VÀI TRAO ĐỔI VỚI
PHÓ GIÁO SƯ BÙI XUÂN ĐÍNH
VỀ TẾT ÔNG CÔNG ÔNG TÁO
1.
![]() |
| (Tác giả Thái Hạo) |
Sáng dậy đọc được bài viết của Phó Giáo sư Bùi Xuân Đính, ở đó ông
khẳng định rằng “ngày 23 tháng Chạp là
ngày Cúng Thần Bếp, thể hiện sự tôn vinh lửa, tôn vinh vai trò của người phụ nữ
trong việc "giữ lửa gia đình", cả nghĩa đen và nghĩa bóng, cầu mong
sự bình yên (bình yên về củi lửa, bếp núc và hòa thuận giữa các thành viên, cầu
sự no đủ cho gia đình) có từ thời xã hội mẫu hệ; không phải là "cúng Ông
Công Ông Táo", vì yếu tố này gắn với Đạo giáo Trung Quốc mới được truyền vào
Việt Nam sớm nhất chỉ vào thế kỷ I trước Công nguyên mà thôi”.
Vì thế, ông tỏ ra tiếc nuối và bất bình vì đến nay VTV và các nhà
khoa học vẫn gọi 23 tháng Chạp là ngày "Tết Ông Công Ông Táo”.
Xem bài của Phó Giáo sư Bùi Xuân Đính:
https://www.facebook.com/share/p/186Re7wWwC/
Tôi cũng giật mình vì nhận định này của thầy Đính. Vì từ nhỏ đến
nay tôi vẫn luôn nghe và thấy ông bà cha mẹ mình “cúng ông Công ông Táo”; trong khi chưa bao giờ nghe ai nói là “cúng thần bếp” cả. Mà tôi là "dân Trại" (Thanh Hóa), chứ không phải
"Kinh lộ" nhé!
Lý do nữa khiến tôi giật mình là lập luận sau đây của Phó Giáo sư
Bùi Xuân Đính: “Thực chất ngày 23 tháng
Chạp là ngày cúng thần bếp, liên quan đến tục thờ lửa và thờ Mẫu, tôn vinh phụ
nữ có công giữ lửa trong gia đình, có ở nhiều tộc người”. Và bằng chứng ông
đưa ra là “Tại các làng người Thổ - tộc
người có cùng nguồn gốc với người Việt và người Mường ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh
Nghệ An, đến năm 2013, tác giả khảo sát vẫn còn nhiều gia đình có bàn thờ thần
thần bếp treo ở tường gian giữa của bếp và ngày 23 tháng Chạp vẫn sửa lễ thắp
hương tại đây”.
Thế thì giải thích thế nào về việc, cũng người Mường (vì có nhiều
nhóm khác nhau như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động) nên có nơi
cúng [thần bếp] vào tháng Giêng, có nơi cúng khi thay bếp, có nơi gắn với vụ
mùa? Chỉ lấy một địa chỉ mà mình gặp đã cúng bếp vào ngày 23 tháng Chạp để
khẳng định rằng ngày đó đích thực phải là ngày cúng thần bếp thì chưa đủ cơ sở
khoa học; vì nó sẽ bị phủ định bởi hầu hết các trường hợp còn lại. Cứ theo suy
luận của Phó Giáo sư Đính, thì hiện nay hầu hết các tộc người thiểu số cũng
ăn/cúng Tết Nguyên Đán (mùng 1 tháng Giêng), vậy thì còn có thể kết luận chắc
chắn hơn nữa về nguồn gốc bản địa của tết Nguyên Đán này?!
Thêm nữa, việc thờ lửa chẳng phải của riêng một tộc người nào, mà
nó rất phổ biến trong văn hóa nguyên thủy. Cái quan trọng là không có bất kỳ
mối quan hệ nhân quả nào để suy ra là vì có thờ lửa/thần bếp nên ngày 23 tháng
Chạp phải là ngày thờ thần lửa/bếp.
Hàn Quốc cũng thờ thần bếp, Nhật Bản cũng có các vị thần bếp,
Triều Tiên, Mông Cổ, Lào, Thái, v.v., cũng thờ bếp, thờ lửa, nhưng không ấn
định ngày 23 tháng Chạp, mà theo mùa, theo vùng, theo gia đình. Nếu cứ theo suy
luận của Phó Giáo sư Bùi Xuân Đính, thì hễ thờ thần lửa/bếp thì đó là bản địa
thế thì cái bản địa Việt Nam khác gì với cái bản địa của những nước kia? Và lấy
cơ sở nào để quả quyết rằng ngày 23 tháng Chạp phải là ngày thờ lửa/bếp chứ
không phải là “ngày Ông Công Ông Táo”?
Phó Giáo sư Bùi Xuân Đính còn viết rằng, vì cúng Ông Công Ông Táo
“gắn với Đạo giáo Trung Quốc mới được
truyền vào Việt Nam sớm nhất chỉ vào thế kỷ I trước Công nguyên mà thôi”;
nghĩa là “tục thờ thần bếp của ta”
vào ngày 23 tháng Chạp là cổ xưa hơn nhiều. Nhưng xin hỏi, xã hội của Việt Nam
trước Công nguyên có lịch pháp với ngày tháng cụ thể ư? No!!
Xã hội nông nghiệp bản địa sơ kỳ như địa bàn Việt Nam trước Công
nguyên làm gì có lịch pháp như thế? Trong khi đó, ngày 23 tháng Chạp là một
ngày “lịch chế”, nghĩa là một cái mốc rất muộn gắn chặt với “lịch âm” của Hán. Mà muốn có ngày này,
phải có hệ thống lịch, phải có khái niệm “cuối
năm”, phải có chu kỳ hành chính – tôn giáo.
Người Việt đến thời Quang Trung – Nguyễn Huệ vẫn phải xin lịch
chính sóc của nhà Thanh. Tất nhiên, lịch này cơ bản như âm lịch mà ta đang dùng
và cũng không chỉ phục vụ cho nông nghiệp, mà còn là biểu hiện của quan hệ
chính trị; nhưng thực tế chứng minh rằng, người Việt không tự làm ra lịch sớm
đến nỗi trước Công nguyên đã tự có lịch cho mình và từ đó mà có ngày 23 tháng
Chạp để cúng thần bếp!
Nói cách khác, muốn có ngày 23 tháng Chạp thì phải có lịch chi
tiết; không có lịch thì lấy đâu ra ngày 23 tháng Chạp để mà cúng?
2.
Táo Quân là ai? Trong văn hóa Hán Táo Quân có lịch sử như thế nào?
Sách “Lịch sử văn hóa Trung Quốc” (nhiều tác giả - Trung Quốc) viết:
“Trong tế tự tiết nhật, đối
tượng rõ ràng nhất và cũng bất định nhất là ông Táo. Rõ ràng vì người được cúng
là Táo quân; còn bất định là vì Táo quân là ai, hiện đang có rất nhiều thuyết
khác nhau, chưa đi đến nhất trí. Thái bình ngự lãm nói: "Hoàng đế làm ra
Táo, khi chết, thành Táo thần". Hoài
nam tử - Phạm ứng huấn viết: "Viêm đế làm ra quan lửa, khi chết, thành Táo
(thần)". Trong Ngũ kinh dị nghĩa, Hứa Thận (Đông Hán) lại cho rằng Táo
thần là Chúc Dung, con của Chuyên Húc. Ba cách nói tuy khác nhau, nhưng tiết
nhật này đều bắt nguồn từ sùng bái lửa, ý nghĩa kỉ niệm về tác dụng quan trọng
của việc dùng lửa nấu chín thức ăn, trong quá trình phát triển của nhân loại,
là cực kì rõ ràng. Nhưng về sau, sự hội tụ của các nội dung hoạt động khác đã
dần dần nhấn chìm dấu ấn sùng bái tín ngưỡng này. Như Kinh sở tuế thời kí chú
rằng: Táo quân "Họ Tô, tên Cát Lợi và ông còn có vợ "Họ Vương, tên
Bác Giáp". Phong tục thông của Ứng Thiệu cho rằng Táo thần là một "bà
già". Sách Trang tử do Tư Mã Bưu chú thì nói: "Táo thần mặc áo đỏ,
trông như một mĩ nữ". Đến Đông Hán, lại sinh ra truyền thuyết Táo thần
giảng phúc, bảo vệ con cháu cho người, đưa Táo thần lên địa vị chủ của một nhà.
Còn việc "Đêm 30 Táo thần bay lên trời, tâu trình tội lỗi của con
người" được ghi trong Hoài Nam vạn tất thuật là mở ra tiền lệ Táo thần báo
cáo việc trần gian với Thiên đế. Điều này đã được ghi tỉ mỷ hơn trong Dậu dương
tạp từ - Nặc Cao kí thượng của Đoàn Thành Thức: "Táo thần tên là Quì, dáng
vẻ như mĩ nữ. Còn có họ Trương, tên Đơn, tự Từ Quách (còn thuyết nói tên là Nhưỡng
Tử): phu nhân tự là Khanh Kị, có 6 con gái, đều tên là Sát Hiệp. Ông thường lên
trời vào ngày 30 hàng tháng, tâu rõ tội ác của người trần". Ở đây nói rằng
mỗi tháng Táo thân lên trời một lần, nhưng về sau, do mọi người thấy tế tự
nhiều quá, không tiện, nên đã "giản hóa" dần, thành mỗi năm lên trời
một lần. Ngày 24 tháng Chạp (phương Bắc là ngày 23) mọi nhà đều "chuẩn bị
rau, canh, đậu để cúng Táo", dâng bánh giào nha (Vũng Ngô, Việt dùng mạch
nha trong cây trúc nhược) và bánh tạ bột gạo nhân đậu, để bịt miệng Táo quân
lại. Vì vậy mới có câu "Táo quân miệng đã bà, bốn mùa chẳng tai
ương". Khi tiến Táo quân, người ta đính một chiếc đèn lên, lấy một đôi đũa
cài ngang làm đòn, công kênh Tảo thân lên trời, rồi đốt đồ tiến ở ngoài cửa.
Khi đốt hết, lại phải đem tro đổ vào bếp, gọi là "tiếp nguyên bảo".
Sau đó, đem rơm rạ đã cắt thành từng đốt dài khoảng một tấc và đậu xanh rắc lên
mái nhà, để làm thức ăn cho ngựa của Táo thần, phần còn lại đem nấu để ăn, và
cho rằng như vậy có thể làm mắt sáng ra. Đến ngày 30 tháng Chạp, lại mua một
Táo thần mới, dán lên, coi như đã đón Táo thần về. Sau khi Phật giáo truyền
vào, hoạt động của tiết nhật này lại gộp thêm nội dung đốt Táo kinh do tăng ni
sao cho các thí chủ, ngoài cầu cúng, lại thêm sắc thái đuổi điềm xấu. Trong cả
hai nghi thức tiễn và đón Táo quân, phụ nữ trong nhà không được tham gia, nên
dân gian có câu: "Nam không vái trăng, nữ không tiễn Táo". (Nhiều
tác giả, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2000)
Đối sánh ta cũng thấy “Tết
ông Công Ông Táo” ở ta và ở Trung Quốc có khác nhau ít nhiều, nhưng cơ bản
vẫn giữ cái lõi “ông Táo lên trời”
vào ngày 23 (hoặc 24) tháng Chạp để tâu trình việc dưới nhân gian.
Phó Giáo sư Đính viết “nguồn
gốc và bản chất của Tết 23 tháng Chạp là tục cúng thần bếp, xuất hiện từ thời
kỳ chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn trong đời sống gia đình, xã hội
và cả quan hệ hôn nhân (lấy nhiều chồng/một bà hai ông)”. Nhưng, Việt Nam
có truyện này [Sự tích ba ông đầu rau] nhưng Trung Quốc, Chăm, Ấn Độ, v.v.,
cũng có (tuy khác nhau chút ít về chi tiết). Ở đây, đâu là tục thờ lửa/bếp, đâu
là những biểu hiện của sự thay đổi hình thái trong hôn nhân, cũng cần làm cho
rõ, chứ không thể suy diễn tùy ý. Thêm nữa, nói rằng “tục cúng thần bếp xuất hiện từ thời kỳ chế độ mẫu hệ” là đi quá xa
với thực tế văn bản, khi mà những người phụ nữ trong các câu chuyện này đều vì
lấy 2 chồng (vào 2 thời điểm khác nhau) mà phải chịu số phận bi thảm. Căn cứ
vào nội dung các câu chuyện thì phải nhận định ngược lại mới đúng: Đề cao chế
độ phụ hệ!
Khi Phó Giáo sư Đính gắn cả việc cúng 23 tháng Chạp cho việc “tôn vinh phụ nữ”, thì tôi thấy ông còn
đi xa hơn. Đây là việc dùng nhãn quan hiện đại để áp cho những thứ xa lạ với nó
trong quá khứ.
Ông còn đi xa hơn nữa khi trộn “nghiên cứu khoa học” với chuẩn mực ứng xử – đạo đức. Từ phân tích
lịch sử, Phó Giáo sư Đính đi đến chỗ kêu gọi không nên gọi “Tết ông Công ông Táo”, không nên cúng
thế này, mà phải nên làm thế kia. Đây là bước nhảy từ mô tả khoa học sang áp
đặt chuẩn mực văn hóa. Điều này không đảm bảo yêu cầu học thuật, vì nhà nghiên
cứu có thể phân tích, giải thích, nhưng không thể độc quyền định nghĩa “đúng –
sai” cho văn hóa đương đại. Ở đây ta thấy một sự “can thiệp xã hội”, không còn
thuần khoa học.
3.
Bài Tàu cũng được, tùy ý, nhưng thiết nghĩ phải trên cơ cở của các
cứ liệu, thành tựu nghiên cứu đa ngành và phương pháp khoa học, chứ không thể
chỉ căn cứ trên “lòng tự hào dân tộc”.
Cũng không khó hiểu khi chỉ sau 5 giờ đăng, bài của Phó Giáo sư
Bùi Xuân Đính đã có trên 10 nghìn like và gần 2 nghìn lần chia sẻ với cũng
chừng ấy bình luận tán thưởng. Đây là những con số mà khiến Phó Giáo sư Đính
cũng phải bất ngờ và phải lên thêm một cái tút nữa để nói về sự “choáng ngợp” ấy! Vì sao có sự “bùng nổ”
như thế? Vì có không ít người Việt trước nay còn cho rằng văn hóa Hán thực ra
là từ tổ tiên của mình (người Việt), do người Hán mang về mà mới có được văn
minh Hoa Hạ kia mà!
Vả lại, chúng ta cũng như nhiều nước Á Đông vốn chịu ảnh hưởng của
văn hóa Trung Quốc một cách sâu đậm; tuy nhiên không phải là phải xóa sạch
những dấu vết ấy thì mới phát triển và văn minh được. Nào là Thanh Minh, Đoan
Ngọ, Nguyên Đán, Trung Thu và bao nhiêu những thứ khác nữa, từ ngôn ngữ đến văn
hóa, chúng ta có thể và có cần phải xóa sạch không?
Không chỉ ảnh hưởng Trung Hóa, mà nay tết Dương lịch, ngày lễ
Halloween, giáng sinh…, mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu nhưng cũng đang ăn
sâu dần vào đời sống xã hội. Văn hóa không thể nói chuyện “nguyên thủy” như một
cái gì bất biến, vĩnh cửu. Vì tự trong bản thân nó luôn có sự vận động, biến
đổi, giao thoa, tiếp biến. Đi tìm cái gì “thuần Việt” bây giờ, e khó hơn hái
sao trên trời.
Còn nhiều vấn đề cần bàn nữa trong quan điểm của Phó Giáo sư Bùi
Xuân Đính, nhưng vì tôi cũng chỉ viết cho vui, chứ biết không thể “kìm hãm” cái
lòng tự hào tự tôn của mọi người, nên tạm dừng đã.
---------
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
- Các bài phê
bình, cảm nhận thơ0
- Các bài viết về
chăm sóc sức khỏe0
- Các bài viết về
Kiến thức cuộc sống0
- Các bài viết về
Chuyện làng văn0
Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc truyện ngắn
CHUYỆN CU TỐ LÀNG TÔI của Đặng Xuân Xuyến:
THÁI HẠO (tên thật: Lường Tú Tuấn)
Địa chỉ: Thôn Tào Sơn, xã Thanh
Thủy.
huyện Tĩnh
Gia, tỉnh Thanh Hóa.
.............................................................................................................
- Cập nhật theo nguyên bản Đinh Như Quang gửi ngày 14.02.2026.
- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Ảnh minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét