GIẢI ĐOÁN VỀ ĐẠI TIỂU HẠN
Trên bước đường nghiên cứu và học hỏi về tử vi, tôi có thể nói
rằng việc giải đoán vận hạn khó khăn, phức tạp nhất vì ta phải cân nhắc và phối
hợp quá nhiều yếu tố, mặc dù trong nhiều sách số có bàn tới khía cạnh này nhưng
tôi rất tiếc là hơi tổng quát và không được rõ rang. Thực vậy, nếu cứ tra trong
sách thì đại tiểu hạn gặp sao này bị nạn, gặp sao kia phát tài, hoặc đại hạn
nhiều sao tốt hơn là sao xấu là tốt, hoặc đại hạn xấu mà tiểu hạn tốt cũng
không hay…v.v…..như thế chúng ta làm sao có thể đi tới kết luận và như thế cũng
quá giản dị, dễ dàng và thiếu linh động, uyển chuyển, trái hẳn với tinh thần tử
vi
Vì vậy tôi cố gắng thử triển khai cách giải đoán đại tiểu hạn (trong
bài này tôi không đề cập tới nguyệt và nhật hạn vì đi quá sâu vào chi tiết rất
khó khăn, dễ sai lầm và dễ bị thất vọng) nhưng sẽ bỏ qua những nguyên tắc
thường được các sách nêu ra cho khỏi rườm
1/ ĐẠI HẠN:
Nếu so sánh với tiểu hạn thì đại hạn dễ giải đoán hơn nhiều vì đại
hạn bao trùm chu kỳ 10 năm, do đó tổng quát hơn và nhất là các đại hạn không
bao giờ giống nhau vì ở đại hạn ở 1 cung không trùng nhau như tiểu hạn (tiểu
hạn cứ 12 năm lại trở về cung trước). Tuy nhiên khi so sánh với cách giải đoán
tổng quát Mệnh – Thân thì đại hạn vẫn khó tìm hiểu vô cùng.
Nói chung, khi giải đoán đại hạn, quý bạn nên lưu tâm tới những
điểm sau (theo thứ tự):
- Tương quan giữa các sao hoặc các cách (nhất là chính tinh) của
Mệnh, Thân với các sao hoặc các cách của đại hạn
- Tương quan giữa ngũ hành của bản mạng (hoặc cục) và ngũ hành của
cung nhập đại hạn
- Ảnh hưởng sớm hoặc trễ của các sao Nam đẩu hoặc Bắc đẩu
- Phối hợp cung Phúc với đại hạn
- Phối hợp cung liên hệ đến hoàn cảnh xảy ra trong đại hạn (nếu
cần)
- Lẽ tất nhiên quý bạn phải xem xét tới ý nghĩa tốt xấu của các
sao mà tôi không nêu ra vì các sách đã có bàn tới, ngoài những nguyên tắc nêu
trên
Bây giờ xin đưa ra những ví dụ cụ thể để quý bạn hiểu rõ các
nguyên tắc tổng quát liệt kê trên đây:
Sau khi đã nhận định về ý nghĩa tốt xấu của các sao nhập đại hạn,
quý bạn cần xem sao hoặc nhóm sao của Mệnh (nếu chưa quá 30 tuổi) hoặc Thân
(nếu trên 30 tuổi) có hợp với các sao nhập đại hạn không. Đây là điểm quan
trọng nhất mà nhiều người biết tử vi thường hay bỏ qua. Thực thế, có khi cách
hoặc sao nhập hạn rất hay mà vẫn chẳng tốt hoặc chẳng ứng nghiệm, chỉ vì không
hợp với cách của Mệnh Thân. Ví dụ như: Mệnh hoặc Thân có cách Sát Phá Liêm Tham
mà cung nhập hạn có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thì không sao dung hòa với nhau
được và do đó cuộc sống phải gặp nhiều khó khăn, trở ngại, mâu thuẫn, đối kháng
dù cho Cơ Lương đắc địa Thìn Tuất chăng nữa. Còn như Mệnh Thân có cách Tử Phủ
Vũ Tướng mà hạn gặp Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nhất định là hay rồi với điều kiện
đừng có Không Kiếp lâm vào vì Tử Phủ rất kị 2 sao này, dù gặp gián tiếp. Ngoài
ra, còn cần phải xem ngũ hành của chính tinh tọa thủ tại cung nhập hạn (nếu
có). Ví dụ như Mệnh có Tham Lang thuộc Thủy, nếu đại hạn có Tử Phủ Dần Thân thì
vẫn xấu như thương vì Tử Phủ thuộc Thổ khắc với chính tinh Tham Lang
Điểm quan trọng thứ nhì là phải xem xét ngũ hạnh của Mạng (nếu
chưa quá 30t) hoặc của Cục (nếu quá 30 tuổi) có hợp với ngũ hành của chính tinh
và của cung nhập hạn hay không. Hay nhất là được cung và sao sinh bản mạng hoặc
Cục (tùy theo trường hợp). Hoặc nếu không, phải tương hòa, nghĩa là cùng 1 hành
(có nhà tử vi lại cho rằng cùng 1 hành là thuận lợi nhất). Còn trường hợp sinh
xuất, tức là mạng sinh sao hoặc cung nhập hạn, và khắc nhập, tức là sao hoặc
cung khắc mạng, thì đều xấu cả. Riêng trường hợp khắc xuất tuy cũng vất vả
nhưng mình vẫn khắc phục được hoàn cảnh, và do đó chưa hẳn là xấu. Ví dụ Mạng
của mình là Thủy đi đến đại hạn có Cự Kị, Không Kiếp cũng chẳng hề gì, nếu có
xảy ra cũng chỉ sơ qua. Trong khi đó, nếu mình mạng Hỏa hoặc Kim thì đương
nhiên dễ bị hiểm nghèo về họa nước. Hoặc là mạng mình Kim, đi đến cung nhập hạn
có Vũ Khúc hội Song Lộc, Tử Phủ…thì làm gì không giàu có. Trong khi mạng Mộc
thì có khi khổ vì tiền
Về ảnh hưởng sớm trễ của chính tinh, chắc quý bạn đều biết là Nam
Đẩu tinh ứng về 5 năm sau của Đại hạn, còn Bắc đẩu tinh ứng về 5 năm trước. Tuy
vậy vẫn có bạn chưa hiểu phải áp dụng giải đoán như thế nào. Tôi xin đơn cử 1
thí dụ: Mạng có Đào Hoa, Mộc Dục, Hoa Cái, đại hạn có Tham Lang, Riêu Hồng, Kình,
Hình thì gần như chắc chắn trong 5 năm đầu đương số sống 1 giai đoạn rất lả
lướt, bay bướm vì Tham Lang (Bắc đẩu) cũng như cái đầu tàu lôi kéo tất cả các
sao phụ kia, nhưng với điều kiện đương số phải mạng Thủy, Mộc hoặc Kim mới ứng
nghiệm nhiều, vì Tham Lang thuộc Thủy hợp với ngũ hành trên. Nếu chính tinh
nhập hạn là Thiên Lương (Nam đẩu) thì các nhóm sao phụ đó lại phải hoạt động
chậm lại theo với ảnh hưởng của chính tinh, tuy nhiên cuộc sống không bừa bãi
bằng Tham Lang nhập hạn vì dù sao Thiên Lương vẫn là sao đứng đắn, đàng hoàng
hơn (trừ trường hợp Thiên Lương cư Tị, hợi mới xấu)
Nhiều khi phối hợp Mệnh Thân với đại hạn cũng chưa đủ. Quý bạn còn
cần xét đến cung Phúc và đừng bao giờ nên quan niệm cung Phúc chỉ biểu tượng
đơn thuần về âm đức của ông cha để lại hoặc của chính mình tạo ra hoặc mối liên
hệ tinh thần của cả dòng nội của mình vì thực ra cung Phúc Đức có thể được coi
như cung Mệnh thứ nhì, đôi khi còn quan trọng và ảnh hưởng hơn. Có nhiều nhà tử
vi chỉ xét riêng cung Phúc đức mà có thể tìm ra được khá nhiều nét về cuộc sống
tinh thần cũng như vật chất của mọi người, nhất là trong trường hợp mệnh, than
không có đủ yếu tố nhận định rõ rang hoặc bị coi như là “nhược” khiến cho ta
không thể bám víu mà đoán. Ví dụ như 1 người có tả Hữu, Đào hồng chiếu Thê và
cung mệnh có Riêu Mộc Cái hội chiếu thì đương nhiên có lòng tà dâm, dễ có nhiều
vợ, nhưng nếu cung Phúc có Vũ Khúc Cô Quả, Lộc Tồn thì dù có gặp đại hạn có yếu
tố đa tình, lả lướt chăng nữa cũng khó chung sống them với 1 người đàn bà nào khác
1 cách chính thứ, chỉ có thể giỡn chơi trong 1 thời gian ngắn là cùng
Điểm sau chót quý bạn nên lưu tâm là cung liên hệ đến hoàn cảnh
xảy ra hoặc cần giải đoán trong đại hạn. Trong phần nguyên tắc tổng quát nêu
trên, tôi có nói là nếu cần thì mới xét tới vì khi mình giải đoán chung vận hạn
thì ít khi phải nhận định khía cạnh này, chỉ trừ khi nào cần biết 1 điểm riêng
biệt nào mới phải ngó tới cung liên hệ. Ví dụ như đương số đã có vợ hoặc chồng
mà cần biết về đường con cái trong đại hạn đương diễn tiến thì ngoài các điểm
cần phối hợp nêu trên, ta phải quan tâm đến cung tử tức (tức là cung liên hệ
đến hoàn cảnh) trước đại hạn. Nếu cung Tử tức quá hiếm hoi, như có Đẩu quân, Cô
Quả, Kình Đà, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Không Kiếp chẳng hạn thì dù cho đại hạn đó có đủ
Đào hồng hỉ, Thai, Nhật Nguyệt đắc địa, Long Phượng cũng chưa chắc gì sẽ sinh
con đẻ cái đầy đặn hoặc may mắn về công danh, tiền tài. Còn nếu gặp trường hợp
cung Tử tức không bị các sao hiếm mà lại còn có Tả Hữu chiếu thì đại hạn trên
sẽ sinh liên tiếp, có khi năm 1 không chừng
2. TIỂU HẠN
Bàn về tiểu hạn (tức là vận hạn trong 1 năm) quý bạn sẽ thấy khó
khăn, phức tạp hơn đại hạn nhiều vì phải phối hợp với nhiều yếu tố hơn. Tôi bất
giác thương hại các thầy tử vi hành nghề cứ phải giải đoán cấp kỳ theo như yêu
cầu của than chủ, vì dù cho các thầy có giỏi đến đâu cũng không thể kết hợp
được đúng mức, sau có 1 vài phút đồng hồ, nhất là khi phải bấm trên tay (trường
hợp thiếu thị giác) và như thế làm sao chính xác được. Ngay cả khi rảnh rang,
cứ ngồi mà cân nhắc, kết hợp cũng chưa chắc đã giải đoán được chính xác vì yếu
tố này bổ túc hoặc chế hóa yếu tố khác thì ta đi đến kết luận nào. Do đó, dù có
được biết đủ các nguyên tắc để giải đoán tiểu hạn, việc đoán cao thấp tùy thuộc
óc kết hợp, nhận định tinh vi của người giải đoán.
Nếu đặt vấn đề nguyên tắc thì tiểu hạn tạm căn cứ vào các điểm sau
(mà 1 vài điểm theo quy tắc đã được các sách nêu ra):
- Tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn
- Tương quan giữa ngũ hành bản mạng với các chính tinh (nếu có) và
cung nhập hạn
- Tương quan giữa lưu đại hạn, địa bàn và thiên bàn
- Tương quan giữa ngũ hành của năm nhập hạn với cung và sao nhập
hạn
- Các phi tinh (tức là các sao lưu) ngoài ý nghĩa xấu tốt của các
chính tinh và phụ tinh mà các sách thường nêu ra
Dưới đây tôi xin triển khai các điểm ghi trên để các bạn hiểu rõ
ràng:
a. Khi xét đến tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn là đương nhiên
ta đã tìm hiểu kỹ đại hạn theo các nguyên tắc đã nêu ra. Tôi có thể nói mối
tương quan này rất quan trọng, cũng như mối tương quan giữa đại và tiểu hạn nên
ta không bao giờ giải đoán 2 tiểu hạn giống nhau mặc dù 12 năm lại trở lại 1
cung, tức là cùng các sao và ngũ hành. Riêng mục này tôi xin đưa ra nhiều ví dụ
vì mục này rất quan trọng:
- Ví dụ đầu tiên là các sao bao giờ cũng phải có đủ bộ mới làm nên
chuyện hoặc mới hoạt động. Chẳng hạn như đại hạn có Thái Tuế, Bạch hổ, Quan
phù, Không Kiếp, Khốc Hư thường chỉ đoán tranh chấp, kiện cáo, khẩu thiệt. Khi
tiểu hạn có Cô Quả, Kình Đà, hình, Linh Hỏa thì dễ bị tai họa….(không thể nhìn
thấy chữ)… nếu không có không sao. Tiểu hạn đó vẫn chẳng tai hại gì, có thể chỉ
bị đau yếu sơ qua, hoặc bị xa gia đình….
- Đó là bàn về chuyện xấu, còn về việc làm ăn thịnh vượng thì nếu
đại hạn có Vũ khúc, Thiên Phủ hợp mệnh mà tiểu hạn có Song Lộc thì đương nhiên
làm ăn phát tài, dễ dàng. Hoặc giả đại hạn có tử vi cư Ngọ (nhất là có Quan Lộc
hoặc Tài Bạch đứng ở đó) hợp Mệnh mà tiểu hạn có Khôi Việt, Thai Tọa, Tả Hữu,
Long Phương, Đào hồng Hỉ, Xương Khúc… thì dễ có chức phận lớn, dễ chỉ huy hoặc
kinh doanh quy mô
- Nếu thấy các sao nhập Đại và tiểu hạn họp thành bộ rồi, cần phải
xét xem các chính tinh (không bao giờ xét đến phụ tinh) của đại hạn có phù hợp
hoặc đối kháng với các chính tinh của tiểu hạn hay không. Nếu đại hạn có Cơ
Nguyệt Đồng Lương thì tiểu hạn cần có Cự Nhật hoặc Tử Phủ Vũ Tướng chứ không
nên có Sát Phá Tham…Về điểm này, quý bạn nên xem phần tiểu luận trong sách Tử
Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng đầy đủ và dễ hiểu. Vì thế,
tiểu hạn tốt cũng chưa chắc ăn mấy
- Nếu chú ý về cá nhân mình thì cần đại hạn tốt đi vào 1 trong
những cung liên hệ trực tiếp đế mình thời tiểu hạn mới xứng ý (như cung Tài,
Quan, Di, Điền, Phúc). Ví dụ mình muốn làm ăn, kinh doanh lớn mà đại hạn còn ở
cung phụ mẫu hoặc cung Tử tức thì dù cho tiểu hạn có tốt vẫn chưa phát huy được
đúng mức, nhất định là phải chờ Đại hạn chuyển sang cung tài bạch (nhưng nếu
xui xẻo, gặp cung Tài xấu thì cũng như vô vọng) mới hanh thông được
- Sau hết tôi xin nêu ra 1 trường hợp rất khó đoán: đương số mạng
Tham Lang cư Thì, tức là tổng quát là lả lướt và đào hoa, cung Thê có Đào hồng,
Tả Hữu chiếu tức là có sự lựa chọn, mai mối nhiều và đại hạn lại đi tới cung
Thê, như thế là đủ hết các yếu tố đi tới hôn nhân. Do đó các thầy tử vi đều
đoán đương số lấy vợ ở các tiểu hạn có Đào hồng Hỉ, tả Hữu, Xương Khúc….nhưng
ai ngờ đương số lại lập gia đình trong tiểu hạn có Cô Quả, Tang Hổ, Nhật Nguyệt
hãm hội Hóa Kị và lại không ngó thấy đại ha5hn ở cung Thê (vì thông thường các
nhà tử vi hay lựa tiểu hạn hội chiếu với cung Phối hoặc trùng phùng ngay vào
cung Phối để đoán hôn nhân). Tuy trường hợp này hơi kỳ lạ nhưng nếu suy luận 1
chút là thấy hợp lý vì theo nguyên tắc “tồn hữu dư, bổ bất túc” trong Dịch học,
ta thấy các yếu tố về hôn nhân quá nhiều (tức là dư) thì cần phải có sao tiết
giảm như Cô Quả, tang hổ Kị thời con thuyền mới có bến đậu được, chứ không
“trăm mối tối nằm không”, nhất là tiểu hạn lại vào cung Giải Ách, tức là tránh
né, không nhìn thấy cung Phối là cung đại hạn đi tới để khỏi chịu ảnh hưởng quá
mạnh của các sao Hỉ. Điều may là trường hợp này ít khi xảy ra hoặc ít khi gặp
nên quý bạn cũng đừng quá hoang mang, cứ đoán như thường lệ.
b. Thường thường, đoán tử vi ai cũng thích các chính tinh sinh bản
mệnh. Điều này chưa hẳn đã hay hoàn toàn vì nếu gặp chính tinh như Phá Quân
hoặc Tham Lang nhập hạn và mạng mình có Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nên lựa mạng
khắc 2 sao này hơn là được 2 sao này sinh (lẽ dĩ nhiên 2 sao này khắc mạng là
điều tối kị) vì bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương không ưa 2 chính tinh này nên tốt hơn
hết là mời 2 sao đó đi chỗ khác, tức là trường hợp mình có mạng khắc 2 sao này.
Ngay cả trường hợp mệnh mình có bộ sao chế ngự được Tham Phá (như bộ Tử Phủ Vũ
Tướng Liêm chẳng hạn) cũng không nên liên hệt đến 2 sao này vì dù sao chúng
cũng chủ về tham vọng, ích kỷ, phá tán, bừa bãi, trừ khi đương số là loại người
thích đi vào con đường đó thì không kể. Còn như chính tinh nhập hạn như Tử Phủ,
Đồng Lương…..bao giờ cũng cần sinh bản mạng hoặc ít ra cùng 1 hành với mạng, dù
cho đại hạn có bộ sao đối kháng với các sao tiểu hạn
Về tương quan giữa ngũ hành bản mạng với cung nhập hạn thì bao giờ
cung sinh bản mạng cũng tốt đẹp, thuận lợi hoặc nếu được tương hòa thì vẫn hay,
chỉ ngại nhất cung khắc bản mạng, còn như mạng sinh cung hoặc khắc cung cũng có
khi dung được tuy không phải là hay. Ví dụ như hạn đến cung Tử tức có các sao
tốt nếu sinh được cung tức là mình lo được cho con cái thành công hoặc đầy
đủ,chứng tỏ mình có phương tiện, tuy mình phải vất vả 1 chút vì con cái nhưng
nếu cung Tử tức xấu thì đương nhiên là mình khổ vì con (hoặc vì chúng đau yếu,
chết non, hay cao bồi, du đãng mình vẫn thương yêu chúng). Còn gặp trường hợp
khắc cung cũng vậy, có khi hay mà có khi dở, nếu gặp tiểu hạn đi tới cung Nô
bộc thì lại hay vì mình khắc phục được người dưới quyền hoặc hoàn cảnh. Còn như
tiểu hạn đi tới cung Phụ Mẫu thì mình hay bất hòa với cha mẹ (nếu cung phụ mẫu
xấu quá có thể mình phải xa cách cha mẹ…Những điểm trên đây quý bạn có thể áp
dụng cho cả đại hạn
c. Về vấn đề lưu đại hạn, Địa bàn (tức là tiểu hạn theo vị trí cố
định của các cung, như năm nay Quý Sửu, xem địa bàn ở cung Sửu) và Thiên bàn
(tức tiểu hạn theo hàng chi an ở ô giữa lá số), tôi thấy không quan trọng lắm
vì thật ra chỉ xét kỹ cung Thiên bàn là đủ và đỡ rắc rối quá mức. Chỉ trừ khi
nào ta thấy Thiên bàn quá xấu hoặc k rõ chút nào mới cần kết hợp them lưu đại
hạn và Địa bàn để xem có yếu tố gì cứu giải hoặc soi sang them không. Về cách
lưu đại hạn trong cuốn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên có ghi rõ rồi
d. Về ngũ hành của hàng can năm nhập hạn ảnh hưởng tới tiểu hạn
nhiều hay ít thì cụ Song An Đỗ Văn Lưu khi còn sinh tiền có cho tôi hay là rất
quan trọng. Cụ có nêu 1 ví dụ cho dễ hiểu như sau: 1 người mạng Kim có Cự Kị
thủ mệnh, đại hạn có Không Kiếp, tả Hữu, Sát Phá Tham (tức là hạn trúc La) đã
chết đuối trong tiểu hạn năm Nhâm Thân vì chữ Nhâm là Thủy và cung nhập hạn
cũng là Thủy, trong khi đó mạng Kim lại sinh Thủy, cho nến nước quá nhiều, Kim
phải chìm lỉm. Suy ra những trường hợp khác cũng dễ: ví dụ tiểu hạn đến cung
Điền có Tang hỏa và nhiều sao Hỏa nếu gặp năm Nhâm hoặc Quý thì vẫn không đáng
ngại về hỏa hoạn vì đã được thủy dập tắt rồi. Như vậy, mục (d) này quý bạn cũng
không nên bỏ qua khi đoán tiểu hạn, và đây cũng là 1 điểm cho thấy là 2 tiểu
hạn cùng 1 cung đã có sự khác biệt
e. Phần chót là về các phi tinh (sao lưu). Tôi thấy các phi tinh
không quan trọng lắm, chỉ là để xác định them 1 chút những yếu tố đã tìm rra.
Ví dụ như biết hạn xấu rồi thì nếu có thêm lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố
định đồng cung ta có thể tin chắc là nguy nan. Nếu tiểu hạn tốt thì dù có 2 sao
này cũng chẳng hề hấn gì. Cũng có nhà tử vi căn cứ vào vòng trường sinh (lưu)
để tìm ra vận hạn cho những người liên hệ trực tiếp với mình (như cha, mẹ, vợ,
con…) nhưng tôi thấy chưa có gì chính xác và hợp lý nên xin miễn bàn trong mục
này
Qua những điều tôi trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy việc giải
đoán vận hạn rất rắc rối, khó khăn, có thể làm ta chán nản vì không biết đúc
kết các yếu tố tìm ra thế nào, do đó dễ bị sai lầm. Nhiều khi ta đành phải chờ
sự việc xảy ra mới thấy rõ cái hay của tử vi, và vì thế tôi thấy học tử vi
không gì hay bằng việc chiêm nghiệm thật nhiều lá số mà mình đã theo dõi. Chứ
nếu chỉ cố học thuộc các câu phú hoặc nguyên tắc giải đoán thì chẳng bao giờ có
thể giải đoán được vững vàng.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
- Các bài phê
bình, cảm nhận thơ0
- Các bài viết về
chăm sóc sức khỏe0
- Các bài viết về
Kiến thức cuộc sống0
- Các bài viết về
Chuyện làng văn0
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến bàn về
Ý NGHĨA CỦA BÀN TAY CHỮ NHẤT:
Đào Anh Dũng giới thiệu
Tác giả: Phong Nguyên - Nguồn: facebook
Ảnh minh họa sưu tầm từ nguồn: internet
Bài viết là quan điểm riêng của các tác giả.


0 comments:
Đăng nhận xét