TRẠNG TRÌNH
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Trong suốt 844 năm lịch sử chế độ giáo dục khoa cử Nho học (1075
– 1919), các triều đại phong kiến nước ta đã lấy tổng cộng 47 vị Trạng nguyên,
trong đó lừng danh nhất, được người đời ca ngợi hơn cả là Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 – 1585). Ông là nhà thơ kiệt xuất, nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà văn hoá lớn,
nhưng trước hết trong nhận thức của quần chúng bao đời nay, ông là vị Trạng
Trình gần gũi và có tài tiên tri bậc nhất.
1. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh
năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am, huyện Vĩnh
Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, nay thuộc thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện
Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Thân phụ là Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù
Xuyên tiên sinh, có văn tài, học hạnh. Thân mẫu là Nhữ Thị Thục, con gái út
Thượng thư Nhữ Văn Lan, tương truyền là người thông minh, giỏi văn chương, am
tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thuở nhỏ có tên là Văn Đạt, thông minh, học
giỏi, sớm được mẹ đem chính văn, kinh truyện và thơ quốc âm ra dạy. Lớn lên,
ông vào tận xứ Thanh thụ nghiệp Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (1472 – ?) – vị thầy
rất nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời, tuổi trẻ tài cao, từng giữ chức
Thượng thư bộ Lại, kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn Trung bá, nhưng sau khi
đưa ra Kế sách trị bình nổi tiếng không được vua Lê chấp nhận, ông cáo
quan (1509) về quê sống nghề dạy học. Nguyễn Bỉnh Khiêm trở thành học trò giỏi
nhất, và được ông truyền cho bộ sách quý về Dịch học là Thái ất thần kinh.
Thời trẻ Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong một xã hội đầy biến loạn
nên chăm chỉ sách đèn, nuôi chí lớn. Các kỳ thi vào cuối thời Lê sơ và 2 khoa
đầu triều Mạc, ông không tham dự. Maĩ đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Đại Chính thứ
5 (1534), đời vua Mạc Đăng Doanh (ở ngôi 1530-1540), đất nước hưng thịnh, theo
lời khuyên của bạn bè, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra ứng thí và đậu Giải nguyên, năm
sau (1535) thi Hội đậu Hội nguyên, vào thi Đình đậu Đệ nhất giáp Đệ nhất danh
Tiến sĩ cập đệ, tức Trạng nguyên. Lúc đó, ông đã 44 tuổi. Ông làm quan cho
triều Mạc, từng giữ các chức Tả thị lang bộ Lại, kiêm Đông các đại học sĩ, sau thăng
đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Trình Tuyền hầu rồi Trình quốc công, người đời
tôn xưng là Trạng Trình. Vũ Khâm Lân (1702 – ?) trong Phả ký và Phan
Huy Chú (1782-1840) trong bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm phần Nhân vật
chí sách Lịch triều hiến chương loại chí đều chép ông chỉ làm quan
cho nhà Mạc 8 năm, từng dâng sớ hạch tội 18 tên lộng thần nhưng không được chấp
nhận. Đến năm 1542, ông cáo bệnh từ quan về quê trí sĩ (1). Dựa theo thơ văn
của ông và một số tư liệu mới phát hiện, các học giả hiện nay đều cho rằng đến
khoảng trên 70 tuổi, ông mới nghỉ hưu, dựng am Bạch Vân bên bờ sông Tuyết Hàn
và mở trường dạy học. Người đời tôn xưng ông là Tuyết Giang phu tử. Ông có đông
học trò, trong đó có các tên tuổi nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu
Khánh, Nguyễn Quyện, Nguyễn Dữ, Đinh Thì Trung…(2).
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống
trong một thời đại đầy biến động. Triều Lê sơ sau đỉnh cao rực rỡ dưới thời Lê
Thánh Tông (1460-1497) dần dần tụt dốc, mục nát. Triều Mạc thành lập
(1527-1592), tiếp đó là cuộc nội chiến Lê – Mạc. Những biến cố này đã làm đảo
lộn đời sống xã hội đương thời. Tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nảy nở
trong bối cảnh văn hóa đó. Trong đội ngũ Nho gia nước ta, trước ông có Chu Văn
An (1292-1370), sau ông có Nguyễn Thiếp (1723-1804), là những người chuyên tâm
nghiên cứu tương đối có hệ thống về triết lý Nho giáo. Nhà bác học Phan Huy Chú
trong tài liệu đã dẫn trên viết về ông: “…học
rộng khắp các sách, hiểu sâu nghĩa lý Kinh Dịch; mưa nắng họa phúc, việc gì
cũng biết trước” và dẫn lời sứ thần đầu đời Thanh là Chu Xán khen Nguyễn
Bỉnh Khiêm là: “An Nam lý học hữu Trình
Tuyền (Lý học ở An Nam có Trình Tuyền). Đương thời, Trạng nguyên Giáp Hải
(1507-1586), đậu sau ông một khóa (1538) cũng ca ngợi ông: “Chu Liêm Khê hậu
hựu Y Xuyên/ Lý học vu kim hữu chính truyền” (Sau Liêm Khê (Chu Đôn
Di) lại có Y Xuyên (Trình Di)/ Lý học ngày nay bậc chính truyền).
Lý học là phép học đời Tống, Minh, gồm tượng số học, lý học, tâm
học với các tên tuổi lừng lẫy như Chu Đôn Di (1017-1073), tự Mậu Thúc, nhà sách
của ông có tên là Liêm Khê, nên người đời tôn xưng là Liêm Khê tiên sinh; Trình
Hạo (1032-1085), tự Bá Thuần; Trình Di (1033-1107), em ruột Trình Hạo, tự Chính
Thúc, học giả xưng là Y Xuyên tiên sinh; Chu Hy (1130-1200), tự Nguyên Hối, lại
tự Trọng Hối, biệt hiệu Hối Am; Lục Cửu Uyên (1139-1193), tự Tử Tĩnh, học giả
tôn xưng là Tượng Sơn tiên sinh; Vương Dương Minh (1472-1528), vốn tên là Vương
Thủ Nhân… Đặc điểm của Nho học thời này là sự nghiên cứu lý khí và tâm tính. Lý
khí là vấn đề thực tại, bản thể. Tâm tính là vấn đề tâm lý và luân lý, đạo đức.
Học thuyết lý khí chủ yếu bắt nguồn từ Hệ từ của Kinh
Dịch và tư tưởng Lão Trang. Lý luận về tâm tính thì bắt nguồn từ tư tưởng
Thiền Tông và học thuyết Mạnh Tử (3).
Tuy bắt nguồn từ học thuyết Tống Nho, Minh Nho nhưng Nguyễn Bỉnh
Khiêm hoàn toàn có vóc dáng đặc trưng của một nhà tư tưởng Đại Việt thời đại
ông. Ông học Kinh Dịch nhưng không lệ thuộc vào nó. Ông chorằng trời, đất,
người đều từ khí sinh ra. Đây là một quan điểm duy vật về triết học. Lại nữa,
ông đã đạt đến tư duy biện chứng khi cho rằng mọi sự vật, sự việc đều lưu động,
biến đổi, sinh ra, mất đi rồi lại bắt đầu: “Sinh
sinh dục thức thiên cơ diệu/ Nhận thủ hàn mai nghiệm nhất dương” (Muốn biết
cơ trời thần diệu, muôn sự muôn vật cứ kế tiếp nhau sinh sản ra mãi/ Hãy xem
hoa mai đang nở trong tháng rét kia, sẽ thấy rằng một khí dương lại sinh ra,
mùa xuân sắp trở lại vậy) (Trung Tân ngụ hứng, bài 1)(4). Đặc sắc nhất là
ông đã sáng tạo một đạo lý làm người tuy bắt nguồn từ tam cương, ngũ thường Nho
giáo, nhưng có nét riêng. Ông không phải là nhà Nho cố chấp. Lòng trung của ông
có nét khác biệt là giữ vẹn điều thiện và lấy tình thực mà ứng xử. Quan niệm
đạo đức của ông có chỗ độc đáo, nói lên được đạo đức làm người, mong ước làm
người của nhân dân lao động, thể hiện trong nhiều câu thơ và được kết tinh ở
trong Bài bia ở quán Trung Tân: “…Có
người hỏi ta rằng: “Quán ấy đặt tên là Trung Tân có nghĩa là gì?”. Ta trả lời
rằng: “Trung nghĩa là đứng giữa không chênh lệch, giữ vẹn được điều thiện là
trung, không giữ được điều thiện thì không phải là trung vậy; tân có nghĩa là
cái bến, biết chỗ đáng đậu là bến chính, không biết chỗ đáng đậu là bến mê vậy.
Đó, cái quán ta đặt tên là Trung Tân chính là nghĩa ấy. Như trung với vua, hiếu
với cha mẹ, thuận giữa anh em, hòa giữa vợ chồng, tín giữa bạn bè, đó là trung
vậy. Thấy của phi nghĩa đừng có tham, vui làm điều thiện, lại có độ lượng bao
dung người khác, suy lòng chí thành để đối đãi với mọi người đó cũng là trung
vậy. Trung ở chỗ nào tức là điều chí thiện ở chỗ ấy” (Bản dịch của Ngô Lập
Chi)(5). Ở đây, ông đã đưa những quan niệm đạo đức của nhân dân vào hệ thống
các quan hệ của con người trong xã hội như “thuận
giữa anh em, hòa giữa vợ chồng… Thấy của phi nghĩa đừng có tham, vui làm điều
thiện, lại có độ lượng bao dung người khác”. Do sống gần dân, hòa tâm
tư tình cảm của mình với dân, ông đã biến thái độ tích cực của mình với dân
thành những nguyên tắc sống đẹp bao giờ cũng có lợi cho sự rèn luyện nhân cách.
3. La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp, người được Hoàng đế Quang Trung tôn làm thầy, lúc về trấn Hải Dương mong
tìm lại dấu tích gắn với cuộc đời Tuyết Giang phu tử đã ngậm ngùi viết bài
thơ Quá Trình Tuyền Mục tự (Qua chùa Mục ở quê Trình Tuyền) có mấy
câu hết lời ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Áo cơ tham tạo hóa/ Nhàn khí mạo công vương/ Phiến ngữ toàntam tính… (Mưu
cơ sâu kín dự vào việc của tạo hóa/ Dáng vẻ nhàn nhã như bậc công vương/ Một
lời nói chu toàn cho cả ba họ).(6) “Một
lời nói chu toàn cho cả ba họ” là nhắc đến những câu trả lời của Trạng
Trình khuyên họ Mạc lên giữ Cao Bằng (Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế), mách
họ Nguyễn vào trấn giữ Thuận Hóa (Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân),
gợi ý cho họ Trịnh mượn danh nghĩa nhà Lê mà nắm lấy thực quyền, chứ đừng cướp
ngôi (giữ chùa thờ Phật thì ăn oản)…
Bài thơ Cự ngao đới sơn nằm trong tập
thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết cách đây
gần 500 năm, nhưng mãi gần đây khi biển Đông dậy sóng, chủ quyền biển đảo của
ta bị bọn bành trướng phương Bắc uy hiếp nghiêm trọng, nó mới được nhiều người quan
tâm nghiên cứu. Đáng chú ý là bài viết “Bài thơ Cự Ngao Đới Sơn – một dự
báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm” (2013) của nhà
nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai thuộc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt Nam và
bài Tầm nhìn chiến lược về biển đảo của Trạng Trình từ 500 năm trước: Nhân
đọc bài thơ Cự ngao đới sơn trong Bạch Vân am thi tập của danh nhân
văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm (2014) của nhà thơ Nguyễn Đình Minh. Hai tác giả
đã có những phân tích về tầm nhìn đi trước hằng bao thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm
đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của một quốc gia (cụ thể ở đây là phải
chắc chắn xác lập được chủ quyền của Đại Việt đối với biển Đông hay còn gọi là
biển Nam Trung Hoa) ở vào giai đoạn trung đại khi mà không mấy ai thực sự quan
tâm đến nó, ngay cả với những nhà hoạch định chiến lược vốn nổi tiếng nhìn xa
trông rộng của các triều đại phong kiến Trung Hoa trước đây. Cả hai tác giả đều
chú ý đến 4 câu sau: Vạn lý đông tân
quy bả ác/ Ức niên nam cực diện long bình/ Ngã kim phục triển phù diên thủ/ Vãn
đắc quan hà cựu đế thành (Muôn dặm bể Đông nằm ở trong tay/ Ức năm nam
cực thái bình yên lặng/ Ta đây muốn thi thố thủ đoạn nâng đỡ vận nước lúc ngả
nghiêng/ Kéo lại giang sơn, đế kinh được vững vàngnhư cũ). Nguyễn Khắc Mai cho
rằng: “Bài thơ có tuổi đã
khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc càng thấy rất kim nhật kim thì, rất thời sự.
Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay … Câu thơ
cuối bài của cụ… chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển
Đông hôm nay vậy”(7).
Còn nhiều câu nói, lời thơ khác ra đời ở thế kỷ XVI và cả ở
những thế kỷ về sau được tập hợp trong các tập sấm ký Trình quốc công sấm
ký và Trình tiên sinh quốc ngữ gọi chung là sấm Trạng Trình.
Trước hết, cần chú ý rằng thế kỷ XVI là thế kỷ loạn lạc, người thế kỷ ấy tin
vào sấm ký, cũng như cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI cũng là thời loạn lạc và người
thời ấy cũng tin vào sấm ký. Đầu thế kỷ XI, thiền sư Vạn Hạnh (?- 1018) nổi
tiếng về sấm ký. Thế kỷ XVI, nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nổi danh về sấm ký.
Mẫn cảm với thời cuộc, nắm bắt mọi diễn biến phức tạp của tình hình, hết sức
nhạy bén, từ đó phân tích và lý giải mọi vấn đề một cách sâu sắc, Trạng Trình
đã có những dự báo thật chuẩn xác cho kết cục của bàn cờ thế sự đương thời.
Những lời ông nói ra đều được các tầng lớp xã hội coi là có giá trị như những
câu sấm truyền, thật dễ chinh phục lòng người! Mức độ tin cậy và ý nghĩa của
chúng ra sao? Có thể tham khảo nhận định của Giáo sư Bùi Duy Tân: “Những lời mách bảo có tính chất tiên tri
nhưng lại có thể cắt nghĩa được một cách lôgic biện chứng từ trong học vấn của
Trạng, trong hoàn cảnh xã hội và tâm lý con người thời đại. Triết học Trạng
Trình chính là phản ánh tâm lý, khát vọng của con người muốn có sự biến động,
sự đổi đời, sự xuất hiện những sự kiện có ý nghĩa lớn, chờ đợi mộtthời
thế xoay vần, để đỡ khổ, để có một cuộc sống thái bình, thịnh trị. SấmTrạng,
sấm ngữ… chỉ là biểu hiện đặc biệt của tinh thần thời đại, gạt đi phần mê tín,
hoang đường, chúng cũng góp phần phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với thời
vận đất nước, trong hoàn cảnh một xã hội đầy bạo lực, loạn ly, biến động”(8).
4. Tác phẩm của Nguyễn
Bỉnh Khiêm hiện nay ngoài sấm ký còn có Bạch Vân quốc ngữ thi; Bạch
Vân Am thi tập và nhiều bài văn bia, trong đó một số đã mất hoặc
không còn đọc được, một số mới được phát hiện…
Bạch Vân Am thi tập có lời tựa của
tác giả: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ
mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí
để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia
đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chỉ thích nhàn dật, lấy cảnh núi
non sông nước làm vui, rất là vụng về trong nghề thơ. Tuy nhiên cái bệnh yêu
thơ lâu ngày tích lại chưa chữa khỏi được, mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà
ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú
của hoa cúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy
đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách…”.
Hiện nay, trên các văn bản chữ Hán (các bản in triều Nguyễn, các bản chép tay)
thì còn lại khoảng sáu, bảy trăm bài (9).
Bạch Vân quốc ngữ thi là tập thơ Nôm,
đương thời chưa được khắc ván in. Các bản sao chép về sau có bản gần 200 bài,
có bản chỉ khoảng 100 bài. Theo Giáo sư Bùi Duy Tân thì hiện nay còn khoảng 180
bài, trong đó có lẫn vài chục bài của các tác giả khác(10).
Nhận xét về tập thơ này, Giáo sư Đặng Vũ Khiêu viết: “Thơ văn ông vừa mang những nét mộc mạc và
rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống trau chuốt và nhuần
nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn. Thơ ông chính là sự chuẩn bị cần
thiết cho sự phát triển rực rỡ của thơ Nôm thế kỷ XVIII. Có lẽ đầy lòng tự hào
vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân mà ông gần gũi và yêu quý… mà ông đã đưa
vào trànngập trong thơ ông những lời đẹp nhất của ca dao, tục ngữ… đi vào lòng
người với những nét rất thân thương của những đồ đạc, những rau cỏ, những chim
muông gặp gỡ hàng ngày… đi vào niềm vui và nỗi lo của từng người và từ đó đưa
vào thơ một tính nhân dân sâu sắc”(11).
Học giả xưa nay đã nói nhiều về giá trị nội dung và nghệ thuật
thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chỉ xin nhấn mạnh: thơ ông (cộng cả thơ chữ Hán và
thơ Nôm) xét về số lượng thì cho đến thời ông chưa ai theo kịp, còn chất lượng
cũng thật đặc sắc. Tiến sĩ Vũ Khâm Lân ca ngợi thơ ông: “không cần gọt dũa mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà có
nhiều ý vị… như gió mát, trăng thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy”(12).
5. Viết chân dung nhà
khoa học Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau vì tài năng
và nhân cách của ông thật đa dạng. Ông vừa hàm súc với Bạch
Vân Am thi tập và các bài văn bia, vừa giản dị với Bạch Vân
quốc ngữ thi, vừa sâu sắc với những lời sấm truyền, lại vừa mộc mạc dân dã với
các giai thoại lưu truyền trong dân gian. Có thể hình dung ông là một nhà lý
học xuất thân nơi cửa Khổng sân Trình, một thời hết lòng trung quân ái dân: “Quân vương như hữu quang minh chúc/ Ủng
chiếu cùng lư bộ ốc dân” (Nếu nhà vua có bó đuốc sáng/ thì nên soi đến nơi
nhà nát xóm nghèo - Cảm ứng); lại từng ghé thăm căn nhà Lão Trang và dừng
bước chốn Thiền môn ít lâu rồi trở về sống giữa làng mạc đồng quê với những
người dân hiền lành tốt bụng, học lời ăn tiếng nói của họ và trở thành người
thầy, người bạn gần gũi của họ(13).
Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm sống mãi với thời gian, tài năng và
nhân cách cao đẹp để lại bài học lớn cho hậu thế, đúng như nhận định của Tiến
sĩ Vũ Khâm Lân: “Bởi tiên sinh chẳng
những chỉ tinh thông môn lý học, biết rõ dĩ vãng cũng như tương lai, mà sự thực
thì trăm đời sau cũng chưa dễ ai hơn được vậy. Ôi! Ở trong thiên hạ, các bậc
quân vương, các vị hiềngiả, hỏi có thiếu chi, nhưng chỉ có lúc sống thì được
phú quý vinh hoa, còn sau khi mất thì những cái đó lại cũng mai một đi với thời
gian, hỏi còn ai nhắc đến nữa? Còn như tiên sinh, nói về thế hệ đã truyền đến
7, 8 đời, gần thì sĩ phu dân thứ ngưỡng vọng như bóng sao Đẩu trên trời, dẫu
cách ngàn năm cũng còn tưởng như một buổi sớm, xa thì sứ giả Thanh triều tên
Chu Xán nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng đã có câu: “An Nam lý học hữu Trình
Tuyền” tức là công nhận môn lý học ở nước ta chỉ có Trình Tuyền là số một,
rồi chép vào sách truyền lại bên Tàu. Như thế đủ thấy tiên sinh quả là một
người rất mực của nước ta về thời trước vậy”(14).
------------
Chú thích:
(1), (12), (14) Vũ Khâm
Lân: Nguyễn công Văn Đạt phả ký trong sách Công dư tiệp
ký của Vũ Phương Đề. Theo bản dịch ở quyển Bạch Vân quốc ngữ thi
tập của Nguyễn Quân. Sống mới Sài Gòn xuất bản năm 1974; Phan
Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí Nxb Giáo Dục, H. 2007, T.1,
tr.447-451.
(2) Lại Nguyên Ân, Bùi
Văn Trọng Cường: Từ điển văn học Việt Nam, Nxb Giáo Dục, H. 1995,
T.1, Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (CB): Từ điển nhân vật lịch sử Việt
Nam, Nxb Giáo Dục, H. 2005.
(3) Xem: Chu Học Cần
(CB): Trung Hoa văn minh sử, Thượng Hải Từ thư xuất bản xã (2006),
(Quyển 3, chương 6: Nho học và sự phát triển mới về tôn giáo, Tiết
1: Sự phục hưng Nho học và cống hiến lý luận của lý học Tống Minh), tr.
514-521 (Trung văn).
(4), (5) Hợp tuyển
thơ văn Việt Nam, Nxb Văn học, 1976, T.1, tr. 657,658; 652,653.
(6) Thơ La Sơn phu
tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Sĩ Cẩn biên soạn. Nxb Nghệ An, 1998, tr.158-160.
(7) Xem thêm: Wikipedia
mục từ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
(8) Bùi Duy
Tân, Mấy vấn đề suy tưởng ngang qua sự nghiệp Trạng Trình trong
cuốn: Khảo và luận một số tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt
Nam, Nxb Giáo dục, H.1999, T1, tr.333-334.
(9) Xem: Thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn, Nxb Văn học,
H.1983.
(10) Bùi Duy
Tân, Thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm trong cuốn: Khảo và luận một
số tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Sách đã dẫn, tr.30, Thơ
văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, T.1, Bạch Vân quốc ngữ thi, Bùi Văn
Nguyên phiên âm, chú thích, giới thiệu, Nxb Giáo dục. H.1981.
(11) Đặng Vũ
Khiêu, Kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Những vấn đề khoa
học trong nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong cuốn Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Hội đồng lịch sử Hải Phòng, Viện Văn học, Hải Phòng, 1991.
(13) Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm tiêu biểu cho tư tưởng chung của giới Nho sĩ thời Mạc. Lúc này, Nho giáo tuy vẫn độc tôn nhưng cởi mở hơn, không còn cứng nhắc như thời Lê sơ. Phật giáo, Đạo giáo trỗi dậy khá mạnh tuy thời toàn thịnh tam giáo thịnh hành đã không còn nữa. Cũng cần nói thêm: Lý học Tống, Minh mà ông tiếp thu bấy giờ đã gồm cả tinh hoa Phật giáo Thiền tông và Đạo giáo chứ không thuần Nho nữa như đã nói trên!
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
- Đặng Xuân Xuyến
- Cảm nhận thơ văn 1l
- Đặng Xuân Xuyến
- Cảm nhận thơ văn 2l
Vài hình ảnh ngày khai trương Nhà sách VĂN HIẾN
CÔNG TY T.N.H.H VĂN HÓA BẢO THẮNG:
Trần Hải Sơn giới thiệu
Tác giả: Hồ Sĩ Hùy - nguồn: vietvanmoi
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét