LÂM CHƯƠNG: CHIẾN
TRANH,
TÙ ĐẦY, NỖI ÁM ẢNH
TỪ TÂM HỒN ĐẾN THƠ VĂN
Tôi đã đọc khá nhiều trang văn của cả hai phía (Bắc-Nam) viết về
chiến tranh, và hậu chiến với những năm tháng dài tù tội. Song đến nay, cùng
với Phạm Tín An Ninh, Thảo Trường, hay Nguyên Vũ… thì người lính Lâm Chương
cũng là một nhà văn cho tôi rất nhiều cảm xúc khi đọc. Sự rung động ấy, không
hẳn giọng văn trào phúng, mỉa mai với tiếng cười đớn đau, mà bởi cái giá trị
hiện thực và nhân đạo ở truyện ngắn, văn xuôi Lâm Chương mang đến cho người
đọc. Hai giá trị cơ bản của văn học, nhưng không phải ai cũng viết dân dã mà
sinh động, sâu sắc được như Lâm Chương. Cũng như Phạm Tín An Ninh, một đặc điểm
nổi bật nữa của Lâm Chương lối hành văn, câu cú rất chuẩn mực, sáng và đẹp. Một
sự ngẫu nhiên, thú vị hai nhà văn người lính (Phạm Tín An Ninh và Lâm Chương)
trạc tuổi cùng xuất thân từ trường trung học Nha Trang. Ở đó, cả hai bác nhà
văn này đều cho thế hệ sau nhiều kinh nghiệm viết văn quý báu.
Lâm Chương sinh năm 1942 tại Tây Ninh. Tuổi
thơ cơ cực, ông trôi dạt qua nhiều miền đất lạ. Và Nha Trang là điểm dừng chân
cuối. Nơi đưa Lâm Chương bước đầu đến với thi ca, ngay từ khi còn ngồi trên ghế
nhà trường. Sau khi đậu tú tài, Lâm Chương nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ quan Thủ
Đức, phục vụ trong binh chủng Biệt động quân. Với 10 năm cầm súng, và 10 năm tù
đày nơi núi rừng Hoàng Liên Sơn (sau 1975). Năm 1987 Lâm Chương vượt biển. Hiện
nay ông sống và viết tại Boston, Hoa Kỳ.
Tuy đến với thơ văn sớm, song Lâm Chương viết không nhiều. Tập
thơ đầu: Loài cây nhớ gió, được Nhà xuất bản Khai Phá in ấn, phát hành vào năm
1971. Với thời gian cầm súng nơi chiến trường rồi đến tù đày dài đằng đẵng như
vậy, thì dường như thi ca quá chật chội để chứa đựng nỗi ám ảnh dày vò ngày
càng lớn lên trong lòng nhà thơ, người lính. Và chỉ có văn xuôi mới có thể
chuyển tải hết nỗi đau, sự ám ảnh ấy trong tâm hồn Lâm Chương chăng? Nên chỉ
sau mấy năm vượt thoát khỏi chốn lưu đày, Lâm Chương đã viết, và cho ấn hành
một loạt truyện ngắn, tùy bút văn xuôi: Đoạn đường Hốt Tất Liệt (Tập truyện
1998) Lò Cừ (Tập truyện, 2000) Đi giữa bầy thú dữ (Tập truyện 2001) Truyện ngắn
– Đoản văn (2004) với giọng điệu mới lạ, đem đến bất ngờ, thú vị cho người đọc.
Từ nguyên nhân đó, cho ta thấy, buổi ban đầu thi ca đã đưa Lâm
Chương đến với làng văn, song văn xuôi, truyện ngắn mới thực sự đóng tên tuổi
Lâm Chương vào Văn học Việt, và trong lòng người đọc. Vì vậy, trong khuôn khổ
bài viết này, tôi chú trọng đi sâu hơn vào văn xuôi Lâm Chương, kể từ khi ông
mặc áo lính.
* Tâm trạng người lính, tình đồng đội nơi chiến trường.
Bước chân vào quân trường, Lâm Chương đã có tư tưởng, suy nghĩ
thật rõ ràng: "Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, theo nó thì bị nó ăn
nuốt, cưỡng lại thì bị nó chà đạp. Đàng nào cũng chết, chỉ có điều chết trước
hay sau mà thôi".
Bởi vậy, cầm súng ra trận là nghĩa vụ bắt buộc đối với Lâm
Chương. Từ sự bi quan, chán chường ấy, Lâm Chương đã cho ta thấy con đường đen
tối, bế tắc của đất nước, thân phận hẩm hiu của người lính ở thời điểm đó.
Đá Dựng, là một bài thơ ngũ ngôn như vậy. Đây cũng là bài thơ
hay, điển hình của Lâm Chương viết về tâm trạng người lính nơi trận tiền. Đá
Dựng được ông viết ngay nơi chiến trường sặc mùi đạn bom, vào năm 1970, lúc
chiến tranh chuyển sang cục diện căng thẳng nhất. Bởi vậy, khi đọc ta thấy hiện
thực vẫn còn sống động và nóng bỏng, dù thời gian đã lùi xa trên nửa thế kỷ:
“…ngày ngồi trên đống
lửa
đêm nằm dưới vực sâu
nỗi khốn cùng vây bủa
còn mãi thế này sao?
giận đời không nói được
bất mãn chỉ ngậm cười
va đầu vào gỗ đá
cho lòng đỡ tức
thời…”
(Đá dựng)
Nếu sự tàn khốc của chiến tranh, thân phận người lính trong thơ
Trạch Gầm hiện lên một cách khách quan, trần trụi:
“Cũng nơi đây ta đắp mồ
cho bạn/ Vừa quay lưng xác bạn lại bật tung/ Mỗi thước đất cài trăm ngàn mảnh
đạn/ Ta, sống nhăn, hóa kiếp gọi anh hùng”. (Trở lại Bình Long-Trạch
Gầm) thì vẫn sự tàn khốc đó, Lâm Chương đi sâu vào miêu tả diễn biến nội
tâm người lính. Tuy không cho người đọc sởn gai ốc như Trạch Gầm, song thơ văn
Lâm Chương làm cho người đọc ám ảnh đến khôn cùng. Thật vậy, sự bế tắc, với
những hình ảnh cô đơn u tối này trong Đêm Phục Kích của Lâm Chương đưa tâm
trạng, sự ám ảnh của chính nhà thơ, người lính hay người đọc gần hơn với nỗi
chết:
“đêm nằm giữa chốn u
minh
nghe con nước lớn nghe
mình lạnh run
nghe đi những bước vong
hồn
nghe hoang thổ dậy,
nghe lòng xót xa”
(Đêm phục kích)
Chắc chắn, tôi chưa thể tìm và đọc hết Lâm Chương, nhưng nếu
buộc phải chọn tác phẩm hay viết về chiến trường khói lửa (đã đọc), có lẽ với
tôi là: Sóc Con Trăng.
Một tác phẩm văn xuôi toàn bích nhất của ông. Có một điều đặc
biệt, dường như truyện nào Lâm Chương cũng sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ
nhất. Với đặc điểm này, truyện của ông hấp dẫn, có tính chân thực hơn, làm cho
người đọc tưởng chừng tác giả đã trộn truyện ngắn, bút ký, ký sự…vào với nhau
vậy. Cũng như thơ, văn xuôi Lâm Chương thường đi sâu vào khám phá diễn biến tâm
lý nhân vật (người lính) hơn khi miêu tả bức tranh toàn cảnh cảnh nơi chiến
trường. Tuy không ngùn ngụt khói lửa, nhưng dường như sự tàn khốc, nỗi ám ảnh
cứ như ghim vào hồn người đọc vậy. Và đoạn trích dưới đây chứng minh cho ta
thấy điều đó:
“Trước kháng tuyến, từng
đợt, từng đợt xung phong. Tôi bắn như điên khùng…Tôi lo phòng tuyến bị vỡ. Theo
kế hoạch dự trù, khi đối phương tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay
trên đầu, đạn nổ cao, cách mặt đất mười lăm thước. Miểng pháo tạt xuống. Mà
miểng pháo thì đâu có phân biệt bạn thù… Trước sau gì, cũng bỏ mạng trên ngọn
đồi này. Mồ hôi tôi ướt mặt. Bị đẩy tới đường cùng rồi. Tôi bắn, Tôi ném lựu
đạn. Tôi thở dồn dập. Tôi cắn răng. Hình như tôi có gào thét những tiếng vô nghĩa
gì đó. Tao chết, thì mày cũng phải chết. Thiên địa đêm nay nhập lại. Bạn thù
chung cuộc tử sinh”. (Sóc con trăng)
Gian nan, nguy hiểm là vậy, nhưng tình đồng đội vẫn đầy ăm ắp
trên trang văn Lâm Chương. Nếu ta đã đọc Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ, hay
Chuyện Người Lính Trinh Sát của Phạm Tín An Ninh, thì mới cảm nhận hết giá trị
tình đồng đội trên chiến trường qua ngòi bút chân thực của Lâm Chương:
"Nếu mày kể cho má
mày nghe cảnh này, dù mày muốn trở lại, bả cũng níu áo không cho mày đi.
- Em không đào ngũ, vì
thương những người trong trung đội mình…Hôm trước, bị pháo kích. Chạy về hố
không kịp, em chui đại xuống hố trung sĩ Nẫm, tiểu đội trưởng của em. Cái nón
sắt em bị văng mất. Anh Nẫm chụp cái nón sắt của ảnh lên đầu em, đè em nằm xuống.
Còn ảnh đầu trần, ngồi phía ngoài. Trong trung đội, ai cũng lo cho em. Mọi
người đều có tình. Em không nỡ đi luôn." (Sóc con trăng)
Ở đó, không chỉ có tình đồng đội, mà còn có lòng nhân ái, bao
dung với sự cảm thông sâu sắc đã làm nên hồn vía văn thơ Lâm Chương. Thật vậy,
nỗi sợ hãi của người lính lần đầu ra trận dẫn đến tự hủy một phần cơ thể. Nếu
không có tấm lòng bao dung, sự cảm thông của người trung đội trưởng, thì chắc
chắn người lính trẻ này sẽ bị dính vào quân kỷ, lao lý. Tôi đã đọc khá nhiều
trang văn viết về chiến tranh, nhưng chi tiết, hình ảnh này của Lâm Chương
dường như lần đầu bắt gặp. Và nó đã gây cho tôi một cảm xúc thật bất ngờ khi
đọc:
“Tôi cười mũi: "Tao
xem vết thương, biết chắc mày rút ngòi nổ ra khỏi quả lựu đạn, kẹp ngòi nổ giữa
hai ngón chân, và cho kích hỏa."… "Thiếu úy ơi... Trong lúc quẫn trí,
em làm chuyện điên rồ..." Nó nói trong nước mắt. Tôi thông cảm với nó.
Chính tôi, lúc bất mãn cũng muốn đào ngũ. Nhưng bất mãn ai? Tất cả chúng tôi
đều là nạn nhân, cớ gì mà bất mãn nhau? Những kẻ mưu đồ thế lực gây nên chiến
tranh, không có mặt ở nơi này… Khi trực thăng tải thương đáp xuống, nó nói:
"Em đi. Thiếu úy và anh em ở lại bình yên." Tôi nói: "Ðược rồi.
Mày về yên trí. Tao không hại mày đâu. Mày sẽ giải ngũ, và được lãnh tiền do bị
thương ngoài mặt trận." (Sóc con trăng)
Trong khi nhiều nhà văn đi sâu vào miêu tả khí phách, sự can
trường của người lính, thì dường như ngòi bút Lâm Chương vẽ nên bức tranh hiện
thực về sự lo lắng, run sợ của người lính trước bom đạn, trước cái chết, khi ra
trận. Không hề lên gân, đao to búa lớn, có thể nói, Lâm Chương miêu tả một cách
chân thực nhất về tâm lý chung của con người:
“tôi thấy mọi người đang
lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn,
phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên”. (Định Số).
Với giọng văn trào phúng, mỉa mai, có lẽ Lâm Chương không chỉ
làm cho người đọc phải bật ra tiếng cười đồng cảm, sẻ chia với người lính, mà
ông còn muốn làm dịu nhẹ đi sự tàn khốc đạn bom trên trang viết của mình chăng?
Đây cũng là một trong những thủ pháp nghệ thuật góp phần làm nên hồn vía văn
thơ Lâm Chương:
“Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ
hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công…Vừa la, tôi
vừa bắn và nhào lên. Lính trong trung đội thấy tôi xung phong một cách anh
dũng, cũng đứng dậy bắn, đồng loạt hô: “Xung phong” và tràn lên chiếm bìa rừng.
Nhiều anh em đồng đội ngã xuống giữa khoảng đường ngắn ngủi nhưng thập tử nhất
sinh này… ông già tiểu đoàn trưởng ca ngợi tôi không tiếc lời: “Tao đứng từ xa,
quan sát trận địa bằng ống dòm, thấy trung đội của mày chơi mạnh và đẹp như một
mũi nhọn đầu tiên thọc vào hông địch...” (Định số)
Chiến tranh và thân phận con người thật rẻ mạt. Bởi vậy, ngòi
bút của Lâm Chương luôn đứng về lẽ phải, về khổ đau, dù là những người lính ở
bên kia chiến tuyến. Nhưng nỗi đau, và cây bút của ông thực sự bất lực trước sự
tàn nhẫn của những kẻ gây nên cuộc chiến này. Và dù thời gian có xóa đi hoàn
toàn dấu tích (của những nấm mồ tập thể kia) thì nỗi ám ảnh vẫn hằn sâu trong
tâm hồn người lính, nhà văn Lâm Chương. Vì vậy, đọc đoạn văn dưới đây, có lẽ ai
cũng phải sụt sùi đớn đau, và oán hận:
“Lúc họ đi khỏi, thì trực
thăng "đại lực sĩ ngựa trời" câu hai chiếc xe ủi đất màu vàng, đem
đến Sóc Con Trăng. Một chiếc ủi những cái hố dài, sát bìa rừng. Chiếc khác, ủi
xác người hất xuống hố. Họ rải lên xác một lớp bột sát trùng màu trắng, và lấp
lại. Hai chiếc xe ủi chạy tới chạy lui, nện bằng mặt đất. Thời gian sẽ làm cỏ
tranh mọc cao lên trên những nấm mồ tập thể. Như những cái nền nhà cũ của một
thời xa xăm, đã hoàn toàn mất dấu” (Sóc con trăng)
Nơi chiến trường sặc mùi tử khí, rừng còn loang vết cháy đạn
bom, tĩnh tâm trở lại ta vẫn tìm thấy những đoạn có lời văn đẹp, sinh động như
một bài thơ của Lâm Chương. Ở đó, sự liên tưởng, so sánh độc đáo, sâu sắc giữa
thiên nhiên và thân phận con người của nhà văn thật day dứt, và cảm động:
“Sớm mai. Ðứng trên đồi
nhìn ra bìa rừng. Vẫn thấy sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, che khuất ngàn
cây. Mặt trời lên. Sương tan. Cảnh vật hiện ra rõ nét. Một vạt rừng bị cháy
nám. Nhiều nơi cây cối xác xơ gãy đổ. Thiên nhiên bao giờ cũng im lìm, và tự
làm lành những vết thương. Chỉ có con người, khi đã mất mát thì không thể nào
tìm lại được sự bù đắp”. (Sóc con trăng)
Có thể nói, đề tài chiến tranh và người lính quan trọng bậc nhất
trong sự nghiệp sáng tạo của Lâm Chương. Đọc ông, ta không chỉ thấy được toàn
cục nơi chiến trường, mà còn hiểu được tâm trạng (hay diễn biến tâm lý) của
người lính trước bom đạn, cận kề cái chết một cách trung thực nhất. Tuy có rất
nhiều nhà văn viết về chiến tranh, song đi sâu vào miêu tả tâm lý, tư tưởng
người lính sâu sắc như Lâm Chương, quả thực không nhiều.
* Nơi chuồng người, nỗi đau với niềm thương nhớ.
Sau ngày gãy súng, núi rừng Hoàng Liên Sơn là nơi người lính Lâm
Chương buộc phải đến. Nơi địa ngục trần gian này đã bào mòn thể xác, cũng như
tâm hồn người lính thất trận. Hình ảnh tang thương ấy như neo vào hồn Lâm
Chương vậy:
“những bạn tôi ngồi như
cổ thụ
già trăm năm trước tuổi
không ngờ
manh áo vá che mùa gió
bấc
mặt hao gầy râu tóc xác
xơ.”
Và ở đó cũng là chất liệu sống để Lâm Chương viết nên những
thiên truyện đi vào Văn học sử Việt về một thời u tối. Với tôi, ở giai đoạn
này, có hai truyện ngắn điển hình nhất về sự khắc nghiệt, dã man nơi tù tội: Chuyện
Công Cắn của Phan Nhật Nam và Chuồng Người của Lâm Chương. Tuy hai truyện
ngắn có kết cấu, tình tiết rất đơn giản, nhưng để lại sự ám ảnh lâu dài nhất
trong tôi. Bởi ở đó, ta thấy được tận cùng của sự khốn nạn. Đói khát đã
biến nhân phẩm con người không bằng loài súc vật.
“- Mày tìm gì trong thùng
phân?
- Nhà bếp vừa đổ rác
trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.
- Ăn uống dơ bẩn, có
ngày bỏ mạng con ơi!
- Cháu mang về rửa
sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!
Tôi nhìn thân hình gầy
gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một
hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.” (Chuồng Người)
Đói khát, bệnh tật không thuốc men, song những người lính tù
nhân ấy vẫn phải làm việc nặng nhọc dưới điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Giữa
sống và chết đối với họ thật mong manh. Cho nên, viết Thượng du miền thương nhớ,
Lâm Chương như thể vắt trái tim của mình, của đồng đội, những tù nhân khốn khổ,
bất hạnh để viết ra vậy. Ở đó, không hề có sự phẫn uất, buộc tội, nhưng hình
ảnh, hành động thờ ơ, vô cảm của những kẻ quyền chức cao ngất ngưởng trước sự
đói khát, bệnh tật dẫn đến cái chết của đồng loại là vô cùng dã man. Nó như một
bản cáo trạng vậy. Dường như, xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo, dù vui, buồn, hay
uất ức lời văn Lâm Chương lúc nào cũng nhẹ nhàng, sâu lắng. Và trích đoạn dưới
đây là một trong những đoạn văn buồn đau và cảm động nhất của Lâm Chương. Đọc
nó, nước mắt tôi rơi ngay trên bàn phím này:
“Không ai săn sóc, anh bị
ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra
máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn
anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán
được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin
một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường có ngaỵ, Mì xứ
này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng.
Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có
giọt nào nhỏ xuống cho anh”. (Thượng du miền thương nhớ)
Tuy nhiên, đọc Lâm Chương ta thấy không hề có sự yêu ghét cực
đoan. Sự rạch ròi ấy, làm cho văn thơ của ông thẳng thắn, chân thực có giá trị
lâu dài. Cho nên, nếu ta đã đọc, và thấy được cái tình người trong từng hành
động của người quản giáo đối với tù nhân (lính Việt Nam Cộng Hòa) ở truyện: Ở
Cuối Hai Con Đường của nhà văn Phạm Tin An Ninh, thì khi đọc: Cận Kề Biên
Giới Tử Sinh, hay Những Ngày Mắc Cạn của Lâm Chương, thấy được cái tình người
còn sót lại đâu đó ở cái nơi chuồng người là có thực.
Thật vậy, trong cái tận cùng của đớn đau và đói khát, nhưng Lâm
Chương không hề có sự hận thù. Bởi, những năm tháng dài đằng đẵng oan nghiệt
ấy, ông đã nhận ra:
“Tôi nghiệm ra rằng, người
Cộng Sản dù ác độc gian trá, nhưng họ cũng là con người, thì một lúc hiếm hoi
nào đó, họ cũng biết nói thật và cũng động lòng trắc ẩn” (Cận Kề Biên
Giới Tử Sinh).
Có cái nhìn khách quan và công bằng như vậy, nên văn thơ Lâm
Chương đã chinh phục được nhiều tầng lớp, thế hệ người đọc, kể cả những người
được coi bên kia chiến tuyến. Với lời văn tự sự, sinh động, giàu hình ảnh ẩn dụ
ở trích đoạn dưới đây trong truyện: Những Ngày Mắc Cạn, Lâm Chương không chỉ
cho ta thấy cái tình người còn sót lại của người quản giáo, mà còn cho thấy cái
diễn biến tâm lý của người tù. Chắc chắn, không ít các bác yêu ghét một cách
cực đoan, khi đọc đoạn văn này không khoái lắm. Song tôi nghĩ, không trải qua
hiện thực, thì Lâm Chương không thể viết được lời văn, hình ảnh so sánh về tâm
trạng người lính tù sâu sắc, rung động đến vậy:
“Cũng vẫn con người ấy,
nhưng bây giờ, tôi thấy dưới lớp băng đông giá, còn tiềm ẩn cái hơi ấm tình
người. Nhìn qua bên kia hàng rào trại, cây rừng đang xanh tốt mùa mưa. Lòng tôi
cũng bắt đầu xanh lại. Trong khi chờ người bạn tù nấu cháo, tôi nằm xuống chiếc
sạp nứa. Có tiếng mọt kẽo kẹt nghiến gỗ trong vách. Trước kia, đêm trằn trọc
trong trại cải tạo, nghe tiếng mọt, lòng tôi ray rứt như nghe đời mình đang bị
gặm nhắm hao mòn dần theo những tháng ngày lưu đày. Bây giờ, cũng tiếng mọt,
nhưng tôi lại nghe như tiếng đời sinh động.”. (Trích đoạn: Những Ngày Mắc Cạn)
Đọc Thượng Du Niềm Thương Nhớ của Lâm Chương làm tôi nhớ đến tác
phẩm Căn nhà vùng nước mặn của Mai Thảo. Ở hai tác phẩm này, ngoài giọng văn
trữ tình, ta còn thấy những kỷ niệm nhỏ, đồ vật hay cỏ cây đều có linh hồn
riêng. Nhà tù trại giam, nơi đã gieo bao khổ đau cho thể xác lẫn tâm hồn Lâm
Chương, và nhiều đồng đội của ông vĩnh viễn phải nằm lại đó, song khi chia xa
(chuyển trại), nó để lại trong ông nỗi nhớ nhung da diết. Đây là một chi tiết
rất mới, độc đáo, mà dường như tôi chưa hề gặp trên các trang viết của các nhà
văn khác. Điều kỳ lạ này thật khó lý giải. Có lẽ, phải đè nghiến bác Lâm Chương
xuống để giải phẫu tâm lý, may ra mới tìm được lời giải đáp chăng?
Đoạn trích có lời văn đẹp, sâu lắng dưới đây, được viết ra từ
một khoảnh khắc của cảm xúc, Lâm Chương chạm đúng vào tâm lý với mối quan hệ
(tình cảm) tự nhiên của con người. Đọc nó, không riêng người lính trải qua tù
tội, mà cả những người đọc bình thường có lẽ, có chung đồng cảm với nhà văn người
lính Lâm Chương:
"Nhìn lại, lán trại
đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm, trống hoang lạnh lẽo, mới đây mà cơ hồ đóng bụi.
Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong
lan, tôi đem về từ ngoài rừng, treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ
chia xa. Hàng rào trại, không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối
đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đă từng khó chịu vì cái hàng rào
này, và mong được ở ngoài vòng kìm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn
đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại, đều làm tôi thương nhớ.".
(Thượng du, niềm thương nhớ)
* Vài nét buồn vui nơi đất khách qua giọng văn hài hước thay cho
lời kết.
Với Lâm Chương, khi còn bị giam hãm nơi quê nhà hay đã đến
Boston tâm hồn vẫn nặng trĩu nỗi buồn, ưu tư. Ở đó, không dừng ở thi ca, đoản
văn, truyện ngắn, Lâm Chương còn đi sâu vào truyện dài. Dường như, truyện dài
mới truyền tải hết nỗi buồn, hay tâm trạng lạc loài của người xa quê chăng? Bởi
vậy, nghệ thuật trào phúng xuyên suốt trang văn của Lâm Chương. Đọc nó, ta thấy
ông như đang giễu mình, nhạo đời vậy. Và truyện dài: Khắc Khẩu Y2K tiêu biểu
cho sáng tác của Lâm Chương ở giai đoạn này.
Có thể nói văn thơ của Lâm Chương được viết ra từ những vết
thương chưa bao giờ ngừng rỉ máu từ tâm hồn ông và đồng đội ông. Chiến tranh và
tù tội, một nỗi ám ảnh, có đi hết cuộc đời Lâm Chương không thể thoát ra khỏi
nó. Và tôi xin mượn mấy câu thơ của Luân Hoán viết rất đúng về thân phận Lâm
Chương để làm sáng tỏ thêm chân dung nhà văn này:
“tháng năm cùng năm
tháng
đi về đâu hỡi Chương?
vứt gần hết gánh nặng
lưng vẫn oằn đau buồn“
Mời nghe Phạm Giang / Người Kể Chuyện đọc
truyện ngắn PHÙ DU của Đặng Xuân
Xuyến:
*.
Leipzig ngày 10.7.2026
ĐỖ TRƯỜNG
Địa chỉ: Thành phố Leipzig, tỉnh Leipzig,
Bang Sachsen, Cộng hòa Liên Bang Đức.
Email: dotruong07@yahoo.de
........................................................................................
- Cập nhật theo nguyên bản nhà thơ La Thụy gửi ngày 29 tháng 10/2026.
- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn:
internet.
- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét