luyện tâm lý không sợ chết, hành giả có thể vượt
qua được các nỗi sợ hãi còn lại, vì bản chất của sợ luôn liên hệ đến sự kết
thúc đời người, ngoài sợ chết thì còn gì sợ hơn nữa. Chuyện qua đời do bệnh tật hoặc thiên tai hay tai nạn gây ra, dù cá nhân hay
tập thể đều ít nhiều liên hệ đến nghiệp khổ đau. Khi chứng kiến cảnh tượng chết
chóc với máu chảy, nỗi ám ảnh, kinh hoàng đè nặng lên tâm lý con người. Ngay
lúc đó, hạt giống về sợ hãi liên hệ đến máu và chết liền được gieo trồng trong
mảnh đất tâm thức. Sau kinh nghiệm này, mỗi khi nhìn thấy máu qua kim chích,
bỗng dưng tâm liên tưởng đến nỗi khổ đau và cái chết do đỗ máu kéo theo. Sự
liên tưởng trong sợ hãi là phản xạ có điều kiện dẫn đến nguyên nhân hay kết quả
của sợ hãi.
Trong nền y học phương Tây, cách tiêm chủng
thuốc, rút và truyền máu cơ thể đều bằng ống chích. Sự liên tưởng đến nỗi đau
vật lý từ truyền, rút máu cách trực hoặc gián tiếp sẽ xuất hiện ngay sau khi
mắt nhìn thấy ống chích đang áp vào cơ thể. Cơn sợ hãi về ống chích lập tức
xuất hiện trong đầu. Trường hợp này, có thể thấy được nguồn gốc sợ hãi ống
chích và máu gắn liền với khổ đau về máu trong ở quá khứ.
Có nhiều cách giải phóng nỗi sợ hãi. Đơn giản là
quán niệm về nỗi đau lớn hơn nỗi đau từ ống chích. Khi không sợ về các sợ hãi
lớn hơn thì đâu có lý gì phải sợ khi nhìn thấy ống chích hay máu. Có thể quán
tưởng khi ống chích đưa vào cơ thể sẽ tạo ra cái lỗ, kèm cảm giác đau. Nếu chịu
đựng được cơn đau do kiến cắn hoặc ống chích thì cái đau của ống chích đưa vào
cơ thể đâu còn là nỗi sợ.
Quán chiếu so sánh như vậy để thấy sợ hãi về ống
chích thuộc về nỗi sợ hãi vô cớ, dù có liên hệ ít nhiều đến sợ hãi đã từng diễn
ra trong quá khứ. Hãy nạp nội dung sau đây vào tâm thức: “Tôi không hề sợ hãi
ống chích cũng như tôi không hề sợ hãi con kiến chích. Tôi không sợ máu như tôi
đã từng thấy máu chảy trong các tình huống tổn thương thân thể”. Nếu cứ tiếp
tục nạp dữ liệu không sợ hãi đó vào não, nó sẽ hoạt động và điều chỉnh nỗi sợ
hãi, giúp không còn sợ hãi về ống chích lúc
nào không hay. Sự hành trì này đòi hỏi lặp tới lặp lui nhiều lần với sự tập trung
cao độ mới có thể chinh phục được sợ hãi. Thực tập cho đến lúc nào có hiệu quả
mới ngừng. Niềm tin về tính hiệu quả của phương pháp mạnh chừng nào thì hiệu
lực trị liệu của phương pháp tâm lý gia tăng chừng đó. Khi thực tập, sẽ thấy có
nhiều sự vô lý trong nỗi sợ hằng ngày.
Có lần tôi tiếp xúc với một võ sư từng làm đại tá
trước 1975, hiện tạm trú trong chùa Phật giáo ở Long Beach, ông này sợ hãi con
sâu rợm, dù thân thể, cơ bắp của ông rất lực lưỡng và chưa từng bị bại trên võ
đài với bất kỳ võ sĩ nào. Ông chưa từng sợ cọp, chó sói, thú dữ, cũng không hề
sợ kẻ thù nhưng lại sợ con sâu nhỏ. Gặp sâu là ông thất thanh và bỏ chạy. Tâm
lý học hiện đại cho rằng, trong tiềm thức của người sợ hãi sâu là biến dạng tâm
lý về phương diện nhận thức, gọi là nỗi sợ hãi bị biến dạng hay sợ hãi không lý
giải được.
Tâm lý học Phật giáo nói, nỗi sợ hãi về con sâu
của ông võ sư có gốc rễ từ đời trước. Có thể cái chết của ông ta trong kiếp nào
đó liên hệ đến con sâu bằng cách này cách nọ, trực tiếp hay gián tiếp. Cái chết
có yếu tố của con sâu quá ấn tượng và kinh hoàng đến độ trong quá trình tái
sinh của ông ở kiếp này, nỗi sợ hãi đó hoạt động rất mạnh và khống chế sự hùng
dũng cang cường của ông hơn cả thú dữ. Nỗi sợ hãi này bám vào tâm trên nền tảng
kiến thức thiếu logic. Điều chỉnh kiến thức sai lầm này thì sẽ giải thoát nỗi
sợ con sâu ra khỏi tâm thức.
Có thể thực tập như thế này, “Con sâu sợ tôi vì
tôi lớn và mạnh hơn. Tôi là người khổng lồ, nó là con vật quá nhỏ bé. Tôi có
thể giết chết nó bằng nhiều cách nhưng nó không thể giết được tôi. Do đó, tôi
không có lý gì phải sợ hãi nó”. Cứ lặp đi lặp lại tâm lý ám thị đó vào tâm thức
bằng nhận thức logic sáng suốt,
nỗi sợ hãi con sâu sẽ không còn nữa. Sợ hãi về con sâu quá lắm cũng chỉ bằng sự
sợ chết. Nếu không sợ chết thì cớ gì phải sợ con sâu. Không sợ chết ở chiến
trường, thiên tai, tai nạn, trên võ đài thì tại sao phải sợ chết bởi con sâu.
Phân tích mức độ và tỷ lệ sợ hãi như vậy, nỗi sợ hãi về con sâu sẽ biến mất dần
dần. Dĩ nhiên, ông võ sĩ phải thực tập lâu dài mới có hiệu quả vì nỗi sợ hãi đó
có thể đã đeo đuổi ông ta vài ba kiếp, mỗi kiếp đến mấy mươi năm. Ít nhất, nỗi
sợ hãi con sâu có tuổi thọ hơn trăm tuổi rồi. Khi nạp năng lượng chống lại sợ
hãi vào tiềm thức vài ba ngày vẫn chưa có kết quả, nếu sự vô lý của nỗi sợ chưa
được nhổ lên tận gốc.
Nói cách khác, để thực tập chuyển hoá sợ hãi kết
quả nhanh, cần phát triển trí tuệ song hành. Trí tuệ là phương tiện tốt nhất để
chuyển hoá các sợ hãi vô cớ. Sự hỗ trợ tuệ giác rất cần thiết trong chuyển hoá
sợ hãi. Con người có rất nhiều nỗi sợ hãi, không sợ kiểu này thì sợ kiểu khác.
Có người sợ ma, thằn lằn, con sâu... rất nhiều, không thể kể hết. Hãy quán niệm
so sánh bản thân với đối tượng mình sợ nhất. Chẳng hạn, nghĩ rằng, khi gặp
mình, con sâu sợ đến độ bị khủng hoảng, bò không được, tại sao mình lại có nỗi
sợ hãi vô lý như vậy.
Trong bệnh viện tâm thần, bệnh nhân sợ hãi cũng
được thực tập tương tự vậy. Có một người sợ con gà, cứ mỗi lần nghe tiếng gà
gáy là hoảng hốt bỏ chạy. Các bác sĩ đã khuyên anh ta tập bài tập: “Tôi không
sợ con gà, con gà sợ tôi, con gà không thể giết tôi, tôi có thể giết con gà”.
Khoảng một tháng, anh ta lên báo với bác sĩ đã tập thành công và yêu cầu được
xuất viện. Bác sĩ chúc mừng anh nhưng trước khi cho xuất viện, bác sĩ phải thử
lại để kiểm tra xem bệnh nhân có tiến bộ thực sự hay không. Trước đây, bệnh
nhân mới gặp gà ác hay gà tre là đã bỏ chạy. Lần này, bác sĩ mang con gà cồ tới
và cho phẩy cánh phành phạch và gáy vài tiếng. Nghe tiếng gáy của gà cồ, anh
bệnh nhân liền bỏ chạy. Bác sĩ đuổi theo và yêu cầu bệnh
nhân dừng lại, bảo: “Chẳng phải anh vừa nói đã không sợ con gà rồi sao?” Bệnh
nhân trả lời: “Thưa bác sĩ, tôi hiểu và thành công trong thực tập rằng con gà
không thể giết tôi, tôi có thể giết con gà nhưng làm thế nào để con gà hiểu
được điều đó mà không cắn và không giết tôi chứ?”
Những nỗi sợ hãi vô cớ đều có gốc rễ từ vô minh.
Quán niệm so sánh có phương pháp sẽ giúp người sợ hãi cấy vào tâm thức những
hạt giống kiến thức cần thiết như con chíp sáng suốt về nhân quả, duyên khởi,
vô ngã và sợ hãi sẽ được chuyển hoá tận gốc rễ. Con chíp này trở thành lệnh
điều khiển tự động nhằm giải phóng tất cả các nỗi sợ hãi.
Hỏi: Bốn cái ngã vừa nêu, ta sẽ dùng tinh thần vô ngã để tháo
gỡ phải không? Như thế sân hận, si mê cũng chỉ là hệ quả của sự thiếu vắng ứng
dụng về pháp ấn, có phải chăng?
Đây là nhận định hay, phù hợp với tinh thần Phật
dạy! Bốn trạng thái tâm lý hữu ngã được câu hỏi nêu ra đó: a) ngã si, là sự
thiếu hiểu biết về cấu hình và bản chất của bản ngã; b) ngã kiến, là nhận thức
sai lầm về bản ngã, cho rằng bản ngã thường còn, bất biến; c) ngã mạn, là những
biểu hiện tâm lý đề cao cái tôi hơn mọi người, trở thành thái độ cống cao, tự
hào, tự đại; d) ngã ái, là thái độ chấp trước, tôn bản ngã là thần tượng
tuyệt đối, ai đụng đến là hận thù và thanh toán. Bốn trạng thái hữu ngã đó trở
thành thành trì vững chắc, bảo vệ cái tôi trong vòng lao lung khổ luỵ. Ai đụng
vào chúng là thách thức với sân hận và lòng căm thù. Đụng vào bất cứ yếu tố nào
trong bốn yếu tố vừa nêu sẽ bị kháng cự, vì chúng là thành trì của bản ngã. Lửa
sân hận có thể bốc cháy bất cứ lúc nào khi cái tôi bị thách thức.
Người Phật tử hành trì về quy luật vô ngã, sẽ
hiểu, không có một bản ngã thường tồn bất biến. Ngã chỉ là hợp thể nhân tính gồm 5 nhóm yếu tố, vật lý, cảm thọ, ý niệm
hóa, vận hành ý niệm, nhận thức của các giác quan.
Người nhìn thấy sự vận hành của hợp thể nhân tính
như vừa nêu, sẽ không cho phép mình cuồng si về bản thân, vì sự nuông chiều ngã
chấp dẫn đến khổ đau cho mình và người. Thái độ nhận thức vô ngã và vô thường
giúp bỏ quan niệm thân thể là tuyệt đối, không bênh vực nó vô cớ. Có thể có
những phản ứng tự vệ về phương diện sức khỏe vì thân thể là phương tiện phục vụ
cho con đường hành đạo. Nhưng nếu cho thân thể là cứu cánh, sẽ trở thành nô lệ
nó, thay vì nó phải phục vụ cho cuộc sống, hạnh phúc của mình và người.
Hiểu được duyên khởi, nhân quả, vô thường, vô ngã
thì bốn trạng thái ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái vắng mặt, nếu không tuyệt
đối cũng được vài mươi phần trăm. Các sân hận xuất phát từ ngã si, ngã kiến,
ngã mạn, ngã ái cũng theo đó chấm dứt. Đây là quy trình tu tập rất hay, áp dụng
đúng sẽ mang lại kết quả tốt đẹp!
Hỏi: Thế nào là bất định và thế nào là kiết sử?
Bất định là trạng thái tâm lý thiếu sở trường,
thiếu lý tưởng hay thiếu sự kiên định. Người có tâm tính bất định dễ bị chao
đảo, ảnh hưởng của người khác, không có quan điểm và cái nhìn độc lập.
Người bất định không có lập trường, nếu lập
trường là thái độ cương quyết, quả cảm trong tất cả hành vi, lời nói, việc làm
thì bất định chính là kẻ thù. Tục ngữ Pháp có câu, “Trước khi nói một lời gì
nên uốn lưỡi bảy lần”. Nhiều người ca tụng đây là lời khuyên về sự cẩn trọng
cần thiết. Xét từ tâm lý học Phật giáo, thái độ câu nói này thuộc về do dự.
Người có kiến thức vững chãi chỉ cần uốn lưỡi hai lần là đủ. Tái lập sự cẩn
trọng nhiều lần sẽ làm tâm rơi vào bất định.
Người bất định, do dự không làm được điều gì lớn
lao vì cơ hội bị trôi qua nhiều lần.
Nhận thức sáng suốt không cần đòi hỏi phải uốn
lưỡi bảy lần, chỉ cân nhắc trong sát-na cũng đủ biết giá trị tốt hay xấu, lợi
hay hại rõ ràng như nhìn những vân tay trong lòng bàn tay. Người có trí tuệ
không cần do dự mà xác quyết rất nhanh, dẫn đến lý tưởng dấn thân và biết cách
thức thực hiện. Hiểu rõ bản chất vấn đề, người sáng suốt không bị bất định nên
dầu ai nói ngả nói nghiêng, họ không bị chao đảo với bất cứ tình huống nào
trong cuộc đời.
Kiết sử hiểu theo nghĩa đen là sự trói buộc
(kiết) và sai sử (sử). Hoạt dụng của kiết sử liên quan đến quán tính thói quen
của con người. Ví dụ, nam giới ở Ấn Độ và Đài Loan hay phụ nữ Việt Nam có thói
quen ăn trầu, dần dần sẽ biến thành một kiết sử. Hôm nào không có trầu, người
nghiện cảm thấy uể oải, bần thần, rã rượi, mất hứng thú. Tương tự, người quen
uống rượu, bia, hút thuốc lá, tiêm chính xì ke ma tuý và thậm chí nghiện chat,
game trên internet, hay nghiện nói chuyện qua điện thoại đều bị các quán tính
này sai khiến như nô lệ. Không thoả mãn chúng thì càng bị trói buộc trong khổ
đau nhiều hơn. Chỉ có chuyển hoá thói quen mới mang lại hạnh phúc trong cuộc sống.
Người có thói quen tâm sự on- line, cứ đến giờ hẹn mà không nối kết internet sẽ
cảm thấy áy náy, khó chịu vô cùng, có thể dẫn đến tình trạng ngủ không yên,
tiếc nuối vì không nghe được giọng nói của người thân thương, mất cơ hội tâm sự
nên cảm thấy trống vắng và cô đơn. Thái độ, suy nghĩ, ứng xử như vậy gọi là
kiết sử, trói buộc và biến con người thành nô lệ.
Người có thói quen ăn uống xa hoa, phung phí cũng
tạo thành kiết sử rất lớn. Ví dụ, người quen đi siêu thị, lúc đầu chỉ thích
ngắm nhìn các sản phẩm, không hề muốn mua sắm.
Nhưng nhiều lần, thói quen mua sắm bắt đầu xuất
hiện. Vào siêu thị mà ra về tay không thì thấy trống trải vô cùng, dù không có
tiền nhiều. Kiết sử này trói buộc cuộc đời theo sự thỏa mãn chúng. Thoạt đầu,
các kiết sử trói buộc xuất hiện theo tính điều kiện và tự nguyện. Lâu dài sẽ
hoạt dụng vô điều kiện và khống chế tâm thức con người.
Tất cả thói quen trong đời đều tạo ra sự ràng
buộc dù tốt hay xấu, ít hay nhiều. Ngay cả thói quen tu tập cũng là sự ràng
buộc nhưng theo quỹ đạo mang lại an vui, hạnh phúc với những giá trị đạo đức và
tâm linh cho người huấn luyện và nuôi dưỡng nó.
Tại các chùa Bắc tông Việt Nam, cứ 4 giờ là tụng
thời kinh công phu khuya, tụng kinh Lăng Nghiêm và thập chú.
10h30, cúng ngọ dâng Phật. 16h, cúng thí thực cô
hồn. 19h khóa tu Tịnh Độ. Thói quen tụng kinh này được lặp đi lặp lại hàng ngày
như phản xạ có điều kiện, nhằm ôn lại lời Phật dạy để hành trì có kết quả hơn.
Hôm nào không tụng kinh, lòng cảm thấy thiếu vắng. Thiếu vắng là sự trói buộc
tâm lý nhưng là sự trói buộc mang tính bảo hộ. Các thói quen tụng kinh, niệm
Phật, ngồi thiền, ăn chay… là các trói buộc rất tốt, giống cái phao đưa người
từ bờ sông này qua bờ sông kia. Nhờ những ràng buộc tốt đó hỗ trợ tích cực,
hành giả được an vui và hạnh phúc lâu dài.
Để dễ hình dung, tạm gọi điều thiện và pháp lành
là những trói buộc tích cực. Thuật ngữ chuyên môn trong Phật giáo không gọi các
điều lành là kiết sử, mà là giải thoát kiết sử. Hành trì pháp môn, huấn luyện
các giác quan là cách đặt thói quen tích cực vào mục đích phục vụ lợi lạc. Thói
quen tích cực này có khả năng tháo mở các trói buộc chấp trước, giúp con người
thoát khỏi khổ đau, mặc cảm, hãnh diện, tự hào. Ngược lại, các trói buộc phiền
não từ dòng cảm xúc âm tính làm cuộc sống
bất hạnh lâu dài. Sự vướng víu trong khổ đau gọi là kiết sử. Giải phóng khổ đau
gọi là phương pháp tháo gỡ kiết sử.
Kiết sử và pháp môn đều là ràng buộc. Nếu kiết sử
trói con người trong phạm vi thế tục khổ đau bất tận thì pháp môn hành trì là
tâm siêu thế hướng đến Niết bàn. Kiết sử tạo ra người phàm pháp môn giúp chuyển
hoá người thành thánh. Ai thích phàm tục sẽ bị trói buộc trong khổ đau. Ai
thích hiền thánh sẽ được đưa về an lạc và giải thoát. Kiết sử hay giải thoát
đều thuộc quyền tự do lựa chọn của con người. Người Phật tử chọn giải thoát,
trong khi người thường chọn kiết sử. Lòng tham, sân, si đều là kiết sử, chính
có khả năng dìm con người trong sinh tử luân hồi. Đối với các kiết sử, hành giả
không nên giữ thái độ bất định mà cần phải dứt khoát trong nỗ lực chuyển hoá chúng.
Nhờ nỗ lực chuyển hoá, hành giả đạt được an vui, thoát khỏi mọi kiềm toả của
luân hồi.
*
Thượng tọa THÍCH NHẬT TỪ
Địa chỉ: Chùa Giác Ngộ, 92 Nguyễn Chí Thanh,
phường 3, quận 10, thành phố Sài Gòn.
Email: thichnhattu@yahoo.com
.
.............................................................................................................
- Cập
nhật từ email tranchicuong27@yahoo.com.vn ngày 21.02.2019.
- Bài
viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui
lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.
.
0 comments:
Đăng nhận xét