DAISETZ TEITARO SUZUKI
VỚI VÔ THỨC TRONG THIỀN PHẬT GIÁO
Kính tặng: Giáo sư Bửu Ý
![]() |
| (Tác giả Võ Công Liêm) |
Giữa vô thức của thiền và vô thức của khoa phân tâm triết học; hẳn
có những điểm khác biệt rõ rệt. Bởi Thiền Phật Giáo (Zen Buddhism) mang nặng
tính chất vô thức (Unconscious) nhưng thực chất là hữu thức. Vô hay Hữu của
thiền đã trở thành một thứ “siêu khoa học” metascientific hay “tiền khoa học”
antescientific vì lập trường của thiền là một xác quyết rõ ràng, không còn là
một hệ thống thiết lập như một lý thuyết giảng dạy hay phân tích. Thiền là yếu
tố chính cho một tri thức; vì thiền bao gồm toàn bộ trí tuệ nhờ đó mà khám phá
ra được những điều lớn lao trong hiện thể. Nhưng trí tuệ (Prãjna/Mind) không
phải là một hợp chất “composite thing” chính hợp chất đó đã chia ra nhiều năng
lực khác nhau và không để lại một dấu hiệu gì mỗi khi đã khám phá cùng nguyên
lý của thiền. Thiền không dẫn đưa chúng ta vào con đường phân loại của tri thức
và cũng không sắp xếp những giáo lý như một áp đặt để được coi như một giáo
phái riêng biệt. Cốt tủy của Thiền Phật Giáo là đưa tới nhận thức giác ngộ
(Satori). D.T.Suzuki(1) dựa vào toàn trí của Như Lai để lý giải từ cái vô thức
để trở thành hữu thức, từ cái gọi là Như Sở Hữu Trí và Tận Sở Hữu Trí, đó là
thâm sâu của trí-huệ và hoành diện trí huệ nhờ vậy mà đem lại chân lý tánh không
(Sũnyatà) đạt được những lý luận trên tức đạt được trí huệ tối thượng. Vô thức
của thiền như ẩn như hiện là yếu tố đem lại sự ẩn hiện trực tiếp trong đời
sống.
Cho nên chi Thiền Phật Giáo đã mang lại cho con người một tư tưởng
hợp nhất giữa đời và chúng sinh, chính nhờ những ngôn từ của Phật giáo mà đánh
động được những gì gọi là ẩn hiện (elusiveness) để nhận thức đâu là chân như.
Khi con người không còn thức tỉnh được nữa thì chính họ đang rơi vào cái thế
giới riêng tư của họ. Nhưng ngược lại thế giới nhìn thấy họ một cách rõ ràng
minh bạch thì lúc đó thấy được lòng tự kỷ của con người.Tự kỷ mà người ta nhận
lấy như một mảnh vỡ của Vô Thức, mảnh vỡ đó chính là sự đe dọa mà chính ta đang
đánh đổi với đời cũng như bản thân mình, để rồi chỉ còn lại mảnh vỡ điều khiển
mình mà thôi.
Sự cách biệt của cuộc đời, sự nổ lực của con người để thích nghi
với hoàn cảnh là điều không bao giờ được xem là đều đặn, bởi tất cả những cảm
quan nguyên vẹn đó mà con người mãi mãi nằm trong trạng thái xung đột và chính
sự xung đột đó là nguồn phát khởi tự tại được phân định một cách chính xác mà
chính ta không thể hình dung ra được, nó nằm trong trí huệ vô thức. Tất cả
những gì mà phân tâm học (psychoanalysis) đã đưa ra hay lý luận một cách thuần
tính thì đó chính là trạng thái vô thức trong Thiền Phật Giáo. Cho nên thiền
nhận lãnh vai trò như một hóa giải trực tiếp giữa bản thể và tâm linh vừa hóa
thân vừa giải thoát; nỗi ray rứt trong im lặng như sấm động, lời lẽ biến thành
vô ngôn, thịt xương là cát bụi giờ đây chỉ còn lại sự tương đồng của Tính Không
và Vô Biên.
To Zen incarnation is excanation; silence roars like thunder, the
word is no-word, the flesh is no-flesh; here-now equals emtiness (Sũnyatà) and
infinity.
Vì vậy thiền không những là mục đích đem lại sự tĩnh lự
(meditation) mà như thử là một sự khiêu khích (tantalizes) sự bông đùa, giễu
cợt của công-án (koan) đều hàm chứa cả một bí ẩn để đưa tới giác ngộ viên
mãn.”The Zen koan as a means of attaining enlightenment”. Đó là cốt cách của
thiền; đúng nghĩa là một cái gì vừa bí ẩn vừa mơ hồ để lại một trạng thái hồ
nghi giữa vô thức và hữu thức, giữa ảo và thực, giữa có và không; chính cái bí
ẩn đó là cái bí truyền của thiền; điều đó đã làm cho ta khó mà đo lường được
một cách thấu đáo hay xác quyết một cách cụ thể…
Mục đích của Thiền Phật Giáo là mang lại cho chúng ta một sự kết
hợp chặt chẻ giữa Thiền và Đời. Những trạng huống xẩy ra trong đời người là
những gì thuộc về vô thức, nói một cách cụ thể; vô thức của thiền là thức tỉnh
để nhận thức trung thực của hữu thức trong vô thức.
Lối nhận thức của thiền là đi ngay vào lòng người, nghĩa là có cái
nhìn thấu suốt ở bên trong (inner). Nhận thức được sự vật, cảm nhận được sự vật
tức khám phá được bí ẩn của vũ trụ bao hàm cả cái Ngã của chính mình mà bấy lâu
nay hầu như được phân loại thành nhị-nguyên-thể giữa người theo đuổi và người
bị theo đuổi, đối tượng chính chỉ còn là chiếc bóng. Đó là lối nhìn nhận thức
của thiền; theo D.T.Suzuki là lối nhận thức của tiền khoa học hay siêu khoa học đôi khi còn gọi là phản khoa học giữa thiền
và tâm lý học. Vô Thức theo ý nghĩa thiền hiển nhiên là vi diệu, vô ngại, vô
chấp đó là lý do nó mang tính chất phi
khoa học hay tiền khoa học. Nói như thế không có nghĩa là vượt khỏi tầm ý thức
và rồi chả ăn nhập vào đâu cả. Trái lại nó như thể là một sự tương quan mật
thiết đối với chúng ta; chính vì cái mật thiết đó mà ngay cả ta cũng khó nắm
bắt được, cũng như mắt không tự thấy mắt, trán không thể tự thấy trán nhưng vẫn
ý thức được mắt và trán. Do đó để ý thức được vô thức cái yêu cầu là phải biết
tôi luyện một phần của ý thức, bởi ý thức là kiên tâm không hiệp thông với vô
thức.Tuy nhiên không có vô thức , ý thức không tác động được, hoàn toàn mất hẳn
cơ bản tác động. Đó là lý do tại sao thiền làm sáng tỏ con đường hành ĐẠO
“TAO”(*) Thiền như một hành động Bình - Thường
- Tâm “One’s Everyday Mind”
Bởi hành đạo, dĩ nhiên; thiền ngụ ý vô thức mà tất cả mọi hoạt
động đều nằm trong ý thức của chúng ta.
Câu chuyện vấn đáp “mondo” sau đây có thể giúp ta hiểu được phần
nào về vô thức của thiền: - Khi ông tăng hỏi một thiền sư; nghĩa của bình thường
tâm là gì?
Sư đáp: - Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ. “When hungry,I eat.When
tired,I sleep”. Đó là những câu đối đáp mang tính bình dị của vô thức nhưng
thực chất nó phản ảnh được cả một tâm thức.Vô thức và Tâm thức tức là
vô-thức-bản-năng và vô-thức-tôi-luyện; đó là cái có hay không có ý thức mà
thôi.Thiền sư Bankei(2)Nhật Bản thường giảng dạy giáo lý Vô-Sinh (Fusho / Anutpàta
/ Unborn). Để biểu thị tư tưởng của mình, Bankei chỉ vào những sự vật thường
xẩy ra trong đời thường, tỷ như nghe chim hót, nhìn hoa nở…và bảo rằng tất cả
mọi sự vật xẩy ra là nhờ vào sự hiện diện của vô-sinh. Thiền sư Bankei kết
luận; dù có giác ngộ nào đi nữa, tất thảy đều dựa trên kinh nghiệm sống, chứ
không dựa trên kinh nghiệm nào khác hơn. Lời nói ấy như ám chỉ giữa lãnh vực
cảm quan của chúng ta với cái vô-sinh, đó là vô-sinh-siêu-hình.Vì vô-sinh của
Bankei là gốc rễ của vạn hữu và bao hàm tổng thể của tất cả những thực thể,
hiện tại, quá khứ, vị lai bao phủ khắp mười phương thế giới Phật. Nói theo quan
niệm Thiền Phật Giáo dù bình - thường - tâm hay kinh nghiệm thường ngày hay bất
cứ mọi hành động nào đi nữa, xét nơi ta chẳng để lại một giá trị nào cả. Cái
giá trị đó chỉ qui về cái nghĩa vô-sinh hay còn gọi là vô - thức - vũ - trụ.
Cho nên vô-sinh là suối nguồn của tất cả mọi khả năng sáng tạo. Thì khi ăn
không phải là ta đang ăn và khi mệt ta ngủ là ta đang ngủ mà tất cả thuộc về
cái vô-sinh-vũ-trụ trong vô - thức - vũ - trụ.
Suzuki nhận định như sau: “Khi nó; (đó là ý thức) thiền hoàn toàn
chín muồi, chắc chắn sẽ bung vỡ để trở thành ngộ (satori) đó là cái nhìn thấu
suốt của Vô-thức” Cái nhìn vô-thức của Suzuki có giống như khái niệm của tâm lý
học chiều sâu? Đó là khái niệm của thiền, nói một cách chính xác hơn là Vô-tâm
(Mushin/No-mind) một kiểu vô-tự-thức của thiền. D.T.Suzuki viết: ”sự thật;
trong ý thức chúng ta không hề có ý thức “vượt ra ngoài”, “dưới” hay “trên”.
Tâm là một tổng thể bất khả phân và ta không thể xé nó ra từng mảnh…” vì vậy
trong kinh nghiệm NGỘ chức năng của tư duy bị phá vỡ và trống không nhưng không
hề tiêu vong. Nó được hồi sinh như một năng động của Ngộ đó là cái tư duy không
tư duy, lý của phi lý, phân biệt và vô phân biệt, nhờ vào những nghịch lý đó mà
sáng tỏ ý nghĩa của Ngộ, một tư tưởng có tính khả dụng của thiền. Như đã nói ở
trên Vô - thức - vũ - trụ vốn có trước mọi sự rẽ nhánh hay phân đoạn cần thiết
cho qúa trình tư duy. Vô thức vũ trụ như thế mới thực sự là nền tảng của hiện
thực, cái vô thức này vượt ngoài những giới hạn của lãnh vực trí năng, con
người sở đắc được từ trước đến nay nên đôi khi còn được gọi là “huyền bí” hay
”siêu nhiên”. Ấy là lúc thiền gọi là ý thức của
con người bừng tỉnh trước chân tính của mình. Là Ngộ. Chính nguồn gốc
của Ngộ là ý thức, thức tỉnh sau khi đã một lần trải qua của vô thức vũ trụ, đó
là sự hồi phục giữa ý thức vô thức hay vô thức ý thức. Ỏ đây chúng ta có thể
thấy được cái tăm tối của vô thức
vũ trụ trong thoáng chốc biến thành ánh sáng tức giác - ngộ - tối - thượng.
Cái đó gọi là tâm uyên áo của thiền. Tuy nhiên thiền vẫn chủ trương loại bỏ văn
tự và học thuyết, nhưng thật ra không hẳn như thế, ý cuả thiền là tránh mình
như một giáo phái, cái chủ đích của thiền là tạo được một triết lý ”bản lai
diện mục” bởi thiền thiếu triết lý thì mất đi tính sáng tạo, một cái xác không
hồn.
Đó là bản tính vô thức.Vậy thì vô thức trong Thiền Phật Giáo có
phải nằm trong phạm vi triết học? Dù trong ý nghĩa rộng nhất của từ ngữ nầy;
tuy thế nó vẫn có liên hệ phần nào với ngọn nguồn của vạn hữu như là lý tính
giữa Trời và Đất hay một cái gì khác được nêu lên trong tính thể luận mà các
nhà tư tưởng Tây phương đã có lần đề cập đến. Hay là chúng ta gọi một danh xưng
khác thích hợp hơn “Đại Viên Cảnh Trí” (Adarsánajnãna) như các thiền sư thường
gọi. Cho nên chi mỗi khi chúng ta gọi cái nầy là gì hay ai, bởi tất cả ngoài
phạm vi bình thường của ý thức, chúng ta không còn một danh từ nào khác để gọi
nó ngoài cách cho nó một danh hiệu tiêu cực hoặc gọi nó là X hoặc là
Vô-Thức,Vô-Tri hay là X đi nữa thì rõ ràng quá mơ hồ và như thể nó tiếp dẫn được
với ý thức tức là xử dụng được tất cả những gì khéo léo một cách hữu thức thì
điều đó được coi như là vô-thức.
Nói tóm lại; tất cả dữ kiện xẩy ra của Thiền Phật Giáo đi từ vô
thức đến hữu thức, từ ngã đến vô ngã tất cả do từ tâm thức mà ra. Bởi trong
thiền nó có tính siêu hình và trí năng thông qua tuệ giác và tánh không. Cõi vô
thức đối diện trực tiếp với Hữu - Thể - Tuyệt - Đối, Tình - Yêu - Tuyệt - Đối
và Tánh - Không - Tuyệt - Đối bằng sự dấn thân trực tiếp để hoàn toàn thức tỉnh
trong đời sống thường nhật và vĩnh cữu giữa vô-sinh và hữu sinh, giữa tử và
bất-tử ./.
--------------
(1)Daisetz
Teitaro Suzuki:Sanh 18/10/1870 Mất 12/7/1966.Sanh và chết ở Nhật Bản. Ông không
phải là thiền sư. Ông là một nhà giáo, đi thuyết giảng khắp nơi về chân lý
Thiền học. Ông để lại nhiều bộ sách Thiền Phật Giáo có giá trị đến ngày nay,kể
cả sách Thiền bằng Anh ngữ.
(2)
Bankei(Bàn Khê) (1622-1693) thiền sư Nhật Bản.Không tông phái.
(*) TAO
được dịch là ĐẠO.Chữ của học giả Wilhem.
------------
Sách đọc:
- Zen
Buddhism & Psychoanalysis by D.T.Suzuki,Erich Fromm and Richard De Martino.
Harper Colophone Books. Published 1970 USA.
- The
Essentials of Zen Buddhism by Daisetz T.Suzuki.Greenwood Press, Publishers
1973.USA
- The
Zen Koan by D.T.Suzuki.Rider&Company. Published 1950 USA
- Quan
Niệm Giải Thoát Trong Phật Giáo Cũ của Linh mục Thiện Cẩm. Nhà xuất bản Đại
Nam, Sài Gòn 1970
- Tưởng
Niệm Daisetz Teitaro Suzuki. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn 2001 / 2008.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Cuộc chiến tranh
Biên giới 1979l
- Không được quên
tội ác của bá quyền Trung Quốcl
- Trận chiến cầu
Khánh Khê và giờ học lịch sửl
- Vị Xuyên ơi! Nỗi
đau không quên!l
- Bàn thêm về nước
Nam Việt của Triệu Đà và lịch sử nước Việt Naml
- Gạc Ma - Nỗi đau
không được quênl
- Vai trò của Mao
Trạch Đông trong chiến dịch tiến chiếm Hoàng Sa năm 1974l
- Cuộc chiến chống
quân Trung Quốc xâm lược: Hoàng Sa năm
1974l
- Vạch trần dã tâm
thâm đọc của Trung Quốc nhằm độc chiếm biển Đôngl
- Sự thật về quan
hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năml
- “Đặc Khu 99 năm”
- Tiếng nói của người dânl
- Đại nạn Trung
Hoa thời Cổ sửl
- Đại nạn Trung
Hoa thời Trung sửl
- Đại nạn Trung
Hoa thời Cận đạil
Mời nghe Khề Khà Truyện đọc truyện
ngắn
“CÔ” SƯỚNG CƯỚI VỢ của Đặng Xuân
Xuyến:
VÕ CÔNG LIÊM
Địa chỉ: thành phố Calgary.
tỉnh Alberta, Canada.
Email: lvocong@hotmail.com.
.............................................................................................................
- Cập nhật theo nguyên bản từ email tác giả gửi ngày 01.03.2026.
- Ảnh dùng minh họa cho bài viết được sưu tầm từ nguồn: internet.
- Bài viết không thể hiện
quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.
- Vui lòng ghi rõ nguồn dangxuanxuyen.blogspot.com khi trích đăng lại.



0 comments:
Đăng nhận xét