CON SUỐI CÁI QUÊ TÔI - Tác giả: Bùi Văn Định (Hòa Bình)

Leave a Comment

 


CON SUỐI CÁI QUÊ TÔI

 

(Tác giả Bùi Văn Định)

Quê tôi có một con suối mà chúng tôi vẫn gọi là suối Cái. Thực ra, nó không lớn. Chỗ rộng nhất cũng chỉ chừng bảy, tám mét. Nhưng với chúng tôi ngày ấy, nó là cả một thế giới.

Con suối bắt nguồn từ một cái mó nước có tên là Mó Sam. Ở quê tôi, có người gọi là “põ”, có người gọi là “vó”, còn nhiều nơi khác thì gọi là “mó”. Đó là nơi nước từ trong lòng đất phun ra; trong địa chất gọi là “cửa hiện” của vùng núi đá vôi. Dãy núi đá vôi chạy dài từ Tây Bắc qua Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ, xuống Nho Quan, Hoa Lư rồi kết lại ở Tam Điệp. Và chính từ hệ thống ngầm ấy, nước đã tìm đường chảy ra ở Mó Sam quê tôi.

Mó Sam nằm nép dưới chân núi Thắt Linh. Núi như một con đập tự nhiên chặn dòng nước lại, tạo thành một cái hồ rộng. Nước trong đến mức có thể nhìn thấy tận đáy, xanh và sâu, lặng lẽ quanh năm. Mùa hè, nước mát lạnh; mùa đông, nước lại ấm hơn bên ngoài. Vào những ngày nóng, người lớn, trẻ con trong xã vẫn tìm đến đây để tắm, để nghỉ, để nhìn mặt nước mà thấy lòng dịu lại.

Khoảng những năm 1972–1975, tôi còn nhớ có một nhóm người về đây nghiên cứu. Họ ở trọ nhà dân gần Mó Sam, ngày ngày đo đạc, ghi chép các yếu tố của nguồn nước. Người làng khi ấy gọi họ là “đoàn khảo sát”, nghe nói thuộc ngành khí tượng – thuỷ văn. Họ làm việc khá lâu, đo đạc liên tục, có vẻ rất cẩn thận và bài bản. Nhưng rồi sau đó, chúng tôi không còn thấy ai nhắc lại nữa. Không ai trong làng biết rõ họ nghiên cứu để làm gì, cũng không thấy công bố kết quả ra sao. Chỉ biết rằng đã có một thời, dòng nước lặng lẽ ấy từng được những người từ nơi khác đến nghiên cứu, tìm hiểu, như thể nó còn ẩn chứa những điều gì đó mà người ngoài nhìn thấy, còn chúng tôi thì không.

Từ Mó Sam, dòng nước chảy thành suối, đi qua làng tôi, men theo đầu đình, rồi xuôi về phía núi Đuôi, núi Hang Kèn, qua xã Ngọc Lương, xuống Nho Quan rồi nhập vào sông Hoàng Long. Một dòng nước nhỏ, nhưng nối liền biết bao vùng đất.

Địa hình quê tôi rất bằng phẳng. Mỗi khi mùa mưa đến, nước từ Mó Sam chảy ra, nước từ nhiều nơi dồn về, lại thêm những mạch nước nhỏ từ chân núi đá vôi Tam Điệp, khiến nước dâng lên ngập đồng ruộng, vườn tược, có khi chạm đến cả thềm nhà. Nhưng nước không chảy xiết. Nó dâng lên chậm, lặng lẽ, rồi lan ra như một tấm gương lớn. Ở quê tôi chỉ có nước lụt chứ không có lũ. Nước không đủ mạnh để gây nguy hiểm cho người và vật nuôi. Thường chỉ ba, bốn ngày là cùng, khi mưa ngớt, nước lại rút nhanh, để lại bùn non và mùi đất ẩm.

Hồi đó, vào những mùa mưa trời ấm, lũ trẻ chúng tôi thường chạy theo những đàn cá chuối, hay còn gọi là cá quả, còn rất nhỏ bơi thành từng đàn trên mặt nước ở những chỗ nước lặng ven bờ. Cả đàn cá đen lúc nhúc, di chuyển nhịp nhàng như một đám mây nhỏ dưới nước. Quê tôi gọi những đám cá con ấy là “rồng”. Bên dưới, cá mẹ lặng lẽ bơi theo để hộ tống đàn con. Chỉ cần có động là cả đàn tản ra rất nhanh rồi lại tụ vào với nhau. Những lúc ấy, chúng tôi thường đứng im trên bờ mà nhìn, vừa thích thú vừa tò mò. Sau này lớn lên mới hiểu đó là tập tính bảo vệ con của cá quả. Nhưng hồi nhỏ, hình ảnh con cá mẹ lặng lẽ đi dưới đàn con giữa mặt nước mênh mang mùa lụt đã khiến tôi nhớ mãi, như một phần rất riêng của dòng suối quê mình.

Dòng suối quê tôi chảy qua những đoạn ít dân cư, lại cách xa xóm làng nên nước hầu như rất sạch. Từ đó, nó còn nuôi dưỡng cả một hệ thống nước ngầm bên dưới. Người làng đào giếng ở đâu cũng dễ gặp nước, mà nước thì trong và mát. Nhiều nhà vẫn quen dùng nước giếng như một phần tự nhiên của đời sống. Nước quê tôi cũng không hề có cặn vôi bám vào đáy nồi khi đun nấu như ở nhiều nơi khác.

Cách Mó Sam chừng năm trăm mét, người ta xây dựng một cái đập gọi là Kẻ Lý để giữ nước rồi dẫn đi tưới cho gần như toàn bộ cánh đồng của làng. Ở đầu đình làng, ngày xưa cũng có một cái đập nữa; bên trên là một vùng nước rộng mà chúng tôi gọi là bến nước.

Bến nước ấy, trong ký ức tôi, đẹp lắm.

Nước lúc nào cũng trong vắt, mát lạnh; kể cả giữa mùa hè cũng không có đỉa. Đó là nơi lũ trẻ chúng tôi ra tắm sau những buổi chăn trâu, sau giờ học, hoặc đơn giản chỉ vì nóng quá mà chạy ra. Cũng chính ở đó, chúng tôi tập bơi.

Hồi ấy, những đứa lớn hơn hay trêu những đứa bé rằng muốn biết bơi thì phải để chuồn chuồn cắn vào rốn. Chúng lấy nhựa mít bôi lên đầu một cái que rồi cắm xuống đất để dụ chuồn chuồn đậu vào cho dính lại. Sau đó mang đến gạ bọn nhỏ cho “cắn rốn” để biết bơi. Có đứa tin là thật, bị cắn đau điếng mà cũng có bơi được ngay đâu. Riêng tôi biết đó chỉ là trò lừa nên không để chúng làm trò ấy. Nhìn mấy đứa bạn vừa đau vừa tin, rồi vẫn hì hục tập bơi dưới nước, tôi lại thấy cái thời ấy vừa vô tư, ngốc nghếch, vừa khó quên.

Giữa bến nước có một khúc gỗ trai được ngâm rất lâu, có lẽ đến bảy, tám năm. Chúng tôi thường bơi ra đó, đứng lên nghỉ ngơi rồi lại bơi vào bờ. Đứa nào bơi được từ bờ ra đến khúc gỗ ấy, qua quãng nước sâu chừng hai chục mét, coi như đã “biết bơi”. Với trẻ con chúng tôi, đó là một cột mốc. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác lần đầu tiên chạm chân vào khúc gỗ ấy. Không có ai vỗ tay, không có ai reo hò. Tôi đứng ở đó một mình, thở dốc, nhìn vào bờ. Và tự nhiên thấy mình lớn thêm một chút.

Vào những ngày mưa lụt, nước dâng cao trên dòng suối này lại tạo ra một trò chơi vừa nguy hiểm vừa hấp dẫn đối với lũ trẻ chúng tôi. Ở ven suối có những cây cao, cành vươn ra phía dòng nước. Chúng tôi trèo lên, bám vào cành rồi từ trên cao nhảy ùm xuống dòng nước đang dâng. Cảm giác rơi từ trên cao xuống, nước bắn tung toé, rồi lại ngoi lên giữa dòng khiến đứa nào cũng cười vang. Trò ấy chúng tôi chơi không biết chán trong những ngày đi chăn trâu: hết đứa này nhảy lại đến đứa khác. Nguy hiểm thì có, nhưng với chúng tôi ngày ấy, đó chỉ là một niềm vui rất lớn, một cách thử sức và cũng là một phần ký ức không thể nào quên của tuổi thơ.

Từ bến nước, người ta đào một con mương dẫn nước xuyên qua làng tôi xuôi xuống xóm dưới. Mùa hè cũng là mùa lụt. Có những hôm, cá chép từ cái hồ lớn dưới xóm ngược dòng theo mương mà lên, từng đàn nhiều không kể xiết. Bố tôi từng có lần gặp mấy người ở xóm dưới đi theo con mương để đón đàn cá ấy. Ông đứng trông giúp để họ chạy về lấy dụng cụ. Khi quay lại đánh bắt xong, lúc về họ chia cho ông một con cá chép nặng chừng hai cân. Đó là lần hiếm hoi nhà tôi, trong những ngày ấy, được ăn một con cá to đến thế. Bây giờ con mương ấy đã bị san lấp. Những đàn cá ngược dòng cũng không còn nữa.

Đầu đình làng, ngay cạnh bến nước, ngày ấy có một cây gạo rất lớn. Mỗi mùa hoa nở, đỏ rực cả một vùng trời. Cây cao và tán rộng, chim chóc kéo về làm tổ, đậu kín các cành. Nhìn lên lúc nào cũng thấy cánh chim chao lượn, ríu rít. Hồi đó, đình làng được dùng làm nơi sinh hoạt của dân quân xã. Có lần đông người quá, mấy anh chị thanh niên ngồi ngoài, mang theo súng thể thao của Tiệp để bắn chim trên cây gạo. Cây cao, chim lại nhiều; một con rơi xuống mà những con bên cạnh vẫn không hay biết, vẫn đậu yên. Họ bắn hạ được rất nhiều chim; chúng bay đi rồi lại đậu xuống, cứ thế lặp đi lặp lại, khiến cảnh tượng vừa vui mắt vừa có gì đó khó diễn tả. Sau này, cây gạo bị chặt đi. Từ đó, đầu đình và bến nước như mất đi một không gian gắn bó lâu đời.

Tôi từng nghe bố tôi kể một câu chuyện mà đến giờ vẫn không biết là thật hay chỉ là truyền miệng. Ở làng Cui, thuộc xã Yên Nghiệp, cách làng tôi hơn chục cây số, có người bị nước cuốn xuống một hang ngầm. Trong bóng tối, người ấy lần theo những con rái cá, bắt tôm tép, ăn rong rêu để sống, rồi cứ thế lần từng bước trong lòng núi. Cuối cùng, người này nhìn thấy ánh sáng và đi ra được bên ngoài ở cái cửa hang khô, ngay tại Mó Sam quê tôi. Tôi không biết người đó đã đi trong bao lâu, cũng không rõ câu chuyện có thật hay không. Nhưng từ lần nghe được câu chuyện ấy, mỗi khi ra Mó Sam, tôi thường nhìn xuống mặt nước trong veo ấy và nghĩ đến những dòng nước ngầm đang chảy trong lòng núi đá vôi, nối những nơi tưởng như rất xa với nhau.

Sau này, khi biết sông Bưởi ở vùng ấy đổ về sông Mã, tôi vẫn tự nghĩ: có thể nào những dòng nước ấy đã tạo nên những đường ngầm nối với Mó Sam? Có thể nào con suối nhỏ quê tôi lại bắt đầu từ những nơi xa đến thế?

Con suối ấy vẫn chảy qua làng tôi như nó đã từng chảy. Chỉ có điều, những bến nước, con mương, cây gạo và cả những ngày lũ trẻ chúng tôi bơi ra khúc gỗ giữa dòng… thì đã ở lại phía sau rất lâu rồi.

Tôi nhớ nó, nhớ như thể mỗi lần nhớ là một lần được trở về. Và cũng mỗi lần nhớ, tôi lại thấy mình như đang đứng trên khúc gỗ ấy, giữa dòng nước trong, nhìn về phía bờ nơi những bạn bè tôi từng ngồi… Tất cả đã ở lại phía sau, cùng với cây gạo, cùng với con mương, cùng với những thứ đã mất.

 

Mời nhấp chuột đọc thêm:

- Các bài viết của (về) tác giả Bùi Văn Định0

- Kỷ niệm khó quên thời là lính văn nghệl

- Tản mạn chuyện giới tính của “sao”l

- Tản mạn chuyện nghệ danh của các “sao” Việtl

- Đặng Xuân Xuyến với nghề viết sách và kinh doanh sáchl

- Trao đổi thuật xem tướng tay với bạn đọcl

- Chuyện của tôi và chị Nguyễn Thị Ngọc Diệpl

- Giải phẫu thẩm mỹ và kỳ vọng cải sốl

- Ca sĩ chuyển giới Lâm Chí Khanh và kỳ vọng giải phẫu để cải sốl

- Đối thoại cùng  ký tựl

- Đọc châm cùng thời gianl

- Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ độc vận Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ lục bát Đặng Xuân Xuyếnl

- Thơ tự do Đặng Xuân Xuyếnl

 

Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ CHỌN:

*.

BÙI VĂN ĐỊNH

(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình)

Địa chỉ: Chung cư Dạ Hợp 12 tầng, Tân Thịnh,

thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Email: buidinhhb1@gmail.com

Điện thoại: 091 539 65 47

.

 

 

 

 

  ........................................................................................

- Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi ngày 10 tháng 05 năm 2026.

- Ảnh sử dụng minh họa trong bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.

- Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến. 

- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại. 

0 comments:

Đăng nhận xét