KÝ ỨC NHỮNG PHIÊN CHỢ NHO QUAN - Tác giả: Bùi Văn Định (Hòa Bình)

Leave a Comment

 


          KÝ ỨC NHỮNG PHIÊN CHỢ NHO QUAN

 

(Tác giả Bùi Văn Định)

Nhắc đến Nho Quan, trong tôi không chỉ hiện lên một địa danh, mà là cả một miền ký ức gắn với những buổi chợ phiên từ thuở ấu thơ. Đó là những ngày mà thời gian dường như bắt đầu sớm hơn bình thường, khi trời còn mờ sương và kết thúc cũng nhanh hơn, trước khi cái nắng trưa kịp đổ lửa xuống những con đường đất.

Tôi không nhớ chính xác mình bắt đầu theo mẹ đi chợ từ khi nào, chỉ áng chừng vào khoảng mười hay mười một tuổi. Những buổi sáng như thế, mẹ gọi tôi dậy từ khoảng bốn giờ sáng. Ngoài trời vẫn còn tối, không gian yên tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng bước chân người trong làng lục tục bước đi. Đòn gánh tre đã được sắp sẵn từ tối hôm trước, hai đầu là hai thúng khoai sọ đã sắp sẵn. Tôi theo mẹ bước ra đường, nhập vào dòng người đang hướng về chợ. Vừa háo hức đi chợ, nhưng cũng vẫn còn ngái ngủ.

Người trong làng thường hẹn nhau giờ đi. Không ai bảo ai, nhưng cứ đến giờ là gặp nhau ở đầu xóm rồi cùng đi. Đi cùng để đỡ mệt, để trò chuyện, và cũng là một cách nương tựa nhau trên quãng đường còn tối. Những bước chân đều đều, tiếng quang gánh kẽo kẹt, tiếng gọi nhau khe khẽ, tất cả tạo nên một nhịp điệu riêng của làng quê.

Trên quãng đường đi trong bóng tối ấy có những ký ức mà tôi không thể nào quên. Có một lần, khi đi đến đoạn đường đê gọi là đường Máng, nơi giáp ranh giữa Nho Quan và xã Ngọc Lương, trời vẫn còn tối mịt. Bỗng tôi nhìn thấy những con đom đóm cùng những đốm lân tinh bay lơ lửng sát mặt đất, cách chỗ chúng tôi chừng mười mét. Ánh sáng chập chờn, khi ẩn khi hiện, khiến khung cảnh trở nên vừa huyền ảo, vừa rờn rợn. Mẹ tôi cùng mấy bà đi cùng nhìn theo rồi kháo nhau đó là ma trơi. Nghe vậy, tôi sợ xanh mặt, vội chạy nép vào người lớn, không dám nhìn nữa.

Khi gần đến Nho Quan, cảnh người từ các ngả đường đổ dồn về chợ khiến tôi choáng ngợp. Người đi gánh, người đi bộ, người dắt theo hàng hoá, tất cả như hội tụ về một điểm, đông chưa từng thấy. Về sau này, tôi đi nhiều nơi cũng không còn thấy phiên chợ nào đông như chợ quê tôi ngày ấy. Trong cái mờ tối của buổi sớm, tôi lần đầu tiên nghe thấy tiếng ểnh ương kêu vang. Tiếng thì rất to, mà nhìn quanh chỉ thấy cây cối rậm rạp, không thấy nó ở đâu. Cũng là lần đầu tôi nhìn thấy những con ngựa thồ buộc ở ven chợ sau khi chở hàng cho chủ đến nơi. Mẹ tôi khẽ nhắc: đứng xa nó ra, không nó đá hai vó sau là nguy hiểm lắm đấy con.

Hồi ấy, làm gì có dép hay giày. Tất cả đều đi chân đất. Lúc đi, đất còn mát do sương đêm chưa tan, bàn chân chạm vào mặt đường thấy dễ chịu. Nhưng đến khi tan chợ, trời đã gần trưa, nắng bắt đầu gắt. Con đường về trở nên nóng rát, mỗi bước đi như chạm vào lửa. Cái cảm giác bỏng chân ấy đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ, vừa đau, vừa mệt, nhưng vẫn phải bước tiếp.

Chợ Nho Quan khi ấy đông lắm. Không chỉ người trong vùng mà còn có người từ Hòa Bình và Thanh Hóa đổ về. Chợ họp theo phiên, 2, 6, 12, 16, 22, 26 hàng tháng. Mới tờ mờ sáng đã có người, và đến khoảng mười giờ là chợ bắt đầu tan. Nhịp chợ gắn chặt với nhịp sống nông nghiệp, bán xong là phải về còn kịp việc đồng áng.

Đó cũng là thời mà hệ thống tem phiếu còn chi phối đời sống. Các cửa hàng hợp tác xã, bách hoá tổng hợp chỉ bán những thứ phân phối theo định mức. Vì thế, chợ phiên trở thành nơi quan trọng để người dân mua bán những thứ thiết yếu mà ngoài kia không có. Không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá, chợ còn là con đường gần như duy nhất để người nông dân có được tiền mặt. Muốn có tiền, họ phải mang chính những thứ mình làm ra, từ củ khoai, mớ rau, con gà, ra chợ bán, rồi từ đó mới có thể mua được những thứ thiết yếu như mắm, muối hay vài bộ quần áo cho cả một gia đình đông người.

Nhưng với một đứa trẻ như tôi khi ấy, chợ không chỉ là nơi buôn bán. Đó là một thế giới khác, ồn ào hơn, nhiều màu sắc hơn, và đầy hấp dẫn. Tôi nhớ rõ nhất không phải là mẹ bán được bao nhiêu khoai, mà là những lúc gần trưa, khi bụng đói cồn cào. Khi ấy, mẹ thường cho tôi ăn một cái bánh rán, hay đôi khi là bát phở ở cửa hàng ăn uống phố Dương.

Bát phở khi ấy đơn giản lắm, chỉ có hai miếng mỡ. Nhưng không hiểu sao lại ngon đến thế. Có lẽ vì lúc ấy tôi vừa đói, vừa mệt sau cả buổi sáng theo mẹ gánh hàng, lại vừa háo hức vì được đi chợ. Cái ngon không chỉ nằm ở vị, mà nằm ở cả hoàn cảnh, ở cảm giác được thưởng một thứ gì đó sau bao nhiêu chờ đợi.

Đến khoảng mười giờ, chợ vãn dần. Người bán, người mua lần lượt ra về.

Con đường về không còn đông như lúc đi. Ai bán xong thì tạt vào mua thêm vài thứ cần thiết, ai xong việc sớm thì lặng lẽ ra về trước, mỗi người một nhịp. Không còn tiếng gọi rao, không còn cảnh chen chúc tấp nập, chỉ còn cái nắng trưa bắt đầu gay gắt và những gánh hàng đã vơi đi. Tôi theo mẹ trở về làng, chân bắt đầu rát bỏng, nhưng trong lòng vẫn thấy một niềm vui âm ỉ khó gọi thành tên.

Lớn lên thêm một chút, tôi chơi thân với một anh bạn cùng tuổi, gần nhà, rất lanh lợi và có máu làm ăn. Cậu ấy biết đủ thứ việc và luôn nghĩ ra cách kiếm tiền. Một ngày, cậu rủ tôi vào rừng vầu nhặt mo nang đem ra chợ bán. Khi thì lấy thêm lá dong, khi thì kiếm những thứ sẵn có trong rừng. Tất cả lại được hai đứa gánh ra chợ Nho Quan.

Hai đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi đi bộ cả quãng đường gần mười cây số. Trưa về, trời nóng như đổ lửa, khát khô cổ. Có lúc mệt quá, vừa bước đi mà cảm giác cảnh vật xung quanh như đứng im, không còn chuyển động nữa. Về đến làng Tích, chúng tôi ghé vào một nhà người quen xin bát nước uống.

Thế mà, giữa lúc gần trưa, người ta lại mời chè xanh, thứ nước uống quen thuộc ở vùng này. Quê tôi người lại không uống thứ này, vì thế nó trở nên khó nuốt. Tôi chỉ muốn oẹ ra. Hai đứa vừa uống vừa méo mặt, rồi ra ngoài vừa cười vừa tán chuyện với nhau: hình như bà chủ nhà vừa cho lợn ăn xong, chưa kịp rửa tay, đã bốc chè vò ngay, nên nước còn có cả mùi cám lợn. Nghĩ lại mà vừa buồn cười, vừa thấy cái thời ấy sao mà thật thà, giản dị đến thế…

Giờ đây, khi mọi thứ đã thay đổi, đường sá tốt hơn, chợ búa hiện đại hơn, hàng hoá phong phú hơn, thì những phiên chợ như thế dường như đã lùi xa. Nhưng ký ức về những buổi sáng mờ sương, những con đường đất nóng rát, những gánh hàng nặng trĩu, và những câu chuyện dọc đường vẫn còn nguyên vẹn.

Đó không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn là ký ức của một thời, khi chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá, mà còn là nơi kết nối con người, nuôi dưỡng những niềm vui giản dị, và in sâu vào tâm trí những đứa trẻ lớn lên từ làng quê như tôi.

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Các bài viết về khoa Tử Vi0

- Các bài viết về khoa Phong Thủy0

- Các bài viết về khoa Tướng thuật0

- Các bài viết về Tín ngưỡng0

- Các bài phê bình, cảm nhận thơ0

- Các bài viết về Biên khảo0

- Các bài viết về chăm sóc sức khỏe0

- Các bài viết về Kiến thức cuộc sống0

- Các bài viết về Chuyện làng văn0

 

Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc

truyện ngắn "CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ của Đặng Xuân Xuyến:

*.

BÙI VĂN ĐỊNH

(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình)

Địa chỉ: Chung cư Dạ Hợp 12 tầng, Tân Thịnh,

thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Email: buidinhhb1@gmail.com

Điện thoại: 091 539 65 47

.

 

 

 

 

  ........................................................................................

- Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi ngày 25 tháng 03 năm 2026.

- Ảnh sử dụng minh họa trong bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến. 

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.


0 comments:

Đăng nhận xét