KHI KHÔNG GIAN LỄ HỘI BỊ BIẾN THÀNH SÂN KHẤU TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ Ở HOÀ BÌNH - Tác giả: Bùi Văn Định (Hòa Bình)

Leave a Comment

 


KHI KHÔNG GIAN LỄ HỘI

BỊ BIẾN THÀNH SÂN KHẤU

TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ Ở HOÀ BÌNH

 

(Tác giả Bùi Văn Định)

Trong những gần đây, đời sống lễ hội tại tỉnh Hòa Bình đang diễn ra một sự chuyển dịch đáng chú ý: từ những thực hành văn hoá gắn với cộng đồng bản địa sang những hình thức trình diễn mang tính dàn dựng, phục vụ mục tiêu quảng bá và báo cáo thành tích. Sự chuyển dịch này không diễn ra một cách tự nhiên từ bên trong đời sống văn hoá, mà chủ yếu xuất phát từ các can thiệp hành chính và tư duy phát triển nhanh, dẫn đến một hiện tượng có thể gọi là “biến dạng lễ hội”, nơi mà hình thức lấn át nội dung và bản sắc bị thay thế bằng những hình ảnh vay mượn.

Trong truyền thống, lễ hội của các cộng đồng ở Hòa Bình, đặc biệt trong không gian văn hoá Mường, là những thực hành sống động gắn liền với chu kỳ nông nghiệp, tín ngưỡng bản địa và cấu trúc xã hội cụ thể. Lễ hội không tồn tại như một “sự kiện” tách rời, mà là một phần của đời sống, nơi con người giao tiếp với thần linh, với tổ tiên và với nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nhiều lễ hội mới được tạo ra hoặc được gọi là “khôi phục” lại mang dáng dấp của một chương trình sân khấu: có kịch bản, có đạo diễn, có âm thanh ánh sáng và các tiết mục biểu diễn được sắp đặt. Điều này cho thấy lễ hội đang bị chuyển từ trạng thái “di sản sống” sang “sản phẩm trình diễn”.

Một biểu hiện rõ nét của xu hướng này là việc tổ chức các nghi lễ vốn không thuộc về không gian văn hoá địa phương, tiêu biểu như lễ cầu ngư được đưa vào khu vực Hồ Hòa Bình. Về bản chất, cầu ngư là nghi lễ của cư dân ven biển, gắn với nghề đánh bắt hải sản và hệ tín ngưỡng thờ cá Ông, phản ánh một thế giới quan hình thành qua nhiều thế hệ đối diện với biển cả. Trong khi đó, Hồ Hòa Bình là một không gian nhân tạo, nghề cá tại đây mới phát triển trong thời gian tương đối ngắn và chủ yếu là nuôi trồng thuỷ sản. Việc đưa cầu ngư vào bối cảnh này vì vậy không phải là sự kế thừa, mà là một sự mô phỏng mang tính hình thức. Khi nghi lễ bị tách khỏi nền tảng sinh kế và tín ngưỡng, nó mất đi ý nghĩa nội tại và trở thành một màn trình diễn nhằm tạo ấn tượng thị giác.

Song song với đó là hiện tượng “khôi phục nhầm” văn hoá, thể hiện qua việc áp đặt các yếu tố của văn hoá Mường vào những địa bàn không có nền tảng tương ứng. Trường hợp Lễ hội Chùa Hang thuộc xã Yên Tri-Yên Thuỷ-Hoà Bình là một ví dụ điển hình. Tại đây, việc đưa hình ảnh phụ nữ mặc trang phục Mường và đánh chiêng vào lễ hội không chỉ là một sự sáng tạo đơn thuần, mà là một sự quy gán sai lệch về không gian văn hoá. Điều đáng nói không nằm ở việc phụ nữ có thể đánh chiêng hay không, mà ở chỗ yếu tố đó không thuộc về truyền thống phụ nữ mặc váy Mường và sử dụng dàn chiêng của cộng đồng tại Yên Trị. Khi một yếu tố văn hoá bị đặt vào một không gian không có lịch sử của nó, nó không còn là di sản, mà trở thành một đạo cụ.

Một biến dạng sâu sắc hơn diễn ra khi không gian tâm linh bị chuyển đổi chức năng. Trong truyền thống của Phật giáo, chùa là nơi tĩnh lặng, nơi con người tìm đến để chiêm nghiệm và tu tập. Tuy nhiên, khi bị “lễ hội hoá”, không gian này lại trở nên ồn ào, đông đúc và mang tính trình diễn. Âm thanh, sân khấu và các tiết mục văn nghệ làm thay đổi hoàn toàn trải nghiệm của người tham gia, biến việc đi chùa từ một hành vi tâm linh thành một hoạt động mang tính giải trí. Đây không chỉ là sự thay đổi về hình thức, mà là một quá trình giải thiêng, làm mất đi chiều sâu tinh thần của không gian tôn giáo.

Chi tiết rất đáng chú ý là các bộ trang phục phụ nữ Mường được đưa vào trình diễn trong nhiều lễ hội lại có xu hướng giống nhau một cách đáng ngạc nhiên ở tất cả mọi nơi của Hoà Bình. Váy áo, hoa văn, cách phối màu, kiểu dáng… đều được chuẩn hoá theo một mẫu gần như thống nhất, tạo ra một hình ảnh “Mường” mang tính biểu tượng sân khấu hơn là phản ánh thực tế văn hoá. Trong khi đó, trên thực tế, trang phục phụ nữ Mường có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng, giữa các mường như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng hay Mường Động, không chỉ về hoa văn mà còn về cấu trúc và ý nghĩa sử dụng. Sự đa dạng này là một phần quan trọng của bản sắc, nhưng lại bị làm phẳng trong quá trình trình diễn. Khi tất cả bị quy về một mẫu chung, văn hoá không còn là một hệ thống sống với nhiều biến thể, mà trở thành một “bộ nhận diện” đơn giản hoá, dễ trình bày nhưng sai lệch.

Những hiện tượng trên không phải là ngẫu nhiên, mà có nguyên nhân sâu xa từ cách thức quản trị và đánh giá hoạt động văn hoá. Trong nhiều trường hợp, lễ hội được tổ chức nhằm đáp ứng các mục tiêu ngắn hạn như quảng bá hình ảnh, tạo không khí sôi động và đặc biệt là phục vụ báo cáo thành tích. Thành công của một lễ hội thường được đo bằng quy mô, số lượng người tham dự và mức độ truyền thông, thay vì những chỉ số thực chất như trải nghiệm của du khách, lợi ích của cộng đồng hay sự bảo tồn giá trị văn hoá. Chính cách đánh giá này đã khuyến khích việc “sản xuất lễ hội” một cách nhanh chóng, trong khi bỏ qua quá trình nghiên cứu và tích luỹ văn hoá.

Điểm đáng suy nghĩ là dù trong bối cảnh điều chỉnh hành chính khi Hòa Bình đã sáp nhập vào Phú Thọ, các hình thức lễ hội mang tính trình diễn và những nghi thức “nhân tạo” này vẫn tiếp tục xuất hiện ở nhiều địa phương. Điều đó cho thấy đây không phải là hiện tượng mang tính thời điểm, mà đã trở thành một xu hướng quản trị văn hoá có tính hệ thống. Việc thay đổi đơn vị hành chính không kéo theo sự điều chỉnh trong cách tiếp cận văn hoá; ngược lại, các mô hình lễ hội dàn dựng vẫn được nhân rộng như một “công thức sẵn có”.

Hệ quả là một nghịch lý đáng suy nghĩ: trong khi Hòa Bình sở hữu những tài nguyên nhân văn phong phú như văn hoá Mường đa dạng, không gian sông Đà đặc sắc và đời sống bản địa giàu tính nguyên bản, thì nhiều hoạt động lại không khai thác những giá trị đó, mà đi vay mượn từ những không gian văn hoá khác hoặc đơn giản hoá chúng thành những hình ảnh dễ trình diễn. Việc này không chỉ làm sai lệch nhận thức về văn hoá địa phương, mà còn khiến chính bản sắc bị mờ nhạt, khi mọi nơi đều trở nên giống nhau trong các “kịch bản lễ hội”.

Về lâu dài, nếu xu hướng này tiếp diễn, lễ hội sẽ không còn là nơi bảo tồn và tái tạo văn hoá, mà trở thành một dạng sản xuất hình ảnh phục vụ mục tiêu ngắn hạn. Văn hoá khi đó không còn là cái được sống, mà là cái được diễn; không còn là ký ức cộng đồng, mà là sản phẩm sân khấu. Và khi bản sắc bị thay thế bằng những hình thức vay mượn hoặc chuẩn hoá, thì cái mất đi không chỉ là sự chính xác, mà là chính nền tảng của đời sống văn hoá địa phương.

Có thể nói, vấn đề không nằm ở việc có nên tổ chức lễ hội mới hay không, mà nằm ở cách thức tổ chức và nền tảng mà nó dựa vào. Một lễ hội chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó xuất phát từ đời sống của cộng đồng, phản ánh đúng không gian văn hoá của nó và tôn trọng chức năng nguyên bản của các thiết chế như chùa chiền hay tín ngưỡng dân gian. Ngược lại, mọi sự lắp ghép hình thức, dù được dàn dựng công phu đến đâu, cũng chỉ tạo ra một lớp vỏ bề ngoài, không đủ sức thay thế cho một nền văn hoá sống.

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Các bài viết về khoa Tử Vi0

- Các bài viết về khoa Phong Thủy0

- Các bài viết về khoa Tướng thuật0

- Các bài viết về Tín ngưỡng0

- Các bài phê bình, cảm nhận thơ0

- Các bài viết về Biên khảo0

- Các bài viết về chăm sóc sức khỏe0

- Các bài viết về Kiến thức cuộc sống0

- Các bài viết về Chuyện làng văn0

 

Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ TRÒ ĐỜI:

*.

BÙI VĂN ĐỊNH

(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình)

Địa chỉ: Chung cư Dạ Hợp 12 tầng, Tân Thịnh,

thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Email: buidinhhb1@gmail.com

Điện thoại: 091 539 65 47

.

 

 

 

 

  ........................................................................................

- Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi ngày 17 tháng 03 năm 2026.

- Ảnh sử dụng minh họa trong bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến. 

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại. 

0 comments:

Đăng nhận xét