KÝ ỨC NHỮNG PHIÊN CHỢ NHO QUAN
Nhắc đến Nho Quan, trong tôi không chỉ hiện lên một địa danh, mà
là cả một miền ký ức gắn với những buổi chợ phiên từ thuở ấu thơ. Đó là những
ngày mà thời gian dường như bắt đầu sớm hơn bình thường, khi trời còn mờ sương
và kết thúc cũng nhanh hơn, trước khi cái nắng trưa kịp đổ lửa xuống những con
đường đất.
Tôi không nhớ chính xác mình bắt đầu theo mẹ đi chợ từ khi nào,
chỉ áng chừng vào khoảng mười hay mười một tuổi. Những buổi sáng như thế, mẹ
gọi tôi dậy từ khoảng bốn giờ sáng. Ngoài trời vẫn còn tối, không gian yên tĩnh
đến mức có thể nghe rõ tiếng bước chân người trong làng lục tục bước đi. Đòn gánh
tre đã được sắp sẵn từ tối hôm trước, hai đầu là hai thúng khoai sọ đã sắp sẵn.
Tôi theo mẹ bước ra đường, nhập vào dòng người đang hướng về chợ. Vừa háo hức
đi chợ, nhưng cũng vẫn còn ngái ngủ.
Người trong làng thường hẹn nhau giờ đi. Không ai bảo ai, nhưng
cứ đến giờ là gặp nhau ở đầu xóm rồi cùng đi. Đi cùng để đỡ mệt, để trò chuyện,
và cũng là một cách nương tựa nhau trên quãng đường còn tối. Những bước chân
đều đều, tiếng quang gánh kẽo kẹt, tiếng gọi nhau khe khẽ, tất cả tạo nên một
nhịp điệu riêng của làng quê.
Trên quãng đường đi trong bóng tối ấy có những ký ức mà tôi
không thể nào quên. Có một lần, khi đi đến đoạn đường đê gọi là đường Máng, nơi
giáp ranh giữa Nho Quan và xã Ngọc Lương, trời vẫn còn tối mịt. Bỗng tôi nhìn
thấy những con đom đóm cùng những đốm lân tinh bay lơ lửng sát mặt đất, cách
chỗ chúng tôi chừng mười mét. Ánh sáng chập chờn, khi ẩn khi hiện, khiến khung
cảnh trở nên vừa huyền ảo, vừa rờn rợn. Mẹ tôi cùng mấy bà đi cùng nhìn theo
rồi kháo nhau đó là ma trơi. Nghe vậy, tôi sợ xanh mặt, vội chạy nép vào người
lớn, không dám nhìn nữa.
Khi gần đến Nho Quan, cảnh người từ các ngả đường đổ dồn về chợ
khiến tôi choáng ngợp. Người đi gánh, người đi bộ, người dắt theo hàng hoá, tất
cả như hội tụ về một điểm, đông chưa từng thấy. Về sau này, tôi đi nhiều nơi
cũng không còn thấy phiên chợ nào đông như chợ quê tôi ngày ấy. Trong cái mờ
tối của buổi sớm, tôi lần đầu tiên nghe thấy tiếng ểnh ương kêu vang. Tiếng thì
rất to, mà nhìn quanh chỉ thấy cây cối rậm rạp, không thấy nó ở đâu. Cũng là
lần đầu tôi nhìn thấy những con ngựa thồ buộc ở ven chợ sau khi chở hàng cho
chủ đến nơi. Mẹ tôi khẽ nhắc: đứng xa nó ra, không nó đá hai vó sau là nguy
hiểm lắm đấy con.
Hồi ấy, làm gì có dép hay giày. Tất cả đều đi chân đất. Lúc đi,
đất còn mát do sương đêm chưa tan, bàn chân chạm vào mặt đường thấy dễ chịu.
Nhưng đến khi tan chợ, trời đã gần trưa, nắng bắt đầu gắt. Con đường về trở nên
nóng rát, mỗi bước đi như chạm vào lửa. Cái cảm giác bỏng chân ấy đến giờ tôi
vẫn còn nhớ rõ, vừa đau, vừa mệt, nhưng vẫn phải bước tiếp.
Chợ Nho Quan khi ấy đông lắm. Không chỉ người trong vùng mà còn
có người từ Hòa Bình và Thanh Hóa đổ về. Chợ họp theo phiên, 2, 6, 12, 16, 22,
26 hàng tháng. Mới tờ mờ sáng đã có người, và đến khoảng mười giờ là chợ bắt
đầu tan. Nhịp chợ gắn chặt với nhịp sống nông nghiệp, bán xong là phải về còn
kịp việc đồng áng.
Đó cũng là thời mà hệ thống tem phiếu còn chi phối đời sống. Các
cửa hàng hợp tác xã, bách hoá tổng hợp chỉ bán những thứ phân phối theo định
mức. Vì thế, chợ phiên trở thành nơi quan trọng để người dân mua bán những thứ
thiết yếu mà ngoài kia không có. Không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá, chợ còn là
con đường gần như duy nhất để người nông dân có được tiền mặt. Muốn có tiền, họ
phải mang chính những thứ mình làm ra, từ củ khoai, mớ rau, con gà, ra chợ bán,
rồi từ đó mới có thể mua được những thứ thiết yếu như mắm, muối hay vài bộ quần
áo cho cả một gia đình đông người.
Nhưng với một đứa trẻ như tôi khi ấy, chợ không chỉ là nơi buôn
bán. Đó là một thế giới khác, ồn ào hơn, nhiều màu sắc hơn, và đầy hấp dẫn. Tôi
nhớ rõ nhất không phải là mẹ bán được bao nhiêu khoai, mà là những lúc gần
trưa, khi bụng đói cồn cào. Khi ấy, mẹ thường cho tôi ăn một cái bánh rán, hay
đôi khi là bát phở ở cửa hàng ăn uống phố Dương.
Bát phở khi ấy đơn giản lắm, chỉ có hai miếng mỡ. Nhưng không
hiểu sao lại ngon đến thế. Có lẽ vì lúc ấy tôi vừa đói, vừa mệt sau cả buổi
sáng theo mẹ gánh hàng, lại vừa háo hức vì được đi chợ. Cái ngon không chỉ nằm
ở vị, mà nằm ở cả hoàn cảnh, ở cảm giác được thưởng một thứ gì đó sau bao nhiêu
chờ đợi.
Đến khoảng mười giờ, chợ vãn dần. Người bán, người mua lần lượt
ra về.
Con đường về không còn đông như lúc đi. Ai bán xong thì tạt vào
mua thêm vài thứ cần thiết, ai xong việc sớm thì lặng lẽ ra về trước, mỗi người
một nhịp. Không còn tiếng gọi rao, không còn cảnh chen chúc tấp nập, chỉ còn
cái nắng trưa bắt đầu gay gắt và những gánh hàng đã vơi đi. Tôi theo mẹ trở về
làng, chân bắt đầu rát bỏng, nhưng trong lòng vẫn thấy một niềm vui âm ỉ khó
gọi thành tên.
Lớn lên thêm một chút, tôi chơi thân với một anh bạn cùng tuổi,
gần nhà, rất lanh lợi và có máu làm ăn. Cậu ấy biết đủ thứ việc và luôn nghĩ ra
cách kiếm tiền. Một ngày, cậu rủ tôi vào rừng vầu nhặt mo nang đem ra chợ bán.
Khi thì lấy thêm lá dong, khi thì kiếm những thứ sẵn có trong rừng. Tất cả lại
được hai đứa gánh ra chợ Nho Quan.
Hai đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi đi bộ cả quãng đường gần mười
cây số. Trưa về, trời nóng như đổ lửa, khát khô cổ. Có lúc mệt quá, vừa bước đi
mà cảm giác cảnh vật xung quanh như đứng im, không còn chuyển động nữa. Về đến
làng Tích, chúng tôi ghé vào một nhà người quen xin bát nước uống.
Thế mà, giữa lúc gần trưa, người ta lại mời chè xanh, thứ nước
uống quen thuộc ở vùng này. Quê tôi người lại không uống thứ này, vì thế nó trở
nên khó nuốt. Tôi chỉ muốn oẹ ra. Hai đứa vừa uống vừa méo mặt, rồi ra ngoài
vừa cười vừa tán chuyện với nhau: hình như bà chủ nhà vừa cho lợn ăn xong, chưa
kịp rửa tay, đã bốc chè vò ngay, nên nước còn có cả mùi cám lợn. Nghĩ lại mà
vừa buồn cười, vừa thấy cái thời ấy sao mà thật thà, giản dị đến thế…
Giờ đây, khi mọi thứ đã thay đổi, đường sá tốt hơn, chợ búa hiện
đại hơn, hàng hoá phong phú hơn, thì những phiên chợ như thế dường như đã lùi
xa. Nhưng ký ức về những buổi sáng mờ sương, những con đường đất nóng rát,
những gánh hàng nặng trĩu, và những câu chuyện dọc đường vẫn còn nguyên vẹn.
Đó không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn là ký ức của một thời, khi
chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá, mà còn là nơi kết nối con người, nuôi
dưỡng những niềm vui giản dị, và in sâu vào tâm trí những đứa trẻ lớn lên từ
làng quê như tôi.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về
khoa Phong Thủy0
- Các bài viết về
khoa Tướng thuật0
- Các bài phê
bình, cảm nhận thơ0
- Các bài viết về
chăm sóc sức khỏe0
- Các bài viết về
Kiến thức cuộc sống0
- Các bài viết về
Chuyện làng văn0
Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc
truyện ngắn "CÔ" SƯỚNG CƯỚI VỢ của Đặng Xuân Xuyến:
*.
BÙI VĂN ĐỊNH
(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình)
Địa chỉ: Chung cư Dạ Hợp
12 tầng, Tân Thịnh,
thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Email: buidinhhb1@gmail.com
Điện thoại: 091 539 65 47
.
........................................................................................
- Cập nhật theo nguyên
bản tác giả gửi ngày 25 tháng 03 năm 2026.
- Ảnh sử dụng minh họa
trong bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể
hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét